Luận văn làm rõ những vấn đề chủ yếu liên quan kinh tế báo chí, đến công tác truyền thông trong điều kiện tự chủ tài chính của Đài Phát thanh - Truyền hình Kiên Giang, đưa ra các kinh ng
Trang 1CÔ VĂN TẠI
HIỆU QUẢ KINH TẾ CỦA CÁC CHƯƠNG TRÌNH GIẢI TRÍ TRÊN SÓNG ĐÀI PHÁT THANH -TRUYỀN HÌNH KIÊN GIANG
(Khảo sát các chương trình: Phim truyện, Trò chơi truyền hình,
Ca nhạc trên sóng Đài Phát thanh - Truyền hình Kiên Giang
từ tháng 06/2011 đến 06/2012)
Chuyên ngành: Báo chí học
Mã số: 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ THOA
HÀ NỘI - 2014
Trang 2Tôi xin cam đoan đây là kết quả công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả được nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào khác
Tác giả luận văn
Cô Văn Tại
Trang 3Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ TRUYỀN HÌNH
VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CÁC CHƯƠNG TRÌNH GIẢI TRÍ TRÊN
TRUYỀN HÌNH 8
1.1 Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài 8
1.2 Một số đặc điểm về kinh tế truyền hình 26
1.3 Vị trí, vai trò của truyền hình và các chương trình giải trí trên truyền hình 33
Chương 2: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH TẾ CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHIM TRUYỆN, TRÒ CHƠI TRUYỀN HÌNH, CA NHẠC ĐƯỢC PHÁT TỪ THÁNG 06/2011 ĐẾN THÁNG 06/2012 36
2.1 Vài nét về quá trình phát triển của Đài PTTH Kiên Giang 36
2.2 Thực trạng hiệu quả kinh tế của chương trình Phim truyện 44
2.3 Thực trạng hiệu quả của chương trình Trò chơi Truyền hình 55
2.4 Thực trạng hiệu quả kinh tế của Chương trình CA NHẠC 74
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHIM TRUYỆN, TRÒ CHƠI TRUYỀN HÌNH VÀ CA NHẠC 77
3.1 Đòi hỏi khách quan của việc đổi mới, nâng cao hiệu quả kinh tế mà thực chất là nâng cao chất lượng các chương trình và chương trình giải trí trong bối cảnh hiện nay 77
3.2 Yêu cầu của việc đổi mới, nâng cao hiệu quả kinh tế, chất lượng các chương trình: Phim truyện, Trò chơi Truyền hình và Ca nhạc 83
3.3 Một số giải pháp chung 86
KẾT LUẬN 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109 PHỤ LỤC
Trang 4Bảng 2.1: Kết quả thu chi tài chính của Trung tâm Dịch vụ Quảng cáo
trong 3 năm 2010, 2011, 2012 48
Bảng 2.2: Kết quả thu chi tài chính của Đài Phát thanh - Truyền hình
Kiên Giang trong 3 năm 2010, 2011, 2012 50
Bảng 3.1: Chương trình truyền hình có doanh thu quảng cáo cao nhất
năm 2011 85
Trang 5Truyền thông thế giới đang phát triển theo xu hướng ngày càng cân bằng giữa thông tin chính trị - xã hội và thông tin kinh tế - tư vấn - giải trí Đây là nhu cầu của một xã hội hiện đại Trong quá trình hội nhập và toàn cầu hóa, truyền thông của Việt Nam cũng phát triển theo xu hướng này Điều rất
dễ nhận thấy trong lĩnh vực truyền hình là nhiều kênh truyền hình ra đời trong thời gian gần đây là để đáp ứng nhu cầu này
Khi nền kinh tế của đất nước vận hành theo cơ chế thị trường thì vấn
đề kinh tế báo chí - truyền thông được đặt ra Hiệu quả hoạt động, mà trước hết là hiệu quả kinh tế được đề cao Vấn đề tự chủ về tài chính tại các cơ quan báo chí, đài truyền hình cũng được đặt ra Trong cơ chế Nhà nước đang xóa dần bao cấp cho các cơ quan Báo chí, đài truyền hình; khuyến khích tự chủ về tài chính thì các cơ quan báo, đài đã phải tự tìm hướng đi cho mình Đổi mới, cải tiến, nâng cao và có thêm nhiều chương trình mới, hay, chất lượng là một yêu cầu bắt buộc
Như đã trình bày ở trên, nhu cầu thông tin về tư vấn, giải trí trong xã hội hiện đại là rất lớn và nó đang ngày càng phát triển thêm Đây là lĩnh vực mà các cơ quan truyền thông, đặc biệt là các đài truyền hình thời gian
Trang 6qua đã khai thác tốt, mang lại hiệu quả kinh tế khá cao Có thể thấy, lĩnh vực này đã mang lại nguồn thu rất lớn cho các đài Nó hết sức quan trọng
và có ý nghĩa đặc biệt đối với các đài địa phương hoạt động theo cơ chế tự chủ về tài chính
Năm 2006, Chính phủ đã ban hành Nghị định 43 - quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế, tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Đến nay, đã có khá nhiều cơ quan báo chí thực hiện theo cơ chế này, không chỉ tự đảm bảo nguồn lực kinh tế mà còn mở rộng quy mô hoạt động Thực tế này cũng đòi hỏi các cơ quan báo chí phải được quản lý chuyên nghiệp như một doanh nghiệp
Từ năm 2007, Đài Phát thanh - Truyền hình Kiên Giang, được sự cho phép của Ủy ban nhân dân tỉnh Kiên Giang, là một trong không nhiều Đài Phát thanh - Truyền hình địa phương trong cả nước thực hiện tự chủ hoàn toàn về tài chính
Qua bốn năm thực hiện cơ chế mới, bước đầu Đài Phát thanh - Truyền hình Kiên Giang đã đạt được những kết quả khả quan Tuy nhiên, dù có những nỗ lực cố gắng và đạt những thành công bước đầu, nhưng những kết quả đạt được của Đài Phát thanh - Truyền hình Kiên Giang vẫn còn chưa tương xứng so với yêu cầu phát triển của tỉnh, so với mong mỏi của công chúng phát thanh - truyền hình và so với năng lực hiện có của Đài
Chính vì vậy việc nghiên cứu, đánh giá hiệu quả kinh tế và những tác động xã hội của các chương trình giải trí mà đặc biệt là chương trình Phim truyện, Trò chơi truyền hình, Ca nhạc trong điều kiện tự chủ về tài chính là vấn đề mang tính cấp thiết Làm sao để các chương trình này vừa tăng thêm nguồn thu vừa có những tác động tích cực đến xã hội Đó là những trăn trở và bức xúc mà luận văn đề cập đến
Trang 72 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Kể từ khi đất nước mở cửa hội nhập với quốc tế, vấn đề kinh tế Báo
chí truyền thông được đặt ra, có khá nhiều đề tài nghiên cứu về vấn đề này cũng như vấn đề tự chủ về tài chính
Tác giả Nguyễn Gia Quý và Hội Nhà báo Thành phố Hà Nội (2009),
nghiên cứu về đề tài “Phát triển kinh tế báo chí trong điều kiện kinh tế thị
trường” Đây là đề tài khoa học cấp thành phố Đề tài đã đặt ra những vấn đề
về phát triển báo chí Hà Nội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, các giải pháp về cơ chế, chính sách, tổ chức, quản lý và phát triển nguồn nhân lực để phát triển kinh tế báo chí Hà Nội
Luận văn Thạc sỹ truyền thông đại chúng: “Tổ chức chương trình trong
điều kiện tự chủ về tài chính ở đài PTTH Kiên Giang (2007 – 2010)” của Trần
Thị Thu Thủy, năm 2011 Luận văn làm rõ những vấn đề chủ yếu liên quan kinh tế báo chí, đến công tác truyền thông trong điều kiện tự chủ tài chính của Đài Phát thanh - Truyền hình Kiên Giang, đưa ra các kinh nghiệm và giải pháp
cơ bản nhằm tổ chức chương trình, nâng cao hiệu quả truyền thông và tăng nguồn thu Cũng với mục tiêu tương tự, tác giả Nguyễn Thị Tuyết Nhung có
luận văn Thạc sỹ (2011) “Hiệu quả kinh tế và xã hội của hoạt động xã hội hóa
trong lĩnh vực truyền hình ở Đài Truyền hình Việt Nam”
Thống kê các công trình nghiên cứu tại Thư viện Quốc gia hiện nay, có
4 luận án nghiên cứu về truyền hình và kinh tế truyền hình, trong đó có luận
án “Mở rộng mạng lưới truyền hình quốc gia cho phù hợp với cung cầu về
truyền hình ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Thái Minh Tần (1993); luận án
“Hoàn thiện phương thức quản lý kinh tế cho ngành truyền hình trong điều
kiện chuyển sang nền kinh tế ở Việt Nam” của Phan Thị Loan (1996); luận án
“Những phương hướng và biện pháp chủ yếu nhằm phát triển sản phẩm
truyền hình cho phù hợp với cung cầu về truyền hình ở Việt Nam hiện nay”
Trang 8của Đinh Quang Hưng (1996) Các luận án này được thực hiện trước năm
1996, và đều tập trung vào các vấn đề về quản lý mạng lưới truyền hình, hay phương thức quản lý kinh tế của đài truyền hình khi chuyển sang nền kinh tế thị trường có định hướng xã hội chủ nghĩa Các luận án này nghiên cứu kinh
tế truyền hình như một lĩnh vực hoạt động Nhà nước, chỉ do các cơ quan Nhà nước thực hiện, chưa chỉ ra xu hướng phát triển có sự tham gia của các đối tác trong toàn xã hội
Luận án bảo vệ thành công năm 2011 của Hoàng Ngọc Huấn nghiên cứu
về “Một số giải pháp phát triển truyền hình trả tiền của Đài Truyền hình Việt
Nam” tập trung nghiên cứu một trong những vấn đề mới của truyền hình là lĩnh
vực truyền hình trả tiền, chứ không phải xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình
Luận án Tiến sỹ đầu tiên về “Nghiên cứu xu hướng phát triển của
truyền hình từ góc độ kinh tế học truyền thông” của Bùi Chí Trung bảo vệ
thành công tại Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà Nội, năm 2011 tập trung khái quát diện mạo của ngành kinh tế truyền hình, phân tích những ưu nhược điểm trong hoạt động kinh tế truyền hình của Việt Nam trong những năm qua, đưa ra những xu hướng phát triển chính yếu, những kinh nghiệm và giải pháp phát triển hoạt động kinh tế truyền hình Việt Nam hiện nay và trong tương lai Góp phần xây dựng cơ sở nền tảng cho một lĩnh vực nghiên cứu khoa học mới tại Việt Nam: Kinh tế học truyền thông
Trong lĩnh vực xã hội hóa, Luận án Tiến sĩ “Vấn đề xã hội hóa sản xuất
chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay” của Đinh Thị Xuân Hòa, năm
2012 Luận án đã khảo sát, đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động XHH sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay ở các góc độ: Sự phát triển hoạt động này ở Việt Nam Hệ thống các đối tác tham gia hoạt động XHH Các hình thức XHH Thể loại và nội dung các chương trình XHH Phương thức quản lí hoạt động này Trên cơ sở khảo sát về thực trạng ấy, kết hợp với nhiều
Trang 9phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, luận án đã chỉ ra thành công, hạn chế và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện XHH ở Việt Nam Thành công chính của hoạt động XHH là: tạo nên sự đa dạng phong phú của chương trình truyền hình trên cơ sở mở rộng các nguồn lực xã hội Hạn chế chính do hoạt động XHH đem lại là: sự phát triển rầm rộ nhưng thiếu sự quản lí phù hợp dẫn tới việc xuất hiện không ít chương trình chất lượng chưa như mong mỏi, thiếu bản sắc, hoạt động có biểu hiện mang tính thương mại…
Tuy nhiên, cho đến nay ở Việt Nam, hầu như có rất ít đề tài nghiên cứu
về hiệu quả kinh tế và những tác động xã hội của các chương trình giải trí ở một đài phát thanh - truyền hình cụ thể Chính vì vậy, đề tài của luận văn khá mới mẻ, không trùng lắp với các đề tài nghiên cứu trước đó
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu thực trạng hiệu quả kinh tế xã hội của các chương trình giải trí trên sóng đài Phát Thanh -Truyền Hình Kiên Giang, từ đó đưa ra một số giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế các chương trình: Phim truyện, Trò chơi truyền hình và Ca nhạc để thu hút nhiều
nguồn thu từ quảng cáo và tài trợ, đáp ứng nhu cầu khán giả xem đài
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu một số lý thuyết về kinh tế, hiệu quả kinh tế; lý thuyết về truyền thông, kinh tế Báo chí truyền thông, kinh tế truyền hình; lý thuyết về công chúng truyền hình
Khảo sát, điều tra, phân tích, đánh giá chất lượng, hiệu quả kinh tế các chương trình: Phim truyện, Trò chơi Truyền hình và Ca nhạc; công chúng của đài Phát Thanh Truyền Hình Kiên Giang Từ đó rút ra những kết quả thực tế, nguyên nhân thành công cũng như hạn chế từ khâu lựa chọn nội dung, phương thức sản xuất và bố trí khung giờ phát sóng hợp lý
Đề xuất những giải pháp mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn
Trang 104 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Với cách đặt vấn đề như trên, đối tượng nghiên cứu của luận văn là hiệu quả kinh tế của ba chương trình giải trí: Phim truyện, Trò chơi truyền hình và Ca nhạc của Đài Phát Thanh Truyền Hình Kiên Giang
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Do điều kiện nghiên cứu, luận văn chỉ khảo sát ba chương trình có mang tính “xã hội hóa” là: Phim truyện, Trò chơi truyền hình và Ca nhạc trong thời gian một năm từ 06/2011 đến tháng 06/2012 trên kênh truyền hình KG
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Các vấn đề được luận giải dựa trên cơ sở quan điểm duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm nền tảng phương pháp luận, dựa vào thế giới quan và phương pháp luận Macxit Ngoài ra, luận văn còn sử dụng một số lý luận về Báo chí học; các lý thuyết về truyền thông đại chúng; Lý luận về báo chí truyền hình
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra, tác giả luận văn sử dụng 3 nhóm phương pháp nghiên cứu chính:
- Nhóm 1: Nghiên cứu tài liệu: Sử dụng cách thức đọc – nghe – xem
các tài liệu bằng văn bản, hình ảnh, băng từ, đĩa compact, internet…về khoa học báo chí truyền thông; về kinh tế học; về đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; về các khoa học liên ngành… để khai thác những tư liệu cần thiết có liên quan đến nội dung nghiên cứu
- Nhóm 2: Phương pháp thống kê, phân tích, chứng minh để làm rõ nội
dung nghiên cứu
Trang 11- Nhóm 3: Phương pháp điều tra xã hội học:
Điều tra định tính: bằng phương pháp phỏng vấn sâu (phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn qua điện thoại) được tác giả luận văn tiến hành đối với các nhà lãnh đạo địa phương, lãnh đạo đài,… nhằm thu được những đánh giá khách quan, có trọng lượng về vấn đề tự chủ tài chính của đài và giải pháp phát triển hoạt động này trong tương lai
Các nhóm phương pháp này vừa truyền thống, vừa hiện đại, giúp cho kết quả nghiên cứu đạt được độ chính xác cao nhất, đáng tin cậy nhất
6 Đóng góp mới của luận văn
Luận văn đề cập đến một trong vấn đề có tính quyết định trong việc hoạch định chiến lược phát triển của một đài hay một kênh truyền hình trong
xu thế phát triển của truyền thông đại chúng hôm nay
Việc thực hiện đề tài sẽ góp phần đánh giá lại thực trạng và hiệu quả của các chương trình giải trí làm tiền đề cho việc cải tiến nâng cao hiệu quả của các chương trình này
Đây cũng là cơ sở khoa học trong việc hoạch định chiến lược của đài mà cụ thể là xây dựng kết cấu, nội dung chương trình và xây dựng chiến lược quảng cáo
Ngoài ra, việc nghiên cứu của tài sẽ tạo ra một cái nhìn mới, thay đổi nhận thức xem nhẹ việc tìm hiểu công chúng, quan điểm áp đặt phát những gì Đài có chứ không phải phát những gì công chúng cần
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu đề tài này có thể làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu trong lĩnh vực truyền hình nhất là lĩnh vực giải trí và là tài liệu hữu ích cho việc giảng dạy của các trường báo chí trong các môn học về phát thanh, truyền hình
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn có cấu trúc gồm 3 chương, 11 tiết
Trang 12Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KINH TẾ TRUYỀN HÌNH
VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA CÁC CHƯƠNG TRÌNH GIẢI TRÍ
có thể có tin, phỏng vấn, phóng sự, tọa đàm v.v…) Cũng với quan điểm như
trên, theo Tiến sĩ Trần Bảo Khánh, trong cuốn Sản xuất chương trình truyền hình (2003) [12, tr.98], thì thuật ngữ chương trình “Program” được
hiểu gồm các chương trình như: Chương trình “Thời sự”, “Vì an ninh Tổ quốc”, chương trình “Kinh tế”, “Văn hóa”, “Quân đội”, “Thiếu nhi”, “Trò chơi(Showgames)”… được phân bổ theo các kênh chương trình và được thể hiện bằng những nội dung cụ thể qua tin, bài, tác phẩm truyền hình Chương trình truyền hình là sự liên kết, sắp xếp, bố trí hợp lý các tin bài, bảng tư liệu, hình ảnh, âm thanh trong một thời gian nhất định được mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho công chúng xem đài
Nhà báo Phan Văn Tú - Phó chủ tịch thường trực Hội nhà báo tỉnh Đồng Nai cho rằng:
Chương trình truyền hình là hình thức vật chất hóa sự tồn tại của truyền hình trong đời sống xã hội để chuyển tải thông tin đến công
Trang 13chúng Đó là một sản phẩm hoàn chỉnh về nội dung và hình thức, là kết quả của một quá trình sáng tạo, là tập hợp nhiều cấp độ lao động khác nhau, tập hợp một hay nhiều tác phẩm khác nhau, tồn tại
ở nhiều mức độ khác nhau [47]
Còn theo GS.TS Tạ Ngọc Tấn, trong cuốn Truyền thông đại chúng
(2001), [24, tr.28], thuật ngữ chương trình truyền hình thường được sử dụng trong hai trường hợp:
-Trường hợp thứ nhất, người ta dùng chương trình truyền hình để chỉ toàn bộ nội dung thông tin phát đi trong ngày, trong tuần, trong tháng của mỗi kênh truyền hình hay của đài truyền hình
-Trường hợp thứ hai, chương trình truyền hình dùng để chỉ một hay nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hợp với một số thông tin tài liệu khác được tổ chức theo một chủ đề cụ thể với hình thức tương đối nhất quán, thời lượng ổn định và được phát định kỳ
Cũng trong cuốn Truyền thông đại chúng (2001), GS.TS Tạ Ngọc
Tấn viết:
Có thể nói, chương trình truyền hình là sự gặp nhau giữa nhu cầu, thị hiếu của công chúng với mục đích và ý tưởng sáng tạo của những nhà truyền thông bằng phương tiện truyền hình Một chương trình có chất lượng khi nó thu hút được sự quan tâm của người xem
và thể hiện được tính mục đích của người sáng tạo Mặt khác, bất
cứ một chương trình nào cũng hàm chứa những giá trị tư tưởng, văn hóa đặc thù của mỗi quốc gia, dân tộc, mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp xã hội cụ thể Những giá trị này không chỉ được chuyển tải qua nội dung mà còn biểu hiện cả trong phương pháp sáng tạo và hình thức thể hiện của các tác phẩm, tài liệu cũng như cách tổ chức xây dựng chương trình [40, tr.143]
Trang 141.1.2 Khái niệm giải trí, giải trí trên truyền hình
Giải trí là một dạng hoạt động của con người đáp ứng nhu cầu phát triển của con người về thể chất, trí tuệ và mỹ học Nó không chỉ là nhu cầu của mỗi cá nhân mà là nhu cầu của đời sống cộng đồng
Hoạt động giải trí nằm trong hệ thống các loại hoạt động của con người; và là hoạt động duy nhất không gắn với nhu cầu sinh học nào
Theo tác giả Đoàn Văn Chúc, có bốn dạng hoạt động mà con người phải thực hiện, đó là:
-Hoạt động lao động sản xuất để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của cá nhân và của xã hội Đó là nghĩa vụ của mỗi người
-Hoạt động thuộc các quan hệ cá nhân như chăm sóc con cái, chăm sóc gia đình, thăm viếng họ hàng, bạn bè…Đó là nghĩa vụ cá nhân của mỗi người
-Hoạt động thuộc đời sống vật chất của con người như nấu nướng, ăn uống, nghỉ ngơi, vệ sinh cá nhân…Đó là hoạt động thỏa mãn nhu cầu vật chất của mỗi người
-Hoạt động thuộc đời sống tinh thần của mỗi cá nhân như thưởng thức nghệ thuật, chơi các trò chơi, sinh hoạt tôn giáo…Đó là hoạt động thỏa mãn nhu cầu tinh thần của mỗi người
Giải trí là dạng hoạt động cuối cùng trong số bốn dạng hoạt động trên
Nó mang tính chất tự do hơn các dạng hoạt động còn lại Vì không gắn với nhu cầu sinh học nào, nó không hề mang tính cưỡng bức; con người có quyền lựa chọn theo sở thích, trong khuôn khổ hệ chuẩn mực của xã hội Nó là bước chuyển từ những hoạt động nghĩa vụ, bổn phận sang những hoạt động tự nguyện Nó đồng thời là những hoạt động không mang tính vụ lợi nhằm mục đích giải tỏa sự căng thẳng tinh thần để đạt tới sự thư giãn, thanh thản trong tâm hồn và cao hơn, đó là rung cảm về thẩm mỹ Thời gian giành cho hoạt động này được gọi là thời gian rỗi, là những khoảng thời gian mà cá nhân
Trang 15không bị bức bách bởi những nhu cầu sinh tồn, không bị chi phối bởi những nghĩa vụ cá nhân hoặc sự đòi hỏi bởi nhu cầu vật chất Con người hoàn toàn
tự do, thoát khỏi những băn khoăn lo lắng thường nhật Khi đó, với sự thanh thản về trí óc, sự bay bổng về tâm hồn, họ tìm đến những hoạt động giải trí
Và như vậy có thể định nghĩa: Chương trình giải trí trên truyền hình là chương trình đáp ứng được nhu cầu giải trí của con người bằng truyền hình hoặc thông qua phương tiện truyền hình
1.1.3 Khái niệm kinh tế, hiệu quả và hiệu quả kinh tế
Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở, kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ
tương tác lẫn nhau của con người và xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với nguồn lực có giới hạn Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội
Theo các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin, kinh tế là tổng hòa các quan hệ sản xuất dựa trên một trình độ nhất định của lực lượng sản xuất, tạo
thành cơ sở kinh tế của một chế độ xã hội nhất định Trong cuốn “Quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị ở Việt Nam”, (2012) GS.TS
Dương Xuân Ngọc viết: Kinh tế là toàn bộ phương thức sản xuất và trao đổi
của một chế độ xã hội, là nguồn gốc của mọi biến đổi xã hội và những đảo lộn chính trị
Trong nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước hiện nay, để thực hiện tốt chế độ hạch toán kinh tế, lấy thu bù chi và có lãi trong hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa và dịch vụ, là cơ sở để tồn tại và phát triển của mỗi thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt Điều này đòi hỏi các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh phải có hiệu quả
Trang 16Hiệu quả là một phạm trù kinh tế, nó xuất hiện và tồn tại từ thời chiếm hữu nô lệ đến chủ nghĩa xã hội Hiệu quả được xem là khái niệm dùng để chỉ mối quan hệ giữa kết quả thực hiện các mục tiêu hoạt động của chủ thể và chi phí chủ thể bỏ ra để có kết quả đó trong những điều kiện nhất định Hiệu quả kinh doanh thể hiện trình độ sử dụng các yếu tố cần thiết tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh theo một mục đích nhất định
Với những hình thái xã hội khác nhau, với những quan hệ sản xuất khác nhau thì bản chất của phạm trù hiệu quả và các yếu tố hợp thành phạm trù này cũng vận động theo khuynh hướng khác nhau
Hiệu quả kinh tế có rất nhiều cách hiểu, có rất nhiều định nghĩa khác nhau tùy vào mục đích kinh doanh của từng doanh nghiệp Theo nghĩa rộng, hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh lợi ích đạt được từ các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
Cụ thể hiệu quả kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình kinh doanh của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong hoạt động kinh doanh với chi phí nhỏ nhất
Quan điểm thứ nhất là của nhà kinh tế học người Anh Adam Smith cho
rằng “hiệu quả kinh tế là kết quả hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hóa” Nhà kinh tế học người Pháp Ogiephri cũng có quan điểm như vậy Ở đây hiệu quả kinh tế được đồng nhất với chỉ tiêu kết quả kinh doanh Rõ ràng quan điểm này khó giải thích kết quả sản xuất kinh doanh có thể dùng cho chi phí mở rộng các nguồn sản xuất, nếu cùng một mức kết quả với hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này chúng đều có hiệu quả
Quan điểm thứ hai cho rằng “hiệu quả kinh doanh là tỷ lệ so sánh giữa
phần tăng thêm của chi phí” Quan điểm này biểu hiện quan hệ so sánh tương đối giữa kết quả và chi phí để đạt được kết quả đó Quan điểm này có ưu điểm
là bám sát được mục tiêu của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không ngừng
Trang 17nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho người dân Nhưng khó khăn ở đây là phương tiện để đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó
Quan điểm thứ ba: Hiệu quả kinh tế được đo bằng kết quả hiệu số giữa
kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó Ưu điểm của quan điểm này là nó phản ánh được mối quan hệ bản chất của của hiệu quả kinh tế
Nó đã gắn được hiệu quả với toàn bộ chi phí Tuy nhiên, nó vẫn chưa biểu hiện được tương quan về chất và lượng giữa kết quả và chi phí, chưa phản ánh hết mức độ chặt chẽ của mối quan hệ này Để phản ánh được tình hình sử dụng các nguồn nhân lực thì cần phải cố định một trong hai yếu tố hoặc kết quả hoặc chi phí bỏ ra Nhưng theo quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin thì các yếu tố này luôn biến động, vì vậy khi xem xét hiệu quả của một quá trình kinh tế nào đó, phải xem xét trong trạng thái động
Quan điểm thứ tư, các nhà kinh tế học của chủ nghĩa Mác-Lênin cho
rằng: Hiệu quả kinh tế là mức độ thỏa mãn yêu cầu của quy luật kinh tế cơ bản xã hội chủ nghĩa Quỹ tiêu dùng với tư cách là chi tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong doanh nghiệp, là chỉ tiêu phản ánh hiệu quả trong kinh doanh Quan điểm này có ưu điểm là đã bám sát mục tiêu của nền sản xuất xã hội chủ nghĩa là không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Song, khó khăn là phương tiện đo lường thể hiện tư tưởng định hướng đó Khái niệm quỹ đo lường được đề cập ở đây là một bộ phận thu nhập của quốc dân, bộ phận còn lại là tích lũy
Từ các quan điểm trên cho thấy hiệu quả kinh doanh theo nghĩa rộng là một phạm trù kinh tế phản ánh những lợi ích đạt được những kết quả nhất định Tuy nhiên, kết quả đó đạt được ở mức độ nào, với giá nào là vấn đề cần xem xét, vì nó phản ánh chất lượng của hoạt động tạo ra kết quả Mặt khác, nhu cầu tiêu dùng của con người bao giờ cũng lớn hơn khả năng tạo ra sản phẩm của mình Chính vì vậy, người ta luôn quan tâm, làm sao với khả năng
Trang 18hiện tại có thể tạo ra được nhiều sản phẩm nhất Vậy nên, khi đánh giá hoạt động kinh doanh tức là đánh giá chất lượng của hoạt động kinh doanh tạo ra kết quả mà nó đạt được
Như vậy, bản chất của hiệu quả kinh tế chính là hiệu quả của lao động
xã hội, được xác định bằng cách so sánh giữa chất lượng kết quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng hao phí lao động xã hội Do vậy, thước đo hiệu quả
là sự tiết kiệm hao phí xã hội và tiêu chuẩn của hiệu quả là tối đa hóa kết quả
và tối thiểu chi phí dựa trên những điều kiện hiện có
Cũng từ những quan điểm trên, có thể khái quát khái niệm hiệu quả
kinh tế như sau:“hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc một quá trình)
kinh tế là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác định”
Hiệu quả kinh tế cá biệt và hiệu quả kinh tế xã hội của nền kinh tế quốc dân
Hiệu quả kinh tế cá biệt là hiệu quả kinh tế thu được từ hoạt động kinh doanh của từng doanh nghiệp, biểu hiện chung của hiệu quả kinh tế cá biệt là doanh lợi của mỗi doanh nghiệp đạt được
Hiệu quả kinh tế xã hội mà hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mang lại cho nền kinh tế quốc dân là sự đóng góp của các hoạt động kinh doanh đó vào phát triển sản xuất, đổi mới cơ cấu kinh tế, tăng năng suất lao động xã hội, tích lũy ngoại tệ, tăng thu ngân sách, giải quyết vấn đề việc làm cải thiện đời sống nhân dân
Hai loại hiệu quả này có mối liên hệ mật thiết, nhân quả và tác động trực tiếp lẫn nhau Hiệu quả kinh tế quốc dân chỉ có thể đạt được trên cơ sở hoạt động có hiệu quả của các doanh nghiệp và ngược lại hiệu quả kinh tế xã hội là điều kiện tiền đề để cho các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả
Trang 19Hiệu quả của chi phí bộ phận và chi phí tổng hợp
Mục đích hoạt động kinh doanh của các chủ thể là thu được lợi nhuận tối đa Vì vậy, doanh nghiệp cần phải căn cứ vào thị trường để giải quyết các vấn đề đó là: Kinh doanh là gì? Kinh doanh như thế nào? Kinh doanh với ai? Chi phí cho hoạt động kinh doanh là bao nhiêu?
Các doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh trong những điều kiện
cụ thể về nguồn vốn, tài nguyên, trình độ trang bị kỹ thuật, trình độ tổ chức quản lý doanh nghiệp, quản lý kinh doanh Họ đưa ra thị trường sản phẩm của mình với một chi phí cá biệt nhất định, với mục đích bán được hàng hóa với giá cao nhất
Hiệu quả tuyệt đối và hiệu quả so sánh
Hiệu quả kinh tế tuyệt đối là hiệu quả được tính toán cho từng phương
án cụ thể bằng cách xác định lợi nhuận thu được với chi phí bỏ ra Hiệu quả kinh tế tuyệt đối có thể được tính toán bằng công thức:
E=K-C
Trong đó: E: hiệu quả kinh tế
K: kết quả hoạt động kinh tế C: chi phi cần thiết
Hiệu quả so sánh được xác định bằng cách so sánh các chỉ tiêu hiệu quả tuyệt đối của các phương án khác nhau Nói một cách khác, hiệu quả so sánh chỉ mức chênh lệch về hiệu quả tuyệt đối của các phương án để từ đó cho phép lựa chọn một phương án có hiệu quả nhất
Trên thực tế, để thực hiện một hợp đồng kinh tế nào đó, không chỉ có một phương án mà có thể đưa ra nhiều chi phí khác nhau Mỗi phương án có chi phí đầu tư khác nhau, thời gian thực hiện và thời gian thu hồi vốn khác nhau
Do vậy, muốn thu được hiệu quả kinh tế cao cần phải đưa ra được nhiều phương án khác nhau rồi tiến hành so sánh hiệu quả của từng phương
án để chọn ra phương án hiệu quả nhất
Trang 201.1.4 Khái niệm xã hội hóa
Từ sớm, Mác và Lênin đã đưa ra quan điểm về xã hội hóa, tuy nhiên các ông chỉ tập trung nghiên cứu vế xã hội hóa tư liệu sản xuất trong chế độ
xã hội chủ nghĩa Xã hội hóa theo Mác là: “sự tiến xa hơn nữa của quá trình
xã hội hóa lao động…thành khai thác xã hội, và do đó, là tư liệu sản xuất chung” và hai là, “sự tiết kiệm mọi tư liệu sản xuất trong sử dụng như là tư liệu sản xuất của lao động tập thể, xã hội hóa” cho phép chúng ta hình dung
từ “xã hội hóa” theo nghĩa mặt biểu hiện của lao động tập thể, đã thành đơn vị
đo đếm được, tập hợp được, phân phối được, trên bình diện toàn xã hội hay toàn cầu, và vì thế có thể khai thác bóc lột được Tiến trình xã hội hóa lao động bao gồm sự biến dạng lao động đơn thuần thành lao động với tư cách tư liệu sản xuất chung, tập thể”
Nghĩa thứ hai của từ “xã hội hóa” theo Lênin cũng vẫn đặt trên cơ sở mặt biểu hiện cấp cao của lao động tư liệu sản xuất trên bình diện toàn xã hội trong giai đoạn nhà nước thay mặt xã hội làm chủ, tổ chức lao động, quản lý sản xuất, “kiểm kê và phân phối hợp lý” tư liệu sản xuất xuyên qua pháp luật
và chính trị, toàn phần hay gần toàn phần Lênin viết: “Khi chúng ta vẫn còn
trong khuôn khổ sản xuất hàng hóa và tư bản chủ nghĩa, bãi bỏ tư hữu đất đai
là quốc hữu hóa đất đai Từ “xã hội hóa” chỉ biểu lộ khuynh hướng, ước mơ, một bước sửa soạn tiến tới chủ nghĩa xã hội” (trích trong Subservience to the bourgeoisie in the guise of “economic analysis” [49])
Từ lăng kính của xã hội học, xã hội hóa là quá trình mỗi người, từ khi lọt lòng đến lúc già yếu, thâu nhận những kiến thức, kĩ năng, địa vị, lề thói, quy tắc, giá trị… xã hội và hình thành nhân cách của mình Các nhà xã hội học thì cho rằng: xã hội hóa là quá trình con người học tập và tiếp thu những quy phạm của cộng đồng mình để từ đó, “bản ngã” ra đời, khiến mình khác biệt với những cá nhân khác
Trang 21Xã hội hóa là thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi trong thời gian gần đây ở Việt Nam Gõ từ khóa “xã hội hóa” trên trang tìm kiếm http//www.google.com.vn
có thể có tới hơn 200.000 kết quả Người ta sử dụng từ này cho rất nhiều lĩnh vực: xã hội hóa giáo dục, xã hội hóa y tế, xã hội hóa thể thao, xã hội hóa hoạt động khoa học công nghệ, thậm chí xã hội hóa công tác thi hành án dân sự, xã hội hội hóa chương trình cấp nước sạch vùng lũ…thuật ngữ này cũng được báo chí sử dụng rộng rãi với hàm nghĩa khác nhau
Theo GS.TS Võ Tòng Xuân - Nguyên Hiệu trưởng trường Đại học An Giang: “Vấn đề xã hội hóa suy cho cùng là khuyến khích nhân dân bỏ vốn đầu tư vào những chương trình công cộng Gần đây, Chính phủ từ Trung ương đến các địa phương muốn đẩy mạnh xã hội hóa những lĩnh vực mà Nhà nước không đủ sức đầu tư như y tế, giáo dục, cầu đường nông thôn Bên cạnh
đó, lòng từ thiện của dân chúng cũng luôn được khơi dậy mỗi khi thiên tai xảy đến các vùng lãnh thổ” (http//www.mof.gov.vn) Trong bài viết này tác giả đề cập tới một quan niệm khác về xã hội hóa: Các hoạt động xã hội hóa được thực hiện dưới hình thức từ thiện Tức là thay vì hoạt động Nhà nước trong các chương trình kinh tế xã hội người ta kêu gọi cá nhân và tổ chức trong xã hội làm từ thiện Nhưng bản chất của các hoạt động này vẫn là huy động nguồn lực của xã hội vào các lĩnh vực thay vì sử dụng vốn nhà nước
Tuy nhiên có người hiểu xã hội hóa nghĩa là: xã hội góp tiền vào để làm việc gì đó trong một lĩnh vực nào đó Thông thường người ta hiểu “xã hội hóa” một cách phiến diện về lý luận, hàm nghĩa là: biến một trách nhiệm nào đó thành trách nhiệm chung của xã hội Thực ra đây chỉ là một trong rất nhiều nghĩa của từ này Một số người cho rằng, xã hội hóa là tạo điều kiện cho quá trình phát triển tư nhân mà không chú trọng đến mục tiêu
và định hướng xã hội
Trang 22Chúng ta hiểu xã hội hóa là socialize nhưng còn có một cách khác để dịch
từ này ra tiếng Anh là mobilizing (nghĩa là huy động, động viên, làm cho ai/cái
gì trở nên sẵn sàng phục vụ cộng đồng) Như vậy xã hội hóa còn được hiểu là huy động, động viên, ai hoặc cái gì đó vào những lĩnh vực của hoạt động xã hội Với ví dụ về ngành giáo dục, xã hội hóa theo nghĩa này không phải là đóng tiền
để làm giáo dục mà là huy động mọi người tham gia làm giáo dục
Báo Lao Động cuối tuần (6/1/2008) nêu ý kiến của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân trong vấn đề “tăng tốc” con tàu xã hội hóa, Vấn đề “xã hội hóa” theo cách hiểu của từ này có vẻ gần với khái niệm “hợp tác công tư”- public private partnership (PPP) Xã hội hóa theo khía cạnh này liên quan đến vấn đề phân công giữa chính quyền và xã hội trong cung ứng dịch vụ và cấp tài chính cho các dịch vụ đó
Có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm xã hội hóa, tuy nhiên trong
đề tài này, chúng ta thừa nhận cách hiểu xã hội hóa là thu hút nguồn nhân lực, vật lực, trí lực và tài lực vào một hoạt động
Theo Tiến sỹ Đinh Thị Xuân Hòa, Học viện Báo chí và Tuyên truyền: “Xã hội hóa là quá trình mở rộng sự tham gia, chia sẻ của xã hội với một hoạt động, một dịch vụ hay một tri thức vốn là độc quyền của một tổ chức hay cá nhân nhằm để hoạt động hay sản phẩm đó được nhiều người biết
tới, sử dụng hay thưởng thức”
Có rất nhiều ý kiến, định nghĩa khác nhau về khái niệm xã hội hóa, tuy
nhiên trong đề tài này, chúng ta thừa nhận cách hiểu: xã hội hóa là thu hút
nguồn nhân lực, vật lực, trí lực và tài lực vào một hoạt động xã hội ở một lĩnh vực cụ thể nào đó trong đời sống xã hội
Xã hội hóa trong lĩnh vực báo chí truyền thông nói chung và truyền hình nói riêng
Với cách hiểu trên, xã hội hóa trong lĩnh vực báo chí truyền thông là huy động các nguồn lực xã hội vào hoạt động báo chí Xã hội hóa trong lĩnh
Trang 23vực báo chí truyền thông là khái niệm rất rộng, trong đó xã hội hóa hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí, xã hội hóa công tác phát hành báo chí…là những biểu hiện tập trung quan trọng nhất Xã hội hóa truyền hình thực chất là “sự tham gia vào quá trình sản xuất chương trình từ bên ngoài ngành truyền hình Trước kia, các chương trình truyền hình lên sóng đều là những sản phẩm của cán bộ, viên chức thuộc đài truyền hình, sản xuất chương trình với vốn, thiết
bị kỹ thuật và các điều kiện khác của đài truyền hình
Theo Tiến sỹ Đinh Thị Xuân Hòa, Học viện Báo chí và Tuyên truyền,
“Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình là quá trình mở rộng sự tham gia và thu hút nguồn lực của các cá nhân, tổ chức hay doanh nghiệp vào một hay nhiều khâu trong quy trình sản xuất các chương trình truyền hình – đây vốn là công việc của một tổ chức chuyên trách về lĩnh vực truyền hình của nhà nước Việt Nam”
Hiện nay, chúng ta được nghe nhắc nhiều đến việc mua bản quyền truyền hình - một xu thế chủ yếu thể hiện tính chuyên nghiệp của ngành truyền hình hiện đại, góp phần đưa truyền hình của nước ta tiến kịp và hội nhập với trình độ của thế giới Đài truyền hình, khi đó không phải ôm đồm các khâu sản xuất chương trình mà thay vào đó có thể đặt hàng một số đơn vị bên ngoài (chuyên làm về lĩnh vực nào đó của truyền hình) hoặc phối hợp với họ để tổ chức sản xuất chương trình Điều đó có được là do ngày càng có nhiều các đơn
vị bên ngoài kể cả nhà nước và tư nhân có khả năng đảm nhận một phần hoặc toàn bộ quá trình tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình Và đài truyền hình có thể tiếp nhận các chương trình đủ tiêu chuẩn để có thể phát sóng
Thực chất, vấn đề kinh tế và chi phí sản xuất là yếu tố chi phối chủ yếu quá trình xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở nước ta Ở một khía cạnh nào đó, các đơn vị ngoài đài truyền hình đều có thể lập công ty, phát triển tổ chức sản xuất chương trình truyền hình, miễn sao có kính phí hoạt
Trang 24động Về phía đài truyền hình, muốn đặt hàng chương trình nào đó để phát sóng cũng cần phải có sự đảm bảo về kinh phí Tuy nhiên, cốt lõi của vấn đề
xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình không phải là ở kinh phí mà là
sự huy động nguồn lực (vốn và nhân lực) của nhiều đơn vị, tổ chức, cá nhân không thuộc đài truyền hình tham gia vào quá trình sản xuất chương trình, nhằm giảm bớt áp lực cho các đài truyền hình cũng như tạo hiệu quả tốt cho các chương trình truyền hình Và tất cả các yếu tố này phải hướng đến một mục tiêu là nâng cao chất lượng các chương trình, thu hút sự quan tâm và ủng
hộ của công chúng
Như vậy, xã hội hội hóa truyền hình là tạo những điều kiện tốt nhất để cho các tổ chức cá nhân có thể hợp tác bình đẳng với các đài truyền hình để sản xuất chương trình truyền hình Tuy nhiên, khi đó các đài truyền hình phải sẵn sàng và chấp nhận cạnh tranh với các đối tác không nằm trong hệ thống truyền hình hiện nay
Với cách hiểu theo những khái niệm trên, xã hội hóa các hoạt động trong lĩnh vực truyền hình hay trong sản xuất chương trình truyền hình cũng chính là để thu hút nguồn lực xã hội (bên ngoài truyền hình) tham gia vào các hoạt động của lĩnh vực này Trong thời kỳ đầu, hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình theo hình thức liên kết, hợp tác giữa đài truyền hình với các đối tác Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, khái niệm này đã không còn trong phạm vi, giới hạn cụ thể Nói cách khác, xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình không chỉ dừng lại ở hoạt động thu hút nguồn lực để sản xuất các chương trình truyền hình đơn thuần mà còn có mô hình hợp tác, liên kết ở lĩnh vực khác của truyền hình Sự phát triển của khoa học công nghệ, trong đó
có công nghệ truyền dẫn cũng đã có tác động quan trọng vào nhận thức và hướng đi của người làm truyền hình trong việc triển khai các hoạt động xã hội hóa Trong điều kiện cần sớm hòa nhập với xu thế phát triển của công nghệ
Trang 25thế giới, đồng thời đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin của khán giả bằng nhiều phương thức đa dạng, thuận tiện và chất lượng cao, các đơn vị truyền hình bắt buộc phải ứng dụng các công nghệ truyền dẫn, phát sóng mới theo lộ trình số hóa chung của thế giới
Để đảm bảo tính định hướng và vai trò của quản lý nhà nước trong lĩnh vực truyền hình, cho đến thời điểm này, mặc dù đã thực hiện xã hội hóa ở cả hai lĩnh vực liên quan đến nội dung và hạ tầng kỹ thuật nhưng nội dung chương trình phát sóng vẫn do các đài truyền hình kiểm soát và chịu trách nhiệm về sản phẩm của mình
Hiểu theo nghĩa rộng, xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình
là huy động các nguồn lực (nguồn lực sáng tạo và nguồn lực vật chất) từ các
tổ chức, đơn vị, cá nhân ngoài đài truyền hình để sản xuất các chương trình truyền hình Cách làm này khác với cách làm chỉ dựa vào nguồn nhân lực, cơ
sở vật chất, kỹ thuật và ngân sách của bản thân đài truyền hình để thực hiện tác phẩm truyền hình Theo nghĩa này, thì xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình diễn ra từ lâu, với các hình thức rất khác nhau Nhưng hiện giờ việc này tiến hành rộng và có quy mô hiệu quả cao hơn
Theo nghĩa hẹp hơn, xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình, sản phẩm truyền hình hiểu là: có các đơn vị, tổ chức, có thể cá nhân ngoài đài cung cấp trọn vẹn sản phẩm theo yêu cầu của đài phát sóng Như vậy, sẽ có nhiều đơn vị thuộc nhiều thành phần kinh tế - xã hội khác nhau thực hiện trọn gói các sản phẩm truyền hình nhưng việc phát sóng thì thuộc quyền quản lý của các đài truyền hình Mô hình này cho phép xử lý được vấn đề tuân thủ các quy định về độc quyền Nhà nước về truyền hình sở hữu, vận hành, phát sóng, quản lý nội dung đồng thời huy động được đông đảo các lực lượng sáng tạo, sản xuất chương trình truyền hình trong toàn xã hội đóng góp thành quả lao động của mình vào chương trình phát sóng
Trang 26Thực chất, vấn đề kinh tế và chi phí sản xuất là yếu tố chi phối chủ yếu quá trình xã hội hóa truyền hình ở nước ta Ở khía cạnh nào đó, các đơn vị ngoài đài truyền hình muốn lập công ty, phát triển sản xuất chương trình truyền hình thì phải đảm bảo vấn đề vốn và kinh phí hoạt động Về phía các đài truyền hình, muốn đặt hàng chương trình nào đó có thể phát sóng cũng cần phải có sự đảm bảo về kinh phí Tuy nhiên, cốt lõi của vấn đề xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình không phải là tiền mà là sự huy động nguồn lực của các đơn vị, tổ chức, cá nhân không thuộc đài truyền hình tham gia vào quá trình sản xuất chương trình truyền hình, nhằm giảm bớt áp lực cho các đài truyền hình cũng như tạo hiệu quả tốt cho các chương trình, thu sự quan tâm
và ủng hộ của công chúng
Xã hội hóa các chương trình truyền hình khác với tư nhân hóa, thương mại hóa, lại không phải là “chia lô sóng truyền hình ra bán” Nhiều người đã hết sức lo ngại về hệ quả xu thế xã hội hóa truyền hình Quan niệm cho rằng thực chất đây có phải là tư nhân hóa truyền hình, là thương mại hóa báo chí,
là “bán sóng truyền hình” là không chính xác
Như vậy, xã hội hóa sản xuất các chương trình truyền hình là tạo những điều kiện tốt nhất để các tổ chức cá nhân có thể hợp tác bình đẳng với các đài truyền hình để sản xuất các chương trình truyền hình Việc cạnh tranh giữa các chương trình của các đài truyền hình với các đối tác không nằm trong hệ thống truyền hình hiện nay sẽ góp phần tích cực và lành mạnh vào việc nâng cao chất lượng, hiệu quả các chương trình truyền hình
Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xã hội hóa trong lĩnh vực truyền hình
Đánh giá chung của cơ quan quản lý Nhà nước về báo chí, những năm gần đây, báo chí tiếp tục phát triển nhanh về số lượng, loại hình, cơ sở vật chất kỹ thuật, tài chính được tăng cường và phần lớn báo chí hoạt động đúng
Trang 27tôn chỉ, mục đích, phản ánh kịp thời tâm tư nguyện vọng của nhân dân, góp phần tích cực vào thành tựu chung của cả nước Tính đến tháng 3/2012, về báo chí in, cả nước có 786 cơ quan báo chí in với hơn một nghìn ấn phẩm Trong đó, báo in có 194 cơ quan (gồm 81 báo chí Trung ương, 113 báo địa phương); tạp chí có 592 cơ quan (475 tạp chí Trung ương và 117 tạp chí địa phương) Về phát thanh, truyền hình, hiện cả nước có 67 đài phát thanh truyền hình Trung ương và địa phương, trong đó có 2 đài quốc gia, 1 đài truyền hình
kỹ thuật số, 64 đài phát thanh truyền hình cấp tỉnh, thành phố Ngoài hệ thống truyền hình quảng bá, hệ thống truyền hình trả tiền phát triển mạnh bằng nhiều loại công nghệ truyền dẫn như cáp, vệ tinh, số mặt đất, IPTV Đến nay,
cả nước đã có 47 đơn vị được cấp phép hoạt động truyền hình cáp, 09 đơn vị cung cấp dịch vụ truyền dẫn tín hiệu truyền hình cáp Trên hệ thống truyền hình trả tiền, hiện có 75 kênh truyền hình nước ngoài, phục vụ gần 2,5 triệu thuê bao Lĩnh vực thông tin điện tử cũng phát triển nhanh về số lượng với 61 báo, tạp chí điện tử, 191 mạng xã hội, hơn một ngàn trang thông tin điện tử tổng hợp Riêng đội ngũ làm báo đã tăng nhanh về số lượng lên đến 17 nghìn nhà báo có thẻ hành nghề
Bên cạnh những mặt tích cực trong hoạt báo chí nói chung, công tác quản lý Nhà nước về báo chí cũng phát sinh nhiều vấn đề mới cần quan tâm khắc phục theo tinh thần Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng trình Đại hội XI về phát triển hệ thống thông tin đại chúng Trong đó nhấn mạnh chú trọng nâng cao tính tư tưởng, chức năng thông tin, giáo dục; cần khắc phục xu thế thương mại hóa, rời xa tôn chỉ mục đích trong hoạt động báo chí; cơ quan báo chí và nhà báo chấp hành không đầy đủ, không đúng quy định về pháp luật của báo chí; công tác chỉ đạo, quản lý báo chí còn nhiều hạn chế, bị buông lỏng, bị động Công tác quản lý vẫn còn nhiều tồn tại, bất cập như: hệ thống văn bản pháp lý còn thiếu, chưa đồng bộ, chưa bổ sung, sửa
Trang 28đổi, điều chỉnh kịp thời sao cho phù hợp với thực tiễn hoạt động báo chí đang đổi mới và phát triển từng ngày
Ở góc độ quản lý hành chính Nhà nước đối với báo chí thì đây là vấn
đề lớn cần có thời gian để đúc kết, nhất là mối tương quan, hiệu quả tác động giữa thúc đẩy xã hội hóa và nâng cao trách nhiệm, nhiệm vụ, chức năng của
cơ quan báo chí; giữa lý luận và thực tiễn phát triển báo chí trong thời kỳ hội nhập Chính vì vậy, việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn để từ đó đề ra các giải pháp phù hợp ở từng giai đoạn nhằm nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với báo chí là yêu cầu quan trọng đối với các cơ quan quản lý các cấp (Bộ Thông Tin - Truyền Thông; Bộ Văn Hóa - Thể Thao - Du lịch; Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố)
Sau thời gian triển khai Nghị quyết 90/CP, công tác xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế và thể dục thể thao đã thu được những kết quả quan trọng Tuy nhiên, việc xã hội hóa trong lĩnh vực văn hóa được triển khai một cách thận trọng Riêng trong lĩnh vực phát thanh truyền hình, phải đến năm 2005, sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP (ngày 18.4.2005)
về đẩy mạnh việc xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa và thể dục thể thao, việc xã hội hóa phát thanh, truyền hình mới phát triển một cách rõ nét và mạnh mẽ
Văn bản quy phạm pháp luật mới nhất về lĩnh vực này cho tới nay là thông tư số 19/2009TT- BTTTT ngày 28 tháng 5 năm 2009 của Bộ Thông Tin
và Truyền Thông quy định về việc liên kết trong hoạt động sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình Văn bản này có quy định cụ thể, chi tiết những quy định về phạm vi, nghĩa vụ, quyền hạn của các bên tham gia liên kết, các chương trình không được tham gia liên kết… cụ thể như sau:
Đối tác liên kết trong sản xuất chương trình phát thanh, truyền hình là
tổ chức có tư cách pháp nhân, có đăng ký kinh doanh đang hoạt động theo
Trang 29pháp luật Việt Nam tham gia hợp tác với các đài phát thanh, truyền hình để tạo ra một phần hay toàn bộ sản phẩm liên kết
Quyền lợi của đối tác thực hiện việc liên kết sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình được trả bằng quyền lợi từ hoạt động quảng cáo, tài trợ hoặc từ nguồn thu phí phát thanh, truyền hình theo một phương thức nhất định khi phát sóng chính sản phẩm liên kết của đài phát thanh, truyền hình
Hình thức hoạt động liên kết có thể là trao đổi bản quyền chương trình hoàn chỉnh; trao đổi chương trình định dạng chương trình; tổ chức sản xuất chương trình hoặc một phần chương trình; hoặc tổ chức sản xuất toàn bộ kênh chương trình
Tuy nhiên, không thực hiện liên kết đối với các chương trình phát thanh, truyền hình thời sự, chính trị Đối với các đài phát thanh, truyền hình
có từ 02 kênh chương trình quảng bá trở lên, phải xác định một kênh thời sự - chính trị tổng hợp; và các chương trình thực hiện hoạt động liên kết trong kênh thời sự chính trị tổng hợp không được vượt quá 30% tổng thời lượng chương trình chương trình phát sóng lần một của kênh này
Đài phát thanh, truyền hình trước khi thực hiện hoạt động liên kết đối với các sản phẩm liên kết là kênh chương trình, chương trình định kỳ phải đăng ký với Bộ Thông tin và Truyền thông
Hồ sơ đăng ký bao gồm các thông tin về tên, nội dung, định dạng chương trình, thời điểm, thời lượng, kênh phát sóng của sản phẩm liên kết, hình thức liên kết, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia liên kết
Trong thời hạn 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ đăng ký hợp lệ, Bộ Thông tin và Truyền thông phải có trách nhiệm xem xét và có văn bản chấp thuận hoặc không chấp thuận hoạt động liên kết Trong trường hợp không chấp thuận, Bộ Thông tin và Truyền thông phải nêu rõ lý do
Đài phát thanh, truyền hình chỉ được thực hiện hoạt động liên kết sau khi có văn bản chấp thuận của Bộ Thông tin và Truyền thông
Trang 30Thông tư này được xem là văn bản mở đường cho việc liên kết một cách công khai hợp pháp của các đơn vị chuyên nghiệp về phát thanh truyền hình với các đơn vị khác
1.2 Một số đặc điểm về kinh tế truyền hình
Hoạt động của kinh tế truyền thông là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa tinh thần, vật chất phục vụ nhu cầu nâng cao nhận thức, giải trí, hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh Báo chí truyền thông nói chung và truyền hình nói riêng chỉ trở thành một ngành công nghiệp khi nó thực sự là một hoạt động kinh tế sản xuất quy mô lớn, được sự hỗ trợ thúc đẩy mạnh mẽ của các cơ chế chính sách và các tiến bộ công nghệ, khoa học kỹ thuật
Với vai trò là một ngành công nghiệp thì yếu tố chi phí và quy trình sản xuất của lĩnh vực báo chí truyền thông có ý nghĩa quan trọng Chi phí sản xuất được coi là điểm mấu chốt trong lý luận kinh tế chính trị Mức chi phí sản xuất là số liệu kinh tế cơ bản, ảnh hưởng trực tiếp đến định hướng của bất
kỳ doanh nghiệp nào, trên cả quy mô sản xuất và giá trị thành phẩm
Truyền hình là một ngành công nghiệp có nhiều điểm khác biệt so với các ngành công nghiệp truyền thống Sự khác biệt lớn nhất của ngành công nghiệp này nằm ở chỗ sản phẩm của nó đồng thời tác động đến hai thị trường: thị trường hàng hóa và thị trường dịch vụ
Sản phẩm hàng hóa mà ngành công nghiệp truyền hình sản xuất là nội dung thông tin trong các chương trình truyền hình, với sự đa dạng về thể loại, hình thức, kết cấu chương trình, phục vụ đa dạng các yêu cầu của công chúng Trong thời kỳ bùng nổ thông tin và cạnh tranh giữa các loại hình truyền thông đại chúng, sản phẩm truyền thông ngày càng phải đa dạng, đáp ứng nhiều nhóm công chúng có mối quan tâm chuyên biệt, đặc thù
Sản phẩm dịch vụ mà ngành truyền hình cung cấp cho các nhà quảng cáo, doanh nghiệp, đó là cơ hội tiếp cận công chúng Đặc điểm, số lượng và
Trang 31thời gian của công chúng tiêu thụ sản phẩm hàng hóa của truyền hình, sẽ tạo nên giá trị cho sản phẩm dịch vụ mà ngành công nghiệp truyền hình đem lại cho các nhà quảng cáo, doanh nghiệp Nói cách khác, các đài truyền hình không bán thời lượng phát sóng cho quảng cáo, mà chính là bán thời gian của công chúng xem chương trình truyền hình của mình cho các nhà doanh nghiệp Chính vì vậy, giá quảng cáo trong một chương trình có nhiều khán giả xem sẽ có giá trị cao hơn nhiều so với một chương trình bình thường cũng từ thực tế này mới có khái niệm giờ vàng trong truyền hình Ở Mỹ, giá cho một TVC quảng cáo thời lượng 30s ở các mạng lưới quốc gia có thể đạt đến 2,1 triệu USD, còn ở Việt Nam, giá quảng cáo cao nhất có thể lên đến 40-50 triệu đồng cho 1 TVC 30s
Sự tồn tại của thị trường quảng cáo là một trong những đặc tính cơ bản của kinh tế truyền thông, ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ ngành công nghiệp này
Giữa thị trường hàng hóa và thị trường dịch vụ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Sản phẩm hàng hóa (các chương trình truyền hình) có chất lượng cao, sẽ tạo tiền đề cho việc nâng cao giá trị của sản phẩm dịch vụ (vì có đông lượng người xem truyền hình), nhờ vậy, có khả năng tạo thêm được lợi ích kinh tế cho các nhà đài từ số lượng đông các hợp đồng quảng cáo với các doanh nghiệp và nhà tài trợ Tuy nhiên, cắt xén chương trình truyền hình để chèn hoạt động quảng cáo cũng là các làm giảm đi chất lượng của các chương trình - sản phẩm hàng hóa này
Hoạt động của truyền hình hiện đại được vận hành trên những nguồn thu tài chính khác nhau: tiền thuê bao, quảng cáo, hoặc những hình thức thu nhập khác phát sinh từ những bước đổi mới công nghệ với các giải pháp cung cấp tín hiệu truyền hình…nguồn thu của truyền hình có liên quan đến xu hướng phát triển của công nghệ, nhu cầu công chúng và khuynh hướng tiêu dùng cá nhân, có thể thống kê những loại nguồn thu chính:
Trang 32Quảng cáo là nguồn thu đem lại lợi nhuận lớn nhất và mang tính truyền thống nhất của các kênh truyền hình quảng bá hoặc truyền hình cáp Nguồn thu này cũng là hình thức truyền thống đối với truyền hình thương mại, và là nguồn thu nhập duy nhất hoặc là chủ yếu Sự xuất hiện quảng cáo trong các chương trình truyền hình không phụ thuộc việc được truyền bằng biện pháp
kỹ thuật nào (truyền hình mặt đất, cáp hay vệ tinh,…) mà nó chỉ quan tâm số lượng khán giả và mối tương quan giữa các biện pháp đó Cũng giống như báo in, thu nhập của truyền hình từ nguồn quảng cáo phụ thuộc nhiều vào thực trạng phát triển của nền kinh tế quốc dân Đây là yếu tố quyết định đến doanh thu của các doanh nghiệp chi trả nguồn kinh phí quảng cáo cũng như mức độ của nhu cầu tiêu thụ thị trường nói chung
Ngân sách hoặc tài trợ Tài trợ là nguồn thu đặc thù ở các giai đoạn phát triển sớm của thương mại truyền hình, và cũng là một nguồn thu đảm bảo tài chính cơ bản Sự khác biệt giữa tài trợ và quảng cáo là các nhà tài trợ chịu trách nhiệm hoàn toàn về tài chính đối với việc sản xuất chương trình cũng như mang quảng cáo đến cho chương trình Do giá thành và khoản tài trợ một chương trình truyền hình thường rất cao nên đã xuất hiện khả năng có một số doanh nghiệp cùng phối hợp tài trợ cho một chương trình Tài trợ hoặc ngân sách cũng là nguồn thu nhập được cho phép ở nhiều hãng truyền hình quảng bá công cộng, với điều kiện thông tin về nhà tài trợ không làm gián đoạn chương trình
Phí xem truyền hình là hình thức đảm bảo tài chính tựa như một dạng
“thuế” mà các chủ sở hữu tivi trả tiền cho việc sử dụng các kênh truyền hình nhất định, mặc dù về mặt pháp lý không ở bất kỳ nơi nào tồn tại dạng “thuế” này Dù rằng ở nhiều nước, thu phí xem truyền hình là nguồn đảm bảo tài chính cho truyền hình quảng bá công cộng, nhưng đây không phải bao giờ cũng là nguồn duy nhất Cho đến thời điểm hiện tại, chỉ có ở Anh (BBC),
Trang 33Thụy Sỹ (SV7), Na Uy (NRK) và Nhật Bản (NHK) các kênh truyền hình quảng bá công cộng chỉ duy trì nhờ vào khoản tiền phí này Ở nhiều nước, các hãng truyền hình quảng bá công cộng buộc phải tìm kiếm các khoản thu nhập khác, đa phần là quảng cáo (như ở Đức, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, các nước Trung và Đông Âu, Châu Á,…)
Phí xem truyền hình là hình thức quan hệ kinh tế trực tiếp giữa người cung cấp dịch vụ - các hãng truyền hình với người tiêu dùng - khán giả Theo nguyên lý hoạt động, truyền hình công ít chú ý đến nhu cầu thị trường của khán giả, mà chú ý đến những giá trị xã hội, những yếu tố văn hóa truyền thống Hiện nay, các kênh truyền hình thu phí đang có sự cạnh tranh trực tiếp với truyền hình công cộng, điều đó thể hiện ngay từ quan niệm của khán giả
về “chi phí cho truyền hình” tức là phí thuê bao trước đây đang chuyển hóa sang ý nghĩa mới là “chi phí trực tiếp” cho các kênh truyền hình và thậm chí cho các kênh truyền hình theo sự lựa chọn cá nhân
Đặt hàng thuê bao (đăng ký sử dụng) trong nhiều năm liền không tồn tại với truyền hình quảng bá mặt đất Sự phát triển như vũ bão của các thành tựu công nghệ nghe nhìn đã dẫn đến việc nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình phát qua vệ tinh, hoặc truyền hình cáp Khán giả có cơ hội lựa chọn mà trước đây chưa bao giờ có, họ có thể quyết định sẽ xem kênh nào giữa hàng chục thậm chí hàng trăm kênh truyền hình khác nhau Trong
hệ thống các kênh truyền hình có thể lựa chọn, có nhiều hình thức như kênh tổng hợp hay kênh chuyên biệt Những hình thức mới này đòi hỏi yêu cầu đảm bảo tài chính mới, ví dụ, các đài truyền hình sẽ đưa ra những hình thức dạng “gói” với những giá trị khác nhau, phù hợp với nhu cầu và khả năng chi trả của mỗi khán giả
Việc đặt hàng xem các kênh truyền hình là biện pháp đảm bảo tài chính tương đối mới của công nghiệp truyền hình, có những ưu điểm và hạn
Trang 34chế nhất định Đối với khán giả, nhược điểm của biện pháp này nằm ở giá thành kết nối ban đầu cao Còn đối với ngành công nghiệp truyền hình thì cần phải nhanh chóng thu hút được khoản đầu tư lớn để sản xuất chương trình hấp dẫn tạo ra khối lượng thuê bao ban đầu Bên cạnh đó, việc tự sắp xếp đặt gói nội dung truyền hình ưa thích cho riêng mình là yếu tố lôi cuốn khiến công chúng đăng ký sử dụng các dịch vụ truyền hình có thu phí Đối với bản thân các đài truyền hình, nguồn thu nhập kết hợp giữa hình thức đặt hàng và quảng cáo trở thành phương thức kinh doanh giúp ổn định các dịch
vụ mới của ngành truyền hình
Một ưu thế nữa của hình thức kinh doanh theo hướng đặt hàng là các đài truyền hình có thể nắm bắt quản lý chặt chẽ hơn lượng khán giả của mình Việc nhà đài có thông tin về đặc trưng nhân khẩu học của khán giả, là điều các nhà quảng cáo hết sức quan tâm
Xem theo yêu cầu là (pay-per-view) là phương pháp truyền thống được áp dụng với các dịch vụ viễn thông, và cũng đang dần được áp dụng đối với ngành công nghiệp truyền hình Hình thức kinh doanh này xuất hiện như hệ quả của sự hội tụ công nghệ viễn thông - công nghệ thông tin và truyền thông bắt đầu từ những năm 1990 Phương pháp xem trả tiền chỉ có thể thực hiện trong điều kiện nhà cung cấp truyền hình và khán giả có mối quan hệ chặt chẽ bởi hạ tầng thiết bị công nghệ Khán giả có thể “mua” bất
kể chương trình nào mà mình thích, vào bất cứ thời điểm nào Đây là cơ sở
để phát triển loại hình IPTV- truyền hình qua giao thức IP Internet Tại Mỹ, nguồn doanh thu từ riêng hoạt động tải và xem theo yêu cầu (download) năm 2011 đã đạt trên 700 triệu USD
Khả năng trả tiền theo giờ được các hãng truyền hình cung cấp theo hai loại Thứ nhất, các kênh truyền hình mặt đất có tên gọi là “near-video-on-demand”
Trang 35Với hình thức này, khán giả được cung cấp một số lượng chương trình nhất định (phim truyện, thể thao) thường xuyên được phát sóng trên nhiều kênh truyền hình khác nhau, cách nhau một quãng thời gian khoảng 10-15 phút
Thứ hai, là video-on demand (video theo yêu cầu) Khán giả có thể trực tiếp lựa chọn, đặt hàng những nội dung mình yêu thích, có thể làm bất cứ điều
gì với chương trình đó tương tự như đối với 1 băng video như: ghi lại, dừng, tua, thông qua bộ thiết bị giải mã tín hiệu (setup box)
Bên cạnh đó, truyền hình còn có một số nguồn thu từ các mô hình kinh doanh như bán thiết bị đầu cuối (tivi, thiết bị thu vệ tinh, thiết bị giải mã setup box), dịch vụ giá trị gia tăng (thương mại điện tử trực tuyến, khảo sát công chúng, dịch vụ viễn thông…), các khoản thu từ các dịch vụ liên quan đến nội dung như tổ chức sự kiện, phát hành băng đĩa, kinh doanh bản quyền,…
Ở nhiều nước trên thế giới, hệ thống truyền hình được xây dựng theo
mô hình tổ chức: thương mại, quảng bá công cộng và quốc gia, trong đó quyền được cung cấp tần số phát sóng (đài phát sóng) không chỉ dành riêng cho các tổ chức nhà nước mà cho cả doanh nghiệp tư nhân có đủ điều kiện
Bên cạnh đó, các đài truyền hình thường không thể tự mình thực hiện tất cả các nhiệm vụ sản xuất chương trình, mà phải nhờ cậy các lực lượng khác trong xã hội Do đó, ở nhiều nước trên thế giới các đài truyền hình chủ yếu quản lý việc phát sóng chương trình đến với khán giả, và việc sản xuất các chương trình sẽ huy động và cộng tác với các doanh nghiệp sản xuất chương trình Sự hình thành các công ty, doanh nghiệp chuyên sản xuất các nội dung truyền hình có nguyên nhân chính xuất phát từ thực tiễn hoạt động nghiệp vụ của lĩnh vực này: chi phí cao, quá trình sản xuất công phu, phụ thuộc vào công nghệ, hoạt động trong điều kiện cạnh tranh khốc liệt,…yêu cầu bắt buộc phải liên tục đổi mới nội dung, đòi hỏi các nhà sản xuất chương trình phải thường xuyên tìm kiếm các nhà đạo diễn, biên kịch, các nhà báo tài
Trang 36năng cộng tác Việc các đài truyền hình tự sản xuất và lấp đầy nội dung phát sóng sẽ khiến tổng chi phí sản xuất chương trình đội lên rất cao Vì vậy, các đài có xu hướng “mua” các sản phẩm đã được các công ty chuyên nghiệp
“gia” công Có thể phân chia theo hai mô hình tổ chức sản xuất chương trình truyền hình cơ bản, khác nhau ở hình thức sở hữu bản quyền cuối cùng
Mô hình thứ nhất xây dựng theo nguyên tắc hợp tác phân chia quyền lợi, trong đó các hãng sản xuất liên kết về mặt tài chính với các đài truyền hình Kết quả của sự hợp tác này là quyền tác giả đối với các chương trình được sản xuất ra chia theo tỷ lệ đầu tư của mỗi bên Theo đó, các đài truyền hình nhận được sự sở hữu cấp độ hai hoặc cấp độ ba đối với các chương trình truyền hình và họ được tự do phát sóng Lợi thế về mặt kinh tế của mô hình này là, trong trường hợp xảy ra thất bại, thiệt hại kinh tế cũng được chia đều
Mô hình thứ hai được xây dựng khi các đài truyền hình thiên về việc đầu tư tài chính cho toàn bộ quá trình sản xuất mà các đạo diễn độc lập đưa
ra, với điều kiện giữ toàn bộ bản quyền, nghĩa là sau khi sản xuất, các đài truyền hình trả cho các đối tác số % lãi nhất định và nhận quyền sở hữu tác giả đối với toàn bộ nội dung trên và có thể sử dụng hoặc cung cấp ra thị trường truyền hình
Tại Việt Nam, chỉ có các đài truyền hình nhà nước với tư cách là một
cơ quan báo chí mới được cấp phép tần số phát sóng Nhiệm vụ chính của các đài truyền hình là thực hiện chức năng thông tin, tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và cung cấp các dịch vụ công, góp phần giáo dục, nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân bằng các chương trình truyền hình Bên cạnh nhiệm vụ chính trị, các đài truyền hình cũng dần được vận hành gần như một doanh nghiệp, được xây dựng các mô hình kinh doanh theo quy định của pháp luật
Trước năm 2005, Truyền hình ở Việt Nam chủ yếu chỉ hướng đến các đài truyền hình Trung ương và địa phương, do thời điểm này số lượng và vai
Trang 37trò của các công ty truyền thông - truyền hình có vai trò nhà sản xuất cung cấp nội dung, liên kết xã hội hóa còn chưa cao Ở thời điểm hiện nay, số lượng các doanh nghiệp truyền hình đã có sự phát triển vượt bậc cả về số lượng và lĩnh vực kinh doanh, hệ thống sản phẩm và nguồn thu Vì Vậy, một bức tranh tổng quan về mô hình kinh tế của truyền hình Việt Nam cần dựa trên hai nhóm: hệ thống các đài truyền hình Trung ương và địa phương và hệ
thống các doanh nghiệp xã hội
1.3 Vị trí, vai trò của truyền hình và các chương trình giải trí trên truyền hình
Truyền hình là cơ quan và cũng phương tiện thông tin đại chúng Trước hết phục vụ nhu cầu thông tin của công chúng Nhưng, quan trọng hơn, truyền hình nói riêng và báo chí nói chung phải thực hiện chức năng tư tưởng, với mục tiêu tác động vào ý thức xã hội, hình thành một hệ tư tưởng chủ đạo với những định hướng nhất định Với khả năng tác động một cách rộng lớn, truyền hình cung cấp cho người xem một thế giới âm thanh và hình ảnh sinh động cụ thể, từ đó xây dựng thế giới quan sinh động cho khán giả xem truyền hình, và có tác dụng rất lớn trong việc giáo dục tư tưởng cho người xem
Thông tin trên truyền hình tác động lớn đến nhận thức và hành vi của công chúng, vì vậy, phải khách quan trung thực, để khán giả nhận thức đúng đắn, phù hợp với đường lối của Đảng và Nhà nước Bên cạnh đó, truyền hình còn thực hiện chức năng tổ chức, giám sát, quản lý xã hội Truyền hình không chỉ góp phần tuyên truyền, nâng cao nhận thức của nhân dân về chủ trương chính sách của Đảng và Nhà Nước, mà còn là diễn đàn phản ánh những tâm
tư nguyện vọng của người dân Truyền hình là một trong những kênh thông tin đại chúng, có vai trò quan trọng trong giám sát xã hội Trong quá trình giám sát xã hội, báo chí nói chung và truyền hình nói riêng không chỉ đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng, phanh phui các vụ việc không lành mạnh ra
Trang 38trước công luận, mà còn kịp thời biểu dương các hiện tượng tích cực, phát hiện, cổ vũ nhân tố mới…
Truyền hình còn là kênh văn hóa giải trí của nhân dân, đây cũng là một trong những chức năng quan trọng của truyền hình Các sản phẩm giải trí chất lượng trên truyền hình góp phần to lớn vào việc nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc cũng như giao lưu, tiếp thu các tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên thế giới phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước, chấn hưng dân tộc Số lượng và chất lượng các sản phẩm này cũng là một trong những tiêu chí đánh giá trình độ phát triển của một cộng đồng, một đất nước Đồng thời, mức độ và khuynh hướng tiếp nhận sản phẩm còn là tiêu chí đánh giá trình độ, diện mạo văn hóa của mỗi người Giao tiếp qua truyền thông đại chúng có vai trò rất quan trọng trong việc khẳng định và nhân rộng các giá trị văn hóa dân tộc, giữ gìn lưu truyền các văn hóa ấy
Truyền hình tạo cơ hội cho đông đảo nhân dân tham gia giải trí, tức là tạo điều kiện, tổ chức và hướng dẫn công chúng sử dụng thời gian rỗi một cách hữu ích để cân bằng trạng thái tâm lý và tái sản xuất sức lao động Truyền hình có ưu thế về tổ chức các chương trình trò chơi cho mọi tầng lớp dân cư có thể tham gia - vừa giải trí vừa mở mang hiểu biết, rèn luyện sức bật
tư duy, khả năng suy luận, phán đoán…
Cuộc sống hiện đại hối hả, con người càng mệt mỏi và căng thẳng, thì nhu cầu giải trí càng cao Truyền hình đem lại cho khán giả thế giới hình ảnh và âm thanh sống động, hấp dẫn, giúp họ nghỉ ngơi thư giãn tại nhà, mà vẫn giao lưu văn hóa với thế giới bên ngoài Thông qua giải trí, khán giả xem truyền hình còn
có điều kiện nâng cao kiến thức của mình về mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội Nhiều gameshow hay trò chơi truyền hình như: “Ai là triệu phú”, “Hãy chọn giá đúng”, “Rồng vàng”,…không chỉ mang lại cảm giác hồi hộp, thú vị cho người xem, mà còn cung cấp nhiều kiến thức về các lĩnh vực trong đời sống văn hóa xã hội như lịch sử, địa lý, khoa học, văn học, nghệ thuật,…
Trang 39Truyền thông thế giới đang phát triển theo xu hướng ngày càng cân bằng giữa thông tin chính trị-xã hội và thông tin kinh tế- tư vấn- giải trí Đây là nhu cầu của một xã hội hiện đại và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế thế đó Chính vì vậy, mà các chương trình giải trí ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong kết cấu chương trình của các đài truyền hình cũng như nó chiếm một thời lượng khá lớn trong tổng thời lượng phát sóng của các đài Trong xu thế xã hội hóa các chương trình, sản phẩm truyền hình, đây cũng là lĩnh vực đi đầu và phát triển mạnh nhất Quan trọng hơn nữa, đây là lĩnh vực có nguồn thu lớn giúp các đài có thể tự cân đối kinh phí cho hoạt động của đài, đầu tư nâng cao chất lượng các chương trình khác hoặc chính các chương trình giải trí
Tiểu kết chương 1
Các phương tiện truyền thông đại chúng trong đó có truyền hình đóng vai trò quan trọng trong đời sống hiện đại, là nguyên nhân khiến lĩnh vực này, nhất là truyền hình trở thành đối tượng được công chúng và các nghiên cứu quan tâm Truyền hình đang trở thành một ngành công nghiệp, đạt được lợi nhuận kinh tế cao và cũng là đối tượng được nhiều nhà nghiên cứu báo chí, truyền thông và kinh tế quan tâm
Xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình là tạo ra những điều kiện tốt nhất để các tổ chức, cá nhân có thể hợp tác bình đẳng với các đài truyền hình Truyền hình là một loại truyền thông rất tốn kém, và tiến trình xã hội hóa đang mang lại nguồn lực cho hoạt động sản xuất các chương trình phát triển, kể
cả phương tiện tài chính, kỹ thuật, nhân lực và nội dung Quá trình này làm cho đông đảo các đối tượng trong xã hội ngày một tham gia nhiều hơn, trực tiếp hơn vào các công đoạn sản xuất của truyền hình, làm chất lượng chương trình
và hiệu quả kinh tế tăng lên rõ rệt Tuy nhiên, quá trình xã hội hóa truyền hình trong giai đoạn phát triển đầu tiên cũng phát sinh nhiều bất cập, mà các đài truyền hình, các hệ thống truyền hình cần điều chỉnh và khắc phục
Trang 40Chương 2 THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ KINH TẾ CÁC CHƯƠNG TRÌNH PHIM TRUYỆN, TRÒ CHƠI TRUYỀN HÌNH, CA NHẠC
ĐƯỢC PHÁT TỪ THÁNG 06/2011 ĐẾN THÁNG 06/2012
2.1 Vài nét về quá trình phát triển của Đài PTTH Kiên Giang
2.1.1 Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội tỉnh Kiên Giang
Kiên giang là một tỉnh nằm ở phía Tây Nam của Tổ Quốc, có đường biên giới dài 56,8 km, có bờ biển dài 198km, với diện tích tự nhiên 6.346km2, lớn nhất Đồng bằng sông Cửu Long, lớn thứ 16 trong cả nước Trong đó 606km2 hải đảo, nằm trong 05 quần đảo tạo thành thế liên hoàn trấn giữ vùng biển Kiên Giang rộng gần 100.000 km2 giáp với vùng biển hai nước Campuchia và Thái Lan Kiên Giang có 02 huyện đảo Phú Quốc và Kiên Hải với 105 hòn đảo lớn nhỏ; có hai cửa khẩu: cửa khẩu quốc tế là Hà Tiên và cửa khẩu quốc gia là Giang Thành
Dân số tỉnh Kiên Giang là 1.683.149 người, trong đó 12,4%, tương đương 210.000 người là đồng bào dân tộc Khmer, có 78% dân số sống bằng nông nghiệp
Kiên Giang có điều kiện đa dạng về địa hình cho nên có thể phân chia thành các vùng sinh thái khác nhau, ứng với nó là những đặc điểm về văn hóa
xã hội khác nhau
Kiên Giang, với đa dạng vùng sinh thái Đặc biệt, vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo dân cư sống phân tán trên địa bàn rộng, đời sống văn hóa tinh thần còn hạn chế
Trong những năm qua, cùng với những thành tựu về phát triển kinh tế, đời sống vật chất, đời sống tinh thần của nhân dân tỉnh Kiên Giang cũng từng bước được cải thiện Kinh tế của tỉnh cũng phát triển rõ rệt, mức sống của mọi người dân được nâng lên dẫn đến nhu cầu về giải trí cũng phát triển chính vì