Tâm lý thúc đẩy những thiên hướng trong giao dịch mua bán chứng khoán, những thiên hướng này có ảnh hưởng nhất định đến thành quả của nhà đầu tư, và vì vậy nó có tiềm năng tác động đến giá trị tài sản. Trong nghiên cứu này, tôi đi tìm bằng chứng thực nghiệm hiệu ứng ngược vị thế (Disposition Effect) trên thị trường chứng khoán Việt Nam, hiệu ứng ngược vị thế là xu hướng nhà đầu tư bán cổ phiếu lời quá sớm trong khi đó lại giữ cổ phiếu lỗ quá lâu.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP HỒ CHÍ MINH BÀI THI KẾT THÚC HỌC PHẦN Môn thi: TÀI CHÍNH HÀNH VI
Họ và tên sinh viên: Lai Trần Thái Bình MSSV: 030334180023 Lớp học phần: FIN314_211_D01
THÔNG TIN BÀI THI
Bài thi có: (bằng số): 6… trang
(bằng chữ): sáu… trang
YÊU CẦU
Theo nhiều kết quả nghiên cứu thực nghiệm, các nhà dự báo chuyên nghiệp về thị trường chứng khoán (các nhà quản lý danh mục, các nhà phân tích, dự báo, ) thường quá tự tin Từ góc độ tài chính hành vi, bạn hãy phân tích hiện tượng này Theo bạn, liệu các nhà dự báo chuyên nghiệp có học hỏi từ những sai lầm của họ trong quá khứ hay không? Bàn luận
1 Viết một bài tiểu luận để bàn luận về vấn đề nói trên
2 Thể thức trình bày: Bài tiểu luận phải có đầy đủ ba phần: giới thiệu (mở bài), khai triển (thân bài), kết luận và dài tối đa không quá 7-9 trang Bài viết được trình bày trên giấy A4, định dạng theo font chữ Times New Roman, cỡ chữ 13, lề trên 25mm,
lề dưới 25mm, lề phải 25mm, lề trái 30mm, khoảng cách giữa các đoạn (giãn đoạn, paragraph spacing): trước 12pt, sau 0pt, giãn dòng) khoảng cách giữa các dòng (line spacing): đơn
3 Bài làm hoàn chỉnh được nén dưới định dạng pdf và nộp một lần thông qua hệ thống LMS của Trường Đại học Ngân hàng Tp Hồ Chí Minh trước 11g ngày 18/11/2021, không được phép nộp trễ hạn
BÀI LÀM
Trang 2NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- - - - - -
TIỂU LUẬN MÔN
TÀI CHÍNH HÀNH VI
Đề tài
SỰ TỰ TIN THÁI QUÁ VÀ ỨNG DỤNG TRONG QUÁ TRÌNH ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM
Họ và tên sinh viên: LAI TRẦN THÁI BÌNH MSSV: 030334180023
Khóa học: K34 Lớp học phần: FIN314_211_D01 Giảng viên hướng dẫn: Ts Hồ Công Hưởng
TP Hồ Chí Minh, ngày 18 tháng 11 năm 2021
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ SỰ TỰ TIN THÁI QUÁ 1
1.1 Khái niệm 1
1.2 Các hình thức biểu hiện 2
1.2.1 Ước lượng sai (miscalibration) 2
1.2.2 Lạc quan thái quá (excessive optimism) 2
1.2.3 Hiệu ứng tốt hơn mức trung bình (better-than-average effect) 3
1.2.4 Ảo tưởng kiểm soát (illusion of control) 3
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VỀ SỰ TỰ TIN QUÁ MỨC 4
2.1 Các yếu tố cản trở việc sử sai 4
2.1.1 Thuyết quy kết (attribution theory) và thiên kiến quy kết tự kỷ (self-attribution bias) 4
2.1.2 Thiên kiến nhận thức muộn (hindsight bias) 4
2.1.3 Thiên kiến tự xác nhận (confirmation bias) 5
2.2 Ứng dụng hiện tượng tự tin thái quá vào thực tiễn môi trường đầu tư tại Việt Nam 5
2.2.1 Mang lại thành quả vượt trội 5
2.2.2 Xoa dịu sự thất vọng trong đầu tư 5
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN 6
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU
Lĩnh vực tài chính hành vi đang phát triển nhanh chóng và sử dụng các kiến thức từ tâm lý học để tìm hiểu cách thức hành vi của con người ảnh hưởng đến các quyết định của các nhà đầu tư các nhân và chuyên nghiệp hay của tất cả các thị trường và các nhà quản lý Chúng ta đều là con người, điều đó có nghĩa là hành vi của chúng ta đều bị ảnh hưởng bởi tâm lý Một vài quyết định đơn giản và là những lựa chọn hằng ngày, như việc chúng ta sẽ học tập chăm chỉ như thế nào cho kỳ thi sắp tới, hay nhãn hiệu nước giải khát nào chúng ta sẽ mua, nhưng những quyết định khác lại có thể ảnh hưởng đáng kể đến tình hình tài chính của chúng ta, như là chúng ta có nên mua một cổ phiếu nào đó hay không, hay chúng ta sẽ phân bổ tiền trong tài khoản hưu trí của chúng ta vào các quỹ đầu tư khác nhau và như thế nào
Hiểu được điều đó, mục đích của bài biết này sẽ trình bày một trong những hiện tượng trong hành vi liên quan đến việc ra quyết định, từ đó là sự ảnh hưởng đến quyết định đầu tư trong lĩnh vực tài chính Chúng ta sẽ hiểu và nhìn nhận được những vấn đề vẫn đang tồn tại, song song với việc rút ra bài học không chỉ cho lĩnh vực đầu tư tài chính, mà còn là những vấn đề khác trong cuộc sống
Hiện tượng được xem như là mang tính phổ biến nhất và nhiều người thất bại nhất trong việc rút ra sai lầm trong quá khứ mà bài viết nhắc tới, chính là hiện tượng
Tự tin thái quá (hay còn gọi là Sự tự tin quá mức) Đây là vấn đề được các nhà
nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học chứng minh rằng, hầu hết mọi người đều quá
tự tin trong phần lớn thời gian Khi xét đến khía cạnh tài chính, mà cụ thể hơn là
khía cạnh đầu tư, Tự tin thái quá đã tạo nên ảnh hưởng lớn trong việc đưa các
quyết định tài chính
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ SỰ TỰ TIN THÁI QUÁ
1.1 Khái niệm
Sự tự tin thái quá (overconfidence) là khuynh hướng con người đề cao kiến thức, khả năng, và tính chính xác trong thông tin của mình, hoặc lạc quan quá mức
về tương lai và khả kiểm soát tình thế
Theo nghĩa dễ hiểu hơn, chúng ta có thể hiểu sự tự tin thái quá qua việc phân tích từ bộ phận chữ nghĩa:
• Tự tin là có một cảm giác chính xác về kỹ năng, kiến thức của bản thân
• Thái quá là một sự phóng đại, quá mức
Tự tin thái quá là khuynh hướng người ta phóng đại sự chính xác kiến thức của bản thân
Trang 51.2 Các hình thức biểu hiện
Quá tự tin được biểu hiện theo nhiều hình thức khác nhau, trong đó sự đánh giá sai về kiến thức được xem như là biểu hiện rõ nhất cho hiện tượng tự tin thái quá Không chỉ vậy, trong một biểu hiện khác, nhiều người không thực tế đôi khi có khuynh hướng nghĩ rằng khả năng và hiểu biết của họ trên mức trung bình Ảo tưởng kiểm soát lại làm cho con người ta tin rằng họ có khả năng kiểm soát tình huống tốt hơn những gì họ thực sự có thể Mặt khác, lạc quan quá mức phản ánh cảm giác tin rằng mọi thứ tốt đẹp hơn so với phân tích khách quan chỉ ra
1.2.1 Ước lượng sai (miscalibration)
Khi thiết lập nghiên cứu, sự tự tin quá mức có thể được đo lường bằng một
số cách Chúng ta bắt đầu với sự ước lượng sai (miscalibration) Sự ước lượng sai
là một khuynh hướng người ta phóng đại sự chính xác kiến thức của bản thân Một kiểm tra sự ước lượng bản thân thường được thực hiện theo hình thức sau:
Trong môi trường được kiểm soát, người tham gia được yêu cầu xây dựng một khoảng tin cậy 90% dựa trên mức độ hiểu biết của bản thân hiện tại (hoặc trước đây) về một số kiến thức (như độ cao của đỉnh Everest, hay biến động chỉ số Dow Jones trong một tháng) Theo cách thức này, những người được cho là ước lượng sai khi khoảng tin cậy của họ quá hẹp
Nói đúng hơn, nếu một người được hỏi một số lượng lớn các câu hỏi với khoảng tin cậy x% - sai số thống kê mẫu sẽ được giảm thiểu nếu số câu hỏi đủ nhiều – thì việc ước lượng đúng ám chỉ rằng xấp xỉ x% các khoảng tin cậy của họ sẽ chứa câu trả lời chính xác cho các câu hỏi đó Hoặc nếu ta tập trung vào một câu hỏi cụ thể nào đó, và đem nó đi hỏi nhiều người; khi đó, nếu xem mẫu đại diện cho tổng thể, thì x% số người được hỏi sẽ có khoảng tin cậy chứa câu trả lời đúng
Tuy nhiên, thực tế cho ra các kết quả khác Tỷ lệ số người đưa ra khoảng tin cậy chứa câu trả lời đúng thấp hơn x% Điều này cũng đúng ở cấp độ mỗi cá nhân Nếu một người được hỏi một loạt những câu hỏi (sẽ được trình bày rõ trong “kiểm tra sự ước lượng” ở phần kế tiếp), thì tỷ lệ khoảng tin cậy chứa câu trả lời đúng thường thấp hơn đáng kể so với x% Tóm lại, những nghiên cứu về sự ước lượng chỉ ra rằng khoảng tin cậy mà các cá nhân đưa ra là quá hẹp, dẫn đến những câu trả lời đúng nằm trong khoảng tin cậy đó thường ít hơn so với mức độ chính xác hàm ý
1.2.2 Lạc quan thái quá (excessive optimism)
Có khá nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh sự tồn tại của biểu
hiện lạc quan thái quá (excessive optimism) Lạc quan thái quá hiện diện khi con
người đánh giá xác suất các kết quả thuận lợi/bất lợi, quá cao/quá thấp so với kinh nghiệm quá khứ hoặc những phân tích suy luận
Những ví dụ về các sự kiện rất tích cực và rất tiêu cực là thắng xổ số hay chết vì ung thư Ngoài ra, các sinh viên kỳ vọng họ nhận được điểm số cao hơn điểm họ thật sự có, và họ cũng đánh giá quá cao số lượng các cơ hội nghề nghiệp so
Trang 6tăng, thì hầu hết các cặp vợ chồng mới cưới vẫn kỳ vọng về sự bền vững của cuộc hôn nhân Có một dang được gọi là sai lầm trong việc lập kế hoạch (planning fallacy), là việc người ta thường nghĩ họ có thể hoàn thành kế hoạch vượt mức so với thực tế, và tất cả các chi phí phát sinh đều đã được tính đến Trong thực tế, nhiều người trong chúng ta thường xuyên không đạt được các mục tiêu trong cuộc sống và công việc và việc chi vượt kết hoạch luôn là vấn đề phioos biến đối với những dự án công cộng lớn Điển hình như dự án rạp hát Opera Sydney, được kỳ vọng sẽ hoàn thành trong năm 1963 với chi phí khoảng 7 triệu USD Thay vào đó,
nó đã kéo dài thêm 10 năm và tiêu tốn một khoản tiền là 102 triệu USD
1.2.3 Hiệu ứng tốt hơn mức trung bình (better-than-average effect)
Trong một số nghiên cứu khác, nhà nghiên cứu yêu cầu người tham gia đánh giá một số thuộc tính tích cực của bản thân họ khi so với mức trung bình, chẳng hạn như kỹ năng vận động, khả năng lái xe, và nhận thấy rằng các câu trả lời phù hợp
với hiệu ứng tốt hơn mức trung bình (better-than-average effect), rất nhiều
trong số đó đánh giá khả năng của họ cao hơn mức trung bình Nhưng dĩ nhiên, chỉ
có 50% (hoặc ít hơn một chút) trong bất bì một nhóm nào đó là thực sự có năng lực cao hơn trung bình Một nhà nghiên cứu khảo sát một mẫu sinh viên, kết quả cho thấy 82% sinh viên tự cho là mình thuộc nhóm 30% những người lái xe an toàn nhất
Một yếu tố khác làm người ta tin rằng khả năng của bản thân trên mức turng bình thường là do những định nghĩa chính xác về sự xuất sắc hay năng lực lại không
rõ ràng Theo lẽ tự nhiên, trong thân tâm, con người thường giữ những định nghĩa
mà theo đó họ sẽ giỏi nhất Lấy ví dụ về lái xe: Một vài người có thể cho rằng tốt nhất ở đây là có tay lái tốt nhất; người khác lại có thể nghĩ tốt nhất ở đây là năng lực lường trước nguy hiểm, và lại có những người khác cho rằng tốt nhất ở đây là có kỹ năng tốt trong việc giảm và tăng tốc khi xe đang chạy trên xa lộ Cả cơ chế nhận thức và cơ chế vận động viên dường như ẩn sau hiệu ứng tốt hơn trung bình Ở khía cạnh động viên, việc tin rằng bạn lái “tốt hơn mức trung bình” làm gia tăng lòng tự trong Ở khía cạnh nhận thức, tiêu chí thành tích vốn dễ dàng in vào tâm trí thường
là những gì bạn giỏi nhất
1.2.4 Ảo tưởng kiểm soát (illusion of control)
Một biểu hiện khác của sự tự tin thái quá là ảo tưởng kiểm soát (illusion of control) Đó là khi con người nghĩ rằng họ có khả năng kiểm soát tình huống hơn
thực tế có thể Lấy ví dụ như: một người thấy những người chơi xúc sắc hành động như thể là những người đó có thể kiểm soát được kết quả từ việc tung xúc sắc, và người ta thực sự tin rằng rủi ro truyền nhiễm một loại bệnh nào đó phụ thuộc một phần vào đặc điểm của người mà họ sẽ tiếp xúc
Trong một thí nghiệm, những sinh viên được tham gia một trò chơi Khi mỗi sinh viên lần lượt bước vào phòng, họ đối diện với một người khác, cũng tham gia vào cuộc chơi, nhưng người này thực chất đã được hứng dẫn để đóng vai một người
“lanh lợi” hoặc “khờ khạo” Nhà tổ chức xáo bài, đưa cho mỗi người một lá bài úp lại Mỗi người được phép đặt cược (bí mật) tối đa 25 xu một vòng, khi lá bài của người cược lớn hơn đối thủ của mình Rõ ràng đây là một trò chơi may rủi, không
Trang 7liên quan đến bất cứ một kỹ năng nào Tuy nhiên, người chơi thực hiện những khoản cược lớn hơn (16.25 xu so với 11.04 xu) khi đối thủ của họ trông có vẻ “khờ khạo” Có thể là cảm giác mà người tham gia luôn nghĩ mình hơn người khác đã làm họ suy nghĩ là họ có thể tác động đến kết quả
CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH VỀ SỰ TỰ TIN QUÁ MỨC
2.1 Các yếu tố cản trở việc sử sai
Trong quá khứ, những nhà nghiên cứu đã cố gắng giải thích tại sao sự quá tự tin lại phổ biến, và nhất là tại sao con người thất bại trong biệc rút ra bài học từ sai lầm trong quá khứ Có ba khuynh hướng lệch lạc trong hành vi con người có thể đóng góp vào việc duy trì sự quá tự tin Điều này sẽ được trình bày trong các phần tiếp theo
2.1.1 Thuyết quy kết (attribution theory) và thiên kiến quy kết tự kỷ (self-attribution bias)
Lý thuyết về sự quy kết (attribution theory) trong tâm lý học xã hội là việc
nghiên cứu cách con người đưa ra các quy kết nhân quả, nghĩa là cách con người tìm ra những lý giải cho những nguyên nhân của các hành động và các kết quả Xuất hiện những sai lầm dai dẳng nào đó
Ví dụ, con người khi quan sát người khác, có xu hướng quy kết quá mức hành vi cho các nhân tố nội tại (ngược lại đối với các nhân tố bên ngoài) Nếu một người dường như có những hành vi khiếm nhã, chúng ta hiển nhiên tin rằng người
đó có tính cách xấu, thay vì tìm kiếm các yếu tố môi trường có thể giải thích cho cách hành xử đó
Một biểu hiện khác của khuynh hướng lệch lạc quy kết có thể kể đến là thiên kiến quy kết tự kỷ (self-attribution bias) là khuynh hướng người ta quy kết những
thành công hoặc kết quả tốt đẹp cho khả năng của họ, trong khi họ đổ lỗi những thất bại cho các điều kiện ngoài tầm kiểm soát, điều này có thể dẫn đến việc gia tăng sự quá tự tín
Ví dụ, một người quá tự tin quan sát thành quả của cá nhân, mà các thành quả này vốn là sự kết hợp cảu cả các nhân tố bên trong (thuộc về cá nhân) lẫn các nhân tố bên ngoài Nếu mọi thứ diễn ra tốt đẹp, họ sẽ nghĩ là họ có năng lực, kỹ năng và kiến thức (nhiều hơn so với các đánh giá khách quan), và kết quả là làm gia tăng sự quá tự tin Thế nhưng, khi kết quả lại là những sự kiện tiêu cực, họ lại tự đổ lỗi cho bản thân ở mức độ vừa phải, thậm chí còn đổ lỗi cho các nhân tố bên ngoài, điều này cũng gây nên sự quá tự tin
2.1.2 Thiên kiến nhận thức muộn (hindsight bias)
Là một trong ba khuynh hướng chính gây nên sự quá tự tin Thiên kiến nhận thức muộn( hindsight bias) là khuynh hướng đưa người ta đến những suy
nghĩ, kiến thức đã biết, một cách dễ hiểu hơn, khuynh hướng còn được gọi với cái tên khác là hiện tượng “biết tuốt” Đây là loại khuynh hướng cực kỳ phổ biến khi
Trang 82.1.3 Thiên kiến tự xác nhận (confirmation bias)
Liên quan chặt chẽ với 2 khuynh hướng trên là thiên kiến tự xác nhận (confirmation bias), là xu hướng tìm kiếm những bằng chứng phù hợp với niềm tin
ban đầu và lờ đi những dữ liệu cho thấy điều ngược lại
Ví dụ, trong một thí nghiệm xã hội về tranh cãi có hay không việc nên thi hành án tử hình, cả những người đề xuất hay những người chống đối án tử hình được nghe trình bày các bằng chứng khác nhau, nhưng sự phân cực rõ rệt trong suy nghĩ đã xảy ra, những người ở mỗi nhóm sàng lọc các chứng cứ ủng hộ cho quan điểm trước đó của họ
2.2 Ứng dụng hiện tượng tự tin thái quá vào thực tiễn môi trường đầu tư tại Việt Nam
2.2.1 Mang lại thành quả vượt trội
Quá tự tin hoặc quá lạc quan, có thể không phải là một sai lầm hoàn toàn Trong nhiều nghiên cứu thực tế, sự lạc quan quá mức như vậy, có thể mang lại thành quả đầu tư vượt trội hơn dự tính ban đầu Sự lạc quan về dự đoán tương lai sẽ theo chiều hướng tích cực hơn trong các trường hợp sau:
• Thời gian dự báo cho mục tiêu ở rất xa
• Những diễn biến hành động đã được cam kết, thực hiện
Ví dụ với trường hợp thực tế trên thị trường chứng khoán Việt Nam Trong một báo cáo của Công ty Cổ phần Chứng khoán SSI về cổ phiếu HDC (Công ty Cổ phần Phát triển nhà Bà Rịa – Vũng Tàu) Qua quá trình tổng hợp thông tin, phân tích và đưa ra kết luận khuyến nghị đầu tư, giá mục tiêu mà bộ phần phân tích chứng khoán đưa ra là 72.000VND/ cổ phiếu nắm giữ trong vòng 1 năm từ ngày ra báo cáo (24/05/2021) tại giá 46.000VND/ cổ phiếu
Quả thực khi ta xét đến hiện tại, nếu SSI có sự lạc quan thái quá, trong trường hợp này lại là điều tốt Giá hiện tại tính đến ngày 17/11/2021 đã là 108.600/
cổ phiếu Giá hiện tại đã vượt rất xa giá mục tiêu ban đầu, ngay cả khi tính đến tác động của chia cổ tức
2.2.2 Xoa dịu sự thất vọng trong đầu tư
Mặc dù đôi khi thành quả có thể gia tăng, nhưng nó thường không được như các dự báo Tuy nhiên, sẽ xuất hiện những động cơ biện hộ nào đó cho sự thất bại khi đầu tư Điều này có thể áp dụng vào các nhà đầu tư tại thị trường chứng khoán Việt Nam
Cụ thể, có thể trong quá trình từ thu thập thông tin, phân tích và ra quyết định đầu tư, có thể có lệch lạc đâu đó trong quá trình trên gây nên tâm lý tiêu cực và ảnh hưởng đến những quyết định đầu tư độc lập khác không liên quan Điều này gây nên một chuỗi các quyết định bị ảnh hưởng bởi tác động tiêu cực từ thành quả đầu tư thất bại ban đầu Nhưng với những biểu hiện từ thiên kiến quy kết tự kỷ, nhà
Trang 9đầu tư có thể xoa dịu bớt sự thất vọng, cho phép một người đi theo hướng tốt thiểu hóa sự tổn hại đến lòng tự trọng và tiếp tục sự lạc quan cho các quyết định tiếp theo
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN
Sự tự tin thái quá phổ biết trong nhiều lĩnh vực kinh tế, kể cả trong việc ra quyết định tài chính, cấp độ thị trường, kinh tế quản lý, khởi nghiệp,…
Trong nhiều nghiên cứu đưa ra những chứng cứ cho thấy, quá tự tin dẫn đến việc người ta thực hiện giao dịch quá nhiều, ít đa dạng hóa và cũng chấp nhận nhiều rủi ro hơn Sự ước lượng sai hay việc tin rằng thông tin và phân tích của cá nhân chính xác hơn thực tế, có thể đưa người ta đến sự nhầm tưởng về khả năng phân tích
Sự quá tự tin còn tác động vào cấp độ thị trường Thực tế tự tin thái quá là sự
lý giải cho những bất thường trong tác động của tài chính hành vi đối với thị trường như: quán tính giá, hiệu ứng công ty nhỏ,…
Các nhà quản lý và doanh nhân có thể bị hủy hoại bởi sự quá tự tin Những chứng cứ đưa ra cho thấy, họ luôn sẵn sàng gia nhập thị trường, cho phép dòng tiền ảnh hưởng đến việc đầu tư, đầu tư quá mức, thâu tóm các công ty, sử dụng quá nhiều nợ,… Tất cả những hành động ấy đều xuất phát từ sự quá lạc quan và những khuynh hướng khác của sự quá tự tin
Thế nhưng, tự tin thái quá có thể không phải là tiêu cực hoàn toàn, nghĩa là
nó có thể gia tăng thành quả Xem xét một tình huống gia nhập thị trường, một cá nhân quyết định thành lập doanh nghiệp và quyết tâm thực hiện Mặc dù quá lạc quan có thể là tiêu cực ở phương diện có quá nhiều người theo đuổi mục tiêu này, dựa trên chứng cứ cho thấy một tỷ lệ thất bại cao của các doanh nghiệp mới nổi Nhưng niềm tin vào sự thành công của bản thân, có thể thúc đẩy nỗ lực và động cơ,
và thực sự làm tăng khả năng thành công của người đó
Trang 10TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Lucy F Ackert – Richard Deaves, 2018 Tài chính hành vi, tâm lý học, đưa
ra quyết định và thị trường Dịch từ tiếng Anh Người dịch: Lê Đạt Chí,
2018 Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Hồng Đức
2 SSI, 2021 CTCP Phát triển nhà Bà RịaVũng Tàu (HDC: HOSE): Hưởng lợi
từ quỹ đất giá rẻ