1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các chương trình tương tác của đài phát thanh và tryền hình quảng ninh hiện nay (khảo sát trên sóng phát thanh và truyền hình của đài phát thanh và truyền hình quảng ninh từ tháng 6 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013)

171 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trên thực tế, bên cạnh nhu cầu tiếp nhận thông tin, khán, thính giả ngày nay không chỉ đóng vai người xem, người nghe đài một cách thụ động mà còn muốn được tham gia vào trong các chương

Trang 1

QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

ĐỖ THỊ THÚY TRÀ

CÁC CHƯƠNG TRÌNH TƯƠNG TÁC

CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH

QUẢNG NINH HIỆN NAY

(Khảo sát trên sóng phát thanh và truyền hình của Đài Phát thanh và Truyền hình Quảng Ninh từ tháng 6 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013)

Chuyên ngành : Báo chí học

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Trí Nhiệm

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và tài liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng Các kết quả nghiên cứu của Luận văn chưa được công bố ở bất cứ công trình nghiên cứu khoa học nào

NGƯỜI VIẾT CAM ĐOAN

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Bắt đầu từ khi tôi tham gia lớp đào tạo Cao học báo chí, tôi đã được tiếp cận với những lý luận mới của báo chí và truyền thông, thuyết mới trong truyền thông…, Từ những lý luận đó, tôi nhìn nhận trở lại với những hoạt động chuyên môn của Đài PT-TH Quảng Ninh, tôi thấy Đài đã có những bước đi đúng hướng, theo những xu thế của truyền thông hiện đại Đài đã phát triển được nhiều chương trình tương tác phát thanh Song còn mảng nội dung rất lớn và quan trọng của Đài đó là những chương trình tương tác truyền hình chưa có một lộ trình phát triển riêng Có những chương trình tuy hay nhưng xuất hiện lẻ tẻ, tùy theo tình hình, khiến cho những chương trình này chưa phải là những món ăn tinh thần, gần gũi và thường xuyên, định kỳ của truyền hình Quảng Ninh- Một sự chênh lệch lớn giữa những các chương trình tương tác phát thanh và các chương trình tương tác truyền hình Trong khi Đài Truyền hình Việt Nam các chương trình tương tác như giao lưu, đối thoại, tọa đàm, chương trình về âm nhạc, tư vấn… đã trở thành các thương hiệu, thu hút nhiều quảng cáo, tăng thêm nguồn thu cho Đài và có thể xã hội hóa và tự nuôi chương trình Đài PT-TH Quảng Ninh là một Đài đang vươn tới Tổ hợp truyền thông đa phương tiện Nhưng dù Đài có thành cơ quan báo chí đa phương tiện thì Phát thanh và Truyền hình vẫn phải là những chương trình trụ cột Nên Đài phải thực sự quan tâm đến các chương trình Phát thanh và truyền hình, nhất là các chương trình theo xu thế hiện đại – đó là các chương trình tương tác

Để thực hiện được Luận văn này, em xin được trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Trí Nhiệm đã hướng dẫn em thực hiện luận văn; Em xin cảm ơn các thầy trong Hội đồng bảo vệ đề cương, Hội đồng bảo vệ Luân văn, các thầy,

cô giáo; các đồng nghiệp tại Đài PT-TH Quảng Ninh, các bạn học viên và những người thân trong gia đình đã động viên, tạo mọi điều kiện để em hoàn thành chương trình Thạc sĩ báo chí

Trang 4

DANH MỤC VIẾT TẮT

ATGT An toàn giao thông

QNR1 Kênh phát thanh Quảng Ninh 1

QNR2 Kênh phát thanh Quảng Ninh 2

QTV Đài Phát thanh và Truyền hình Quảng Ninh VOV Đài tiếng nói Việt Nam

VTV Đài Truyền hình Việt Nam

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC CHƯƠNG TRÌNH TƯƠNG TÁC TRÊN SÓNG PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH 11

1.1 Một số khái niệm 11

1.2 Phát thanh tương tác 21

1.3 Những yếu tố, điều kiện để thực hiện chương trình phát thanh, truyền hình tương tác 39

1.4 Tiêu chí của một chương trình phát thanh, truyền hình tương tác đạt chất lượng 43

1.5 Vai trò của chương trình tương tác trong tổng thể chương trình phát thanh, truyền hình 43

Tiểu kết chương 1 45

Chương 2: KHẢO SÁT CÁC CHƯƠNG TRÌNH TƯƠNG TÁC CỦA ĐÀI PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH QUẢNG NINH 46

2.1 Giới thiệu các chương trình tương tác trên sóng Đài PT - TH Quảng Ninh 46

2.2 Thực trạng các chương trình tương tác 60

2.3 Nguyên nhân thành công và hạn chế 75

Tiểu kết chương 2 79

Chương 3: NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH 81

3.1 Những vấn đề đặt ra 81

3.2 Nhóm các giải pháp 85

Tiểu kết chương 3 118

KẾT LUẬN 119

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHảO 121 PHỤ LỤC

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tương tác đã và đang trở thành xu thế tất yếu của truyền thông hiện đại Nó cũng thể hiện xu hướng của phát thanh và truyền hình hiện đại Sự phát triển của khoa học kỹ thuật đã làm điều kiện cơ bản về cơ sở vật chất cho các chương trình tương tác được thực hiện, là yếu tố quan trọng để có phát triển các chương trình tương tác Trong những năm gần đây các chương trình tương tác ở các kênh truyền hình, phát thanh trên cả nước xuất hiện ngày càng nhiều hơn và ngày càng khẳng định giá trị của mình Hoạt động tương tác đã làm tăng thêm sự gắn bó mật thiết giữa công chúng và cơ quan truyền thông

Nó đã phá vỡ tư duy áp đặt, một chiều Nó đã trở thành một mối quan hệ đặc biệt, phù hợp với cuộc sống ngày càng hiện đại và ngày càng dân chủ, văn minh Từ đó những định hướng, những tri thức về mọi mặt của đời sống xã hội trong nhân loại được mềm hóa và chuyển tải đến người dân một cách nhẹ nhàng Nhờ có các chương trình tương tác mà những khán giả cũng trở thành nhà tư vấn, người cung cấp thông tin Chi tiết này là một trong những chi tiết khiến cho khán, thính giả đặt niềm tin cậy rất cao vào báo chí, truyền thông

Nó đã trở thành một phần trong đời sống của người dân

Nhiều chương trình phát thanh, truyền hình trên các kênh lớn như VTV, VOV đã trở thành thương hiệu Trong số các chương trình hay, hấp dẫn

ấy, có nhiều chương trình do chính anh, em trong Đài tự nghĩ ra Format và ngày càng điều chỉnh, đổi mới để thiết thực và đáp ứng được xu thế hiện đại

Trên thực tế, bên cạnh nhu cầu tiếp nhận thông tin, khán, thính giả ngày nay không chỉ đóng vai người xem, người nghe đài một cách thụ động mà còn muốn được tham gia vào trong các chương trình phát thanh, truyền hình một cách chủ động với nhu cầu của bản thân Nét đặc thù trong tâm lý tiếp nhận thông tin của khán, thính giả hiện nay là mong muốn có được cảm giác gần

Trang 7

gũi, thân mật, mong tìm được sự mới mẻ, đa đạng và xác thực Những giá trị thông tin ngày càng được đòi hỏi cao, trong đó tính nhân văn ngày càng được mong đợi Vì thế, các chương trình phát thanh, truyền hình phải đáp ứng được nhu cầu này bằng việc khơi mở rộng rãi con đường giao lưu, đối thoại, tương tác với khán, thính giả

Nhìn thực trạng chung cả nước cho thấy báo hình, báo mạng điện tử, yếu tố tương tác đang được tập trung khai thác, tạo nên luồng thông tin đa chiều hấp dẫn còn báo phát thanh mới phát triển các chương trình tương tác

Xu hướng của truyền thông hiện đại đang có sự dịch chuyển nhanh chóng từ một chiều (từ nhà xuất bản đến người xem, người đọc) trở thành công cụ giao tiếp ba chiều (từ người xuất bản, nhà báo – bài báo – người đọc) Phát thanh cũng không nằm ngoài sự dịch chuyển này Thực tế cho thấy tại Đài PT - TH Quảng Ninh hiện nay, các chương trình phát thanh tương tác lại tỏ ra ưu thế hơn các chương trình truyền hình tương tác

Để thu hút công chúng thời hiện đại đến với làn sóng, phát thanh Quảng Ninh đã phát huy lợi thế của mình, đó là: thông tin nhanh, chính xác,

sự gần gũi, thân mật và đẩy mạnh tính tương tác

Trong một chừng mực nào đó, tính tương tác trong các chương trình

phát thanh, truyền hình là một trong những yếu tố “đo” sự hiện đại của

chương trình và là yếu tố quan trọng để thu hút khán, thính giả Nhìn nhận, đánh giá tính chất, chất lượng của phát thanh, truyền hình tương tác trên sóng Đài PT - TH Quảng Ninh là việc làm cần thiết để từ góc độ lợi thế của hai phương tiện truyền thông này xác định con đường ngắn nhất để chinh phục khán, thính giả hiện nay Từ đó nhìn nhận sự quan tâm phát triển các chương trình tương tác, trong đó sự quan tâm phát triển tương tác trên truyền hình có cân xứng với phát thanh hay chưa? Đã có lộ trình cho phát triển tương tác trên mỗi phương tiện phát thanh, truyền hình

Trang 8

Vấn đề phát thanh và truyền hình tương tác ở Đài PT - TH Quảng Ninh chưa được chú ý nghiên cứu về mặt lý luận Các chương trình phát thanh tương tác của Đài PT - TH Quảng Ninh đặc biệt là các chương trình trực tiếp thể hiện được tính tương tác, giao lưu, tuy nhiên những chương trình này chưa nhiều, trong khi sóng phát thanh ngày càng mở rộng Sự sáng tạo trong cách thể hiện áp dụng áp dụng các fomat đã có sẵn, hoặc gần giống với các chương trình ở các Đài khác Sự sáng tạo trong xây dựng fomat mới với ý tưởng mới không có nhiều

Trên sóng truyền hình, các chương trình tương tác mới chỉ dừng lại ở dạng như giao lưu, sân chơi, các chương trình trực tiếp; một số cách thức tương tác qua sóng truyền hình, tuy nhiên phát huy tính tương tác và có ý đồ phát triển các chương trình tương tác chưa thể hiện trên bất cứ một văn bản nào của Đài

Tất cả các chương trình phát thanh, truyền hình được gọi là có tính chất tương tác ở Đài PT - TH Quảng Ninh chỉ là sự dập khuôn theo một mô tip ở các kênh truyền hình khác Đấy chính là điều khiến những người làm chương trình phải suy nghĩ Đó còn là rào cản cho sự sáng tạo, phát triển những chương trình mới, từ đó ngắn cản việc xác định lối đi cho các chương trình này không thực hiện Cách làm còn theo bản năng, thụ động, chưa có kế hoạch

Tuy nhiên trên chặng đường phát triển của mình Đài PT - TH Quảng Ninh đã cho ra sóng những sản phẩm tương tác được nhân dân và các cấp chính quyền nhiệt tình ủng hộ

Trong bối cảnh Đài PT - TH Quảng Ninh đang có những bứt phá về phát triển các chương trình ngày càng có tính chất tương tác, gần gũi hơn với khán, thính giả, yêu cầu đổi mới và nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh, truyền hình của Đài PT - TH Quảng Ninh cũng như một số Đài địa phương và khu vực đặt ra vấn đề tìm biện pháp để thu hút khán, thính giả, nâng cao hiệu quả thông tin Tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả các

Trang 9

chương trình phát thanh, truyền hình là lượng khán, thính giả xem, nghe đài

và tác động của thông tin đến khán, thính giả làm chuyển đổi trong nhận thức

và hành vi

Trên làn sóng phát thanh có những chương trình phát thanh trực tiếp

với việc giao lưu cùng thính giả như: “Giai điệu yêu thương”; “Radio giờ cao điểm”, “60 phút bạn và tôi” Đó là những chương trình được đầu tư công phu,

kỹ lưỡng và cho được những kết quả khả quan Ngoài ra các chương trình tọa đàm, trao đổi cũng đã làm cho chương trình thêm phong phú và hấp dẫn Đáp ứng được yêu cầu về giải thích thông tin về tình hình thời sự đang diễn ra

Trên các kênh truyền hình Quảng Ninh, các chương trình tương tác lại xuất hiện theo dạng như: tọa đàm, trao đổi trực tiếp và không trực tiếp Những chương trình xuất hiện không đều kỳ nhưng lại cho thấy dấu hiệu tiềm ẩn cho

3 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến đề tài đã có một số công trình nghiên cứu sau:

Trong cuốn: Cơ sở lý luận báo chí của PGS,TS Nguyễn Văn Dững xuất bản năm 2011, phần đặc điểm cơ bản của thông tin báo chí đã đề cập

Trang 10

đến “tính tương tác” của báo chí Trong đó tác giả đúc kết khái niệm và đề

cập đến tương tác xã hội, tương tác truyền thông Đây là tài liệu mới, có tính cập nhật cao về các lý luận báo chí truyền thông Những nội dung mà cuốn sách này đề cập, trong đó có tính tương tác là lý luận quan trọng, xương sống

để tác giả luận văn soi vào, điều chỉnh trong quá trình nghiên cứu

Trong cuốn: Báo chí và dư luận xã hội của PGS, TS Nguyễn Văn

Dững, trong mục: Nhận diện đặc điểm báo chí hiện đại đề cập đến “tính tương tác của thông tin báo chí”: Ngoài những khái niệm về tương tác và các

vấn đề về tương tác truyền thông, tác giả đã đề cập đến phương thức thông tin của báo chí hiện đại là tương tác và đối thoại xã hội nhằm nâng cao năng lực

và hiệu quả tác động của báo chí, tạo sự đồng thuận xã hội; tác giả cung cấp

những lý luận về truyền hình tương tác và chỉ ra rằng: “Sức hấp dẫn của truyền hình tương tác chính theo đúng nghĩa của nó , chính là truyền hình thực tế và tương tác trực tiếp thẳng từ cuộc sống như truyền hình trực tiếp

mà hầu như không có sự dàn dựng hậu kỳ, trong đó công chúng của chương trình vừa là người xem, vừa là người chủ tham gia tạo nên sự cộng hưởng và sức hút từ ngoài tràn vào màn ảnh nhỏ…, những chương trình như thế, có lẽ còn đang ở phía trước, khi sự chuyển dịch sang dạng thức này còn đang từng bước và cần sự thích ứng chung” [12 tr 166]

Tác giả Ngô Thái Hà (2009) với Khóa luận tốt nghiệp Đại học: “Các hình thức tương tác giữa thính giả với chương trình phát thanh”: Ngoài khái

niệm về tương tác, khóa luận cung cấp những hình thức tương tác giữa thính giả với những người thực hiện chương trình phát thanh tạo nên sự sinh động, hấp dẫn và không khí cởi mở giữa người làm chương trình và công chúng phát thanh

Khóa luận cũng đã đề cập: Tương tác là xu thế tất yếu của báo chí hiện đại; Phát thanh tương tác là một hướng phát triển của phát thanh hiện đại; Vai trò của việc sử dung các hình thức tương tác trong chương trình phát thanh;

Trang 11

Các yếu tố tác động đến hình thức tương tác giưã thính giả với chương trình phát thanh; tình hình sử dụng các hình thức tương tác trong chương trình phát thanh; Một vài khiếm khuyết trong khai thác, sử dụng các hình thức tương tác giữa thính giả với chương trình: những hình thức tương tác chưa đạt hiệu quả

và những hình thức tương tác đạt hiệu quả; Nguyên nhân thành công và hạn chế

Tác giả Nguyễn Thị Huyền (2009) trong Khóa luận Tốt nghiệp Đại

học: “Kỹ năng dẫn chương trình phát thanh tương tác trực tiếp 60 phút bạn

và tôi của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội 2” đã cung cấp nhiều về vai

trò và nhiệm vụ cũng như khả năng và yêu cầu của người Dẫn chương trình phát thanh tương tác trực tiếp Từ đây, đóng góp cho Luận văn khi đề cập đến êkip thực hiện chương trình Đặc biệt chương trình này có Format gần giống

với chương trình “60 phút bạn và tôi” - một chương trình tương tác trực tiếp,

bài bản của Đài PT - TH Quảng Ninh

Th.S Đặng Thị Huệ (2008), Đề tài khoa học: “Nâng cao chất lượng và hiệu quả các chương trình phát thanh có giao lưu, tương tác với thính giả trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam”, Đề tài khoa học của Đài Tiếng nói Việt

Nam đã cung cấp rất nhiều những khái niệm, cách thức và xu thế của các chương trình giao lưu, đối thoại, tọa đàm và tương tác với thính giả trực tiếp, không trực tiếp, trong phòng thu và ngoài phòng thu

Tác giả Lê Thị Hương Giang (2007) với Luận văn: “Tương tác trong các bản tin thời sự của Đài Truyền hình Việt Nam”; Luận văn cung cấp nhiều

lý luận về tương tác trên truyền hình Đặc biệt là các khái niệm về tương tác truyền hình; Các vấn đề về tương tác trong các bản tin thời sự của Đài TH VN: Tương tác truyền hình, những kiểu tương tác trên truyền hình; Luận văn cũng đề cập đến vai trò của việc tạo lập tính tương tác đối với truyền hình

Tác giả Trần Thị Diệu (2007) với Khóa luận tốt nghiệp đại học: “Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh: “Bạn hãy nói cùng tôi””, (Tài liệu

tại thư viện Học viện Báo chí tuyên truyền)

Trang 12

Trần Quang Huy (2006) với Luận văn Thạc sĩ: “Hoạt động tương tác trên báo mạng điện tử” đã cung cấp nhiều lý luận liên quan đến vấn đề tương tác

Tác giả Đinh Thị Thu Hằng (2004) với Luận văn Thạc sĩ: “Dẫn chương trình phát thanh thời sự trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam”: cũng cung cấp về

những vấn đề liên quan đến việc dẫn chương trình thời sự trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam Tác giả tham khảo tài liệu này để khai thác các khía cạnh liên quan đến việc người dẫn chương trình có giao lưu, đối thoại với thính giả trên sóng phát thanh

Tác giả Đinh Thị Xuân Hòa (2002) với đề tài: “Chương trình trò chơi trên Đài Truyền hình Việt Nam”, Luận văn cung cấp cho tác giả những chức

danh cần thiết để tổ chức một chương trình tương tác trên truyền hình, từ đó

áp dụng cho các chương trình tương tác truyền hình nói chung

- Vũ Thanh Hường - Tổ chức sản xuất các chương trình trò chơi truyền hình- Luận văn thạc sĩ: Nói về đặc trưng của trò chơi truyền hình so với các loại hình báo chí khác; Cách thức tổ chức sản xuất một chương trình trò chơi trên truyền hình Đề cập đến việc làm việc nhóm và sản phẩm tập thể:

Cac- Mac từng nói: “Duy nhất chỉ có tập thể mới cho phép cá nhân làm chủ được những phương tiện giúp cho tất cả những năng khiếu của cá nhân đơm hoa, kết trái” (Trích trong cuốn: Rèn luyện tâm linh trí tuệ để nâng

cao sức sáng tạo - NXB Thanh niên 2001) Tác giả Victor Peskeslis do Vũ Liêm và Hải Thanh dịch Luận văn này giúp cho tác giả đề cập đến vấn đề làm việc nhóm

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua việc khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng của các chương trình phát thanh, truyền hình tương tác, đề xuất các giải pháp để góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của chương trình

Trang 13

Khái quát vấn đề lý luận về phát thanh, truyền hình tương tác, một xu thế phát triển tất yếu của truyền thông hiện đại

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu của Luận văn đề ra, cần phải thực hiện nhiệm vụ:

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan như: Lý luận báo chí, truyền thông, tương tác nói chung và chương trình tương tác nói riêng;

- Khảo sát các chương trình tương tác trên phát thanh và truyền hình Quảng Ninh từ tháng 6 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013;

- Đánh giá chất lượng, hiệu quả các chương trình tương tác; nguyên nhân thành công và hạn chế

- Điều tra, khảo sát nhu cầu của thính giả; phỏng vấn các chuyên gia, các nhà lãnh đạo

- Đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng chương trình

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

5.1 Đối tượng nghiên cứu: Tính tương tác trên các chương trình phát

thanh, truyền hình của Đài PT - TH Quảng Ninh

5.2 Phạm vi nghiên cứu: Các chương trình tương tác phát thanh, các

chương trình tương tác truyền hình của Đài PT - TH Quảng Ninh từ tháng 6 năm 2012 đến tháng 6 năm 2013

6 Cơ sở lý luận phương pháp nghiên cứu

6.1 Cơ sở lý luận

+ Dựa vào phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin; chủ trương, đường lối của Đảng; chính sách, pháp luật của Nhà nước liên quan đến báo chí và truyền hình; lý luận báo chí, truyền thông, lý luận

Trang 14

báo chí phát thanh, truyền hình; công chúng báo chí; tâm lý báo chí; xã hội học báo chí

+ Điều tra xã hội học: Đánh giá chất lượng, hiệu quả các chương trình tương tác trên sóng phát thanh và truyền hình của Đài Phát thanh và truyền hình Quảng Ninh hiện nay

 Điều tra bằng bảng hỏi: Thu nhận những thông tin phản hồi từ phía công chúng

 Phỏng vấn sâu: phỏng vấn một số nhà báo, những người có am hiểu đến vấn đề nghiên cứu; những nhà lãnh đạo, quản lý cung cấp những ý kiến, đánh giá đóng góp, những kỹ năng và kinh nghiệm của những người làm chương trình nhằm nâng cao chất lượng chương trình

 Tọa đàm: Nhằm trao đổi với người lãnh đạo, nhà quản lý để khẳng định về thông tin và lấy ý kiến đánh giá, những định hướng phát triển các chương trình tương tác

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

7.1 Ý nghĩa về lý luận: Luận văn hệ thống hóa và làm rõ một số vấn

đề lý luận liên quan đến vấn đề tương tác trên sóng phát thanh và truyền hình

Trang 15

- Khẳng định vai chương trình phát thanh, truyền hình tương tác là một xu hướng phát triển của báo chí;

- Khẳng định vai trò của chương trình phát thanh và truyền hình tương tác trong mối quan hệ với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị, kinh tế của Đài Phát thanh truyền hình

- Chất lượng của chương trình quyết định đến hiệu quả

- Muốn có chương trình phát thanh và truyền hình tương tác có chất lượng cần phải đảm bảo tốt các tiêu chí về cơ sở vật chất, con người

7.2 Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể:

- Phục vụ Đài PT - TH Quảng Ninh;

- Tài liệu tham khảo cho các Đài PT - TH;

- Tài liệu tham khảo cho các cơ sở đào tạo nhà báo PT - TH;

- Tài liệu tham khảo cho những ai quan tâm

8 Cấu trúc của luận văn: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài

liệu tham khảo, phụ lục, cấu trúc của luận văn có 3 chương:

- Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về các chương trình tương tác trên song phát thanh và truyền hình

- Chương 2: Khảo sát các chương trình tương tác của Đài Phát thanh

và Truyền hình Quảng Ninh

- Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng chương trình

Trang 16

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÁC CHƯƠNG TRÌNH TƯƠNG TÁC TRÊN SÓNG PHÁT THANH VÀ TRUYỀN HÌNH 1.1 Một số khái niệm

1.1.1 Khái niệm tương tác

Từ điển Tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa: “Tương tác” là

tác động qua lại lẫn nhau

Theo Từ điển Từ và Ngữ Việt – Nam do Nguyễn Lân chủ biên thì: Tương tác (interactivity) là có ảnh hưởng lẫn nhau, tác động qua lại

Từ điển Webster đã định nghĩa động từ “tương tác” (To interact )là:

“hành động qua lại; thực hiện những hành động qua lại” (Viện Ngôn ngữ học

(2000), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng và trung tâm từ điển học Hà Nội,

Đà Nẵng) Nếu chúng ta xem xét về sự tương tác trong cuộc sống hằng ngày,

ta sẽ tìm thấy những ví dụ sát thực trong các tình huống xã hội: một cuộc đối thoại, một ván tennis, trình diễn một bản nhạc… Tất cả các hình thức tương tác đều cần có sự cộng tác, các bên liên quan phải phối hợp hoạt động, nếu không, quá trình này sẽ sụp đổ; tất cả các bên đều thực hiện quyền lực của mình đối với bên kia, tác động đến những gì bên kia làm và thông thường, có những thỏa thuận (ngầm) là ai sẽ làm gì, làm như thế nào và khi nào Trong những ví dụ này, sự tương tác là một sự giao kết phức tạp và năng động giữa

2 hay nhiều bên (Trần Quang Huy, Hoạt động tương tác trên báo mạng điện tử- 2006- Luận văn thạc sĩ truyền thông đại chúng)

Như vậy, tương tác là sự ảnh hưởng, tác động qua lại lẫn nhau giữa hai

sự vật Sự ảnh hưởng, tác động này mang tính hai chiều và không hạn định số lần tác động Ví dụ, trong dạy học, sự tương tác thể hiện ở tác động qua lại không chỉ một chiều giữa thầy với trò mà còn có sự tác động trở lại của trò với thầy bằng phản biện, bằng tranh luận

Trang 17

1.1.2 Tương tác xã hội

Theo PGS, TS Nguyễn Văn Dững: [14 - tr 86]:

Có tương tác vật lý, hóa học giữa các sự vật, hiện tượng,

có tương tác xã hội

Tương tác xã hội là quá trình tác động qua lại giữa các cá nhân, nhóm xã hội (TTXH), theo từ điển bách khoa là khái niệm xã hội học chỉ ra rằng mỗi hoạt động có mục đích của con người chỉ trở thành hoạt động xã hội khi nó nằm trong một số mối quan hệ giữa các chủ thể hoạt động và thông qua các mối quan hệ đó Đồng thời khái niệm đó cũng nói lên rằng mỗi quan hệ đều gắn liền với một hoạt động nhất định Sự TTXH tồn tại trong sự tác động qua lại của mỗi hiện tượng, quá trình, hay hệ thống xã hội, nói lên mối liên hệ và quan hệ hiện thực Nhưng không phải mọi thứ trong hiện thực xã hộiđều có thể sử dụng khái niệm này để giải thích Sự TTXH chỉ tồn tại trong những điều kiện xã hội đặc thù, các điều kiện đó được thực hiện do sự kết hợp của 3 nhân tố có liên quan với nhau: Hoạt động xã hội, chủ thể xã hội, quan hệ xã hội” Vấn đề, phạm vi, mức độ và tính chất TTXH phản ánh mức độ dân chủ hóa đời sống xã hội

Tương tác xã hội có những đặc thù riêng Mỗi cá nhân hay nhóm, trong quá trình tương tác vừa là chủ thể vừa là khách thể, đều chịu ảnh hưởng chi phối của các chuản mực giá trị xã hội, tâm lý xã hội và trường văn hóa với những tương đồng và khác biệt Trong tương tác, mỗi người, mỗi nhóm xã hội chịu những tác động khác nhau như: lợi ích, động cơ, trình

độ hiểu biết, văn hóa, nhân cách… Trong quá trình tương tác,

Trang 18

vừa tạo nên diện mạo, chân dung của mỗi cá nhân, nhóm tham gia với những tương đồng, khác biệt, hợp tác và chia sẻ Tương tác xã hội có thể làm gia tăng năng lực tư duy, sáng tạo của mỗi người và mỗi nhóm xã hội do “cọ xát” tư duy, nhận thức trong quá trình tăng dần những tương đồng, giảm dần sự khác biệt

1.1.3 Tương tác trong truyền thông

Trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí” của PGS, TS Nguyễn Văn Dững

có đề cập đến lý luận quan trọng về tương tác trong truyền thông: [14]

Trong truyền thông, tương tác có nghĩa là sự tác động, giao tiếp hai chiều qua lại giữa chủ thể với khách thể truyền thông, giữa nhà truyền thông với công chúng trong những điều kiện và vấn đề cụ thể nào đó Một trong những nguyên lý quan trọng của truyền thông là tương tác càng nhiều- tần suất cao, tương tác càng bình đẳng bao nhiêu thì năng lực và hiệu quả truyền thông càng cao bấy nhiêu

Tương tác không phải là dòng thông tin phản hồi chậm chạp và rời rạc mà là hầu như đòng thời diễn ra, trao đổi qua lại giữa chủ thể và khách thể; mặt khác, giữa chủ thể và khách thể

có sự chuyển đổi vị trí cho nhau Tương tác càng không phải là dòng thông tin một chiều áp đặt, mà là tương tác bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, trên cơ sở tăng dần những tương đồng, giảm dần sự khác biệt giữa chủ thể truyền thông và công chúng xã hội, hoặc giữa các nhoám công chúng khác nhau

Tương tác xã hội là phương thức cơ bản trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm, tìm kiếm, trao đổi và nâng cao năng lực sáng tạo giá trị mới cho

Trang 19

mỗi cá nhân nhóm xã hội và cộng đồng nói chung Do vậy, tương tác xã hội trong thông tin báo chí có trở thành đặc điểm nổi trội hay không còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố

Tương tác xã hội trong báo chí là đặc điểm thông tin của báo chí hiện đại nhờ sự trợ giúp của công nghệ thông tin truyền thông số, cùng với sự phát triển của xã hội trên các bình diện như trình dộdân cư, thiết chế dân chủ xã hội bảo đảm và trình độ, năng lực của báo chí chuyên nghiệp

Trong thông tin báo chí, tương tác bình đẳng nhưng cần

kỹ năng định hướng thông tin, hướng dẫn dư luận xã hội Cơ sở đánh giá hiệu quả tương tác thông tin báo chí là sự tạo ra sự đồng thuận xã hội, bảo đảm sự phát triển bền vững, phòng tránh những nguy cơ bất ổn trong cộng đồng Do đó, bảo đảm tính tương tác trong thông tin báo chí về những vấn đề nêu ra, đòi hỏi người làm báo không những cần có kiến thức, trình độ

am hiểu vấn đề, mà còn có phong cách làm báo chuyên nghiệp-

có nguyên tắc, kỹ năng tác nghiệp cùng với sự hiểu biết thấu đáo vấn đề, chia sẻ với nhóm công chúng xã hội cũng như định hướng dần dư luận xã hội

Tuy nhiên, tương tác xã hội trong thông tin báo chí, chủ yếu nói đến vai trò báo chí như cầu nối, phương tiện và phương thức tương tác giữa công chúng xã hội với các nhà hoạch định chính sách, các nhà lãnh đạo, quản lý… trên những vấn đề lớn, ảnh hưởng đến quá trình phát triển và đời sống nhân dân

Vấn đề nhận thức rõ tính tương tác xã hội trong báo chí

có ý nghĩa to lớn, thiết thực đối với người làm báo chuyên nghiệp, và đối với sự phát triển nói chung

Trang 20

Tương tác trong lĩnh vực truyền thông nói chung là sự tác động của thông tin đến công chúng và phản hồi của công chúng đến các cơ quan báo chí dưới nhiều hình thức khác nhau Sự tương tác này tạo nên cơ chế thông tin hai chiều và tính chủ động, dân chủ trong tiếp nhận thông tin

Trước đây, sự phản hồi của công chúng đối với các cơ quan truyền thông diễn ra chậm do công nghệ thông tin, viễn thông chưa phát triển Hình thức chủ yếu là qua thư gửi bưu điện Ban bạn đọc; Hộp thư thính giả… xử lý các thông tin phản hồi này

Hiện nay, với sự phát triển của công nghệ thông tin và viễn thông, sự phản hồi của công chúng diễn ra nhanh hơn, thậm chí diễn ra ngay khi tác phẩm báo chí được công chúng tiếp nhận Điều này thể hiện rõ trong các chương trình truyền hình, phát thanh tương tác phát sóng trực tiếp

Ở truyền hình, với những đặc thù về việc truyền hình ảnh và khả năng thích ứng cao cho tương tác, truyền hình ở Việt Nam mở ra nhiều hình thức tương tác Phổ biến nhất là tương tác bằng tin nhắn điện thoại

Tương tác bằng tin nhắn là hình thức đơn giản nhất và cũng là cách thu hút khán giả của các kênh truyền hình Ngay khi chương trình đang phát sóng hoặc khi vừa kết thúc, trên màn hình hiện lên một số câu hỏi như bạn thích ca khúc nào nhất, ca sĩ nào trình bày ấn tượng Hãy gửi tin nhắn đến số Nếu

là tương tác trực tiếp, vài mươi giây sau tin và số điện thoại của khán giả hiện trên màn hình vô tuyến Hình thức tương tác bằng tin nhắn thường được sử dụng trong các chương trình âm nhạc, hoặc phim truyền hình Ở Úc, một bộ phim truyền hình phát sóng, sau khi kết thúc tập phim thường có phần kêu gọi khán giả nhắn tin bình phẩm, thêm thắt chi tiết, muốn tập sau nhân vật đó như thế nào Cách này phim truyền hình Hàn Quốc cũng áp dụng để thăm dò khán giả Các Đài truyền hình được lợi, đó là vừa tìm hiểu phản ứng của khán giả, vừa tăng lượng công chúng, vừa có nguồn thu phí từ lượng tin gửi về

Trang 21

Hình thức tương tác trực tiếp, giao lưu trực tiếp với người thực hiện chương trình, khách mời của chương trình cũng khá phổ biến trên các kênh truyền hình Đó là chương trình dạng talk show phát sóng trực tiếp như

chương trình 8h tối thứ 6 phát trên kênh VTV2, Như chưa hề có cuộc chia ly, phát trên kênh VTV1 của Đài truyền hình Việt Nam, Sao online của Đài

truyền hình Kỹ thuật số VTC, cũng là những chương trình truyền hình tương tác Người xem có thể gọi điện thoại trực tiếp, bày tỏ ý kiến với nhân vật của chương trình trong các chương trình tọa đàm, giao lưu được phát sóng trực tiếp Hiện VTV2 có chương trình giao lưu, đối thoại với thầy thuốc và người dân, trong việc phòng và chữa bệnh cũng là một chương trình truyền hình tương tác thu hút thính giả

Năm 2007, Truyền hình Việt Nam có thêm kênh mới – VTV6, ra mắt chương trình truyền hình dành cho thanh thiếu niên, theo phong cách mới: truyền hình tương tác, một xu hướng truyền hình hiện đại trên thế giới Điều này tạo nên sự mới mẻ, mang tính đột phá trong việc sản xuất chương trình của truyền hình Việt Nam Kênh VTV6 như người bạn thân thiện, gần gũi, được giao tiếp bằng nhiều hình thức như truyền hình, Internet (email, webcam, blog), điện thoại di động, điện thoại đường dài ngay trong lúc chương trình đang phát sóng hay trước đó Nhiều chương trình có khán giả

tham gia vào việc sản xuất nội dung như Clip Việt – dành cho những bạn trẻ yêu thích quay phim, chụp ảnh, Thế hệ tôi – dành cho sinh viên báo chí Kết nối trẻ, là chương trình thảo luận đa chiều trên mạng và truyền hình, hoàn

toàn mở cho thanh niên, sinh viên từ 18 – 24 tuổi, mọi người có thể thảo luận các vấn đề của giới trẻ khi tiếp cận những trào lưu cuộc sống, đặc biệt là các

vấn đề trong tiếp nhận, tiếp thu, thưởng thức nghệ thuật Nhà tròn là talk

show có đối tượng tham gia trẻ nhất Chương trình là những cuộc trao đổi các vấn đề tuổi teen quan tâm, từ tâm lý giới tính đến việc hỗ trợ pháp luật khi có

Trang 22

các vấn đề về bạo lực gia đình, bạo lực học đường, xâm hại tình dục, tâm lý đưa ra các giải pháp để giải quyết [25]

Có thể nói, những năm gần đây, xu hướng “mở” giữa chương trình

truyền hình và khán giả từ chỗ hạn hẹp trong việc chơi game của thiếu nhi, phim truyện, âm nhạc, trò chơi truyền hình hiện đang lan rộng đến các chương trình mang tính xã hội, dân sinh

Hiện nay, trong số các phương tiện thông tin đại chúng thì báo mạng điện tử có nhiều ưu thế trong tương tác hơn cả, nhờ yếu tố thông tin nhanh, độc giả dễ dàng truy cập, và việc kiểm soát thông tin phản hồi từ độc giả cũng

dễ dàng hơn Ở báo mạng điện tử, có hai hình thức phổ biến:

Hình thức thứ nhất là tạo không gian dành riêng cho độc giả viết phản hồi sau mỗi tác phẩm được đăng tải Sự phản hồi này làm cho vấn đề nêu lên được đánh giá nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, thậm chí là những ý kiến trái chiều Thông tin trở nên phong phú, đa dạng Và người được hưởng lợi chính là độc giả Từ hình thức tương tác này, người làm báo mạng có thể

“đo” được lượng độc giả đối với từng vấn đề cụ thể, điều chỉnh thông tin để

tờ báo đến gần công chúng hơn, thu hút đông đảo độc giả hơn

Hình thức thứ hai sống động hơn, đó là giao lưu trực tuyến với các nhân vật, khách mời thuộc các lĩnh vực khác nhau Những cuộc giao lưu trực tuyến đã phát huy tối đa tính tương tác giữa những người làm báo, khách mời

và độc giả Trong các cuộc giao lưu trực tuyến như vậy, phóng viên, biên tập viên là cầu nối giữa độc giả với khách mời Nội dung cuộc giao lưu không

phải chỉ là những vấn đề “định vị” sẵn trong kịch bản, một chiều theo cách

nhìn nhận của phóng viên, biên tập, mà đó còn là những vấn đề độc giả quan

tâm Độc giả có thể “đối thoại” với khách mời, làm nên nội dung của cuộc

giao lưu

Trang 23

So với báo mạng điện tử, báo phát thanh thực hiện tương tác không thuận lợi bằng bởi sự kiểm soát thính giả tham gia chương trình trực tiếp qua điện thoại phức tạp hơn, nhưng so với truyền hình, báo phát thanh có nhiều thuận lợi trong việc thực hiện tương tác Bởi tính chất của báo phát thanh là

âm thanh, tiếng nói, ý kiến của thính giả dễ dàng chuyển tải lên chương trình, làm nên một phần của nội dung Thực hiện phát thanh tương tác không đòi hỏi nhiều nhân lực và không tốn kém như truyền hình

Có thể nói, hiện nay, truyền thông tương tác đang là xu thế phát triển mạnh, được công chúng hưởng ứng bởi sự dân chủ hóa và tính đa chiều của thông tin

Trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học Quốc tế “Báo chí trong quá trình toàn cầu hóa: Cơ hội, thách thức và triển vọng” Tác giả Lê Thu Hà - Giảng viên khoa Báo chí - Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã có bài: “Sự gia tăng tính tương tác của công chúng - tương lai của báo chí” đã nhận định:

Công chúng báo chí là đối tượng mà báo chí hướng vào để tác động, nhằm lôi kéo, thu phục họ vào phạm vi ảnh hưởng của mình Đồng thời, công chúng còn tương tác trở lại, giám sát, quyết định vai trò, vị thế xã hội của sản phẩm báo chí - truyền thông

Công chúng có thể sử dụng các phương tiện truyền thông khác nhau để tương tác với loại hình báo chí, các cơ quan báo chí, nội dung báo chí hàng ngày, hàng giờ Tính tương tác giúp rút ngắn khoảng cách giữa báo chí và công chúng, khiến những vấn đề xã hội được nhìn nhận một cách khách quan trên nhiều bình diện Tính tương tác trên báo chí thể hiện ở các góc độ:

- Tương tác có định hướng: là sự định vị trên các tác phẩm

báo in, chương trình phát thanh truyền hình, ví dụ như: “biết thêm chi tiết xin gọi về số điện thoại…”, “nhắn tin về tổng đài và làm

Trang 24

theo hướng dẫn…” Còn trên báo điện tử thì có nút “trang tiếp”, trở về trang đầu”… Điều này tạo sự thuận lợi, tiết kiệm thời gian

cho công chúng khi muốn tìm hiểu thêm thông tin

- Tương tác tùy biến: công chúng có thể giao lưu trực tiếp với các nhà báo, tòa soạn, công chúng khác,… Điều này thể hiện rất

rõ ở các chương trình giao lưu trực tiếp, cầu truyền hình trực tiếp, công chúng có thể bày tỏ quan điểm, ý kiến của mình ngay tại thời điểm sự kiện đang diễn ra

- Tạo ra sự phản biện, dư luận xã hội một cách tích cực Dẫu đó là những phản hồi đồng thuận hay phản ứng trái chiều thì cũng tạo điều kiện để phóng viên kiểm định, xem xét sự chính xác của thông tin, từ đó nhà báo cũng có thể đề nghị bạn đọc cung cấp thêm thông tin Hoạt động tương tác giúp tạo ra sự gần gũi với cơ quan báo chí, bày tỏ dữ liệu khá đầy đủ về đặc điểm nhu cầu, trình độ, sở thích của từng nhóm đối tượng công chúng [20, tr 217]

Tác giả Lê Thu Hà cũng đề cập về xu thế tại Việt Nam:

Khảo sát của tác giả đối với 1.800 công chúng trên cả nước trong năm 2013 cho thấy, nhu cầu tương tác đối với báo chí của công chúng Việt Nam rất cao Trong đó, khả năng tương tác tốt với công chúng của truyền hình là cao nhất chiếm 62.8%, ngay sau đó

là báo mạng với 48.7%, báo in xếp vị trí thứ ba với 29.1% và cuối cùng là đài phát thanh chỉ chiếm 15.8% 220

Lý do truyền hình chiếm tỷ lệ cao nhất là bởi các yếu tố âm thanh, quảng cáo và chất lượng hình ảnh tốt, sự phong phú về các chương trình gameshow, ca nhạc và giải trí, phim ảnh được chọn

Trang 25

lọc có định hướng Do vậy, sự thu hút và khả năng tương tác với công chúng của truyền hình được đánh giá cao

Vẫn còn lượng công chúng không thể đánh giá được khả năng tương tác của mình với báo in 19.2%, báo phát thanh là 25.2%, truyền hình là 14.8% và báo mạng là 25.4% Những con số này rơi chủ yếu vào công chúng thuộc vùng nông thôn, kiến thức chưa đủ hiểu biết để đánh giá được sự tương tác Điều này đặt vấn đề về cách thức truyền tải thông tin tới công chúng hiện nay của các cơ quan báo chí đã thật sự hiệu quả và rộng khắp hay chưa

Việc công chúng không tương tác với báo chí cũng có nhiều lý

do, và lý do chiếm tỷ lệ cao nhất là “vì không biết cách” chiếm 24%, ngay sau đó là lý do “vì ngại, lười” chiếm 21% kém lý do cao

nhất 3%

Bên cạnh đó, một số lý do khác như “Không có phương tiện, công cụ để tương tác với báo chí” hay “tương tác không có tác dụng gì” chiếm tỷ lệ không đáng kể Điều đó cho thấy công chúng

đã phản ảnh đúng thực tế hiện nay, là các cơ quan báo chí muốn biết khả năng tương tác của các loại hình báo chí với công chúng như thế nào, nhưng lại không chú ý tới những cách thức giúp công chúng hiểu để tương tác tốt hơn với báo chí Đặc biệt là đối tượng công chúng thuộc vùng nông thôn

“Chúng tôi biết gì mà tương tác, mà phản hồi, người dân chúng tôi đã nghèo nay lại còn học kém, mấy cái đó tôi không biết

gì đâu” (Nam - 48 tuổi - làm ruộng - An Giang)

Còn với đối tượng công chúng đánh giá được sự tương tác, mục đích chính họ tương tác với báo chí là bởi mong muốn được

“chia sẻ, đồng cảm” chiếm 33.3% và muốn “lên án, phê phán hiện

Trang 26

tượng tiêu cực” là 27.4% Bên cạnh đó, việc “thể hiện quan điểm

cá nhân” tới độc giả cũng chiếm tới 16.9% cho sự tương tác

“Mình mong muốn được chia sẻ quan điểm cá nhân của mình

về vấn đề gia đình ngày nay trong xã hội, có những người con được

bố mẹ chu cấp đầy đủ, nên họ nghĩ rằng mình nghiễm nhiên được hưởng điều đó Do vậy mà dễ dàng rơi vào các tệ nạn xã hội nghiêm trọng Mình nghĩ nên lên án hiện tượng này” (Nữ - 23 tuổi - nhân viên kinh doanh - Hà Nội)

Như vậy, khả năng tương tác của công chúng với các sản phẩm báo chí hiện nay là thuận tiện và tích cực hơn so với trước đây Trong đó, truyền hình và báo mạng được đánh giá cao hơn so với báo phát thanh và báo in Tuy nhiên, mức độ tương tác với báo chí hiện nay còn chưa phổ biến và chưa nhiều, lý do chủ yếu là

công chúng “chưa biết cách” tương tác và “vì ngại” nên ít khi

tương tác thông qua các việc làm của mình Với những công chúng hay tương tác với báo chí, việc tương tác giúp họ chia sẻ và đồng cảm với những vấn đề hay bài báo mà họ quan tâm, đồng thời thể hiển được quan điểm cá nhân của mình, từ đó lên án và phê phán các hiện tượng này một cách thẳng thắn, trực tiếp [20, Tr 219]

1.2 Phát thanh tương tác

1.2.1 Khái niệm

Tương tác trong phát thanh là sự giao lưu, tác động qua lại giữa những người thực hiện chương trình phát thanh và thính giả về các nội dung mà chương trình đề cập, nhằm mục đích trao đổi thông tin, đem lại cho cả hai bên những nhận thức mới, làm thỏa mãn nhu cầu thông tin đa chiều và nhu cầu được tham gia vào các chương trình phát thanh của thính giả Người làm phát

Trang 27

thanh từ những thông tin phản hồi của thính giả có thể điều chỉnh nội dung, cách thức thể hiện để đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng thời hiện đại

Một chương trình phát thanh được gọi là phát thanh tương tác khi có:

- Sự giao lưu, tác động qua lại giữa người làm chương trình với thính giả diễn ra đồng thời với việc sản xuất chương trình phát thanh Nghĩa là thính giả tham gia vào nội dung, làm nên một phần của nội dung chương trình Phương thức tối ưu là phát thanh trực tiếp

- Đây là chương trình phát thanh mở, có tính linh họat theo diễn tiến của nhu cầu thính giả đang tham gia vào chương trình Ở một số chương trình tương tác đặc thù, nếu thính giả không tham gia tương tác, chương trình không có lý do để tồn tại, chẳng hạn như các chương trình mang tính chất tư vấn, giải đáp thắc mắc của công chúng

- Thông tin có tính chất hai chiều mang tính đối tượng cao Ở chương trình phát thanh không tương tác, thông tin tác động một chiều, trong các chương trình phát thanh tương tác, hệ thống liên kết hai chiều đã được thiết lập rõ ràng Đặc trưng chủ yếu của phát thanh tương tác chính là ở chỗ thính giả có khả năng tác động trực tiếp vào nội dung chương trình

- Sự giao lưu với thính giả khiến chương trình sinh động, hấp dẫn, linh hoạt, cuốn hút người nghe

1.2.2 Ưu thế của phát thanh tương tác

Để có sự tương tác, một chương trình phát thanh phải hội đủ nhiều yếu

tố Trước hết, phải có sự tham gia của thính giả, ý kiến thính giả là một phần của chương trình; Thứ hai, tính đối tượng của chương trình phải được khu biệt rõ ràng, cụ thể; Thứ ba, nội dung phải phù hợp với nhóm đối tượng của chương trình, đáp ứng nhu cầu của chính họ Thứ tư, phương thức phát thanh,

tối ưu là phát thanh trực tiếp

Trang 28

Nếu không có sự tham gia của thính giả vào chương trình phát thanh thì không thể có tương tác Thính giả của chương trình phát thanh tương tác không chỉ nghe thụ động một chiều mà còn có thể trình bày ý kiến, quan điểm của mình đối với những vấn đề mà chương trình đề cập Họ sẽ mang đến cho chương trình những thông tin thiết thực từ nhiều góc độ khác nhau Người nghe có thể xen vào nội dung và góp phần định hướng phát triển của nội dung vấn đề họ quan tâm Tiếng nói của thính giả trong các chương trình phát thanh tương tác sẽ xóa đi tính một chiều, áp đặt của thông tin Vì thế thông tin trong các chương trình phát thanh tương tác trở nên đa chiều và có tính khách quan hơn

Phát thanh tương tác cho phép người nghe tác động, lựa chọn nội dung chương trình phát thanh mà mình tham gia Với một kịch bản mở, nội dung chương trình phát thanh tương tác không chỉ là những thông tin mà phóng viên, biên tập viên soạn ra, theo quan điểm, cách nhìn nhận một chiều thiểu số, mà cùng với đó là những thông tin phản hồi đa chiều từ phía người nghe Thính giả được tham gia, được phục vụ theo nhu cầu thông tin của chính mình

Chương trình phát thanh tương tác có tính hấp dẫn hơn nhiều so với một chương trình phát thanh bình thường vì nó cho người ta cảm giác là mình đang được trực tiếp trò chuyện với những người thực hiện chương trình, được nghe những thông tin mới nhất từ nhiều góc độ khác nhau nhờ sự tham gia của nhiều thính giả

Phát thanh tương tác sẽ thay đổi cách nghe đài của thính giả, cách mạng hóa lĩnh vực tiếp nhận thông tin, lĩnh vực giải trí của thính giả qua radio, cho phép người nghe và những người làm phát thanh có thể trao đổi trực tiếp với nhau Với khả năng thay đổi căn bản cách nghe đài, cách thức tiếp nhận thông tin (từ thụ động sang chủ động), phát thanh tương tác đã trở thành xu hướng

chung của thế giới

Trang 29

Khi một chương trình phát thanh tích hợp tính tương tác, nói cách khác

là những người làm chương trình tự trang bị cho mình khả năng biết lắng nghe, biết giao đãi, khơi gợi, kích thích sự tham gia của thính giả vào chương trình, thì sự tác động của thông tin lập tức từ một chiều - thiểu số đã trở thành hai chiều - đa số Bởi nhiều khi câu hỏi hoặc ý kiến của một thính giả cũng có thể là câu hỏi hoặc ý kiến của nhiều người, khiến cho thắc mắc của một người được giải đáp cho nhiều người Sức thu hút công chúng của chương trình phát thanh tương tác chính là ở chỗ đó Tích hợp tính tương tác, phát thanh sẽ kéo

thính giả đến gần hơn với chương trình, và phát thanh sẽ trở thành “phát thanh của mọi nhà” Khi đã tạo ra được những liên kết chặt chẽ hơn với thính

giả, khả năng cạnh tranh của chương trình phát thanh sẽ tăng lên đáng kể, đặc biệt là trong môi trường thông tin mở như hiện nay

Thính giả tham gia vào chương trình phát thanh tương tác với nhiều cấp

độ khác nhau, tùy theo tính chất của từng chương trình cụ thể Đó có thể là cung cấp thông tin hoặc nêu câu hỏi cho khách mời để hiểu rõ thông tin mình cần trong chương trình có khách mời, chương trình mang tính chất tư vấn, giải đáp thắc mắc Đó có thể là tham gia ý kiến cùng bàn luận về một vấn đề trong loại chương trình mang tính chất trò chuyện, giao lưu, hoặc đề xuất giải pháp cho một hiện trang nào đó của cuộc sống

Ý kiến của thính giả được chuyển đến chương trình bằng nhiều hình thức: Thư gửi bưu điện, thư điện tử, tin nhắn, gọi điện thoại trực tiếp Nếu là chương trình phát thanh trực tiếp thì sau khi gọi điện thoại đến chương trình, ngay lập tức thính giả được giải đáp hoặc được chia sẻ Nhu cầu muốn biết, muốn được chia sẻ, giao lưu của thính giả được thỏa mãn tức thời Tính tương tác trong các chương trình phát thanh tạo ra một cơ chế thông tin sát hợp và nhanh chóng Điều đó làm cho người nói và người nghe gần gũi nhau, hiểu biết nhau để đi đến sự hiểu biết chung, làm thay đổi nhận thức và hành động

Trang 30

tích cực Những thắc mắc, nhu cầu, tình cảm của công chúng được phản ánh tức thì, được đáp ứng tức thì, mang lại hiệu quả truyền thông cao Điều này khẳng định tính liên tục và sự thực hiện đầy đủ, nhanh chóng một quy trình truyền thông radio

Trong các chương trình phát thanh tương tác, số lượng thính giả có thể tác động trực tiếp lên chương trình đã mở rộng ra, bao hàm tất cả những người đang nghe chương trình và sử dụng dịch vụ điện thoại, qua tin nhắn, gọi điện, sử dụng thư điện tử…

Sự tương tác trong chương trình phát thanh thúc đẩy quá trình dân chủ hóa thông tin trong cơ chế truyền thông Thính giả tham gia vào chương trình

đã khẳng định báo chí của chúng ta thực sự là diễn đàn của nhân dân, là nơi nhân dân có thể phát biểu ý kiến, trình bày tâm tư, nguyện vọng Thính giả từ chỗ chỉ là người tiếp nhận thông tin một chiều thụ động, đến với chương trình phát thanh tương tác họ đã trở thành một thành viên của chương trình Lúc này họ đóng hai vai: vừa là đối tượng tiếp nhận thông tin, vừa là người tham gia vào quá trình xử lý thông tin, góp phần quyết định nội dung chương trình

Họ gợi mở thông tin, nêu lên những vấn đề cần bàn, làm cho quá trình thông tin được dân chủ hóa sâu sắc Người nghe không còn thụ động mà tính chủ động được phát huy tối đa Sự giao lưu của thính giả đối với chương trình sẽ tạo nên một diễn đàn ngôn luận dân chủ, công khai Thính giả được tự do tham gia vào quá trình truyền thông Họ có cơ hội được bày tỏ ý kiến, suy nghĩ của mình, góp phần xây dựng một xã hội dân chủ, tiến bộ

Không chỉ tạo ra một kênh thông tin dân chủ hơn, phát thanh tương tác còn tạo ra những chương trình mang đậm hơi thở đời sống, gần gũi thiết thực với bạn nghe đài Khi tham gia vào các chương trình tương tác, thính giả có thể bầy tỏ, phản ánh những sự kiện, hiện tượng tốt, xấu trong đời sống, có thể

Trang 31

đặt câu hỏi từ những thắc mắc về sản xuất, kinh doanh, sức khỏe, tình yêu, hôn nhân gia đình, chế độ chính sách, hoặc yêu cầu ca nhạc…

Một chương trình phát thanh tương tác có thính giả tham gia, tính đối tượng của chương trình được cụ thể hóa và được nâng cao Khi đối tượng phục vụ càng được xác định cụ thể thì chương trình càng gắn bó, có ý nghĩa thiết thực đối với thính giả Thu hút thính giả tham gia vào chương trình là cách để chương trình phát thanh gắn với họ, thuộc về họ Những người làm chương trình có cơ hội để nắm bắt nhu cầu, tâm lý, sở thích, đặc điểm của nhóm đối tượng mà chương trình hướng tới, từ đó tiếp tục xây dựng nội dung chương trình theo hướng đối tượng hóa Chương trình nào càng khu biệt rõ đối tượng phục vụ của mình, hiệu quả truyền thông càng cao Phát thanh tương tác là con đường ngắn nhất tạo dựng mối quan hệ tốt với bạn nghe đài chính là ở chỗ đó [25]

Phát thanh tương tác với sự tham gia của thính giả làm cho chương trình sinh động, đa thanh, có sức hấp dẫn, thu hút sự chú ý của bạn nghe đài Chương trình phát thanh tương tác có điểm khác biệt rất lớn so với chương trình không tương tác, đó chính là sự đa dạng lời nói Nếu như chương trình phát thanh bình thường chỉ có giọng nói của biên tập viên, phát thanh viên, hoặc đối tượng phỏng vấn thì phát thanh tương tác có thêm một dạng lời nói nữa, đó là lời nói của thính giả Tiếng nói của thính giả làm cho chương trình

đa dạng hơn về âm thanh ở chỗ, thính giả có thể là nông dân, tiểu thương, trí thức, công nhân, bác sĩ, giáo viên… ở nhiều địa phương khác nhau, với nhiều trình độ khác nhau Sự đan xen giữa giọng nam - nữ, chất giọng Bắc - Trung - Nam, các vùng miền, cùng với âm thanh hiện trường - âm thanh phòng thu khiến chương trình có tính đa thanh rõ nét

Trang 32

Tính đa dạng về ngôn ngữ, âm sắc giọng nói làm nên sắc màu văn hóa phong phú của chương trình phát thanh tương tác Sự tham gia của thính giả vào chương trình phát thanh đem lại niềm tin tưởng, cảm giác gần gũi, gắn bó giữa chương trình và thính giả Sự xuất hiện của tiếng nói thính giả đã kéo chương trình này xích lại gần công chúng hơn, đem lại cho họ cảm giác gần gũi, thân quen, làm cho người nghe cảm nhận rằng chương trình đó dành cho chính mình

Từ những vấn đề đã trình bầy trên đây, có thể phác họa những nét căn bản của phát thanh tương tác so với phát thanh không tương tác như sau:

- Chỉ có người dẫn chương trình,

phóng viên, phát thanh viên, thính giả

không tham gia vào chương trình phát

thanh

- Thính giả tham gia vào chương trình cùng với người dẫn chương trình, phóng viên, biên tập viên

- Tính đối tượng thấp - Tính đối tượng cao Chia thành

nhiều nhóm đối tượng thính giả khác nhau theo các tiêu chí cụ thể

- Chỉ tiếp nhận thông tin một chiều thụ

động

Tương tác, thông tin đa chiều, chủ

động tiếp nhận thông tin

- Chất đối thoại giao lưu ít, đọc nhiều

hơn nói

- Chất đối thoại, giao lưu được tăng cường, ngôn ngữ nói là chủ yếu

- Dạng lời nói đơn điệu - Dạng lời nói đa dạng, phong phú

- Tính thân mật, gần gũi bị hạn chế - Tăng cường sự gần gũi, thân mật,

gắn bó với thính giả

Trang 33

- Kém phần sống động, hấp dẫn Sống động, hấp dẫn, mang đậm hơi

thở cuộc sống

- Chương trình mang dấu ấn cá nhân - Đề cao vai trò làm việc theo nhóm,

chương trình mang dấu ấn của cả nhóm

- Người tham gia sản xuất chương

trình không phải xử lý các tình huống

1.2.3 Tương tác - xu thế tất yếu của phát thanh hiện đại

Bất cứ chương trình phát thanh nào cũng đều hướng tới công chúng, thu hút sự chú ý của công chúng, tác động đến công chúng Tuy nhiên, trong phát thanh truyền thống, sự giao lưu tương tác giữa chương trình phát thanh với thính giả chưa được quan tâm chú ý Với phát thanh hiện đại, ngoài thông tin nhanh, chính xác, công nghệ hiện đại, những người thực hiện chương trình còn đặc biệt coi trọng khả năng tương tác của thính giả bằng việc xây dựng

các chương trình phát thanh “mở” để thính giả có thể tham gia trực tiếp vào

nội dung chương trình Đây cũng chính là sự đổi mới trong cách tiếp cận và chuyển tải thông tin đến thính giả, là cách thức thu hút thính giả, để họ không chỉ nghe mà còn tham gia vào chương trình, tạo nên sự sống động, đời thường cho làn sóng phát thanh Có thể nói, trong xu thế phát triển của phát thanh hiện đại, tương tác là xu thế tất yếu

Những năm gần đây, nhờ sự phát triển của công nghệ mới và phương tiện thông tin hiện đại, nhiều chương trình phát thanh trực tiếp được thực hiện

Trang 34

đã tạo cơ hội cho thính giả thực sự góp tiếng nói của mình vào các chương trình phát thanh

Phát thanh truyền thống theo mô hình cung cấp thông tin một chiều, thụ động, chưa tạo cơ hội cho người nghe tham gia vào chương trình, cho nên thính giả không có khả năng tương tác trong khi vẫn nghe chương trình, dù đó

là chương trình họ yêu thích Ý kiến của thính giả (nếu có) chỉ được thể hiện bằng cách viết thư trình bày ý kiến, nguyện vọng Mục trả lời thư bạn đọc vào chương trình kế tiếp thường không đáp ứng được tính kịp thời, trực tiếp Nếu không có sự theo dõi thường xuyên liên tục chương trình thính giả khó có thể biết được ý kiến của mình có được phúc đáp hay không Phát thanh hiện đại trong hiện nay, cùng với sự phát triển của công nghệ thông tin, ngoài tính kịp thời, cập nhật thông tin, các chương trình được sản xuất bằng công nghệ hiện đại, và điều quan trọng là các chương trình phát thanh có điều kiện hướng tới các nhóm đối tượng cụ thể, thực hiện phát thanh tương tác Từ sự tác động qua lại giữa người làm phát thanh và bạn nghe đài, đài phát thanh không chỉ cung cấp những thông tin đài có mà dựa trên nhu cầu của công chúng Công chúng ở đây không phải là công chúng chung chung mà là những đối tượng

cụ thể của từng chương trình Yêu cầu đổi mới, nâng cao chất lượng các chương trình phát thanh theo hướng hiệu quả, thiết thực, gần gũi và đáp ứng nhu cầu của công chúng hiện nay không thể không tăng cường tính tương tác trong các chương trình phát thanh [25]

Trong mạng lưới truyền thông dày đặc như hiện nay, thính giả thụ động tiếp nhận thông tin một chiều đã không còn hợp thời Người nghe muốn được giao lưu, muốn bày tỏ ý kiến, thậm chí muốn cung cấp thông tin, bình luận một vấn đề mà chương trình đề cập Thực tế cho thấy, nhu cầu thưởng thức

âm nhạc cũng như chia sẻ, giao cảm với người khác là khá lớn trong thính giả Khi tham gia vào một chương trình phát thanh, thính giả có nhiều nhu cầu

Trang 35

khác nhau, song tựu trung lại, có những nhu cầu chủ yếu: nhu cầu thông tin; nhu cầu khẳng định mình; nhu cầu được giao cảm với cộng đồng, chia sẻ quan điểm sống

Chương trình phát thanh tương tác gắn bó với thính giả, giúp người nghe bộc lộ bản thân, cởi mở, tự tin bày tỏ quan điểm của mình Họ sẽ quan tâm nhiều hơn đến thông tin chương trình đem lại, tìm thấy thông tin cần thiết cho cuộc sống, bảo vệ quyền lợi cho mình, cộng đồng mình Sự tiếp nhận thông tin một cách chủ động dễ làm thay đổi nhận thức hơn là tiếp nhận thụ động Từ nhận thức đến thay đổi hành vi trong thói quen sinh họat hàng ngày, trong lối sống, sản xuất của công chúng diễn ra cũng nhanh hơn… Chỉ khi có

sự tham gia của đông đảo công chúng vào chương trình phát thanh tương tác,

đài phát thanh mới dễ dàng “đo đếm” được hiệu quả tác động của mình và khi

đó mới thực sự tham gia vào phát triển cộng đồng [25]

Hiện nay, khi các loại hình truyền thông phát triển mạnh mẽ, phát thanh

bị đặt trong thế cạnh tranh cao trong việc thu hút thính giả, thì yêu cầu đổi mới làn sóng phát thanh đặt ra nhiều vấn đề bức thiết Bạn nghe đài bây giờ

có nhiều lựa chọn trong rất nhiều loại hình truyền thông, họ có sự đánh giá và

so sánh Cùng một tin tức, họ có thể xem truyền hình, nghe đài, đọc báo, hay

“lướt” web Nếu phát thanh không đổi mới, không bắt kịp nhu cầu của công

chúng, đài phát thanh sẽ xa rời đối tượng phục vụ, đánh mất thính giả Không còn cách nào khác, bên cạnh việc đầu tư hạ tầng kỹ thuật, công nghệ, phát thanh phải đầu tư nâng cao chất lượng chương trình, chú trọng tính tương tác Các chương trình phải tự thay đổi bản thân để thích ứng nhằm tạo ra những

liên kết bền chặt hơn với thính giả Xu hướng “mở” cuả các chương trình phát

thanh có tương tác, giao lưu với thính giả tạo ra cơ chế thông tin hai chiều đang là xu thế tất yếu của phát thanh hiện đại

Trang 36

Cùng với công nghệ hiện đại, sự tương tác giao lưu với thính giả chính

là yếu tố tạo nên diện mạo hiện đại của làn sóng phát thanh Có thể nói, con đường tồn tại và phát triển của phát thanh hiện này không tách rời quỹ đạo của hai xu hướng, đó là xu hướng tích hợp công nghệ và tích hợp tính tương tác trong các chương trình Tương tác là một trong những yếu tố đo sự tiến bộ hay lạc hậu của một chương trình phát thanh Nhiều chuyên gia nghiên cứu về phát thanh đã khẳng định rằng: muốn phát thanh duy trì được vai trò cạnh tranh trong kỷ nguyên số ngày nay, cần phải đầu tư và phát huy vào những đặc điểm vốn luôn là thế mạnh của nó, đó là sự gần gũi, thân mật, tính tương tác và tính địa phương hoá

1.2.4 Một số dạng chương trình phát thanh tương tác

* Xét về mặt cấu trúc nội tại, phát thanh tương tác có hai loại:

Chương trình không có kịch bản chi tiết và loại và chương trình có kịch bản chi tiết

- Đối với chương trình không có kịch bản chi tiết: Chương trình

“Cửa sổ tình yêu” (Đài Tiếng nói Việt Nam) là đại diện tiêu biểu Tính chất

của loại chương trình này là tư vấn, giải đáp thắc mắc Ngoài người dẫn chương trình, có 1 – 2 khách mời là những chuyên gia về các lĩnh vực để trả lời câu hỏi của thính giả trực tiếp gọi điện thoại đến chương trình Ở dạng chương trình này, người thực hiện chương trình chỉ có thể khống chế một phần nội dung sẽ thể hiện trong toàn bộ chương trình Người dẫn chương trình, đạo diễn không thể quyết định những nội dung cụ thể của chương trình Điều đó đồng nghĩa với việc thính giả đang nghe chương trình sẽ góp phần

tác động lên nội dung, diễn tiến của chương trình Ở Cửa sổ tình yêu, câu hỏi

của thính giả cùng với giải đáp của chuyên gia tạo nên nội dung chương trình Thính giả được trò chuyện với chuyên gia thông qua số điện thoại nối vào phòng thu [25]

Trang 37

Loại chương trình không có kịch bản chi tiết có thể có khách mời, có thể không có khách mời

+ Chương trình có khách mời như Cửa sổ tình yêu, khách mời là

chuyên gia giải đáp thắc mắc cho thính giả về một lĩnh vực cụ thể, đó có thể coi là chủ đề của chương trình Dạng chương trình này thường được gọi là chương trình tư vấn

+ Chương trình không có khách mời như chương trình “60 phút bạn và tôi” của Đài PTTH Quảng Ninh, Đài PTTH Hà Nội, Đài PTTH Hà Tây, Hải

Dương, Bắc Ninh, Phú Thọ, Điện Biên, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Long An, Đồng Tháp, Cần Thơ;

chương trình Cứu tinh xa lộ của Đài Tiếng nói nhân dân thành phố Hồ Chí

Minh Những người thực hiện chương trình đưa ra một vấn đề nào đó mà thính giả quan tâm, quảng bá, thính giả gọi điện đến chương trình bàn luận Nội dung chương trình được tạo nên bởi nhiều ý kiến khác nhau, người dẫn chương trình xâu chuỗi lại Tính định hướng của nội dung hoàn toàn tùy thuộc vào kiến thức, sự am hiểu của người dẫn chương trình về lĩnh vực mà nội dung chương trình hướng tới

- Đối với chương trình có kịch bản chi tiết: Kịch bản này được

chuẩn bị khá kỹ lưỡng Mỗi chương trình có chủ đề nhất định với những nội dung cụ thể Chương trình có thể có khách mời hoặc không có khách mời Ngoài trao đổi trực tiếp với các vị khách mời, có thể có phóng sự ngắn,

voxpop hoặc bình luận Ở Đài Tiếng nói Việt Nam, có các chương trình: Bạn hãy nói với chúng tôi, Diễn đàn kinh tế, Diễn đàn Tài nguyên và môi trường, Khách mời chủ nhật

Chương trình có kịch bản chi tiết có hai dạng:

+ Dạng chương trình mang tính đối thoại bàn tròn (talk show): Diễn đàn Kinh tế, Diễn đàn Tài nguyên môi trường, Khách mời chủ nhật (VOV1)

Trang 38

Tính chất của chương trình: Đối thoại bàn tròn, có đan xen phóng sự làm sẵn, hoặc các ý kiến phát biểu làm tiền đề để tranh luận

+ Dạng chương trình không có đối thoại bàn tròn: Bạn hãy nói với chúng tôi (VOV2) nêu vấn đề, mời gọi thính giả cùng bàn luận, không có

khách mời

* Xét về phương thức phát sóng, có thể chia ra hai loại chương trình

phát thanh tương tác:

- Phát thanh tương tác phát sóng trực tiếp Có thể kể đến các

chương trình: “60 phút bạn và tôi” của Đài PTTH Quảng Ninh, Hà Nội, Hà Tây…; Chương trình “Cứu tinh xa lộ” của Đài Tiếng nói nhân dân thành phố

- Phát thanh tương tác không phát sóng trực tiếp, hay còn gọi là

tương tác chậm Theo quan điểm của chúng tôi, tương tác chậm ở đây được xác định bởi yếu tố tương tác trực tiếp với thính giả nhưng không phát sóng

trực tiếp Trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam có các chương trình: Cửa sổ tình yêu, Bạn hãy nói với chúng tôi, chuyên mục phòng chống bạo hành gia đình

“9386667 xin nghe” của chương trình Diễn đàn các vấn đề xã hội

*Xét về không gian tương tác, phát thanh tương tác có hai loại:

- Chương trình tương tác trong phòng thu: Thính giả tham gia

chương trình qua điện thoại, hoặc có thể mời thính giả đến phòng thu trực tiếp đối thoại, giao lưu với khách mời

- Chương trình tương tác ngoài phòng thu: Đó là những chương

trình mang tính sân khấu, ví dụ giao lưu với các ca sĩ hát nhạc nhẹ thành

Trang 39

công… hoặc những chương trình mang tính chất sân chơi như: Làng vui chơi, làng ca hát, Câu lạc bộ bạn yêu nhạc trước đây Đài Tiếng nói Việt Nam đã

thực hiện Những chương trình này có đông thính giả tham dự, sự tương tác, giao lưu hai chiều hết sức sống động

1.2.5 Chương trình truyền hình tương tác

Truyền hình là một loại hình truyền thống trong hệ thống các phương tiện truyền thông hiện nay So với báo mạng điện tử, truyền hình có tính tương tác thấp hơn, nhưng điều đó không có nghĩa là tương tác không thể có trong các chương trình truyền hình

Ở nước ta, chưa có một công trình nghiên cứu nào đưa ra một cách hiểu

đầy đủ về thuật ngữ “Truyền hình tương tác” Trong những điều trình bày

dưới đây, tác giả xin đi vào cung cấp những thông tin sơ lược đã thu thập được trong quá trình nghiên cứu về đề tài

Thuật ngữ “Truyền hình tương tác” còn gọi là “Truyền hình 2 chiều”

trong tiếng Anh là interctiv television Theo từ điển truyền hình tương tác trực tuyến www.itvdictionary.com thì interractiv television được gọi tắt là ITV

Có rất nhiều thảo luận xung quanh việc làm thế nào để định nghĩa rõ rang và chính xác nhất về truyền hình tương tác

Có ý kiến cho rằng “Truyền hình tương tác là khi người xem và nguồn phát có thể trao đổi thông tin với nhau một cách thường xuyên trong thời gian thực” (Nguồn: nma.co.uk) Không ít người cho rằng truyền hình tương tác là truyền hình với cái gọi là “Kênh phản hồi” “Thông tin không chỉ truyền đi từ nguồn phát tới người xem, mà còn quay trở lại từ người xem đến nguồn phát”

(nguồn www.itvdictionary.com)

Truyền hình tương tác là một dạng truyền hình cho phép người xem tham gia, điều khiển các chương trình truyền hình Với dạng truyền hình truyền thống, đường truyền truyền hình là một chiều Những người làm

Trang 40

truyền hình quyết định thời gian xem truyền hình, chương trình và kênh sóng

Có ý kiến cho rằng: với truyền hình tương tác, khán giả được trực tiếp tham gia vào chương trình đang phát sóng Khán giả ở đây là những người đang xem TV, không phải là những người trong trường quay Ví dụ, chương trình

“Ai là triệu phú” đang phát sóng, nó sẽ là chương trình truyền hình tương tác

nếu như khán giả (những người đang ở trước TV) được phép trả lời thông qua đường điện thoại hoặc đường phản hồi nào khác

Truyền hình tương tác khác biệt với truyền hình truyền thống ở chỗ, truyền hình truyền thống chỉ truyền đi theo một chiều từ nhà đài đến khán giả; trong khi đó truyền hình tương tác cần một đường truyền thông tin từ khán giả tới nhà đài Về mặt cấu trúc, mỗi TV ngoài việc thu nhận tín hiệu truyền hình,

nó còn có chức năng phản hồi tín hiệu tới nhà đài một cách tức thì Từ khi có mạng internet, nó trở thành đường phản hồi tốt nhất khiến truyền hình tương tác phát triển rầm rộ

Có ý kiến thì miêu tả “Truyền hình tương tác đại diện cho sự quy tụ của công nghệ với truyền hình, tương tác cho phép sự trao đổi thông tin giữa nguồn phát với nguồn nhận” (Nguồn MBC - Museum of Broadcast

Communication)

Tác giả Mark Gawlinski nói:

Truyền hình tương tác có thể xem là tất cả những gì khiến cho khán giả truyền hình, hoặc khán giả và người làm chương trình truyền hình, hoặc dịch vụ tham gia vào cuộc đối thoại Cụ thể hơn, truyền hình tương tác có thể coi là một cuộc đối thoại đưa khán giả vượt qua kinh nghiệm ngồi xem thụ động và cho họ lựa chọn và hành động - hành động đó có thể đơn giản là việc viết vào tấm thiệp rồi bỏ vào thùng thư, hoặc phác họa một hình vẽ lên màn hình ti vi

Ngày đăng: 24/11/2021, 17:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. A.A Grabennhicoop, Báo chí trong kinh tế thị trường, NXB Thông tấn 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí trong kinh tế thị trường
Nhà XB: NXB Thông tấn 2003
2. Báo phát thanh (2002) – NXB Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo phát thanh
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
3. Bộ Văn hóa Thông tin (2005), Cẩm nang hướng dẫn phát thanh trực tiếp – Đài tiếng nói Việt Nam, SIDA (Thụy Điển) Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Cẩm nang hướng dẫn phát thanh trực tiếp
Tác giả: Bộ Văn hóa Thông tin
Năm: 2005
4. Claudia Mast, Truyền thông đại chúng những kiến thức cơ bản, NXB Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng những kiến thức cơ bản
Nhà XB: NXB Thông tấn
6. Trần Thị Diệu (2007), Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh: “Bạn hãy nói cùng tôi”, Khóa luận tốt nghiệp đại học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng chương trình phát thanh: "“Bạn hãy nói cùng tôi”
Tác giả: Trần Thị Diệu
Năm: 2007
7. Đài Tiếng nói Việt Nam, Cẩm nang phóng viên thường trú nước ngoài – Trung tâm đào tạo bồi dưỡng nghịêp vụ phát thanh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang phóng viên thường trú nước ngoài
8. Đức Dũng (2003), NXB Văn hóa – Thông tin, Lý luận báo phát thanh 9. PGS, TS. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên) (2006), Tác phẩm báo chí, Tập II– NXB Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận báo phát thanh" 9. PGS, TS. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên) (2006), "Tác phẩm báo chí
Tác giả: Đức Dũng (2003), NXB Văn hóa – Thông tin, Lý luận báo phát thanh 9. PGS, TS. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Văn hóa – Thông tin
Năm: 2006
10. PGS, TS. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên) (2000, 2001), Tập 1, Tập 2, – Báo chí – Những điểm nhìn từ thực tiễn – NXB Văn hóa Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí – Những điểm nhìn từ thực tiễn
Nhà XB: NXB Văn hóa Thông tin
11. PGS, TS. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên) (2006), Truyền thông – lý thuyết và kỹ năng cơ bản, NXB Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông – lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: PGS, TS. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 2006
12. PGS, TS. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên) (2011), Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí truyền thông hiện đại (từ hàn lâm đến đời thường)
Tác giả: PGS, TS. Nguyễn Văn Dững (Chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
13. PGS, TS. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và dư luận xã hội
Tác giả: PGS, TS. Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2011
14. PGS, TS. Nguyễn Văn Dững (2011), Cơ sở lý luận báo chí, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: PGS, TS. Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2011
15. Hà Minh Đức (chủ biên) (1997), – Báo chí – Những vấn đề lý luận và thực tiễn – NXB Đại học quốc gia 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí – Những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hà Minh Đức (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học quốc gia 1997
Năm: 1997
17. Diễn đàn phát thanh trực tiếp – Đài Tiếng nói Việt Nam, Ban Kinh tế – Khoa học và Công nghệ, Đài PT – TH Nghệ An. H.2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Diễn đàn phát thanh trực tiếp
18. Lê Thị Hương Giang (2007), Tương tác trong các bản tin thời sự của Đài Truyền hình Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tương tác trong các bản tin thời sự của Đài Truyền hình Việt Nam
Tác giả: Lê Thị Hương Giang
Năm: 2007
19. Vũ Quang Hào (Chủ biên) (2004), Báo chí và đào tạo báo chí Thụy Điển, sách không bán Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ Quang Hào (Chủ biên) (2004)
Tác giả: Vũ Quang Hào (Chủ biên)
Năm: 2004
20. Đinh Thị Thu Hằng (2004), Dẫn chương trình phát thanh thời sự trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dẫn chương trình phát thanh thời sự trên sóng Đài Tiếng nói Việt Nam
Tác giả: Đinh Thị Thu Hằng
Năm: 2004
21. Đinh Thị Xuân Hòa (2002), Chương trình trò chơi trên Đài Truyền hình Việt Nam” - Luận văn thạc sỹ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình trò chơi trên Đài Truyền hình Việt Nam
Tác giả: Đinh Thị Xuân Hòa
Năm: 2002
22. Ngô Thái Hà (2009), Các hình thức tương tác giữa thính giả với chương trình phát thanh, Khóa luận tốt nghiệp Đại học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thức tương tác giữa thính giả với chương trình phát thanh
Tác giả: Ngô Thái Hà
Năm: 2009
23. Nguyễn Thị Huyền (2009), Kỹ năng dẫn chương trình phát thanh tương tác trực tiếp 60 phút bạn và tôi của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội 2, Khóa luận Tốt nghiệp Đại học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng dẫn chương trình phát thanh tương tác trực tiếp 60 phút bạn và tôi của Đài Phát thanh và Truyền hình Hà Nội 2
Tác giả: Nguyễn Thị Huyền
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm