1.1.1 Một số những quan điểm về mâu thuẫn trong triết học thời kỳ cổ đại Ngay từ thời cổ đại, trong hệ thống tư tưởng của những nền triết học lớn như Trung Quốc, Hy Lạp đã sớm xuất hiệ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2013
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình khoa học của cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Hiền Lương
Các kết quả của luận văn chưa được công bố trong các công trình khoa học nào khác
Tất cả những tài liệu, trích dẫn trong luận văn đều trung thực, chính xác, có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của đề tài
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa triết - Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như hoàn thành luận văn
Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Hiền Lương người đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn
Tôi cũng xin chân trọng cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm luận văn đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho luận văn của tôi được hoàn chỉnh
Tôi cũng xin chân trọng cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình làm luận văn
Luận văn không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để luận văn ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 MÂU THUẪN, NHẬN THỨC VÀ GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 7
1.1 Một số quan điểm về mâu thuẫn trong triết học ngoài mácxit 7
1.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về quy luật mâu thuẫn 15
Chương 2 MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN VỀ VẤN ĐỀ NHẬN THỨC VÀ GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN TRONG CÁCH MẠNG VIỆT NAM CỦA HỒ CHÍ MINH 39
2.1 Quan điểm nhận thức mâu thuẫn trong cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh 39
2.2 Quan điểm giải quyết mâu thuẫn trong cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh 54
Chương 3 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ MÂU THUẪN 69
3.1 Ý nghĩa lý luận trong quan điểm Hồ Chí Minh về mâu thuẫn 69
3.2 Ý nghĩa thực tiễn trong quan điểm Hồ Chí Minh về mâu thuẫn 73
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
TÓM TẮT LUẬN VĂN 96
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hồ Chí Minh - một lãnh tụ chính trị, người anh hùng giải phóng dân tộc - đã có công lao to lớn trong việc giải quyết cuộc khủng hoảng đường lối cứu nước, giải phóng dân tộc Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX và lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Thông qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh đã bộc lộ là người
có tư duy lý luận sáng tạo, kết tinh thành hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh
Tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh trước hết là những tri thức lý luận được tổng kết từ thực tiễn cách mạng Việt Nam kết hợp với sự phát triển sáng tạo những nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin và sự kế thừa có chọn lọc những tinh hoa tri thức của nhân loại Hệ thống tư tưởng triết học Hồ Chí Minh
đã thể hiện được những nguyên lý của phép biện chứng duy vật mácxit, kết hợp với các yếu tố biện chứng của triết học phương Đông và phương Tây Từ đó tạo nên một hệ thống phương pháp riêng của Hồ Chí Minh, không thể trộn lẫn được Có thể khẳng định phương pháp biện chứng của Hồ Chí Minh là phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin nhưng đã được vận dụng và chuyển hoá trong chính thực tiễn cách mạng Việt Nam để xử lý thành công những vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra Bằng sự kế thừa cũng như vận dụng linh hoạt tư tưởng triết học mácxit vào thực tiễn lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh đã có đóng góp quan trọng trong sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam Đưa cách mạng nước ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác
Là một nhà tư tưởng, một nhà lý luận mácxit, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm tới phương pháp biện chứng của chủ nghĩa Mác Người đã từng nhận định rằng: “…Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng…” [42, tr 34] Phương pháp này đã được Hồ Chí Minh tiếp thu
và thể hiện trong toàn bộ lý luận cũng như thực tiễn hoạt động của mình
Trang 7Trong các quy luật của phép biện chứng duy vật, Người hết sức chú ý đến quy luật mâu thuẫn
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin thì quy luật mâu thuẫn là một quy luật quan trọng trong phép biện chứng duy vật và đồng thời cũng là hạt nhân của phép biện chứng duy vật Quy luật mâu thuẫn là quy luật chỉ ra nguồn gốc, động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động, phát triển Theo quy luật này thì nguồn gốc và động lực cơ bản, phổ biến của mọi quá trình vận động, phát triển chính là mâu thuẫn khách quan, vốn có của sự vật, hiện tượng Tiếp thu những tư tưởng biện chứng của phép biện chứng duy vật mácxit về quy luật mâu thuẫn, Hồ Chí Minh đã có sự vận dụng, sự sáng tạo trong việc nhận thức, xem xét, đánh giá và giải quyết những mâu thuẫn trong
xã hội Việt Nam Từ đó đưa ra những đường lối chỉ đạo đúng đắn, phù hợp góp phần đem đến sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam Quan điểm về quy luật mâu thuẫn của Hồ Chí Minh không chỉ là sự kế thừa, sự vận dụng quan điểm về quy luật mâu thuẫn của chủ nghĩa Mác mà Người còn tiếp tục phát triển và bổ sung vào quy luật này làm cho nó phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn của cách mạng Việt Nam Chính vì vậy mà những quan điểm của Hồ Chí Minh về mâu thuẫn không chỉ có giá trị lý luận mà còn có giá trị thực tiễn vô cùng sâu sắc Những tư tưởng của Người chính là cơ sở lý luận quan trọng của Đảng và nhà nước ta đối với việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam hiện nay
Xuất phát từ những lý do đó, tác giả chọn đề tài “Quan điểm về nhận
thức và giải quyết mâu thuẫn trong cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh.”
làm đề tài nghiên cứu của mình, với hy vọng góp phần nhỏ bé vào việc nghiên cứu vấn đề nhận thức và giải quyết mâu thuẫn của Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam
Trang 82 Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài
Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đặc biệt là những quan điểm của Hồ Chí Minh về mâu thuẫn là một vấn đề còn khá mới mẻ, có một số cuốn sách đã đề
cập đến nội dung này trong nghiên cứu của mình Có thể kể ra như cuốn “Tư tưởng triết học Hồ Chí Minh” (2000), NXB Lao Động, do Lê Hữu Nghĩa Chủ
biên Cuốn sách là tập hợp những tư tưởng triết học của Hồ Chí Minh về con người, đạo đức, về phép biện chứng trong đó tác giả cũng đã phân tích một số những quan điểm của Hồ Chí Minh về mâu thuẫn
Hay cuốn “Những sáng tạo của Hồ Chí Minh trên đường sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam” (2009), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội do PGS, TS Lê
Văn Yên chủ biên, cũng đã chỉ ra được phần nào những sáng tạo của Hồ Chí Minh trong việc nhận thức, đánh giá mâu thuẫn của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ
XX cũng như cách giải quyết mâu thuẫn trong cách mạng Việt Nam
Ngoài ra còn có cuốn sách “Hồ Chí Minh nhà văn hóa kiệt xuất” (2010) của GS Song Thành, NXB chính trị Quốc gia đã đề cập đến sự vận dụng sáng tạo và kết hợp nhuần nhuyễn phép biện chứng duy vật mácxit với các yếu tố biện chứng của triết học Phương Đông Trong đó Hồ Chí Minh đã đề cập đến việc nhận thức, phát hiện và xử lý mâu thuẫn trong cách mạng Việt Nam
Trong cuốn sách “Về mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu và cách giải quyết trên con đường phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (2001), NXB chính trị Quốc gia của GS.TS Phạm Ngọc Quang cũng đã đề cập đến một số ý kiến của Hồ Chí Minh về mâu thuẫn như là chỉ ra tính khách quan của mâu thuẫn, sự vận dụng mâu thuẫn của Hồ Chí Minh trong thực tiễn cách mạng Việt Nam Tác giả cũng chỉ ra một số nội dung trong quá trình khai thác mâu thuẫn cũng như là giải quyết mâu thuẫn tài tình của Hồ Chí Minh trong cách mạng Việt Nam
Trang 9Bài báo “Nghệ thuật giải quyết mâu thuẫn xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh và sự vận dụng của Đảng ta” của giáo sư Trần Đắc Hiến đăng trên tạp chí triết học số 5 năm 2006 đã đề cập đến nghệ thuật phân tích và giải quyết mâu thuẫn xã hội trong tư tưởng Hồ Chí Minh đồng thời ông cũng chỉ ra một số ý nghĩa phương pháp luận tiêu biểu của tư tưởng Hồ Chí Minh về mâu thuẫn đối với việc nhận thức và giải quyết các mâu thuẫn xã hội trong thời kỳ quá
độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Như vậy, dù đã có một số các cuốn sách và bài viết đề cập đến quan điểm của Hồ Chí Minh về mâu thuẫn trong nghiên cứu của mình, tuy nhiên chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về quan điểm của
Hồ Chí Minh về mâu thuẫn thông qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Phân tích và làm rõ quan điểm về nhận thức và giải quyết mâu thuẫn trong cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh đồng thời rút ra ý nghĩa của nó đối với việc nhận thức và giải quyết mâu thuẫn trong xã hội Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
- Phân tích một số quan điểm về mâu thuẫn trong lịch sử triết học
- Phân tích quan điểm về mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn của chủ nghĩa Mác - Lênin
- Phân tích và làm rõ quan điểm về nhận thức và giải quyết mâu thuẫn trong cách mạng Việt Nam của Hồ Chí Minh
- Phân tích ý nghĩa lý luận và thực tiễn của quan điểm Hồ Chí Minh về nhận thức và giải quyết mâu thuẫn đối với xã hội Việt Nam hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Quan điểm của Hồ Chí Minh về nhận thức và giải quyết mâu thuẫn
Trang 104.2 Phạm vi nghiên cứu
Những quan điểm về nhận thức và giải quyết mâu thuẫn của Hồ Chí Minh thông qua thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến khi người qua đời
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận nền tảng là chủ nghĩa Mác - Lênin và
tư tưởng Hồ Chí Minh
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Về mặt phương pháp luận thì luận văn dựa trên cơ sở những nguyên tắc, phương pháp của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch
sử
Những phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn:
Phương pháp trìu tượng - cụ thể
Phương pháp lịch sử - cụ thể
Phương pháp so sánh
Phương pháp tổng hợp, khái quát
6 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn
Luận văn không chỉ cung cấp những quan điểm của Hồ Chí Minh trong vấn đề nhận thức và giải quyết mâu thuẫn thông qua thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Người Mà luận văn còn chỉ ra ý nghĩa lý luận
và thực tiễn to lớn của những quan điểm của Hồ Chí Minh về mâu thuẫn đối với sự thắng lợi của cách mạng Việt Nam cũng như quá trình đổi mới, xây dựng đất nước trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay
Trang 117 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần nghiên cứu tư tưởng triết học Hồ Chí Minh đặc biệt
là quan điểm của Hồ Chí Minh về vấn đề nhận thức, giải quyết mâu thuẫn trong thực tiễn quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu, học tập cho bộ môn triết học, môn tư tưởng Hồ Chí Minh, lịch sử triết học
8 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương 6 tiết
Trang 12Chương 1 MÂU THUẪN, NHẬN THỨC VÀ GIẢI QUYẾT MÂU THUẪN -
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1.1 Một số quan điểm về mâu thuẫn trong triết học ngoài mácxit
1.1.1 Một số những quan điểm về mâu thuẫn trong triết học thời kỳ
cổ đại
Ngay từ thời cổ đại, trong hệ thống tư tưởng của những nền triết học lớn như Trung Quốc, Hy Lạp đã sớm xuất hiện những phỏng đoán thiên tài của các nhà triết học về mâu thuẫn, về sự tác động qua lại của các mặt đối lập Xem sự tác động qua lại đó là cơ sở vận động của thế giới Mặc dù đây mới chỉ là những tư tưởng còn sơ khai, mộc mạc nhưng nó đã góp phần đặt nền móng cho sự phát triển của quy luật mâu thuẫn cũng như là sự phát triển của phép biện chứng duy vật sau này
Trong Triết học Trung Quốc cổ đại ta có thể bắt gặp tư tưởng về mâu
thuẫn trong quan điểm về âm dương ngũ hành của phái âm dương gia Phái
âm dương gia quan niệm rằng trong thế giới hiện tượng và sự vật luôn có hai yếu tố đối chọi với nhau nhưng lại thống nhất với nhau, là khởi nguyên của mọi quá trình sinh thành, biến hóa Hai yếu tố đó là âm và dương Âm dương không phải là thể hủy của nhau mà là điều kiện tồn tại của sự vật, là động lực của mọi sự vận động và phát triển Biểu hiện cụ thể của âm dương là các mặt đối lập, thí dụ như là mặt trời- mặt trăng, sáng - tối, dài - ngắn, rộng - hẹp, nhanh - chậm, nóng - lạnh, nam - nữ, thịnh - suy… Trong đó mặt thứ nhất là thuộc dương, mặt thứ hai là thuộc âm, không có cái gì là thuần âm hoặc thuần dương, mà trong mỗi sự vật bao giờ cũng có mặt đối lập (tức là trong dương
có âm, trong âm có dương) luôn luôn tương tác chuyển hóa lẫn nhau Trong thái âm thì có thiếu dương, trong thái dương thì có thiếu âm, thiếu dương trong thái âm phát triển đến cùng thì có sự chuyển hóa âm thành dương và ngược lại dương lại thành âm Quá trình diễn ra ở mặt kia (Thái dương - thiếu
Trang 13âm) cũng như vậy Và cứ như thế sự vật vận động không ngừng Phái Âm dương gia cho rằng tốt nhất để đạt đến sự cân bằng âm dương thì sự thái quá
về âm hoặc về dương là đều có hại, hơn nữa phải xem xét nó trong từng mục đích, điều kiện, địa điểm, thời gian cụ thể
Quan điểm về mâu thuẫn trong triết học Trung Hoa cổ đại cũng đã xuất hiện trong quan điểm về nhận thức luận của Lão Tử người sáng lập ra phái Đạo Gia Lão Tử đưa ra học thuyết “vô danh” Học thuyết này của ông đã chứa đựng những tư tưởng biện chứng sâu sắc đặc biệt là tư tưởng về mâu thuẫn Ông cho rằng bất cứ vật nào cũng có hai mặt đối lập dựa vào nhau mà chuyển hóa, đến tận cùng thì xoay ngược lại (ví dụ như trong dương có âm,
âm cực sinh dương, trong phúc có họa, họa cực phúc đến) sự chuyển hóa ấy là liên tục Ông cũng đưa ra tư tưởng độc đáo về sự thống nhất biện chứng của của các mặt đối lập Ông nói “Có và không tương sinh lẫn nhau, dễ và khó tạo nên nhau, ngắn và dài làm rõ nhau, cao và thấp tựa vào nhau, trước và sau theo nhau” Tất cả trong đó, mỗi mặt đều trong quan hệ với mặt đối lập, không có mặt này thì cũng không có mặt kia và giữa chúng cũng chỉ là tương đối “ai còng cho cái đẹp là đẹp do đó sinh ra quan niệm về cái xấu, ai còng cho điều thiện là thiện mà sinh ra quan niệm về cái ác” Mặt khác cũng trong lĩnh vực nhận thức Lão Tử cũng đã bộc lộ những hạn chế và không tránh khỏi chủ nghĩa duy tâm khi ông đã không thấy được tính quy định lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng và giữa các mặt trong sự vật hiện tượng, ông cũng không thấy được tính biện chứng, khuynh hướng phát triển của quá trình đấu tranh, chuyển hóa của các mặt trong sự vật, hiện tượng Lão Tử đã chỉ ra các mặt đối lập tồn tại dựa vào nhau thống nhất với nhau cho nên nếu từ bỏ một mặt thì mặt kia cũng biến mất Tuy nhiên Lão Tử lại mưu toan thủ tiêu mâu thuẫn chứ không phải là giải quyết mâu thuẫn Lão Tử cũng cho rằng muốn làm một vật nào đó suy tàn thì trước hết cho nó tạm thời hưng thịnh lên đã,
Trang 14đến tột cùng nó sẽ chuyển sang mặt đối lập (tức là suy tàn) Như vậy ta thấy ở đây Lão Tử đã quan niệm máy móc, không thấy được khuynh hướng phát triển của quá trình đấu tranh của các mặt đối lập
Trong triết học Hy Lạp cổ đại những tư tưởng về mâu thuẫn cũng đã
xuất hiện từ rất sớm Hêraclit là người xây dựng nên phép biện chứng trên lập trường duy vật, sáng lập ra phép biện chứng Ông cũng là nhà triết học cổ đại sớm có những quan điểm đặc sắc về quy luật mâu thuẫn Hêraclit đã nêu lên
tư tưởng về sự tồn tại phổ biến của các mâu thuẫn trong mọi sự vật hiện tượng Điều đó thể hiện trong những phỏng đoán của ông về vai trò của những mặt đối lập trong sự biến đổi phổ biến của tự nhiên, về “sự trao đổi của những mặt đối lập”, về sự tồn tại và thống nhất của các mặt đối lập Ông nói:
“Cùng một cái ở trong chúng ta: sống và chết, thức và ngủ, trẻ và già, vì rằng cái này biến đổi thì thành cái kia và ngược lại”, “từ mọi vật sinh ra duy nhất,
từ duy nhất sinh ra mọi vật”, “mọi vật sinh ra qua đấu tranh”, “bệnh tật làm cho sức khoẻ quý hơn, cái ác làm cho cái thiện cao quý hơn” Như vậy, Hêraclit đã có phỏng đoán về sự phân đôi của một cái thống nhất thành những mặt đối lập, bài trừ nhau nhưng gắn liền với nhau về sự đấu tranh và thống nhất của những mặt đối lập ấy
Trong trường phái Êlêát, đặc biệt là Dênông Dênông đã phát hiện ra rằng không thể nhận thức vận động ngoài mâu thuẫn Chính sự bất lực trong việc giải quyết mâu thuẫn đã làm xuất hiện cái gọi là “nghịch lý Dênông” về mũi tên bay
Trên cơ sở quan điểm duy tâm khách quan Platon đã tiếp cận với phép biện chứng như là biện chứng là học thuyết về sự vận động của khái niệm Ông cho rằng, khi giải quyết bất cứ vấn đề nào cũng phải xuất phát từ hai luận điểm đối lập, cần phải xem xét cái gì đứng đằng trước và đứng đằng sau những luận điểm đối lập ấy khi lấy ra một cách tự nó và lấy ra trong quan hệ
