1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu quả tuyên truyền luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào khmer tỉnh sóc trăng hiện nay

125 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 1,14 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài Bàn về hiệu quả tuyên truyền và tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số có thể kể đến một số tác giả với các ng

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN LUẬT HÔN NHÂN

VÀ GIA ĐÌNH CHO ĐỒNG BÀO KHMER

TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các luận cứ và số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào

Hà Nội, tháng 6 năm 2014

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thúy Hằng

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1 Chương 1: HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 8

1.1 Tuyên truyền và tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số 81.2 Hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số và tiêu chí đánh giá 201.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số 27

Chương 2: HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER Ở TỈNH SÓC TRĂNG THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 32

2.1 Những nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng hiện nay 322.2 Thực trạng hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào Khmer Sóc Trăng - những kết quả và hạn chế 392.3 Những vấn đề đặt ra trong việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay 65

Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER Ở TỈNH SÓC TRĂNG HIỆN NAY 70

3.1 Quan điểm nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay 703.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào Khmer tỉnh Sóc Trăng hiện nay 72

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC 109

Trang 4

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1: Những nội dung về Luật hôn nhân và gia đình được đồng

bào dân tộc Khmer quan tâm 40Biểu đồ 2.2: Tình hình thực hiện Luật hôn nhân và gia đình 42Biểu đồ 2.3: Mức độ thực hiện Luật hôn nhân và gia đình của đồng bào

dân tộc Khmer 43Biểu đồ 2.4: Con đường tiếp nhận thông tin về Luật hôn nhân và gia đình

của đồng bào dân tộc Khmer 50

Trang 5

Đất nước Việt Nam có 54 dân tộc anh em sinh sống, điều đó cũng có nghĩa là có 54 phong tục tập quán khác nhau Làm thế nào tạo ra sự đồng thuận khi thực hiện luật trên cơ sở tôn trọng các luật tục của đồng bào là vấn

đề luôn được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm Việc loại bỏ dần những quan niệm cũng như những hủ tục lạc hậu trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình luôn đặt ra những đòi hỏi phải nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân

và gia đình trong vùng đồng bào dân tộc sinh sống Để pháp luật đến được với đồng bào dân tộc thiểu số, công tác tuyên truyền đã gặp không ít khó khăn Một mặt, do trình độ nhận thức của họ còn thấp kém, mặt khác do phong tục tập quán vẫn là những yếu tố chi phối rất lớn đến lối sống và ứng xử của đồng bào bởi: “Phép vua thua lệ làng” là một nếp nghĩ đã ăn sâu vào đời sống người Việt Nam và đặc biệt là các đồng bào dân tộc thiểu số Làm thế nào để tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình có hiệu quả trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn là một vấn đề hết sức nan giải

Trang 6

Sóc Trăng là tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số nhất ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long, trong đó đông nhất là đồng bào dân tộc Khmer Những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đời sống vật chất

và tinh thần của đồng bào dân tộc Khmer có nâng lên, nhưng do phần đông đồng bào dân tộc Khmer sinh sống bằng nghề nông và tập trung ở các khu vực nông thôn xa trung tâm, phương tiện đi lại khó khăn, giao tiếp bằng tiếng phổ thông còn hạn chế; các điều kiện để tiếp nhận thông tin, nhất là thông tin pháp

lý, văn bản pháp luật rất khó khăn nên ý thức pháp luật không cao Nhiều vụ vi phạm Luật hình sự, Luật dân sự, Luật hôn nhân và gia đình, Luật giao thông đường bộ và đường thuỷ…thường xuyên xảy ra với mức độ ngày càng nghiêm trọng Đặc biệt, hiện nay một số phần tử xấu lợi dụng chính sách dân tộc, tôn giáo của Đảng và Nhà nước để kích động đồng bào Khmer vượt biên trái phép, khiếu kiện đông người…làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh Làm thế nào để nâng cao hiệu quả tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc Khmer, góp phần giảm thiểu những vụ vi phạm pháp luật, làm cho cuộc sống của đồng bào ngày càng văn minh, tiến bộ? Đây cũng là vấn đề mà lãnh đạo Đảng và chính quyền các cấp ở tỉnh Sóc Trăng hết sức trăn trở Trong hệ thống luật pháp của Việt Nam, Luật hôn nhân và gia đình là một trong những nội dung có ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng Là một cán bộ của tỉnh Sóc Trăng, với mong muốn góp phần nhỏ

bé của mình làm cho cuộc sống của đồng bào Khmer ngày càng ổn định, văn

minh và tiến bộ, em chọn đề tài nghiên cứu “Hiệu quả tuyên truyền Luật

hôn nhân và gia đình cho đồng bào Khmer tỉnh Sóc Trăng hiện nay” làm

đề tài luận văn tốt nghiệp của mình

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Bàn về hiệu quả tuyên truyền và tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số có thể kể đến một số tác giả với các nghiên cứu sau:

Trang 7

- Các nghiên cứu về hiệu quả tuyên truyền:

- Tác giả Đào Duy Tùng (1985), Một số vấn đề về công tác tư tưởng,

Nxb sách giáo khoa Mác - Lênin, Hà nội Cuốn sách bao gồm những bài nghiên cứu của tác giả về công tác tư tưởng của Đảng; trong đó có nội dung bàn về hiệu quả công tác tư tưởng

- PGS Hà Học Hợi chủ biên (2002) Đổi mới và nâng cao chất lượng,

hiệu quả công tác tư tưởng, Nxb Chính trị Quốc Gia, Hà Nội Trên cơ sở

phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác tư tưởng của Đảng trong bối cảnh của những năm cuối thế kỉ XX, tác giả đã làm rõ tiêu chí đánh giá chất lượng, hiệu quả công tác

tư tưởng và dự báo tình hình tư tưởng của cán bộ, đảng viên, nhân dân trong giai đoạn mới

- PGS TS Lương Khắc Hiếu (chủ biên), (2008), Nguyên lý công tác tư

tưởng tập 2, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Nội dung cuốn sách đã trình bày

khá rõ về hiệu quả và những tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng Tác giả đã chỉ rõ tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng bao gồm hai nhóm: tiêu chuẩn tinh thần và tiêu chuẩn thực tiễn

- PGS.TS Đào Duy Quát (chủ biên) (2010), Công tác tư tưởng, Nxb

Chính trị Quốc Gia, Hà Nội.Cuốn sách giới thiệu những nội dung cơ bản của công tác tư tưởng với tư cách là một môn khoa học Trong chương XXI tác giả có luận bàn về hiệu quả công tác tư tưởng

- Các nghiên cứu về Luật hôn nhân và gia đình

+ Nguyễn Thị Lan, Xác định cha, mẹ, con theo Luật hôn nhân và gia

đình Việt Nam - Cơ sở lý luận và thực tiễn, Luận án tiến sỹ, Trường Đại học

Luật Hà Nội Luận án nghiên cứu đi sâu nghiên cứu về những nội dung cơ bản của việc xác định cha, mẹ, con theo Luật hôn nhân và gia đình và thực tế của việc giải quyết vấn đề này trong thực tế

+ Nguyễn Văn Cừ (2005), Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật hôn

nhân và gia đình Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học Tác giả luận án đã đi sâu

Trang 8

nghiên cứu về quyền và nghĩa của vợ chồng trong việc hưởng thụ và phân chia tài sản (khi cần thiết) theo luật pháp của Nhà nước Việt Nam

+ Ngô Thị Hường (2006), Chế định cấp dưỡng trong Luật hôn nhân và

gia đình - Vấn đề lý luận và thực tiễn, Trường Đại học Luật Hà Nội Nội dung

nghiên cứu tập trung làm rõ các đối tượng có trách nhiệm cấp dưỡng cũng như được hưởng chế độ cấp dưỡng theo luật định

+ Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật hôn nhân và gia đình Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Nội dung cuốn giáo trình giảng giải các nội dung trong luật, trong đó làm rõ nghĩa vụ, trách nhiệm của chủ thể và đối tượng thực hiện luật

- Các nghiên cứu về đồng bào Khmer Nam Bộ:

+ Huỳnh Thanh Quang (1993), Nâng cao truyền thống văn hóa dân

tộc nhằm phát huy nhân tố con người của đồng bào Khmer đồng bằng sông Cửu Long, Luận văn Thạc sĩ Triết học Trên cơ sở phân tích những truyền

thống văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer đồng bằng sông Cửu Long, tác giả luận văn đã đưa ra những giải pháp phát huy nhân tố con người trong nâng cao truyền thống văn hóa của đồng bào dân tộc Khmer đồng bằng sông Cửu Long

+ Trần Thanh Nam (2001), Phát triển đời sống tinh thần của đồng

bào dân tộc Khmer Nam bộ trong công cuộc đổi mới hiện nay, Luận án

Tiến sĩ Trên cơ sở phân tích đời sống tinh thần của đồng bào Khmer Nam

bộ và những đòi hỏi của công cuộc đổi mới, tác giả luận án đã đưa ra những giải pháp phát triển đời sống tinh thần của đồng bào Khmer Nam bộ trong giai đoạn hiện nay

+ Nguyễn Thanh Thuỷ (2001), Quá trình thực hiện chính sách dân

tộc của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với đồng bào Khmer ở đồng bằng sông Cửu Long, Luận án Tiến sĩ

+ Phân viện thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Chính trị Quốc gia

Hồ Chí Minh (2003): Một số giải pháp nâng cao đời sống cho đồng bào

Trang 9

dân tộc Khmer ở miền Tây Nam bộ trong giai đoạn hiện nay, Kỷ yếu đề tài

khoa học cấp Bộ, thành phố Hồ Chí Minh;

+ Trung tâm Khoa học về tín ngưỡng tôn giáo, Học viện Chính trị

Quốc gia Hồ Chí Minh (2003): Vấn đề tôn giáo ở khu vực đồng bào Khmer

Tây Nam bộ hiện nay, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội;

+ Nguyễn Sỹ Đệ (2005), Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác

tư tưởng của Đảng ở vùng có đông người Khmer trong giai đoạn hiện nay,

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Xây dựng Đảng;

+ Cao Quốc Điện (2008), Giáo dục ý thức pháp luật cho đồng bào

Khmer tỉnh Kiên Giang hiện nay, Luận văn Thạc sĩ Khoa học Chính trị

Các nghiên cứu trên, tùy góc độ tiếp cận đã làm phong phú thêm nội dung nghiên cứu về đồng bào Khmer ở Việt Nam hiện nay

Bên cạnh đó, còn có nhiều văn bản cụ thể của Đảng và Nhà nước ta

về tuyên truyền pháp luật như: Chỉ thị số: 315/CT ngày 07/12/1982 của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng giao cho Uỷ ban nhân dân các cấp chỉ đạo công tác tuyên truyền pháp luật; Chỉ thị số 02/1998 CT-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ

tướng chính phủ “Về tăng cường công tác phổ biến pháp luật” và Quyết định

số: 03/1998 ngày 19/6/1998 của Bộ tư pháp hướng dẫn các ngành, chính

quyền địa phương các cấp về “Tăng cường công tác tuyên truyền giáo dục

pháp luật cho nhân dân”; Chỉ thị số 32-CT/TW, ngày 9/12/2003 của Ban Bí

thư Trung ương Đảng (khoá IX) về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong

công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân”; Thông báo số 74-TB/TW, ngày 11/5/2007 của Ban Bí

thư Trung ương Đảng (khoá X) về “Tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 32-CT/TW

của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân”

Có thể thấy rằng, các tác giả đã đi sâu nghiên cứu về hiệu quả tuyên truyền, Luật hôn nhân và gia đình cũng như văn hóa, tập tục, đời sống, tư tưởng của đồng bào dân tộc Khmer dưới nhiều góc độ khác nhau Mặc dù

Trang 10

vậy, đến nay vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu về hiệu quả tuyên truyền

Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Sóc Trăng

Đây cũng chính là lý do em chọn đề tài “Hiệu quả tuyên truyền Luật hôn

nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng hiện nay” làm

đề tài luận văn tốt nghiệp

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc và thực trạng hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng; luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc

- Khảo sát thực trạng tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay

- Đề xuất một số quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào Khmer

ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nội dung Luật hôn nhân và gia đình có 13 chương, do điều kiện và khả năng của người nghiên cứu, luận văn chỉ tập trung nghiên cứu về vần đề hôn nhân của đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng từ năm 2000 đến nay

Trang 11

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Đề tài được tiến hành nghiên cứu dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về dân tộc; về hôn nhân và gia đình

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp tổng hợp

- Phương pháp phỏng vấn

6 Đóng góp mới của luận văn

Lần đầu tiên hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình ở tỉnh Sóc Trăng được tiến hành nghiên cứu Trên cơ sở những nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào Khmer ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay, luận văn đã làm rõ thêm cơ sở lý luận, thực tiễn và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

- Luận văn đã làm rõ thêm cơ sở lý luận về việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay

- Luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay

8 Kết cấu của luận văn

Luận văn dày 100 trang, ngoài phần mở đầu, kết luận, nội dung gồm 3 chương 8 tiết; kèm theo danh mục của 87 tài liệu tham khảo và 2 phụ lục

Trang 12

Chương 1 HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ- MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

1.1 Tuyên truyền và tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số

1.1.1 Tuyên truyền

Khi xem xét công tác tư tưởng như một quá trình, V.I.Lênin khẳng định công tác tư tưởng có ba hình thái: công tác lý luận, công tác tuyên truyền và công tác cổ động Tuyên truyền là một bộ phận cấu thành của công tác tư tưởng, tiếp nối hoạt động lý luận nhằm phổ biến, truyền bá các nguyên lý lý luận, đường lối, chủ trương, chính sách vào quần chúng

Tiếng La tinh, “tuyên truyền” (Propaganda) là truyền bá, truyền đạt một quan điểm nào đó Trong tác phẩm “Người tuyên truyền và cách tuyên

truyền”, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Tuyên truyền là đem một việc gì đó nói

cho dân hiểu, dân nhớ, dân tin, dân làm Nếu không đạt được mục đích đó là tuyên truyền thất bại” [51, tr.162]

Theo Đại bách khoa toàn thư Liên Xô, thuật ngữ tuyên truyền được hiểu theo 2 nghĩa: nghĩa rộng và nghĩa hẹp

+ Theo nghĩa rộng, tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm, tư

tưởng về chính trị, triết học, khoa học, nghệ thuật nhằm biến quan điểm, tư tưởng ấy thành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể của quần chúng

+ Theo nghĩa hẹp, tuyên truyền là truyền bá những quan điểm lý luận

nhằm xây dựng cho quần chúng một thế giới quan nhất định phù hợp với lợi ích của chủ thể tuyên truyền và kích thích những hoạt động thực tế phù hợp với thế giới quan ấy Như vậy, tuyên truyền theo nghĩa hẹp chính là tuyên

truyền chính trị mà mục đích của nó là hình thành ở đối tượng tuyên truyền một thế giới quan nhất định, một kiểu ý thức xã hội nhất định và cổ vũ tính tích cực của con người

Trang 13

Tổng hợp những ý kiến trên thì tuyên truyền là hoạt động có mục đích

của chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến đối tượng, biến những kiến thức, giá trị tinh thần đó thành nhận thức, niềm tin, tình cảm của đối tượng, thôi thúc đối tượng hành động theo những định hướng, những mục tiêu do chủ thể tuyên truyền đặt ra

1.1.2 Luật hôn nhân và gia đình và tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số

1.1.2.1 Luật hôn nhân và gia đình

Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng hình thành và giáo dục nhân cách, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Gia đình tốt thì xã hội mới tốt, xã hội tốt thì gia đình càng tốt

Ở Việt Nam, Luật hôn nhân và gia đình đã được ban hành năm 1959 và được áp dụng ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa, sau ngày hòa bình lập lại Năm

1986, Luật hôn nhân và gia đình đã được Quốc hội sửa lại và thông qua Sau 15 năm thực hiện, Luật hôn nhân và gia đình đã góp phần rất lớn trong việc xóa bỏ những phong tục tập quán lạc hậu trong hôn nhân và gia đình Mặc dù vậy, trong quá trình thực hiện, Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 còn bộc lộ nhiều vấn

đề bất cập Vì lý do trên, ngày 9/6/2000, Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 7 đã sửa đổi và cho ra đời Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 Luật có 13 chương 110 điều và có hiệu lực từ ngày 01/01/2001 Nội dung cơ bản của luật bao gồm:

Chương I- Những quy định chung (từ Điều 1 đến Điều 8) quy định về nhiệm

vụ và phạm vi điều chỉnh của luật (Điều 1); các nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam (Điều 2); trách niệm của Nhà nước và xã hội đối với hôn nhân và gia đình (Điều 3); bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình (Điều 4)

Chương II (từ Điều 9 đến Điều 17) quy định về kết hôn, bao gồm các

điều kiện kết hôn và cấm kết hôn; hủy việc kết hôn trái pháp luật và hậu quả pháp lý khi hủy kết hôn trái pháp luật

Trang 14

Chương III (từ Điều 18 đến Điều 33) quy định về quan hệ giữa vợ và

chồng, các quyền và nghĩa vụ nhân thân, tài sản giữa vợ và chồng

Chương IV (từ Điều 34 đến Điều 46) quy định quan hệ giữa cha mẹ và

con Nội dung bao gồm các quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con

Chương V (từ Điều 47 đến Điều 49) quy định quan hệ giữa ông bà nội,

ông bà ngoại và cháu; giữa anh, chị, em và giữa các thành viên trong gia đình

Chương VI quy định về vấn đề cấp dưỡng (từ Điều 50 đến Điều 62),

đây là một chương mới của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000

So với Luật hôn nhân và gia đình năm 1986, chương này đã dự liệu quyền và nghĩa vụ cấp dưỡng giữa các thành viên trong gia đình; nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cha mẹ và con; giữa ông bà và cháu; giữa anh chị em; giữa vợ và chồng Quy định về mức cấp dưỡng, phương thức thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng và các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng

Chương VII (từ Điều 63 đến Điều 66) quy định vấn đề xác định cha,

mẹ, con; quy định về nội dung nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ, con; quyền yêu cầu tòa án xác định cha, mẹ và con

Chương VIII (từ Điều 67 đến Điều 78) quy định về con nuôi; các điều

kiện nhận nuôi con nuôi; nội dung quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi với con nuôi; căn cứ chấm dứt việc nuôi con nuôi và hậu quả pháp lý của nó

Chương IX (từ Điều 79 đến Điều 84) quy định về giám hộ giữa các thành viên trong gia đình Trên cơ sở các quy định về giám hộ trong Bộ luật dân sự Việt Nam năm 1995 (nay là Bộ luật dân sự năm 2005), Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định các trường hợp thực hiện việc giám hộ giữa cha mẹ và con; giữa anh, chị, em và giám hộ giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu

Chương X (từ Điều 85 đến Điều 99) quy định vấn đề ly hôn; bao gồm

các quy định về quyền yêu cầu ly hôn, thủ tục giải quyết việc ly hôn, căn

cứ cho ly hôn; các trường hợp ly hôn theo luật định và hậu quả pháp lý của việc ly hôn

Trang 15

Chương XI (từ Điều 100 đến Điều 106) quy định về quan hệ hôn nhân và

gia đình có yếu tố nước ngoài Luật quy định về nguyên tắc áp dụng pháp luật đối với các quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài; thẩm quyền giải quyết các việc về hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài và các trường hợp

cụ thể: Kết hôn, ly hôn, nuôi con nuôi, giám hộ có yếu tố nước ngoài

Chương XII (Điều 107, Điều 108) quy định về xử lý vi phạm pháp luật

hôn nhân và gia đình

Chương XIII (Điều 109, Điều 110) quy định về hiệu lực thi hành và

hướng dẫn thi hành

Để Luật hôn nhân và gia đình được thực hiện tốt, ngày 09/6/2000, Quốc hội khóa X cũng đã thông qua Nghị quyết số 35/2000/QH10 về việc thi hành Luật hôn nhân và gia đình

1.1.2.2 Đồng bào dân tộc thiểu số và những đặc điểm cần chú ý trong tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình

Đồng bào dân tộc là những dân tộc thiểu số cùng sống trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Do phong tục, tập quán đồng bào dân tộc thiểu số có những đặc điểm đáng chú ý sau:

- Thứ nhất, Đồng bào dân tộc thiểu số là những cộng đồng người sống

rải rác ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo

Do phong tục tập quán và thói quen sinh hoạt, đồng bào các dân tộc thiểu số thường sống phân tán ở vùng xa xôi hẻo lánh, đường giao thông đi lại còn khó khăn, nhiều nơi phương tiện đi lại chủ yếu dựa vào đôi chân; Có xã miền núi số dân không đông nên tập hợp là việc khó, muốn gặp gỡ để tuyên truyền vận động phải đi

bộ hàng ngày đường Vì lẽ đó việc tiếp cận thông tin của đồng bào cũng như việc tiếp cận để tìm hiểu để tuyên truyền vận động còn gặp rất nhiều khó khăn

- Thứ hai, Điều kiện sống cũng như lao động sản xuất của đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều thiếu thốn

Do sống phân tán, không có thói quen giao lưu học hỏi, trao đổi kinh nghiệm sống cũng như lao động sản xuất Cuộc sống của đồng bào dân tộc

Trang 16

thiểu số thường mang tính chất tự cung, tự cấp, chủ yếu dựa vào chăn nuôi, trồng trọt; năng suất lao động thấp, kinh tế yếu kém; Thời gian cũng như phương tiện thu nhận thông tin còn thiếu chính vì vậy, sự hiểu biết nói chung

và đặc biệt là sự hiểu biết về luật pháp của đồng bào còn nhiều hạn chế

- Thứ ba, Giao tiếp bằng tiếng phổ thông còn khó khăn

Do đời sống còn nhiều thiếu thốn, điều kiện đến trường lớp còn hạn chế, (nếu có cũng không được học hành cơ bản) nên trình độ nhận thức của đa

số đồng bào dân tộc thiểu số không cao; khả năng giao tiếp bằng tiếng phổ thông kém Trong cuộc sống hàng ngày, nhiều đồng bào còn không hiểu hết ý

và nghĩa của ngôn ngữ nói và viết Thời gian để nghe đài, đọc báo xem tivi không đáng kể, nếu có xem, đọc cũng không hiểu hết nhất là những chương trình có ý nghĩa thiết thực với đồng bào; thậm chí những chương trình, chuyên mục không đáp ứng nhu cầu, hứng thú cũng không được đồng bào quan tâm tiếp nhận đây là những trở ngại rất lớn trong công tác tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số

- Thứ tư, tính đặc thù trong phong tục tập quán của đồng bào dân tộc

thiểu số

Mỗi dân tộc đều có phong tục tập quán đặc thù của mình Phong tục tập quán là những thói quen đã ăn sâu vào đời sống xã hội được mọi người công nhận và làm theo Những thói quen trong nhận thức, ứng xử của mỗi dân tộc

là những khuôn mẫu, những quy tắc chi phối hành vi của các thành viên và được hình thành trong quá trình phát triển của dân tộc ấy Phong tục, tập quán tồn tại dưới dạng quy ước, hương ước, quy định điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong cộng đồng Tính cưỡng chế của nó được thực hiện thông qua

dư luận, qua niềm tin của cá nhân, của cộng đồng xã hội Những hương ước, quy ước được biểu hiện dưới nhiều hình thức như: pháp luật, quy ước thôn bản, phum, sóc theo quy định của nhà nước hoặc những lệ làng, hương ước, luật tục Lệ làng, hương ước hay luật tục là sự dung hoà về quyền lợi giữa nhà nước và thôn bản, phum, sóc với những đặc thù riêng của nó Phong tục tập

Trang 17

quán là một thể loại văn hoá phi vật thể và thông qua phong tục tập quán ta có thể nhận biết nề nếp sinh hoạt, quan niệm sống, thói quen, cách tư duy, ứng

xử của một cộng đồng dân cư Từ những nội dung trình bày nêu trên cho ta thấy được tầm quan trọng của phong tục, tập quán trong đời sống của cộng đồng người nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng Trong tuyên truyền, nếu nội dung phù hợp với phong tục tập quán của đồng bào chắc chắn

sẽ nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ và ngược lại Việt Nam, một đất nước có 54 dân tộc anh em cùng chung sống, điều đó cũng có nghĩa là có 54 phong tục tập quán trong hôn nhân Vấn đề là ở chỗ người tuyên truyền phải biết khai thác, kết nối để các đồng bào dân tộc thiểu số nhận thức được tầm quan trọng cũng như sự cần thiết phải tuân thủ Luật hôn nhân và gia đình là một trong những điều kiện để họ vươn tới một cuộc sống văn minh, tốt đẹp hơn

Có thể nói, khi tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số, các đặc điểm trên tác động không nhỏ đến hiệu quả tuyên truyền Đây là những vấn đề mà người làm công tác tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số không thể không quan tâm

1.1.2.3 Các yếu tố cấu thành công tác tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số

* Chủ thể tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình

Chủ thể có thể hiểu “là đối tượng gây ra hành động mang tính tác động trong quan hệ đối lập với đối tượng bị chi phối của hành động” [83, tr.132]

Chủ thể tuyên truyền là những giai cấp, những tổ chức, những cộng đồng xã hội mà lợi ích của họ gắn liền với các hoạt động tuyên truyền

Như vậy, chủ thể tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình được hiểu là tất cả những người, tổ chức theo chức năng, nhiệm vụ hay trách nhiệm xã hội tham gia vào tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình nhằm thực hiện các mục đích của tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình

Căn cứ vào mức độ liên quan giữa mục đích tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình với chức năng, nhiệm vụ tuyên truyền Luật hôn nhân và gia

Trang 18

đình, thì chủ thể tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình chủ thể tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình được xác định như sau:

- Các cơ quan của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và cán bộ chuyên trách công tác tuyên truyền trong các cơ quan đó

- Các báo cáo viên, tuyên truyền viên và cán bộ công tác trong ngành tư pháp, cán bộ làm công tác truyền thông đại chúng…

* Đối tượng của hoạt động tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình

Luật hôn nhân và gia đình có liên quan đến tất cả mọi người trong xã hội vì vậy đối tượng của hoạt động tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình là các tầng lớp nhân dân khác nhau trong xã hội có độ tuổi, giới tính, có trình độ, nhu cầu, sở thích khác nhau…Việc xác định đúng đối tượng để lựa chọn nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện tuyên truyền phù hợp là một trong những điều kiện quan trọng để tuyên truyền có hiệu quả Đối tượng tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình bao gồm các đối tượng sau:

+ Đối tượng tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình là những người chưa đến tuổi kết hôn và đang độ tuổi kết hôn

+ Đối tượng tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình là những người làm cha, làm mẹ

+ Đối tượng tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình là những thành viên của gia đình như: ông, bà; con, cháu

Những đối tượng trên là đối tượng tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình Họ cần được trang bị kiến thức pháp luật về Luật hôn nhân và gia đình

và thực hiện nghĩa vụ theo luật pháp và sẽ bị xử lý nghiêm nếu vi phạm luật

* Mục đích tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình

Khi tiến hành hoạt động thì việc xác định mục đích có ý nghĩa vô cùng quan trọng Việc xác định mục đích sẽ chi phối việc xây dựng nội dung cũng như lựa chọn hình thức và phương pháp hoạt động Trong tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình, việc xác định mục đích cũng bao hàm các ý nghĩa kể

Trang 19

trên Mục đích chẳng những là cơ sở để xây dựng nội dung cũng như lựa chọn hình thức và phương pháp hoạt động phù hợp với từng đối tượng mà còn là căn cứ để xác định các tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả hoạt động tuyên truyền Hoạt động tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số có mục đích sau:

Thứ nhất, Nâng cao nhận thức cho đồng bào dân tộc thiểu số về Luật hôn nhân và gia đình

+ Phải làm cho đồng bào nhận thức đúng, đầy đủ về hôn nhân và gia đình theo luật

- Đa số những người vi phạm luật pháp của nhà nước là do thiếu hiểu biết về luật pháp Đối với đồng bào dân tộc thiểu số do hạn chế về trình độ nhận thức, sử dụng tiếng phổ thông còn hạn chế nên nhiều người vì thiếu hiểu biết hoặc hiểu sai đã vi phạm luật pháp Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình,

sự kết hợp giữa luật pháp và phong tục, tập quán ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số để thực hiện hành vi hôn nhân còn nhiều hạn chế Chính vì vậy, tuyên truyền và làm cho đồng bào có được nhận thức đúng, đầy đủ về hôn nhân và gia đình là mục đích đầu tiên của hoạt động tuyên truyền

+ Làm cho đồng bào dân tộc thiểu số thấy được sự cần thiết phải thực hiện Luật hôn nhân và gia đình

Sự ổn định của một xã hội bao giờ cũng liên quan chặt chẽ đến sự tuân thủ luật pháp của mỗi người dân Nhận thức đúng và đầy đủ của người dân chưa phải là điều kiện cần thiết để Luật hôn nhân và gia đình trở thành hiện thực Từ hiểu biết, mỗi người dân cần phải ý thức được: thực hiện luật pháp của nhà nước là có lợi cho họ, làm cho cuộc sống của họ ngày càng tốt hơn, văn minh hơn Chẳng hạn, theo tập tục của người H’Mông, nam bao giờ cũng được quí trọng hơn nữ Phụ nữ H’Mông bị thiệt thòi về mọi mặt (con trai được chia đều tài sản, con gái chỉ được chia của hồi môn khi

đi lấy chồng; khi chồng chết thì phải lấy em chồng, nếu muốn lấy chồng khác thì phải để tài sản lại gia đình chồng ); do đó, phụ nữ H’Mông muốn

Trang 20

theo đạo Tin lành bởi vì họ được giải phóng khỏi một số tập tục lạc hậu và được tôn trọng Đối với đồng bào dân tộc, tuyên truyền được tiến hành bằng nhiều con đường khác nhau để làm cho đồng bào hiểu biết đầy đủ và

tự giác tuân thủ luật pháp là việc làm trực tiếp góp phần làm cho xã hội phát triển bền vững và văn minh

Trong hoạt động tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số, mục đích là làm cho đồng bào dân tộc có hiểu biết rõ ràng và

Thứ ba là, tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số phải có tác dụng thu hút đồng bào tham gia tích cực, tự giác vào các chương trình, các phong trào phổ biến, thực hiện Luật hôn nhân và gia đình trong cộng đồng

Thực hiện mục đích này là cả một quá tŕnh, đòi hỏi cán bộ tuyên truyền phải có sự kiên trì phối hợp với các cơ quan chức năng khác mới có thể trở thành hiện thực

* Nội dung tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình

Một trong những yếu tố quan trọng của tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình đó chính là nội dung của Luật hôn nhân và gia đình Nội dung tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc được xác định trên cơ

Trang 21

sở mục đích, nhiệm vụ, đối tượng của tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc Việc xác định đúng nội dung tuyên truyền là điều kiện đảm bảo chất lượng của hoạt động tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình có hiệu quả thiết thực và cụ thể Nội dung tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số là sự cụ thể hoá mục đích của tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số

Tất cả những nội dung tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình là những tri thức cần thiết cho đồng bào dân tộc thiểu số sử dụng để phân tích, đánh giá một cách khoa học những vấn đề thực tế mà họ va chạm, từ đó định hướng hành vi chấp hành Luật hôn nhân và gia đình trong hoạt động thực tiễn

Luật hôn nhân và gia đình đã được Quốc hội khóa 10 kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 09/6/2000 và có hiệu lực từ ngày 01/01/2001, gồm 13 chương

và 110 điều, thay thế Luật hôn nhân và gia đình 1986; Pháp lệnh hôn nhân và gia đình giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài 1993

Nội dung chủ yếu của những chương này là quy định nhiệm vụ, phạm

vi điều chỉnh; những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình, trách nhiệm của nhà nước và xã hội đối với hôn nhân và gia đình; bảo vệ chế

độ hôn nhân gia đình, việc áp dụng các quy định của bộ Luật hình sự, phong tục tập quán về hôn nhân và gia đình, đối với quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nước ngoài Đặc biệt tại chương này còn dành 8 điều để giải thích từ

ngữ có liên quan

* Hình thức tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình

Theo Từ điển tiếng Việt thì “hình thức là bên ngoài, cái chứa đựng nội

dung, là cách thức tiến hành” [83, tr.325]

Hình thức tuyên truyền là biểu hiện bề ngoài của nội dung, là hình thức

tổ chức hoạt động truyền bá và tiếp nhận nội dung của chủ thể và đối tượng Hình thức tuyên truyền rất đa dạng, phong phú Việc lựa chọn hình thức nào

là do đối tượng và nội dung quy định

Trang 22

Từ nhận thức trên, hình thức tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình được hiểu là cách thức tổ chức phối hợp giữa chủ thể và đối tượng, là cách bố trí sắp xếp các yếu tố đảm bảo và các bước tiến hành theo một trật tự nhất định nhằm hình thành ở đối tượng tri thức về Luật hôn nhân và gia đình, tình cảm và thái độ xử sự đối với luật này Như vậy, hình thức tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình chính là hình thức tổ chức hoạt động phối hợp giữa chủ thể tuyên truyền và đối tượng tuyên truyền, được quy định bởi mục đích, nội dung tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình

Hình thức tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình rất đa dạng và phong phú, nó luôn được hoàn thiện và phát triển Căn cứ vào tính đa dạng, đặc thù của chủ thể, đối tượng tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình, chúng ta có thể chia hình thức tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình thành các loại sau:

+ Các hình thức tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình mang tính phổ

biến truyền thống, được sử dụng trong nhiều loại hình tuyên truyền như:

Tuyên truyền miệng về Luật hôn nhân và gia đình tại các cơ quan Nhà nước, địa bàn dân cư; Các lớp tập huấn, các hội nghị, hội thảo; các Câu lạc bộ pháp luật; Các cuộc thi tìm hiểu về Luật hôn nhân và gia đình; tuyên truyền, giải thích, hướng dẫn về Luật hôn nhân và gia đình thông qua báo chí, các phương tiện thông tin đại chúng

+ Các hình thức tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình có tính chất

đặc thù, đây là các hoạt động định hướng tuyên truyền Luật hôn nhân và gia

đình thông qua các hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp của các cơ quan Nhà nước như Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Viện Kiểm sát Hình thức tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình qua các hoạt động của các tổ chức chính trị

- xã hội, tổ chức quần chúng, tổ chức nghề nghiệp, tổ hòa giải, trợ lý pháp lý

Để truyền tải các nội dung của Luật hôn nhân và gia đình đến các đối tượng cụ thể cần phải kết hợp các hình thức tuyên truyền khác nhau nhằm phát huy sức mạnh của các hình thức đồng thời bổ sung, khắc phục hạn chế của từng hình thức

Trang 23

* Phương pháp tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình

Phương pháp tuyên truyền là các con đường, cách thức, biện pháp mà chủ thể sử dụng để truyền đạt và đối tượng sử dụng để lĩnh hội, tiếp nhận nội dung nhằm đạt mục đích đặt ra Phương pháp tuyên truyền trước hết do đối tượng quy định, đồng thời còn do mục đích và nội dung tuyên truyền quy định

Dựa vào quan niệm trên thì phương pháp tuyên truyền Luật hôn nhân

và gia đình được hiểu là tổng thể cách thức, biện pháp mà chủ thể và đối tượng tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình sử dụng để thỏa mãn mục đích tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình

Phương pháp tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình bao gồm các phương pháp: Đối thoại (nêu vấn đề, đàm thoại); phương pháp thuyết trình; phương pháp trực quan; Phương pháp ám thị; Phương pháp nêu gương; phương pháp cá nhân

* Phương tiện tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình

Phương tiện tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình là yếu tố quan trọng để đưa Luật hôn nhân và gia đình đến với mọi loại đối tượng; đây là một yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tuyên truyền Phương tiện tuyên truyền là những vật mang nội dung và phương pháp tác động tư tưởng, là những công cụ hoạt động của chủ thể sử dụng để tác động đến đối tượng; Nhờ công cụ này, đối tượng có thể tiếp nhận được nội dung thông tin tuyên truyền Với cách hiểu như trên, phương tiện tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình được hiểu là những công cụ mà chủ thể tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình sử dụng để tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình đến đối tượng

Trong tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình, người ta sử dụng một số phương tiện như: Các phương tiện thông tin đại chúng, tuyên truyền miệng, văn hóa - văn nghệ, nhà trường và các thiết chế xã hội Trong các phương tiện trên, mỗi phương tiện đều có những ưu điểm và hạn chế, do vậy trong quá trình tuyên truyền, chủ thể tuyên truyền cần nghiên cứu lựa chọn, phối hợp các phương tiện tuyên truyền cho phù hợp với từng loại đối tượng

Trang 24

Các yếu tố nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện tuyên truyền

có quan hệ biện chứng, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tuyên truyền luật hôn nhân và gia đình Hiệu quả tuyên truyền là kết quả tổng hợp của các yếu tố trên Muốn nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cần tiến hành nghiên cứu và tác động vào từng yếu tố để đạt mục đích tuyên truyền

Từ những phân tích trên, có thể hiểu tuyên truyền Luật hôn nhân và gia

đình cho đồng bào dân tộc là hoạt động có chủ đích của chủ thể tuyên truyền thông qua việc thực hiện mục đích, nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện tuyên truyền để tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến đối tượng nhằm hình thành ở đối tượng ý thức, thái độ tôn trọng và tự giác tuân thủ luật

1.2 Hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số và tiêu chí đánh giá

1.2.1 Hiệu quả và hiệu quả tuyên truyền

Tuyên truyền là một bộ phận của công tác tư tưởng Để nghiên cứu hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình, tác giả luận văn dựa vào phương pháp đánh giá hiệu quả công tác tư tưởng để nghiên cứu hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số

- Hiệu quả và kết quả

Bất kỳ một hoạt động nào cũng có mục đích, mà mục đích là một trong những căn cứ để xem xét tính hiệu quả Hiệu quả của bất kỳ hoạt động nào cũng là sự tương quan giữa mục đích đề ra và kết quả đạt được trong một điều kiện xã hội nhất định Kết quả và mục đích gắn liền với nhau Kết quả là biểu hiện thực tế của mục đích, là mục đích đã được hiện thực hóa Còn mục đích lại chính là kết quả mà con người mong muốn đạt tới, là kết quả “giả định” trước Tuy nhiên, mục đích và kết quả không phải bao giờ cũng tương đồng với nhau Vì vậy, người ta cho rằng hiệu quả là

sự ăn khớp một phần hay hoàn toàn giữa kết quả với mục đích và nhiệm vụ

đã được từ trước

Trang 25

Như vậy, nói đến hiệu quả ta có thể hiểu hiệu quả là:

+ Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả trước và sau khi tiến hành một hoạt động, giữa kết quả đã có và kết quả sẽ có

+ Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt được và mục đích

+ Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí về vật lực, tài lực để đạt được kết quả đó

Nói về hiệu quả công tác tư tưởng, PGS.TS Lương Khắc Hiếu đã viết:

“Hiệu quả công tác tư tưởng là sự tương quan giữa kết quả đạt được do tác động tư tưởng mang lại với mục đích của công tác tư tưởng được đặt ra và với chi phí để đạt kết quả đó trong một điều kiện xã hội nhất định” [38, tr.280-281].

Như vậy, hiệu quả không phải là kết quả, kết quả là cái đạt được do hoạt động tuyên truyền mang lại, đó là sự thay đổi về nhận thức, thái độ, hành

vi của đối tượng sau một chu trình tác động của công tác tuyên truyền nhưng

chưa tính đến chi phí Còn hiệu quả là tương quan, là sự so sánh của kết quả

với mục đích và chi phí trong hoạt động tuyên truyền Nói cách khác, hiệu quả

là sự so sánh giữa cái đạt được (kết quả) với cái đặt ra (mục đích) và cái bỏ ra (chi phí) Chi phí càng thấp thì hiệu quả càng cao và ngược lại Như vậy hiệu quả là không đồng nhất với kết quả trong công tác tuyên truyền

Từ cơ sở lý luận trên có thể hiểu: hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân

và gia đình là sự tương quan giữa kết quả đạt được do tác động của tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình mang lại với mục đích của công tác tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình trong một điều kiện xã hội nhất định và với một chi phí nhất định

Hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình được diễn tả bằng công thức sau:

Sự thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi của đối tượng Hiệu quả TTLHN&GĐ =

Chi phí và nguồn lực được sử dụng

Trang 26

1.2.2 Tiêu chí đánh giá hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số

1.2.2.1 Nhóm tiêu chí đánh giá kết quả ở đối tượng tuyên truyền

- Thứ nhất, sự quan tâm của đồng bào dân tộc đến những thông tin về

Luật hôn nhân và gia đình Sự quan tâm của đồng bào dân tộc thiểu số có thể xuất hiện từ những lý do sau:

+ Tính nhạy cảm của thông tin về Luật hôn nhân và gia đình

+ Tính thiết thực của thông tin về Luật hôn nhân và gia đình đối với đồng bào dân tộc

+ Tính mới lạ, khác biệt được đề cập trong nội dung thông tin về Luật hôn nhân và gia đình

+ Do cách nói, cách viết hấp dẫn của người tuyên truyền

- Thứ hai, nhận thức của đồng bào dân tộc thiểu số về Luật hôn nhân và

gia đình

Công tác tuyên truyền tác động đến tất cả các mặt ý thức của con người Đối với mỗi cá nhân, hiệu quả mà tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình mang lại về mặt tinh thần thể hiện ở những tiêu chí sau: tính tích cực nhận thức - tri thức - niềm tin

Mức độ thấp nhất của hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình mang lại là việc hình thành sự quan tâm, chú ý của đối tượng đối với các nội dung của Luật hôn nhân và gia đình Những nội dung đó càng thiết thực bao nhiêu, càng thu hút sự quan tâm, chú ý của đồng bào bấy nhiêu Nhất là những nội dung gắn với từng địa phương cụ thể, những tình huống cụ thể trong hôn nhân, như ngoài quy định chung về độ tuổi kết hôn, nhiều khả năng

sẽ có “ngoại lệ” về tuổi kết hôn của nữ giới thuộc một số dân tộc thiểu số (từ

16 tuổi sẽ được kết hôn); mặc dù chưa có kết luận nhưng đây là những nội dung được đồng bào dân tộc (đặc biệt là thanh niên dân tộc) quan tâm tìm hiểu Hay dự thảo sửa đổi luật: từ 1/7/2013, ngoại tình bị phạt 1 triệu đồng…

Trang 27

Nhận thức giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng thái độ và hành vi của đồng bào dân tộc Trên cơ sở nhận thức pháp lý về Luật hôn nhân và gia đình, thái độ, niềm tin đối với Luật hôn nhân và gia đình ở đồng bào dân tộc sẽ hình thành khi họ nhận thức được Luật hôn nhân và gia đình - là một nội dung tiến bộ, khoa học, là những chuẩn mực trong quan niệm cũng như hành vi hôn nhân; là điều kiện quan trọng để cuộc sống của họ ổn định và bền vững sẽ hình thành ở đồng bào thái độ tôn trọng và muốn làm theo luật Đó cũng là cơ sở quan trọng, căn cứ vào đó đồng bào có thể điều chỉnh hoặc kiềm chế những hành động lệch chuẩn vì những mục đích, động cơ cá nhân Điều đó cũng có nghĩa là hoạt động tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình muốn có hiệu quả thì cần phải làm cho đồng bào dân tộc thiểu số nhận thức được những lợi ích mà luật đem lại Ở một số nơi, vì không có nhận thức đầy đủ nhận thức về Luật hôn nhân và gia đình đồng bào đã hành động một cách vô tình mà không biết là mình đã vi phạm luật Chẳng hạn, dân tộc Jrai, Bahnar ở Gia Lai còn tồn tại nhiều hủ tục lạc hậu như khi người mẹ mới sinh con mà chết thì con phải chết theo mẹ; con sinh ra mà không có cha thì bị giết chết hoặc sinh đôi thì phải giết một trong hai …Các hủ tục lạc hậu này, đã đi ngược lại với các quy định nhân văn, tiến bộ của Luật hôn nhân và gia đình năm

2000 Rõ ràng, nhận thức đúng sẽ giúp cho đồng bào dân tộc thiểu số có thái độ và hành động đúng trong các tình huống hôn nhân và gia đình

- Thứ ba, thái độ, niềm tin của đồng bào đối với Luật hôn nhân và gia đình

Nhận thức về Luật hôn nhân và những tác động tích cực của nó là điều kiện quan trọng để hình thành những thái độ nhất định ở đồng bào dân tộc thiểu

số Do tính nhạy cảm và thiết thực của luật có thể hình thành ở đối tượng thái độ khác nhau đối với việc chấp hành luật Đồng bào chỉ sẵn sàng thực hiện luật khi nhận thấy nó phù hợp với nhu cầu lợi ích của họ và ngược lại Luật hôn nhân và

Trang 28

gia đình chỉ trở thành hiện thực khi đồng bào dân tộc thiểu số có niềm tin, tự giác tham gia một cách tích cực; Vì vậy công tác tuyên truyền phải làm thế nào

để khơi dậy vấn đề này ở đồng bào dân tộc thiểu số Đây là cơ sở quan trọng để làm xuất hiện ở đồng bào những hành vi tương ứng

- Thứ tư là sự sẵn sàng của đồng bào dân tộc thiểu số tham gia vào các phong trào, các chương trình vận động sống và làm theo hiến pháp và pháp luật

Trên cơ sở những nhận thức và thái độ đối với Luật hôn nhân và gia đình đồng bào dân tộc thiểu số có thể từ chối hoặc sẵn sàng tham gia vào các phong trào “Xây dựng gia đình văn hóa”, “Ngày pháp luật” Sự tương ứng giữa nhận thức, thái độ của đồng bào đối với Luật hôn nhân và gia đình dẫn tới các mức độ tính tích cực khác nhau, các mức độ đó thể hiện như sau:

Mức độ thứ nhất, đối tượng tham gia vào hoạt động thực hiện Luật hôn

nhân và gia đình là do ý thức về vai trò, trách nhiệm và nghĩa vụ công dân của mình với gia đình và xã hội

Mức độ thứ hai, do nhận thức được tầm quan trọng của việc chấp hành

luật pháp của mỗi người là điều kiện quan trọng đảm bảo cho sự ổn định và phát triển bền vững của cộng đồng, của đất nước mà đồng bào chủ động tự giác tham gia phong trào, các hoạt động thực thi luật pháp trong đó có Luật hôn nhân và gia đình

Mức độ thứ ba, đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ chủ động, tự giác

thực hiện Luật hôn nhân và gia đình mà còn tuyên truyền vận động người khác trong cộng đồng cùng tham gia

Rõ ràng hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình phải là kết quả của sự thống nhất chặt chẽ giữa nhận thức - thái độ - hành vi của đồng bào dân tộc thiểu số, trong đó việc chấp hành nghiêm Luật hôn nhân và gia đình là tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân

và gia đình ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số

Trang 29

1.2.2.2 Nhóm tiêu chí đánh giá về việc sử dụng các nguồn lực trong hoạt động tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình

Để đạt hiệu quả cao trong tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cần

có sự phối hợp đồng bộ giữa các nguồn lực: nhân lực, tài lực và vật lực Sự phối hợp này được thể hiện như sau:

- Thứ nhất, về nguồn lực con người

Đối với chủ thể lãnh đạo hoạt động tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình

+ Sự quan tâm đầu tư của các cấp lãnh đạo với vấn đề tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình

Hoạt động tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình có hiệu quả cao hay thấp trước hết phụ thuộc vào sự quan tâm, đầu tư của các cấp lãnh đạo Đảng và chính quyền địa phương Muốn lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình, điều kiện đầu tiên là các cấp lãnh đạo phải nhận thức đầy đủ, sâu sắc về Luật hôn nhân và gia đình; ảnh hưởng của việc thực hiện luật đối với sự phát triển bền vững của cộng đồng Sự quan tâm ấy được thể hiện trong việc hoạch định các chương tŕnh, kế hoạch về tuyên truyền và thực hiện; là việc lồng ghép nội dung, chương trình, kế hoạch tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình vào hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, đồng thời có sự kiểm tra, giám sát

+ Sự quan tâm của các cấp lãnh đạo và chính quyền còn thể hiện ở việc tạo điều kiện về vật chất và tinh thần cần thiết cho hoạt động tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình; lựa chọn, phân công những cán bộ có năng khiếu, sở trường nói và viết tham gia vào hoạt động này

Đối với cán bộ tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình

Để Luật hôn nhân và gia đình đi vào cuộc sống của đồng bào các dân tộc, cán bộ tuyên truyền là cầu nối quan trọng để đưa những quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về Luật hôn nhân và gia đình đến với đồng bào dân tộc Để tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình, cán bộ

Trang 30

tuyên truyền trước hết phải là người am hiểu sâu sắc về luật này đồng thời có

kỹ năng tuyên truyền thích hợp với từng loại đối tượng Muốn vậy, họ phải được đào tạo, được trang bị những kỹ năng cần thiết về công tác tuyên truyền,

cổ động Luật hôn nhân và gia đình; phải là những người có nhiệt huyết, có tinh thần, trách nhiệm cao

Hiệu quả tuyên truyền về Luật hôn nhân và gia đình là kết quả tổng hợp của các nguồn lực trong xã hội Do vậy, việc chủ động phối hợp hoạt động của các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức chính trị - xã hội có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình Sử dụng hợp lý các nguồn lực trong hoạt động tuyên truyền, phát huy được sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực đó là điều kiện đảm bảo cho tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình có hiệu quả cao nhất và bền vững nhất

- Thứ hai, chi phí về thời gian, kinh phí, cơ sở vật chất - kỹ thuật cho

hoạt động tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình

Để Luật hôn nhân và gia đình trở thành ý thức thường trực trong nhận thức hành vi của đồng bào các dân tộc, hoạt động tuyên truyền cần phải tiêu tốn thời gian nhất định Đó là việc tiến hành tuyên truyền thường xuyên, liên tục, nhất là đối tượng tuyên truyền còn nhiều hạn chế về nhận thức như các đồng bào dân tộc, công tác tuyên truyền phải được tiến hành kiên trì theo phương thức "mưa dầm, thấm lâu" mới mong có hiệu quả

Nhiều chương trình, kế hoạch, ý tưởng không trở thành hiện thực nếu không được đầu tư Kinh phí cần thiết ở các khâu của hoạt động tuyên truyền,

từ việc xác định mục đích, xây dựng chương trình kế hoạch đến biên soạn nội dung đến sử dụng các hình thức, phương pháp, phương tiện tuyên truyền trong một khoảng thời gian nhất định

Hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật là điều kiện quan trọng để tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình có hiệu quả, bao gồm: cơ sở vật chất kỹ thuật để thực hiện các hoạt động truyền thông; hoạt động của các thiết chế

Trang 31

văn hóa Hệ thống cơ sở vật chất - kỹ thuật giúp cho nội dung của Luật hôn nhân và gia đình được lan truyền rộng rãi đến mọi người trong xã hội, đặc biệt

là đến với đồng bào dân tộc ở vùng xa, vùng sâu, vùng biên giới, hải đảo

Việc sử dụng thời gian, kinh phí, cơ sở vật chất - kỹ thuật hợp lý là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình

Tóm lại, sự phân chia hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình thành các yếu tố trên đây chỉ là tương đối; để chúng ta dễ nhận diện vai trò của từng yếu tố trong hoạt động tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình; trên thực tế các yếu tố này có quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau và ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả hoạt động tuyên truyền

1.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân

và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số

1.3.1 Xuất phát từ hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình ở vùng các đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều hạn chế

Sự hình thành và phát triển của ý thức pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số phụ thuộc vào nhiều yếu tố như điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá của mỗi dân tộc ở các giai đoạn lịch sử khác nhau Do vậy, đó để hình thành và nâng cao ý thức pháp luật cho đồng bào dân tộc một điều kiện rất quan trọng đặt ra đối với hoạt động tuyên truyền là phải có phương thức phù hợp Phương thức tuyên truyền là phải gắn với việc nâng cao ý thức chính trị, xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ và xây dựng đời sống văn hóa nơi đồng bào cư trú Từ khi đất nước hoàn toàn giải phóng đến nay đã gần 40 năm, việc thực hiện luật pháp nói chung, Luật hôn nhân và gia đình nói riêng

ở vùng đồng bào dân tộc vẫn còn nhiều hạn chế Xuất phát từ đặc điểm của đồng bào dân tộc là: sống phân tán, điều kiện giao lưu, học hỏi trao đổi kinh nghiệm hạn chế; điều kiện sống thấp, trình độ văn hóa và nhận thức có hạn Thêm vào đó là sự ràng buộc, chi phối của phong tục tập quán nên việc thực hiện Luật hôn nhân và gia đình còn nhiều vấn đề phải giải quyết

Trang 32

Do thiếu nhận thức đầy đủ luật pháp, ở một số nơi đồng bào dân tộc sinh sống vẫn xảy ra những những vụ vi phạm Luật hôn nhân và gia đình Đó

là các vụ tảo hôn; ép cưới, gả; ngược đãi với trẻ em và không có trách niệm đầy đủ với người già lão.v.v Vì những lý do trên, việc nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình được đặt ra như một trong những nhiệm vụ cấp bách nhằm góp phần ổn định chính trị và giữ gìn an ninh xã hội

1.3.2 Nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc là góp phần đẩy nhanh hơn nữa việc xóa bỏ các tập tục lạc hậu

Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật nói chung và Luật hôn nhân và gia đình nói riêng có tầm quan trọng đặc biệt trong đời sống xã hội Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật giúp con người hiểu biết và nhận thức rõ đời sống pháp luật xã hội, giúp con người ý thức được những hành vi của mình trước các hiện tượng pháp luật, thông qua đó con người thực hiện hay không thực hiện các hành vi pháp luật Trên thực tế đời sống pháp luật xã hội có rất nhiều vấn đề phức tạp dẫn đến con người ý thức chưa đầy đủ hành vi của bản thân và vi phạm pháp luật, vi phạm những chuẩn mực đạo đức xã hội Khi con người có nhận thức và thái độ đúng đắn đối với pháp luật thì con người sẽ biết sống và làm việc theo hiến pháp và pháp luật

Các đồng bào dân tộc chủ yếu sinh sống tập trung tại các phum, sóc, thôn, bản vùng sâu, vùng xa; điều kiện kinh tế vô cùng khó khăn, trình độ dân trí, trình độ pháp lý thấp, lại bị chi phối nhiều bởi các hủ tục lạc hậu Vì vậy, một trong những tiêu chí để đánh giá văn minh của một dân tộc chính là khả năng nhận thức và chấp hành luật pháp của nhà nước

Trong quá trình sống, các thói quen, phong tục tập quán chi phối mạnh

mẽ nhận thức, thái độ và hành vi của đồng bào Dù biết là có hại cho cộng đồng nhưng những thói quen, phong tục tập quán vẫn được duy trì và thực hiện Chẳng hạn, như việc ăn gạo ủ mốc của dân tộc H’rê ở miền Trung là

Trang 33

nguyên nhân gây bệnh “lạ” của chứng viêm da, dày sừng lòng bàn tay, bàn chân và tăng men gan … nhưng khi cơ quan y tế yêu cầu thay đổi lại gặp phản ứng mạnh mẽ từ phía đồng bào Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình cũng vậy, mặc dù có sự tuyên truyền, giáo dục từ các tổ chức đoàn thể nhưng phong tục tập quán vẫn có sức mạnh và chi phối nhận thức cũng như thái độ

và hành vi của các đồng bào dân tộc

Đến nay, tuy đã bước sang thập niên thứ 2 của thế kỷ 21 nhưng ở Việt Nam vẫn còn những tộc người sống theo những tập tục lạc hậu, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe, đến sự phát triển ổn định, bền vững của cộng đồng

Ví dụ, người Mông, khi gia đình có người chết thì người đó vẫn được coi như sống, mọi người vẫn cho người chết ăn, uống Hàng ngày, người sống khiêng người chết ra sân, đặt ngửa lên tấm ván đã chuẩn bị sẵn, để người chết được

"ngắm" mặt trời Dù mưa hay nắng thì phải chờ khi mặt trời mọc mới được khiêng người chết vào nhà…sự thối vữa của xác chết cũng như sự ô nhiễm môi trường đã ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của người sống Rõ ràng, đây là những hủ tục cần phải tuyên truyền loại bỏ khỏi đời sống cộng đồng

Bằng nhiều nội dung và hình thức khác nhau, hoạt động tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình thông qua tác động vào nhận thức, tình cảm và hành vi của đồng bào dân tộc, góp phần quan trọng trong việc đẩy lùi các tập tục lạc hậu, làm cho cuộc sống của đồng bào ngày càng văn minh, tiến bộ

1.3.3 Phải nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc là vì hiểu biết của đồng bào về Luật hôn nhân

và gia đình còn chưa đầy đủ

Sự đồng thuận, nghiêm chỉnh chấp hành luật pháp của toàn dân trong

xã hội chính là góp phần xây dựng một xã hội ngày càng văn minh hơn, tốt đẹp hơn Việc thực hiện Luật hôn nhân và gia đình đối với đồng bào ít nhiều cũng gặp những trở ngại từ phong tục tập quán, ảnh hưởng không nhỏ đến việc tuyên truyền và thực hiện Luật Các hành vi vô tình vi phạm luật như:

Trang 34

nam nữ chung sống với nhau với nhau như vợ chồng, không đăng ký kết hôn; việc ngược đãi vợ, với trẻ em, người già do những cơn nóng giận nhất thời không bị lên án mà còn được cộng đồng nơi đó bảo vệ và công nhận; khi xảy

ra tranh chấp, tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết lại gặp phải sự phản đối của các bên đương sự hoặc trường hợp tranh chấp về các

lễ vật, sính lễ theo phong tục cưới, hỏi.v.v tình trạng trên có nguyên nhân từ

sự hiểu biết của đồng bào dân tộc về Luật hôn nhân và gia đình còn chưa đầy

đủ Do đó phải thông qua nhiều con đường, nhiều biện pháp để nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào là một việc làm cần thiết Chỉ khi nào mục đích trên trở thành hiện thực thì tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình mới thực sự có hiệu quả

1.3.4 Phương thức tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cho đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay chưa thật phù hợp

Do sự phát triển của xã hội, đời sống của đồng bào các dân tộc ngày càng phát triển và tiến bộ So với trước đây, đồng bào ngày càng quan tâm nhiều hơn đến các lĩnh vực của đời sống xã hội Những cách thức tuyên truyền

cũ cho thấy chưa đáp ứng được mục đích của hoạt động tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình và không còn phù hợp với đối tượng Muốn thu hút sự quan tâm của đồng bào dân tộc đến Luật hôn nhân và gia đình thì phương thức tuyên truyền phải có sự thay đổi cho phù hợp với sự thay đổi của đồng bào ở mỗi giai đoạn Khi trình độ nhận thức cũng như nhu cầu thông tin của đồng bào đã có nhiều thay đổi và bối cảnh tuyên truyền không còn như xưa thì nội dung, hình thức, phương pháp, phương tiện tuyên truyền cần phải có sự đổi mới cho phù hợp Nội dung tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đìnhcần phải được biên soạn

đa dạng, sinh động hơn, gắn chặt hơn nữa với các đặc điểm nhận thức cụ thể của đồng bào dân tộc Nội dung tuyên truyền về Luật hôn nhân và gia đình phải được đưa vào nội dung hoạt động của các nhà trường; lồng ghép vào chương trình hành động của các lĩnh vực Việc thay đổi nhận thức và hành vi của các

Trang 35

đồng bào dân tộc không thể diễn ra một sớm một chiều mà đó phải là kết quả tác động từ nhiều phía Do nhận thức của đồng bào còn thấp, hoạt động tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình phải được tiến hành từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp; đến từng hộ gia đình trong xóm, ấp, phum, sóc; Hoạt động tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, bắt đầu từ điều kiện tiến hành hôn nhân theo quy định của luật pháp đến chung sống và trách nhiệm, nghĩa vụ đối với nhau giữa các thành viên trong gia đình Từ trước đến nay, tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình ở vùng đồng bào dân tộc được tiến hành chủ yếu qua tuyên truyền miệng; qua các phương tiện truyền thông đại chúng Nhưng vì trình độ và khả năng nhận thức của đồng bào có hạn, việc ghi nhớ để thực hiện không mấy dễ dàng; trong khi phong tục tập quán vẫn còn áp lực mạnh mẽ chi phối từng ngày, từng ngày, từng giờ lối sống của họ Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cần phải đưa vào nội dung hoạt động cũng như có sự phối hợp chặt chẽ nhiều hơn nữa giữa các tổ chức đoàn thể Phải sử dụng những hình thức tuyên truyền đa dạng, cụ thể hơn nữa để thu hút sự quan tâm của đồng bào Đặc biệt chú ý đến thời lượng cũng như thời điểm tuyên truyền sao cho đầy đủ và thích hợp Xuyên suốt các nội dung và hình thức, phương pháp tuyên truyền cho đồng bào dân tộc là tính chất trực quan, cụ thể phù hợp với khả năng nhận thức của đồng bào ở từng vùng Việc sử dụng các phương pháp tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình cần ứng dụng công nghệ thông tin như: trình chiếu,

mô phỏng, có hình ảnh của những cá nhân, địa phương điển hình sẽ có tác dụng cổ vũ hành động mạnh mẽ; cùng với đó là tổ chức các phong trào hoạt động để thu hút sự tham gia đông đảo của đồng bào vào việc đấu tranh với các

hủ tục lạc hậu, các hành vi vi phạm Luật hôn nhân và gia đình ở các thôn, bản, phum, sóc góp phần nâng cao hiệu quả tuyên truyền Luật hôn nhân và gia đình

ở vùng đồng bào dân tộc

Trang 36

Chương 2 HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC KHMER Ở TỈNH SÓC TRĂNG

- Điều kiện tự nhiên

Sóc Trăng có địa hình thấp và tương đối bằng phẳng với độ cao trung bình từ 0,5m đến 1m so với mực nước biển Địa hình của tỉnh có dạng lòng chão, hướng đất dốc thấp dần từ Biển Đông vào vùng nội địa, vùng thấp nhất

là phía Tây và Tây Bắc Sóc Trăng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới chịu ảnh hưởng gió mùa, hàng năm có mùa khô và mùa mưa rõ rệt Nhiệt độ trung bình hàng năm là 26,80C, ít khi bị bão lũ Đất đai của Sóc Trăng có độ màu mỡ cao, thích hợp cho việc phát triển cây lúa nước, cây công nghiệp ngắn ngày Trong đó, tập trung sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối Đặc biệt, Sóc Trăng còn có dãy cù lao thuộc huyện Kế Sách, Long Phú và Cù Lao Dung chạy dài ra tận cửa biển với nhiều cây trái nhiệt đới, không khí trong lành như cồn Mỹ Phước, Khu du lịch Song Phụng, Cù Lao Dung là địa điểm lý tưởng để phát triển loại hình du lịch sinh thái Hệ thống kênh rạch của tỉnh chịu

Trang 37

ảnh hưởng của chế độ thủy triều ngày lên xuống 2 lần Thủy triều vùng biển không những gắn liền với các hoạt động sản xuất, sinh hoạt của cư dân địa phương, mà còn mang lại nhiều điều kỳ thú cho du khách khi đến tham quan,

du lịch và tìm hiểu hệ sinh thái rừng tự nhiên

2.1.1.2 Đặc điểm về kinh tế - xã hội

Địa lý hành chính của Sóc Trăng nhiều lần thay đổi theo sự biến thiên của lịch sử Từ năm 1780 Sóc Trăng thuộc vùng Ba Thắc thuộc trấn Vĩnh Thanh (vùng chợ Vĩnh Long) Đến năm 1835 lại lấy đất Ba Thắc (tức vùng đất Sóc Trăng) nhập vào tỉnh An Giang, lập thêm phủ Ba Xuyên (Đây là điểm mốc có ý nghĩa lịch sử rất quan trọng về địa danh hành chính tỉnh Sóc Trăng sau này)

Năm 1976, Sóc Trăng hợp nhất với tỉnh Cần Thơ và thành phố Cần Thơ thành tỉnh Hậu Giang, đến tháng 12/1991, tách tỉnh Hậu Giang thành hai tỉnh Sóc Trăng và Cần Thơ Tỉnh Sóc Trăng chính thức đi vào hoạt động vào đầu tháng 4/1992 và hiện nay (2014) tỉnh có 11 đơn vị hành chính, gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 9 huyện; có 109 xã, phường, thị trấn

- Đặc điểm dân cư

Dân số chung của tỉnh Sóc Trăng hiện nay là 1.303.662 người Trong

đó, dân tộc Kinh 837.450 người (chiếm 64,24%); Khmer 400.333 người (chiếm 30,71%); Hoa 65.453 người (chiếm 5,02%); dân tộc khác 426 người (chiếm 0,03%) Dân số thành thị chiếm 27,63% và dân số nông thôn chiếm 72,37% Tỉnh Sóc Trăng có cơ cấu dân số trẻ nên nguồn lao động dồi dào Tuy nhiên số lao động đã qua đào tạo so với dân số trong độ tuổi lao động của

Trang 38

tỉnh vẫn còn thấp Đa số cư dân các dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng hiện nay vẫn là

cư dân nông nghiệp và họ cư trú tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn Người Kinh, người Khmer và người Hoa đã cộng cư với nhau ở nhiều ấp, khóm của các xã, phường, thị trấn trên các vùng sinh thái đồng bằng, vùng đất giồng ven sông, rạch và ven biển tỉnh Sóc Trăng Nhưng nhìn trên bình diện chung trong toàn tỉnh Sóc Trăng thì người Kinh đã có mặt ở khắp mọi nơi, cả nông thôn lẫn thành thị, còn đa số người Hoa cư trú ở khu vực thành thị và tuyệt đại bộ phận người Khmer sinh sống ở khu vực nông thôn

- Đặc điểm về kinh tế

Với địa hình được thiên nhiên ưu đãi, Sóc Trăng là một trong những tỉnh

có tiềm năng phát triển kinh tế của Đồng bằng sông Cửu Long Một trong những thành tựu kinh tế lớn nhất của tỉnh Sóc Trăng trong những năm qua là nông nghiệp phát triển mạnh, đặc biệt là về sản xuất lương thực Bởi diện tích đất tự nhiên là 331.118 ha, trong đó, diện tích đất nông nghiệp chiếm hơn 80% Với điều kiện thuận lợi như trên, lương thực sản xuất được hàng năm của tỉnh không những đủ đáp ứng tiêu dùng mà còn xuất khẩu ra nước ngoài, Sóc Trăng là một trong những tỉnh có lượng xuất khẩu gạo lớn của Đồng bằng sông Cửu Long Thủy sản được xác định là ngành mũi nhọn của tỉnh Với ưu thế có bờ biển dài 72km, nhiều sông rạch thuận lợi cho việc nuôi trồng các loại tôm, cua, cá giúp cho việc chế biến xuất khẩu ngày càng phát triển Về công nghiệp, dưới thời thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, Sóc Trăng trong tình trạng chung của khu vực, có nền công nghiệp yếu kém, kéo dài hơn một thế kỷ Hiện nay, nhiều xí nghiệp chế biến tôm đông lạnh, nhà máy xay xát công xuất lớn, xí nghiệp sửa chữa cơ khí, nhà máy đường kết tinh, nhà máy nước đá, xí nghiệp gạch Tuy-nen, trạm biến điện, nhà máy bia đã được đầu tư xây dựng và phát triển

Về hoạt động thương mại dịch vụ: Thương mại dịch vụ của tỉnh Sóc Trăng đã có bước phát triển đáng kể, hệ thống chợ, phố, khu thương mại tại trung tâm thành phố Sóc Trăng, các chợ đầu mối lúa, cá, tôm ở các huyện, thị

xã, kể cả các chợ ở khu vực nông thôn đã và đang được đầu tư xây dựng, nâng cấp và mở rộng Bên cạnh đó, du lịch là một ngành giàu tiềm năng ở Sóc

Trang 39

Trăng, vì nơi đây nổi tiếng với những ngôi chùa có lịch sử lâu đời, kiến trúc đẹp, như: chùa Dơi, chùa Đất Sét, chùa Khleang,

- Đặc điểm về văn hóa

Sóc Trăng là tỉnh có 3 dân tộc Kinh, Khmer, Hoa sinh sống đan xen Thông qua lao động, sản xuất và hòa cùng lịch sử văn minh của các dân tộc Việt, 3 dân tộc anh em ở Sóc Trăng đã hình thành một đời sống văn hóa khá phong phú, biểu hiện ở thế giới quan, nhân sinh quan, phong cách tư duy, lối sống, sinh hoạt, ứng xử, tình cảm của con người Trải qua bao thăng trầm biến cố và phát triển của lịch sử, các dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng đã có mối quan

hệ gắn bó huyết thống, xây dựng nên tinh thần thân ái, đùm bọc lẫn nhau trong cơn hoạn nạn, giúp đỡ nhau trong lao động sản xuất, tôn trọng nhau trong sinh hoạt, phong tục tập quán, tự do tín ngưỡng v.v tạo nên cuộc sống hài hòa về kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng các dân tộc

Cư dân trong vùng theo nhiều tôn giáo, tín ngưỡng khác nhau, nhưng các cộng đồng dân cư ở đây không tồn tại biệt lập theo từng không gian văn hóa tộc người riêng lẻ mà sống xen kẽ nhau cùng một đơn vị hành chính Đây là điều kiện để các dân tộc giao lưu, tiếp nhận văn hóa lẫn nhau, đồng thời làm giàu thêm bản sắc văn hóa vốn có của mình Tựu trung lại, cư dân các dân tộc ở tỉnh Sóc Trăng đã tập hợp lại thành xóm làng gắn với đình làng thờ Thành Hoàng của người Kinh, thành phum, sóc gắn với chùa chiền thờ Phật theo Phật giáo Nam tông của người Khmer và thành khu dân cư gắn với hội quán và các

cơ sở tín ngưỡng thờ Quan Công, Ông Bổn, Bà Thiên Hậu của người Hoa

Với đặc điểm kể trên, đồng bào dân tộc Khmer chiếm hơn 30%, dân số, đồng bào đóng góp không nhỏ trong việc thực hiện các chương trình kế hoạch của tỉnh Tuyên truyền để tạo nên sự đồng thuận với các dân tộc khác trong việc thực hiện các chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, của tỉnh là một việc làm có ý nghĩa lớn

2.1.2 Đặc điểm về đồng bào dân tộc Khmer tỉnh Sóc Trăng

Khmer là tên gọi theo âm Phạn: "Khêmara" - nghĩa là "an vị hạnh phúc", thuộc hậu duệ của người Phù Nam theo ngữ hệ Môn - Khmer Có một

Trang 40

số cách gọi khác như: Miên (dùng từ thời nhà Nguyễn, xuất phát từ âm tiếng Hán được Việt hóa là Khám - Miến - Nán được đọc trại thành Miên Văn bản triều Nguyễn, Miên còn có nghĩa là Lụa); Thổ (theo tập Địa chí Kiên Giang

xuất bản năm 1961 của Việt Nam Cộng hòa, cách gọi với ý nghĩa là thổ dân, người dân bản địa, dân tộc tại chỗ) Thời kỳ đấu tranh chống chế độ thực dân phong kiến và chống ngoại xâm, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong văn bản của Nhà nước ta và các cuộc sinh hoạt chung, cán bộ

đảng viên và đồng bào người Kinh gọi đồng bào Khmer là người Khmer Nam

bộ hay đồng bào Khmer Nam bộ

2.1.2.1 Nguồn gốc hình thành

Sóc Trăng ngày nay là 1 trong 13 tỉnh, thành phố thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nằm cuối lưu vực sông Hậu Từ xa xưa nơi đây còn trầm mình dưới mặt nước biển Đông Qua nhiều thế kỷ được phù sa bồi đắp dần dần trở thành một dãy đất liền phì nhiêu, nhiều sông rạch

Vào cuối thế kỷ XVI, Nhà nước phong kiến Việt Nam suy thoái, không chịu sự áp bức bóc lột hà khắc của bọn quan lại phong kiến, những người nông dân Kinh đã rời bỏ nơi “chôn nhau cắt rốn”, vượt biển băng rừng tiến về phương Nam (nơi vùng đất Nam bộ) hy vọng tìm được nơi sinh cơ lập nghiệp khá hơn

Lúc bấy giờ ở nước bạn Campuchia, chế độ phong kiến Chân Lạp cũng bị suy thoái, kinh tế khủng hoảng làm cho đời sống nhân dân Campuchia hết sức cơ cực, nạn bắt phu tạp dịch phục vụ cho bọn quan lại phong kiến và tu bổ đền Ăng-co-vát, Ăng-co-Thom đã làm kiệt quệ đất nước Chân Lạp (Campuchia), đẩy người dân vào cảnh bần cùng, sống cuộc sống tha phương cầu thực và một

số người cũng đi dần về phương Nam tìm nơi sinh sống Từ đó đã tạo ra trên mảnh đất miền Tây Nam bộ lúc bấy giờ là người Việt Nam và người Khmer Nam bộ Sau này, khi cuộc chiến tranh của tập đoàn phong kiến Trịnh - Nguyễn

nổ ra thì quá trình di dân ở Việt Nam về hướng Đồng bằng sông Cửu Long được xúc tiến mạnh mẽ và quy mô ngày càng lớn hơn [13, tr.11]

Với sự có mặt khá sớm của đồng bào dân tộc Khmer ở tỉnh Sóc Trăng nên nhiều địa danh ở Sóc Trăng đến nay còn mang dấu vết cư trú xa xưa của

Ngày đăng: 24/11/2021, 17:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phan An - Nguyễn Xuân Nghĩa (1984), Dân tộc Khmer trong các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía nam), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dân tộc Khmer trong các dân tộc ít người ở Việt Nam (các tỉnh phía nam)
Tác giả: Phan An - Nguyễn Xuân Nghĩa
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1984
2. Phan An (1984), Một số vấn đề kinh tế - xã hội của vùng nông thôn Khmer Đồng bằng sông Cửu Long trong vấn đề dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề kinh tế - xã hội của vùng nông thôn Khmer Đồng bằng sông Cửu Long trong vấn đề dân tộc ở Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Phan An
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1984
3. Phan An (1995), Cơ chế quản lý xã hội truyền thống phum, sóc của người Khmer Nam bộ trong làng xã ở Châu Á và Việt Nam, Viện Khoa học xã hội tại tp. Hồ Chí Minh, Nxb tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ chế quản lý xã hội truyền thống phum, sóc của người Khmer Nam bộ trong làng xã ở Châu Á và Việt Nam
Tác giả: Phan An
Nhà XB: Nxb tp. Hồ Chí Minh
Năm: 1995
8. Ban Chỉ đạo Tây Nam bộ (ngày 06/3/2008), Báo cáo kết quả khảo sát công tác xây dựng Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị (trọng tâm ở cơ sở), ở vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer, số 101- BC/BCĐ-TNB Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả khảo sát công tác xây dựng Đảng gắn với xây dựng hệ thống chính trị (trọng tâm ở cơ sở), ở vùng có đông đồng bào dân tộc Khmer
13. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy (1994), Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng, Tập I (1930-1945), Sóc Trăng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy
Năm: 1994
14. Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng (2005), Truyền thống đấu tranh cách mạng của đồng bào Khmer tỉnh Sóc Trăng (1930 - 1975), Sóc Trăng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thống đấu tranh cách mạng của đồng bào Khmer tỉnh Sóc Trăng (1930 - 1975)
Tác giả: Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Sóc Trăng
Năm: 2005
15. Lê Văn Bền (1997), Giáo dục pháp luật cho người Khmer Nam bộ, Luận văn Thạc sĩ Luật, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục pháp luật cho người Khmer Nam bộ
Tác giả: Lê Văn Bền
Năm: 1997
16. Bộ Tư pháp (1996), Tìm kiếm mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả trong một số dân tộc ít người, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm kiếm mô hình phổ biến, giáo dục pháp luật có hiệu quả trong một số dân tộc ít người
Tác giả: Bộ Tư pháp
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
17. Bộ Tư pháp, Vụ phổ biến giáo dục pháp luật (2007), Nghiệp vụ tổ chức một số hình thức phổ biến giáo dục pháp luật, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiệp vụ tổ chức một số hình thức phổ biến giáo dục pháp luật
Tác giả: Bộ Tư pháp, Vụ phổ biến giáo dục pháp luật
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2007
19. Nguyễn Khắc Cảnh (1991), "Chùa Khmer nam bộ tỉnh Sóc Trăng - một công trình nghệ thuật kiến trúc độc đáo", Tập san khoa học Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chùa Khmer nam bộ tỉnh Sóc Trăng - một công trình nghệ thuật kiến trúc độc đáo
Tác giả: Nguyễn Khắc Cảnh
Năm: 1991
20. Nguyễn Khắc Cảnh (1998), Phum sóc Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phum sóc Khmer ở Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Khắc Cảnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
21. Nguyễn Khắc Cảnh (2000), Sự hình thành cộng đồng Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long (Văn hóa Nam bộ trong không gian xã hội Đông Nam Á), Nxb Đại học Quốc gia thành phố HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự hình thành cộng đồng Khmer vùng Đồng bằng sông Cửu Long
Tác giả: Nguyễn Khắc Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia thành phố HCM
Năm: 2000
22. Nguyễn Khắc Cảnh (2000), Đôi nét về đặc điểm phân bố dân cư và hình thái cư trú của người Khmer Sóc Trăng, Tài liệu hội thảo khoa học lịch sử hình thành và phát triển tỉnh Sóc Trăng trước 1945 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi nét về đặc điểm phân bố dân cư và hình thái cư trú của người Khmer Sóc Trăng
Tác giả: Nguyễn Khắc Cảnh
Năm: 2000
23. GS.TS. Phan Hữu Dật (chủ biên) (2001), Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách liên quan đến mối quan hệ dân tộc hiện nay
Tác giả: GS.TS. Phan Hữu Dật (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
24. Nguyễn Việt Dũng (2000), Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các đảng bộ xã vùng đồng bào Khmer tập trung ở tỉnh Kiên Giang hiện nay, Luận văn thạc sĩ, chuyên ngành Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các đảng bộ xã vùng đồng bào Khmer tập trung ở tỉnh Kiên Giang hiện nay
Tác giả: Nguyễn Việt Dũng
Năm: 2000
25. Đỗ Văn Dương (2002), Giáo dục pháp luật cho cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay, Luận văn Thạc sĩ luật học, Học viện chính trị - hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục pháp luật cho cán bộ chính quyền cấp xã ở tỉnh Đắk Lắk hiện nay
Tác giả: Đỗ Văn Dương
Năm: 2002
26. Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng lần thứ XII, nhiệm kỳ 2010 - 2015, Sóc Trăng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng lần thứ XII, nhiệm kỳ 2010 - 2015
Tác giả: Đảng bộ tỉnh Sóc Trăng
Năm: 2010
27. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1991
28. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
29. Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Nghị quyết Trung ương 7 (lần 2) khoá IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết Trung ương 7 (lần 2) khoá IX
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w