Nhận thức được vị trí và tầm quan trọng của vấn đề dân số trong sự phát triển xã hội, ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nước ta đã rất quan tâm tới việc thực hiện chính sác
Trang 1QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Hồ Sỹ Lộc
HÀ NỘI - 2013
Trang 2Trang
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 11
1.2 Tầm quan trọng của vấn đề dân số và chính sách dân số 16 1.3 Khái quát việc thực hiện chính sách dân số của Đảng trước năm 2001 19 1.4 Kinh nghiệm thực hiện chính sách dân số của một số nước 28
Chương 2: CHÍNH SÁCH DÂN SỐ CỦA ĐẢNG VÀ QUÁ TRÌNH THỰC
2.1 Chính sách dân số của Đảng và quá trình thực hiện chính sách
2.2 Chính sách dân số của Đảng và quá trình thực hiện chính sách
Chương 3: KHÁI QUÁT VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH DÂN SỐ
3.1 Khái quát việc thực hiện chính sách dân số của Đảng từ năm
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Dân số và sự tồn tại, phát triển của xã hội là hai vấn đề luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nói đến vấn đề dân số không có nghĩa là chỉ nói tới mặt số lượng mà còn bao gồm mặt chất lượng của dân số Cùng với việc phát triển kinh tế - xã hội, con người cần phải điều chỉnh các xu hướng dân số cho phù hợp với sự phát triển Quy mô, cơ cấu dân số, tốc độ gia tăng dân số
và sự phân bố dân cư phù hợp sẽ tạo ra những tiền đề và động lực quan trọng cho phát triển bền vững, ngược lại, sự gia tăng dân số không phù hợp sẽ tạo ra những nhân tố cản trở việc thực hiện những mục tiêu kinh tế - xã hội Có thể nói, dân số là cơ hội, đồng thời là thách thức đối với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia Vì vậy, bất cứ quốc gia nào cũng cần có một chính sách dân số hợp lý để tạo ra một quy mô dân số “tối ưu” Nghĩa là, vừa có thể đảm bảo việc phát huy mọi nguồn lực cho sản xuất, tạo ra được nhiều nhất của cải vật chất cho xã hội, mặt khác vừa có thể đảm bảo được sự kết hợp hài hòa giữa sản xuất với tiêu dùng, tăng cường và thúc đẩy việc tích lũy cho tái sản xuất mở rộng
Nhận thức được vị trí và tầm quan trọng của vấn đề dân số trong sự phát triển xã hội, ngay từ những năm 60 của thế kỷ XX, Đảng và Nhà nước ta
đã rất quan tâm tới việc thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình
Từ đó đến nay, đặc biệt là từ năm 1993 (Đánh dấu bằng sự ra đời của Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII ngày 14/01/1993), đây là văn bản có tính chất quan trọng, làm tiền đề cho những quyết sách về công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình sau này của Đảng và Nhà nước Có thể nhận thấy, ban đầu chúng ta mới chủ yếu quan tâm tới vấn đề giảm sinh để ổn định quy mô dân số, thì đến nay về cơ bản chúng ta đã bắt đầu quan tâm được nhiều hơn tới chất lượng dân số, chất
Trang 4lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình và toàn xã hội
Quán triệt và thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, qua gần 20 năm thực hiện Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ tư (khoá VII), với sự chỉ đạo sâu sát của các cấp uỷ đảng, chính quyền, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
và sự hưởng ứng mạnh mẽ của nhân dân, chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình đã thực sự đi vào cuộc sống và đạt được những kết quả quan trọng: nhận thức của toàn xã hội đã có bước chuyển rõ rệt, quy mô gia đình có một hoặc hai con được chấp hành ngày càng rộng rãi; tốc độ gia tăng dân số đã được khống chế Kết quả công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình đã góp phần rất quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội, tăng thu nhập bình quân đầu người hàng năm, xoá đói, giảm nghèo và nâng cao mức sống của nhân dân Với những thành tựu của công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình, năm 1999, Việt Nam đã được nhận giải thưởng Dân số của Liên hợp quốc
Sau năm 2001 kết quả thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình chững lại và giảm sút Từ khi Pháp lệnh Dân số ra đời năm 2003, trong những năm 2003 và 2004, tỷ lệ phát triển dân số, tỷ lệ sinh con thứ ba tăng mạnh trở lại Đặc biệt là tình trạng cán bộ, đảng viên sinh con thứ ba trở lên tăng nhiều ở hầu hết các địa phương, gây tác động tiêu cực đến phong trào nhân dân thực hiện kế hoạch hoá gia đình Tình hình này đã làm sai quy định (trung bình mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ chỉ có 2 con)
Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là do Đảng ta chưa nhận thức đầy đủ tính chất khó khăn, phức tạp và lâu dài của công tác này trong bối cảnh kinh tế, văn hoá và xã hội của đất nước, dẫn đến chủ quan, thoả mãn với những kết quả đạt được ban đầu, đã buông lỏng lãnh đạo, chỉ đạo Tổ chức bộ máy và cán bộ làm công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình thiếu ổn định, quá tải, quản lý kém hiệu quả, việc ban hành Pháp lệnh Dân số và một số chính
Trang 5sách liên quan đến vấn đề dân số thiếu chặt chẽ
Trong hoàn cảnh kinh tế - xã hội đất nước chưa phát triển, tình trạng đói nghèo còn nhiều, tài nguyên thiên nhiên hạn hẹp, quy mô dân số hiện nay khá lớn ước tính khoảng 87,84 triệu người (theo kết quả tổng điều tra Dân số
và Nhà ở vào năm 2011 của Tổng cục Thống Kê), mật độ dân số vào hàng cao nhất thế giới (259 người/km² vào năm 2009), chất lượng dân số chưa được cải thiện đáng kể… Do đó, việc tăng dân số nhanh trở lại sẽ phá vỡ những thành tựu đạt được, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội và việc nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, làm chậm quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và đặt nước ta trước nguy cơ tụt hậu xa hơn Vì vậy, trong kế hoạch từ 2001 - 2015 cần phải tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình coi đây là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu
Xuất phát từ tầm quan trọng, ý nghĩa to lớn của công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, với lòng mong muốn được góp một số ý kiến vào công
tác quan trọng này tôi chọn đề tài “Thực hiện chính sách dân số của Đảng
Cộng sản Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2010” làm đề tài luận văn thạc sĩ
chuyên ngành Lịch sử Đảng
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề dân số, chính sách dân số đã được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu và những người quan tâm đề cập dưới các dạng khác nhau
2.1 Luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ Cụ thể là:
- Luận án tiến sĩ Địa lý của Trần Thị Bích Hằng, “Vấn đề dân số - lao
động - việc làm Đồng bằng sông Hồng”, Hà Nội, 2000 Cơ sở lý luận, thực trạng
của mối quan hệ dân số - lao động - việc làm ở đồng bằng sông Hồng từ 1990 đến nay và đề xuất một số kiến nghị nhằm giải quyết mối quan hệ nói trên
Trang 6- Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Địa lý - Địa chất của Nguyễn Kim
Hồng, “Sự phát triển dân số và mối quan hệ của nó với phát triển kinh tế - xã
hội ở thành phố Hồ Chí Minh”, Hà Nội, 1994 Luận án đã tổng hợp hệ thống
các thông tin, lý luận và phát triển dân số và phát triển kinh tế - xã hội để làm
cơ sở phương pháp luận vận dụng vào thành phố Hồ Chí Minh Mối quan hệ giữa phát triển dân số và phát triển kinh tế xã hội, những sai biệt lãnh thổ về
dân số - kinh tế xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh
- Luận án tiến sĩ Xã hội học của Dương Thị Bạch Kim, “Tác động của
truyền thông thay đổi hành vi đến phụ nữ giáo dân trong việc thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình: Qua nghiên cứu xã Kim Chính và xã Cồn Thoi huyện Kim Sơn, Ninh Bình”, Hà Nội, 2003
- Luận án tiến sĩ Xã hội học của Đặng Xuân Thao, “Mối quan hệ giữa
dân số và việc làm ở nông thôn đồng bằng sông Hồng trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa”, Hà Nội, 2000 Luận án đã chứng minh mối quan
hệ tương tác giữa dân số và việc làm ở nông thôn đồng bằng sông Hồng mang tính quy luật chung của nhiều nền kinh tế bước sang cơ chế thị trường, mối quan hệ này còn liên quan, ảnh hưởng đến nhiều yếu tố xã hội của cộng đồng làng xã hoặc khu vực, quốc gia, nó cũng có tính đặc thù ở từng địa phương Nêu một số khuyến nghị về kiểm soát dân số cấp cơ sở
- Luận án tiến sĩ Giáo dục của Đinh Thị Minh Tuyết, “Mối quan hệ đặc
trưng giữa sự gia tăng dân số và quy mô phát triển giáo dục phổ thông ở Việt Nam”, Hà Nội, 2001 Tác giả đãhệ thống hoá và xác định tính quy luật trong mối quan hệ giữa gia tăng dân số và quy mô phát triển giáo dục phổ thông Xác định đặc trưng của mối quan hệ này trong giai đoạn 1979 - 1999 Xu hướng phát triển giáo dục phổ thông ở Việt nam và đề xuất một số giải pháp nhằm điều tiết mối quan hệ đã nêu
Trang 7- Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Triết học của Nguyễn Quốc Triệu, “Sự
tác động của phong tục tập quán đến mức sinh và giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả công tác dân số kế hoạch hóa gia đình ở Hà Nội”, Hà Nội,
1994 Luận án đã chỉ ra những phong tục tập quán ảnh hưởng đến mức sinh
cao và xem xét phạm vi, mức độ ảnh hưởng của những phong tục tập quán đó Các nhân tố tác động đến sự hình thành và biến đổi của phong tục, tập quán Những giải pháp chủ yếu nhằm khắc phục ảnh hưởng của phong tục, tập quán
lạc hậu đến hiệu quả công tác
- Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Kinh tế của Nguyễn Thiện Trưởng,
“Mối quan hệ giữa quản lý chương trình dân số kế hoạch hoá gia đình với
các chính sách kinh tế ở nước ta”, Hà Nội, 1996.Luận án trình bàymối quan
hệ giữa chương trình dân số - kế hoạch hoá gia đình và các chính sách qua các thời kỳ: trước 1975, 1976 - 1984, 1985 - nay Các giải pháp để giải quyết mối quan hệ giữa chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình với chính sách kinh tế
xã hội nói chung và hiệu quả của nó
- Luận án Phó tiến sĩ Khoa học Địa lý - Địa chất của Lê Văn Trưởng,
“Sự thay đổi dân số trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Thanh Hoá”, Hà
Nội, 1995 Luận án đã tổng kết, hệ thống hoá những lí luận, mô hình thay đổi
dân số và tác động của sự phát triển kinh tế xã hội tới dân số Sự thay đổi dân số
Thanh Hoá và tác động của sự phát triển kinh tế xã hội theo từng thời kỳ
- Luận án tiến sĩ Kinh tế của Ngô Văn Thứ, “Hệ thống mô hình đánh
giá sự phù hợp của quá trình phát triển dân số - kinh tế Việt Nam”, Hà Nội,
2007 Luận án trình bày quan hệ kinh tế dân số và tiếp cận mô hình hoá quá trình dân số - kinh tế Phân tích thực trạng quá trình biến động dân số Việt Nam trong các thời kỳ phát triển kinh tế Xây dựng mô hình phù hợp của sự phát triển dân số - kinh tế Việt Nam hiện nay
Trang 82.2 Sách, tạp chí, báo:
- Bộ kế hoạch và đầu tư - Tổng cục Thống kê, “Điều tra biến động dân
số và kế hoạch hóa gia đình 1/4/2011, các kết quả chủ yếu”, Hà Nội, 2011.
Trình bày kết quả cơ bản của cuộc điều tra cùng các phân tích về quy mô và
cơ cấu dân số, tình trạng hôn nhân, kế hoạch hoá gia đình và sức khoẻ sinh sản, mức sinh, mức chết, di cư và các đặc trưng của di cư Cung cấp những biểu số liệu được tổng hợp từ cơ sở dữ liệu vi mô của cuộc Tổng điều tra dân
số và nhà ở và điều tra biến động dân số và kế hoạch hoá gia đình
- Dự án VIE/01/P14, “Cơ sở lý luận về dân số - phát triển và lồng ghép
dân số vào kế hoạch hoá phát triển”, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2005 Dự án
trình bày cơ sở lí luận về dân số - phát triển và giới thiệu một số vấn đề cơ bản về lồng ghép dân số trong kế hoạch hoá phát triển
- Phạm Đại Đồng, “Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến mức sinh ở
Việt Nam”: sách chuyên khảo, Nxb Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, 2009.
Tác giả trình bày những vấn đề lí luận chung về mức sinh và các nhân tố ảnh hưởng Phân tích các vấn đề liên quan đến mức sinh ở Việt Nam với những số liệu và thống kê cụ thể
- Tống Văn Đường (chủ biên), Nguyễn Đình Cử, Phạm Quý Thọ,
Nguyễn Thị Thiềng, “Giáo trình dân số và phát triển”, Nxb Nông nghiệp,
2004 Các tác giả trình bày những kiến thức cơ bản về dân số và mối quan hệ tác động qua lại giữa dân số và phát triển kinh tế - xã hội
- Doãn Đình Huề, “Thực trạng và giải pháp về dân số và kế hoạch hoá
gia đình ở Việt Nam”, Tạp chí khoa học xã hội Việt Nam, số 01 - 2005 Tác giả
đã chỉ ra thực trạng về công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình ở Việt Nam trong thời gian qua Từ đó tác giả đã đề xuất những giải pháp để thực hiện tốt công tác dân số và kế hoạch hóa gia đình ở nước ta
- Mai Hữu Khuê, Phùng Thế Trường, Bùi Văn Nhơn (chủ biên), “Chính
Trang 9sách dân số và quản lý nhà nước về dân số - kế hoạch hoá gia đình ở Việt Nam”,
Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội,1995 Tác phẩm trình bày những vấn đề cơ bản
về dân số học, các chiến lược và các chính sách dân số Những vấn đề cơ bản trong quản lý nhà nước về dân số - kế hoạch hoá gia đình ở Việt Nam
- Trịnh Duy Luân, Bùi Thế Cường, Đặng Nguyên Anh “Dân số Việt
Nam qua các công trình nghiên cứu xã hội học”, Nxb Khoa học xã hội, Hà
Nội, T.1, T.2 - 2009 Tuyển tập một số công trình nghiên cứu gần đây Nghiên cứu dân số ở Việt Nam, đặc điểm về vấn đề tử vong và di cư được nhìn nhận, khai thác dưới nhiều góc độ khác nhau qua các bìa viết xã hội học dân số của các nhà nghiên cứu
- Lê Hữu Nghĩa (chủ biên), Trần Văn Chiến, Trần Văn Chử “Dân số
và phát triển một số vấn đề cơ bản”, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2000
Các tác giả cung cấp những thông tin cơ bản về các vấn đề liên quan đến dân
số và phát triển: một số kiến thức nhân khẩu học; mối quan hệ giữa dân số với các quá trình phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội Các tri thức về chính sách dân số và quản lí chương trình dân số ở Việt Nam và trên thế giới
- Đặng Kim Oanh, “Quá trình lãnh đạo công tác dân số của Đảng
Cộng sản Việt Nam”, Tạp chí Lịch sử Đảng, số 09 - 2005 Tác giả đã khẳng
định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác dân số từ năm
1961 đến năm 2005 và những thành tựu đã đạt được
- Trần Cao Sơn, “Bức tranh dân số thế giới và Việt Nam”, Nxb Khoa
học xã hội, Hà Nội, 1999 Tác giả nêu thực trạng và dự báo khái quát dân số thế giới từ 1950 đến 2050 và tiến trình đô thị hoá, sự tăng trưởng các thành phố của thế giới cùng với những thành tựu, thách thức đối với dân số Việt Nam
- Nguyễn Đình Tấn, Nguyễn Văn Đoàn (chủ biên), Võ Thị Hồng
Loan , “Một số nghiên cứu xã hội học về dân số (1991-2000)”, Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, 2000 Một số vấn đề nghiên cứu về xã hội học dân số ở Việt Nam (1991-2000): Sử dụng phương pháp xã hội học trong nghiên cứu một số đề tài về dân số, đánh giá năm triển khai nghị quyết Trung ương 4 về
Trang 10chính sách dân số - kế hoạch hoá gia đình qua khảo sát cán bộ lãnh đạo, quản
lý cấp huyện, xã, hội phụ nữ với công tác vận động kế hoạch hoá gia đình
- Lê Thị Thu, “Tiếp tục thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hoá gia
đình trong tình hình mới”, Tạp chí Cộng Sản, số 18 - 2005 Tác giả đã chỉ ra
những thành tựu về dân số trong quá trình Đảng lãnh đạo từ 1961 đến năm
2005 Từ đó tác giả rút ra những bài học kinh nghiệm và những nhiệm vụ cần phải thực hiện trong thời gian tới
- Đặng Thu, “Một số vấn đề về dân số Việt Nam”, Nxb Khoa học xã
hội, Hà Nội, 1996 Tác giả đã chỉ ra các kết quả nghiên cứu về các vấn đề dân
số Việt Nam: tuổi thọ trung bình của dân số Việt Nam, trình độ phát triển của các dân tộc ít người, ảnh hưởng của nạn chết đói, tổn thất dân số do chiến tranh, hôn nhân và kế hoạch hoá giai dình, chính sách dân số
- Uỷ ban dân số - Kế hoạch hoá gia đình tỉnh Bình Dương, “Chính sách
dân số và kế hoạch hoá gia đình (1990 – 2000), Bình Dương, 2000 Các văn
bản pháp quy chính yếu liên quan đến những chính sách và hoạt động kế hoạch hoá gia đình từ năm 1990 đến nay của tỉnh Bình Dương: tình hình thực hiện công tác dân số kế hoạch hoá gia đình, mục tiêu và quan điểm, các giải pháp về dân số kế hoạch hoá gia đình v.v
Có thể nói từ trước đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu
tổng thể về “Thực hiện chính sách dân số của Đảng Cộng sản Việt Nam từ
năm 2001 đến năm 2010” Những công trình nghiên cứu của các tác giả đi
trước đã cung cấp cho chúng tôi nguồn tài liệu quý giá và định hướng nghiên cứu để chúng tôi thực hiện đề tài này
Trang 113 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Trình bày những vấn đề chung liên quan đến đề tài
- Trình bày quá trình thực hiện chính sách dân số của Đảng từ năm 2001 đến năm 2010
- Rút ra một số kinh nghiệm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Thực hiện chính sách dân số của Đảng
Cộng sản Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2010
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu về thực hiện chính sách dân số của
Đảng ở Việt Nam
- Về thời gian: Đề tài tập trung nghiên cứu thực hiện chính sách dân số
của Đảng từ năm 2001 đến năm 2010
- Về phạm vi nội dung: Luận văn tập trung trình bày việc thực hiện
chính sách dân số của Đảng từ năm 2001 đến năm 2010
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước về dân số
và chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu Lịch sử, phương pháp Lôgíc
Trang 12và kết hợp chặt chẽ hai phương pháp này Phương pháp lịch sử là phương pháp trình bày các sự kiện lịch sử theo thời gian và không gian Phương pháp Lôgíc là phương pháp khái quát, tổng hợp để từ đó rút ra bản chất của sự việc
mà tác giả muốn trình bày Ngoài ra còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khác như: Phương pháp phân tích - tổng hợp, điều tra khảo sát, thống kê - so sánh để thấy được quá trình thực hiện chính sách dân số của Đảng từ năm
2001 đến năm 2010
6 Cái mới của luận văn
- Trình bày có hệ thống chính sách dân số của Đảng từ năm 2001 đến
năm 2010
- Trình bày thực trạng dân số ở Việt Nam từ năm 2001 đến năm 2010
- Chỉ ra những kết quả, hạn chế và rút ra một số kinh nghiệm qua 10 năm thực hiện chính sách dân số của Đảng
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Góp phần làm rõ hơn ý nghĩa của việc thực hiện chính sách dân số của Đảng trong giai đoạn hiện nay Khẳng định sự quan tâm của Đảng, Nhà nước đối với vấn đề dân số - kế hoạch hóa gia đình
- Cung cấp những luận cứ khoa học và gợi mở một số suy nghĩ có thể vận dụng vào thực tiễn công tác đối với việc thực hiện chính sách dân số hiện nay Có thể sử dụng luận văn làm tài liệu tham khảo cho sinh viên khoa Lịch sử Đảng
và các ngành liên quan
8 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương, 8 tiết
Chương 1: Những vấn đề chung liên quan đến đề tài
Chương 2: Chính sách dân số của Đảng và quá trình thực hiện chính
sách dân số từ năm 2001 đến năm 2010
Chương 3: Khái quát việc thực hiện chính sách dân số của Đảng từ
năm 2001 đến năm 2010 và một số kinh nghiệm
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Khái niệm dân số và chính sách dân số
1.1.1 Khái niệm dân số
Dân số có liên quan đến nhiều hoạt động, nhiều khía cạnh khác nhau của đời sống kinh tế - xã hội Có rất nhiều các khái niệm khác nhau nói về dân số, sau đây là một số khái niệm thường gặp:
Dân số theo nghĩa thông thường là số lượng dân trên một vùng lãnh thổ, một địa phương nhất định Bởi vì dân số có thể coi là số lượng dân của cả trái đất hay một phần của nó, của một quốc gia một vùng địa lý nào đó
Dân số theo nghĩa rộng được hiểu là một tập hợp người Tập hợp này không chỉ là số lượng mà cả cơ cấu và chất lượng Tập hợp này bao gồm nhiều cá nhân hợp lại, nó không cố định mà thường xuyên biến động Ngay bản thân mỗi cá nhân cũng thường xuyên biến động: sinh ra, lớn lên, trưởng thành, già hóa và tử vong [58, tr.3] Trong dân số học, thuật ngữ “Dân số” không chỉ hiểu theo nghĩa thông thường, mà còn hiểu theo nghĩa rộng của nó Nó nghiên cứu cả ở trạng thái tĩnh và trạng thái động cùng những yếu tố gây nên sự biến động đó
Dân số là số lượng và chất lượng người của một cộng đồng dân cư, cư trú trong một vùng lãnh thổ (hành tinh, khu vực, châu thổ, quốc gia…) tại một thời điểm nhất định
Dân số luôn luôn biến động theo thời gian và không gian Những biến động về dân số có ảnh hưởng đến cuộc sống của mỗi cá nhân, gia đình và toàn xã hội Nhằm đảm bảo sự kiểm soát nhất định đối với vấn đề dân số của một quốc gia thì quốc gia thường có những cuộc điều tra dân số để làm cơ sở đánh giá, nhân định và đưa ra những chính sách đối với vấn đề dân số của
Trang 14quốc gia mình
“Dân số chỉ tất cả những người sống trong phạm vi một địa giới nhất định (một nước, một vùng kinh tế, một đơn vị hành chính, v.v ) có đến một thời điểm hay trong một khoảng thời gian nhất định” [94]
“Dân số là tập hợp người sinh sống trong một quốc gia, khu vực, vùng địa lý kinh tế hoặc một đơn vị hành chính” [90, tr.9]
Ngoài từ dân số trong cuộc sống, các tài liệu, sách báo còn dùng các
từ dân cư, nhân khẩu, dân tộc, nhân dân, giữa các từ này với dân số có điểm chung giống nhau, nhưng cũng có những nét đặc trưng khác nhau Mặc dù đôi khi có thể dùng từ này thay cho từ khác, khi ngữ nghĩa gần giống nhau, nhưng cũng có trường hợp không thể thay thế cho nhau được
1.1.2 Khái niệm chính sách và chính sách dân số
- Khái niệm chính sách: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực
hiện đường lối, nhiệm vụ Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó” [43, tr.475]
Những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ là bản chất, nội dung và phương hướng giải quyết vấn đề, lĩnh vực của chính sách nên nó tuỳ thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội Vì vậy, có thể gọi tên chính sách gắn với vấn đề, lĩnh vực như chính sách kinh tế, chính sách xã hội, chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách nông nghiệp, chính sách tài nguyên thiên nhiên, chính sách khoa học và công nghệ, chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo, chính sách ngoại giao
Chính sách được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như là các loại văn bản pháp lý, văn bản điều hành hoặc là lời tuyên bố, các thông báo hoặc được phỏng đoán chính xác từ một loạt các hành động đang thực thi của các cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị -
Trang 15xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, đơn vị kinh tế, đơn
vị vũ trang nhân dân nhằm tác động hoặc giải quyết vấn đề, lĩnh vực
- Khái niệm chính sách dân số: Chính sách dân số được quan niệm theo
nghĩa rộng hay nghĩa hẹp tuỳ thuộc vào mục tiêu cần đạt được trong từng giai đoạn nhất định ở mỗi quốc gia Có khá nhiều khái niệm về chính sách dân số, mỗi khái niệm có những đặc thù riêng, theo cách nhìn nhận riêng hoặc tùy theo tính cấp bách đối với việc điều chỉnh sự phát triển và di chuyển của dân
cư Sau đây là một số khái niệm thường gặp:
+ Có một định nghĩa như được công nhận rộng rãi là: Một chính sách dân
số được tồn tại trên thực tế khi mà các vấn đề liên quan tới mức sinh, mức chết hoặc cách phân bố đặc biệt về dân số được đề cập công khai
Chính sách dân số có thể được định nghĩa như là những quy định về mặt pháp lý, những chương trình quản lý, điều hành và những hoạt động khác của Chính phủ nhằm vào việc thay thế hoặc sửa đổi xu hướng phát triển dân số trong thời điểm hiện tại có quan tâm tới lợi ích và sự sống còn của quốc gia [80, tr.3]
+ Chính sách dân số bao gồm các biện pháp nhằm xoá đi khoảng cách giữa tổng số những đứa trẻ thực sự sinh ra trong xã hội và số trẻ mà xã hội có thể chấp nhận (thông qua một số biện pháp đặc biệt trong việc quyết định để đạt được những mục tiêu xã hội quan trọng)
+ Chính sách dân số là sự kết hợp các biện pháp trực tiếp và gián tiếp có ảnh hưởng tới qui mô, sự phân bố hay chất lượng của cộng đồng con người Các biện pháp này được hình thành và được thực thi bởi toàn bộ các thể chế
xã hội cho dù Chính phủ có chủ đích hay không có chủ đích
+ Chính sách dân số là một quan niệm không chính xác bao hàm một ý nghĩa mà ít nhiều, mỗi người muốn nó thể hiện Webster định nghĩa chính sách dân số là một tiến trình hay phương pháp hành động có xác định, sự lựa chọn
Trang 16giữa các khả năng nhằm hướng dẫn và xác định các quyết định hiện tại và tương lai và một chính sách công cộng hay quốc gia là cái được chấp nhận bởi một cơ quan Nhà nước
+ Chính sách dân số là một văn bản hoặc một loạt văn bản hướng đến các mục đích, mục tiêu nhân khẩu học quan trọng và đi kèm một loạt các biện pháp nhằm đạt được các mục đích, mục tiêu đề ra
+ Chính sách dân số là các văn bản về các biện pháp trực tiếp và gián tiếp, do các cơ quan, tổ chức đề ra (kể cả Chính phủ), dù có mục đích hay không có mục đích, nhưng có tác động, ảnh hưởng tới kích thước, phân bố hoặc các thành phần của dân số
+ Chính sách dân số là các cố gắng của Chính phủ trên phạm vi toàn quốc nhằm gây ảnh hưởng tới các thông số nhân khẩu học về sinh, chết, di dân hoặc tác động tới quy mô, cơ cấu và phân bố dân số theo không gian
Chính sách dân số là các giải pháp và các chương trình nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế - xã hội, dân số, chính trị và các mục tiêu khác thông qua ảnh hưởng của các biến dân số như quy mô, tốc độ gia tăng và phân bố dân số theo địa lí (trong nước và quốc tế) và các đặc trưng nhân khẩu khác [80, tr.3]
+ Demeny định nghĩa: Chính sách dân số có thể định nghĩa là những điều kiện về mặt thể chế hoặc các chương trình cụ thể được xây dựng hoặc điều chỉnh một cách cẩn trọng, thông qua đó Chính phủ có tác động một cách trực tiếp hoặc gián tiếp đến các biến động về nhân khẩu học
Nhìn chung, mỗi chính sách dân số đều phải có các mục tiêu cụ thể theo thời gian, phải có các biện pháp và các chương trình để đạt được các mục tiêu
đề ra Mục tiêu chính của chính sách dân số là nhằm kiểm soát quy mô dân
số, đồng thời phải xem xét sự ảnh hưởng tới cơ cấu và phân bổ dân số
Trong chính sách dân số, mục tiêu về số lượng được nhấn mạnh bởi vì
Trang 17hiệu lực của chính sách có liên quan trước hết tới việc tác động vào quy mô dân số và làm thay đổi tỷ lệ phát triển dân số Ngoài mục tiêu về số lượng, chính sách dân số còn bao gồm cả mục tiêu của chất lượng dân số và các mục tiêu phi lượng khác, dẫn đến nhiều khi chính sách dân số gần như đồng nghĩa hoặc là một bộ phận của chính sách xã hội nói chung Chất lượng sinh học, đối tượng của các biện pháp kiểm soát cấu trúc gene của một dân số, đôi khi cũng được thể hiện trong chính sách dân số
Về bản chất, con người vừa là chủ thể của mọi chính sách, vừa là đối tượng mà mọi chính sách cần phải quan tâm, cho nên có thể hiểu theo nghĩa rộng là chính sách dân số bao gồm tất cả các hoạt động có ảnh hưởng làm thay đổi các yếu tố nhân khẩu học
Tuy có nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách dân số, song việc sử dụng định nghĩa chính sách dân số của mỗi quốc gia phải xuất phát từ những vấn đề quan tâm trong mỗi thời kì cụ thể để điều khiển quá trình phát triển dân số phù hợp với quá trình phát triển của đất nước Căn cứ tình hình thực tiễn xây dựng và tổ chức thực hiện chính sách dân số và căn cứ vào sự phân tích nhân khẩu học để lựa chọn khái niệm chính sách dân số hợp lí với những vấn đề đã được đặt ra
Vì vậy, tác giả sử dụng khái niệm chính sách dân số là: Chính sách dân
số là văn bản của Đảng và Nhà nước về những chủ trương, biện pháp, quy định, hướng dẫn về những vấn đề liên quan nhằm làm thay đổi xu hướng hiện tại của dân số theo mục đích, mục tiêu đề ra
Với khái niệm nêu trên, chính sách dân số bao gồm những đặc điểm: 1)
là loại văn bản quy định riêng biệt về vấn đề dân số hoặc là văn bản quy định các vấn đề kinh tế xã hội, nhưng có tác động đến sinh, chết, di dân, phát triển con người, quy mô, cơ cấu, chất lượng và sự phân bố dân số; 2) cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản là Đảng và Nhà nước; 3) phạm vi tác động bao
Trang 18gồm những vấn đề liên quan (vấn đề dân số và vấn đề kinh tế xã hội tác động đến quá trình dân số và kết quả dân số) nhằm làm thay đổi xu hướng hiện tại của dân số về quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số; 4) cấu trúc của chính sách bao gồm mục đích, mục tiêu, biện pháp (hoặc quy định, hướng dẫn) và đối tượng tiếp nhận hoặc tác động
Khái niệm về chính sách dân số hợp lý nêu trên đã đáp ứng đầy đủ các đặc điểm của chính sách dân số, phù hợp với sự phân tích nhân khẩu học và phù hợp với thực tiễn của các chính sách dân số đã ban hành ở nước ta
Như vậy, chính sách dân số sẽ bao gồm chính sách trực tiếp nhằm điều chỉnh các vấn đề dân số và những chính sách kinh tế - xã hội có tác động, ảnh hưởng gián tiếp đến dân số Mục tiêu và giải pháp của chính sách dân số sẽ làm thay đổi quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số
1.2 Tầm quan trọng của vấn đề dân số và chính sách dân số
1.2.1 Tầm quan trọng của vấn đề dân số
Dân số vừa là lực lượng tiêu dùng của cải xã hội vừa là lực lượng sản xuất ra của cải cho xã hội Vì vậy, quy mô, cơ cấu của dân số quyết định quy
mô, cơ cấu của sản xuất và tiêu dùng Dân số đóng vai trò trung tâm trong mọi chương trình, chiến lược phát triển, nó vừa là điều kiện, phương tiện, vừa
là mục tiêu của sự phát triển Phát triển kinh tế xã hội dù ở đâu và thời kỳ nào đều nhằm hướng tới việc phục vụ cho mục tiêu phát triển toàn diện con người
Dân số là yếu tố ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế - xã hội Công tác dân số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng người, từng gia đình
và toàn xã hội, góp phần quan trọng thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Dân số là yếu tố rất quan trọng trong sự phát triển chung của nhân loại,
có hai mặt: tích cực và tiêu cực
Trang 19- Tích cực: Dân số trẻ sẽ đóng góp vào nguồn lao động có trình độ kĩ
thuật cao Dân số trẻ thể hiện được sự phát triển của mỗi quốc gia, bởi khi một quốc gia có nền kinh tế phát triển thì sẽ làm cho thu nhập cao, thu nhập cao tất yếu sẽ giảm tỉ lệ sinh, là nguồn lao động quan trọng cho tất cả mọi ngành kinh tế, nếu không có nguồn lao động thì tất cả mọi ngành kinh tế đều ngừng tồn tại Dân số trẻ thể hiện được tình hình kinh - tế xã hội của quốc gia, thúc đẩy việc khai thác, tận dụng thế mạnh của từng quốc gia
- Tiêu cực: Việc gia tăng dân số quá nhanh sẽ ảnh hưởng tới tình hình
chính trị, kinh tế - xã hội của quốc gia: tệ nạn xã hội gia tăng, khó đáp ứng được vấn đề lao động; tỉ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm luôn là một bài toán khó cho các nhà chức trách Dân số già ảnh hưởng tới việc chăm sóc, xây dựng nhiều nơi an dưỡng, tốn kém và gây nên sự thiếu hụt lao động, ảnh hưởng tới tốc độ phát triển kinh tế của mỗi quốc gia
1.2.2 Tầm quan trọng của chính sách dân số
Chính sách dân số là một bộ phận của chiến lược phát triển toàn diện của mỗi quốc gia, là một trong những công cụ hữu hiệu để điều tiết quá trình vận động của dân số Trước hết, nó điều tiết sự phát triển dân số hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Chính sách dân số điều chỉnh quá trình
di cư, nhập cư, đảm bảo phân bố dân cư và lao động hợp lý, phù hợp với điều kiện, đặc điểm, tình hình phân bố của lực lượng sản xuất, tạo điều kiện phát triển sản xuất, nâng cao năng suất lao động Việc thực hiện tốt chính sách dân
số còn góp phần thúc đẩy quá trình phát triển giáo dục, y tế đặc biệt là giải quyết tốt mối quan hệ giữa dân số với tài nguyên, môi trường, hạn chế tệ nạn
xã hội từng bước nâng cao chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống Ở nước
ta hiện nay, việc thực hiện chính sách dân số suy cho cùng là việc hạn chế tỷ
lệ gia tăng dân số nhanh, hạn chế tình trạng sinh con thứ ba trở lên và thực hiện các mục tiêu nâng cao chất lượng dân số, chất lượng cuộc sống Đối với
Trang 20chính sách dân số, quan trọng nhất vẫn là nhóm chính sách có liên quan đến vấn đề sinh, tử và di dân bởi vì mọi sự biến đổi của dân số suy cho cùng đều chịu ảnh hưởng của ba nhân tố này Vì vậy, việc sinh đẻ và các chính sách tác động tới mức sinh có ý nghĩa quan trọng nhất, nhất là với những nước có tốc
độ gia tăng dân số nhanh như Việt Nam
Chính sách được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn, nhưng việc quyết định ban hành chính sách lại mang tính chủ quan của con người nhằm giải quyết và quản lý vấn đề, lĩnh vực trong đời sống xã hội và là cơ sở đảm bảo cho hoạt động của cơ quan, tổ chức, gia đình và cá nhân trong việc thực hiện đường lối, mục tiêu nhiệm vụ và đảm bảo quyền, lợi ích của đối
tượng tham gia Tầm quan trọng của chính sách dân số thể hiện:
- Định hướng mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, hoạt động theo những cơ cấu
ưu tiên, khuyến khích nhân tố tích cực, hạn chế nhân tố bất lợi trong việc thực hiện mục tiêu dân số bao gồm quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số Việc giải quyết mục tiêu dân số có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển kinh tế -
xã hội, bảo đảm công bằng và sự phát triển bền vững của xã hội
- Định hướng, hướng dẫn khung pháp lý để bảo đảm hoạt động của các chủ thể trong xã hội và bảo đảm hành vi của công dân cùng hướng, góp phần ổn định trật tự xã hội và phù hợp với bản chất, nội dung của chính sách dân số
- Đề ra tiêu chuẩn, định mức, chế độ, cơ chế và phương thức thực hiện
để điều tiết cụ thể đối với các đối tượng tham gia và đối tượng thụ hưởng phù hợp với yêu cầu và thực tế khách quan trong từng giai đoạn
- Vai trò của cơ quan, tổ chức ban hành chính sách dân số là bảo đảm hình thức của chính sách dân số phù hợp với mục đích, mục tiêu điều chỉnh
- Vai trò của đối tượng tiếp nhận và đối tượng tham gia tác động để thực hiện chính sách là phải chủ động thực hiện các hành vi, các mối quan hệ phù hợp với mục đích, mục tiêu và các hoạt động của chính sách dân số
Trang 211.3 Khái quát việc thực hiện chính sách dân số của Đảng trước năm 2001
Việt Nam là một trong những quốc gia sớm đi đầu trong việc thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình Sau Đại hội III của Đảng (1960), Chính phủ đã ban hành Quyết định số 216/CP ngày 26/12/1961 về công tác dân số với mục tiêu: vì sức khỏe của người mẹ, vì hạnh phúc và hòa thuận của gia đình, vì để cho việc nuôi dạy con cái được chu đáo, việc sinh đẻ của nhân dân cần được hướng dẫn một cách thích hợp Từ năm 1963, Đảng, Nhà nước
ta bắt đầu thực hiện chương trình kế hoạch hóa gia đình thông qua cuộc “vận động sinh đẻ có kế hoạch” và đã đạt được một số kết quả nhất định Tuy nhiên, tỷ lệ tăng dân số vẫn còn ở mức hơn 2% mỗi năm Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra Đại hội IV (1976), Đại hội V (1982) của Đảng, đưa ra mục tiêu hạ tỷ lệ tăng dân số được xác định ở mức 1,7%, nhưng chưa năm nào thực hiện được Tại Đại hội VI (1986), trong phần đầu tiên của chính sách xã hội, Đảng ta đã nêu vấn đề kế hoạch hóa dân
số, tiếp tục nêu mục tiêu: “Phấn đấu hạ tỷ lệ phát triển dân số đến năm 1990
xuống 1,7%” [32, tr.87] Các cấp bộ Đảng, chính quyền và đoàn thể đã chỉ
đạo chặt chẽ và thường xuyên cuộc vân động kế hoạch hóa dân số, coi đó là một điều kiện để thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội
Nhận thức rõ sự gia tăng dân số là một trong những nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế trầm trọng những năm 1980, cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội, tại Đại hội VII (1991), Đảng ta nêu rõ: “Nhiều khó khăn về kinh tế, xã hội của nước ta có nguyên nhân ở tốc độ phát triển dân số quá cao Nhịp độ tăng dân số năm 1989 khoảng 2,2% Công tác tuyên truyền vận động nhân dân chưa được tiến
hành tốt” [33, tr.31] Đại hội cũng khẳng định, vấn đề dân số đã trở thành gay gắt
và coi việc giảm tỷ lệ gia tăng dân số là một quốc sách Đại hội chỉ rõ cần thực hiện đồng bộ chiến lược dân số trên cả ba mặt: quy mô, cơ cấu và sự phân bố dân
Trang 22cư, giảm tỷ lệ phát triển dân số mỗi năm khoảng 0,4 - 0,6‰
Dân số nước ta vẫn tiếp tục tăng Đến cuối năm 1993, dân số cả nước
đã lên tới 71 triệu người Tuy nhiên công tác dân số cũng đạt nhiều kết quả: Tính đến năm 1993, số con trung bình của phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đã giảm từ 6 con (năm 1960) xuốn còn 4 con (năm 1993) Để cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội VII, ngày 14/01/1993, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (khóa VII) đã ra Nghị quyết số 04 - NQ/HNTW về chính
sách dân số - kế hoạch hóa gia đình Nghị quyết đánh dấu bước hoàn thiện về
quan điểm chỉ đạo của Đảng đối với công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, thể hiện rõ sự quan tâm đặc biệt của Đảng đối với công tác này
Trên cơ sở đánh giá đúng thực trạng công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình cùng những việc đã làm được và những vấn đề bức xúc, Nghị quyết số
04 - NQ/HNTW về chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình đã nêu ra quan
điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình
Mục tiêu tổng quát công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trong những năm tiếp theo là: gia đình ít con, khỏe mạnh, tạo điều kiện
để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc Mục tiêu cụ thể là thực hiện mỗi gia đình chỉ có 1 hoặc 2 con để tiến tới năm 2015 bình quân toàn xã hội mỗi gia đình có 2 con, tiến tới ổn định quy mô dân số vào giữa thế kỷ XXI [6]
Tập trung mọi nỗ lực tạo chuyển biến rõ rệt trong thập kỷ 90 của thế
kỷ XX Nghị quyết đã đề ra 6 giải pháp, trong đó, giải pháp quan trọng hàng đầu là phải bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đối với công tác dân số
- kế hoạch hóa gia đình Các cấp ủy Đảng, các cơ quan Nhà nước, đoàn thể, phải coi công tác này là một nội dung trọng tâm trong chương trình hành động, đồng thời phải huy động được toàn xã hội tham gia thành một phong
Trang 23trào rộng rãi
Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương lần thứ tư của Đảng, ngày 03/06/1993, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 270/TTg phê duyệt
chiến lược dân số - kế hoạch hóa gia đình đến năm 2000 Chiến lược đặc biệt
nhấn mạnh: Quán triệt sâu sắc và thể hiện trên mọi hoạt động 5 quan điểm của Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng về dân số -
kế hoạch hóa gia đình Chiến lược được chia làm hai giai đoạn thực hiện:
- Giai đoạn đầu (1993 - 1995), với mục tiêu chủ yếu là xây dựng lực lượng và cùng với nguồn lực đã có triển khai đồng bộ hoạt động dân số - kế hoạch hóa gia đình nhằm giảm tổng tỷ suất sinh xuống mức 3,6 con vào năm
1995 để đạt quy mô dân số 75 triệu người Nhiệm vụ chính là xây dựng mô hình và chuẩn bị nguồn lực, xây dựng và phát triển hệ thống tổ chức cán bộ, nâng cao năng lực hoạt động cho cán bộ làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình ở cơ sở
- Giai đoạn thứ hai (1996 - 2000), với mục tiêu giảm tổng tỷ suất sinh xuống còn 2,9 con để qui mô dân số khoảng 82 triệu người vào năm 2000 để đạt mức sinh thay thế vào năm 2015 Nhiệm vụ chính là mở rộng toàn diện và thực hiện có hiệu quả công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trên phạm vi cả nước, tiến hành mạnh mẽ và đồng bộ các giải pháp đến từng thôn, xóm, bản làng nhằm tạo sự chuyển biến rõ rệt trong những năm còn lại của thập kỷ 90
Những quan điểm, mục tiêu, giải pháp về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình của Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa VII), chiến lược dân số - kế hoạch hóa gia đình đến năm 2000, Nghị định số 42/CP ngày 21/06/1993 của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Ủy ban quốc gia dân số - kế hoạch hóa gia đình đã mở ra một thời kỳ mới cho công tác dân số ở nước ta, cả trong tư duy và hành động của Đảng, Nhà nước và toàn dân Quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng đã được nhân dân ủng
Trang 24hộ và thực hiện Cuộc vận động “dừng lại ở hai con để nuôi dạy cho tốt” đã thực sự lan rộng trong đông đảo nhân dân, đạt được những kết quả quan trọng Tỷ suất sinh đã giảm từ 25,3‰ (năm 1994) xuống 22,3‰ (năm 1995) Những kết quả đạt được của công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình là cơ sở
để các Đại hội Đảng tiếp tục khẳng định và hoàn thiện chính sách dân số
Đại hội VIII (1996) của Đảng đã chỉ rõ định hướng đối với công tác này theo hướng:
Đẩy mạnh công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, kiện toàn hệ thống tổ chức làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, phát triển mạng lưới dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đến tận cơ sở, nhất là nông thôn, miền núi, “hướng vào mục tiêu mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1 hoặc 2 con, đạt tỷ lệ tăng dân số dưới 1,8% vào năm 2000, tiến tới ổn định quy mô dân số trong nửa đầu thế kỷ
sau [34, tr.118]
Như vậy chương trình dân số Việt Nam đến năm 1996 đã chuyển biến một bước quan trọng Nếu giai đoạn trước năm 1996 hướng chủ yếu đến mục tiêu giảm sinh, thực hiện kế hoạch hóa gia đình, xây dựng gia đình quy mô nhỏ có 1 hoặc 2 con, thì giai đoạn sau năm 1996 Việt Nam chuyển từ chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình sang chương trình dân số - phát triển - sức khỏe sinh sản Ngoài mục tiêu giảm sinh, chương trình dân số - phát triển
- sức khỏe sinh sản còn đặc biệt chú ý đến việc nâng cao chất lượng dân số Trọng tâm của chương trình này là chăm sóc sức khỏe sinh sản
Có thể khẳng định rằng từ khi có Nghị quyết Trung ương lần thứ tư (Khóa VII) của Đảng về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, nhờ có sự quan tâm chỉ đạo của Đảng, sau gần 10 năm thực hiện, công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình đã đạt được những kết quả quan trọng, công tác dân số đã góp phần đáng kể vào việc đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm
Trang 25nghèo, nâng cao chất lượng cuộc sống
Việc khái quát thực hiện chính sách dân số của Đảng trước năm 2001, tuy đã đạt được một số kết quả, nhưng cũng còn nhiều hạn chế:
Kết quả: Việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta đã có một quá
trình lâu dài với nhiều thành tựu và kinh nghiệm vô cùng quý báu Đến nay,
có thể đánh giá kết quả trong việc thực hiện chính sách dân số ở nước ta trước
năm 2001 như sau:
Thứ nhất: Về kết quả giảm sinh đã đạt được sớm hơn so với mục tiêu đề
ra Mục tiêu của Chiến lược dân số - kế hoạch hóa gia đình đến năm 2000 là giảm
cho được tổng tỷ suất sinh xuống mức 2,9 con hoặc thấp hơn, quy mô dân số dưới mức 82 triệu người vào năm 2000 để đạt mức sinh thay thế vào năm 2015
Thực tế cho thấy, trong giai đoạn từ năm 1989 đến năm 1992, tỷ
lệ sinh không giảm, nhưng từ khi thực hiện Chiến lược dân số - kế hoạch hóa gia đình đến năm 2000, tức là từ năm 1993 đến nay, tổng tỷ suất sinh đã giảm khá nhanh, từ 3,8 con năm 1989 xuống 2,67 con trong thời kỳ 1992-1996 và còn khoảng 2,3 con vào năm
1999 [68, tr.3]
Quy mô dân số ở mức khoảng 78 triệu người vào giữa năm 2000 Kết quả này đã tạo điều kiện để đạt mức sinh thay thế chậm nhất vào năm 2005, sớm hơn 10 năm so với mục tiêu mà Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VII) đề ra Năm 1999 Việt Nam vinh dự được Liên hợp quốc trao giải thưởng Dân số
Thứ hai: Về cơ bản đã thống nhất được thái độ và hành động của toàn
xã hội về tầm quan trọng của việc thực hiện chính sách dân số Các cấp uỷ,
chính quyền, đoàn thể từ Trung ương đến địa phương đã coi công tác dân số -
kế hoạch hóa gia đình là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, là một yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của
Trang 26từng người, từng gia đình và xã hội
Quan niệm về hôn nhân và sinh đẻ của nhân dân đã chuyển biến tích cực theo hướng ngày càng có nhiều người chấp nhận kết hôn muộn, đẻ muộn,
đẻ thưa, đẻ ít để nuôi con khỏe và dạy con ngoan Đông đảo phụ nữ đã hiểu rằng thực hiện kế hoạch hóa gia đình sẽ giúp họ có cơ hội giữ gìn và bảo vệ sức khỏe, phát triển tài năng, và tham gia vào các hoạt động kinh tế - chính trị
- xã hội, nhằm nâng cao địa vị của phụ nữ trong gia đình và xã hội
Nhờ có sự chuyển biến về nhận thức, đã có sự thay đổi lớn về hành vi thực hiện kế hoạch hóa gia đình trong nhân dân Tỷ lệ các cặp vợ chồng trong
độ tuổi sinh đẻ sử dụng các biện pháp tránh thai tăng nhanh, từ 53,75% năm
1993 lên 75,31% năm 1997, bình quân mỗi năm tăng 5,4%, vượt kế hoạch đề
ra là tăng 2% mỗi năm
Thứ ba: Hệ thống tổ chức làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình
bước đầu được kiện toàn Thực hiện chiến lược dân số - kế hoạch hóa gia
đình đến năm 2000, tổ chức bộ máy làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình được hình thành từ Trung ương đến cơ sở và đã từng bước được hoàn thiện về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, và phương thức hoạt động Cơ quan chuyên trách dân số - kế hoạch hóa gia đình các cấp đã thực sự trở thành một
tổ chức tham mưu tích cực cho lãnh đạo Đảng và chính quyền các cấp về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình Các Bộ, ban, ngành, đoàn thể đều có ban chỉ đạo công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình
Thứ tư: Công tác thông tin - giáo dục - truyền thông từng bước được
đẩy mạnh Nhận thức, thái độ, hành vi của cộng đồng đối với công tác dân số
đã có sự chuyển biến đáng kể Các hoạt động truyền thông mang tính đa dạng, nhiều chiều, nội dung phong phú Đặc biệt đã có sự quan tâm chú ý tới từng nội dung, từng đối tượng cụ thể để có những phương pháp phù hợp, hiệu quả Truyền thông dân số đã được lồng ghép vào các nội dung tuyên truyền, giáo
Trang 27dục, các chương trình chính sách phát triển Giáo dục dân số được đưa vào các cấp học phổ thông, các trường đại học và trung học chuyên nghiệp, dạy nghề, các trường chính trị, hành chính, và các trường của lực lượng vũ trang
Thứ năm: Hệ thống những quan điểm, chủ trương chính sách của
Đảng và Nhà nước ta đã từng bước được bổ sung, phát triển hoàn thiện và ngày càng thể hiện tính đúng đắn, hiệu quả, sát với tình hình thực tế Mục
tiêu và các giải pháp của chiến lược dân số - kế hoạch hóa gia đình nhìn chung là phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước, cơ chế quản lý dân số theo chương trình mục tiêu định hướng và đang phát huy tác dụng
Ngoài những thành tựu cơ bản nêu trên, cũng cần kể tới những thành công
đó là: Hệ thống cung cấp dịch vụ kế hoạch hóa gia đình công cộng được củng cố
và phát triển ở các cấp Trung ương, bệnh viện tỉnh, trung tâm bảo vệ sức khỏe bà
mẹ, trẻ em tỉnh, trung tâm y tế huyện, phòng khám khu vực, và trạm y tế xã Các nhu cầu cơ bản về dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đã được đáp ứng Đến nay, “tất
cả các cơ sở dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cấp tỉnh và 93% cơ sở y tế huyện làm được các thủ thuật đình sản; 100% cơ sở dịch vụ kế hoạch hóa gia đình cấp huyện và 68,7% trạm y tế xã đặt được vòng tránh thai và điều trị phụ khoa” [68, tr.5] Hệ thống y tế tư nhân và các tổ chức phi chính phủ được huy động và tạo điều kiện tham gia vào việc cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản - kế hoạch hóa gia đình Chính sách đài thọ của Đảng và Nhà nước đối với những người làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình đã thúc đẩy sự tham gia tích cực của nhân dân vào chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình Có thể nói, với những thành tựu như vậy, Việt Nam đã tạo dựng được những cơ sở mấu chốt cũng như môi trường xã hội thuận lợi cho việc triển khai các chương trình, chính sách dân số trong những năm tiếp theo
Hạn chế: Mặc dù chúng ta có những thành tựu cơ bản nêu trên, nhưng
công tác dân số cũng bộc lộ một số hạn chế:
Trang 28Một là: Chương trình dân số trong những năm qua còn có sự mất cân
đối Do quá bức xúc về sự gia tăng dân số quá nhanh ảnh hưởng đến sự phát
triển kinh tế - xã hội và cải thiện đời sống nhân dân, chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình trong thời gian qua mới chỉ tập trung vào giảm mức sinh thông qua kế hoạch hóa gia đình nhằm hạn chế tốc độ gia tăng về quy mô dân
số, và chưa chú trọng nhiều đến các khía cạnh khác của vấn đề dân số như chất lượng, cơ cấu dân số và phân bố dân cư
Hai là: Bộ máy làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình ra đời
muộn và chưa ổn định, chất lượng còn hạn chế Đội ngũ cán bộ xuất phát từ
nhiều ngành, chưa được đào tạo một cách có hệ thống về chuyên môn, nghiệp
vụ lại mới làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình nên chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc thực thi nhiệm vụ Số lượng cán bộ nói chung không
đủ so với yêu cầu công việc, đặc biệt là những tỉnh, thành phố có số dân quá lớn hoặc diện tích quá rộng và địa hình khó khăn cho việc đi lại Trong khi số lượng cán bộ chuyên trách ít, tỷ lệ nằm trong biên chế rất thấp, đặc biệt là ở cấp huyện Mức trợ cấp công tác hàng tháng cho cán bộ chuyên trách dân số
xã quá thấp, không có chế độ bảo hiểm y tế và bảo hiểm xã hội Tình trạng trên gây tâm lý thiếu an tâm công tác của nhiều cán bộ chuyên trách dân số
xã Trung bình mỗi năm có khoảng 25 - 30% cán bộ chuyên trách dân số xã
bỏ việc hoặc chuyển công tác Cho đến nay, Nhà nước cũng chưa có chính sách cụ thể đối với những cán bộ làm công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình
Ba là: Trong những năm qua, chương trình dân số - kế hoạch hóa gia
đình và chăm sóc sức khỏe sinh sản thực tế mới chỉ thành công ở vùng thành thị và vùng nông thôn phát triển Những vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa còn
gặp rất nhiều khó khăn trong việc triển khai chương trình
So với mức bình quân của cả nước, mức sinh ở các khu vực này cao hơn gấp 1,7 - 1,9 lần, trong khi tỷ lệ sử dụng các biện pháp
Trang 29tránh thai thấp chỉ bằng 60% Có tới 56,3% số phụ nữ có thai chưa được khám thai lần nào trong suốt thời kỳ mang thai và chỉ có 42% sản phụ được các nhân viên y tế chăm sóc khi sinh nở; tỷ lệ mắc bệnh viêm nhiễm qua đường sinh sản lên đến 70,6% [68, tr.5]
Ở những vùng này, công tác thông tin, giáo dục truyền thông chưa đáp ứng được yêu cầu cả về số lượng và chất lượng, hệ thống cung cấp dịch vụ sức khỏe sinh sản, kế hoạch hóa gia đình chưa bảo đảm về tính thuận tiện, an toàn, đa dạng và chất lượng cao
Bốn là: Việc lồng ghép các yếu tố dân số vào lập kế hoạch và xây
dựng chính sách kinh tế - xã hội chưa được chú trọng và thực hiện hiệu quả
Đầu tư cho chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình chưa đáp ứng nhu cầu kinh phí cho mở rộng nội dung hoạt động Mặc dù trong những năm 1993 -
1995, Nhà nước đã tăng ngân sách cho chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình, nhưng mức đầu tư này thực tế còn rất thấp so với yêu cầu thực tế
Một số kinh nghiệm:
Nhìn lại quá trình triển khai thực hiện và kết quả công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trước năm 2001, có thể rút ra một số kinh nghiệm sau:
Thứ nhất, cần nhận thức đúng vị trí của công tác dân số - kế hoạch hóa
gia đình trong chiến lược phát triển đất nước, giải quyết vấn đề dân số vừa là nhiệm vụ cấp bách, vừa là chiến lược lâu dài để phát triển kinh tế - xã hội và cải thiện đời sống nhân dân, chính sách đề ra phù hợp với nguyện vọng của nhân dân và thực sự đem lại lợi ích kinh tế, tinh thần và sức khỏe cho mỗi cá nhân, gia đình và xã hội nên đã được nhân dân đồng tình hưởng ứng và tích cực thực hiện
Thứ hai, sự cam kết của cấp ủy và chính quyền các cấp là điều kiện tiên
quyết bảo đảm sự thành công của công tác dân số
Thứ ba, có tổ chức bộ máy chuyên trách đủ mạnh và được bố trí đến
Trang 30tận thôn, ấp, bản, làng và tổ dân phố
Thứ tư, thực hiện tốt việc xã hội hóa và huy động được toàn xã hội
tham gia công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình
Thứ năm, các giải pháp được thực hiện một cách đồng bộ, trong đó đặc
biệt chú ý đến giải pháp cơ bản là vận động, tuyên truyền và giáo dục gắn liền với đưa dịch vụ kế hoạch hóa gia đình đến tận người dân để nâng cao nhận thức, sự hiểu biết và chuyển đổi hành vi thực hiện kế hoạch hóa gia đình
Thứ sáu, tăng mạnh đầu tư cho công tác dân số dân số - kế hoạch hóa
gia đình và có cơ chế quản lý, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư
Thứ bẩy, khi đề ra chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình, Đảng và Nhà
nước cần chú trọng hơn nữa tới chất lượng, cơ cấu dân số và phân bố dân cư
1.4 Kinh nghiệm thực hiện chính sách dân số của một số nước
1.4.1 Trung Quốc
Chính sách phát triển kinh tế - xã hội nâng cao đời sống nhân dân thì yếu tố dân số là mấu chốt, không thể tách rời Năm 1950 sau khi Tổng điều tra Dân số lần đầu tiên, Phó thủ tướng Đặng Tiểu Bình đã đề ra chính sách sinh đẻ có kế hoạch trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, nhưng do cách mạng văn hoá nên không thực hiện được
Từ năm 1978 đã đưa công tác sinh đẻ có kế hoạch vào chính sách và luật pháp Năm 1980 Trung ương Đảng kêu gọi mỗi cặp vợ chồng chỉ có 1 con (thư ngỏ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng) Nghị quyết Trung ương Đảng năm 1982 đề ra khẩu hiệu 8 chữ: “Đẻ ít, đẻ muộn và kết hôn muộn” là quốc sách cơ bản Đến năm 2000 đã tạo bước chuyển biến về dân số với phương châm mới “đẻ ít - chết ít - đạt mức sinh thay thế” (tức là sau 20 năm đạt kết quả giảm sinh, xấp xỉ với quá trình 100 năm của các nước Châu Âu phải trải qua trước đây) Năm 2000, tổng tỷ suất sinh là - 1,8 con, từ năm
2000 chuyển chính sách sang giai đoạn ổn định dân số và nâng cao chất lượng
Trang 31dân số Trung Quốc đã đạt được một số kết quả về công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình:
1 Giảm tỷ lệ sinh: 1950 tổng tỷ suất sinh là 5,8 con/phụ nữ; 1980 - 2,5con; 1990 - 2,0 con; 2001 - 1,8con
2 Tỷ lệ tăng tự nhiên giảm nhanh: 1990 - 13,8%; 2000 - 7,3% Ước tính giảm được 366 triệu dân
3 Giảm tỷ lệ phụ nữ kết hôn dưới 20 tuổi 1970 - 20%; 1992 - 12%; Năm 2001 tuổi kết hôn trung bình lần đầu là 23,8
4 Quy mô gia đình giảm: 1971 - 4,84 người/hộ; 1996 - 3,7 người/hộ
5 Tỷ lệ sử dụng biện pháp tránh thai: 2001 - 86%, trong đó 94% sử dụng biện pháp tránh thai lâu dài
6 Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh: 1970 - 200‰; 2002 - 32‰
7 Tuổi thọ: 1949 - 35 tuổi; 2001 - 74 tuổi; trong đó nữ 76,5 tuổi
8 Mức sống cải thiện: Tăng 9 lần, trong đó nông thôn tăng 8 lần Diện tích nhà ở bình quân từ 3,6m²/người lên 8m²/người (ở thành thị); nông thôn tăng lên 20m²/người Từ việc thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, Trung Quốc đã rút ra một số bài học kinh nghiệm:
1 Mối quan hệ đặc biệt quan trọng giữa phát triển dân số và kinh tế -
xã hội, giải quyết mối quan hệ này không chỉ là phấn đấu đạt mức sinh thay thế mà cần duy trì ở mức thấp để ổn định được qui mô dân số hợp lý, tạo cơ
sở thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội
2 Cần tiếp tục và tăng vốn đầu tư cho chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình, như Trung Quốc hiện nay đã ổn định mức sinh thay thế ở mức thấp nhưng vẫn chú trọng tăng đầu tư cho chương trình dân số - kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản
3 Cần chú trọng để các lĩnh vực triển khai về dân số theo xu thế hội nhập chung, chương trình của Trung Quốc hiện nay tập trung vào dân số - kế
Trang 32hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản và trong những năm tới sẽ chuyển mạnh sang dân số và phát triển bền vững, đây cũng là định hướng chung đã được xác định từ Hội nghị dân số thế giới năm 1994 và sẽ tiếp tục trong chu kỳ tới từ 2004 Chú trọng các vấn đề thách thức như cơ cấu dân số; phân bổ dân số; vị thành niên và lực lượng lao động; già hoá dân số; chất lượng dân số
4 Về khuyến khích và quản lý các đơn vị sự nghiệp thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình, cần phân quyền tự chủ mạnh, nhưng vì là những đơn vị thuộc Uỷ ban nhà nước nên vẫn phải chịu trách nhiệm thực hiện những nhiệm vụ chính trị chung nên cần phải có phần kinh phí hỗ trợ cơ bản (số biên chế, chế độ lương)
5 Trung Quốc là nước láng giềng với Việt Nam, có nhiều phong tục tập quán, nếp sống giống như ở Việt Nam Cấp độ thành công của chương trình dân số cũng không quá cách biệt với chương trình ở Việt Nam Việc
tổ chức trao đổi, học tập kinh nghiệm, tham quan khảo sát rất dễ dàng; kinh phí không tốn kém do vậy cần đẩy mạnh quan hệ hợp tác, trao đổi kinh nghiệm hợp tác giữa hai bên, đặc biệt trong những lĩnh vực như trao đổi thông tin, đào tạo, nghiên cứu khoa học về chuyên ngành dân số - kế hoạch hóa gia đình
1.4.2 Hàn Quốc
Hàn Quốc đã thực hiện một số chính sách dân số:
- Chính sách giảm sinh
+ Giai đoạn đầu (1961 - 1970)
Thập niên 60 là giai đoạn tạo lập nền tảng cho chương trình, nét đặc trưng của chương trình kế hoạch hóa gia đình Hàn Quốc trong suốt thời kỳ sơ khai là: Mục tiêu cơ bản là thúc đấy tăng trưởng nền kinh tế; biện pháp thực hiện là tuyên truyền vận động và cung cấp dịch vụ
Tổng kết tình hình thực hiện giai đoạn 1 đã rút ra 4 nguyên nhân thành
Trang 33công sau: 1) Những người có trình độ văn hoá đã nhận biết được tầm quan trọng của kế hoạch hóa gia đình Nói chung họ thường giữ vị trí lãnh đạo.Vì vậy, sự hỗ trợ của tầng lớp trí thức đóng một vai trò quan trọng trong việc phá
bỏ những hàng rào tâm lý đối với công tác kế hoạch hóa gia đình; 2) Người dân không gặp bất cứ một khó khăn gì trong việc tiếp cận với hệ thống y tế công Khoảng cách từ nhà dân đến Trung tâm y tế cơ sở đủ gần để người dân địa phương có thể tiếp cận một cách dễ dàng với các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình; 3) Hàn Quốc chú trọng cách tiếp cận khoa học trong công tác kế hoạch
hóa gia đình Cuộc điều tra kết quả thực hiện kế hoạch hóa gia đình và các
chương trình đào tạo cán bộ làm công tác kế hoạch hóa gia đình là những ví
dụ điển hình; 4) Tranh thủ hợp tác quốc tế mà chủ yếu là tiếp nhận các loại
phương tiện tránh thai Một số lượng lớn viên thuốc uống tránh thai đã được cung cấp miễn phí Các tổ chức quốc tế đã hỗ trợ tài chính và kỹ thuật cho các biện pháp lâm sàng
+ Giai đoạn hai (1970 - 1980)
Trong những năm đầu của thập kỷ 70, mức giảm sinh của Hàn Quốc bắt đầu chậm lại Chính phủ đã đưa thêm một số nội dung mới vào chương trình kế hoạch hóa gia đình, các chiến lược và chương trình kế hoạch hóa gia đình ngày càng đa dạng nhằm mục tiêu ổn định tỷ lệ tăng dân số hàng năm ở mức 1,5% Các chiến lược kế hoạch hóa gia đình được xây dựng trên hai nguyên tắc cơ bản: 1) Sử dụng các cơ quan Chính phủ hiện có Chính quyền địa phương ban hành chính sách và chương trình kế hoạch hóa gia đình phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương; 2) Đánh giá hiệu quả chương trình
kế hoạch hóa gia đình bằng các phương pháp khoa học
+ Giai đoạn ba (1981 - 1990)
Trong kế hoạch 5 năm lần thứ V (1981 - 1986), Hàn Quốc đặc biệt quan tâm đến việc phát triển kinh tế xã hội, trong đó đề cập tới việc phối hợp
Trang 34các chính sách và các chương trình dân số và phát triển ở các bộ phận thích hợp Mục tiêu dân số đề ra là giảm tỷ lệ phát triển từ 1,58% năm 1982 xuống 1,49% năm 1986 và mục tiêu của chương trình kế hoạch hóa gia đình trong kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ VI (1987 - 1991) là giảm tỷ lệ phát triển dân số xuống 1% vào năm 1993
- Kết quả thực hiện chính sách giảm sinh
Do dân số tăng bù sau chiến tranh, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên của Hàn Quốc rất cao (bình quân 2,91%/năm trong giai đoạn 1950-1960) và tổng tỷ suất sinh ở mức sinh tiềm tàng là 6 con/ phụ nữ năm 1960), kể từ khi thực hiện chương trình kế hoạch hóa gia đình, mức sinh giảm rất nhanh, xuống 5,3 con năm 1966, xuống 4,4 con năm 1971, xuống 3,2 con năm 1976, xuống 2,1 con năm 1983, xuống 1,58 con năm 1989, lên 1,8 con năm 1993, xuống 1,54 con năm 1997 và chỉ còn 1,08 con năm 2005 (là mức sinh thấp nhất thế giới)
So sánh giữa Việt Nam và Hàn Quốc cho thấy: khi hai nước bắt đầu thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình thì tình trạng dân số và kinh
tế của hai nước là tương tự nhau, nhưng do Hàn Quốc đạt mức sinh thay thế sớm hơn là 22 năm (1961 - 1983) và Việt Nam chậm hơn là 44 năm (1961 - 2005), nên quy mô dân số Việt Nam tăng rất nhanh và ngày càng lớn hơn Hàn Quốc nhiều lần, từ 30 triệu người năm 1960, lên 83,1 triệu người năm 2005
và đạt tới 115 triệu người vào năm 2050 (năm 1960 dân số Việt Nam lớn hơn dân số Hàn Quốc 6 triệu người, đến năm 2005 thì lớn hơn 35 triệu người và đến năm 2050 thì lớn hơn 73 triệu người)
- Chính sách khuyến sinh
Sau khi đạt mức sinh thay thế (năm 1983), tổng tỷ suất sinh tiếp tục giảm rất nhanh, xuống 1,76 con năm 1984 và 1,58 con năm 1989 Sau 6 năm mức sinh tiếp tục ở dưới mức sinh thay thế, Hàn Quốc ban hành chính sách dừng cấp miễn phí phương tiện tránh thai cho các đối tượng sử dụng với
Trang 35mong muốn mức sinh tăng lên tới mức sinh thay thế
Năm 1996, tổng tỷ suất sinh vẫn ở mức 1,58 con tuy trước đó có tăng lên 1,8 con vào năm 1993 và sau đó lại tiếp tục giảm Chính phủ ban hành chính sách tăng cường chăm sóc trước sinh, sức khỏe trẻ em nhằm nâng cao chất lượng và giá trị của con trong các gia đình
1.4.3 Thái Lan
- Chính sách giảm sinh
Mục tiêu chính sách dân số trong kế hoạch 5 năm lần thứ 3 (1972 - 1976) là: 1) giảm tỷ lệ phát triển dân số từ 3% xuống 2,5% vào cuối kỳ kế hoạch thông qua sự tự nguyện thực hiện kế hoạch hóa gia đình; 2) đẩy mạnh
sử dụng các biện pháp tránh thai, đặc biệt chú trọng đến phụ nữ các vùng nông thôn hẻo lánh; 3) phải làm cho các dịch vụ kế hoạch hóa gia đình luôn
có sẵn trong cả nước; 4) phối hợp các hoạt động kế hoạch hóa gia đình với dịch vụ y tế về chăm sóc sức khỏe bà mẹ, trẻ em
Trong kế hoạch 5 năm lần thứ 4 (1977 - 1981) Chính phủ Thái Lan chủ trương mở rộng chính sách dân số bao gồm những cải cách có tính pháp lý như khuyến khích kết hôn muộn, tăng cường giáo dục dân số cho phụ nữ Mục tiêu đề ra trong kế hoạch 5 năm lần thứ 4 là giảm tỷ lệ phát triển dân số
từ 2,5 xuống 2,1% vào cuối kỳ kế hoạch
Mục tiêu chính sách dân số trong kế hoạch 5 năm lần thứ 5 (1982 - 1986) là giảm tỷ lệ phát triển dân số từ 2,1% năm 1981 xuống 1,5% vào năm
1986 Đồng thời, phấn đấu vận động được 4,6 triệu người thực hiện các biện pháp tránh thai Chương trình kế hoạch hóa gia đình đặc biệt nhằm vào các nhóm dân cư có mức sinh cao ở các vùng chậm phát triển, hẻo lánh vùng Đông Bắc, các bộ tộc miền núi, dân nghèo nông thôn, khu ổ chuột
Mục tiêu chính sách dân số trong kế hoạch 5 năm lần thứ 6 (1987 -
1991) là giảm tỷ lệ phát triển dân số từ 1,7% năm 1986 xuống còn 1,5% vào
Trang 36năm 1991 (1,3% vào năm 1992), phấn đấu có được 5,7 triệu người chấp nhận
sử dụng biện pháp tránh thai
- Kết quả thực hiện chính sách giảm sinh
Hiệu quả của chương trình kế hoạch hóa gia đình của Thái Lan đã làm cho ngân sách Chính phủ tiết kiệm được 840 triệu USD trong kế hoạch 5 năm
1982 - 1986 và tiết kiệm xấp xỉ 2 tỷ USD trong kế hoạch 5 năm 1987 - 1991 Như vậy, cứ mỗi bạt chi cho chương trình kế hoạch hóa gia đình thì tiết kiệm được 40 bạt chi cho y tế, giáo dục, an sinh xã hội nhờ số sinh tránh được bình quân hàng năm khoảng 400.000 trẻ
Nghiên cứu việc thực hiện chính sách dân số của Đảng trước năm 2001
và kinh nghiệm thực hiện chính sách dân số của một số nước láng giềng có hoàn cảnh tương tự nước ta, đã cho chúng ta thấy những kết quả đạt được cần phát huy, những hạn chế cần khắc phục, rút ra được một số kinh nghiệm quý giá Đây là cơ sở khoa học quan trọng để Đảng ta đề ra chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình cho thời kỳ tiếp theo từ năm 2001 đến năm 2010
Trang 37Chương 2 CHÍNH SÁCH DÂN SỐ CỦA ĐẢNG VÀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN
CHÍNH SÁCH DÂN SỐ TỪ NĂM 2001 ĐẾN NĂM 2010
2.1 Chính sách dân số của Đảng và quá trình thực hiện chính sách dân số từ năm 2001 đến năm 2006
2.1.1 Chính sách dân số của Đảng từ năm 2001 đến năm 2006
Bước vào thế kỷ 21, khi mức sinh đã tiến gần mức sinh thay thế, muốn duy trì vững chắc kết quả này thì không thể chỉ tập trung giải quyết vấn đề quy mô dân số mà phải giải quyết toàn diện vấn đề dân số
- Đại hội Đảng lần thứ IX (tháng 4/2001), trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001 - 2010, Đảng ta đã đề ra mục tiêu của công tác dân số là:
Tiếp tục giảm tốc độ tăng dân số, sớm ổn định quy mô dân số ở mức độ hợp lý, giải quyết đồng bộ và từng bước có trọng điểm chất lượng dân số, cơ cấu dân số và phân bố dân cư Chủ động kiểm soát quy mô và tăng chất lượng dân số phù hợp với những yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội Nâng cao chất lượng các dịch
vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản - kế hoạch hoá gia đình; giải quyết tốt mối quan hệ giữa phân bố dân cư hợp lý với quản lý dân số và phát triển nguồn nhân lực [35, tr.107]
Nghị quyết Đại hội chỉ rõ: “Giảm tỷ lệ sinh bình quân hàng năm 0,5‰, tốc độ tăng dân số vào năm 2005 khoảng 1,2‰” [35, tr.265] Đại hội IX xác định mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, giai đoạn 2001 - 2010 là: Đưa đất nước ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta
cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
Trang 38Phạm vi và đối tượng thực hiện công tác dân số dân số - kế hoạch hóa gia đình được mở rộng toàn diện đến mọi tầng lớp dân cư và đến mọi cơ quan, tổ chức, đơn vị, cộng đồng; chú trọng nhóm đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ, nhóm vị thành niên và nam giới; tập trung ở các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, vùng nghèo Một hệ thống giải pháp đồng bộ của chính sách, chiến lược bao gồm: lãnh đạo, tổ chức và quản lý; truyền thông - giáo dục thay đổi hành vi, chăm sóc sức khỏe sinh sản, dân số - kế hoạch hóa gia đình; nâng cao chất lượng thông tin dữ liệu dân cư; nâng cao dân trí, tăng cường vai trò gia đình và bình đẳng giới; xã hội hoá và cơ chế chính sách; tài chính và hậu cần; đào tạo và nghiên cứu
- Tiếp đó, ngày 21/02/2005 Ban Bí thư đã ra Chỉ thị số 49 - CT/TW về xây dựng gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Chỉ thị đã chỉ rõ: “Trong thời gian tới, nếu chúng ta không quan tâm củng cố, ổn định và xây dựng gia đình, những khó khăn và thách thức nêu trên sẽ tiếp tục làm suy yếu gia đình, suy yếu động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [3]
Chỉ thị đã đề ra mục tiêu chủ yếu của công tác gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá là ổn định, củng cố và xây dựng gia đình theo tiêu chí ít con (mỗi cặp vợ chồng chỉ một hoặc hai con), no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, để mỗi gia đình Việt Nam thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội
- Để định hướng công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình trong những năm tới, ngày 22/03/2005, Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
đã ban hành Nghị quyết số 47-NQ/TW về Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình Nghị quyết số 47-NQ/TW (2005) xác định quan điểm chỉ đạo là: 1) Tiếp tục quán triệt và kiên quyết thực hiện các quan
Trang 39điểm cơ bản của Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII về chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình; phấn đấu sớm đạt được mục tiêu ổn định quy mô dân số, đồng thời từng bước nâng cao chất lượng dân số Việt Nam; 2) Toàn Đảng, toàn dân kiên trì thực hiện chủ trương mỗi cặp vợ chồng chỉ có một đến hai con để có điều kiện nuôi dạy tốt; 3) Cán
bộ, đảng viên phải gương mẫu đi đầu thực hiện chính sách dân số và kế hoạch hoá gia đình
Nghị quyết cũng chỉ ra những mục tiêu: 1) Nhanh chóng đạt mức sinh thay thế (trung bình mỗi cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ có hai con), tiến tới ổn định quy mô dân số nước ta ở mức 115 - 120 triệu người vào giữa thế
kỷ XXI 2) Nâng cao chất lượng dân số Việt Nam về thể chất, trí tuệ, tinh thần, cơ cấu nhằm đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
2.1.2 Quá trình thực hiện chính sách dân số từ năm 2001 đến năm 2006
2.1.2.1 Một số văn bản của Nhà nước triển khai thực hiện chính sách dân số của Đảng từ năm 2001 đến năm 2006
Để thực hiện chính sách của Đảng, từ năm 2001 đến năm 2006 Chính phủ đã ban hành nhiều chỉ thị, quyết định, nghị định về chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình
- Quyết định số 147/2000/QĐ - TTg (2000) xác định năm quan điểm, trong đó có quan điểm mở rộng toàn diện mục tiêu của chính sách dân số, bao gồm quy mô, cơ cấu, chất lượng và phân bố dân số, nhưng phải chủ động kiểm soát quy mô dân số; quan điểm về các giải pháp và phương thức thực hiện các giải pháp cho phù hợp với việc giải quyết toàn diện các mục tiêu của chính sách dân số trong từng giai đoạn, cụ thể là:
Thực hiện đồng bộ, từng bước và có trọng điểm việc điều hoà quan hệ giữa số lượng với chất lượng dân số, giữa phát triển dân
Trang 40số với phát triển nguồn nhân lực, giữa phân bố và di chuyển dân
cư với phát triển kinh tế - xã hội là nhiệm vụ trọng tâm của công tác dân số; tập trung ưu tiên cho các vùng có mức sinh cao, vùng nghèo, vùng sâu, vùng xa để giải quyết các vấn đề dân số và nâng cao mức sống nhân dân [68, tr.12]
Đẩy mạnh công tác truyền thông - giáo dục về dân số và phát triển, kết hợp với việc thực hiện đầy đủ, có hiệu quả chương trình chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình, tăng cường vai trò gia đình và thực hiện bình đẳng giới trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ sinh sản, kế hoạch hoá gia đình là các giải pháp cơ bản để đảm bảo
tính bền vững của chương trình dân số và phát triển [68, tr.12]
Mục tiêu tổng quát của chính sách dân số là: “Thực hiện gia đình ít con, khỏe mạnh, tiến tới ổn định quy mô dân số, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần vào sự phát triển nhanh và bền vững đất nước” [68, tr.13]
Mục tiêu cụ thể là:
Duy trì xu thế giảm sinh một cách vững chắc để đạt mức sinh thay thế bình quân trong toàn quốc chậm nhất vào năm 2005, ở vùng sâu, vùng xa và vùng nghèo chậm nhất vào năm 2010 để quy mô dân số, cơ cấu dân số và phân bố dân cư phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội vào năm 2010, nâng cao chất lượng dân số về thể chất, trí tuệ và tinh thần, phấn đấu đạt chỉ số phát triển con người (HDI) ở mức trung bình tiên tiến thế giới vào năm 2010 [68, tr.13]
- Để thực hiện triển khai có hiệu quả Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 10/2001/CT-TTg, ngày 04 tháng 5 năm 2001 yêu cầu:
Một là, Uỷ ban Quốc gia Dân số và Kế hoạch hoá gia đình: