1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo in với việc tuyên truyền xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế (khảo sát các báo nhân dân, nông nghiệp việt nam, nông thôn ngày nay, thời báo kinh tế việt nam từ tháng 012010 đến tháng 32011

115 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 115
Dung lượng 891,61 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN HOÀNG THỊ PHƯƠNG BÁO IN VỚI VIỆC TUYÊN TRUYỀN XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRON

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

HOÀNG THỊ PHƯƠNG

BÁO IN VỚI VIỆC TUYÊN TRUYỀN XÂY DỰNG

NÔNG THÔN MỚI TRONG THỜI KỲ

HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ

(Khảo sát các báo Nhân dân, Nông nghiệp Việt Nam, Nông thôn Ngày nay, Thời báo Kinh tế Việt Nam từ tháng 01/2010 đến tháng 3/2011)

Chuyên ngành: Báo chí học

Mã số : 60 32 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Thị Thoa

HÀ NỘI - 2011

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Luận văn được hoàn thành tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh với sự giúp đỡ của cô hướng dẫn cùng các thầy cô giáo, các phòng, Ban của Học viện

Tôi xin cam đoan Luận văn này là do tôi viết Các số liệu sử dụng trong luận văn có cơ sở và trung thực Kết quả nghiên cứu của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác

Tác giả

Hoàng Thị Phương

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 6

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 12

1.1 Các khái niệm 12

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ hội nhập quốc tế 14

1.3 Vai trò của báo chí đối với tuyên truyền xây dựng NTM 26

Chương 2 THỰC TRẠNG BÁO IN TUYÊN TRUYỀN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ 34

2.1 Các tờ báo khảo sát 34

2.2 Nội dung khảo sát 37

2.3 Hình thức phản ánh 55

2.4 Phản hồi của công chúng về hiệu quả tuyên truyền của các tờ báo khảo sát 62

Chương 3 NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA HIỆN NAY CẦN GIẢI QUYẾT NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TUYÊN TRUYỀN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN BÁO IN 71

3.1 Những vấn đề đặt ra hiện nay cần giải quyết 71

3.2 Nhiệm vụ về tuyên truyền xây dựng NTM trong giai đoạn tới 81

3.3 Kiến nghị và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền xây dựng nông thôn mới 82

KẾT LUẬN 91

TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 99

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

CNH – HĐH Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

TBKTVN Thời Báo Kinh tế Việt Nam

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN VĂN

Bảng 2.1 Nội dung tuyên truyền về nông thôn mới trên các báo

Bảng 2.4 Chiến lược tin bài, các chuyên trang liên quan đến việc

tuyên truyền xây dựng nông thôn mới

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nước ta hiện nay có 80% hộ nông dân sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông - lâm nghiệp, đang phải đối mặt với hàng loạt các vấn đề: thiên tai, an ninh lương thực, biến đổi khí hậu, môi trường ô nhiễm…, chưa kể hầu hết lao động nông thôn không được học nghề, không có nghề, không bằng cấp, không được đào tạo một chuyên môn nào đó, không lương, không bảo hiểm…Đó là một bài toán nan giải đang đặt ra

Nông dân, nông nghiệp Việt Nam đã trải qua thời kỳ dài “thắt lưng, buộc bụng” để xây dựng đất nước Hôm nay, dù khó khăn, nông dân vẫn không ngại hy sinh cho sự phát triển của nông thôn mới Vì dòng điện ngày mai của Tổ quốc, vì những công trình thủy lợi cho cả cộng đồng rộng lớn, vì những khu công nghiệp sầm uất mà họ, những người nông dân sẵn sàng dời

bỏ quê quán, mồ mả tổ tiên đi lập những buôn, bản làng mới Họ cũng sẵn sàng hiến tặng hàng nghìn m2 đất để xây dựng đường giao thông, trạm y tế, trường học cho thế hệ tương lai…

Không thể có một nước công nghiệp nếu nông nghiệp, nông thôn lạc hậu, nông dân có đời sống văn hóa và vật chất thấp Ngày 05/8/2008, Nghị quyết số 26-NQ/TW của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành TW khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn được ban hành với mục tiêu: “ Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại, cơ cấu kinh tế và các hình thức tính chất sản xuất hợp lý; gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường” Đó là nội dung định tính về nông thôn mới nước ta trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa giai đoạn 2010 -2020 đã được cụ thể hóa bằng Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới (NTM)

Trang 7

Tháng 6/2010, Thủ tướng chính phủ đã có Quyết định 800/QĐ –TTg ngày 04/6/2010 phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 -2020

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM là một chương trình phát triển nông thôn toàn diện và là chương trình khung định hướng các nội dung cần thiết phải thực hiện để xây dựng các xã đạt chuẩn nông thôn mới Đây là sự nghiệp to lớn, đòi hỏi nhiều thời gian và công sức và phải có cả sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị trong đó có hoạt động báo chí

Trong thời gian qua, báo chí đã góp phần không nhỏ vào việc tuyên truyền xây dựng nông thôn mới Báo chí đã chỉ ra được những bất cập, vướng mắc trong quá trình xây dựng nông thôn mới Song, những vấn đề báo chí đặt

ra nhiều khi chưa kịp thời hoặc chưa theo kịp, chưa đạt tới cùng đã là những thách thức không nhỏ Hơn khi nào hết việc nghiên cứu, khảo sát đánh giá về những việc đã làm được và chưa được của báo chí nói chung và các báo khảo sát nói riêng trong lĩnh vực tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới, từ đó đưa ra những giải pháp đề xuất nâng cao chất lượng các tác phẩm báo chí về nông thôn mới là việc làm cần thiết hiện nay Đây chính là lý do tôi chọn đề

tài: Báo in với việc tuyên truyền xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ hội

nhập kinh tế quốc tế (Khảo sát các báo: Nhân dân, Nông nghiệp Việt Nam, Nông thôn Ngày nay, Thời báo Kinh tế Việt Nam từ tháng 01/2010 đến hết tháng 3/2011)

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Về nông nghiệp: Trên cả bình diện lý thuyết và thực tiễn, vấn đề nông

nghiệp, nông dân, nông thôn đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố Song nông nghiệp, nông dân, nông thôn thời hội nhập ngoài một số nghiên cứu xuất bản sách đơn thuần là cung cấp thông tin, có một số tác phẩm đáng lưu ý như sau:

Trang 8

- Con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn của

PGS.TS Chu Hữu Quý và PGS TS Nguyễn Kế Tuấn đồng chủ biên do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản

- Xây dựng hạ tầng cơ sở nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa ở

Việt Nam do PGS.TS Đỗ Hoài Nam, TS Lê Cao Đàm đồng chủ biên, Nhà

xuất bản Khoa học xã hội (2001)

- Cơ sở nông nghiệp nông thôn Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX và một số

định hướng của Trần Ngọc Bút Tác giả đã đưa ra một số đề xuất chính cần

phải thay đổi trong chính sách phát triển nông thôn

- 55 năm nông nghiệp, nông thôn Việt Nam, PGS.TS Nguyễn Sinh Cúc,

Nhà xuất bản Nông nghiệp (2001) Tác giả nhấn mạnh thành tựu của nông nghiệp sau 15 năm đổi mới và chỉ ra quá trình phát triển của nông nghiệp, nông thôn

- Nông nghiệp nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới: Quá khứ và

hiện tại, tác giả Nguyễn Văn Bích, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội

- Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông thôn mới ( cấp xã), tác giả Hồ Xuân

Hùng, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội (2010)

- Ngoài ra là một số bài báo của các nhà nghiên cứu đăng tải trên tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; tạp chí Nông thôn mới…

Một số luận án, luận văn báo chí có liên quan tới đề tài nông nghiệp, nông thôn, nông dân:

- Tuyên truyền chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn miền

núi phía Bắc (khảo sát báo Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn năm 2001 đến

2003), Luận văn thạc sĩ chuyên ngành báo chí học, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền (2004)

- Báo chí An Giang tuyên truyền chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông

nghiệp (khảo sát báo An Giang, Đài Phát thanh Truyền hình An Giang,

Trang 9

TTXVN - Phân xã An Giang, từ 2004 - 2005) Luận văn thạc sỹ báo chí, tác giả Nguyễn Hoàng Anh Tuấn, người hướng dẫn PGS.TS Tạ Ngọc Tấn

- Vấn đề tuyên truyền tam nông trên sóng truyền hình các đài Phát

thanh truyền hình khu vực đồng bằng sông Cửu Long (khảo sát từ tháng

1/2008 đến tháng 4/2009), tác giả Ngô Thị Ngọc Hạnh, người hướng dẫn GS.TS Dương Xuân Ngọc, Học Viện Báo chí - Tuyên truyền, 2009

- Nâng cao chuyên đề nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới của

Đài Phát thanh truyền hình Hà Nội, tác giả Lê Thu Phương, Học Viện Báo

chí – Tuyên truyền

- Báo chí đáp ứng nhu cầu thông tin thị trường tiêu thụ nông sản của nước

ta thời hội nhập (Khảo sát các báo: Nông nghiệp Việt Nam, Nông thôn Ngày nay,

Thời báo Kinh tế Việt Nam, Nhân dân), tác giả Nguyễn Thị Oanh, người hướng dẫn TS Nguyễn Thị Thoa, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2010…

Sau khi tìm hiểu các tài liệu liên quan, những luận văn của các đồng nghiệp cho thấy vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn đã được nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới ở nhiều phương diện khác nhau Tuy nhiên, cho

đến nay đề tài “Báo in với việc tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới trong

thời kỳ hội nhập quốc tế”, chưa có công trình nào tiến hành một cách có hệ

thống chuyên sâu và xem nó như là một đối tượng nghiên cứu độc lập Vì vậy, đối với tôi việc nghiên cứu về vấn đề này cũng có những thách thức không nhỏ vì tư liệu chủ yếu là khảo sát trên các báo và tiến trình thực hiện xây dựng nông thôn mới đang thực hiện ở giai đoạn đầu, đầy rẫy bất cập cần

có những cách thức tuyên truyền thích hợp để có được hiệu quả

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích:

Nghiên cứu, thực trạng báo in tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ hội nhập quốc tế, từ đó đề xuất một số giải pháp để nâng cao

Trang 10

hơn nữa chất lượng các tác phẩm báo chí khi tuyên truyền về vấn đề này trong thời gian tới

Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến đề tài

- Nghiên cứu đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới

- Nghiên cứu thực trạng báo in tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới; công chúng khu vực đồng bằng sông Hồng các tờ báo khảo sát để thấy được hiệu quả thực tế của báo chí tuyên truyền về vấn đề này

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các tác phẩm báo chí viết về xây dựng nông thôn mới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Báo in tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế

Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát 4 tờ báo: Nhân dân, Thời báo Kinh tế Việt Nam, Nông nghiệp Việt Nam, Nông thôn Ngày nay từ tháng 1/2010 – 3/2011; công chúng báo chí khu vực đồng bằng sông Hồng

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên những quan điểm, các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về công tác công tác báo chí nói chung và báo chí tuyên truyền về nông nghiệp, nông thôn, nông dân nói riêng; đồng thời luận văn cũng dựa trên cơ sở lý luận, nghiệp vụ báo chí, các đề tài nghiên cứu về thực tiễn báo chí, về báo in với việc tuyên truyền nông thôn mới từ nhiều nguồn khác nhau

Sử dụng phương pháp: Nghiên cứu tài liệu, khảo sát, thống kê, phân tích, tổng hợp Phương pháp điều tra xã hội học: Phỏng vấn bằng bảng hỏi; phỏng vấn sâu đối với các chuyên gia về nông thôn mới và các phóng viên viết về đề tài này

Trang 11

6 Đóng góp mới của luận văn

Kế thừa những lý luận từ các công trình đã có, đề tài sẽ góp phần bổ sung, phát triển một số vấn đề về báo chí học, bước đầu đưa ra một số giải pháp giúp người làm báo nâng cao công tác tuyên truyền về xây dựng nông thôn mới

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

- Qua công trình nghiên cứu, người viết hy vọng luận văn sẽ trở thành tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm Riêng đối với tác giả luận văn, quá trình hoàn thành công trình nghiên cứu giúp bản thân làm sáng tạo thêm kiến thức lý luận báo chí và có cơ hội tích lũy kinh nghiệm trong thực tiễn

8 Kết cấu của luận văn: Gồm: Mở đầu, 3 chương nội dung chính, kết

luận, tài liệu tham khảo, phụ lục

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

1.1 Các khái niệm

Nông nghiệp: Theo Từ điển Bách khoa Nông nghiệp của Trung tâm

Quốc gia biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, xuất bản năm 1991 định nghĩa: Tập hợp các mặt hoạt động của con người trong một môi trường khí hậu, đất và sinh học cụ thể trong những điều kiện kinh tế xã hội cụ thể, nhằm tạo ra sản phẩm thực vật và động vật cần cho đời sống, đặc biệt là lương thực

và thực phẩm [53 tr.310]

Nông thôn: Theo Đại từ điển Tiếng việt của Nhà xuất bản Văn hóa -

Thông tin năm 1998 do Nguyễn Như Ý chủ biên định nghĩa: Vùng tập trung dân cư làm nghề nông, phân biệt với thành thị, thành phố: Đời sống ở nông thôn và thành thị còn chênh lệch nhau quá lớn [54, tr.1283]

Theo Thông tư số 54 ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ghi rõ: “Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã”

Nông thôn mới là gì? Trong Nghị quyết số 26 – NQ/TƯ ghi rõ mục

tiêu: Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hoá dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường…

Như vậy, nông thôn mới khác với nông thôn truyền thống hiện nay, có

thể khái quát gọn theo năm nội dung cơ bản sau: Thứ nhất, đó là làng xã văn

Trang 13

minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại; thứ hai, sản xuất phải phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; thứ ba, đời sống vật chất và tinh thần của dân nông thôn ngày càng nâng cao; thứ tư, bản sắc văn hóa dân tộc được giữ gìn; thứ năm, xã hội nông thôn an ninh tốt, quản lý dân chủ [34]

Nông dân: Theo Từ điển Bách khoa Nông nghiệp của Trung tâm Quốc

gia biên soạn Từ điển Bách khoa Việt Nam, xuất bản năm 1991 định nghĩa: nông dân là người lao động cư trú ở nông thôn, sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng, sau đó bằng các ngành nghề mà tư liệu sản xuất là đất đai; tuỳ theo từng thời kỳ lịch sử, ở từng nước, có quyền sở hữu khác nhau về ruộng đất, những người này hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí vai trò nhất định trong xã hội

Trong lịch sử nền văn minh lấy nông nghiệp làm nền tảng đã phát triển giai cấp nông dân, được tổ chức chặt chẽ nhất là nền văn minh Ai Cập Đến thời Hi Lạp, La Mã, hình thành dần tầng lớp tiểu nông từ những cơ sở ruộng đất lớn của chủ đất (hay chúa đất) Sau đó hình thành ở nông thôn tầng lớp phú nông, địa chủ, cùng với tư sản thành thị Ngày nay nông dân có sinh hoạt

và tổ chức khác nhau trên từng vùng, từng quốc gia Nhưng nhìn chung họ là những người nghèo, sống phụ thuộc vào tầng lớp trên

Trên thế giới ở các nước đang phát triển, cứ hai người dân thì một người là nông dân sống ở nông thôn Ở vùng châu thổ sông lớn ở Đông Nam

Á, nông dân lao động nặng nhọc, hiệu quả công việc và năng suất cây trồng thấp Ở các nước công nghiệp phương Tây, trung nông là tầng lớp quan trọng

và năng động nhất; tầng lớp tiểu nông ngày càng ít đi; nông dân làm nhiều nghề, vừa có ruộng đất ở nông thôn, vừa làm công ăn lương ở thành thị Ở Hoa Kỳ, chủ trại sản xuất với sự hợp đồng của những công ty dịch vụ vật tư,

cơ khí, hoá chất, và dùng nhân công tạm thời; các chủ trại chỉ chiếm 10% tổng số dân cư nhưng nông dân làm ra 2/3 sản lượng của nền nông nghiệp Hoa Kỳ [53, tr.309]

Trang 14

1.2 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ hội nhập quốc tế

1.2.1 Nghị quyết 26 – NQ/TƯ của Hội nghị lần thứ 7 khóa X về nông nghiệp, nông thôn, nông dân

Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững, giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo an ninh, quốc phòng; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và bảo vệ môi trường sinh thái của đất nước

Các vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ, gắn với quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn, nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt

Phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân phải dựa trên cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với điều kiện của từng vùng, từng lĩnh vực, để giải phóng

và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực xã hội, trước hết là lao động, đất đai, rừng và biển; khai thác tốt các điều kiện thuận lợi trong hội nhập kinh tế quốc

tế cho phát triển lực lượng sản xuất trong nông nghiệp, nông thôn; phát huy cao nội lực; đồng thời tăng mạnh đầu tư của Nhà nước và xã hội, ứng dụng nhanh các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến cho nông nghiệp, nông thôn, phát triển nguồn nhân lực, nâng cao dân trí nông dân

Giải quyết vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn là nhiệm vụ của cả

hệ thống chính trị và toàn xã hội; trước hết, phải khơi dậy tinh thần yêu nước,

Trang 15

tự chủ, tự lực tự cường vươn lên của nông dân Xây dựng xã hội nông thôn ổn định, hoà thuận, dân chủ, có đời sống văn hoá phong phú, đậm đà bản sắc dân tộc, tạo động lực cho phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới, nâng cao đời sống nông dân

Không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hoà giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hoá lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả

và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia

cả trước mắt và lâu dài…

Mục tiêu đến năm 2020

Tốc độ tăng trưởng nông, lâm, thuỷ sản đạt 3,5 - 4%/năm; sử dụng đất nông nghiệp tiết kiệm và hiệu quả; duy trì diện tích đất lúa đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia trước mắt và lâu dài Phát triển nông nghiệp kết hợp với phát triển công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề nông thôn, giải quyết cơ bản việc làm, nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn gấp trên 2,5 lần so với hiện nay

Lao động nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội, tỉ lệ lao động nông thôn qua đào tạo đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%

Phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, trước hết

là hệ thống thuỷ lợi đảm bảo tưới tiêu chủ động cho toàn bộ diện tích đất lúa 2

vụ, mở rộng diện tích tưới cho rau màu, cây công nghiệp, cấp thoát nước chủ động cho diện tích nuôi trồng thủy sản, làm muối; đảm bảo giao thông thông suốt 4 mùa tới hầu hết các xã và cơ bản có đường ô tô tới các thôn, bản; xây

Trang 16

dựng cảng cá, khu neo đậu tàu thuyền và hạ tầng nghề cá; cấp điện sinh hoạt cho hầu hết dân cư, các cơ sở công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn; đảm bảo

cơ bản điều kiện học tập chữa bệnh, sinh hoạt văn hoá, thể dục thể thao ở hầu hết các vùng nông thôn tiến gần tới mức các đô thị trung bình

Nâng cao chất lượng cuộc sống của dân cư nông thôn; thực hiện có hiệu quả, bền vững công cuộc xoá đói, giảm nghèo; nâng cao trình độ giác ngộ và vị thế chính trị của giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và hưởng lợi nhiều hơn trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Nâng cao năng lực phòng chống, giảm nhẹ thiên tai, hoàn chỉnh hệ thống đê sông, đê biển và rừng phòng hộ ven biển, hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông, thuỷ lợi, cụm dân cư đáp ứng yêu cầu phòng chống bão, lũ, ngăn mặn và chống nước biển dâng; tạo điều kiện sống an toàn cho nhân dân đồng bằng sông Cửu Long, miền Trung và các vùng thường xuyên bị bão, lũ, thiên tai; chủ động triển khai một bước các biện pháp thích ứng và đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầu Ngăn chặn, xử lý tình trạng ô nhiễm môi trường, từng bước nâng cao chất lượng môi trường nông thôn

1.2.2 Quyết định 800 QĐ – TTg về Chương trình mục tiêu Quốc gia

về xây dựng Nông thôn mới

Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn

2010 – 2020 có 11 nội dung chính và 7 nhóm giải pháp đưa ra

Về nội dung bao gồm có những nội dung chính sau:

Quy hoạch xây dựng nông thôn mới:

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 01 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến năm 2011, cơ bản phủ kín quy hoạch xây dựng nông thôn trên địa bàn cả nước làm cơ sở đầu tư xây dựng nông thôn mới, làm cơ sở để thực hiện mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 – 2020

Trang 17

- Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ;

- Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã

Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 2; 3; 4; 5; 6; 7; 8; 9 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;

- Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã và hệ thống giao thông trên địa bàn xã Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục đường xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa) và đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn, xóm cơ bản cứng hóa);

- Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã Đến 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;

- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa thể thao trên địa bàn xã Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn đạt chuẩn, đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;

- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên địa bàn xã Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;

- Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo dục trên địa bàn xã Đến 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75%

số xã đạt chuẩn;

- Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ Đến 2015 có 65% số

xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn;

- Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã Đến 2015 có 45%

số xã đạt chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hóa) Đến 2020 có

Trang 18

77% số xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch)

Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 10, 12 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến năm 2015 có 20% số xã đạt, đến 2020 có 50% số xã đạt:

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao;

- Tăng cường công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp;

- Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp;

- Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi làng một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương;

- Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn

Giảm nghèo và an sinh xã hội:

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 11 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới:

- Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững cho 62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30a của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;

- Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo;

- Thực hiện các chương trình an sinh xã hội

Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 13 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 65% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn

Trang 19

- Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã;

- Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn;

- Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại hình kinh tế ở nông thôn

Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn:

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 14 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 45% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn:

Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;

Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 5 và 15 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;

Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực về y

tế, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới

Ủy ban nhân dân các xã xây dựng đề án và tổ chức thực hiện

Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 6 và 16 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn và 45% số xã có bưu điện và điểm internet đạt chuẩn Đến 2020 có 75% số xã có nhà văn hóa

xã, thôn và 70% có điểm bưu điện và điểm internet đạt chuẩn;

- Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;

- Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới

Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn

Trang 20

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 17 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới; đảm bảo cung cấp đủ nước sinh hoạt sạch và hợp vệ sinh cho dân

cư, trường học, trạm y tế, công sở và các khu dịch vụ công cộng; thực hiện các yêu cầu về bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái trên địa bàn xã Đến

2015 có 35% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 80% số xã đạt chuẩn;

- Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và

vệ sinh môi trường nông thôn;

- Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn

xã, thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng…

Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị -

xã hội trên địa bàn

Mục tiêu: đạt yêu cầu tiêu chí số 18 trong Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;

- Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới;

- Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo,

đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ ở các vùng này;

- Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới

Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn

Mục tiêu: Đạt yêu cầu tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới Đến 2015 có 85% số xã đạt chuẩn và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;

Trang 21

- Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng, chống các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu;

Về giải pháp thực hiện bao gồm:

(+) Thực hiện cuộc vận động sâu rộng về xây dựng nông thôn mới (+) Thực hiện đa dạng hóa các nguồn vốn huy động để triển khai thực hiện chương trình

(+) Nguyên tắc cơ chế hỗ trợ: Hỗ trợ 100% từ ngân sách trung ương cho 07 hạng mục (quy hoạch đường giao thông đến trung tâm xã, trường học các cấp, trạm y tế, nhà văn hóa xã, trụ sở xã, đào tạo cán bộ – hỗ trợ một phần

từ ngân sách trung ương cho 8 hạng mục (cấp nước sinh hoạt, thoát nước thải khu dân cư; đường giao thông thôn, xóm đường giao thông nội đồng và kênh mương nội đồng, phát triển sản xuất và dịch vụ, nhà văn hóa thôn, bản, công trình thể thao thôn, bản, hạ tầng khu sản xuất tập trung, tiểu thủ công nghiệp, thủy sản;

(+) Cơ chế đầu tư theo hướng giao quyền chủ động cho cấp xã;

(+) Đào tạo cán bộ chuyên trách để triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM;

(+) Hợp tác quốc tế trong xây dựng nông thôn mới;

(+) Điều hành, quản lý chương trình

1.2.3 Đặc trưng của nông thôn mới thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa giai đoạn 2010 – 2020

Theo tác giả Hồ Xuân Hùng (2010) - Sổ tay hướng dẫn xây dựng nông

thôn mới cấp xã [28, trang 5] đặc trưng của nông thôn mới bao gồm:

Kinh tế phát triển đời sống vật chất và tinh thần của cư dân nông thôn được nâng cao;

Trang 22

Nông thôn phát triển theo quy hoạch, có kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội hiện đại, môi trường sinh thái được bảo vệ ;

Dân trí được nâng cao, bản sắc dân tộc được giữ gìn và phát huy;

An ninh tốt, quản lý dân chủ;

Chất lượng hệ thống chính trị được nâng cao

1.2.4 Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới

Nội dung xây dựng nông thôn mới hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia Xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn xã đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ và hướng dẫn

Được thực hiện trên cơ sở lồng ghép các mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình dự án khác đang triển khai ở nông thôn hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo

an ninh quốc phòng của mỗi địa phương Là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội; cấp uỷ Đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, kế hoạch thực hiện…

1.2.5 Vai trò nông dân trong xây dựng NTM

Trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng NTM hiện nay, nông dân giữ vị trí

là “chủ thể”, đây là sự khẳng định đúng đắn, cần thiết.Vai trò của nông dân trong xây dựng NTM văn minh, hiện đại, được thể hiện là:

(+) Chủ thể tích cực tham gia vào quá trình xây dựng quy hoạch và thực hiện quy hoạch xây dựng NTM;

(+) Chủ thể chủ động và sáng tạo trong xây dựng kết cấu hạ tầng kinh

tế - xã hội ở nông thôn;

(+) Chủ thể trực tiếp trong phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất CNH- HĐH nông nghiệp, nông thôn;

Trang 23

(+) Chủ thể tích cực, sáng tạo trong xây dựng và gìn giữ đời sống văn hoá – xã hội, môi trường ở nông thôn;

(+) Là nhân tố góp phần quan trọng vào xây dựng hệ thống chính trị -

xã hội vững mạnh, bảo đảm ANTT xã hội ở cơ sở Xây dựng NTM là nhiệm

vụ chiến lược, đang đặt ra nhiều vấn đề cần tập trung nỗ lực của Nhà nước và nhân dân, giải quyết những vấn đề cấp bách, đồng thời tạo ra tiền đề cho những giai đoạn tiếp theo

1.2.6 Bộ Tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới

Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung chương trình mục tiêu quốc

gia về NTM; là chuẩn mực để các xã phấn đấu đạt các tiêu chí đề ra; là căn cứ

để đánh giá kết quả thực hiện xây dựng NTM ở các xã, địa phương trong từng thời kỳ, công nhận chuẩn về xã NTM

Bộ tiêu chí gồm 5 nhóm tiêu chí, cụ thể:

Tiêu chí 1: Quy hoạch và thực hiện quy hoạch

Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất nông nghiệp, hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ

Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường theo chuẩn mới Quy hoạch phát triển các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có theo hướng văn minh, bảo tồn được bản sắc văn hóa tốt đẹp

Tiêu chí 2: Giao thông

Tỷ lệ km đường trục xã, liên xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT

Tỷ lệ km đường trục thôn, xóm được cứng hóa đạt chuẩn theo cấp kỹ thuật của Bộ GTVT

Tỷ lệ km đường ngõ, xóm sạch và không lầy lội vào mùa mưa

Tỷ lệ km đường trục chính nội đồng được cứng hóa, xe cơ giới đi lại thuận tiện

Trang 24

Tiêu chí 3: Thủy lợi

Hệ thống thủy lợi cơ bản đáp ứng yêu cầu sản xuất và dân sinh

Tỷ lệ km kênh mương do xã quản lý được kiên cố hóa

Tiêu chí 4: Điện

Hệ thống điện đảm bảo yêu cầu kỹ thuật của ngành điện

Tỷ lệ hộ sử dụng điện thường xuyên, an toàn từ các nguồn

Tiêu chí 5: Trường học

Tỷ lệ trường học các cấp: mầm non, mẫu giáo, tiểu học, THCS có cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia

Tiêu chí 6: Cơ sở vật chất văn hóa

Nhà văn hóa và khu thể thao xã đạt chuẩn của Bộ VH-TT-DL

Tỷ lệ thôn có nhà văn hóa và khu thể thao thôn đạt quy định của Bộ VH-TT-DL

Tiêu chí 7: Chợ nông thôn

Chợ đạt chuẩn của Bộ Xây dựng

Tiêu chí 8: Bưu điện

Có điểm phục vụ bưu chính viễn thông

Tiêu chí 12: Cơ cấu lao động

Tỷ lệ lao động trong độ tuổi làm việc trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp

Trang 25

Tiêu chí 13: Hình thức tổ chức sản xuất

Có tổ hợp tác hoặc hợp tác xã hoạt động có hiệu quả

Tiêu chí 14: Giáo dục

Phổ biến giáo dục trung học

Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS được tiếp tục học trung học (phổ thông, bổ túc, học nghề

Tỷ lệ lao động qua đào tạo

Tiêu chí 15: Y tế

Tỷ lệ người dân tham gia các hình thức bảo hiểm y tế

Y tế xã đạt chuẩn quốc gia

Tiêu chí 16: Văn hóa

Xã có từ 70% số thôn, bản trở lên đạt tiêu chuẩn làng văn hóa theo quy định của Bộ VH-TT-DL

Tiêu chí 17: Môi trường

Tỷ lệ hộ được sử dụng nước sạch hợp vệ sinh theo quy chuẩn Quốc gia Các cơ sở SX-KD đạt tiêu chuẩn về môi trường

Không có các hoạt động gây suy giảm môi trường và có các hoạt động phát triển môi trường xanh, sạch, đẹp

Nghĩa trang được xây dựng theo quy hoạch

Chất thải, nước thải được thu gom và xử lý theo quy định

Tiêu chí 18: Hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh

Cán bộ xã đạt chuẩn

Có đủ các tổ chức trong hệ thống chính trị cơ sở theo quy định Đảng

bộ, chính quyền xã đạt tiêu chuẩn "trong sạch, vững mạnh"

Các tổ chức đoàn thể chính trị của xã đều đạt danh hiệu tiên tiến trở lên

Tiêu chí 19: An ninh, trật tự xã hội được giữ vững

An ninh, trật tự xã hội được giữ vững

Trang 26

1.3 Vai trò của báo chí đối với tuyên truyền xây dựng NTM

1.3.1 Đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước về nhiệm vụ của báo chí phản ánh về vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “ Việt Nam là một nước sống về nông nghiệp Nền kinh tế của ta lấy canh nông làm gốc Trong công cuộc xây dựng nước nhà, Chính phủ trông mong vào nông dân, trông cậy vào nông nghiệp một phần lớn Nông dân ta giàu thì nước ta giàu Nông nghiệp ta thịnh thì nước ta thịnh” [30]

Ngay sau khi có phiên họp đầu tiên của Hội đồng Chính phủ ngày 3/9/1945 do Bác Hồ làm chủ tọa, trong tình hình hết sức cấp bách, Bác trình bày với các Bộ trưởng những nhiệm vụ trước mắt phải lo là “nhân dân đang đói” Bác nhấn mạnh vai trò của báo chí trong việc phát triển nông nghiệp, trong công tác tuyên truyền và phổ biến kiến thức cho nông dân Ngay sau đó Bác là người tiên phong trong phong trào viết về nông nghiệp, nông thôn và nông dân với hai bài báo “Gửi nông gia Việt Nam”, trên báo Tấc đất (nay là báo Nông nghiệp Việt Nam) số đầu tiên ngày 7/12/1945 Qua bài viết người

đã chỉ ra rằng: “Loài người ai cũng “dĩ thực vi tiên” (nghĩa là trước tiên phải ăn); nước ta thì “dĩ nông vi bản” (nghĩa là nghề nông làm gốc) Dân muốn ăn

no thì phải trồng trọt nhiều Nước muốn giàu mạnh thì phải phát triển nông nghiệp Vì vậy chúng ta không nên bỏ qua một tấc đất nào hết Chúng ta phải quý một tấc đất như một tấc vàng…”; Tiếp đến ở bài báo thứ hai Bác phân tích cụ thể: “ Hợp tác xã là gì? Nói tóm lại, hợp tác xã là hợp vốn, hợp sức với nhau Vốn nhiều sức mạnh thì khó nhọc ít mà lợi nhiều Vì vậy hợp tác xã nông nghiệp là một tổ chức có lợi to cho nhà nông Nó là một cách đấu tranh

có hiệu quả nhất để giúp vào việc xây dựng nước nhà Hợp tác xã giúp cho nhà nông đạt đến mục đích, đã ích nước lại lợi nhà…” [33]

Nhìn lại lịch sử mấy chục năm qua, nhất là từ khi thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng, Nhà nước ta có rất nhiều nghị quyết, chính sách về phát triển

Trang 27

kinh tế, xã hội nông nghiệp, nông thôn Và thực hiện chức năng nhiệm vụ

đề ra, báo chí đã góp phần quan trọng trong việc tuyền truyền, cổ vũ những chủ trương chính sách đó

Từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta luôn khẳng định tầm quan trọng của vấn đề nông dân, nông nghiệp và nông thôn Trong quá trình đổi mới, Đảng ta xác định công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn là một trong những nội dung cơ bản của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Ngay những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Đặc điểm to lớn nhất của ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa

Đại hội lần thứ III của Đảng khẳng định ra sức phát triển nông nghiệp,

vì muốn phát triển công nghiệp, muốn tiến hành công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa phải có những điều kiện tiên quyết như lương thực, thực phẩm, lao động thiết yếu… mà những điều kiện đó phụ thuộc vào sự phát triển của nông nghiệp

Đến Đại hội lần thứ IV, Đảng xác định lấy việc phát triển nông nghiệp

và công nghiệp nhẹ làm cơ sở để ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý, nêu ra vấn đề kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp cả nước thành một cơ cấu công - nông nghiệp

Đại hội V của Đảng khẳng định nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, chỉ

rõ quan điểm và nội dung của công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường đầu tiên Xây dựng và phát triển công nghiệp nặng phải nhằm phục vụ thiết thực và có hiệu quả cho nông nghiệp và công nghiệp hàng tiêu dùng

Đại hội VI - bước ngoặt trong đổi mới tư duy của Đảng về nông nghiệp, nông thôn, phải tập trung sức phát triển nông nghiệp, coi nông nghiệp

là mặt trận hàng đầu, đưa nông nghiệp một bước lên sản xuất lớn xã hội chủ

Trang 28

nghĩa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua Đại hội VII và các nghị quyết của Trung ương khóa VII, tiếp tục khẳng định, làm rõ quan điểm công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp và kinh tế nông thôn, theo hướng hiện đại gắn liền với phát triển một nền nông nghiệp toàn diện

Nghị quyết lần thứ 7 Ban chấp hành TƯ khóa X khẳng định: Nông nghiệp - nông thôn - nông dân có vị trí chiến lược trong sự nghiệp CNH-HĐH, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là cơ sở và lực lượng quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội bền vững

Trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục chú trọng xây dựng nông thôn mới: “Triển khai xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn những nét đặc sắc của nông thôn Việt Nam Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn…[3, số 12, ngày 18/1/2011]

Tiếp tục quán triệt sâu sắc các chủ trương định hướng của trung ương, của địa phương về phát triển nông nghiệp - nông thôn - nông dân; trước mắt

là Nghị quyết lần thứ 7 của Ban chấp hành trung ương khóa X, Văn kiện Đại hội Đảng XI mới ban hành để người làm báo nắm rõ định hướng, đi sâu nghiên cứu, thể hiện bằng tác phẩm báo chí chân thực, khách quan Đặc biệt trong thời kỳ hội nhập hiện nay, thông tin mang tính chất toàn cầu hoá thì vai trò của báo chí đối với việc tuyên truyền về nông nghiệp, nông thôn càng quan trọng Ở đó người cầm bút có thể phát huy hết sở trường, thể hiện những tác phẩm hay, đưa nghị quyết của Đảng đi vào cuộc sống, góp phần phát triển kinh tế - xã hội đất nước mang lại niềm tin đối với nhân dân

1.3.2 Vai trò của báo chí đối với việc tuyên truyền xây dựng NTM

Dù ở thời điểm nào báo chí luôn có vai trò quan trọng để đưa những quyết sách, những chủ trương đường lối vào cuộc sống Báo chí thực sự đóng

Trang 29

vai trò quan trọng – xung kích trên mặt trận tư tưởng Văn kiện Đại hội VI chỉ rõ: “ Báo chí là tiếng nói của Đảng, đồng thời cũng phản ánh tiếng nói của quần chúng”

Chỉ thị số 22 – CT /TƯ ngày 17/10/1997 của Bộ Chính trị: “Báo chí…là tiếng nói của Đảng, của nhà nước, của các tổ chức chính trị xã hội và

là diễn đàn của giai cấp nông dân…” Nhiệm vụ hàng đầu của báo chí là:

“luôn luôn đi đầu trong việc bảo vệ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối chính sách của Đảng và nhà nước” [21 ]

Luật Báo chí 1990, ngay Điều 1, Chương 1, ghi rõ vai trò của báo chí: Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin đại chúng thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân [32]

Nghị quyết TƯ 6 (lần hai) khoá VIII ngày 2/2/1999, Đảng cộng sản Việt Nam đã ghi nhận, khẳng định báo chí và truyền thông đại chúng là một trong bốn hệ thống GSXH: “ Sử dụng đồng bộ hệ thống giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là sự giám sát của tổ chức Đảng, trước hết là từ chi bộ, sự giám sát của nhân dân và các cơ quan đại diện nhân dân, sự giám sát của công luận” Đấy là bước phát triển quan trọng về lý luận, nhận thức của Đảng ta về vai trò

xã hội của báo chí, cũng là một dấu móc quan trọng của thực hiện mở rộng dân chủ Về thực chất đó là sự xác định và đề cao hơn quyền dân chủ của nhân dân, đồng thời trao cho nhân dân công cụ sắc nhạy (báo chí) trong việc thực hiện quyền GSXH của mình [36]

Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, những tiến bộ công nghệ thông tin đã

mở ra kỷ nguyên của truyền thông số, ở đó con người tiếp cận thông tin không bị giới hạn bởi không gian và thời gian, diện mạo báo chí có sự thay đổi lớn để đáp ứng nhu cầu mới Nhiệm vụ của báo chí nặng nề hơn Chỉ thị

Trang 30

số 22 CT/TƯ của Bộ Chính trị đã chỉ rõ: “Tiếp tục phát triển sự nghiệp báo chí – xuất bản đi đôi với quản lý tốt, không ngừng nâng cao chất lượng chính trị, văn hóa, khoa học, công nghệ, nghề nghiệp, từng bước hiện đại hóa” [21] Theo PGS.TS Tạ Ngọc Tấn, phát triển truyền thông đại chúng nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân, đồng thời nhằm mở rộng phạm vi ảnh hưởng của nước ta so với thế giới Quan điểm phát triển phải đi đôi với quản

lý tốt là sự đúc kết kinh nghiệm thực tiễn phản ánh những yêu cầu, điều kiện khách quan của thời đại [46, tr.232]

Trong sự phát triển như vũ bão của truyền thông đại chúng hiện nay báo in vẫn có chỗ đứng của nó Sự cạnh tranh khốc liệt giữa báo in và các loại hình báo chí khác để phát triển cho thấy rõ điều đó Trong hệ thống truyền thông đại chúng, “báo in là những ấn phẩm định kỳ chuyển tải nội dung thông tin mang tính thời sự và được phát hành rộng rãi trong xã hội [46, trang 81] Nội dung thông tin trên báo in được chuyển tải thông qua văn bản in gồm chữ

in, hình vẽ, tranh ảnh, sơ đồ, biểu đồ, v.v…Việc tiếp nhận thông tin của công chúng đối với báo in qua thị giác - giác quan quan trọng nhất của con người Trong cuộc phát triển như vũ bão đó báo in vẫn luôn nỗ lực hết mình chống

đỡ và khẳng định vai trò vị trí của mình Theo Bộ Thông tin và Truyền thông tính đến tháng 12 năm 2009, cả nước có 706 cơ quan báo chí với hơn 900 ấn phẩm, gồm 178 báo và 528 tạp chí; 67 đài phát thanh truyền hình, 606 đài cấp huyện Cả nước có đến 27 báo điện tử và 88 trang tin điện tử của các cơ quan báo chí; một hãng thông tấn quốc gia và hàng nghìn trang tin điện tử của các

cơ quan Đảng, Nhà nước, tổ chức đoàn thể, doanh nghiệp

Thực tế, trong nông nghiệp với những chủ trương, chính sách về sản xuất, khoán hộ, cải cách chính sách kinh tế, báo Nhân Dân không chỉ có vai trò tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, cổ vũ động viên và tổ chức việc thực hiện, mà còn là người đóng góp tích cực từ khâu hoạch định Vào năm 1981,

Trang 31

với những bài phản ánh trên báo về khoán, đã góp phần cùng các cơ quan khác cung cấp cơ sở thực tiễn để Ban Bí thư ra Chỉ thị 100

Cũng vào những năm tháng ấy, báo Nhân Dân là báo phản ánh tích cực nhất chủ trương của Chính phủ cho người dân được mượn đất để sản xuất vụ đông mà không cần nộp sản phẩm cho hợp tác xã; chủ trương của Thanh Hóa cho gia đình xã viên được nuôi bò riêng và các cửa hàng ăn được bán phở bò

mà không bị ràng buộc phải là thịt bò phế thải Sau Ðại hội VI của Ðảng, Ban Biên tập báo Nhân Dân đã phối hợp với Tỉnh ủy các tỉnh Thái Bình, Hà Nam Ninh, Hà Bắc tổ chức liên tiếp các hội thảo về vấn đề khoán hộ và cũng đã góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn để Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 10 (tháng

4 -1988) “Về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp” thừa nhận quyền tự chủ của hộ, thường gọi tắt là “Khoán 10”.[2, ngày 10/3/2011]

Báo Nông thôn Ngày nay với những bài về tích tụ ruộng đất, các loại phí, khoán trong nông nghiệp đã đưa những chủ trương chính sách lên bàn nghị sự Biến những giọt mồ hôi của người nông dân thành hành động hiện thực Từ hàng loạt bài báo, ngay sau họp Quốc hội, Nhà nước đã bãi bỏ cho nông dân hàng loạt loại phí Loạt bài này cũng đã mang lại giải A báo chí toàn quốc năm 2007 cho báo Nông thôn Ngày nay

Thời báo Kinh tế Việt Nam tổ chức trao tặng danh hiệu “cúp vàng” cho các doanh nhân đã hết lòng vì công cuộc xây dựng đất nước, xây dựng nền nông nghiệp nước ta tiến xa hơn Kịp thời, khích lệ tôn vinh những con người mới, nhân tố mới, điển hình mới

Báo Nông nghiệp Việt Nam, kiên trì bám trụ mục tiêu vạch ra Làm nên thương hiệu của tờ báo hôm nay là lớp lớp thế hệ phóng viên báo đã gắn

bó cả đời mình với báo, với người nông dân Theo ông Lê Nam Sơn - Tổng Biên Tập báo, “Chúng tôi những người làm báo cho nông dân, uống nước của dân, ăn cơm của dân nên sống hết mình vì dân Là tờ báo của Bộ Nông nghiệp

Trang 32

và Phát triển Nông thôn nhưng báo đã không nề hà, né tránh phản ánh những sai trái của cơ quan chủ quản, mà luôn sát cánh để bảo vệ quyền lợi cho người nông dân, xây dựng nông thôn mới, nên đôi khi lãnh đạo Bộ thường nói đùa rằng: “báo” Bộ mà lại chỉ thấy “chí” bộ” (xem Phụ lục 2, tr.107)

Hiện nay thông tin về nông nghiệp, nông thôn là rất cần thiết Đối với chương trình NTM để chủ trương, cách thức triển khai về phát triển nông thôn mới có thành công hay không đó có sự góp phần không nhỏ của báo chí

Sau một năm triển khai, đã có 100% số tỉnh, thành phố thành lập Ban chỉ đạo xây dựng NTM, thành lập xong văn phòng điều phối (hoặc tổ công tác) giúp việc Ban chỉ đạo; 38/63 tỉnh, thành đã phê duyệt kế hoạch xây dựng NTM giai đoạn 2011-2015 và đã triển khai nhiều nội dung xây dựng…Đến nay, cả nước đã có 85 xã đạt 100% tiêu chí NTM Xây dựng NTM đã được đưa vào chương trình nghị sự của Đại hội Đảng các cấp Nhiều nội dung đã thành chỉ tiêu phấn đấu của các Đảng bộ xã, huyện, tỉnh nhiệm kỳ 2011-2015

Để đạt được những kết quả trên có sự vào cuộc mạnh mẽ của các cơ quan báo chí, tuyên truyền tới đông đảo người dân, các cấp chính quyền, giúp

họ hiểu thế nào là NTM, cách làm ra sao, chỉ ra những khó khăn cần tháo gỡ, những bất cập cần thay đổi cho phù hợp bởi trên thực tế từ văn bản xuống thực tiễn còn một khoảng cách khá xa…Thực tế đã minh chứng suốt chặng đường phát triển kinh tế vừa qua, đồng hành với nông nghiệp, nông dân và nông thôn, đội ngũ phóng viên, biên tập viên các cơ quan báo chí không quản ngại khó khăn, ngày đêm lăn lộn, thâm nhập thực tế để phản ánh sinh động tất

cả các mặt của đời sống xã hội, góp phần đưa tiếng nói của nông dân tới các

cơ quan Đảng và Nhà nước Cũng chính vì thế, nhiều chính sách đã ra đời, tạo động lực cho nông nghiệp, nông thôn phát triển Nghị quyết 26 về tam nông

là minh chứng

Trong thời gian tới, Báo chí phải đưa ra những điểm mới và khác của

chương trình nông thôn mới giai đoạn này so với giai đoạn trước Vì sao có

Trang 33

những điểm mới đó? Tại sao lại coi là điểm mới Vậy những điểm mới đó triển khai sẽ có hiệu quả như thế nào và khi triển khai mang lại những thách thức gì?

Để tuyên truyền về những điểm mới đó, báo chí phải phân tích những hiệu quả của các chương trình nông nghiệp, nông thôn trước đây, từ đó rút ra bài học hiệu quả cho giai đoạn hiện nay

Tăng cường sự phối hợp tuyên truyền giữa các báo, sự hỗ trợ và đồng thuận trong cách thức tuyên truyền để mang lại hiệu quả cao

Tiếp tục, đó là sự nỗ lực của phóng viên, biên tập viên trong công tác tuyên truyền những chủ trương, chính sách đến người nông dân kịp thời Cũng cần phải nghiên cứu tâm lý, sở thích thói quen đọc báo của nông dân để việc tuyên truyền thực sự mang lại hiệu quả Hiện ở các vùng nông thôn, chỉ

có UBND xã hoặc điểm bưu điện văn hóa xã là nơi cung cấp báo chí Trong khi đó, nhu cầu của nông dân về thông tin, nhất là khoa học kỹ thuật, giá cả thị trường rất cao Đói thông tin sẽ rất khó phát triển sản xuất, rất khó nắm bắt nhu cầu thị trường…, vì thế, làm sao để nông dân tiếp cận được nhiều hơn với báo chí là điều cần phải nỗ lực không ngừng của các cấp, các ngành

Theo T.S Nguyễn Quang Diệu - Giám đốc Trung tâm Thông tin Nông nghiệp – nông thôn: “Truyền thông nông nghiệp, nông thôn đã mở ra được cánh cửa để toàn xã hội tìm hiểu vai trò của nông nghiệp và thực trạng cuộc sống nông thôn, là nhịp cầu mang hình ảnh nông nghiệp, nông thôn Việt Nam đến với bạn bè quốc tế” [31] Bước vào giai đoạn phát triển mới, nông dân vẫn là lực lượng lớn, chủ thể phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Làm gì để nông dân ít bị thiệt thòi trên con đường hội nhập, bày tỏ được nguyện vọng, trình bày được ý kiến, để những người thanh niên không rời quê lên thành phố

là nhiệm vụ nặng nề đặt trên vai các nhà báo trong thời gian tới

Trang 34

Chương 2 THỰC TRẠNG BÁO IN TUYÊN TRUYỀN VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP QUỐC TẾ

2.1 Các tờ báo khảo sát

2.1.1 Báo Nhân dân

Báo Nhân Dân, tiếng nói của Ðảng, Nhà nước và nhân dân, xuất bản số đầu ngày 11 tháng 3 năm 1951 Theo Quyết định 70 – QĐ/TƯ của Bộ Chính trị về chức năng, nhiệm vụ cụ thể báo Nhân dân:

Tuyên truyền phổ biến quan điểm đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; cổ vũ những nhân tố mới, những điển hình tập thể; tham gia tổng kết thực tiễn góp phần vào việc hình thành, kiểm nghiệm, bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; phản ánh trung thực tâm nguyện chính đáng của nhân dân; đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và đấu tranh chống tiêu cực, tham nhũng [25, tr.30]

Trải qua thực tế, đối với sự nghiệp đổi mới, báo Nhân Dân vừa là chủ nhân, vừa là chứng nhân, lại vừa là đối tượng “Là chủ nhân’’ là nói vai trò chủ động, sáng tạo của báo trong công tác tuyên truyền, cổ động, tổ chức đối với công cuộc đổi mới, cũng là nói tới những đóng góp của báo vào việc hình thành đường lối và các chủ trương chính sách của Ðảng về đổi mới “Là chứng nhân” là nói vai trò phản ánh, là tấm gương phản chiếu thực tiễn đổi mới, bao gồm cả thực tiễn lãnh đạo và thực tiễn phong trào quần chúng, cũng

là nói vai trò người ghi chép trung thực tiến trình lịch sử của đổi mới “Là đối tượng” là nói báo cũng chịu sự tác động mạnh mẽ của đổi mới, và để phục vụ

Trang 35

tốt cho đổi mới, bỏo phải tự đổi mới mỡnh và càng phải vươn lờn đi đầu trong

sự nghiệp đổi mới bỏo chớ núi chung [2, ngày 10/3/2011]

Kế thừa truyền thống, qua khảo sỏt thực tế, bỏo Nhõn dõn từ thỏng 1/2010 đến thỏng 3/2011 cho thấy, hầu hết cỏc số bỏo đều tập trung truyền truyền về nụng nghiệp, nụng thụn, nụng dõn, những thỏng cao điểm như thỏng

11, 12 năm 2010 và 1, 2 năm 2011 tỷ lệ trung bỡnh là 2 bài bỏo/1 số bỏo, trong

đú lượng tin, bài phản ỏnh, phúng sự, chuyờn luận viết về đề tài nụng thụn mới luụn được chỳ trọng và chiếm tỷ lệ đỏng kể so với cỏc ngành kinh tế khỏc Khảo sỏt bỏo Nhõn dõn 15 thỏng, với 7 số/ tuần ( số: thứ hai, ba, tư, năm, sỏu, bảy và chủ nhật), với 450 số bỏo, số bài về nụng thụn mới cú 183 bài Chủ yếu nội dung tập trung vào chuyển tải chớnh sỏch, tin về hội nghị và bài viết về xó hội nụng thụn an ninh, quản lý tốt, dõn chủ

2.1.2 Bỏo Nụng nghiệp Việt Nam

Bỏo Nụng nghiệp Việt Nam (NNVN) là cơ quan ngụn luận của Bộ Nụng nghiệp và Phỏt triển nụng thụn Tiền thân của báo là tờ

“Tấc đất”, ra đời cuối năm 1945 đầu năm 1946 trong hoàn

cảnh đất nước đang trong tình trạng đói kém triền miên Bỏo lấy đối tượng nụng dõn làm hàng đầu với nhiệm vụ:

Tuyờn truyền, phổ biến chủ trương chớnh sỏch của Đảng và Nhà nước

về lĩnh vực nụng nghiệp, lõm nghiệp, thuỷ sản, thuỷ lợi, diờm nghiệp, kinh tế hợp tỏc và phỏt triển nụng thụn;

Phản ỏnh sự kiện thời sự, kinh tế, xó hội trong nước và quốc tế cú liờn quan tới phỏt triển kinh tế, xó hội và phỏt triển nụng nghiệp, nụng thụn; Thụng tin về cỏc hoạt động chỉ đạo, điều hành của Bộ đối với ngành Nờu gương cỏc nhõn tố điển hỡnh, phờ phỏn cỏc hiện tượng tiờu cực trong lĩnh vực nụng nghiệp và phỏt triển nụng thụn;

Trang 36

Tham gia phổ biến kiến thức khoa học cụng nghệ, sỏng kiến, kinh nghiệm sản xuất nhằm nõng cao dõn trớ cho nụng dõn, vỡ sự nghiệp cụng nghiệp hoỏ, hiện đại hoỏ nụng nghiệp, nụng thụn

Báo phát hành liờn tục 5 kỳ/tuần, số lượng xuất bản 30.000 bản/kỳ, trờn 7 triệu bản/ năm Báo in ở 2 miền: Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, dần dần báo mở rộng đến địa bàn khỏc

Qua khảo sỏt từ thỏng 1/2010 đến 3/2011 với 340 số bỏo cho thấy, cú

271 bài nội dung tập trung tuyờn truyền về xõy dựng nụng thụn mới cú làng

xó văn minh sạch đẹp, giàu bản sắc văn húa, đời sống xó hội nụng thụn tốt

Như vậy nếu so với vấn đề khỏc, cỏc tin bài liờn quan đến nụng thụn mới cũng đó chiếm một tỷ lệ đỏng kể, mặc dự chưa xuất hiện với tần xuất dày đặc Bỏo cũng đó mở ra trang riờng để tuyờn truyền về vấn đề này

2.1.3 Bỏo Nụng thụn Ngày nay

Bỏo Nụng thụn Ngày nay (NTNN) là cơ quan ngụn luận của Hội Nụng dõn Việt Nam Trước đõy là tờ Nụng thụn mới (1984 -1985), sau đú đổi thành Nụng dõn Việt Nam (1986 - 1995), từ năm 1995 bỏo mới cú tờn như hiện nay

Từ chỗ ban đầu chỉ là một bản tin xuất bản 1 kỳ/thỏng, rồi 3 kỳ/thỏng, sau hơn một phần tư thế kỷ nỗ lực khụng ngừng, đến nay, bỏo đó xuất bản liờn tục 6 số/tuần, từ thứ hai đến thứ bảy, với số lượng xuất bản khoảng 80.000 bản/ngày, hỡnh thức hiện đại, nội dung phong phỳ, thiết thực với người nụng dõn và cỏn bộ Hội Nụng dõn cỏc cấp, số lượng phỏt hành ngày càng tăng nhanh

Kết quả khảo sỏt bỏo Nụng thụn Ngày nay từ thỏng 1 năm 2010 đến hết thỏng 3/2010, 15 thỏng, với 450 ngày cú 366 số bỏo (bỏo Nụng thụn Ngày

nay từ thỏng 1- 6/2010 phỏt hành 5 số/tuần, từ ngày 1/7/2010 thờm số bỏo ra

ngày thứ bảy thành 6 số/tuần), trong đú số bài về nụng thụn mới cú 230 bài

Trang 37

Chủ yếu nội dung tập trung đề xuất, tháo gỡ những vướng mắc, gương điển hình và cách thức để xây dựng nông thôn mới

2.1.4 Báo Thời báo Kinh tế Việt Nam

Báo Thời báo Kinh tế Việt Nam là cơ quan ngôn luận, tuần báo của Hội Khoa học kinh tế Việt Nam Với mục tiêu góp phần nâng cao kiến thức kinh

tế một cách thiết thực, phổ thông và hiệu quả cho nhân dân và doanh nhân, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam đã tập hợp một đội ngũ các nhà khoa học kinh tế có tâm huyết và trình độ để lập ra tờ báo nhằm chuyển tải đường lối xây dựng đất nước, kiến thức kinh tế để mọi người ra sức làm giàu cho mình

và cho đất nước Xuất bản số đầu tiên năm 1991, từ một tờ thông tin kinh tế hàng tháng, sang năm 1992, báo ra một tháng 2 kỳ và đến năm 1993 thì hàng tuần Hiện nay, Thời báo Kinh tế Việt Nam đã phát triển thành tờ báo kinh tế tổng hợp hàng ngày, với cả chục vạn bản phát hành trong cả nước (từ thứ hai

đến thứ 6 và số cuối tuần)

Kết quả khảo sát Thời báo Kinh tế Việt Nam từ tháng 1 năm 2010 đến hết tháng 3/2010, 15 tháng, với 6 số/ tuần (số: thứ hai, ba, tư, năm, sáu, và số cuối tuần), với 450 ngày có 390 số báo, trong đó số bài về nông thôn mới có

80 bài Nội dung tập trung vào chính sách mới, phương thức hội nhập của người nông dân trong giai đoạn nông thôn mới

Kết quả khảo sát chung cho thấy, luận văn đã tiến hành khảo sát 450 +

390 + 366 + 330 = 1536 số báo Kết quả tổng hợp cho thấy số lượng các bài viết về nông thôn mới là 764 bài

Về mặt số lượng, tỷ lệ: 764 tác phẩm: 1536 số báo = 0,49 tác phẩm/ 1số báo là chưa nhiều Điều này cho thấy đề tài nông thôn mới chưa được các nhà báo, phóng viên đầu tư khai thác, còn bỏ ngỏ cho dù các báo đã quan tâm đến tuyên truyền xây dựng nông thôn mới, chung sức đồng lòng đưa chính sách vào cuộc sống

2.2 Nội dung khảo sát

Trang 38

Theo Đại Từ điển Tiếng Việt của Nhà Xuất bản Văn hóa - Thông tin

năm 1998 do Nguyễn Như Ý chủ biên định nghĩa: nội dung là cái được chứa

ở bên trong hình thức [54, trang 1281]

Theo triết học duy vật biện chứng, nội dung là tổng hợp tất cả những mặt, những yếu tố trong quá trình tạo nên sự vật trong mối liên hệ biện chứng [52, tập I, trang 185]

Theo lý luận báo chí: Nội dung tác phẩm báo chí là một phạm vi, một

bộ phận của cuộc sống hiện thực được phản ánh qua sự lựa chọn, nhận thức sáng tạo của nhà báo [45, tr.8]

Với cách tiếp cận như vậy, qua khảo sát cho thấy, thực sự số lượng bài viết chưa nhiều về xây dựng nông thôn mới Tuy nhiên, không phải vì thế mà nội dung không phong phú và đa dạng

Xuất phát từ đặc thù của mỗi báo, cũng như các đối tượng và chiến lược tuyên truyền của từng báo mà cách thức tuyên truyền và mức độ đăng tải cũng khác nhau

2.2.1 Xây dựng nông thôn mới có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại

Trước hết phải khẳng định rằng, xây dựng nông thôn mới có làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng hiện đại là nội dung vừa có tính bức xúc, vừa có tính chiến lược lâu dài

Báo Nhân dân đã nhấn mạnh ngay từ đầu những vấn đề cần quan tâm trong xây dựng nông thôn mới Khâu quy hoạch phải đi trước một bước

Kiên trì quy hoạch, bổ sung quy hoạch lại nông thôn theo tiêu chí nông thôn mới và phải đi trước một bước Từ quy hoạch tổng thể, phân khu chức năng đến quy hoạch chi tiết, tôn trọng quá trình tích lũy nhiều đời của quy hoạch làng quê Việt Nam Hạn chế tối đa gây xáo trộn, tốn kém gây tâm lý không tốt, không thiết thực khi làm

Trang 39

quy hoạch [2, ngày 29/5/2010, Một số vấn đề cần quan tâm khi xây dựng nông thôn mới]

Theo dòng sự kiện, báo Nông thôn Ngày nay khẳng định lại trong 19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới, tiêu chí quy hoạch được đặt lên hàng đầu Vấn đề nổi cộm hiện nay là năng lực cán bộ ở các xã trong công tác lập quy hoạch còn thiếu và hầu hết chưa qua đào tạo Quy hoạch các xã nông thôn mới chưa được các nhà khoa học, nhà đầu tư tham gia vào Người dân được tham gia vào quy hoạch, họ chấp nhận tuân thủ quy hoạch và cũng vì lợi ích của họ và trong quy hoạch phải có sự linh hoạt không thể cứng nhắc được

Rất nhiều xã vấp ở khâu quy hoạch, báo Nông nghiệp Việt Nam đã phản ánh kịp thời những vướng mắc để Đảng và nhà nước có những quyết sách đúng đắn Tất cả đều kỳ vọng vào sự đổi mới của nông thôn Sự đổi mới

đó là cuộc vận động toàn dân, nông dân đồng thuận rất cao mong ước để có một nông thôn văn minh, giàu đẹp

Một thực trạng là rất nhiều các xã vấp ở khâu quy hoạch Tất các các báo khảo sát đều tập trung vào chỉ ra những vướng mắc trong khâu quy hoạch của các xã để từ đó có giải pháp điều chỉnh và phối hợp giữa các cấp, các ngành Đó là Đại Đồng ở Thạch Thất (Hà Nội), An Lão (Hải Phòng) khó khăn chồng chất khó khăn, Tân Uyên (Lai Châu) – Mô hình nông thôn mới – quá

mù mờ, Nam Đàn (Nghệ An) – Vướng víu nông thôn mới một bức tranh cận cảnh những khó khăn mà các địa phương vấp phải

Bức tranh quy hoạch đó không chỉ đơn thuần là quy hoạch mà là thực tiễn đang đầy rẫy những bất cập: điện, đường, trường, trạm, ô nhiễm môi trường, làng nghề manh mún Đâu là lối thoát cho nông thôn mới? khi với những bước đi chậm chạp, đặc biệt là điểm quy hoạch công nghiệp làng nghề dậm chân tại chỗ thì có xấp cả kế hoạch cũng chỉ là con số không, ô nhiễm vẫn hoàn ô nhiễm

Trang 40

Sau hai năm hợp nhất thủ đô, Dương Liễu, làng nghề sản xuất miến dong của huyện Hoài Đức vẫn trù phú và đẹp đẽ như xưa Nhưng chỉ cần đứng cách cổng làng 300m, nhiều người có thể ngất xỉu khi phải hứng chịu mùi xứ uế [3, số 179, ngày 8/9/2010, Quy hoạch làng nghề không có lối thoát]

Theo dòng sự kiện, phản ánh kịp thời những bất cập đó, báo chí cũng đưa ra những cách làm quy hoạch hay áp dụng ở nơi này nơi kia, phải dựa vào vào sức mình là chính, lấy sức mình để phát triển, không trông chờ vào Nhà nước Chính từ quan điểm này rất nhiều xã đã bước vào tiến trình xây dựng nông thôn mới rất hiệu quả Đảng bộ xã Hiển Khánh (Vụ Bản, Nam Định) tổ chức vận động nhân dân đóng góp xây dựng đường xã, thôn, xóm, xây dựng nghĩa trang, kiên cố hóa kênh mương, xây dựng trường học, nhà văn hóa Với Hiển Khánh khi được chọn làm xã xây dựng nông thôn mới, xã đã hoàn thành

đề án xây dựng quy hoạch và tổ chức họp dân để thông qua Chủ trương và cách làm đúng đắn đã giúp Hiển Khánh tới đích dễ dàng

Không chỉ Hiển Khánh, miền tây sông nước xã An Khánh, Châu Thành, Đồng Tháp lại đưa ra cách làm xây dựng cơ sở hạ tầng từ vốn “mồi”

Để hoàn thành các tiêu chí về giao thông, thủy lợi, nhà dân cư An Khánh lại huy động sự hỗ trợ của các “mạnh thường quân”, bởi người dân nơi đây sẵn sàng hiến đất mở đường, hiến công lao động chứ không có tiền”

Ở Sơn Thủy, huyện A Lưới, Thừa Thiên Huế, với những chính sách đứng đắn kịp thời, từ khi triển khai xây dựng nông thôn mới, vùng đất nghèo

đã khởi sắc từng ngày Bằng cách làm rất đơn giản: Có đường đi sẽ có nông thôn mới

Ở Tân Thông Hội, huyện Củ Chi, TP Hồ Chí Minh, ông Trần Văn Chí – Chủ tịch xã khẳng định: việc vận động bà con hiến đất, doanh nghiệp ủng

Ngày đăng: 24/11/2021, 17:10

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w