Lý do chọn đề tài Văn hóa là lĩnh vực rất rộng lớn và có nhiều vấn đề cần phải quan tâm, trong đó việc tuyên truyền nâng cao lối sống văn hóa qua các lễ hội truyền thống - một phần của
Trang 1QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN VĂN NHÀN
CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN LỐI SỐNG VĂN HÓA
QUA CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG
Ở TỈNH TIỀN GIANG HIỆN NAY
Ngành : Chính trị học Chuyên ngành: Công tác tư tưởng
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN LỐI SỐNG VĂN HÓA QUA CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG 11
1.1 Lễ hội truyền thống và lối sống văn hóa 11
1.2 Tuyên truyền lối sống văn hóa 33
1.3 Vai trò lễ hội truyền thống trong tuyên truyền lối sống văn hóa 39
Chương 2 : CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN LỐI SỐNG VĂN HÓA QUA CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH TIỀN GIANG HIỆN NAY - YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG VÀ THỰC TRẠNG 46
2.1 Một số yếu tố ảnh hưởng đến công tác tuyên truyền lối sống văn hóa qua các lễ hội truyền thống ở tỉnh Tiền Giang 46
2.2 Thực trạng lễ hội truyền thống ở tỉnh Tiền Giang hiện nay 52
2.3 Thực trạng công tác tuyên truyền lối sống văn hóa qua các lễ hội truyền thống ở tỉnh Tiền Giang hiện nay 67
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN LỐI SỐNG VĂN HÓA QUA CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG Ở TỈNH TIỀN GIANG HIỆN NAY 78
3.1 Tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương đối với công tác tuyên truyền lối sống văn hóa qua các lễ hội truyền thống ở tỉnh Tiền Giang 79
3.2 Nâng cao chất lượng hoạt động của các chủ thể tham gia công tác tuyên truyền lối sống văn hóa qua các lễ hội truyền thống 85
3.3 Đổi mới về nội dung, hình thức, phương pháp và đa dạng hóa các phương tiện tuyên truyền lối sống văn hóa qua các lễ hội truyền thống 89
3.4 Ngăn chặn và khắc phục có hiệu quả các lệch chuẩn trong lễ hội truyền thống ở Tiền Giang hiện nay 92
KẾT LUẬN 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 106
Trang 3DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Múa lân hoạt động lễ hội truyền thống ở Tiền Giang 55 Hình 2.2 Lễ hội Nghinh Ông ở Tiền Giang 61 Hình 2.3 Một số hình ảnh về di tích cách mạng Ấp Bắc 63
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hóa là lĩnh vực rất rộng lớn và có nhiều vấn đề cần phải quan tâm, trong đó việc tuyên truyền nâng cao lối sống văn hóa qua các lễ hội truyền thống - một phần của giá trị văn hóa phi vật thể, là chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta, nhằm đáp ứng nhu cầu tinh thần của đông đảo quần chúng nhân dân Hiện nay, “nhân tố con người” đang được quan tâm đặc biệt Chiến lược phát triển nguồn lực con người - với tư cách là nguồn lực để phát triển xã hội ngày càng trở nên quan trọng trong toàn bộ đường lối cách mạng của Đảng và Nhà nước ta Để xây dựng và phát triển con người Việt Nam toàn diện, đáp ứng đòi hỏi cấp bách của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Mọi hoạt động văn hóa nhằm xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện
về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội” Định hướng trên của Đảng có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với mọi hoạt động văn hóa ở nước ta trong giai đoạn hiện nay Trong đó, vấn đề xây dựng lối sống có văn hóa đang trở thành một nhiệm vụ cấp bách Lối sống có văn hóa, con người văn hóa, không còn là khẩu hiệu chung nữa, mà đã trở thành hành động thực tiễn trên khắp đất nước chúng ta Lối sống là một hình thức biểu hiện của văn hóa Lối sống có văn hóa (hay lối sống văn hóa) là một đặc trưng quan trọng của con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới hiện nay Xây dựng con người Việt Nam không thể coi nhẹ việc xây dựng lối sống có văn hóa
Lễ hội là hoạt động văn hóa truyền thống không thể thiếu được trong đời sống tinh thần nhân dân ta, do đó cần phải giữ gìn và phát huy Xây dựng lối sống văn hóa qua các hoạt động lễ hội không những đạt được nhận thức trong
Trang 5giáo dục đạo đức, lối sống văn hóa cho con người nói chung, mà còn mang lại hiệu quả trong công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, đấu tranh chống các tiêu cực trong xã hội, nhất là khắc phục các lệch chuẩn trong lễ hội như khuynh hướng thương mại hóa, phô trương lãng phí trong tổ chức, … làm mất
đi ý nghĩa của ngày lễ hội Nói tới lễ hội truyền thống là nói tới tín ngưỡng dân gian được con người gửi gắm trong đó, người dân trong vùng, trong làng mở lễ hội để gửi gắm khát vọng của mình vào những nhân vật mà họ tôn trọng, thành kính Lễ hội truyền thống còn được xem là một loại di sản văn hóa phi vật thể,
do đó nó cần được bảo tồn và phát huy Mặc dù lễ hội tồn tại và phát triển theo
sự phát triển của kinh tế - xã hội nhưng nhiều lễ hội cổ truyền (lễ hội truyền thống) vẫn còn giữ được cốt lõi đến ngày nay với hình thức rất đa dạng, phong phú và hấp dẫn Tín ngưỡng trong lễ hội truyền thống ở Tiền Giang có thể nói khá tiêu biểu cho tín ngưỡng ở vùng thuộc các tