BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN ĐINH QUANG VEN HUYỆN ỦY CÁC HUYỆN MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NGÃI LÃNH ĐẠO CÔNG
Trang 1QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐINH QUANG VEN
HUYỆN ỦY CÁC HUYỆN MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NGÃI LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
HÀ NỘI - 2012
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
ĐINH QUANG VEN
HUYỆN ỦY CÁC HUYỆN MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NGÃI LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÓA ĐÓI, GIẢM NGHÈO
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Ngành: Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước
Mã số : 60310203
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS Trương Ngọc Nam
HÀ NỘI - 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
Chương 1: CÁC HUYỆN ỦY MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NGÃI LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11
1.1 Đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo 11
1.2 Đảng lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo - quan niệm, nội dung, phương thức và quy trình lãnh đạo 17
1.3 Sự cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xóa đói, giảm nghèo ở các Huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi 24
Chương 2: LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO CỦA CÁC HUYỆN ỦY MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NGÃI - THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM 29
2.1 Các huyện ủy miền núi tỉnh Quảng Ngãi 29
2.2 Thực trạng đói nghèo ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi 31
2.3 Thực trạng lãnh đạo của các huyện ủy miền núi đối với công tác xóa đói, giảm nghèo 43
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA CÁC HUYỆN ỦY MIỀN NÚI Ở TỈNH QUẢNG NGÃI ĐỐI VỚI CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO ĐẾN NĂM 2020 60
3.1 Dự báo thuận lợi, khó khăn, thách thức và phương hướng tăng cường sự lãnh đạo của các huyện ủy đối với công tác xóa đói giảm nghèo đến năm 2020 60
3.2 Những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các huyện ủy miền núi Quảng Ngãi đối với công tác xóa đói giảm nghèo 69
KẾT LUẬN 88
TÀI LIỆU THAM KHẢO 90
PHỤ LỤC 94
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phân hóa giàu nghèo và đói nghèo đã và đang diễn ra ngày càng phức tạp ở khắp các Châu lục của hành tinh chúng ta Xóa đói, giảm nghèo đã trở thành vấn đề có tính toàn cầu, là một thách thức lớn đối với sự phát triển mọi mặt của mỗi quốc gia, dân tộc Bởi vậy, xóa đói, giảm nghèo được coi là một nội dung quan trọng hàng đầu trong các mục tiêu phát triển của mỗi nước và cộng đồng quốc tế
Sau gần 25 năm đổi mới, kinh tế - xã hội nước ta phát triển mạnh mẽ,
đã đạt được những thành tựu to lớn, đời sống của nhân dân đã được cải thiện
và nâng cao một bước rõ rệt Tuy nhiên, cùng với xu thế phát triển đi lên của
xã hội, đã hình thành một bộ phận dân cư giàu lên nhanh chóng và một bộ phận không nhỏ rơi vào cảnh đói nghèo, khoảng cách về mức sống của hai bộ phận dân cư này có xu hướng ngày càng giãn ra Xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống cho nhân dân được xác định là một nhiệm vụ rất quan trọng, bức xúc của Đảng, Nhà nước ta
Từ mục đích và bản chất của chế độ, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm đến vấn đề xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, nhất là với nông dân Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Đảng đã đề ra chủ trương xóa đói, giảm nghèo Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X chủ trương “Tiếp tục đẩy mạnh xóa đói, giảm nghèo”, huy động cả hệ thống chính trị (HTCT) và toàn xã hội tham gia công cuộc xóa đói, giảm nghèo Lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo, khuyến khích làm giàu một cách chính đáng, nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống nhân dân được coi là một nội dung quan trọng trong chương trình công tác của cấp ủy Đảng các cấp
Trang 5Những năm qua, thực hiện chủ trương của Đảng về xóa đói, giảm nghèo, các huyện miền núi của tỉnh Quảng Ngãi đã xây dựng các đề án về công tác xóa đói, giảm nghèo và lãnh đạo chính quyền, các đoàn thể nhân dân trên địa bàn huyện thực hiện Đảng bộ và chính quyền các huyện đã phát huy tối đa nội lực, phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân, nên việc thực hiện xóa đói, giảm nghèo đã đạt được kết quả to lớn Đến nay, các huyện
đã xóa được đói, số hộ nghèo ngày càng giảm Tuy nhiên, hiện trên địa bàn các huyện, số hộ nghèo theo tiêu chí mới của tỉnh (60%) vẫn còn chiếm tỉ trọng khá lớn, chủ yếu là dân lao động phổ thông không có việc làm ổn định Đời sống vật chất, tinh thần của những hộ dân này còn nhiều khó khăn Trên địa bàn các huyện sự chênh lệch giàu, nghèo có xu hướng ngày càng tăng lên, phát sinh nhiều vấn đề bức xúc của xã hội
Những hạn chế yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ quan là chính: Nhận thức về sự lãnh đạo của các cấp ủy đối với công tác xóa đói, giảm nghèo còn hạn chế; các chủ trương, giải pháp, cơ chế, chính sách xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân còn chưa tạo được chuyển biến mạnh mẽ; việc lãnh đạo tổ chức thực hiện và công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, yếu kém; vai trò của chính quyền, mặt trận và các đoàn thể nhân dân trong việc triển khai các chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước về xóa đói, giảm nghèo còn hạn chế, chưa được phát huy mạnh mẽ, thường xuyên; chưa huy động một cách có hiệu quả cao các doanh nghiệp, đơn vị, cơ quan, tổ chức trên địa bàn huyện tham gia vào công tác xóa đói, giảm nghèo Cho đến nay chưa có công trình, đề tài khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này Vì vậy, việc nghiên cứu tìm giải pháp tăng cường sự lãnh đạo của các huyện ủy miền núi, tỉnh Quảng Ngãi đối với công tác xóa đói, giảm nghèo thực sự là vấn đề cần thiết và cấp bách hiện nay
Trang 6Là một cán bộ có nhiều năm công tác ở một số huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi, tôi luôn suy nghĩ về vấn đề này, lại được học tập một cách có hệ thống lý luận về Xây dựng Đảng tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền tôi
quyết định chọn vấn đề “Huyện ủy các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay” Để thực
hiện đề tài luận văn thạc sĩ khoa Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay trên thế giới vấn đề xóa đói, giảm nghèo là vấn đề có tính toàn cầu được nhiều quốc gia giành sự quan tâm đặc biệt, bởi vì nó không chỉ
là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị - xã hội, nhân đạo, nhân văn Bởi vậy vấn đề xóa đói, giảm nghèo đã thu hút nhiều tổ chức quốc tế, nhà khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu, đạt được kết quả quan trọng, góp phần không nhỏ vào việc xóa đói, giảm nghèo Cụ thể là:
*Trên thế giới:
- Hội nghị về chống đói nghèo khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, do
Ủy ban kinh tế - xã hội Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức ở Băng Cốc, Thái Lan, tháng 9 năm 1993 Hội nghị đã thảo luận và đưa ra khái niệm chung về đói nghèo; phân tích, đánh giá thực trạng đói, nghèo trong khu vực này, đề ra các giải pháp chủ yếu chống lại tình trạng đói, nghèo đang có xu hướng gia tăng tại khu vực Những kết luận và giải pháp đó có giá trị tham khảo tốt đối với luận văn
- Hội nghị về phát triển xã hội do Liên Hiệp quốc chủ trì, tổ chức tại
Côpenhagen, Đan Mạch, tháng 3 năm 1995, gồm các nguyên thủ quốc gia của nhiều nước trên thế giới; đã thảo luận sâu sắc về vấn đề đói nghèo và xóa đói, giảm nghèo, hòa hợp xã hội, xác định trách nhiệm của các tổ chức quốc tế và các nước phát triển trong việc hỗ trợ,giúp đỡ các nước đang phát triển xóa đói, giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách giữa nước giàu với nước nghèo
Trang 7*Ở trong nước:
Các hội nghị:
- Hội nghị triển khai chương trình, mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo
và chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã đặc biệt khó khăn ở miền núi
và vùng sâu, vùng xa được tổ chức tại Hà Nội vào tháng 1 năm 1999
- Tháng 4 năm 2010 đã tổ chức hội nghị sơ kết 1 năm các chủ trương, kết luận của Hội nghị nêu trên Hội nghị đã chỉ ra những ưu điểm, kết quả bước đầu thực hiện chương trình quốc gia nêu trên và các giải pháp chủ yếu cho cả thời kỳ dài nhằm thực hiện thắng lợi chương trình, mục tiêu quốc gia xóa đói, giảm nghèo và kinh tế - xã hội và các xã vùng sâu, vùng xa
Sách:
- Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Chủ biên), (1993), đói nghèo
ở Việt Nam, Hà Nội
- Công ty Aduki, Vấn đề đói nghèo ở Việt Nam (1996), Nxb CTQG, Hà Nội
- Xóa đói, giảm nghèo với tăng trưởng kinh tế, (1997), Nxb Lao Động,
Quản lý kinh tế của Nguyễn Thị Hằng
- Đảng bộ Bến Tre lãnh đạo cuộc vận động xóa đói, giảm nghèo (1994 - 1997), (1999), luận văn thạc sĩ chuyện ngành Lịch sứ Đảng của Đặng Văn Thạn
Trang 8- Thực trạng và giải pháp xóa đói, giảm nghèo ở Tây Ninh hiện nay,
(2000), luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của Trương Văn Thành
- Đảng bộ tỉnh Ninh Bình lãnh đạo thực hiện chính sách xóa đói, giảm nghèo (1992 - 2000), (2001), luận văn thạc sĩ chuyên ngành lịch sử Đảng của
Giang Thị Thoa
- Đảng bộ tỉnh Kon Tum lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay, (2007), luận văn thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng Cộng Sản
Việt Nam của Lê Như Nhất, năm 2007
- Các Đảng bộ xã ở tỉnh Bắc Kạn lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay, (2008), luận văn thạc sĩ chuyên ngành xây dựng Đảng
Cộng Sản Việt Nam của Hoàng Công Tuấn
- Tỉnh Ủy Vĩnh Phúc lãnh đạo Công tác xóa đói, giảm nghèo cho nông dân giai đoạn hiện nay, (2009), luận văn thạc sĩ khoa học chính trị của
Nguyễn Văn Mao
- Các huyện ủy ở tỉnh Hà Giang lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay, (2010), luận văn của thạc sĩ chuyên nghành xây
dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam của Trịnh Sơn
Các hội nghị và các công trình khoa học nêu trên đã cung cấp cho luận văn những cơ sở lý luận và thực tiễn có giá trị về đói nghèo, xóa đói, giảm nghèo Đây là những công trình khoa học có giá trị tham khảo tốt để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của luận văn Đặc biệt là một số luận văn thạc sỹ khoa học chính trị, chuyên nghành xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam về cấp ủy tỉnh, huyện, Đảng bộ tỉnh lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo ở các địa phương có giá trị tham khảo rất tốt đối với luận văn, nhất là về những vấn đề
lý luận về cấp ủy tỉnh, huyện lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo và những giải pháp được các luận văn đó đưa ra nhằm tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đối với công tác xóa đói, giảm nghèo ở địa phương
Trang 9Tuy nhiên, nhiều công trình khoa học đề cập vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở tầm vĩ mô; những luận văn thuộc chuyên ngành xây dựng Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nêu ở trên đã đề cập đến sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng đối với công tác xóa đói, giảm nghèo ở các tỉnh và chủ yếu ở khu vực nông thôn, và đề cập cả vấn đề xóa đói và giảm nghèo, chưa đề cập đến vấn đề này
ở khu vực thành thị và cũng chưa đề cập riêng vấn đề giảm nghèo
3 Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích của luận văn
Trên cơ sở làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về sự lãnh đạo của các huyện ủy miền núi, tỉnh Quảng Ngãi đối với công tác xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay, luận văn đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu tăng cường sự lãnh đạo của các huyện ủy miền núi tỉnh Quảng Ngãi đối với công tác xóa đói, giảm nghèo đến năm 2020
3.2 Nhiệm vụ của luận văn
- Làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự lãnh đạo của các huyện ủy miền núi, tỉnh Quảng Ngãi đối với công tác xóa đói, giảm nghèo trong giai đoạn hiện nay
- Khảo sát, đánh giá thực trạng đói, nghèo và thực trạng lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo ở các huyện ủy miền núi của tỉnh Quảng Ngãi, chỉ ra ưu , khuyết điểm, nguyên nhân và những kinh nghiệm
- Đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm tăng cường
sự lãnh đạo của các huyện ủy miền núi, tỉnh Quảng Ngãi đối với công tác xói đói, giảm nghèo đến năm 2020
4 Đối tƣợng phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu sự lãnh đạo của các huyện ủy miền núi, tỉnh Quảng Ngãi đối với công tác xói đói giảm nghèo giai đoạn hiện nay
Trang 104.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu, khảo sát sự lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo của các huyện ủy miền núi, tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2006 đến năm 2011, tập trung nghiên cứu ở một số huyện có nhiều người đói, nghèo, hộ đói, nghèo như : huyện Sơn Tây, Tây Trà, Sơn Hà …phương hướng và giải pháp đề xuất trong luận văn có giá trị đến năm 2020
5 Cơ sở lý luận và phương hướng nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về xóa đói, giảm nghèo và hoạt động lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của các huyện ủy miền núi, tỉnh Quảng Ngãi
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử là phương pháp nghiên cứu cơ bản của luận văn Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp lịch sử, lôgic; điều tra xã hội học, phân tích - tổng hợp; khảo sát thực tiễn; phương pháp chuyên gia, hội thảo…
6 Đóng góp về mặt lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Phân tích, đánh giá đúng thực trạng đói nghèo và công tác xóa đói, giảm
nghèo ở các huyện ủy miền núi của tỉnh Quảng Ngãi trong giai đoạn hiện nay
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các huyện ủy của tỉnh Quảng Ngãi trong quá trình lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn những năm tới Đồng thời, có thể được dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu và giảng dạy, học tập ở Trường Chính trị tỉnh Quảng Ngãi và các Trung tâm giáo dục chính trị huyện, Thành phố thuộc tỉnh
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn gồm 3 chương, 6 tiết
Trang 11Chương 1 CÁC HUYỆN ỦY MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NGÃI LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO - NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN
1.1 Đói nghèo và công tác xóa đói giảm nghèo
1.1 1 Khái niệm đói nghèo và chuẩn nghèo
* Khái niệm đói nghèo
Những người có cuộc sống khó khăn, cực khổ, họ có mức thu nhập thấp bởi do công việc của họ mang lại, công việc của họ thường là lao động chân tay, lao động giản đơn nhưng cực nhọc mà mức thu nhập lại thấp, chẳng được là bao, những công việc này thường rất bấp bênh, thiếu ổn định, có những công việc phụ thuộc vào thời vụ, có tính rủi ro cao do chịu ảnh hưởng tác động rất lớn của yếu tố khách quan như mưa, bão, hạn hán… Nhất là những người làm nông nghiệp và đặc biệt là người dân tộc thiếu số họ phụ thuộc hoàn toàn vào tự nhiên Do thu nhập thấp nên chi tiêu cho cuộc sống của họ cũng rất hạn hẹp, cái ăn, mặc, ở của người nghèo chỉ được đáp ứng với mức độ thấp, thậm chí không đủ Nhiều người thiếu ăn triền miên nhất là thời điểm giáp hạt, việc đáp ứng được nhu cầu cần thiết, tối thiếu họ cũng không đáp ứng được dẫn đến giảm sức khỏe, giảm sức lao động, giảm thu nhập cứ như thế tạo thành một vùng lẩn quẩn khó thoát ra
Tuy nhiên trên thực tế đã chứng minh việc xác định đói nghèo theo thu nhập chỉ tạo được một phần của cuộc sống bởi thu nhập thấp chưa phản ảnh hết được các khía cạnh của đói nghèo, nó không cho chúng ta biết được mức khổn khổ và cơ cực của những người nghèo, do vậy quan niệm này chưa chuẩn xác
Trang 12Tại hội nghị bàn về chống đói nghèo khu vực Châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức ngày 9/1993 tại Băng Cốc - Thái Lan đã đưa ra khái niệm đói nghèo: đói nghèo gần nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối
- Nghèo tuyệt đối: Là một bộ phận dân cư không được hướng và thỏa mãn nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo mức độ phát triển của kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương
- Nghèo tương đối: Là tình trạng một phần dân cư sống dưới mức trung bình của công đồng
Từ khái niệm trên chúng ta thấy rằng khái niệm nghèo đói có tính cộng đồng, nó sẽ thay đổi theo thời gian và không gian bởi nó phụ thuộc và tác động vào kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của mỗi quốc gia, dân tộc, địa phương Từ những trình bày ở trên các nhà khoa học và quản lý ở các bộ ngành đã thảo luận và nhất trí đưa ra khái niệm nghèo của Việt Nam:
- Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có điều kiện thỏa mãn một phần nhu cầu tối thiếu cơ bản của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng xét trên mọi phương diện
- Đói là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiếu và thu nhập không đủ đảm bảo cho nhu cầu vật chất để duy trì cuộc sống
+ Khái niệm xóa đói: Xóa đói là làm cho bộ phận dân cư nghèo sống dưới mức tối thiếu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì mức sống từng bước nâng cao mức sống đến mức tối thiếu và có thu nhập
đủ để đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống
Trên cơ sở những phân tích, khái niệm trên có thể định nghĩa nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có khả năng thỏa mãn một phần nhu cầu cơ bản của con người và mức sống ngang bằng mức sống tối thiếu của dân cư sống trên địa bàn xét trên mọi phương diện vật chất, tinh thần…
Trang 13+ Khái niệm giảm nghèo: Là làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo, được thể hiện qua tỷ lệ % và
số lượng người nghèo giảm xuống hay giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn
-Khái niệm xóa đói, giảm nghèo, công tác xóa đói giảm nghèo:
Xóa đói, giảm nghèo là toàn bộ hoạt động làm cho số lượng hộ đói, hộ nghèo ở địa bàn dân cư ngày càng giảm trong sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung So với lượng hộ đói, hộ nghèo ở thời điểm hiện tại trên cơ sở chuẩn nghèo đã được xác định
“Công tác” là công việc của nhà nước, của đoàn thể
Do vậy, công tác xóa đói giảm nghèo là toàn bộ hoạt động của các cấp
ủy Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và các tổ chức, cá nhân có liên quan trên địa bàn làm cho số lượng hộ đói, nghèo ở địa bàn ngày càng giảm so với số lượng hộ đói nghèo trong thời điểm hiện tại trên cơ sở chuẩn nghèo đã được xác định
* Chuẩn nghèo của các nước trên thế giới và Việt Nam
Như đã trình bày khái niệm nghèo còn nặng về định tính, chưa nhấn mạnh về định lượng Do sự phụ thuộc của vấn đề nghèo và trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục, tập quán của các quốc gia, dân tộc và phụ thuộc vào thời gian, không gian Bởi vậy, mỗi quốc, dân tộc đều xác định tiêu chí (định lượng) để xem xét, đánh giá vấn đề nghèo ở nước mình Các tiêu chí đó được gọi là chuẩn nghèo
Có thể hiểu “chuẩn nghèo” (một số nước còn gọi là đường nghèo, ngưỡng nghèo) là công cụ để phân biệt người nghèo và người không nghèo
Ở phần lớn các nước, chuẩn nghèo dựa chủ yếu vào thu nhập hoặc chi tiêu Những người được gọi là nghèo khi thu nhập, hoặc chi tiêu của họ thấp hơn mức thu nhập, hoặc chi tiêu tối thiểu chấp nhận được, tức là thấp hơn
Trang 14chuẩn nghèo Còn những người mà mức thu nhập, hoặc chi tiêu của họ ở trên chuẩn nghèo, đó là người không nghèo, hoặc vượt nghèo, thoát nghèo
Chuẩn nghèo còn là thước đo để đo lường và giám sát nghèo Thước đo
đó, được xác định đúng đắn, chính xác sẽ đánh giá đúng tác động của chủ trương, chính sách của Chính phủ đến đói nghèo ở nước đó Đồng thời, tạo thuận lợi cho việc so sánh nghèo theo thời gian trong một nước và với nước khác và giám sát chi tiêu ngân sách xã hội theo hướng có lợi cho người nghèo Như vậy, chuẩn nghèo của từng nước có khác nhau và nhìn chung là
ổn định trong khoảng thời gian nhất định, song nó cũng có sự biến đổi theo hướng phát triển kinh tế - xã hội của từng nước
* Xác định chuẩn nghèo
Hiện tại trên thế giới có bốn cách chủ yếu xác định chuẩn nghèo:
Thứ nhất, dựa vào lượng Calo tối thiểu cần cho cơ thể đủ sống của
một người
Cách xác định này dựa trên lượng calo cần thiết cho cơ thể con người,
từ đó tính ra năng lượng trong khẩu phần lương thực, thực phẩm cần thiết, từ
đó xác định mức chi tiêu cho đời sống trên cơ sở mức thu nhập của một người Cách xác định này khá ưu việt, vì lượng calo có được từ các loại lương thực , thực phẩm đã được các nhà khoa học tính toán cẩn thận Tuy nhiên, cách xác định này cũng có những hạn chế nhất định Việc xác định lượng calo cần thiết cho một người giữa các quốc gia và ngay trong quốc gia có sự khác biệt về nhiều mặt: điều kiện tự nhiên, khí hậu, nhu cầu sinh học, giá cả nhu yếu phẩm… , và do đó, mức độ cung cấp calo và năng lượng cho con người cũng khác nhau Ví dụ: Một số nước ở Châu Á đã xác định lượng calo cần thiết hàng ngày cho một người để sử dụng xác định chuẩn nghèo như: Việt Nam: 2.100 Kcalo; Inđônêsia: 2100 Kcalo; Philippin: 2000 Kcalo; Thái Lan: 1.978 Kcalo; Trung Quốc: 2.150 Kcalo [4, tr.10]
Trang 15-Thứ hai, dựa vào chi phí cho các nhu cầu cơ bản của một người
Phương pháp này dựa vào việc xác định giá trị của việc chi tiêu cho tiêu dùng cần thiết của con người nhằm đáp ứng các nhu cầu cơ bản của cuộc sống Công thức xác định là: A = Af + An
Trong đó: A là chuẩn nghèo (đường nghèo); Af: chuẩn nghèo (đường nghèo) lương thực, thực phẩm; An: chuẩn nghèo (đường nghèo) phi lương thực, thực phẩm
Chi tiêu lương thực, thực phẩm gồm 7 nhu cầu cơ bản: ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại và giao tiếp xã hội
- Thứ ba, từ thu nhập cá nhân so với thu nhập trung bình trong xã hội
(chuẩn nghèo tương đối)
Theo cách này có nước xác định chuẩn nghèo là 1/2, có nước 1/3 thu nhập trung bình của một người trong xã hội, những người có thu nhập từ mức
đó trở xuống là thuộc nhóm người nghèo Hiện tại chỉ có ở Mỹ trong 4 thập
kỷ vừa qua chuẩn nghèo hầu như không thay đổi Đối với các nước khác chuẩn nghèo được điều chỉnh cùng với mức độ giàu lên của nước đó và của dân cư Cộng đồng Châu Âu xác định người nghèo là người có thu nhập bình quân đầu người hàng tháng dưới 50% so với thu nhập của người thuộc tầng lớp trung lưu Khi thu nhập của giới trung lưu tăng lên thì chuẩn nghèo của nước đó cũng được tăng lên Riêng Canada, sử dụng chuẩn nghèo tương đối
để theo dõi nghèo đói Cụ thể là năm 1993 ở nước này thu nhập bình quân của một gia đình gồm 4 người được xác định là 62.000 USD, và những gia đình
có người có thu nhập trung bình dưới 31.000 USD sẽ thuộc nhóm người nghèo Hiện nay con số này đã tăng lên đáng kể qua gần hai thập kỷ [4, tr.12]
- Thứ tư, từ thu nhập bình quân hàng ngày (Ngân hàng Thế giới xác
định chuẩn nghèo theo cách này)
Vào những năm cuối thế kỷ XX, Ngân hàng Thế giới đã tính toán và khuyến nghị các nước xác định chuẩn nghèo dựa vào thu nhập bình quân hàng ngày của một người theo giá USD Cụ thể là:
Trang 16Đối với các nước nghèo: những người được coi là nghèo khi có thu nhập dưới 0,5 USD/ngày/người
Đối với các nước đang phát triển: con số đó là 1 USD/ngày/người Đối với các nước Châu Mỹ La Tinh và Caribe: con số đó là 2 USD/ngày/người Đối với các nước Đông Âu : con số là 4 USD/ngày/người
Đối với các nước Công nghiệp phát triển: con số đó là 14,4USD/ngày/người Chuẩn nghèo xác định theo cách này là khá cao và thường được dùng
để so sánh tình trạng nghèo giữa các nước trên thế giới Trên thực tế các nước đều đưa ra chuẩn nghèo riêng của mình và thường thấp hơn chuẩn nghèo Ngân hàng Thế giới đưa ra
*Xác định chuẩn nghèo của Việt Nam
Ở nước ta, hiện nay có hai cách chủ yếu để xác định chuẩn nghèo, đó là cách xác định chuẩn nghèo của Tổng cục Thống kê và của Chính Phủ do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thực hiện
Tổng cục Thống kê xác định chuẩn nghèo từ mức thu nhập tính theo thời giá để mua một lượng lương thực, thực phẩm thiết yếu đảm bảo khẩu phần ăn đạt nhiệt lượng 2.100 Kcalo/ngày/người Theo chuẩn này, những hộ
có mức thu nhập bình quân đầu người dưới 2.100 Kcalo là hộ nghèo Chuẩn nghèo chung được xác định bằng tổng giữa chuẩn nghèo về lương thực, thực phẩm và các chi phí phi lương thực, thực phẩm của nhóm dân cư có thu nhập trung bình trong xã hội Tuy nhiên, phương pháp này chưa phản ánh đúng thực tế tiêu dùng của đa số dân nước ta Việc sử dụng một chuẩn nghèo duy nhất cho các vùng trong cả nước chỉ nói lên thực trạng nghèo của nước ta, hạn chế việc xác định và lập danh sách hộ nghèo ở từng địa phương để có chính sách cụ thể, kịp thời giải quyết
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội lại xác định chuẩn nghèo từ nhu cầu chi tiêu, sau đó chuyển sang sử dụng chỉ tiêu thu nhập, để xác định rõ, cụ
Trang 17thể ai là người nghèo, hộ nghèo, thôn, xã, huyện…nghèo, chỉ ra các nguyên nhân, làm cơ sở để xây dựng chính sách, giải pháp giảm nghèo Phương pháp này có nhiều ưu việt, đến nay đã qua 5 lần điều chỉnh; trong đó đối với khu vực thành thị; gồm:
- Thời kỳ 1993 - 1995: chuẩn nghèo được quy ra gạo, cụ thể là, đối với khu vực thành thị nếu thu nhập bình quân đầu người trong 1 hộ dưới 20 Kg gạo/người/tháng thì hộ đó là hộ nghèo
- Thời kỳ 1995 - 1997: số liệu tương ứng đối với khu vực đô thị dưới
- Hiện nay theo Quyết định 09/2011/QĐ-TTg ngày 30 tháng 01 năm
2011 của Thủ Tướng Chính phủ về chuẩn nghèo đối với vùng nông thôn, miền núi là 400.000 đồng/người/tháng tương đương 4.800.000 đồng/người/năm, quyết định không có chuẩn nghèo riêng
1.2 Đảng lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo - quan niệm, nội dung, phương thức và quy trình lãnh đạo
1.2.1 Quan niệm về Đảng lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo
“Lãnh đạo” là khái niệm được sử dụng rất rộng rãi ở các nước XHCN trước đây và ở nước ta, nhất là khi Đảng Công Sản Việt Nam ra đời lãnh đạo cách mạng nước ta Nó đã trở thành thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong
Trang 18các văn kiện Đảng, hoạt động của Đảng, các cấp ủy, các tổ chức trong HTCT, cán bộ, đảng viên Song, như thế không có nghĩa là khái niệm “lãnh đạo” đã được mọi người hiểu sâu sắc và thống nhất
Theo Đại từ điển tiếng Việt “lãnh đạo” là “dẫn dắt, tổ chức phong trào theo đường lối cụ thể” [59, tr 458]
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng là người lãnh đạo tức là Đảng phải
tổ chức, tập hợp, giáo dục nhân dân, đưa nhân dân vào các phong trào hành động cách mạng thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng; quy tụ sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế, vì thắng lợi của cách mạng Người quan niệm: người lãnh đạo cách mạng, như người cầm lái đưa con thuyền cách mạng vượt qua phong ba, bão tố, thác ghềnh đi theo con đường xác định (con đường cách mạng) đến thắng lợi Để làm tròn nhiệm vụ
đó, Đảng phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tri thức mọi mặt cao, bình tĩnh sáng suốt, làm chủ trong mọi tình huống, đưa con thuyền cách mạng đi theo đúng đường hướng đã được xác định đến mục tiêu cuối cùng
Chủ tịch Hồ Chí Minh còn luận bàn về khái niệm “lãnh đạo đúng” của Đảng Người viết: “Lãnh đạo đúng nghĩa là phải quyết định mọi vấn đề một cách đúng đắn, phải tổ chức sự thi hành cho đúng; phải tổ chức kiểm soát” [32, tr.285] Đây là ba yếu tố cơ bản tạo nên sự lãnh đạo đúng của Đảng; thứ
tự đề cập các yếu tố trong ý kiến nêu trên của Người chính là quy trình lãnh đạo đúng của Đảng Với tư cách là khâu thứ ba trong quy trình lãnh đạo đúng của Đảng, việc kiểm soát, bao gồm cả kiểm tra và giám sát, được tiến hành ngay từ khâu đầu tiên của quy trình lãnh đạo (ra quyết định), thậm chí cả trong quá trình chuẩn bị ra quyết định
Từ khái niệm “lãnh đạo”, “xóa đói, giảm nghèo” và “ công tác xóa đói,
giảm nghèo” nêu trên, có thể quan niệm: Đảng lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo là toàn bộ hoạt động của các cấp ủy đảng nhằm đề ra những
Trang 19quyết định đúng đắn về xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn, tổ chức thực hiện các quyết định đồng thời kiểm tra, giám sát toàn bộ hoạt động đó, nhằm đảm bảo làm cho số người nghèo, hộ nghèo hiện tại, theo chuẩn nghèo đã được xác định, góp phần vào thành tựu công tác xóa đói, giảm nghèo của cả nước
Các yếu tố tạo nên sự lãnh đạo đúng của Đảng đối với công tác xóa đói, giảm nghèo quan hệ mật thiết với nhau Quyết định đúng là tiền đề, là cơ sở
để tổ chức thực hiện đúng và đạt kết quả Việc tổ chức thực hiện cũng có vai trò rất to lớn, đảm bảo cho các quyết định đúng về giảm nghèo của cấp ủy được thực hiện Nếu tổ chức thực hiện các quyết định đó không tốt thì các quyết định đúng không thành hiện thực, gây hậu quả nhiều mặt Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Nếu không tổ chức thực hiện tốt quyết định của Đảng thì hóa ra lời nói suông mà còn ảnh hưởng đến lòng tin cậy của nhân dân đối với Đảng” [32, tr 249-250]
Kiểm tra, giám sát là công việc không kém phần quan trọng trong hoạt động lãnh đạo của Đảng đối với công tác xóa đói giảm nghèo Qua kiểm tra, giám sát sẽ phát hiện và khẳng định nhân tố mới, điển hình tiên tiến về giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng của nhân dân trên địa bàn, tạo điều kiện cho nó phát triển, hoàn chỉnh, nhân ra diện rộng; phát hiện những lệch lạc để uốn nắn kịp thời và hoàn chỉnh quy trình lãnh đạo, bổ sung, sửa đổi để quyết định về xóa đói giảm nghèo của Đảng được đúng đắn, hoàn thiện hơn
Chủ thể lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo ở là các cấp ủy, với sự giúp đỡ của các ban, ngành, chính quyền, đoàn thể cấp tỉnh và các cơ quan đơn vị các cấp
Cấp ủy lãnh đạo chính quyền huyện xây dựng chương trình, kế hoạch
và tổ chức thực hiện quyết định về xóa đói, giảm nghèo; lãnh đạo của các cấp
ủy Đảng là tổ chức thực hiện các quyết định của Đảng; lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, các tổ chức kinh tế, xã hội và các tổ chức khác
Trang 20trên địa bàn tham gia xây dựng và thực hiện các quyết định của cấp ủy về xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn
1.2.2 Nội dung và phương thức lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng
1.2.2.1 Nội dung lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng
Nội dung lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng gồm những điểm chủ yếu sau:
Trên cơ sở chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, của các cấp ủy cụ thể hóa thành các chủ trương, xác định mục tiêu, giải pháp, chương trình, kế hoạch thực hiện xóa đói giảm nghèo cho từng thời kỳ, lãnh đạo việc tổ chức thực hiện các quyết định, nghị quyết đó trong các tổ chức Đảng và các tổ chức của HTCT và nhân dân
Đảng lãnh đạo Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân xây dựng chương trình, kế hoạch, các dự án, đề án cụ thể để thực hiện xóa đói, giảm nghèo một cách cụ thể trong từng khoảng thời gian nhất định và tổ chức kiểm tra, giám sát Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân huyện thực hiện nghị quyết của Đảng về xóa đói, giảm nghèo
Đảng lãnh đạo Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội huyện xây dựng chương trình kế hoạch thực hiện các nghị quyết của Đảng về xóa đói, giảm nghèo theo chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức Lãnh đạo các tổ chức đó về tuyên truyền, giáo dục, động viên đoàn viên, hội viên tích cực tham gia thực hiện nghị quyết của Đảng về xóa đói, giảm nghèo và thực hiện xóa đói, giảm nghèo ngay trong đoàn viên, hội viên của từng tổ chức, đoàn thể
Cấp ủy cấp trên lãnh đạo cấp ủy cấp dưới xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện các quyết định, nghị quyết của Đảng về xóa đói, giảm nghèo ngay trên địa bàn tổ chức Đảng phụ trách Chỉ đạo, giúp đỡ các cấp ủy cấp
Trang 21dưới lãnh đạo chính quyền và các tổ chức trong HTCT thực hiện nghị quyết của Đảng, chương trình, kế hoạch xóa đói, giảm nghèo của cấp ủy cấp trên
Đảng lãnh đạo khai thác nguồn lực địa phương, phát huy nội lực, tranh thủ các nguồn hỗ trợ từ tỉnh và bên ngoài, sử dụng theo kế hoạch và có hiệu quả các nguồn đó trong quá trình thực hiện nhiệm vụ công tác xóa đói, giảm nghèo
Đảng lãnh đạo đổi mới các hình thức, phương pháp công tác xóa đói, giảm nghèo, lựa chọn điểm, tập trung chỉ đạo; lãnh đạo xây dựng các điển hình tiên tiến về xóa đói, giảm nghèo, chỉ đạo sơ kết, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm và nhân ra diện rộng trên địa bàn
Đảng lãnh đạo kiện toàn tổ chức bộ máy, cán bộ và nâng cao chất lượng hoạt động của chính quyền, Mặt trận và các đoàn thể chính trị - xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ công tác xóa đói giảm nghèo của địa phương
Đảng lãnh đạo sự phối hợp các tổ chức trong HTCT tạo thành sức mạnh tổng hợp thực hiện quyết định, nghị quyết của Đảng về xóa đói, giảm nghèo
Đảng lãnh đạo, chỉ đạo sơ kết, tổng kết đúc rút kinh nghiệm công tác xóa đói, giảm nghèo, khen thưởng kịp thời đơn vị, cá nhân thực hiện tốt công tác xóa đói, giảm nghèo, động viên kịp thời những người, gia đình vượt nghèo
có hiệu quả; đồng thời phê bình nghiêm khắc những tổ chức và cán bộ, đảng viên lơ là, xem nhẹ, không quan tâm đến công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng; xử lý kịp thời và nghiêm minh những tổ chức, cán bộ, đảng viên có tiêu cực trong thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ xóa đói, giảm nghèo, thậm chí đề nghị
cơ quan chức năng truy tố những cán bộ vi phạm pháp luật trong thực thi nhiệm vụ liên quan đến việc xóa đói, giảm nghèo của địa phương
1.2.2.2 Phương thức lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng
Phương thức lãnh đạo xóa đói, giảm nghèo của Đảng là hệ thống các hình thức, phương pháp, biện pháp, quy trình … mà Đảng sử dụng để tác
Trang 22động vào công tác xóa đói, giảm nghèo, thông qua các tổ chức, các lực lượng
có liên quan nhằm làm cho số người nghèo, hộ nghèo của huyện theo chuẩn nghèo của địa phương ngày càng giảm
Phương thức lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo có quan hệ mật thiết với nội dung lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng và chịu sự quy định, chi phối, ràng buộc bởi nội dung lãnh đạo, là một yếu tố đặc biệt quan trọng để nội dung lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của các cấp ủy được thực hiện
Phương thức lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của Đảng còn phụ thuộc vào trình độ, năng lực lãnh đạo công tác này của các cấp, các ngành, trong đó quan trọng hơn là năng lực, trình độ lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp; phụ thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh hoạt động của các cấp ủy và tình hình mọi mặt của địa phương; phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức bộ máy của các đơn vị trực tiếp hoạt động liên quan đến công tác xóa đói, giảm nghèovà trình độ năng lực của nguồn nhân lực hoạt động liên quan đến công tác xóa đói, giảm nghèo Bởi vậy, chọn lựa phương thức lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo của địa phương không thể tùy tiện mà phải xuất phát từ những điều đã nêu trên
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước
ta (sửa đổi, bổ sung năm 2011) được thông qua tại Đại hội XI của Đảng đã chỉ
rõ phương thức lãnh đạo của Đảng:
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước
và xã hội Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng
về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của Đảng viên Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ
Trang 23quan lãnh đạo của hệ thống chính trị Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị [16, tr.88-89]
Đảng lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo bằng phương thức:
- Đề ra chủ trương, quyết định, nghị quyết, chính sách, chương trình, kế hoạch giảm nghèo Quyết định các nhiệm vụ trọng tâm và những vấn đề lớn
về công tác xóa đói, giảm nghèo, về xử lý những vấn đề phức tạp nảy sinh trong quá trình lãnh đạo công tác xóa đói giảm nghèo
- Tiến hành công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra mọi hoạt động diễn ra trong quá trình tiến hành công tác xóa đói giảm nghèo; thông qua hành động gương mẫu của đảng viên trong việc thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo
- Lãnh đạo chính quyền cụ thể hóa quyết định, nghị quyết của cấp ủy, xây dựng và thông qua nghị quyết, chương trình, kế hoạch của chính quyền để thực hiện các đề án xóa đói giảm nghèo
- Phát huy vai trò của các tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội liên quan đến vấn đề xóa đói giảm nghèo, nhất là những
tổ chức đảng và đảng viên có nhiệm vụ trực tiếp tiến hành công tác xóa đói, giảm nghèo, tăng cường trách nhiệm của người đứng đầu các tổ chức này
- Lãnh đạo phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tham gia công tác xóa đói giảm nghèo
- Tiến hành kiểm tra hoạt động của chính quyền, các đoàn thể nhân dân, của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên trong công tác xóa đói giảm nghèo;
sơ kết, tổng kết, đúc rút kinh nghiệm, xây dựng các điển hình tiên tiến, lựa chọn và chỉ đạo điểm về xóa đói giảm nghèo
Trang 241.3 Sự cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác xóa đói, giảm nghèo ở các Huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi
1.3.1 Sự cần thiết phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và Tỉnh ủy Quảng Ngãi với công tác xóa đói giảm nghèo
* Đảng với công tác xóa đói giảm nghèo
Trong những năm qua, được sự chỉ đạo của các cấp uỷ, chính quyền và
sự hỗ trợ của các đoàn thể, phong trào xoá đói, giảm nghèo phát triển sâu rộng, động viên được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân, đã giúp cho nhiều hộ vượt qua đói nghèo, một số vươn lên khá giả Từ thực tiễn phong trào xoá đói, giảm nghèo, Nghị quyết Trung ương 5 (khoá VII) đã nêu lên một nhiệm vụ có
ý nghĩa kinh tế - chính trị, xã hội to lớn: "Tăng thêm diện giàu và đủ ăn, xoá đói, giảm nghèo, nhất là ở các vùng cao, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng trước đây là căn cứ cách mạng" Thực hiện các chủ trương của Đảng và Chính phủ, phong trào xoá đói, giảm nghèo đang trở thành cuộc vận động lớn, có tác dụng thiết thực làm giảm đáng kể số hộ nghèo đói, giúp cho các hộ còn nghèo, đói giảm bớt được khó khăn
Tuy nhiên, đến nay cả nước vẫn còn trên 20% số hộ nghèo đói, nhiều vùng còn nghèo, 90% hộ nghèo tập trung chủ yếu ở nông thôn Sự phân hoá giàu nghèo vẫn đang có xu hướng tăng lên giữa các tầng lớp dân cư và các vùng của đất nước Ngoài nguyên nhân khách quan do điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, hậu quả nặng nề của chiến tranh, thiếu đất canh tác, thiếu vốn, thiếu việc làm, v.v còn có các nguyên nhân chủ quan như năng lực sản xuất kinh doanh thấp, đông con; có nơi, có lúc các ngành, các cấp chưa quan tâm đúng mức đến việc chỉ đạo thực hiện công tác xoá đói, giảm nghèo, tổ chức khám chữa bệnh, tạo điều kiện học hành cho người nghèo, xây dựng cơ sở hạ tầng cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc ít người
Trang 25Để xây dựng một đất nước giàu mạnh, Đại hội X của Đảng đã xác định nền kinh tế nước ta là nền kinh tế nhiều thành phần: “kinh tế nhà nước, kinh
tế tập thể, kinh tế tư nhân (cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân), kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài” và trong Nghị quyết số 21-NQ/TW
- Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban chấp hành Trung ương khóa X về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (ngày 30-1-2008) đã ghi:
“Phát triển kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước đóng vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo; từng bước làm cho mọi thành viên trong xã hội đều có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thực hiện tiến
bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển; tăng trưởng kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, y tế, giáo dục, bảo vệ môi trường , giải quyết tốt các vấn đề xã hội vì mục tiêu phát triển con người”
* Tỉnh ủy Quảng Ngãi với công tác xóa đói giảm nghèo
Bên cạnh những thành công đạt được trong công tác xóa đói giảm nghèo trên địa bàn toàn Tỉnh Quảng Ngãi, vẫn tồn tại những hạn chế nhất định, đặc biệt là tại các Huyện miền núi Những hạn chế chính là do tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở vùng miền núi còn chậm, chưa hình thành rõ nét các mô hình sản xuất: trồng trọt, chăn nuôi, nghề rừng Khả năng tái nghèo là rất lớn đối với vùng dân tộc thiểu số của tỉnh Một số công trình đầu tư ở các Huyện miền núi hiệu quả thấp sau khi đưa vào khai thác sử dụng; cơ cấu đầu tư thiếu đồng bộ Giáo dục và y tế miền núi chưa đáp ứng yêu cầu nhất là xây dựng, nâng cao năng lực cho con người tại chỗ Đến nay, địa bàn các Huyện miền núi tỷ lệ đói nghèo vẫn còn quá cao, chênh lệch lớn
so với vùng đồng bằng Diện hộ dân tộc thiểu số còn nhà tạm bợ còn lớn, trong vài năm nữa, số đã xóa nhà tạm có thể rơi vào diện nhà tạm vì nhà
Trang 26xuống cấp do thời gian sử dụng và sự khắc nghiệt của điều kiện tự nhiên tác động Cơ sở hạ tầng tuyến cơ sở dù đã được quan tâm đầu tư nhưng chưa đồng bộ, còn yếu kém Vẫn còn một số xã chưa có đường ô tô đến trung tâm
xã hai mùa mưa, nắng Đội ngũ cán bộ ở xã, thôn phần lớn chưa đạt chuẩn, chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ Chất lượng học tập của con em đồng bào dân tộc thiểu số còn thấp so với mặt bằng tri thức chung Một số địa bàn xuất hiện tình hình phức tạp về an ninh chính trị - trật tự an toàn xã hội (khai thác vàng,
ma túy, mại dâm) và hoạt động truyền đạo trái phép Có những phức tạp trong thực hiện chính sách tái định cư ở một số công trình xây dựng
1.3.2 Tác động của đói, nghèo ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi và sự cần thiết phải xóa đói giảm nghèo
Nghèo ảnh hướng rất lớn đến đời sống chính trị, xã hội, quốc phòng, an ninh, môi trường sống… thể hiện sự tác động ở các mặt sau:
- Đối với sự ổn định an ninh, chính trị trật tự an toàn xã hội: Vấn đề nghèo đói được cả cộng đồng và xã hội quan tâm, nó ảnh hưởng, tác động tới mọi mặt của đời sống chính trị - xã hội của con người Đói nghèo vừa là vấn đề kinh tế đồng thời cũng là vấn đề chính trị, nó tác động đến tâm trạng niềm tin, các mối quan hệ trong cộng đồng một cách gián hoặc trực tiếp Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, mở rộng hợp tác, giao lưu quốc tế nếu không giải quyết tốt vấn đề đói nghèo nó có thể trở thành vấn đề chính trị xã hội phức tạp, nhất là trong điều kiện kinh tế - xã hội trong nước ngày càng phát triển, đời sống vật chất, tinh thần ngày càng được nâng cao Giải quyết tốt vấn đề đói nghèo là giải quyết tốt mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị Thực hiện có hiệu quả mục tiêu xóa đói, giảm nghèo là mục tiêu kinh tế, mục tiêu chính trị đối với các cấp ủy các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi Tạo nên niềm tin vào Đảng, chính quyền, uy tín vai trò lãnh đạo của Đảng ngày càng tăng, khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam đối với dân tộc Việt Nam
Trang 27Thực tiễn trong những năm qua cho ta thấy mối quan hệ giữa xóa đói, giảm nghèo với sự ổn định về chính trị - trật tự an toàn xã hội có mối quan hệ biện chứng Cuộc sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được đảm bảo trước tình hình an ninh - chính trị, TTATXH luôn được đảm bảo và quan
hệ qua lại Việc thực hiện xóa đói, giảm nghèo có ý nghĩa quyết định đến sự
ổn định về an ninh - chính trị, TTATXH Do vậy, xóa đói giảm nghèo là một vấn đề trọng tâm trong quá trình lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội của huyện
ủy các huyện miền núi Quảng Ngãi
- Đối với môi trường sống và sự phát triển nguồn nhân lực
Nghèo đói làm cho đồng bào các dân tộc, nhất là dân tộc thiếu số ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi thiếu thốn, không đảm bảo năng lượng duy trì sức khỏe tái sản xuất sức lao động thiếu ăn, sức khỏe yếu Cuộc sống vẫn mang nặng tính tự cung, tự cấp, phụ thuộc vào tự nhiên, cuộc sống không có nhiều lựa chọn Các nhu cầu y tế, giáo dục … thấp, không có sự cạnh tranh phát triển, đau ốm vẫn còn phụ thuộc vào trời, con cái không đi học hoặc bỏ học giữa chừng do phải theo bố mẹ lên rẫy, ra rừng kiếm sống Nhận thức rất hạn chế về cuộc sống, cuộc sống càng đói nghèo thì người dân càng phụ thuộc vào thiên nhiên sẽ dẫn đến tình trạng phá rừng làm rẫy, săn bắt thú rừng hủy hoại môi trường sống tự nhiên ngày càng tăng Tình trạng đó kéo dài thì công tác xóa đói giảm nghèo sẽ khó đạt được mục tiêu đề ra, y tế, giáo dục khó phát triển ảnh hưởng đến nguồn nhân lực cho tương lai ở các huyện miền núi, không có nguồn cán bộ phục vụ đáp ứng cho yêu cầu phát triển đi lên của các huyện miền núi Như vậy, muốn xóa đói giảm nghèo một cách bền vững thì phải đảm bảo phát triển không ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên, phát triển một cách đồng đều các ngành, như y tế, giáo dục… đảm bảo cho cuộc sống phát triển một cách toàn diện
- Đối với việc phát triển công bằng xã hội
Bất bình đẳng trong phân phối sản phẩm lao động là một trong những nguyên nhân đầu tiên gây bất bình đẳng xã hội Một xã hội có sự phân phối, sử
Trang 28dụng lao động một cách hợp lý theo kết quả lao động vào ra là một xã hội công bằng Mức sống giữa các tầng lớp dân cư không có sự chênh lệch quá lớn, đối với đồng bào các dân tộc thiếu số tỉnh Quảng Ngãi việc thực hiện công bằng xã hội trong xóa đói, giảm nghèo là chính sách xóa đói giảm nghèo tác động công bằng lên mọi người, mọi người đều có cơ hội như nhau để tiếp cận các công cụ, phương tiện xóa đói, giảm nghèo cũng như cơ hội xóa đói, giảm nghèo cho mọi người đều như nhau Công cuộc xóa đói giảm nghèo thực hiện thành công thì nhận thức của người dân ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi được nâng cao, khi đó sự công bằng xã hội được thực hiện một cách tốt hơn Họ sẽ tự giác
có ý thức vươn lên xóa đói, giảm nghèo, số lượng hộ đói, nghèo hàng năm đều giảm xuống thì sự công bằng xã hội ngày càng cao Mục tiêu xây dựng xã hội
của Đảng ta là: “Xã hội, xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”
- Đối với sự phát triển đất nước
Nền kinh tế vẫn còn tự cung, tự cấp ở các huyện miền núi là một nền kinh tế khép kín, ít có giao lưu, trao đổi Bởi chưa có động lực phát triển nhu cầu trong cuộc sống thường ngày, phát triển chưa cao Do vậy, nhu cầu có việc làm tăng thêm thu nhập xuất hiện chưa bức bách hoặc họ có nhu cầu muốn có thu nhập cao nhưng họ không biết làm như thế nào, điều này đã ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển chung của đất nước, của tỉnh Quảng Ngãi là một tỉnh nghèo, thời gian qua nhờ có Khu Kinh tế Dung Quất mà Quảng Ngãi
đã đứng vào tốp 10 tỉnh thu ngân sách cao nhất nước, hàng năm tỉnh phải xin Trung ương giữ lại một khoản tương đối lớn từ nguồn này để trang trải các dự
án xóa đói, giảm nghèo ở các huyện miền núi, trước hết là tập trung vào các
dự án kết cấu hạ tầng, góp phần lưu thông hàng hóa, rút ngắn khoảng cách về địa lý giữa đồng bằng và miền núi Tạo cơ hội cho kinh tế các huyện miền núi phát triển, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực sự chậm phát triển đến sự phát triển chung của đất nước
Trang 29Chương 2 LÃNH ĐẠO CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
CỦA CÁC HUYỆN ỦY MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NGÃI -
THỰC TRẠNG, NGUYÊN NHÂN VÀ KINH NGHIỆM
2.1 Các huyện ủy miền núi tỉnh Quảng Ngãi
Quảng Ngãi là một tỉnh ven biển nằm ở vùng Duyên Hải Nam Trung
Bộ, Việt Nam Được biết đến với tên gọi "quê mía xứ đường Quảng Ngãi trải dài từ 14°32′ đến 15°25′ Bắc, từ 108°06′ đến 109°04′ Đông, tựa vào dãy núi Trường Sơn hướng ra biển Đông, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía nam giáp tỉnh Bình Định, phía tây giáp tỉnh Kon Tum, phía đông giáp biển Đông Nằm ở vị trí trung độ của cả nước, Quảng Ngãi cách thủ đô Hà Nội 883 km về phía Bắc và cách Tp Hồ Chí Minh 838 km về phía Nam
Quảng Ngãi nằm miền Nam Trung bộ, có nhiều núi đồi cao, gò, thung lũng và biển cả chia làm các miền riêng biệt
Miền núi chiếm gần bằng 2/3 diện tích Miền đồng bằng: đất đai phần lớn là phù sa nhiều cát, đất xấu
Quảng Ngãi có khí hậu nhiệt đới và gió mùa Nhiệt độ trung bình 26,9°C Thời tiết chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa nắng Khí hậu có nhiều gió Đông Nam ít gió Đông Bắc vì địa hình địa thế phía nam, và do thế núi địa phương tạo ra Mưa 2.198 mm/năm nhưng chỉ tập trung nhiều nhất vào các tháng 9, 10, 11, 12, còn các tháng khác thì khô hạn
25-Quảng Ngãi là mảnh đất có bề dày lịch sử về Văn hóa Sa Huỳnh và Văn hóa Chăm Pa, đặc biệt là hệ thống thành lũy Chàm Bên cạnh
đó là hai danh thắng nổi tiếng là "núi Ấn sông Trà" Quảng Ngãi là quê hương của Trương Định, Lê Trung Đình, Phạm Văn Đồng; nhiều nhà trí thức, nhà văn, nhà thơ, nhạc sỹ, nghệ sỹ tên tuổi: Bích Khê, Tế Hanh, NSND Trà Giang, Trương Quang Lục,Thế Bảo, Nhất Sinh
Trang 30Là tỉnh duyên hải, Quảng ngãi có địa hình khá phức tạp, dãy Trường Sơn đâm ra sát biển nên tạo nhiều thắng cảnh đẹp như: Núi Thiên Ấn, Sa
Kỳ, Núi Phú Thọ và Cổ lũy cô thôn Với đường bờ biển dài 150 km kéo dài từ
An Tân đến Sa Huỳnh lộng gió với nhiều bãi biển đẹp: Khe Hai, Mỹ Khê, Minh Tân, Đức Tân, Sa Huỳnh Bên cạnh đó là những địa danh như: Ba Tơ, Vạn Tường, Trà Bồng, Mỹ Lai Với sự quan tâm thích đáng của tỉnh và Tổng cục du lịch Việt Nam - Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch trong những năm gần đây ngành du lịch đã trở nên khởi sắc
Với bời biển dài 130 km chạy qua các huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức, Đức Phổ với các cửa biển Sa Cần, Sa Kỳ, Cổ Lũy, Cửa Lở,
Mỹ Á, Sa Huỳnh, có huyện đảo Lý Sơn nằm ở vị trí chiến lược quan trọng trong hệ thống đảo ven bờ Việt Nam Đặc biệt trên vùng bờ biển Quảng Ngãi
có Khu kinh tế Dung Quất được Chính phủ quy hoạch trở thành một Khu kinh
tế đa ngành - đa lĩnh vực, với trọng tâm là Công nghiệp lọc dầu, hóa dầu, công nghiệp nặng quy mô lớn, các ngành công nghiệp nhẹ, các dịch vụ tài chính, ngân hàng, du lịch, bất động sản Nhà máy lọc dầu Dung Quất (nhầm trong khu kinh tế Dung Quất) chiếm diện tích khoảng 338 ha mặt đất và 471 ha mặt biển,
có công suất 6,5 triệu tấn dầu thô/năm tương đương 148.000 thùng, đáp ứng khoảng 30% nhu cầu tiêu thụ xăng dầu ở Việt Nam Hiện nay Khu kinh tế Dung Quất, với “trái tim” Nhà máy lọc dầu, đã trở thành KKT năng động, hiệu quả nhất nước và là động lực phát triển cho vùng kinh tế trọng điểm Miền Trung Khu kinh tế Dung Quất tập trung nhiều nhà máy chế biến nguyên vật liệu, tiêu thụ các nguồn sản phẩm từ các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi
Miền núi Quảng Ngãi có 75 xã, thị trấn có đồng bào dân tộc thiếu số sinh sống; trong đó có 67 xã, thị trấn thuộc 6 huyện vùng cao và 8 xã miền núi thuộc 5 huyện đồng bằng Dân số toàn vùng có 236.729 người, chiếm 18,3% dân số toàn tỉnh Trong đó dân tộc thiếu số 158.292 người, chiếm
Trang 3166,87% dân số toàn vùng, tập trung chủ yếu ở 6 huyện miền núi, bao gồm: 113.385 người Hrê, 26.908 người Cor, 18.899 người Ca Dong và 1.100 người dân tộc thiếu số khác Diện tích đất tự nhiên 375.736 ha, chiếm tỷ lệ 73,13% tổng diện tích toàn tỉnh Đây là vùng có địa hình khá phức tạp, nhiều đồi núi cao hiểm trở; là địa bàn chiến lược xung yếu cả về kinh tế, an ninh quốc phòng, môi trường sinh thái; là vùng căn cứ địa cách mạng của hai cuộc kháng chiến chống pháp, chống Mỹ của tỉnh và cũng là địa bàn cư trú lâu đời của các dân tộc anh em Kinh, Hrê, Cor, Ca Dong Đồng bào các dân tộc trong tỉnh luôn có truyền thống yêu nước, đoàn kết, một lòng một dạ trung thành với Đảng, anh dũng trong đấu tranh chống giặc ngoại xâm, cần cù chịu khó trong lao động sản xuất, kiên trì bền bỉ vượt qua khó khăn thách thức để tồn tại và phát triển, phấn dấu thực hiện đường lối đổi mới của Đảng và nhà nước, góp phần xây dựng quê hương, đất nước ngày thêm giàu đẹp
2.2 Thực trạng đói nghèo ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi
2.2.1 Thực trạng đói nghèo ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi
Cùng với việc thực hiện các chính sách của Đảng, nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội miền núi những năm qua, tỉnh Quảng Ngãi đã tích cực đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo góp phần làm chuyển biến một bước tích cực các lĩnh vực trong đời sống kinh tế - xã hội của các huyện miền núi Nhìn chung nền kinh tế các huyện miền núi đang trong quá trình thoát khỏi tình trạng tự cung, tự cấp, từng bước tiếp cận thị trường, tiến tới tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 đạt 13,66% so với mức tăng trưởng kinh tế của toàn tỉnh thì khu vực miền núi có tốc độ tăng trưởng chậm, tốc độ tăng trưởng bình quân 2006 -2010 của các lĩnh vực nông - lâm - thủy sản tăng bình quân 10,25%, Công nghiệp và xây dựng cơ bản tăng 22,39%, dịch vụ tăng 28,97% tỷ giá trị sản xuất từng vùng (theo giá 2004) Năm 2006 đạt 688.904 triệu đồng, năm 2010 ước đạt 1.068.552 triệu đồng Cơ cấu kinh tế đã có sự
Trang 32chuyển biến theo hướng tích cực, tỷ trọng Nông - Lâm - Thủy sản giảm dần nhưng đến năm 2010 vẫn ở mức cao 48,84% và đóng vai trò chủ trọng Tỉ trọng Công nghiệp - Xây dựng cơ bản ở mức ổn định đến năm 2010 là 31,84% trong đó tỉ trọng xây dựng cơ bản chiếm phần lớn Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp có giá trị thấp và chưa phát triển Tỉ trọng dịch vụ còn thấp , nếu như năm 2006 là 14,59% thì đến năm 2010 đạt 19,32% Khâu dịch vụ có
xu hướng tăng nhờ hạ tầng gia tăng và giao thông phát triển
Thu nhập bình quân đầu người được tăng, năm 2006 là 3.052 ngàn đồng, đến năm 2009 là 4.384 ngàn đồng Lương thực bình quân đầu người năm 2006
là 296kg/người/năm đến năm 2010 là 327kg/người/năm Tổng thu ngân sách của vùng ngày một gia tăng Tổng thu ngân sách toàn vùng của các huyện miền núi tăng đều qua các năm: năm 2008 là 9.862 tỷ đồng , năm 2010 là: 27.831 tỷ đồng Tuy nhiên so với toàn tỉnh ngân sách thu được rất nhỏ Mức thu này chưa thể có tích lũy được từ nội bộ nền kinh tế của các huyện trong vùng mà chủ yểu dựa vào sự hỗ trợ ngân sách của cấp trên Tổng chi ngân sách cũng tăng qua các năm 2006 là 191.173 tỉ đồng, năm 2010 là 610.554 tỉ đồng Nguồn chi phí chủ yếu đầu tư cho xây dựng cơ bản và thực hiện các chương trình dự án trên địa bàn miền núi phục vụ đầu tư phát triển Trong những năm qua tổng vốn đầu
tư phát triển 6 huyện miền núi đạt 7.764.044 tỷ đồng
Đầu tư cơ bản của khu vực miền núi được chú trọng Kết cấu hạ tầng
KT - XH phát triển khá nhanh, nhất là hệ thống thủy lợi, đường giao thông, hệ thống cấp nước sinh hoạt… tập trung ưu tiên đầu tư phát triển xây dựng cơ sở
hạ tầng GD-ĐT, y tế và xóa đói, giảm nghèo
Công tác xóa đói giảm nghèo được đẩy mạnh, chất lượng cuộc sống được nâng lên Đời sống vật chất tinh thần của đồng bào các dân tộc được cải thiện đáng kể Tình hình giảm nghèo của 6 huyện miền núi giai đoạn 2006 -
2010 giảm đáng kể được thể hiện qua các bảng tổng hợp
Trang 33Bảng 1.1 Tình hình giảm nghèo của các huyện miền núi:
Nguồn: Sở Lao động, thương binh và xã hội tỉnh Quảng Ngãi
Qua bảng trên cho ta thấy dân số các huyện miền núi tăng hàng năm nhưng số lượng hộ nghèo, tỉ lệ nghèo giảm đều hàng năm
Tuy nhiên, KT - XH các huyện miền núi vẫn còn chậm phát triển và nhiều khó khăn, giá trị sản xuất của nền kinh tế còn quá thấp, cơ cấu kinh tế chuyển biến chậm, tính tự phát, manh mún trong sản xuất còn phổ biến, sản xuất nông nghiệp chưa đáp ứng đủ nhu cầu lương thực, thế mạnh kinh tế rừng chưa được phát huy đúng mức; công tác quản lý, bảo vệ, phát triển rừng còn nhiều yếu kém Một số nơi rừng bị tàn phá nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến môi trường sinh thái; Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và hệ thống dịch vụ còn sơ khai Tiềm năng du lịch chưa được khai thác Hệ thống hạ tầng KT -
XH còn yếu kém, các vấn đề thiết yếu như nhà ở, đất ở, đất sản xuất nông nghiệp, đất rừng, nước sinh hoạt chưa được giải quyết căn bản, đồng bộ, dẫn tới nhiều khó khăn trong việc phát triển KT - XH của toàn vùng Đời sống của nhân dân trong vùng còn thấp so với các vùng khác trong tỉnh Trình độ dân trí thấp, điều kiện phát triển y tế, giáo dục khó khăn Học sinh bỏ học còn nhiều, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn cao, vẫn còn tồn tại một số thủ tục lạc hậu, khoảng cách thu nhập giữa miền núi và các vùng khác chênh lệch quá lớn Đầu tư từ các nguồn lực của nhà nước hiệu quả còn thấp; tổng giá trị sản xuất các ngành tăng không lớn; tỷ lệ hộ nghèo vẫn còn cao; trình độ dân trí
Trang 34còn thấp; trình độ năng lực của cán bộ cấp cơ sở còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ
Cùng với sự quyết tâm của tỉnh Đảng bộ, Đảng bộ các huyện miền núi cũng đã triển khai quyết liệt chương trình xóa đói, giảm nghèo trên địa bàn các huyện miền núi và đã đạt được thành tựu to lớn Điển hình là:
Huyện Minh Long: Năm 2006 huyện có 2.293 hộ nghèo chiếm 65,89% tổng số hộ nghèo Năm 2007 còn 1.865 hộ nghèo chiếm 50,01% tổng số hộ Năm 2008 còn 1.426 hộ nghèo chiếm 37,49% và Năm 2009 còn 1768 hộ nghèo chiếm 43,6% Năm 2010 còn 1568 hộ nghèo chiếm 38,9%
Huyện Ba Tơ: Năm 2006 có 6025 hộ nghèo chiếm 53,83% Năm 2007
có 5209 hộ nghèo chiếm 45,88% Năm 2008 có 4485 hộ nghèo chiếm 39,32% Năm 2009 có 4083 hộ nghèo chiếm khoảng 30,18% Năm 2010 là
3583 hộ nghèo chiếm 26,49%
Huyện Sơn Hà: Năm 2006 có 10.342 hộ nghèo chiếm 66,79% Năm
2007 có 9.153 hộ nghèo chiếm 57,53% Năm 2008 có 7.980 hộ nghèo chiếm 49,27% Năm 2009 có 6.711 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 40,23% Năm 2010 có 5.766 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 34,56%
Huyện Trà Bồng: Năm 2006 có 4.358 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 68,06% tổng số hộ nghèo Năm 2007 có 4.232 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 54,26% tổng số
hộ nghèo Năm 2008 có 3785 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 54,64% tổng số hộ nghèo Năm 2009 có 4138 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 55,60% tổng số hộ nghèo Năm
2010 có 3.288 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 44,18% tổng số hộ nghèo
Huyện Sơn Tây: Năm 2006 có 2.747 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 74,12% tổng
số hộ nghèo Năm 2007 có 2.475 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 66,71% tổng số hộ nghèo Năm 2008 có 2.431 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 60,10% Năm 2009 có 2.281 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 50,79% Năm 2010 có 1781 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 34,66%
Trang 35Huyện Tây Trà: Năm 2006 có 2.847 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 89,9% tổng
số hộ nghèo Năm 2007 có 2.790 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 81,63% tổng số hộ nghèo Năm 2008 có 2.785 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 76,83% Năm 2009 có 2.595
hộ nghèo chiếm tỷ lệ 68,65% tổng số hộ nghèo Năm 2010 có 2.295 hộ nghèo chiếm tỷ lệ 60,7% tổng số hộ nghèo
Từ tình hình hộ nghèo và kết quả công tác giảm nghèo nêu trên cho thấy công tác xóa đói, giảm nghèo ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi được triển khai mạnh mẽ và đạt được những thành tựu đáng kể Chỉ trong vòng 5 năm mà số hộ nghèo của các huyện đã giảm cơ bản, nhờ sự trợ giúp thông qua các dự án của Chính Phủ mà nhiều hộ nghèo đã tự vươn lên thoát nghèo bằng sự nỗ lực và trí tuệ của bản thân, gia đình Họ đã tranh thủ được
cơ hội làm ăn có hiệu quả tự vươn lên thoát nghèo, góp phần làm cho bức tranh kinh tế của địa phương ngày càng khởi sắc theo hướng tích cực Hiệu quả của công tác xóa đói giảm nghèo của các huyện miền núi đã góp phần đảm bảo an ninh xã hội, giữ vững ANTT tại các huyện miền núi, để có điều kiện phát triển kinh tế tốt hơn
Chương trình xóa đói, giảm nghèo đã thể hiện sự ưu ái, quyết tâm của Đảng và nhà nước trong công cuộc xóa đói, giảm nghèo ở các huyện miền núi, sớm thu hẹp khoảng cách giữa các miền núi và đồng bằng Khẳng định và chứng minh sự quyết tâm của các cấp ủy Đảng miền núi, khẳng định sự kiên định và nhất quán của huyện ủy các huyện miền núi trong việc thực hiện mục tiêu chăm lo đời sống, vật chất, tinh thần cho nhân dân Công tác xóa đói giảm nghèo đã góp phần quan trọng vào sự ổn định chính trị và TTATXH Tạo điều kiện cho sự phát triển toàn diện của các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi
Công tác xóa đói giảm nghèo giữ vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh Chúng ta đang trong giai đoạn xây dựng đất nước theo cơ chế thị trường,
Trang 36nhiều thành phần theo định hướng XHCN Mọi kế hoạch, chủ trương, đường lối lãnh đạo, quản lý, điều hành đều phải xuất phát từ lợi ích kết quả kinh tế cao nhất Thế nhưng đối với đồng bào dân tộc thiếu số miền núi do điều kiện lịch sử phải có chính sách phát triển kinh tế đặc thù riêng phù hợp với điều kiện địa lý, lịch sử để đưa vùng cao sớm thoát khỏi đói nghèo, tăng thu nhập bình quân đầu người, giảm dần khoảng cách giữa miền núi và đồng bằng Để nền kinh tế trong vùng phát triển có hiệu quả phải biết tận dụng thời cơ khách quan mang lại, bản thân từng người dân, từng hộ gia đình trong đồng bào dân tộc thiếu số phải biết không ngừng nổ lực phấn đấu vươn lên, tự mình phải thoát được đói, giảm được nghèo tiến tới làm giàu chính đáng từ điều kiện thiên nhiên khách quan mang lại và sự đầu tư của nhà nước, sự phấn đấu vươn lên không ngừng của các hộ gia đình trong vùng sẽ tạo ra sự tăng trưởng mạnh về kinh tế trên toàn vùng một cách bền vững
Thực hiện chuẩn nghèo của Thủ tướng Chính phủ đối với nông thôn miền núi (thu nhập bình quân đầu người 4.800.000đ/người/năm) So với các vùng khác trong cả nước thì chuẩn nghèo nay quá thấp so với chuẩn cũ, đây là một thước đo mới của công tác xóa đói, giảm nghèo Đối với các cấp ủy Đảng, bản thân từng hộ dân phải nỗ lực phấn đấu vươn lên hơn nữa và chuẩn nghèo này thì mức thu nhập bình quân ở nông thôn miền núi còn quá thấp Đặt ra cho cấp ủy các cấp những thách thức mới trong lãnh đạo công tác xóa đói, giảm nghèo hiện nay ở địa phương miền núi Quảng Ngãi Một điều dễ dàng nhận thấy số hộ nghèo theo chuẩn mới tăng lên gấp đôi so với chuẩn cũ bởi số hộ đã thoát nghèo theo chuẩn cũ thì nay họ có nguy cơ tái nghèo theo chuẩn mới Ví dụ: Qua khảo sát ở huyện Sơn Hà năm 2010 số hộ nghèo theo chuẩn cũ là 5.766 hộ chiếm tỷ lệ 34,55% theo chuẩn mới số hộ nghèo tăng lên gần gấp đôi là 10.895 hộ chiếm lỷ lệ 56,79% Đó là chưa tính trong số hộ khá giả là 8.290 hộ, có 2830 hộ cận nghèo, có nguy cơ tái nghèo chiếm tỷ lệ
Trang 3714,75% Khi chuẩn nghèo mới có cao hơn chuẩn nghèo cũ nhưng vẫn còn thấp hơn so với chuẩn nghèo của các vùng khác trong cả nước
Những kết quả đã đạt được trong công tác xóa đói, giảm nghèo thời gian qua là rất lớn nhưng nó mới bước đầu của sự nghiệp xóa đói, giảm nghèo của các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi dưới sự lãnh đạo của các huyện ủy Với thu nhập bình quân 400.000đ/tháng (4.800.000đ/năm), 13.000đ/người/ngày thì chưa đáp ứng được nhu cầu tối thiếu hàng ngày của người dân (theo thời giá 2006), chưa kể các nhu cầu khác như ốm đau, bệnh tật, học hành… So với thời giá 2009 - 2011 thì mức thu nhập như thế lại càng khó khăn cho việc đáp ứng nhu cầu tối thiếu về mọi mặt trong cuộc sống
Những năm gần đây khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại Thế giới WTO, cùng với tác động của mặt trái kinh tế thị trường
đã tác động trực tiếp không nhỏ đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân Đặc biệt trong những năm 2008 - 2010 cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ, suy giảm kinh tế toàn cầu đã tác động đến sự phát triển của nền kinh tế đất nước và của tỉnh Quảng Ngãi Thu nhập phần lớn của người dân đã giảm đáng
kể Nhiều việc làm của họ cũng khó khăn, không ổn định mặc dù thu nhập từ lao động thủ công của họ rất thấp, sức khỏe kém, trình độ học vấn, tay nghề thấp làm cho họ khó có khả năng tìm việc làm ổn định, có thu nhập do vậy họ khó có khả năng vươn lên thoát nghèo Với việc thắt chặt chi tiêu, giảm chi tiêu công, nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn trong sản xuất, kinh doanh, người lao động không có việc làm, nông sản làm ra không có đầu ra hoặc có đầu ra nhưng giá thấp như keo, quế, cau… nguy cơ số hộ cận nghèo sẽ tái nghèo, số hộ thoát nghèo dễ nghèo trở lại
Tùy theo điều kiện địa lí, phân bố dân cư cũng như sự ưu đãi của thiên nhiên, sự quan tâm của cấp ủy các cấp ở từng huyện Huyện có điều kiện phát triển khá như Ba Tơ, Sơn Hà, Trà Bồng thì đây cũng là huyện có cơ sở hạ tầng
Trang 38khá, có huyện giao thông đi lại hết sức kho khăn như Sơn Tây, Tây Trà… Đặc biệt vào mùa mưa lũ hàng năm huyện Sơn Tây, Tây Trà thường hay bị chia cắt
do sạt lở núi, lũ quét… Nhưng trong lĩnh vực sản xuất những huyện có điều kiện phát triển Công nghiệp vì nguyên liệu dồi dào như Sơn Hà, Ba Tơ, Trà Bồng Huyện có ít lợi thế phát triển Công nghiệp như Tây Trà, Sơn Tây
Qua nghiên cứu, đánh giá tình hình thực hiện một số chính sách, chương trình dự án phát triển KT - XH tại các huyện miền núi cho thấy Đảng, Nhà nước rất quan tâm chú ý đến tình hình KT - XH ở miền núi Hiện nay có khoảng 200 văn bản chính sách đầu tư đã được ban hành Nhiều chính sách, chương trình lớn đã góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn miền núi của tỉnh, các chính sách, chương trình, dự án đã góp phần giảm nghèo của khu vực miền núi của tỉnh từ 65,88% năm 2006 xuống còn 35,23% năm 2010
Tuy nhiên, có quá nhiều chính sách riêng lẻ trong cùng một thời gian diễn ra trên cùng một địa bàn đầu tư Một số chính sách với nhiều quy định chưa phù hợp với điều kiện tự nhiên với điều kiện KT - XH, tập tục sinh hoạt, sản xuất của đồng bào và năng lực quản lý cấp cơ sở Việc hoạch định lộ trình đầu tư hạn chế, tham gia triển khai các chính sách, chương trình dự án và bố trí vốn còn kém
Với việc thực hiện chuẩn nghèo mới 400.000đ/người/tháng đối với nông thôn miền núi theo QĐ09/2011/QĐ-TTg 30-01-2011 của Thủ tướng Chính phủ Mức này còn quá thấp so với thu nhập bình quân của cả nước là 2 triệu đồng/tháng, trong 6 huyện miền núi các huyện Sơn Hà, Ba Tơ, Minh Long, Trà Bồng là có thể thực hiện được bằng hoặc trên chuẩn nghèo (từ 400.000đ đến 1.000.000đ/tháng) Còn lại huyện Sơn Tây, Tây Trà khó có khả năng thực hiện được vì ở hai huyện này sự giao lưu, trao đổi, mua bán chưa được phát triển, một số mặt hàng thế mạnh như cây keo,trái cây (thơm, chuối…) mì, thì đầu ra thiếu ổn định chưa khuyến khích được sản xuất phát triển
Trang 392.2.2 Nguyên nhân tình trạng đói nghèo ở các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi
Tình hình đói nghèo của các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi có những nguyên nhân sau:
Các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi đều ở xa trung tâm thành phố, huyện xã nhất là trên 90km (huyện Tây Trà, huyện Sơn Tây), huyện gần nhất
là 30km (huyện Minh Long), có độ cao trung bình 500m so với mặt nước biển, đỉnh núi cao nhất là 1000m (núi Dinh ở Sơn Tây, núi ở Ba Tơ) Địa hình chủ yếu có độ dốc cao, bị chia cắt bởi nhiều sông suối, giao thông đi lại khó khăn thậm chí bị ách tắc vào mùa mưa lũ Do điều kiện địa lý như vậy, dễ rơi vào thế cô lập, tách biệt với bên ngoài khó tiếp cận được các nguồn lực như tín dụng, khoa học công nghệ, thị trường… làm cho cuộc sống của họ lại khó khăn, khó phát triển, kinh tế chủ yếu là tự cung, tự cấp là những nhân tố khách quan tác động mạnh mẽ đến đói nghèo Mặt khác đất canh tác ít lại bị cằn cỗi, ít màu mỡ một phần do bị rửa trôi nhiều, canh tác khó năng suất cây trồng, vật nuôi đều thấp đây là nguyên nhân dẫn đến sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, dẫn đến thu nhập của người dân thấp (những năm mất mùa thu nhập gần như không có gì) Việc tích lũy và tái sản xuất mở rộng lại hạn chế hoặc không có, theo kết quả điều tra đánh giá đói nghèo có sự tham gia của người dân thì thiếu đất canh tác hay đất đai khó làm ăn cũng là nguyên nhân đáng kể dẫn đến cảnh túng thiếu, đói nghèo của người dân, đặc biệt đối với hộ nghèo đói ở miền núi Hiện tượng thiếu đất sản xuất nhất là đất sản xuất nông nghiệp ngày càng phổ biến trầm trọng, đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp, dân số ngày càng tăng đã gây áp lực cho người dân không đủ tiềm lực để phát triển Một số nơi nông dân thiếu đất sản xuất, đây là nhân tố
cơ bản làm cho những hộ này triền miên bị đói Nhưng việc xóa đói không phải bằng cách lấy đất sản xuất lương thực mà phải kết hợp với nhiều biện
Trang 40pháp khác Đây là một vấn đề đặt ra đối với các cấp lãnh đạo trong việc lựa chọn giải pháp thích hợp giúp xóa đói, tức là phải làm gì để giúp nông dân có chính sách thu nhập thì họ mới có khả năng tiếp cận được lương thực, thực phẩm Cùng với việc thiếu đất sản xuất thì điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên xảy ra đặc biệt là bão, lụt, hạn hán, cháy rừng… ảnh hướng lớn đến sản xuất và đời sống của nhân dân Trung bình mỗi năm có khoảng 10 cơn lũ đi qua lại thêm mưa đá, lốc xoáy, lũ quét, lũ ống, lỡ núi xảy
ra thường xuyên ở vùng miền núi là nguyên nhân cơ bản làm cho số người đói nghèo không giảm hàng năm Tác hại của lũ lụt, hạn hán là rất lớn luôn là kẻ thù đồng hành cùng đói nghèo, nó không những cướp đi tài sản mà cả mạng sống của con người Chỉ sau một đêm thiên tai xảy ra đã khiến cho hàng trăm, thậm chí hàng nghìn người lâm vào cảnh tang thương nghèo đói Hiện nay hạn hán, thiếu nước, cháy rừng cũng là vấn đề nóng bỏng ảnh hưởng trực tiếp đến tình trạng nghèo đói của người dân
Môi trường kinh tế không thuận lợi, cơ sở hạ tầng thấp kém, thị trường mua bán, trao đổi hàng hóa giữa miền núi và đồng bằng hoạt động yếu kém, thị trường không đầy đủ cũng ảnh hưởng đáng kể đến tình trạng nghèo đói của các hộ gia đình Thời gian vừa qua Chính phủ và tỉnh đã quan tâm đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nhằm mở rộng giao thông, tăng cường trao đổi hàng hóa giữa các huyện miền núi với miền xuôi nhưng nhiều nơi trao đổi mua bán hàng hóa diễn ra vẫn còn rất hạn chế Tình trạng mua rẻ bán đắt vẫn còn xảy
ra đã không khuyến khích sản xuất phát triển Nhận thức rõ điều này Đảng nhà nước đang rất quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở kết cấu hạ tầng kinh tế tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán trao đổi hàng hóa nông sản phát triển nhất là các loại cây nguyên liệu các loại lương thực, thực phẩm… có sự trao đổi mua bán thì người dân mới tích lũy được vốn, kinh nghiệm kích thích sản xuất, chăn nuôi làm cho người dân có ăn, có mặc sớm thoát đói, thoát nghèo