Vai trò của báo chí đối với vấn đề bảo vệ môi trường………...26 Chương 2: Thực trạng tiếp nhận thông tin trên báo chí và tác động của báo chí đến người dân đối với việc bảo vệ môi trường ở
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÚNG
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TRÍ NHIỆM
Hà Nội - 2009
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU……… …3
Chương 1: Báo chí đối với công tác bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh…10 1.1 Một số khái niệm……… 10
1.2 Những vấn đề đặt ra đối với môi trường Quảng Ninh……… 13
1.3 Vai trò của báo chí đối với vấn đề bảo vệ môi trường……… 26
Chương 2: Thực trạng tiếp nhận thông tin trên báo chí và tác động của báo chí đến người dân đối với việc bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh….41 2.1 Thực trạng và nhu cầu tiếp nhận thông tin báo chí của người dân về vấn đề bảo vệ môi trường………46
2.2 Báo chí đối với việc bảo vệ môi trường Quảng Ninh………72
2.3 Đánh giá về những thành công và hạn chế của 3 báo trong việc bảo vệ môi trường……… 82
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường……….82
3.1 Tuyên truyền bảo vệ môi trường là vấn đề cấp bách cho phát triển bền vững……… 82
3.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả của báo chí tuyên truyền về môi trường ……….84
3.3 Xóa bỏ các rào cản……….92
KẾT LUẬN……… 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO……… 100
Trang 3MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, vấn đề ô nhiễm môi trường đang đặt
ra cho các nhà quản lý những bài toán hết sức nan giải Làm thế nào để vừa đảm bảo phát triển kinh tế xã hội, vừa hạn chế được những tác động tiêu cực của phát triển đến môi trường sống của con người?
Hàng loạt các vụ việc vi phạm nghiêm trọng về bảo vệ môi trường thời gian qua được đưa ra công luận như: việc xả nước thải chưa qua xử lý ra sông Thị Vải của Công ty Vedan; Việc chôn lấp rác thải y tế của BV huyện Yên Hưng, việc xả nước thải độc hại ra môi trường của một loạt các nhà máy khác
đã gióng lên hồi chuông cảnh báo tình trạng ô nhiễm môi trường của nước ta hiện nay Điều đặc biệt là những nhà máy, xí nghiệp đã gây ô nhiễm môi trường trong nhiều năm nay nhưng không bị phát hiện hoặc có phát hiện thì cũng được xử lý hết sức nhẹ nhàng rồi cho qua Chỉ đến khi cơ quan cảnh sát môi trường vào cuộc, báo chí đưa tin liên tiếp về những vi phạm nghiêm trọng thì dư luận, cơ quan chức năng ở các địa phương mới kiểm tra, rà soát lại tình hình ô nhiễm môi trường ở địa phương mình Và nếu như không có “tiếng súng hiệu” là vụ việc vi phạm của Công ty Vedan thì những vụ việc vi phạm môi trường khác có được đưa ra ánh sáng? Người dân có biết để mà đưa lên công luận những cơ sở gây ô nhiễm ở địa phương mình
Điều này cho thấy vai trò hết sức to lớn của báo chí trong việc hình thành
dư luận trong việc bảo vệ môi trường
Chỉ thị 36-CT/TW về tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời
kỳ công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước đã nêu rõ “Bảo vệ môi trường là
sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân” Ngày 15-11-2004, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 41-NQ/TW nhằm đẩy mạnh hơn nữa các hoạt động bảo vệ môi trường, trong đó nhấn mạnh đến vai trò của truyền thông nói chung, báo
Trang 4chí nói riêng trong công tác bảo vệ môi trường Trong đó, giải pháp “đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức và trách nhiệm bảo vệ môi trường” được đưa lên vị trí hàng đầu
Tại Quảng Ninh, tình trạng ô nhiễm môi trường không chỉ xảy ra tại những khu vực công nghiệp, dịch vụ phát triển, những khu vực đông dân cư
mà còn xảy ra ngay ở những vùng tưởng như ít bị tác động nhất của ô nhiễm môi trường đó là các vùng nông nghiệp nông thôn, vùng miền núi hải đảo Trong những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường, bên cạnh những nguyên nhân “thứ phát” như là các chất thải công nghiệp, quá trình khai thác than, quá trình đô thị hoá gây hiệu ứng nhà kính thì còn có những nguyên nhân “nguyên phát” do ý thức sinh hoạt của con người Tuy nhiên, phần nhiều chúng ta mới chỉ nhận thấy những nguyên nhân gây ô nhiễm “thứ phát”, còn những nguyên nhân gây ô nhiễm “nguyên phát” thì thường ít được đề cập đến
Trong những năm qua, việc tuyên truyền của báo chí nói chung đối với vấn đề bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh còn nhiều hạn chế Các cơ quan báo chí chủ yếu chỉ mới tập trung tuyên truyền đối với những điểm nóng về ô nhiễm môi trường mà đa phần người ta có thể dễ dàng nhận thấy được như: tình trạng ô nhiễm môi trường không khí do khai thác than, vấn đề ô nhiễm nguồn nước Vịnh Hạ Long do rác thải và hoạt động du lịch gây ra Thông qua những thông tin về những vụ việc ô nhiễm cụ thể đó cũng
đã bước đầu góp phần tạo dư luận yêu cầu các cơ quan có trách nhiệm giải quyết tình trạng ô nhiễm đó Tuy nhiên, có một thực tế là có rất nhiều nguồn ô nhiễm lại do ý thức sinh hoạt, sử dụng sản phẩm của người dân mà còn ít được đề cập Trong đó, thói quen sử dụng túi ni lông, sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật một cách tràn lan không theo hướng dẫn, không có nguồn gốc cũng là những nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Trang 5Quảng Ninh vốn được ví như là “nước Việt Nam thu nhỏ” do có những đặc thù địa lý đặc trưng của nhiều vùng miền trong cả nước bao gồm đồng bằng, duyên hải, miền núi Do vậy, vấn đề ô nhiễm môi trường trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh cũng tương đối đặc trưng Khi nghiên cứu, đánh giá những tác động của báo chí đối với công tác bảo vệ môi trường cũng sẽ cho chúng ta cái nhìn tương đối rõ về tình trạng ô nhiễm môi trường của địa phương, đồng thời chỉ rõ những hạn chế của báo chí trong công tác tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường cho người dân
Việc nghiên cứu, đánh giá tác động của báo chí của tỉnh trong việc nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường có ý nghĩa hết sức quan trọng Đây là dịp để nhìn nhận, đánh giá những việc làm được cũng như những hạn chế trong công tác tuyên truyền trên báo chí về ý nghĩa, vai trò của công tác bảo vệ môi trường đối với việc nâng cao đời sống của người dân, vì mục tiêu phát triển bền vững
Với những vấn đề đang đặt ra trong lý luận và thực tế trong quá trình triển
khai công việc trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh tôi chọn đề tài: “Đánh giá tác động của báo chí đối với vấn đề bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh” làm
đề tài cho luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành Báo chí
2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
- Ở các nước phát triển vấn đề môi trường luôn được quan tâm từ lý luận
đến thực tiễn Đã có một số nghiên cứu về vai trò của truyền thông, trong đó
có báo chí, với việc bảo vệ môi trường
- Ở Việt Nam, liên quan đến vấn đề môi trường đã có nhiều công trình nghiên cứu ở các mức độ khác nhau (sách, hội thảo khoa học, bài báo, khoá luận tốt nghiệp, luận văn cao học…) Ví dụ tác phẩm: Nhà báo môi trường thời toàn cầu hoá, Diễn đàn các nhà báo môi trường Việt Nam, NXB Hà Nội,
Trang 62005; luận văn tốt nghiệp thạc sỹ chuyên ngành Báo chí học, của Mai Thị Dung, học viên cao học khóa X với đề tài: “Đề tài môi trường trên báo chí hiện nay”; Cơ sở khoa học môi trường, Lưu Đức Hải, NXB Đại học quốc gia
Hà Nội năm 2005; Giáo trình môi trường và con người, Lê Thị Thanh Mai, NXB Đại học giáo dục TPHCM năm 2005; Quy hoạch môi trường phát triển bền vững, Nguyễn Thế Thôn, NXB Khoa học kỹ thuật Hà Nội năm 2004; Những quy định về môi trường đô thị, Nguyễn Thị Thu Hương, NXB Lao Động năm 2003; Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường ở một số khu công nghiệp phía Bắc tới sức khỏe cộng đồng, Trần Văn Tùng, NXB Khoa học xã hội Hà Nội năm 2005; Vịnh Hạ Long, NXB Văn hóa Thông tin Hà Nội
- Tuy nhiên, đánh giá về tác động của báo chí đối với công tác bảo vệ môi trường nước ta nói chung, ở Quảng Ninh nói riêng chưa có đề tài luận văn nào thực hiện
3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
*Mục đích nghiên cứu:
Thông qua việc đánh giá tác động của báo chí đối với công tác bảo vệ môi trường tại Quảng Ninh, tác giả đề xuất các kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của báo chí trong việc tuyên truyền về bảo vệ môi trường
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên tác giả dự kiến sẽ thực hiện một số nhiệm vụ sau:
- Điều tra, đánh giá thực trạng tiếp nhận thông tin của độc giả Quảng Ninh về vấn đề môi trường trên các bình diện: thông tin kiến thức, pháp luật
về bảo vệ môi trường, thông tin phát hiện vấn đề bảo vệ môi trường (biểu dương, phê phán)
Trang 7- Điều tra nhu cầu tiếp nhận thông tin của độc giả về vấn đề môi trường
- Nghiên cứu lý luận báo chí để từ đó làm rõ vai trò của báo chí trong việc bảo vệ môi trường
- Khảo sát tình hình ô nhiễm môi trường ở Quảng Ninh (thông qua các phương pháp nghiên cứu văn bản, quan sát, phỏng vấn, điều tra xã hội học, phỏng vấn sâu) Làm rõ nội hàm của vấn đề bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh dựa trên những đặc thù của tỉnh về công nghiệp, du lịch – dịch vụ, vùng nông nghiệp – nuôi trồng thủy sản
- Khảo sát, thống kê, phân loại các tác phẩm báo chí liên quan đến vấn đề nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá những thành công, hạn chế của báo chí trong việc tuyên truyền bảo vệ môi trường
- Đánh giá các nguyên nhân chủ quan, khách quan dẫn đến thành công và hạn chế trong công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường
- Đề xuất một số kiến nghị và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh
* Đối tượng nghiên cứu của luận văn: Tác động của báo chí với việc
bảo vệ môi trường
Trang 84 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
* Cơ sở lý luận
- Dựa trên quan điểm học thuyết Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, Nhà nước Việt Nam về vấn đề môi trường và vai trò của báo chí đối với việc bảo vệ môi trường
- Lý luận về báo chí và tâm lý học tiếp nhận
*Phương pháp nghiên cứu cụ thể:
- Khảo sát, thống kê, phân loại các tác phẩm báo chí liên quan đến đề tài bảo vệ môi trường trong thời gian khảo sát
- Phân tích văn bản tác phẩm
- Điều tra công chúng
- Phỏng vấn sâu
- Quan sát
- Toạ đàm, trao đổi (nếu điều kiện kinh tế và thời gian cho phép)
- Tương tác qua mạng internet trên Báo Quảng Ninh điện tử tại địa chỉ http://www.baoquangninh.com.vn
5 ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Thứ nhất là: Khẳng định vai trò và khả năng của báo chí trong việc góp
phần bảo vệ môi trường ở 3 khía cạnh:
- Cung cấp thông tin, kiến thức, luật pháp về lĩnh vực bảo vệ môi trường để từ đó góp phần nâng cao nhận thức, ý thức và hành vi của người dân về vấn đề môi trường
- Đấu tranh chống những biểu hiện vi phạm môi trường
- Chia sẻ thông tin về vấn đề môi trường
Thứ hai là: Đánh giá tương đối chính xác về hiệu quả của báo chí trong
việc góp phần bảo vệ môi trường
Trang 9Thứ ba là: Đề xuất các kiến nghị, giải pháp để báo chí tuyên truyền đạt
hiệu quả hơn về công tác bảo vệ môi trường
6 Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA LUẬN VĂN
* Về lý luận: luận văn khẳng định vai trò và khả năng của báo chí trong
việc tham gia bảo vệ môi trường, làm phong phú hơn lý luận báo chí đặc biệt
là chức năng và nhiệm vụ của báo chí trong xã hội hiện đại
- Trên cơ sở khảo sát thực tiễn khái quát được mô hình tuyên truyền bảo
vệ môi trường hiệu quả trên báo chí
* Về thực tiễn: Nếu kết quả nghiên cứu được áp dụng sẽ góp phần nâng
cao chất lượng công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường cho nhà báo, các cơ quan báo chí trong vấn đề bảo vệ môi trường của tỉnh Quảng Ninh nơi có di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long cũng như việc tuyên truyền bảo vệ môi trường của các cơ quan báo chí nói chung
7 KẾT CẤU LUẬN VĂN
Ngoài phần mở đầu; kết luận; danh mục tài liệu tham khảo; phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Báo chí với công tác bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh
Chương 2: Thực trạng tiếp nhận thông tin trên báo chí và tác động của báo chí đến người dân đối với việc bảo vệ môi trường ở Quảng Ninh (
Khảo sát Báo Quảng Ninh, Báo Tiền Phong, Báo Lao Động)
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác tuyên truyền bảo vệ môi trường
Trang 10CHƯƠNG 1: BÁO CHÍ VỚI CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Ở QUẢNG NINH 1.1 Một số khái niệm
1.1.1 Khái niệm về môi trường
Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm môi trường Quan điểm thứ nhất cho rằng, môi trường là sinh quyển, sinh thái cần thiết cho sự sống tự nhiên của con người Môi trường cũng là nới chứa đựng nguồn tài nguyên cần thiết cho quá trình sản xuất ra của cải vật chất Trong quá trình khai thác tài nguyên, nếu như mức độ khai thác nhanh hơn mức độ tái tạo thì gây ra tình trạng khan hiếm, cạn kiệt về môi trường
Quan điểm thứ hai cho rằng, môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của một sự vật nào đó Đối với cơ thể sống thì môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có ảnh hưởng đến sự phát triển của cơ thể Tương tự như vậy, môi trường sống của con người là tổng hợp các điều kiện vật lý, hóa học, sinh học, xã hội bao quanh con người và có ảnh hưởng tới sự sống, sự phát triển của từng cá nhân
và toàn bộ cộng đồng người Thuật ngữ “môi trường” thường được dùng với nghĩa này bởi định nghĩa môi trường được đề cập một cách toàn diện hơn với đầy đủ các yếu tố cấu thành của nó, bao quanh mọi cơ thể sống Môi trường
có quan hệ với sự sống, gắn chặt với sự sống
Quan điểm thứ ba cho rằng, môi trường ở thời điểm nhất định là tập hợp các nhân tố vật lý, hóa học, sinh học và xã hội gây nên tác động gián tiếp hoặc trực tiếp, trước mắt hoặc lâu dài tới các loài vật sống và hoạt động của con người
Năm 1981, UNESCO đưa ra định nghĩa về môi trường như sau: “Môi trường là toàn bộ các hệ thống tự nhiên và các hệ thống do con người tạo ra xung quanh mình, trong đó con người sống bằng sức lao động của mình, đã
Trang 11khai thác các tài nguyên thiên nhiên hoặc nhân tạo nhằm thỏa mãn các nhu cầu của con người”
Theo từ điển tiếng Việt năm 2006 của Nhà xuất bản Ngôn ngữ: “Môi trường là toàn bộ nói chung những điều kiện tự nhiên, xã hội, trong đó con người hay một sinh vật tồn tại, phát triển, trong quan hệ với con người, sinh vật ấy
Môi trường sinh thái là toàn bộ các điều kiện vô cơ và hữu cơ của các hệ sinh thái ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và mọi hoạt động khác của xã hội loài người
Điều 3, Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 định nghĩa: Môi trường bao
gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật Như vậy, có thể nêu ra một khái niệm chung về môi trường như sau: Môi trường là tập hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người có ảnh hưởng tới con người và tác động qua lại với các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, đất, sinh vật, xã hội loài người
Hiện nay, khái niệm môi trường nói chung thường được mọi người sử dụng ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau Ví như môi trường giáo dục, môi trường
sư phạm, môi trường sinh thái, môi trường pháp lý, Mỗi lĩnh vực người ta phân tích khái niệm môi trường ở một khía cạnh riêng Trong phạm vi luận văn này, tôi phân tích để làm rõ và vận dụng khái niệm môi trường tự nhiên, môi trường sống của con người, động vật, thực vật
Môi trường tự nhiên: bao gồm đất, nước, không khí, hệ sinh thái, động thực vật và điều kiện tự nhiên khác có ảnh hưởng tương đối tới cuộc sống của con người Các yếu tố cấu thành môi trường tự nhiên hoàn toàn do tự nhiên cấu tạo nên
Trang 12Như vậy, môi trường tự nhiên tồn tại khách quan ngoài ý muốn con người Trong quá trình phát triển môi trường tự nhiên có sự thay đổi do những yếu tố cấu thành của nó hoặc do hoạt động của con người gây nên Con người
là nhân tố lớn nhất làm thay đổi môi trường tự nhiên
Trong cuốn nhà báo môi trường thời toàn cầu hóa của nhóm tác giả thuộc Diễn đàn các nhà báo môi trường Việt Nam định nghĩa: Quan niệm môi trường theo định nghĩa rộng bao gồm mối quan hệ tích cực của con người đối với hoạt động sống, các yếu tố môi trường, cùng các hoạt động khác Do đó viết báo về môi trường cũng có nghĩa là viết về mọi lĩnh vực của đời sống, những quan hệ tương tác với các yếu tố môi trường nuôi sống và phục vụ con người, có khả năng làm thay đổi môi trường do sử dụng, phân phối hay lại phá vỡ các nguồn tài nguyên của nó Tất cả hợp lại thành một đề tài cho lĩnh
vực môi trường (10, tr 15)
Định nghĩa hẹp, viết báo về môi trường là phản ánh những mối quan tâm
về môi trường với cấp độ liên tục, từ cấp độ quốc tế tới cấp độ khu vực, quốc gia, cơ sở, cho đến cấp độ cá nhân, bao hàm cả những vấn đề cần giải quyết
và những vấn đề tích cực khác mà xã hội quan tâm
Nếu theo định nghĩa rộng thì đề tài môi trường có nhiều cấp độ khác nhau Cấp độ quốc tế, bao gồm nhiều vấn đề rộng lớn có tính toàn cầu, khu vực như sự bùng nổ dân số, sự nghèo đói, nạn dịch và bệnh tật, nạn thiếu nước sạch, nạn ô nhiễm môi trường, nạn phá rừng, nạn sa mạc hóa, thủng tầng ôzôn, động vật tuyệt chủng, sự chuyển giao công nghệ
Đề tài cấp quốc gia, có thể gây ảnh hưởng đến quốc gia như trong lĩnh vực đô thị hóa, ô nhiễm do tiếng ồn, ô nhiễm nguồn nước và không khí, các
dự án lồng ghép bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sử dụng các loại hóa chất, quản lý đất đai, diệt trừ côn trùng có hại
Trang 13Những cấp độ thấp hơn như giữ gìn môi trường khu phố, làng bản thôn xóm, phòng tránh dịch bệnh, ăn uống đúng cách hợp vệ sinh
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả khảo sát báo chí viết về môi trường theo một định nghĩa hẹp, đó là những bài báo đề cập trực tiếp đến những vấn đề về môi trường như: ô nhiễm môi trường, tuyên truyền bảo vệ môi trường tại Quảng Ninh
1.1.2 Khái niệm bảo vệ môi trường
Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự
cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ
đa dạng sinh học
Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật
Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật
1.2 Những vấn đề đặt ra đối với môi trường của Quảng Ninh
1.2.1 Đặc điểm của môi trường Quảng Ninh
Lúc sinh thời, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng ví “Quảng Ninh là một nước Việt Nam thu nhỏ”, bởi Quảng Ninh đã hội tụ được những đặc điểm địa hình đặc trưng, cũng như những tài nguyên thiên nhiên quý giá của đất nước
Vị trí địa lý: Quảng Ninh là là tỉnh miền núi - duyên hải ở địa đầu phía đông bắc Việt Nam Phía tây là núi rừng trùng điệp hình cánh cung chạy suốt
từ Đông Triều đến Móng Cái Phía đông nghiêng xuống nửa phần đầu vịnh
Trang 14Bắc bộ với bờ biển khúc khuỷu nhiều cửa sông và bãi triều, bên ngoài là hơn hai nghìn hòn đảo lớn nhỏ
Quảng Ninh có biên giới quốc gia và hải phận giáp giới nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Bờ biển dài 250 km Diện tích tự nhiên toàn tỉnh Quảng Ninh là là 611.081,3 ha Trong đó đất nông nghiệp 243.833,2 ha, đất chuyên dùng 36.513 ha, đất ở 6.815,9 ha, đất chưa sử dụng 268.158,3 ha Vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/ 2779), đảo trải dài theo đường ven biển hơn 250 km chia thành nhiều lớp Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu, Bản Sen, lại có đảo chỉ như một hòn non bộ Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô Tô Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình karst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài và trong lòng là những hang động kỳ thú
Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những bãi bồi phù sa còn những bãi cát trắng táp lên từ sóng biển Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyên liệu cho công nghệ thuỷ tinh (Vân Hải), có nơi thành bãi tắm tuyệt vời (như Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng )
Địa hình đáy biển Quảng Ninh, không bằng phẳng, độ sâu trung bình là
20 m Có những lạch sâu là di tích các dòng chảy cổ và có những dải đá ngầm làm nơi sinh trưởng các rạn san hô rất đa dạng Các dòng chảy hiện nay nối với các lạch sâu đáy biển còn tạo nên hàng loạt luồng lạch và hải cảng trên dải
bờ biển khúc khuỷu kín gió nhờ những hành lang đảo che chắn, tạo nên một tiềm năng cảng biển và giao thông đường thuỷ rất lớn
Khí hậu Quảng Ninh tiêu biểu cho khí hậu các tỉnh miền Bắc Việt Nam vừa có nét riêng của một tỉnh miền núi ven biển
Trang 15Quảng Ninh có đến 30 sông, suối dài trên 10 km nhưng phần nhiều đều nhỏ Diện tích lưu vực thông thường không quá 300 km2 Tất cả các sông suối
ở Quảng Ninh đều ngắn, nhỏ, độ dốc lớn Lưu lượng và lưu tốc rất khác biệt giữa các mùa Mùa đông, các sông cạn nước, có chỗ trơ ghềnh đá nhưng mùa
hạ lại ào ào thác lũ, nước dâng cao rất nhanh Lưu lượng mùa khô 1,45m3/s, mùa mưa lên tới 1500 m3/s, chênh nhau 1.000 lần
Về phía biển Quảng Ninh giáp vịnh Bắc Bộ, một vịnh lớn nhưng kín lại
có nhiều lớp đảo che chắn nên sóng gió không lớn như vùng biển Trung Bộ Dân số Quảng Ninh hiện nay khoảng hơn 1 triệu người, vào loại tỉnh trung bình trong cả nước, (năm 2006 là 1091846 người) Với tỷ lệ tăng dân số 1,66%, Quảng Ninh đã đạt mức tăng thấp hơn mức tăng dân số toàn quốc (2,14%) và thế giới (1,7%)
Quảng Ninh có tài nguyên du lịch đặc sắc vào loại nhất của cả nước, có nhiều bãi biển đẹp, có cảnh quan nổi tiếng như vịnh Hạ Long – 2 lần được UNESSCO xếp hạng di sản thiên nhiên thế giới và hiện nay đang được bầu chọn 1 trong 7 kỳ quan thiên nhiên thế giới Mỗi năm Vịnh Hạ Long thu hút khoảng 4 đến 5 triệu khách du lịch trong và ngoài nước đến tham quan
Bên cạnh Vịnh Hạ Long, Quảng Ninh còn có Vịnh Bái Tử Long cùng các hải đảo và nhiều bãi biển đẹp nổi tiếng như Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng cùng hàng trăm di tích lịch sử kiến trúc nghệ thuật tập trung dọc ven biển với mật độ cao vào loại nhất của cả nước…
Quảng Ninh có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng, có nhiều loại đặc thù, trữ lượng lớn, chất lượng cao mà nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước không có được như: than, cao lanh tấn mài, đất sét, cát thủy tinh, đá vôi…
Than đá của Quảng Ninh có trữ lượng khoảng 3,6 tỷ tấn, hầu hết thuộc
dòng an - tra - xít, tỷ lệ các - bon ổn định 80 – 90%; phần lớn tập trung tại 3
Trang 16khu vực: Hạ Long, Cẩm Phả và Uông Bí – Đông Triều ; mỗi năm cho phép khai thác khoảng 40-50 triệu tấn
Ngoài ra, Quảng Ninh còn có các mỏ đá vôi, đất sét, cao lanh… với trữ
lượng tương đối lớn, phân bố rộng khắp các địa phương trong tỉnh như: Mỏ
đá vôi ở Hoành Bồ, Cẩm Phả; Các mỏ cao lanh ở các huyện miền núi Hải Hà, Bình Liêu, Ba Chẽ, Tiên Yên, thị xã Móng Cái; Các mỏ đất sét phân bố tập trung ở Đông Triều, Hoành Bồ và TP Hạ Long là nguồn nguyên liệu quan trọng để sản xuất vật liệu xây dựng cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu
Quảng Ninh cũng là nơi tập trung nhiều mỏ nước khoáng uống được như: Quang Hanh (Cẩm Phả), Khe Lạc (Tiên Yên), Đồng Long (Bình Liêu) và có nguồn nước khoáng không uống được tập trung ở Cẩm Phả có nồng độ khoáng khá cao, nhiệt độ trên 35oC, có thể dùng chữa bệnh
Với bờ biển dài 250 km, Quảng Ninh có nhiều ngư trường khai thác hải sản Hầu hết các bãi cá chính có sản lượng cao, ổn định, đều phân bố gần bờ
và quanh các đảo, rất thuận tiện cho việc khai thác Ngoài ra, Quảng Ninh còn
có trên 40.000 ha bãi triều, 20.000 ha eo vịnh và hàng vạn ha các vũng nông ven bờ, là môi trường thuận lợi để phát triển nuôi và chế biến hải sản xuất khẩu
Quảng Ninh có 243.833 ha rừng và đất rừng (chiếm 40% diện tích đất tự
nhiên toàn tỉnh), trong đó rừng tự nhiên chiếm khoảng 80%
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi và nguồn tài nguyên biển, tài nguyên khoáng sản phong phú, Quảng Ninh là nơi tập trung phát triển của các ngành kinh tế công nghiệp, du lịch, dịch vụ - thương mại, cảng biển, nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản Chính vì vậy, tình hình ô nhiễm môi trường của Quảng Ninh đang diễn ra hết sức gay gắt trên hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội Quảng Ninh hiện đang phải đối mặt với những vấn đề về môi trường như:
Trang 17- Bụi, tiếng ồn dọc quốc lộ 18 và các tuyến vận chuyển than
- Nước thải từ các mỏ than, các khu dân cư tập trung chưa được xử lý đổ thẳng ra biển (kể cả Vịnh Hạ Long)
- Chất thải rắn chưa được quản lý triệt để
- Suy thoái tài nguyên rừng, tài nguyên biển, cảnh quan và đa dạng sinh học
- Mất rừng ngập mặn và các bãi triều lầy vùng Hạ Long - Cẩm Phả do lấn biển phát triển đô thị
- Các bãi thải mỏ sẽ là nguồn gây ô nhiễm môi trường đất, môi trường nước, cảnh quan và nguy có sạt lở cho hàng trăm năm sau
- Vệ sinh môi trường nông thôn luôn là vấn đề quan trọng
- Ô nhiễm do tàu thuyền, nguy cơ sự cố rò rỉ, tràn dầu – thảm họa đối với môi trường sinh thái
- Chất lượng không khí trong tương lai sẽ chịu ảnh hưởng rất lớn từ các nhà máy điện, nhà máy xi măng
- Sự bồi lắng cửa sông, ven biển do các hoạt động khai thác mỏ và lấn biển có thể làm mất đi những hệ sinh thái đặc hữu như san hô, cỏ biển Tác động mạnh đến cảnh quan Vịnh Hạ Long
- Các hoạt động thương mại, du lịch tập trung tạo nên các điểm nóng về môi trường trong một không gian hẹp
- Chất thải nguy hại do các hoạt động công nghiệp, y tế, cửa khẩu luôn là vấn đề nóng và nhạy cảm
Trong khuôn khổ của luận văn này, tác giả xin được nêu thực trạng của ô nhiễm môi trường theo các lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của tỉnh như: ô nhiễm môi trường do hoạt động khai thác khoáng sản; ô nhiễm môi trường do hoạt động “đào núi, lấp biển”; ô nhiễm môi trường do hoạt động du lịch, dịch vụ
và ô nhiễm môi trường do chất thải sinh hoạt và các hoạt động khác
Trang 181.2.2 Tình trạng ô nhiễm môi trường do khai thác than
Trong những năm gần đây, cùng với sự tăng trưởng nhanh chóng của ngành khai thác than của Quảng Ninh đã kéo theo nhiều vấn đề ô nhiễm môi trường Hiện nay sản lượng khai thác than trên địa bàn Quảng Ninh đạt công suất từ 40 đến 50 triệu tấn/năm Trong đó hoạt động khai thác lộ thiên chiếm trên 60% tổng sản lượng khai thác
Trong những năm qua, sự phát triển “nóng” của ngành than vượt quá xa
so với quy hoạch phát triển ngành than giai đoạn 2003-2010 có xét đến triển vọng 2020 đã được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 20/2003/QĐ-TTg ngày 29-1-2003, đã dẫn đến tình trạng đầu tư cơ sở hạ tầng chưa tương xứng với tốc độ phát triển và đặt ra nhiều vấn đề về ô nhiễm môi trường, phá vỡ hệ sinh thái
Theo ước tính, hoạt động khai thác than trên địa bàn tỉnh đã thải ra một lượng nước thải mỏ từ 25 đến 30 triệu m3 và khoảng 200 triệu m3 đất đá/năm
đã làm cho cảnh quan môi trường bị biến đổi lớn
Báo cáo tóm tắt kết quả thực hiện nhiệm vụ công tác bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác, chế biến, vận chuyển, tiêu thụ than tại tỉnh Quảng Ninh, ngày 2-5-2007 của UBND tỉnh Quảng Ninh nêu rõ: Hàm lượng bụi than
tại các khu vực khai thác chế biến đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ 1,2- 5,2 lần; độ PH của nước thải mỏ dao động từ 3,1- 6,5 lần; hàm lượng cặn lơ lửng vượt tiêu chuẩn cho phép 1,7- 2,4 lần, cá biệt có nơi vượt đến 8,09 lần; nước thải mỏ ảnh hưởng đến hệ thống sông suối, hồ, vùng ven biển như gây bồi lấp, làm mất nguồn sinh thuỷ, suy giảm chất lượng nước…gây ảnh hưởng lớn đến đời sống, sinh hoạt, sức khỏe của nhân dân Như vậy có thể thấy, mức độ
ô nhiễm không khí do sản xuất than ở Quảng Ninh đang ở mức độ báo động, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người dân
Trang 19Ở Quảng Ninh, các bãi thải đất đá từ khai thác than đã chiếm diện tích và phá hoại các điều kiện tự nhiên (thực vật, thổ nhưỡng, nguồn nước) trên hàng ngàn hecta Ngoài ra, dưới tác động của mưa lũ ở các sườn dốc bãi thải xuất hiện hiện tượng bào xói, cuốn trôi đất đá làm bồi lấp đất canh tác, làng xóm, đường giao thông
Quá trình khai thác than đã phá hủy 750 hecta rừng, làm suy giảm quần thể các hệ động, thực vật tới mức suy kiệt đồng thời làm biến đổi nhiều các hệ thống thủy văn, biển và ngư nghiệp Hàng loạt các hồ chứa thủy lợi tại huyện Đông Triều, TX Uông Bí, TP Hạ Long và Cẩm Phả bị bồi lấp và ảnh hưởng bởi hoạt động khai thác than
Bên cạnh những vấn đề về môi trường do hoạt động khai thác than của Tập đoàn Công nghiệp Than Khoáng sản Việt Nam gây ra thì tỉnh Quảng Ninh đang phải đối mặt với một thực trạng nữa là ô nhiễm môi trường do khai thác than trái phép gây ra Trong những năm qua, mặc dù tỉnh Quảng Ninh đã triển khai nhiều biện pháp để ngăn chặn nạn khai thác than trái phép nhưng xem ra tình trạng này vẫn chưa thể chấm dứt và những cánh rừng, những khoảnh đồi bị đào phá nham nhở do khai thác than trái phép gây ra vẫn luôn
là trăn trở của nhiều người dân Quảng Ninh
Theo chiến lược phát triển ngành than đến năm 2015, định hướng 2025 mới được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 89/2008/QĐ-
TTg, ngày 7-7-2008, về khai thác than: bể than Đông Bắc và các mỏ than khác (ngoài bể than đồng bằng sông Hồng) phấn đấu đạt sản lượng than sạch khoảng 48 - 50 triệu tấn vào năm 2010; 60 - 65 triệu tấn vào năm 2015; 70 -
75 triệu tấn vào năm 2020 và trên 80 triệu tấn vào năm 2025
Với tốc độ phát triển của ngành than theo quy hoạch đã được phê duyệt thì 5 năm nữa, sản lượng khai thác than sẽ tăng từ 20 đến 30%, kèm theo đó là lượng đất đá, nước thải từ khai thác than cũng tăng đáng kể Như vậy thì vấn
Trang 20đề bảo vệ môi trường trong khai thác than vẫn luôn là mối quan tâm hàng đầu của lãnh đạo và nhân dân tỉnh Quảng Ninh
1.2.3 Tình trạng ô nhiễm môi trường do hoạt động “đào núi, lấn biển”
Do địa hình hẹp, đồi núi chiếm phần lớn diện tích nên trong những năm qua, để đáp ứng yêu cầu phát triển của các đô thị, hoạt động lấn biển xây dựng khu đô thị mới được tỉnh Quảng Ninh triển khai rất rầm rộ, trên quy mô lớn Hoạt động tập trung chủ yếu ở các khu đô thị ven biển là TP Hạ Long,
TX Cẩm Phả, huyện Vân Đồn Hoạt động lấn biên đã gây bồi lắng nghiêm trọng các khu vực cảng biển và ảnh hưởng đến cảnh quan môi trường, hệ sinh thái ven biển, phá hủy nghiêm trọng rừng ngập mặn
Chưa có số liệu đo, đếm thống kê chính xác nhưng trong thời gian qua, hoạt động "đào núi, lấn biển" lập khu công nghiệp; khu đô thị; khu du lịch; khu dân cư và đường ven biển đã khiến Vịnh Hạ Long và Bái Tử Long bị thu hẹp quá lớn Đường ven biển Vụng Đâng - Cột 8 có đoạn đã lấn đến chân đảo
đá Cảng than cây số 6 đã lấp hết 500 ha mặt vịnh Đó là chưa kể việc lấn sông, lấn biển chạy suốt từ Kim Sơn (Đông Triều) đến Cẩm Y, Khe Dây (Cẩm Phả) Một nhà khoa học dự báo, nếu việc quy hoạch cảng sông, cảng biển, của Quảng Ninh - Hải Phòng không được tính toán kỹ; nếu việc đổ đất lấn biển ở Hải Phòng (khu vực Cát Bà) và Quảng Ninh, không được ngăn chặn, thì Vịnh Hạ Long sẽ bị “đầm lầy hóa” Có lẽ các nhà quản lý, quy hoạch cũng cần để ý đến dự báo này
Về nguồn nước chảy ra vịnh, báo cáo tổng kết năm 2008 của Sở Tài nguyên - Môi trường Quảng Ninh nêu rõ: Vịnh Hạ Long như một cái túi chứa đựng phần lớn các chất thải từ hoạt động sản xuất và sinh hoạt ven bờ gây ra Chỉ riêng các mỏ than, mỗi năm đã thải ra 30 triệu m3 nước Nước thải từ mỏ mang theo mọi thứ trôi ra vịnh, có nơi riêng độ đục vượt quá mười lần tiêu
Trang 21chuẩn cho phép Nước đục gây tác hại cho hệ động, thực vật sống trong vịnh,
nhất là ở "vùng nước ven bờ”
Kết quả quan trắc từ năm 2005 của Sở Tài nguyên - Môi trường khẳng định: nước ven bờ bị ô nhiễm cục bộ; độ đục vượt quá tiêu chuẩn cho phép; lượng ô-xy hòa tan giảm; trong nước có khuẩn gây bệnh Song, nước biển ở khu vực di sản còn trong, chất lượng các bãi tắm vẫn đạt tiêu chuẩn cho phép
Trong thời gian gần đây, dù chưa có những kết quả quan trắc mới cũng như những đánh giá tổng quát về mức độ ô nhiễm môi trường của Vịnh Hạ Long nhưng có thể thấy một thực trạng rằng tình trạng ô nhiễm môi trường Vịnh Hạ Long đang ngày một nghiêm trọng do tác động của các dự án san lấp mặt bằng, lấn biển, nuôi trồng thủy sản Nếu như không có những biện pháp ngăn chặn kịp thời, hiệu quả thì mức độ ô nhiễm của các khu vực này sẽ hết sức trầm trọng, vấn đề suy thoái của di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long
sẽ không còn là nguy cơ
1.2.4 Tình trạng ô nhiễm môi trường do các hoạt động du lịch, dịch
vụ, cảng biển
Mỗi năm du lịch Quảng Ninh đón khoảng 4 đến 5 triệu lượt khách du lịch đến tham quan, nghỉ dưỡng Để đáp ứng nhu cầu của du khách đến Quảng Ninh, hàng loạt các dịch vụ, cơ sở lưu trú được xây dựng Việc xây dựng, phát triển các dịch vụ du lịch trước đây chủ yếu là tự phát nên không có một quy hoạch tổng thể, cứ “mạnh ai người đó xây” nên dẫn đến tình trạng phá vỡ cảnh quan môi trường, tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái Đặc biệt là nhiều khu du lịch, dịch vụ được gắn mác “du lịch sinh thái” để thỏa sức lấn biển, phá rừng, đào núi san lấp mặt bằng tại TP Hạ Long, TX Cẩm Phả, huyện đảo Vân Đồn đã khiến nhiều diện tích rừng bị thu hẹp, các khu nghỉ dưỡng đã
Trang 22phá vỡ sự cân bằng của hệ sinh thái đe dọa nhiều loại động, thực vật đặc hữu của Quảng Ninh đứng trước nguy cơ tuyệt chủng
Bên cạnh đó, việc phát triển ồ ạt của các dịch vụ tham quan Vịnh và các điểm di tích lịch sử trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh đã khiến cho công tác quản
lý chưa theo kịp tốc độ phát triển dẫn đến những ô nhiễm môi trường Hiện nay, có hơn 500 tàu du lịch làm nhiệm vụ đưa đón khách đi tham quan và ngủ đêm trên vịnh với tổng lượng khách hàng năm đạt hàng triệu lượt Mặc dù UBND tỉnh Quảng Ninh đã có một số biện pháp để giảm thiểu nguy cơ tác động của các hoạt động dịch vụ du lịch đối với cảnh quan môi trường Vịnh
Hạ Long và Bái Tử Long như: hạn chế số lượng tàu dịch vụ đưa đón khách tham quan vịnh và tổ chức các hoạt động thu gom rác thải trên vịnh; ngừng chuyển tải than trên Vịnh Hạ Long; xây dựng các hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt tại khu vực Bãi Cháy, Hòn Gai (của TP Hạ Long) Mặc
dù vậy, môi trường Vịnh Hạ Long vẫn luôn đứng trước nguy cơ bị đe dọa bởi
sự quá tải của các hoạt động du lịch, dịch vụ
Không chỉ có Vịnh Hạ Long bị đe dọa bởi sự phát triển ồ ạt của các hoạt động du lịch, dịch vụ mà những điểm di tích lịch sử văn hóa như Yên Tử cũng luôn đứng trước nguy cơ bị đe dọa bị xâm hại Với vị trí là một trong những trung tâm của phật giáo Việt Nam, là nơi hình thành Thiền phái Trúc Lâm nên Yên Tử có một ý nghĩa lịch sử, văn hóa, tâm linh rất thiêng liêng trong lòng người dân Việt Nam Mỗi năm Yên Tử đón khoảng trên 1 triệu lượt khách đến hành hương Mặc dù chính quyền địa phương và đơn vị quản lý di tích đã
có nhiều biện pháp để thu gom rác nhằm bảo vệ, giữ gìn cảnh quan môi trường ở khu vực này nhưng với địa hình đồi núi cao, cộng với việc một bộ phận người dân còn thiếu ý thức, vứt rác bừa bãi thì việc bảo vệ môi trường tại đây cũng sẽ rất khó khăn
Trang 23Nói về thực trạng quá tải và thiếu quy hoạch trong hạ tầng du lịch của tỉnh Quảng Ninh trong buổi làm việc với UBND tỉnh Quảng Ninh vào sáng 2-8-
2009, Bộ trưởng Văn hóa – Thể thao và Du lịch Hoàng Tuấn Anh đã phát biểu: “Du lịch Quảng Ninh có thể phải chấp nhận vài năm chậm phát triển lại
để quy hoạch, xây dựng lại hạ tầng phục vụ phát triển du lịch để có thể đạt được tốc độ phát triển cao hơn, bền vững hơn” Như vậy có thể thấy, sự phát triển nhanh chóng không theo quy hoạch của du lịch Quảng Ninh không chỉ đặt ra những vấn đề về môi trường mà còn cả những vấn đề về cơ sở hạ tầng phục vụ cho các hoạt động du lịch
Với đặc thù của một tỉnh có đường biên giới cả đất liền và trên biển với nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa nên các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, đặc biệt là hoạt động tạm nhập tái xuất hàng hóa qua các cửa khẩu Móng Cái, Hoành Mô, Bắc Phong Sinh trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh cũng tiềm ẩn nhiều nguy cơ gây ô nhiễm môi trường Các mặt hàng tạm nhập tái xuất thường được vận chuyển bằng container đến cửa khẩu Móng Cái, rồi từ đó được bốc dỡ, xé lẻ để vận chuyển trên các đò, mảng sang Trung Quốc Vì thế, trong quá trình bốc dỡ hàng vận chuyển xuống đò, mảng đã xảy ra tình trạng chủ hàng đổ chất thải từ ắc quy đã qua sử dụng xuống sông, hoặc rác thải từ những mặt hàng phế liệu Đây là những chất thải đặc biệt có hại đối với môi trường, đe dọa đến đời sống của người dân
Với lợi thế về cảng biển nên vùng biển Quảng Ninh cũng là một trong những vùng biển sôi động của cả nước Chỉ riêng các cảng than trên địa bàn tỉnh mỗi năm cũng đã chuyển tải, bốc xếp hơn 10 triệu tấn than xuất khẩu và hơn 30 triệu tấn vận chuyển nội địa Chưa kể đến cảng xăng dầu B12 bên bờ Vịnh Hạ Long mỗi năm tiếp nhận hàng chục triệu tấn xăng dầu và Cảng Cái Lân cũng tiếp nhận hàng triệu tấn hàng hóa mỗi năm
Trang 24Hệ thống các kho chứa xăng dầu của nằm bên bờ Vịnh Hạ Long cũng luôn đe dọa Vịnh Hạ Long nếu xảy ra những sự cố về rò rỉ xăng dầu
1.2.5 Tình trạng ô nhiễm môi trường do chất thải sinh hoạt và các hoạt động khác
Hiện nay trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh có khoảng trên 4.000 doanh nghiệp, cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp Trên địa bàn tỉnh hiện mới có 2 khu công nghiệp tập trung đi vào hoạt động là Khu công nghiệp Cái Lân (TP Hạ Long), Khu công nghiệp Hải Yên (Móng Cái) và một cụm công nghiệp Kim Sơn (Đông Triều) Số khu công nghiệp đang trong giai đoạn xây dựng như: Khu công nghiệp Việt Hưng (TP Hạ Long), Khu công nghiệp Đông Mai (Yên Hưng), khu công nghiệp tàu thủy ở Yên Hưng Bên cạnh đó, Quảng Ninh còn là một trung tâm nhiệt điện, trung tâm sản xuất xi măng lớn của cả nước Theo dự kiến, đến năm 2015, trên địa bàn Quảng Ninh có gần 10 nhà máy nhiệt điện với tổng công suất đạt gần 10.000 MW Sản lượng các nhà máy xi măng trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh trong năm 2010 cũng đạt khoảng 10 triệu tấn Đặc biệt là một số nhà máy xi măng như Nhà máy xi măng Cẩm Phả được xây dựng quá gần khu dân cư nên đã có những tác động tiêu cực đến môi trường
Như vậy, với những ngành công nghiệp nặng như nhiệt điện, công nghiệp tàu thủy, công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và công nghiệp chế biến trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nếu như không có sự giám sát, quản lý nghiêm ngặt trong vấn đề bảo vệ môi trường thì sẽ rất dễ dẫn đến những sự cố môi trường nghiêm trọng
Bên cạnh những ngành sản xuất công nghiệp nặng, những làng nghề thủ công trên địa bàn Quảng Ninh như làng nghề gốm sứ ở Đông Triều, làng nghề
mỹ nghệ ở Yên Hưng cũng đang tạo ra những tác động tiêu cực đến môi trường
Trang 25Dân số của tỉnh hiện nay khoảng 1,1 triệu người cùng khoảng vài chục ngàn người di biến động đến Quảng Ninh đã tạo ra sức ép lớn đối với môi trường Dân số của tỉnh tập trung chủ yếu tại các trung tâm công nghiệp, thương mại và dịch vụ
Do dân số đông, tập trung tại các trung tâm nên vấn đề ô nhiễm môi trường do nước, rác thải cũng đe dọa đến đời sống của người dân Hiện trên địa bàn tỉnh đã xây dựng hệ thống xử lý nước thải và rác thải tại TP Hạ Long
và TX Cẩm Phả
Vấn đề ô nhiễm môi trường, đặc biệt là môi trường không khí, các con sông và khu vực ven biển ở Quảng Ninh đang ngày càng có xu hướng gia tăng cùng với sự phát triển kinh tế xã hội của tỉnh
Không chỉ có các vùng tập trung phát triển công nghiệp, du lịch, dịch vụ của tỉnh thì tình hình ô nhiễm môi trường mới gay gắt mà cả ở những vùng miền núi, hải đảo, khu vực sản xuất nông nghiệp của tỉnh cũng đang phải chịu tác động nặng nề của ô nhiễm môi trường Trận lũ lịch sử năm 2008 đã khiến toàn bộ thị trấn Tiên Yên (huyện Tiên Yên), huyện Ba Chẽ chìm trong nước
lũ Huyện Bình Liêu cũng chịu thiệt hại nặng nề của mưa lũ mà hậu quả chính
là do việc rừng đầu nguồn bị tàn phá cạn kiệt Rồi việc khai thác cạn kiệt nguồn lợi biển, dùng hóa chất, thuốc nổ để đánh bắt hải sản, phá rừng ngập mặn để nuôi trồng hải sản cũng gây những tác động tiêu cực đến môi trường, hệ sinh thái biển Sự suy giảm các nguồn lợi thủy sản ven bờ và sự khai thác quá mức dẫn đến cạn kiệt một số loài hải sản trên biển của Quảng Ninh đang đặt ra nhiều vấn đề đối với sự phát triển bền vững
Như vậy, có thể thấy, nhìn về tổng thể thì triển vọng phát triển kinh tế của tỉnh Quảng Ninh trong những năm tới là rất mạnh mẽ, xứng đáng là một trong những cực năng động của khu vực kinh tế trọng điểm Bắc Bộ Tuy nhiên, trong bức tranh kinh tế sáng sủa đó, vấn đề ô nhiễm môi trường luôn đặt ra
Trang 26cho tỉnh Quảng Ninh những bài toán hết sức nan giải Nếu như không có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về những nguy cơ ô nhiễm môi trường thì Quảng Ninh
sẽ phải đối phó với những thảm họa môi trường khôn lường
1.3 Vai trò của báo chí đối với vấn đề bảo vệ môi trường
Báo chí và truyền thông đại chúng, do đặc trưng bản chất của mình, nó có thể xã hội hóa một sự kiện, vấn để xảy ra ở một địa chỉ cụ thể được lan tỏa trên phạm vi rộng lớn, có thể tác động và làm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của hàng triệu người, tác động nhanh nhất có thể, lan tỏa rộng khắp nhất có thể và thường xuyên liên tục nhất với những hình thức, phương thức phong phú và đa dạng nhất Do đó, nó có khả năng thu hút, lôi kéo và tập hợp lực lượng xã hội đông đảo nhất vào việc giải quyết vấn đề đang đặt ra của tiến trình phát triển Hơn bao giờ hết, báo chí đã và đang trở thành lực lượng hiện hữu tham gia hiệu quả trong việc giải quyết các vấn đề của đất nước, của địa phương, trong đó có vấn đề bảo vệ môi trường vì mục tiêu phát triển bền vững
Báo chí có thể tham gia vào công tác bảo vệ môi trường thực hiện mục tiêu phát triển bền vững theo những cách sau:
Báo chí tham gia vào quá trình hoạch định chủ trương, chính sách và định hướng phát triển kinh tế xã hội Thực tiễn ở Việt Nam đã chứng minh rằng, các chủ trương chính sách lớn của Nhà nước, nếu được công khai minh bạch, được đông đảo nhân dân tham gia góp ý xây dựng sẽ tạo được sự đồng thuận cao, không chỉ tạo được động lực từ cộng đồng dân cư, mà còn có được chỗ dựa vững chắc trong lòng dân cho sự phát triển Những chủ trương, chính sách lớn liên quan mật thiết đến lợi ích dân sinh cộng đồng, nếu không được minh bạch trên truyền thông đại chúng, nhân dân không được tham gia bàn thảo, đóng góp ý kiến, sẽ thiếu sự đồng thuận và nguy cơ bùng nổ những bất
ổn xã hội
Trang 27Báo chí tham gia giám sát quá trình thực thi các chủ trương và các quyết sách chính trị Quá trình này bao gồm cổ vũ, động viên, khích lệ nhân dân nỗ lực thực hiện, cũng như bảo đảm rằng việc thực thi đúng theo kế hoạch, vì lợi ích của cộng đồng chứ không bị lạm dụng vì quyền lợi của một nhóm nhỏ, nhất là những người trong bộ máy công quyền Do đó, nội dung giám sát xã hội của báo chí trong quá trình này còn bao gồm đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng
Báo chí còn có trọng trách tham gia phát triển giáo dục, nâng cao dân trí, nâng cao nhận thức về môi trường cho người dân
Với vai trò, chức năng quản lý, giám sát xã hội, các cơ quan báo chí cần đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo phát triển kinh tế gắn với đảm bảo môi trường sống vì mục tiêu phát triển bền vững Muốn đạt được mục tiêu đó, báo chí cần tăng cường thông tin tuyên truyền về vấn đề môi trường như: cung cấp thông tin, kiến thức về bảo vệ môi trường cho người dân; phát hiện, đấu tranh những hành động gây nguy hại đến môi trường; góp phần xây dựng hoàn thiện các chủ trương, chính sách pháp luật về môi trường
Đến nay, Chính phủ Việt Nam đã xây dựng được khuôn khổ pháp lý tốt cho công tác quản lý môi trường, bắt đầu bằng điều 29 của Hiến pháp năm
1992 và Luật bảo vệ môi trường năm 2005 Nước ta cũng đã xây dựng Kế hoạch hành động quốc gia về bảo vệ môi trường Báo chí là phương tiện truyền thông với đầy đủ các chức năng thông tin, nó cung cấp cho người dân mọi thông tin đang diễn ra Có thể nói không có lĩnh vực xã hội nào mà báo chí không phản ánh, không có nhu cầu tinh thần nào mà báo chí không đáp ứng Trong thời đại hiện nay, báo chí là kênh thông tin tạo lập, định hướng và hướng dẫn dư luận một cách rõ ràng và nhanh nhạy nhất Thông qua các phương tiện hiện đại như báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử , báo chí đã chuyển tải kịp thời những thông tin thời sự xã hội và góp phần to
Trang 28lớn trong việc tạo nên hoặc tác động tới công luận Báo chí cũng có điều kiện
đi sát cuộc sống để phản ánh những tình hình và ý kiến xã hội tới các cơ quan
có thẩm quyền của Đảng, Nhà nước Vì vậy, vấn đề tuyên truyền môi trường đang ngày càng được chú ý trên các chương trình trên phát thanh, truyền hình, các chuyên mục trên báo in, báo mạng điện tử
1.3.1 Cơ chế tác động của thông tin báo chí trong bảo vệ môi trường
Truyền thông đại chúng nói chung và báo chí nói riêng tác động vào xã hội bằng thông tin thông qua cơ chế sau:
Chủ thể (cơ quan báo chí) xây dựng các thông điệp hàm chứa dung thông tin để thông qua các phương tiện (báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử)
để truyền tải đến công chúng xã hội rộng rãi Quá trình tạo dựng thông điệp (tác phẩm báo chí) bao giờ cũng mang tính khuynh hướng Nói cách khác, mục đích, quan điểm của chủ thể phát thông điệp bao giờ cũng ảnh hưởng, quy định khuynh hướng của nội dung thông tin Tính khuynh hướng của nội dung thông tin thể hiện qua cách lựa chọn, xử lý chi tiết, số liệu, trình độ nhận thức, phương pháp phân tích
Thông tin thông qua phương tiện tác động vào ý thức xã hội, hình thành tri thức, thái độ mới hay thay đổi nhận thức, thái độ cũ Sự thay đổi về ý thức
xã hội sẽ dẫn đến hành vi xã hội và sau đó tạo ra hiệu quả xã hội Thông tin
đã có khuynh hướng tất yếu sẽ dẫn đến những hành vi xã hội có khuynh hướng Khuynh hướng của các hành vi xã hội bị quy định không chỉ bởi quy
mô, tính chất mà còn tác động bởi cả tính khuynh hướng của thông tin
Thông qua các thông điệp, các sự kiện được tác động vào công chúng trực tiếp và từ đây hình thành dư luận theo nhóm nhỏ; sự tương tác giữa các nhóm nhỏ hình thành những đánh giá, nhận định, thái độ Từ đó hình thành dư luận
xã hội về các sự kiện, vấn đề do truyền thông nêu ra Đỉnh cao của dư luận xã hội là áp lực, thậm chí trở thành vũ lực khi công chúng xã hội hình thành đám
Trang 29đông có cùng một ý chí, quyết tâm cao độ giải quyết một vấn đề bức xúc nào
Cơ chế tác động của báo chí đối với công chúng diễn ra theo những bước sau:
Thứ nhất, tiền đề nhận thức của công chúng xã hội có vai trò như một yếu
tố nền cho sự tiếp nhận thông tin Đó chính là trình độ hiểu biết, kinh nghiệm sống, các quan điểm chính trị - xã hội cũng như những mặc cảm xuất phát từ những tín điều tôn giáo
Thứ hai, sự quan tâm của đối tượng đối với nguồn tin Công chúng tập trung chú ý vào thông tin khi người ta cảm nhận thấy sự cần thiết hay có ý nghĩa đối với họ
Thứ ba, sự đánh giá của công chúng xã hội đối với nguồn tin Sự đánh giá này là cánh cửa quan trọng nhất dẫn đến việc công chúng có tiếp nhận nguồn thông tin hay không
Thứ tư, là bước thử nghiệm của đối tượng được thực hiện trên thực tế hay thông qua thí nghiệm tưởng tượng Đây là thử thách cuối cùng đối với nguồn thông tin trước khi nó mang lại hiệu quả thực thế, nghĩa là trở thành các hành
vi xã hội
Cuối cùng, công chúng chấp nhận và điều chỉnh hành vi xã hội của mình phù hợp với quy mô, tính chất và khuynh hướng của nguồn thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng
Trang 30Mô hình cơ chế tác động của thông tin
Chủ thể
→
Thông điệp
→
Ý thức
xã hội
→
Hành vi
Hiệu quả xã hội
Theo PGS.TS Tạ Ngọc Tấn, hiệu quả truyền thông đại chúng thể hiện ở những mức độ khác nhau
Mức độ thứ nhất là hiệu quả tiếp nhận Đây là cấp độ thấp nhất đánh giá tác động của truyền thông đại chúng đối với xã hội Đó là sự đánh giá về số lượng, cách thức tiếp cận và chấp nhận nguồn tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng
Mức độ thứ hai là hiệu ứng xã hội của truyền thông đại chúng là những biểu hiện của xã hội hình thành do sự tác động của thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng Hiệu ứng xã hội của truyền thông đại chúng rất phong phú Nó bao gồm từ những phản ứng tâm lý, trạng thái tình cảm đến những xáo động sinh hoạt, sự thay đổi về cách ứng xử, những hành vi cụ thể của các cá nhân và cộng đồng
Mức độ thứ ba – mức độ cao nhất của hiệu quả xã hội của truyền thông đại chúng là hiệu quả thực tế Hiệu quả thực tế của truyền thông đại chúng là những thay đổi, vận động thực tế của đời sống xã hội dưới tác động của truyền thông đại chúng Đây là mục đích hướng tới cao nhất của hoạt động
truyền thông đại chúng (34, tr 27+28)
Tuy nhiên, hiệu quả thực tế của truyền thông đại chúng được hiểu là hiệu quả gián tiếp vì nó được đánh giá trên những vận động của các tiến trình, lĩnh vực khác nhau trong xã hội Mặc khác, sự tác động của truyền thông đại chúng bao giờ cũng chỉ là một phần tạo nên hiệu quả đó Vì thế, việc đánh giá
Trang 31hiệu quả thực tế không đơn giản Đôi khi, người ta đánh giá quá cao hoặc không nhận thấy đầy đủ vai trò của truyền thông đại chúng trong những vận
động xã hội cụ thể (34, tr 30)
Theo quan điểm của nhóm tác giả Dương Xuân Sơn, Đinh Hường, Trần Quang trong cuốn giáo trình Cơ sở lý luận báo chí truyền thông, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội thì: Cơ sở để đánh giá hiệu quả báo chí được biểu hiện ở nhiều mức độ, tính chất khác nhau, tùy theo sự ảnh hưởng và tác dụng của nó
vào đời sống xã hội Có thể đánh giá hiệu quả báo chí theo hai tiêu chí là tiêu chí tinh thần và tiêu chí thực tiễn Tiêu chí tinh thần là bằng sự thay đổi trong
nhận thức, cách ứng xử của mỗi người Tiêu chí thực tiễn là sự thay đổi về hành động cụ thể của mỗi cá nhân, một nhóm người và trong cộng đồng xã hội rộng lớn
Các yếu tố cơ bản tạo nên hiệu quả của báo chí trước hết tùy thuộc vào nội dung, hình thức và các phương thức hoạt động của cơ quan báo chí Vì thế, muốn sáng tạo một tác phẩm báo chí có nội dung và hình thức hấp dẫn, ngoài việc có đường lối đúng đắn cần phải có các yếu tố con người, đối tượng
1.3.2 Vai trò của báo chí trong việc cung cấp kiến thức, pháp luật và nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường
Trang 32Một trong những chức năng cơ bản của báo chí đó là nâng cao dân trí Hay nói cách khác là chức năng khai sáng, chức năng văn hóa Báo chí thực hiện chức năng đó thông qua nhiều hình thức Trong đó có việc cung cấp đến công chúng thông tin, kiến thức về các lĩnh vực sâu rộng của đời sống xã hội Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Đảng ta đã khẳng định chức năng văn hóa của báo chí là: “việc nâng cao trình độ hiểu biết chung của nhân dân, khẳng định và phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp, hình thành và không
ngừng hoàn thiện lối sống tích cực trong xã hội” (11, tr 140)
Nội dung quan thứ nhất của chức năng văn hóa của báo chí chính là các hoạt động nhằm nâng cao trình độ hiểu biết mọi mặt cho nhân dân Nó bao gồm từ việc trang bị những tri thức phổ thông có hệ thống, xã hội hóa các kinh nghiệm sống, truyền bá những tri thức về các nền văn hóa đến việc phổ biến những kiến thức phổ thông về khoa học, về luật pháp, chính trị, xã
hội.v.v (34, tr 40)
Vì thế, việc cung cấp thông tin, kiến thức pháp luật về bảo vệ môi trường trên báo chí không chỉ là chức năng thông thường của báo chí nữa mà là yêu cầu bắt buộc đối với những cơ quan báo chí Báo chí có trách nhiệm thông tin đến người dân những thông tin, kiến thức pháp luật về bảo vệ môi trường như
là một nội dung quan trọng trong nhiệm vụ hiện nay Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi các hành động gây ô nhiễm môi trường đang ngày càng nhiều và chính sách pháp luật của nhà nước về môi trường cũng đang trong giai đoạn hoàn thiện
Trên thực tế đời sống xã hội cho thấy, có nhiều vụ việc ô nhiễm môi trường, phá hoại môi trường là do người dân phát hiện và thông qua các phương tiện thông tin đại chúng tuyên truyền để hình thành dư luận xã hội mạnh mẽ đòi hỏi phải có biện pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm, dừng ngay những hành vi tàn phá môi trường Nhưng để cho người dân có thể phát hiện,
Trang 33ngăn ngừa từ sớm các hành động gây ô nhiễm môi trường thì đòi hỏi bản thân người dân phải có kiến thức cơ bản và kiến thức pháp luật về bảo vệ môi trường Với phạm vi, tầm ảnh hưởng sâu rộng đến từng người dân trong xã hội, báo chí là phương tiện hữu hiệu nhất để cung cấp kiến thức cho người dân về vấn đề bảo vệ môi trường
Đời sống văn hóa, xã hội, khoa học, kinh tế vận động không ngừng và đòi hỏi con người phải thường xuyên bổ sung, hoàn thiện vốn hiểu biết của mình Truyền thông đại chúng nói chung, báo chí nói riêng là phương tiện lý tưởng thực hiện công việc này thông qua những hình thức đa dạng, giàu sức hấp dẫn, dễ dàng tiếp cận Sự đa dạng về phương pháp, hình thức và cách truyền tải không chỉ tạo cho công chúng khả năng lựa chọn mà còn giúp họ có nhiều cơ hội hơn trong việc học tập, nâng cao hiểu biết cho mình
Đối với vấn đề bảo vệ môi trường, báo chí có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đấu tranh loại bỏ thói quen xấu và xây dựng một lối sống văn minh, lành mạnh về môi trường, nhất là góp phần tạo thành công luận đấu tranh với những việc làm sai trái, ủng hộ những đóng góp tích cực của tập thể,
cá nhân trong công cuộc bảo vệ môi trường
Từ những hiện tượng, sự kiện nhỏ lẻ, nhưng qua phân tích dự báo khả năng phát triển tương lai, báo chí đã chỉ ra được những thiếu sót, tồn đọng hay những điều đáng tuyên dương trong những hoạt động vì môi trường Đôi khi những phong trào chỉ phát sinh trong một khu vực nhỏ bé nhưng sau khi báo chí tuyên truyền nó đã trở thành một phong trào sâu rộng trong cả nước, thậm chí trên toàn cầu Với việc bám sát, phản ánh hơi thở của cuộc sống, báo chí đã kịp thời phát hiện những hành động gây ô nhiễm môi trường Trên thực
tế, thông qua các phát hiện, phản ánh của các cơ quan báo chí mà nhiều vụ việc tiêu cực gây ô nhiễm môi trường đã bị phanh phui, nhiều đơn vị vi phạm
bị xử lý Bên cạnh đó, với chức năng dự báo, báo chí đã có định hướng dư
Trang 34luận cũng như nhiều cơ quan chức năng về những vấn đề môi trường sẽ phát sinh
Báo chí là diễn đàn tin cậy của nhân dân trong việc phát huy vai trò làm chủ của người dân trong vấn đề bảo vệ môi trường Thông qua những kiến nghị của người dân được đăng tải trên các cơ quan báo chí, cơ quan quản lý nhà nước sẽ có sự điều chỉnh kịp thời chủ trương, chính sách, góp phần thực hiện tốt luật môi trường
Trong những năm vừa qua, với những lợi thế khác nhau về cách truyền đạt thông tin, báo chí đã góp phần nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về thiên nhiên và môi trường, về các chính sách của nhà nước và các hoạt động trong công tác bảo vệ môi trường Điều nổi bật và có tác dụng rõ rệt là, báo chí đã nêu nhiều vấn đề cụ thể và bức xúc có tính phản ánh thực tiễn, kể cả các trường hợp nghiêm trọng, như các vụ phá rừng, những điểm khai thác than trái phép, các hành vi bao che hoặc tòng phạm của những người có chức quyền ở địa phương Những vấn đề ô nhiễm môi trường do rác thải y tế ở huyện Yên Hưng; vấn đề khai thác than trái phép ở khu vực đầu nguồn hồ Yên Lập, hồ Cao Vân (TP Hạ Long); vấn đề tạm nhập tái xuất ắc quy qua cửa khẩu Móng Cái đã được báo Quảng Ninh phản ánh và đã tạo ra những tác động cụ thể đối với các cơ quan chức năng quản lý nhà nước trong việc triển khai các biện pháp ngăn chặn các hoạt động gây ô nhiễm, những người có trách nhiệm để xảy ra ô nhiễm môi trường phải chịu xử lý kỷ luật
Ngày nay, báo chí không chỉ phản ánh kịp thời những sự kiện, sự cố về môi trường, mà còn gióng lên một hồi chuông thức tỉnh những con người đang còn thờ ơ với môi trường hãy cùng sắn tay chung sức bảo vệ, giữ gìn môi trường Với chức năng cảnh báo, báo chí trở thành công cụ đắc dụng cho việc tuyên truyền về môi trường Báo chí không chỉ dừng lại ở việc đưa tin
Trang 35mà còn chỉ ra nguyên nhân, đề xuất biện pháp để phòng ngừa những hành vi tàn phá, hủy hoại môi trường
Bằng thông tin, báo chí tác động vào ý thức xã hội, hình thành tri thức, thái độ mới hay thay đổi nhận thức, thái độ cũ Sự thay đổi về ý thức xã hội sẽ dẫn đến hành vi xã hội và sau đó tạo ra hiệu quả xã hội Vì vậy, đối với vấn
đề bảo vệ môi trường, báo chí là phương tiện hữu hiệu để tuyên truyền nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của nhân dân
Cùng với việc tuyên truyền, cung cấp kiến thức, pháp luật về bảo vệ môi trường, báo chí còn tuyên truyền để người dân hiểu được vai trò, ý nghĩa của việc bảo vệ môi trường đối với sự sống của con người để từ đó bản thân mỗi người có trách nhiệm, có hành động thiết thực bảo vệ môi trường, ngăn chặn những hành vi vi gây ô nhiễm môi trường Đây là biện pháp hữu hiệu nhất, mang lại hiệu quả bền vững nhất trong việc bảo vệ môi trường
1.3.3 Vai trò của báo chí trong giám sát thực hiện những chủ trương, đường lối, chính sách về bảo vệ môi trường
Một trong những chức năng cơ bản của báo chí đó là chức năng quản lý
và giám sát xã hội Quản lý xã hội được quan niệm là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý vào khách thể quản lý nhằm bảo đảm ch ốn hoạt động, phát triển có hiệu quả, đạt được mục đích đề ra Để sự tác động đảm bảo là có
ý thức, có nghĩa là dựa trên cơ sở am hiểu đầy đủ, toàn diện và sâu sắc về đối tượng quản lý, những quy luật vận động và mối quan hệ tương tác giữa nó với
sự vật hiện tượng xung quanh đương nhiên phải cần thông tin Chỉ có với nguồn tin chính xác, toàn diện về đối tượng mới có thể xử lý, lựa chọn được phương hướng và cách thức tác động hợp lý, có hiệu quả Sự tác động ấy được thể hiện bằng quyết định quản lý và được truyền đến khách thể quản lý dưới dạng thông tin Như vậy, về bản chất thì quá trình quản lý là quá trình thông tin, bao gồm từ việc việc khai thác, thu thập, đánh giá, lựa chọn, phân
Trang 36tích và xử lý các thông tin đến việc đưa ra các quyết định và truyền đạt thông tin về quyết định đến khách thể quản lý
Như vậy, để đảm bảo cho sự quản lý có hiệu quả cần phải có cơ chế thông tin hai chiều thuận và ngược Chiều thông tin thuận từ chủ thể đến khách thể chuyển đi những quyết định quản lý cũng như các thông tin cần thiết để hướng dẫn về cách thức, phương pháp, điều kiện thực hiện chúng Yêu cầu đặt ra đối với chiều thông tin này là chính xác, kịp thời, đầy đủ Đó cũng là điều kiện cần thiết cho khả năng tác động một cách có hiệu lực của chủ thể quản lý vào khách thể quản lý, làm cho khách thể quản lý vận động phát triển theo chiều hướng đã định
Thông tin ngược chiều là kênh thông tin từ khách thể quản lý đến chủ thể quản lý Kênh thông tin này đảm bảo mối liên hệ ngược cần có giữa khách thể
và chủ thể quản lý Kênh thông tin ngược chiều kịp thời, đầy đủ, toàn diện là điều kiện tiền đề cho việc đưa ra những sự điều chỉnh hay những quyết định quản lý mới một cách đúng đắn, hợp lý Báo chí thực hiện chức năng quản lý của mình bằng việc cung cấp thông tin cả hai chiều thuận và ngược
Với khả năng thông tin nhanh chóng, kịp thời trong phạm vi toàn xã hội, báo chí là phương tiện tối ưu để truyền đến người dân những quyết định, chỉ thị, nghị quyết về vấn đề môi trường, hướng dẫn về phương thức, tính chất hành động để bảo vệ môi trường Mặt khác, báo chí phản ánh đời sống hiện thực với những sự kiện, hiện tượng phong phú, đa dạng, thông tin kịp thời các vấn đề thời sự của cuộc sống Đây chính là dòng thông tin ngược chiều có vai trò to lớn trong việc quản lý các hệ thống, các quá trình trong phạm vi xã hội
Sự tuần hoàn liên tục thông tin hai chiều đã giúp các yếu tố trong hệ thống xã hội có khả năng phối hợp những mối quan hệ lẫn nhau, mỗi hệ thống
có thể thực hiện sự tác động hợp lý với môi trường xung quanh và ngược lại,
Trang 37tạo ra khả năng hướng các yếu tố cũng như chính toàn bộ hệ thống vào những mục tiêu đã định trước
Tính chất, quy mô hoạt động quản lý và giám sát xã hội của báo chí phụ thuộc trước hết vào tính chất và quy mô của cơ quan, tổ chức mà nó đại diện Những nhiệm vụ cần giải quyết của các tổ chức, cơ quan, hệ thống kinh tế -
xã hội đặt ra yêu cầu về thông tin để tạo ra mối liên hệ hai chiều cần thiết Ở phạm vi toàn xã hội, trong khi thực hiện các chức năng tư tưởng, báo chí cũng đồng thời thực hiện chức năng quản lý, giám sát xã hội Khi tác động vào đời sống tinh thần của quần chúng, báo chí hướng tới việc hình thành và củng cố
ý thức xã hội tích cực, hướng nhân dân lao động vào việc giải quyết các nhiệm vụ cách mạng Sự định hướng tư tưởng mà báo chí hướng tới chính nhằm tạo ra sự vận động, phát triển của xã hội trên cơ sở tác động tích cực vào mắt xích trọng yếu của nó
Báo chí tham gia công tác giám sát việc thực hiện các chủ trương, chính sách về môi trường của Đảng, Nhà nước bằng những hình thức chủ yếu sau:
- Thứ nhất, báo chí đăng tải, bình luận, giải thích về các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về vấn đề môi trường
- Thứ hai, là báo chí phản ánh, phân tích tình hình thực tế, việc thực hiện các chủ trương, chính sách về môi trường ở từng địa phương, đơn vị cụ thể để thông tin một bức tranh toàn diện giúp các cơ quan quản lý nhà nước có thể giữ nguyên, thay đổi hay ra quyết định quản lý mới
- Thứ ba, báo chí phải phát hiện kịp thời các sai lầm, khuyết điểm, những vấn đề khó khăn, ách tắc trong việc chỉ đạo và thực hiện các chủ trương, chính sách về môi trường Hoạt động giám sát, kiểm tra của báo chí không chỉ thực hiện bằng hoạt động nghiệp vụ của nhà báo với những tác phẩm được đăng tải, mà còn bằng việc nghiên cứu, phân tích thư bạn đọc và xử lý một cách phù hợp với uy tín nghề nghiệp của mình, các nhà báo nghiên cứu phân
Trang 38tích thực tế và trực tiếp can thiệp để giải quyết tại chỗ những khó khăn vướng mắc
Kết quả từ hoạt động giám sát của báo chí là nguồn thông tin quan trọng giúp các cơ quan quản lý nhà nước kịp thời có quyết định, biện pháp tích cực, điều chỉnh hoạt động, đồng thời giúp các đơn vị, cá nhân có khuyết điểm nhận thức được những thiếu sót để tự điều chỉnh hoặc tạo nên áp lực xã hội buộc những đơn vị, cá nhân vi phạm phải sửa chữa
1.3.4 Vai trò của báo chí trong việc phát hiện, đấu tranh với những hành động gây ô nhiễm môi trường
Thông qua chức năng giám sát, báo chí đã phát hiện kịp thời những vụ việc tiêu cực gây ô nhiễm môi trường Có thể kể ra hàng loạt các vụ việc tiêu cực liên quan đến môi trường trong thời gian vừa qua được các cơ quan báo chí phát hiện như: việc khai thác vàng ở Quảng Nam, lợi dụng cải tạo rừng để phá rừng ở Tây nguyên, nước thải của công ty Vedan gây ô nhiễm môi trường sông Thị Vải
Theo lý thuyết hiện đại, báo chí tác động tới các vấn đề của xã hội theo 3
cách là: sàng lọc, thiết lập kỷ luật và thu hút sự quan tâm
Sàng lọc là quá trình truyền thông soi rọi vào những góc khuất của xã hội, tấn công nhằm loại bỏ những chính khách hoặc chính sách chưa tốt Báo chí
đã chỉ ra khá rõ ràng, cụ thể những thiếu sót mắc phải trong quá trình thực thi các chính sách Thông qua ý kiến phản biện của các chuyên gia được đăng tải trên báo chí đã đóng vai trò “sàng lọc”, góp tiếng nói với chính quyền loại bỏ những dự án, ngăn chặn những hành động vi phạm
Thiết lập kỷ luật là một vai trò quan trọng khác của truyền thông trong quá trình tác động tới quyết định chính trị Lấy trường hợp sân golf thời gian vừa qua làm ví dụ: các cơ quan truyền thông đã đồng loạt lên tiếng về hiện tượng chủ đầu tư xin đất làm sân golf nhưng thực chất để xây dựng trong đó
Trang 39những biệt thự, resort để bán hoặc cho thuê Dự án xây sân golf cuối cùng lại
là dự án bất động sản “núp” dưới những mỹ từ rất kêu “khu đô thị sinh thái” Ngoài ra, câu chuyện sân golf lấn chiếm đất nông nghiệp của nông dân, khiến không ít gia đình mất tư liệu sản xuất, phải sống vất vưởng bằng những nghề không phù hợp với sở trường đã được phản ánh nhiều và tới được với những người có thẩm quyền Và vì thế chính quyền cũng đã có những quyết sách thích hợp để điều chỉnh những dự án không phù hợp
Thông qua những sự kiện phản ánh liên tục trên báo chí và được nhiều cơ quan báo chí đề cập ở nhiều khía cạnh khác nhau đã thu hút được sự quan tâm của không chỉ nhân dân mà cả các cấp chính quyền Lúc này, cách ứng xử của chính quyền là thước đo sự tín nhiệm của nhân dân và vì thế những người có trách nhiệm thường phải có những cách ứng xử thận trọng hơn
Nhiều quyết định của chính quyền trong thời gian vừa qua cho thấy vai trò rất rõ rệt của báo chí trong việc sàng lọc, cung cấp thông tin dẫn dắt vấn
đề để chính quyền đi tới những quyết định đúng đắn Sự tương tác hai chiều
đó rất hợp lý trong một xã hội dân chủ, và truyền thông đã làm tốt vai trò giám sát của mình
Báo chí không chỉ phát hiện, thông tin kịp thời về những vi phạm trong lĩnh vực bảo vệ môi trường mà thông qua đó, báo chí tác động mạnh mẽ vào ý thức xã hội, vào các cơ quan quản lý nhà nước và chủ thể vi phạm để tạo sức
ép dư luận khiến các cơ quan chức năng, những đối tượng vi phạm phải có hình thức điều chỉnh hành vi vi phạm Nhiều vụ việc tiêu cực có nguy cơ bị
“chìm xuồng” nếu như không có sự vào cuộc kiên trì, kiên quyết của các cơ quan báo chí Về thực chất, báo chí không thể đóng vai trò phán xử đối với những vi phạm, thế nhưng bằng thông tin trên báo chí đã tác động đến công chúng tạo thành một luồng dư luận mạnh mẽ ủng hộ những hành động tích cực và phản đối những hành động sai trái
Trang 40Có thể nói rằng, hệ thống các phương tiện báo chí đang ngày càng phát huy sức mạnh như một binh lực khổng lồ, một lực lượng góp phần giám sát
và kiểm soát sự phát triển không chỉ trên phạm vi quốc gia mà còn khu vực và thế giới Báo chí không chỉ là kênh truyền dẫn thông tin đến đông đảo công chúng xã hội, mà quan trọng hơn, qua đó khơi nguồn dư luận xã hội, truyền dẫn, quảng bá và phát triển, định hướng và điều hòa dư luận xã hội không chỉ trên phạm vi quốc gia, khu vực, mà cả trên phạm vi thế giới Trong điều kiện công nghệ thông tin – truyền thông phát triển và toàn cầu hóa, nhờ đặc tính và chức năng đặc thù này, báo chí thông qua khơi nguồn và phát triển dư luận xã hội để tập hợp, huy động và tổ chức nguồn lực sức mạnh của đông đảo nhân dân tham gia vào việc giải quyết vấn đề môi trường trong tiến trình phát triển