Trang 15với cái kia Chẳng hạn như là đứng im và vận động, đồng nhất và khác nhau, tồn tại và không tồn tại
Ở Aritxtốt mâu thuẫn là mâu thuẫn hình thức của tư duy sai lầm Ông cho rằng không thể ở cùng một lúc, ở cùng một thời điểm, trong cùng mối quan hệ lại khẳng định sự mâu thuẫn nhau về cùng một cái Theo Aritxtốt bất
kỳ sự vật nào cũng có khả năng biến thành hai trạng thái đối lập nhưng không thể cùng lúc có cùng cả hai trạng thái đó Ông đã chỉ ra rằng có khả năng trong cùng một lúc biến thành những mặt đối lập, nhưng bản thân những mặt đối lập lại không thể tồn tại trong cùng một thời gian, cũng không thể ở trong cùng một sự vật có tình trạng tồn tại ở hai trạng thái đối lập, ở cùng một lúc
Ví dụ: cùng một lúc không thể vừa là khỏe, vừa là yếu
Như vậy ngay từ thời cổ đại các nhà triết học đã chỉ ra được rằng mâu thuẫn là khách quan là cái vốn có trong các sự vật hiện tượng Phần nào họ cũng phỏng đoán được vai trò của những mặt đối lập trong sự phát triển của
sự vật, trong sự biến đối của tự nhiên Đây chính là cơ sở để hình thành những
tư tưởng về mâu thuẫn hoàn thiện hơn trong những giai đoạn sau của lịch sử triết học
Bước sang thời kỳ trung cổ, dưới bóng đêm của thần học thì triết học không có nhiều sự phát triển trái lại nó còn có bước lùi so với thời kỳ cổ đại Những tư tưởng về mâu thuẫn không được tiếp tục phát triển Chỉ đến giai đoạn Phục Hưng và cận đại những tư tưởng về mâu thuẫn mới tiếp tục được
Trang 16triết học của thời kỳ này, kể cả những quan điểm về mâu thuẫn cũng bị rơi vào siêu hình máy móc Tư tưởng về mâu thuẫn tiêu biểu nhất trong thời kỳ này là quan điểm của Gioocđanô Brunô Ông đã phát triển học thuyết về sự phù hợp của các mặt đối lập, từ đó, ông nêu ra một tư tưởng biện chứng sâu sắc, đó là một mặt đối lập là cơ sở của cái khác Sự thủ tiêu không gì khác hơn là sự xuất hiện, sự xuất hiện không gì khác hơn là sự xuất hiện, tình yêu
là bất hạnh, bất hạnh là tình yêu… Đối với kẻ thù liệu có gì giải độc tốt hơn là cái ác Cái hình cầu có giới hạn trong mặt phẳng Chúng ta đi tới kết luận là:
ai muốn nhận thức được bí mật lớn nhất của tự nhiên, thì tốt nhất là phải xem xét cái nhỏ nhất và cái lớn nhất của những mâu thuẫn và những mặt đối lập Những tư tưởng về mâu thuẫn của thời kỳ Phục Hưng dù còn nhiều những hạn chế nhưng nó cũng đã được các nhà biện chứng cổ điển Đức kế thừa và các nhà sáng lập triết học mácxit đánh giá cao
1.1.3 Một số những quan điểm về mâu thuẫn thời kỳ cổ điển Đức
Trải qua quá trình phát triển của nền triết học nhân loại những quan điểm về mâu thuẫn cũng dần thay đổi Ở mỗi thời đại, mỗi trường phái lại có những cách lý giải khác nhau về mâu thuẫn, về những mặt đối lập Trước khi phép biện chứng mácxit ra đời thì tư tưởng về mâu thuẫn đạt được đỉnh cao nhất trong sự phát triển của nó ở trong các học thuyết biện chứng của các nhà triết học cổ điển Đức, tiêu biểu là ở trong các học thuyết của Kant và Hêghen
Quan điểm của Kant về mâu thuẫn
Nhà triết học Immanuel Kant đã đưa ra một số những quan điểm của mình về mâu thuẫn Trước thời kỳ phê phán, Kant phát triển tư tưởng về sự tác động lẫn nhau của các mặt đối lập trên cơ sở triết học tự nhiên Trong thời kỳ phê phán, triết học Kant chủ yếu được xem như là phép biện chứng của các Antinoma thuộc lý tính thuần túy tức là sự xem xét trên phương diện nhận thức luận Con người khát vọng xâm nhập vào lĩnh vực vật tự nó Trong khi khả
Trang 17năng người ta chỉ cho phép nhận thức trong khuôn khổ hiện tượng luận Do vậy, mà nảy sinh ra các nghịch lý, mâu thuẫn (Antinomia) Kant nêu ra 4 mâu thuẫn dưới hình thức các Antinomi Các Antinomia này theo Kant là những mâu thuẫn không tránh khỏi trong bản thân lý tính con người Kant cho rằng mỗi Antinomi được cấu thành từ hai về: Chính đề và phản đề, cụ thể là: Antinomia 1 Chính đề: Thế giới có điểm đầu trong thời gian và bị hạn chế về không gian Phản đề: Thế giới là vô cùng vô tận cả về không gian và thời gian Antinomi 2 Chính đề: Thế giới là một chỉnh thể phức tạp được cấu thành từ những bộ phận đơn giản.Phản đề: Thế giới không thể phân chia được Không
có gì trong thế gian là đơn giản cả Antinomia 3 Chính đề: Trong tự nhiên tồn tại cả quan hệ nhân quả và tự do Phản đề: Không có tự do Mọi vật đều diễn ra theo quy luật tất yếu.Antinomia 4 Chính đề: Trong thế giới tồn tại quan hệ tất yếu Phản đề: Không ở đâu tồn tại quan hệ tất yếu cả Kant coi các Antinomia trên đây là những dạng đối lập biện chứng vì vậy tùy từng trường hợp cụ thể có thể hai mặt đối lập đều đúng hoặc đều sai Xem xét chính đề và phản đề ông cho rằng hai Antinomi đầu ông cho rằng cả hai đều sai, vì với thế giới vật tự
nó, nằm ngoài không gian và thời gian thì các đặc tính như “giới hạn”, “ điểm đầu”, “ đơn giản”, “ phức tạp” vv…Đều không thể áp dụng, còn trong thế giới hiện tượng luận thì chúng chưa bao giờ được thể hiện một cách trọn vẹn Còn trong Antinomia cuối thì cả hai vế chính đề và phản đề “đều đúng trong những mối quan hệ khác nhau” Vế nào đúng ở thế giới hiện tượng luận thì lại sai ở thế giới “vật tự nó” và ngược lại Nói tóm lại, cả chính đề và phản đề ở hai Antinomi đầu đều sai, còn ở hai Antinomia cuối thì đều đúng Như vậy lần đầu tiên qua các antinomi Kant đã xem các mặt đối lập là đối lập về chất nhưng do không giải quyết được vấn đề về các antinomi Kant đã mắc phải sai lầm khi từ
bỏ các mâu thuẫn khách quan Như vậy, có thể rút ra nhận xét từ quan điểm về Antinomia của Kant: thứ nhất, ông chỉ thừa nhận mâu thuẫn trong tư tưởng
Trang 18con người, chứ không thừa nhận tồn tại mâu thuẫn trong các sự vật khách quan Thứ hai, các Antinomia chưa phải là mâu thuẫn biện chứng vì trong mỗi Antinomia mối liên hệ giữa chính đề và phản đề chỉ là bề ngoài hóa quá trình giải quyết mâu thuẫn Mặc dù chưa đưa ra được những tư tưởng đặc sắc
về mâu thuẫn nhưng những tư tưởng của Kant đã phần nào đã làm cho quan điểm về mâu thuẫn được tiến thêm một bước mới về chất
Quan điểm của Hêghen về mâu thuẫn
Trong triết học cổ điển Đức quy luật mâu thuẫn đã được Hêghen tiếp tục phát triển Trong học thuyết bản chất Hêghen đã đưa ra những dự đoán về mâu thuẫn Ông coi mâu thuẫn là là nguồn gốc của vận động và sự sống “ mâu thuẫn là cội nguồn của tất cả vận động và sự sống” [12,tr65] là biểu hiện của chân lý và bản chất của sự vật “Mâu thuẫn là nguồn gốc của tất cả mọi sự vận động và của tất cả mọi sức sống, chỉ trong chừng mực một vật chất chứa đựng trong bản thân nó một mâu thuẫn, thì nó mới vận động, mới có xung lực
và hoạt động” [19, tr147-148] Hêghen đã khẳng định rằng mâu thuẫn là cái bên trong vốn có của các khái niệm nhờ mâu thuẫn mà các khái niệm biểu hiện sự vận động của chúng và phát triển được Ông cũng khẳng định là “tất
cả mọi vật đều có tính chất mâu thuẫn trong bản thân nó” [19, tr147] Theo quan điểm của Hêghen lúc đầu bản chất là sự đồng nhất giữa những “ sự quy định” khác nhau, rồi sau trong sự đồng nhất đó, phát hiện ra sự khác biệt, khác biệt chuyển thành đối lập và cuối cùng xuất hiện mâu thuẫn Hêghen cho rằng mâu thuẫn là dây thần kinh chuyển động của các khái niệm; không thừa nhận mâu thuẫn là sai lầm của phương pháp siêu hình Ông chỉ ra tính chất sau lầm của các nhà siêu hình, khi họ cho mâu thuẫn là hiện tượng ngẫu nhiên, hay sai làm của nhận thức Hêghen phân tích cái vô hạn là một mâu thuẫn giữa cái vô hạn và hữu hạn
Trang 19Do bị chi phối bởi chủ nghĩa duy tâm khách quan đặc điểm của phép biện chứng duy tâm của Hêghen là nó đề cập đến mâu thuẫn không phải thực
sự là của các hiện tượng tự nhiên và xã hội, mà là nói về những mâu thuẫn tinh thần của thế giới Đồng thời ông nêu lên một cách giải quyết hiện thực rằng, những mâu thuẫn sẽ được giải quyết một cách hòa bình, cái mới thỏa hiệp với cái cũ Theo Hêghen phát triển không đưa đến sự giải quyết theo lối cách mạng Đến những giai đoạn phát triển cao theo tinh thần tuyệt đối thì diễn ra sự vận động “biện chứng” mà ở đó các mặt đối lập phù hợp với nhau một cách nhịp nhàng Đây là mâu thuẫn, là mặt bảo thủ, thỏa hiệp trong hệ thống triết học Hêghen Ông không thể phát triển học thuyết mâu thuẫn đến
độ triệt để Điều đó càng thấy rõ khi ông nghiên cứu các vấn đề xã hội Hêghen đã nghiên cứu “xã hội công dân” tư sản, tức hệ thống kinh tế tư bản chủ nghĩa Hêghen không che dấu những mâu thuẫn sâu sắc đang phân chia
xã hội đó ra các cực đối lập: Giàu, nghèo Hêghen nhận xét rằng cùng với sự tích lũy của cải thì sự phụ thuộc vào tình trạng đói nghèo của giai cấp bị gắn chặt vào lao động cũng xuất hiện và phát triển Xã hội công dân là chiến trường đấu tranh của lợi ích tư nhân, là chiến trường đấu tranh vì lợi ích tư nhân, là chiến trường đầu tranh chống lại tất cả Tình cảnh đó đã tạo ra một nghịch cảnh Với sự giàu có, xã hội công dân lại càng không đủ giàu có tức là không đủ của cải riêng để đấu tranh chống lại sự nghèo đói Một trong những hạn chế của Hêghen khi giải quyết những mâu thuẫn xã hội đó là ông đã không triệt để trong giải quyết mâu thuẫn Ông coi giải quyết mâu thuẫn như
là sự phản tư chủ quan, tức là sự vận động của các phạm trù Lôgic trong đầu
óc của nhà triết học Sai lầm này của Hêghen đã được Mác chỉ ra Mác đã thấy được sai lầm chủ yếu của Hêghen là ở chỗ ông đã hiểu mâu thuẫn như là
sự thống nhất trong bản chất, trong ý niệm Trong khi mâu thuẫn có một cái gì sâu sắc hơn bản chất Đó là mâu thuẫn có tính thực tồn
Trang 201.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về quy luật mâu thuẫn
1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về mâu thuẫn
Dựa trên những tài liệu mới nhất của khoa học và thực tiễn xã hội ở thế
kỷ XIX, kế thừa có phê phán toàn bộ những thành quả tư duy của loài người,
mà trực tiếp là triết học cổ điển Đức, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã nâng học thuyết về mâu thuẫn lên một tầm mới về chất Những quan điểm về quy luật mâu thuẫn đã được Mác, Ănghen, Lênin thể hiện thông qua một số những tác phẩm của các ông
1.2.1.1 Quan điểm của Mác- Ănghen về mâu thuẫn
Mác và Ănghen đã đề cập đến những tư tưởng về mâu thuẫn từ rất sớm
trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học (1847) Trong tác phẩm này các
ông đã nêu ra tư tưởng về sự cần thiết phải kết hợp các mặt đối lập trong thực tiễn xã hội Cả Mác và Ănghen đã phê phán tính chất chiết trung của Prudong
về mâu thuẫn Các ông đã chỉ ra rằng Prudong chưa thấy được mâu thuẫn của chế độ tư hữu, tốt và xấu, thiện và ác, chưa thấy được sự thống nhất vốn có của các mặt đối lâp này nhằm tái hiện sự thống nhất của chúng trong nhận thức và hành động thực tiễn Vì vậy phương pháp của Prudong là đem đối lập, tách rời chúng và cuối cùng là giải pháp của ông ta mang tính chất siêu hình: hiện thực là thủ tiêu mặt xấu, giữ lại mặt tốt Theo C.Mác điều đó không phải
là giải quyết mâu thuẫn mà là thủ tiêu mâu thuẫn Mác và Ănghen đã phân tích những mâu thuẫn đối kháng của xã hội đương thời, làm rõ vai trò tích cực của mâu thuẫn đối kháng trong sự phát triển của xã hội Sau đó các ông còn
đề ra những phương hướng cơ bản để giải quyết mâu thuẫn đối kháng và phát hiện ra giai cấp vô sản như là lực lượng xã hội cơ bản, có khả năng thu hút được khối lượng quần chúng đông đảo, lãnh đạo họ để tiến hành cuộc đấu tranh nhằm giải quyết triệt để những mâu thuẫn trong chủ nghĩa tư bản, tiến
tới xây dựng một xã hội mới cộng sản chủ nghĩa
Trang 21Trong tác phẩm Biện chứng tự nhiên dù chưa kịp trình bày một cách có
hệ thống một quy luật mâu thuẫn của phép biện chứng mà Ăngghen còn gọi là
Quy luật về sự xâm nhập lẫn nhau của các đối lập nhưng ở phần Sơ thảo và Chú thích của tác phẩm này ông cũng có nhiều thí dụ chứng minh quy luật này Ăngghen viết: “Biện chứng gọi là khách quan thì chi phối trong toàn bộ
giới tự nhiên, còn biện chứng gọi là chủ quan, tức là tư duy biện chứng, thì chỉ là phản ánh sự chi phối, trong toàn bộ giới tự nhiên, của sự vận động thông qua những mặt đối lập, tức là những mặt thông qua sự đấu tranh thường xuyên của chúng và sự chuyển hoá cuối cùng của chúng từ mặt đối lập này thành mặt đối lập kia, tương tự với những hình thức cao hơn, đã quy định sự sống của giới tự nhiên” [25, tr694] Ông đã lấy ví dụ để chứng minh cho các mặt đối lập như là sự hút và sự đẩy, những điện tích trái dấu, những hiện tượng của hút và đẩy hoá học trong quá trình hóa học chung, sự đấu tranh thường xuyên giữa tính di truyền và tính thích ứng Tính đối lập lẫn nhau của
những quy định lý tính của tư duy: sự phân cực Nếu như điện, từ đều phân
cực, đều vận động trong những mặt đối lập, thì tư duy cũng thế Nếu như với điện, từ không thể chỉ bám lấy độc một mặt - không một nhà khoa học tự nhiên nào nghĩ tới việc chỉ bám lấy độc một mặt - thì với tư duy cũng vậy” Người ta còn tìm thấy những tư tưởng sâu sắc về sự thống nhất và đấu tranh
của các mặt đối lập trong những đoạn ngắn ở phần Biện chứng của tác phẩm
này Ăngghen viết rằng tính đồng nhất và tính khác biệt - tính tất yếu và tính ngẫu nhiên - nguyên nhân và kết quả - đó là những đối lập chủ yếu, những đối lập, nếu xét một cách riêng rẽ, thì sẽ chuyển hoá lẫn nhau
Ăngghen cho rằng, các mặt đối lập như khẳng định - phủ định, tích cực - tiêu cực, dương và âm có thể gọi ngược lại điều đó không thay đổi bản chất của sự việc, bởi vì sự đối lập đó tồn tại một cách khách quan Ăngghen viết: Nếu người ta đặt tên gọi ngược lại, và thay đổi toàn bộ thuật ngữ còn lại cho phù
Trang 22hợp thì mọc cái vẫn đều đúng Lúc đó, chúng ta sẽ gọi phương Tây là phương Đông và phương Đông là phương Tây Mặt trời sẽ mọc đằng Tây, những hành tinh sẽ quay từ Đông sang Tây, v.v.; chỉ có cực tên gọi là thay đổi Hơn nữa,
trong vật lý học, chúng ta gọi là Cực Bắc, các Cực Nam thật sự của nam
châm, cái cực bị hút bởi Cực Bắc của địa từ, - và như thế cũng chẳng sao
Trong tác phẩm Chống Duy Rinh khi nghiên cứu quy luật mâu
thuẫn (qui luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập), Ph.Ăngghen cũng đã chỉ ra tính khách quan và tính phổ biến của mâu thuẫn trong tự nhiên,
xã hội và tư duy: “Mâu thuẫn tồn tại một cách khách quan ở trong bản thân sự vật và các quá trình có thể bộc lộ ra dưới một hình thức hữu hình” [25, tr173] Ănghen cũng đã khẳng định: “Sự sống cũng là một mâu thuẫn tồn tại trong bản thân sự vật và các quá trình, một mâu thuẫn thường xuyên nảy sinh và giải quyết mâu thuẫn chấm dứt thì sự sống cũng không còn nữa và cái chết xảy đến” [25, tr173- 174]
Mâu thuẫn biện chứng trong vận động được thể hiện trong sự vận động
và đứng im: cái đối lập với vận động là tĩnh tại: "Sự đối lập này chỉ là tương đối bởi vì không có đứng im tuyệt đối, không có sự thăng bằng vô điều kiện Vận động cá biệt thì có xu hướng cân bằng, song vận động toàn thể thì lại loại trừ sự thăng bằng" Mâu thuẫn biện chứng trong không gian và thời gian được thể hiện trong cái vô tận của chúng: "cái vô tận là một mâu thuẫn, chính cái
vô tận chỉ gồm những đại lượng có hạn cộng thành cũng đã là mâu thuẫn rồi" [25, tr176] Mâu thuẫn biện chứng cũng diễn ra trong các hình thức vận động khác nhau của vật chất Nếu như coi vận động cơ giới đã là một mâu thuẫn thì
"sự sống cũng là một mâu thuẫn không ngừng nảy sinh ra và tự giải quyết, và khi mâu thuẫn ấy chấm dứt thì sự sống cũng không còn nữa và cái chết xẩy đến" [25, tr173]
Trang 23Trong tư duy cũng vậy, mâu thuẫn biện chứng thể hiện ở năng lực nhận thức vô hạn của con người với chính khả năng thực tế của nó "bị hạn chế bởi hoàn cảnh bên ngoài và đang nhận thức hạn chế" "Tư duy của con người vừa
là tối cao vừa là không tối cao, và khả năng nhận thức của con người vừa là
vô hạn vừa là có hạn Tối cao và vô hạn khi xét theo bẩm tính, sứ mệnh, khả năng và mục đích cuối cùng Không tối cao và có hạn khi xét theo sự thực hiện cá biệt và thực tế trong mỗi thời điểm nhất định" Mâu thuẫn đó sẽ được giải quyết trong sự nối tiếp nhau vô tận của các thế hệ người Mối quan hệ giữa lôgíc hình thức với lôgíc biện chứng cũng thể hiện mâu thuẫn biện chứng: Khi nghiên cứu sự vật, hiện tượng là tĩnh tại (lôgíc hình thức) chúng
ta không gặp phải một mâu thuẫn trong các sự vật, hiện tượng đó Nhưng khi nghiên cứu cũng chính sự vật, hiện tượng đó trong sự vận động và phát triển thì chúng ta sẽ gặp phải mâu thuẫn Mâu thuẫn này chỉ được phản ánh và giải quyết bằng tư duy biện chứng, lôgíc biện chứng Người ví mối quan hệ giữa lôgíc hình thức với lôgíc biện chứng tương tự như mối tương quan giữa toán học về các đại lượng không đổi với toán học có các đại lượng biến đổi
Bộ “Tư bản” của Mác là một tác phẩm đã thể hiện sự thiên tài các mâu
thuẫn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Mác đã phân tích toàn bộ những sự biến đổi, phát triển của chủ nghĩa tư bản dựa trên những phát sinh, phát triển nội tại của những mâu thuẫn trong lòng nó Trong bộ “Tư bản” Mác
đã trình bày quan điểm về mâu thuẫn một cách hết sức rõ nét: “Tuy nhiên, sự phát triển của những mâu thuẫn trong một hình thức lịch sử của sản xuất là con đường lịch sử duy nhất dẫn đến sự tiêu vong và biến đổi của hình thức đó” Ở đây, sự phát triển của những mâu thuẫn mới chính là con đường để cho sự vật phát triển cũng như thể hiện sự biến đổi của nó Với tác phẩm này,
Mác đã cho chúng ta thấy những tư tưởng hết sức phong phú về mâu thuẫn
Đó là mâu thuẫn là nguồn gốc, động lực của mọi sự phát triển, biến đổi của
Trang 24sự vật, hiện tượng Chính trong quá trình đấu tranh bài trừ phủ định và cũng
khẳng định nhau giữa các mặt đối lập đã làm lên sự phát triển của sự vật, hiện
tượng Thêm nữa, mâu thuẫn tồn tại trong sự vật hiện tượng là sự tồn tại nội tại, không chỉ có một mâu thuẫn, một mặt đối lập mà vô số những mâu thuẫn những mặt đối lập cũng đều tồn tại trong sự vật; có mâu thuẫn cơ bản, mâu
thuẫn không cơ bản; có mâu thuẫn thứ yếu, mâu thuẫn chủ yếu… điều quan trọng là chúng ta phải biết nhìn nhận nó và đánh giá nó Những nội dung kể trên đã được Mác trình bày, phân tích qua hệ thống mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản, để từ đó chỉ ra cho chúng ta thấy nội tại của xã hội tư bản cũng như sự phát triển tất yếu của xã hội này trong tương lai
Trong tác phẩm này Mác cũng chỉ ra cho chúng ta thấy một cách khoa học rằng: sự phát sinh, phát triển và tiêu vong tất nhiên của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Tức là chỉ ra rằng những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản phát sinh thế nào, những mâu thuẫn ấy phát triển và trở nên sâu sắc hơn như thế nào trong khi biến đổi thành những cực không thể điều hòa được, những mâu thuẫn ấy đến một giai đoạn nhất định phá vỡ như thế nào chủ nghĩa tư bản ngay bên trong và mở ra như thế nào con đường cho cách mạng
xã hội chủ nghĩa
Khi nghiên cứu cụ thể sản xuất hàng hóa xã hội tư bản, Mác đã chỉ ra
những vấn đề về mâu thuẫn một cách hết sức cụ thể Mác cho rằng tất cả những quan hệ kinh tế của sản xuất hàng hóa đều chứa đựng những mâu thuẫn bên trong mà nếu không phân tích những mâu thuẫn ấy, rằng các mặt
đối lập đều phát triển và chỉ có trong vận động thì các mâu thuẫn mới được giải quyết
Mác đã bắt đầu bằng sự nghiên cứu hàng hóa Nó biểu hiện cho cái quan hệ sản xuất căn bản của xã hội Mác chú ý vào phân tích hàng hóa vì hình thái hàng hóa của sản phẩm và sự trao đổi hàng hóa biểu hiện những
Trang 25quan hệ xã hội riêng biệt: đó là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và đó là vì toàn bộ lao động xã hội là do rất nhiều lao động tư nhân của những người sản xuất riêng lẻ cấu thành Lúc đó sản phẩm mang hình thái của hàng hóa và những quan hệ xã hội biểu hiện ra trong sự trao đổi hàng hóa
Hình thái hàng hóa của sản phẩm là một tấm gương phản ánh tính chất lịch sử của lao động xã hội, của những quan hệ xã hội Mác đã vạch trần
những quan hệ xã hội bằng cách chỉ ra rằng cái vỏ ngoài của sự vật, hàng hóa, che mất những quan hệ xã hội trọng yếu Khi phân tích hàng hóa và lao động sản xuất ra hàng hóa, Mác xem xét sản xuất hàng hóa có cái gì là đặc thù… và Mác đã tìm ra cái tế bào cơ bản, cái tế bào mà không có nó thì không thể hiểu được về chủ nghĩa tư bản Bởi lẽ, hàng hóa của sản phẩm không phải là kết quả của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, mà hình thái hàng hóa đã tồn tại từ rất lâu trước khi phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa ra đời Nhưng nếu không có hình thái hàng hóa thì không có chủ nghĩa tư bản, và chỉ có dưới chế
độ tư bản thì hình thái hàng hóa mới trở thành hình thái thống trị Cũng chỉ có dưới chế độ tư bản chủ nghĩa thì sức lao động mới trở thành hàng hóa
Khi bắt đầu từ phân tích hàng hóa là bắt đầu nghiên cứu môt hệ thống
mà ở đó bao hàm toàn bộ mầm mống, những mâu thuẫn của cả xã hội tư bản chủ nghĩa Cũng chỉ có qua đó thì mới có thể hiểu được bản chất của xã hội này Mác nghiên cứu tỉ mỉ hàng hóa, tức là hình thái nguyên tố, là cái “tế bào” của sản xuất tư bản chủ nghĩa Từ đó, Mác phát hiện ra ở đó những mâu thuẫn căn bản Mác chỉ ra rằng hàng hóa một mặt là giá trị sử dụng, mặt khác là giá trị; rằng lao động tức là cái sản xuất ra hàng hóa, cũng chứa đựng một mâu thuẫn bên trong vì nó là sự thống nhất của lao động trừu tượng và lao động cụ thể, của lao động tư nhân và lao động xã hội
Mác hết sức chú ý phân tích những mâu thuẫn bên trong, phân tích tính
chất hai mặt của hàng hóa và của lao động hàng hóa Mác nêu bật tác dụng
Trang 26của sự thống nhất và liên hệ qua lại của các mặt đối lập khi phân tích các
nhân tố bên trong của một quá trình thống nhất như mua và bán, lĩnh vực sản xuất và lĩnh vực lưu thông dưới chủ nghĩa tư bản Các mặt đối lập ấy có khuynh hướng ngày càng tách rời khỏi nhau và trở nên độc lập Tuy các mặt
ấy có xu hướng tách rời khỏi nhau nhưng chúng lại vẫn gắn liền với nhau từ bên trong và họp thành một thể thống nhất Mâu thuẫn và xung đột chỉ vì thế càng thêm gay gắt Mác nói: “ Chính khủng hoảng làm lộ rõ sự thống nhất của chúng, sự thống nhất của những sự khác nhau Tính độc lập mà các yếu tố gắn với nhau và bổ sung cho nhau đã có được, thì nay bị tiêu diệt dữ dội Cho nên khủng hoảng biểu hiện sự thống nhất của các yếu tố đã trở nên độc lập với nhau Không có sự thống nhất bên trong ấy của các yếu tố bề ngoài hình như không có quan hệ với nhau thì không thể có khủng hoảng được”
Trong sự phân tích một mâu thuẫn, Mác yêu cầu phải tính đến hai yếu
tố gắn liền chặt chẽ với nhau mà mâu thuẫn ấy bao hàm: sự quy định lẫn nhau
và cả sự phủ định lẫn nhau và đấu tranh lẫn nhau Mác chỉ rõ điều này khi
nói đến cùng một thí dụ: khủng hoảng, Mác viết: “Nếu các giai đoạn ấy (giai đoạn sản xuất và giai đoạn lưu thông) chỉ là tách rời nhau mà không thống nhất với nhau thì không có khủng hoảng, không có việc phục hồi mãnh liệt sự thống nhất của các giai đoạn ấy Nếu các giai đoạn ấy chỉ là một thể không có
kẽ hở (nghĩa là không có mâu thuẫn) thì cũng không có sự đứt đoạn dữ dội như khủng hoảng Khủng hoảng vừa là sự phục hồi mãnh liệt của sự thống nhất các yếu tố đã trở nên độc lập, đồng thời vừa là sự tách riêng mãnh liệt của các yếu tố vốn là thống nhất”
Như chúng ta thấy, Mác hiểu mâu thuẫn là sự quan hệ giữa hai mặt đối lập, hai mặt này quy định lẫn nhau và phủ định lẫn nhau Hai nhân tố ấy quyết
định sự đấu tranh giữa các mặt đối lập, động lực của sự phát triển, sự đấu
tranh, cuối cùng sẽ khắc phục và giải quyết những mâu thuẫn
Trang 27Chính vì hai mặt đối lập quy định lẫn nhau nhưng lại đối lập với nhau cho nên giữa chúng mới có một sự đấu tranh loại trừ sự điều hòa, sự trung lập lẫn nhau và “sự môi giới” lẫn nhau Khi mà một mâu thuẫn tồn tại khách quan thì tất cả các sự nghiên cứu tư biện của các nhà kinh tế học và các nhà triết học đều không thể loại trừ nó được “Loại trừ” thật sự được mâu thuẫn đó tức
là sự giải quyết mâu thuẫn đó, được thực hiện trong quá trình vận động và phát triển của mâu thuẫn, trong quá trình đấu tranh giữa các mặt đối lập
Chẳng hạn về những mâu thuẫn của trao đổi, Mác viết rằng quá trình
trao đổi hàng hóa bao gồm những quan hệ mâu thuẫn với nhau và bài trừ lẫn nhau Sự phát triển của sản xuất hàng hóa không xóa bỏ những mâu thuẫn ấy
mà lại sáng tạo ra một hình thành cho sự phát triển của những mâu thuẫn ấy
Đó là cách mà những mâu thuẫn hiện thực tự giải quyết, và ở đây, Mác đưa ra một quy luật chung của biện chứng: sự phát triển của những hiện tượng có tính chất mâu thuẫn là một sự phát huy của những mâu thuẫn, sự đấu tranh kết thúc bằng sự giải quyết cụ thể những mâu thuẫn ấy trong đời sống thực tế
Mác hiểu khái niệm mâu thuẫn bên trong của các hiện tượng theo ý nghĩa như trên Sau khi đã chỉ rõ tính chất mâu thuẫn của hàng hóa, sự liên hệ
và phủ định lẫn nhau của giá trị sử dụng và giá trị, Mác nghiên cứu đến tính chất hai mặt của quá trình sản xuất ra hàng hóa Sự mâu thuẫn giữa lao động trừu tượng và lao động cụ thể trong sản xuất ra hàng hóa phát sinh từ mâu thuẫn căn bản giữa lao động riêng biệt của mỗi người sản xuất với tổng lao động xã hội Mỗi người sản xuất làm việc độc lập đối với những người khác và
do đó, lao động của người ấy có tính chất tư nhân nhưng cũng cụ thể, nghĩa là phù hợp với một mục đích có ích, nhằm sản xuất ra một giá trị sử dụng
Trong sản xuất hàng hóa, tính chất xã hội của mỗi lao động cá nhân chỉ
có thể gián tiếp xuất hiện thông qua việc quy tất cả các hình thái cụ thể của lao động thành một hình thái duy nhất về chất Lao động sản xuất ra hàng hóa
Trang 28chứa đầy những mâu thuẫn Lao động chung trừu tượng mang hình thái lao động cụ thể; Lao động trừu tượng chỉ ra là nhằm dưới hình thái lao động cụ thể Nếu lao động tư nhân trở thành lao động xã hội thì chính là vì các sự khác nhau cụ thể của những lao động bị mờ đi và vì lao động tư nhân mang tính chất lao động con người nói chung Lao động trừu tượng và lao động cụ thể, lao động tư nhân và lao động xã hội đều có quan hệ qua lại với nhau, nhưng
cũng tách rời nhau và hình thành những mặt đối lập Những mặt đối lập ấy là tiền đề cho nhau và phủ định lẫn nhau
Sự phân tích tiếp chỉ rõ rằng những mâu thuẫn vốn có của hàng hóa và của lao động phát triển và được giải quyết như thế nào Những mâu thuẫn ấy không thể không phát triển Trong phần bàn về hình thái của giá trị, Mác chỉ
ra rằng những mâu thuẫn sâu sắc giữa giá trị sử dụng và giá trị, giữa lao động
tư nhân và lao động xã hội không xuất hiện toàn bộ ngay một lúc Mác bắt đầu từ hình thái giản đơn, cá biệt hoặc ngẫu nhiên của giá trị, từ sự liên hệ đơn giản giữa hai hàng hóa Hình thái ấy của giá trị phù hợp với cái giai đoạn của sự phát triển kinh tế, trong đó còn chưa có việc trao đổi hàng hóa và các công xã nguyên thủy trao đổi sản phẩm thừa của họ trong những lúc ngẫu nhiên mà gặp nhau Nhưng ngay từ việc trao đổi ngẫu nhiên ấy, từ việc đơn giản đặt hai hàng hóa quan hệ với nhau như thế đã có sự khác nhau chủ yếu giữa giá trị và giá trị sử dụng, đã có mầm mống của một mâu thuẫn, điểm xuất phát của sự phân đôi hàng hóa: thực ra cái tham dự vào sự trao đổi là những sản phẩm không còn giá trị sử dụng và chỉ có một giá trị trao đổi với những người sản xuất ra chúng
Mâu thuẫn bên trong của giá trị sử dụng và giá trị biểu hiện thành sự đối lập bên ngoài của hình thái giá trị ngang giá và của hình thái giá trị tương đối Mác chỉ ra rằng: “Hình thái tương đối và hình thái ngang giá là hai mặt
có liên quan với nhau, không thể tách rời nhau, nhưng đồng thời cũng là hai
Trang 29cực đối lập nhau, loại trừ nhau tức là hai cực của cùng một biểu hiện giá trị Hai cực ấy bao giờ cũng được phân phối giữa những hàng hóa khác nhau mà biểu hiện của giá trị làm cho có quan hệ với nhau” [ 22, tr174]
Mác phê phán các nhà kinh tế học và các nhà triết học chẳng những vì
họ phủ nhận mâu thuẫn, lờ đi không nói gì đến mâu thuẫn mà còn là vì khi họ thấy những mâu thuẫn thì họ lại tìm cách vận dụng “tư duy thuần túy” để xóa
bỏ chúng, điều hòa chúng, tổng hợp chúng… Một vài nhà kinh tế học tiểu tư sản cảm thông những đau khổ của giai cấp tư sản thì thấy khá rõ những mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản Nhưng vì không hiểu rằng chỉ có sự phát triển của những mâu thuẫn ấy đến chỗ những mâu thuẫn đó mất đi, và chỉ có sự xóa bỏ những mâu thuẫn đó mới tạo điều kiện cho sự xuất hiện của một hình thái lịch
sử mới, tiến bộ hơn, nên họ kêu gọi loài người quay về những giai đoạn phát triển đã qua lâu rồi Không một người nào trước Mác đã có thể giải quyết được một cách khoa học vấn đề mâu thuẫn và vấn đề vai trò của mâu thuẫn trong sự phát triển So sánh với phép biện chứng duy tâm của Hêghen ta thấy rằng đây thực sự là phép biện chứng mới, ưu việt hơn hẳn và thực sự khoa học hơn hẳn so với phép biện chứng duy tâm
Trong bộ “Tư bản”, Mác không điều hòa những mặt đối lập vào trong một tổng hợp giả định Như những mặt đối lập: giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa, trong đời sống thực tế, sự vận động của các mặt đối lập ấy, sản sinh
ra – độc lập với lý tính con người, - một mâu thuẫn mới Nhưng trong cái vương quốc “lý tính thuần túy”, trong đó bản thân nhà triết học là kẻ sáng tạo
ra thế giới, thì sự vận động tất phải mang tính chất của sự phân đôi tư duy thành hai mặt đối lập, và kèm theo sự phân đôi ấy là sự điều hòa những mặt đối lập ấy trong một tổng hợp cao hơn nào đó Mác nói rằng, hãy áp dụng phương pháp ấy vào những phạm trù của khoa kinh tế chính trị thì sẽ có logich và siêu hình của khoa kinh tế chính trị
Trang 30Khi nghiên cứu mâu thuẫn của hàng hóa, của lao động phát triển và được giải quyết trong quá trình trao đổi, trong sự quan hệ qua lại của những hàng hóa Mác đã phân tích sự phát triển của những mâu thuẫn đó trong chương thứ nhất quyển I Tư bản, trong phần bàn về hình thái của giá trị Mác
đã chỉ ra rằng, những mâu thuẫn sâu sắc giữa giá trị sử dụng và giá trị, giữa lao động tư nhân và lao động xã hội không xuất hiện ngay cùng một lúc, mà
nó là cả một quá trình Từ hình thái giản đơn, cá biệt hoặc ngẫu nhiên của giá trị, từ sự liên hệ đơn giản giữa hai hàng hóa Thì hình thái ấy của giá trị phù hợp với cái giai đoạn của sự phát triển kinh tế, trong đó còn chưa có việc trao đổi hàng hóa và các công xã nguyên thủy trao đổi số sản phẩm thừa của họ trong những lúc ngẫu nhiên gặp nhau
Nhưng ngay từ việc trao đổi ngẫu nhiên ấy, từ việc đơn giản đặt hai hàng hóa quan hệ với nhau như thế đã có sự khác nhau chủ yếu giữa giá trị,
đã có mầm mống một mâu thuẫn, điểm xuất phát của sự phân đôi hàng hóa: thực ra cái tham dự vào sự trao đổi là những sản phẩm không còn giá trị sử dụng và chỉ có một giá trị trao đổi với những người sản xuất ra chúng Mâu thuẫn bên trong của giá trị sử dụng và giá trị biểu hiện thành sự đối lập bên ngoài của hình thái giá trị ngang giá và của hình thái giá trị tương đối “Bản chất của hình thức hàng hóa tuy không biểu hiện quan hệ tư bản chủ nghĩa, nhưng là điều kiện tất yếu cho sự ra đời và thực hiện bản chất của quan hệ tư bản chủ nghĩa Quan hệ hàng hóa trong chủ nghĩa tư bản vừa là hình thức xuất phát, vừa là hình thức phổ biến của các quan hệ kinh tế: quan hệ tư bản chủ nghĩa không thể phát sinh và tồn tại ở ngoài hình thức hàng hóa”
Cũng trong tác phẩm này, Mác đã chỉ ra cho chúng ta thấy rằng xã hội
tư bản chủ nghĩa với những mâu thuẫn phát sinh trong lòng nó không thể mất ngay đi được, không thể khắc phục trong khuôn khổ của xã hội ấy Muốn xóa
bỏ những mâu thuẫn ấy phải bắt nguồn từ những nguyên nhân sâu sa nhất, đó
Trang 31chính là xóa bỏ phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Có vậy thì mới đảm bảo cho lực lượng sản xuất mới của xã hội mới phát triển lên được Mác cũng chứng minh cho chúng ta thấy rằng nếu tính đến việc điều hòa những mâu thuẫn của xã hội tư sản thì như thế là ảo tưởng
Với những luận điểm đanh thép của mình khi phân tích những mâu thuẫn Mác đã cho chúng ta thấy rằng không thể có sự điều hòa mâu thuẫn của chủ nghĩa tư bản Mâu thuẫn chỉ có thể được giải quyết bằng cách mạng vô sản, bằng việc giành chính quyền để xây dựng một xã hội mới Mác kết thúc bằng khẩu hiệu: “Giờ cáo chung của chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa đã đến Đến lượt những kẻ đi tước đoạt bị tước đoạt”
Khi nói đến mâu thuẫn, trong tác phẩm Mác cũng đã chú ý đến phân biệt các loại mâu thuẫn Với sự phân tích những mâu thuẫn của hàng hóa và lao động, tiếp đến là phân tích mâu thuẫn của hàng hóa với tiền tệ… để rồi từ
cơ sở đó Mác vạch ra mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản: đó là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất với hình thái tư nhân của chiếm hữu
Chúng ta có một luận điểm rút ra từ việc nghiên cứu mâu thuẫn, đó là:
sự vật hiện tượng thì chứa đựng vô vàn những mâu thuẫn, và biểu hiện bản chất của chúng thông qua rất nhiều mối quan hệ Khi xác định được mâu thuẫn nào là chủ yếu, mâu thuẫn nào là cơ bản, mâu thuẫn nào là đối kháng thì chúng ta sẽ có hướng tác động, giải quyết mâu thuẫn một cách nhanh chóng hơn, hiệu quả hơn và có thể rút ngắn được thời gian và giới hạn
Ta thấy rằng trong bộ “Tư bản” Mác đã đi phân tích và phát hiện ra những vấn đề hết sức tinh tế trong mâu thuẫn Đó là bộ “Tư bản” đã chứng minh một cách không thể bác bỏ được, sự đúng đắn của lý luận biện chứng
cho rằng đấu tranh giữa các mặt đối lập là động lực của sự phát triển Nếu
những mâu thuẫn bên trong là cái chìa khóa để hiểu sự tự thân vận động thì chính là vì những xu hướng và những mặt đối lập của cùng một chỉnh thể là
Trang 32gắn liền với nhau, là điều kiện cho nhau, và bài xích lẫn nhau, mối quan hệ qua lại ấy quy định cuộc đấu tranh giữa chúng Tác phẩm cũng chỉ ra được một mâu thuẫn xã hội cơ bản trong xã hội của Mác lúc bấy giờ đó là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất với hình thức tư bản chủ nghĩa tư nhân của chiếm hữu Dù Mác không thể nghiên cứu được những mâu thuẫn của xã hội sắp tới Nhưng với việc chỉ ra đặc trưng của chủ nghĩa tư bản là bài học quý báu cho chúng ta nghiên cứu, dự đoán những mâu thuẫn tương lai
1.2.1.2 Quan điểm của Lênin về quy luật mâu thuẫn
Quan điểm về mâu thuẫn của Lênin được thể hiện rõ nhất trong tác
phẩm bút ký triết học Trong tác phẩm này Lênin đã chỉ ra được quy luật
thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập có ý nghĩa đặc biệt, qui luật này chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển; cho phép thể hiện sự tự vận động trong hệ thống các khái niệm Lênin đã rất quan tâm và giải thích một cách sâu sắc về căn nguyên của sự vận động đó là mâu thuẫn của sự vật và hiện tượng,
là sự đấu tranh của các mặt đối lập Lênin trích dẫn một đoạn của Hêghen nói
về mối quan hệ giữa vận động và mâu thuẫn: Mâu thuẫn, "nó là cái phủ định trong sự quy định bản chất của nó, là nguyên tắc của mọi sự tự vận động, mà sự
tự vận động này không phải là cái gì khác mà chỉ là sự biểu hiện nào đấy của mâu thuẫn Vận động là bản thân mâu thuẫn đang tồn tại” [18, tr.148-149] Trong tác phẩm, Lênin đã chỉ ra chỉ có tư duy biện chứng mới nắm được mâu thuẫn, do đó mà giải thích được quá trình vận động tự thân của mọi sự vật, hiện tượng Ông viết: "Lý tính (trí tuệ) đang tư duy mài sắc sự khác nhau đã cùn đi của cái khác nhau, tính nhiều vẻ đơn giản của những biểu tượng thành một sự khác nhau bản chất, một sự đối lập Chỉ khi nâng lên đến chóp đỉnh của mâu thuẫn thì những cái nhiều hình nhiều vẻ mới trở nên động và sống đối với nhau, - và mới chứa đựng một tính phủ định, tức là sự phốc động bên trong của tự vận động và của sức sống” [18, tr152] Lênin cũng đã chỉ ra rằng
Trang 33sự chuyển hóa của các mặt đối lập : “ Phép biện chứng là học thuyết vạch ra rằng những mặt đối lập làm thế nào mà có thể và thường là trở thành đồng nhất, trong những điều kiện nào chúng là đồng nhất, bằng cách chuyển hóa lẫn nhau…tại sao mà lý trí con người không nên xem những mặt đối lập ấy là chết, cứng đờ mà là sinh động, có điều kiện, năng động, chuyển hóa lẫn nhau” [18,116-117] Quan niệm biện chứng về sự phát triển cho rằng: sự phát triển
là sự thống nhất giữa các mặt đối lập “tức là sự phân đôi của cái thống nhất thành những mặt đối lập bài trừ lẫn nhau và mối quan hệ qua lại giữa các mặt đối lập ấy” ”[18, tr378] Đối với quan niệm này, nguồn gốc của sự "tự vận động" là hướng nhận thức chủ yếu Đây là quan niệm sinh động, nó mang lại cho con người chìa khoá của sự "tự vận động" của toàn bộ mọi sự vật, hiện tượng đang tồn tại, chỉ có cách hiểu như vậy mới cho con người chìa khoá của những bước "nhảy vọt" của sự "gián đoạn của tính tiệm tiến", của sự "chuyển hoá thành mặt đối lập", của sự 'tiêu diệt cái cũ và sự nảy sinh của cái mới" Bởi vậy, Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập có ý nghĩa đặc biệt, qui luật này chỉ ra nguồn gốc, động lực của sự phát triển Người viết
"Phát triển là một cuộc "đấu tranh" giữa các mặt đối lập"
Để xác định tính chất của mối quan hệ giữa các mặt đối lập bên trong thể thống nhất toàn vẹn, V.I.Lênin đã sử dụng các thuật ngữ khác nhau như:
sự thống nhất, giống nhau, đồng nhất, tác động cân bằng Những thuật ngữ này chỉ ra sự cùng nhau xuất hiện, cùng nhau chuyển hoá của các mặt đối lập
"Phép biện chứng là học thuyết nói về điều: làm thế nào và thường ra sao (trở thành như thế nào) bằng cách đồng nhất của các mặt đối lập,- ở trong những điều kiện nào thì chúng thường đồng nhất, khi chuyển hoá mặt này vào mặt kia,- tại sao trí tuệ của con người lại không nên nắm bắt lấy những mặt đối lập
đó như nắm bắt lấy những mặt đối lập chết cứng, đông đặc, phủ băng mà phải nên nắm bắt lấy những mặt đối lập đó như nắm bắt lấy những mặt sống động,
Trang 34ước lệ, có điều kiện, linh hoạt, nên nắm bắt lấy những mặt đối lập đó như nắm bắt lấy những mặt đang chuyển hoá từ mặt này vào mặt kia"
Lênin khẳng định, quy luật mâu thuẫn là thực chất và hạt nhân của phép biện chứng duy vật Sở dĩ như vậy là vì, quy luật mâu thuẫn là chìa khoá để hiểu biết về các quy luật khác của phép biện chứng duy vật Chính vì vậy mà
trong Bút ký triết học, Lênin đã hai lần nói rằng bản chất của phép biện chứng
là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập Sau khi trình bày 16 yếu tố của phép biện chứng, Lênin nói: "Có thể định nghĩa vắn tắt phép biện chứng là học thuyết về sự thống nhất của các mặt đối lập Như thế là nắm được hạt nhân của phép biện chứng, nhưng điều đó đòi hỏi phải có những sự giải thích và một
sự phát triển thêm"[18, tr240]
Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về mâu thuẫn
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin quy luật mâu thuẫn hay còn gọi là (quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập) là một trong những hạt nhân của phép biện chứng, nó chỉ ra nguồn gốc của sự vận động và phát triển Mâu thuẫn có tính chất là mâu thuẫn tính khách quan, phổ biến và tính đa dạng, phong phú Tính khách quan, phổ biến: Tính khách quan, phổ biến thể hiện ở chỗ mọi sự vật, hiện tượng thuộc mọi lĩnh vực hiện thực trong thế giới điều chứa đựng trong mình sự thống nhất, đấu tranh và chuyển hóa của các mặt đối lập Tính đa dạng, phong phú: Tính đa dạng, phong phú của mâu thuẫn biểu hiện ở chỗ, mỗi sự vật, hiện tượng, quá trình đều có thể bao hàm nhiều loại mâu thuẫn khác nhau, biểu hiện khác nhau trong những điều kiện lịch sử, cụ thể khác nhau; chúng giữ vị trí, vai trò khác nhau đối với sự tồn tại, vận động và phát triển của sự vật
Nhân tố tạo thành mâu thuẫn là mặt đối lập Mặt đối lập dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính, những khuynh hướng vận động trái ngược nhau (đối lập biện chứng) nhưng đồng thời là điều kiện, tiền đề tồn tại của nhau
Trang 35Trong mỗi mâu thuẫn, các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau, vừa đấu tranh với nhau
Khái niệm thống nhất của các mặt đối lập dùng để chỉ sự liên hệ, ràng buột, không tách rời nhau, quy định lẫn nhau của các mặt đối lập, mặt này lấy mặt kia làm điều kiện, tiền đề cho sự tồn tại của chính mình Sự thống nhất của các mặt đối lập cũng bao hàm sự đồng nhất của nó Như vậy sự thống nhất của hai mặt đối lập là tính không thể tách rời của hai mặt đó
Giữa các mặt đối lập bao giờ cũng có nhân tố giống nhau, đồng nhất với nhau Với ý nghĩa đó sự thống nhất của các mặt đối lập còn bao hàm sự đồng nhất của các mặt đó Do đó có sự đồng nhất của các mặt đối lập mà trong sự triển khai của mâu thuẫn, đến một lúc nào đó mặt đối lập này có thể chuyển hóa sang mặt đối lập kia khi xét đến một vài đặc trưng nào đó Sự thống nhất của các mặt đối lập còn biểu hiện ở sự tác động ngang nhau của chúng Song đó chỉ là trạng thái vận động của mâu thuẫn ở một giai đoạn phát triển, khi diễn ra sự cân bằng của các mặt đối lập Tồn tại trong một thể thống nhất, hai mặt đối lập luôn tác động qua lại với nhau, đấu tranh với nhau
Khái niệm đấu tranh của các mặt đối lập dùng để chỉ khuynh hướng tác động qua lại, bài trừ, phủ định nhau của các mặt đối lập Hình thức đấu tranh của các mặt đối lập rất phong phú, đa dạng, tùy thuộc vào tính chất, mối quan
hệ và điều kiện cụ thể của sự vật, hiện tượng.Trong sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, sự đấu tranh giữa chúng là tuyệt đối, có điều kiện, tạm thời; trong sự thống nhất đã có sự đấu tranh, còn trong đấu tranh bao hàm tính thống nhất giữa chúng Quá trình thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập tất yếu dẫn đến sự chuyển hóa giữa chúng Sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập diễn ra hết sức phong phú, đa dang, tùy thuộc vào tính chất của các mặt đối lập cũng như tùy thuộc vào những điều kiện lịch sử, cụ thể Sự tác động qua lại dẫn đến sự chuyển hóa giữa các mặt đối lập là một quá trình Lúc
Trang 36mới xuất hiện, mâu thuẫn thể hiện ở sự khác biệt và phát triển thành hai mặt đối lập Khi hai mặt đối lập của mâu thuẫn xung đột với nhau gay gắt và khi điều kiện đã chín muồi thì chúng sẽ chuyển hóa lẫn nhau Mâu thuẫn được giải quyết Mâu thuẫn cũ mất đi, mâu thuẫn mới hình thành, và quá trình tác động, chuyển hóa giữa hai mặt đối lập lại tiếp diễn làm cho sự vật hiện tượng luôn luôn vận động và phát triển Vì vậy, sự liên hệ, tác động, và chuyển hóa giữa các mặt đối lập là nguồn gốc, động lực của sự vận động và phát triển thế giới Mâu thuẫn nói chung, đấu tranh giữa các mặt đối lập nói riêng là nguyên nhân, nguồn gốc của mọi vận động và phát triển Vì: Tác động qua lại là nguyên nhân chính và cuối cùng của mọi sự vật Trong tác động lẫn nhau, cả hai mặt đối lập đều biến đổi, mâu thuẫn được giải quyết, mâu thuẫn cũa mất
đi, ra đời mâu thuẫn mới làm sự vật không còn là nó Sự vận động và phát triển là sự thống nhất giữa liên tục và gián đoạn Sự liên tục do sự thống nhất của các mặt đối lập tạo thành; sự gián đoạn, sự vật không còn là nó do đấu tranh giữa các mặt đối lập tạo thành Do vậy, cả thống nhất và đấu trạnh giữa các mặt đối lập đều có vai trò quan trọng trong sự vận động và phát triển
1.2.2 Quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nhận thức và giải quyết mâu thuẫn xã hội
1.2.2.1.Vấn đề nhận thức và giải quyết mâu thuẫn theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin
Vấn đề nhận thức mâu thuẫn
Trong quá trình nhận thức sự vật, việc nhận thức mâu thuẫn của nó là cực kỳ quan trọng Bởi trong tiến trình nhận thức mâu thuẫn, trước hết chúng ta phải nhận thức sự vật như một thực thể đồng nhất Tiếp đó, khi phân tích sâu hơn ta lại phát hiện ra sự khác nhau, trong những khác nhau đó lại thấy những
sự đối lập, nghiên cứu sự tác động qua lại giữa các mặt đối lập ta biết được mâu thuẫn của nó và biết được nguồn gốc của sự vận động và sự phát triển
Trang 37Khi phân tích mâu thuẫn, phải xem xét toàn diện các mặt đối lập, theo dõi quá trình phát sinh, phát triển của các mặt đó, nghiên cứu sự đấu tranh của chúng qua từng giai đoạn, tìm hiểu những điều kiện làm cho những mặt đó biến đổi, đánh giá đúng tính chất và vai trò của từng mặt và của cả mâu thuẫn trong từng giai đoạn, xem những mặt đối lập đó có những yếu tố gì chung, xem mâu thuẫn có những đặc điểm gì riêng, khác với những mâu thuẫn khác
Vấn đề giải quyết mâu thuẫn
Muốn giải quyết mâu thuẫn phải xác định đúng trạng thái chín muồi của mâu thuẫn, tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng có khả năng giải quyết mâu thuẫn và tổ chức thực tiễn để giải quyết mâu thuẫn một cách thực tế
Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi có đủ điều kiện chín muồi Cho nên không được giải quyết mâu thuẫn một cách vội vàng khi chứ có đủ điều kiện, cùng không để cho việc giải quyết mâu thuẫn diễn ra một cách tự phát, phải
cố gắng tạo điều kiện thúc đẩy cho sự chín muồi của mâu thuẫn và điều kiện giải quyết
Mâu thuẫn được giải quyết bằng con đường đấu tranh (dưới những hình thức cụ thể khác nhau) Đối với các mâu thuẫn khác nhau phải có phương pháp giải quyết khác nhau Điều đó tùy thuộc vào bản chất của mâu thuẫn, vào những điều kiện cụ thể Phải có biện pháp giải quyết thích hợp với từng mâu thuẫn
1.2.2.2 Vấn đề nhận thức mâu thuẫn xã hội theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin
Mác, Ănghen và Lênin đã nghiên cứu mâu thuẫn trong sự phát triển xã hội, trực tiếp là mâu thuẫn trong chủ nghĩa tư bản Nhân tố thực thể cơ bản tạo thành mâu thuẫn xã hội là con người Ngoài ra mâu thuẫn xã hội còn được hình thành do sự vận động của các yếu tố thực thể vật chất xã hội Hai quan
Trang 38hệ quan trọng nhất của mâu thuẫn xã hội là sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập Nguyên nhân của mâu thuẫn xã hội đó chính là sự đối lập về lợi ích Ở đây lợi ích là một phạm trù khái quát, bao hàm lợi ích vật chất và lợi ích tư tưởng, tinh thần, lợi ích cá nhân, lợi ích giai cấp, lợi ích xã hội…
Mâu thuẫn xã hội là mâu thuẫn biện chứng diễn ra trong sự vận động
và phát triển của xã hội do đó cần phải thấy được mâu thuẫn xã hội thực chất
là mâu thuẫn giữa các lợi ích Chính những lợi ích đối lập nhau quy định sự nảy sinh và tồn tại của mâu thuẫn xã hội Do vậy việc phân tích mâu thuẫn xã hội đòi hỏi phải phát hiện ra những lực lượng xã hội nào đứng đằng sau (hay nằm ngay trong mâu thuẫn xã hội đó) và quan hệ lợi ích nào quy định tính chất, nội dung của mâu thuẫn Mâu thuẫn xã hội là mâu thuẫn giữa các lợi ích cho nên đấu tranh giải quyết các mâu thuẫn xã hội thực chất là đấu tranh giữa những con người đang theo đuổi những lợi ích đối lập nhau
Do gắn liền với những quan hệ lợi ích cho nên trong giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử - khi xã hội phân chia thành những giai cấp đối kháng, thì trong giai đoạn phát triển nhất định của lịch sử - khi xã hội phân chia ra thành những giai cấp đối kháng thì trong hệ thống mâu thuẫn xã hội thường có hai loại mâu thuẫn có bản chất đối lập nhau là mâu thuẫn đối kháng
và không đối kháng
Mâu thuẫn xã hội tồn tại một cách khách quan Một mặt nó là cơ sơ hoạt đông có ý thức của con người, mặt khác lại là kết quả hoạt động có ý thức của con người Điều này có thể thấy rõ qua việc C.Mác nói về sự xuất hiện mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất Đây chính là mâu thuẫn cơ bản của toàn bộ quá trình phát triển lịch sử loài người Sự xung đột giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất được tạo ra bởi hoạt động của con người dù rằng trong thực tế nó tồn tại không phụ thuộc vào ý chí của con người Mâu thuẫn xã hội chính là kết quả khách quan của chính hoạt động của
Trang 39con người mà không phải là sự tạo lập tùy tiện, chủ quan Những mâu thuẫn
xã hội khác nhau có tính chất, vai trò, ví trị khác nhau đối với sự phát triển của xã hội và cũng đòi hỏi những phương pháp giải quyết khác nhau Do vậy việc phân loại hệ thống mâu thuẫn xã hội theo những nhóm nhất định là cần thiết Mác và Ănghen đã chia mâu thuẫn xã hội ra thành mâu thuẫn cơ bản và mâu thuẫn chủ yếu Ănghen đã đề cập đến khái niệm mâu thuẫn cơ bản thông qua nghiên cứu phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa Ănghen đã viết:
“ …Sản phẩm của lao động xã hội bị nhà tư bản cá thể chiếm hữu Đó là mâu thuẫn cơ bản, từ đó nảy sinh ra tất cả những mâu thuẫn trong đó xã hội hiện nay đang vận động, những mâu thuẫn mà đại công nghiệp đang làm cho thấy đặc biệt rõ” [24, tr331] Từ đó cho thấy theo Ănghen mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định sự nảy sinh của mọi mâu thuẫn khác trong xã hội đó Khi xem mâu thuẫn cơ bản là mâu thuẫn quy định bản chất của phương thức sản xuất và và quy định bản chất của hình thái kinh tế - xã hội tương ứng Ănghen
đã viết: “Sản phẩm giờ đây do lao động xã hội sản xuất ra không phải do những người thực sự vận dụng các tư liệu sản xuất và thực sự sản xuất ra những sản phẩm ấy chiếm hữu mà là do nhà tư bản chiếm hữu Tư liệu sản xuất và sản xuất, về thực chất, đã trở thành có tính chất xã hội Nhưng chúng vẫn phải phục tùng một hình thức chiếm hữu lấy sản xuất tư nhân của người sản xuất riêng lẻ làm tiền đề …Trong cái mâu thuẫn ấy, cái mâu thuẫn đã mang lại tính chất tư bản chủ nghĩa cho phương thức sản xuất mới, đã chứa đựng sẵn những mầm mống của mọi sự xung đột hiện nay” [25, tr375- 376]
Vận dụng quan điểm của Mác – Ănghen về mâu thuẫn cơ bản của chủ nghĩa tư bản vào giai đoạn phát triển mới của xã hội đó trên quy mô thế giới Lênin viết “Trong thế giới tư bản chủ nghĩa hiện đại có những mâu thuẫn cơ bản để ta lợi dụng được không ? Có ba mâu thuẫn cơ bản mà tôi muốn nêu ra Mâu thuẫn thứ nhất … là mâu thuẫn giữa Nhật và Mỹ…, mâu thuẫn thứ hai là
Trang 40mâu thuẫn giữa Mỹ và phần thế giới tư bản còn lai …, và mâu thuẫn thứ ba là giữa đồng minh và nước Đức” [19, tr 72-82] Sau khi nhận xét tình hình gay gắt của mâu thuẫn cơ bản trong chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn đế quốc chủ nghĩa Lênin đã nhấn mạnh: “Khủng hoảng xảy ra là do một mâu thuẫn khác sâu sắc hơn: mâu thuẫn cơ bản của chế độ kinh tế hiện tại, cụ thể là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội của sản xuất và tính chất tư nhân của chiếm hữu” [16, tr191] “ Những cuộc khủng hoảng công nghiệp…càng làm cho quá trình đó gay gắt thêm”[17, tr260] Lênin cũng đã sử dụng khái niệm mâu thuẫn chủ yếu: “ Những mâu thuẫn cơ bản giữa các cường quốc chủ nghĩa đã đẩy đến một cuộc đấu tranh không thương tiếc đến mức thậm chí biết rằng cuộc đấu tranh đó không có lối thoát…Đồng thời cuộc chiến tranh đó đã để lộ hai mâu thuẫn chủ yếu, và những mâu thuẫn ấy đã quyết định tình hình quốc tế hiện nay …” [ 20, tr406-407] Hay là khi xem xét thời kỳ quá độ ở Liên Xô đương thời trong những nấc thang phát triển khác nhau của nó, Lênin đã nêu ra tư tưởng về những mâu thuẫn chủ yếu trong các giai đoạn phát triển khác nhau của nó Khi xem xét vấn đề nảy sinh trong việc kiến lập nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội, Lênin đã thấy rõ Liên Xô đang đứng trước những mâu thuẫn cực kỳ gay gắt Như là mâu thuẫn giữa công nghiệp lớn xã hội chủ nghĩa với nông nghiệp sản xuất nhỏ, mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển khoa học, văn hóa với tình trạng thiếu tri thức của nhân dân Ngoài ra Lênin còn để cập tới mâu thuẫn giữa lợi ích căn bản của nhân dân các dân tộc Xô Viết đang xây dựng chủ nghĩa xã hội với sự thù địch dân tộc do chế độ cũ để lại
Như vậy ta thấy rằng cả Mác, Ănghen, và Lênin trong lý luận của mình đều đã có những nhận thức về mâu thuẫn xã hội Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã chỉ ra được nguồn gốc, nguyên nhân của mâu thuẫn xã hội Đồng thời cũng đã có sự phân loại mâu thuẫn xã hội Đây chính là cơ sở để từ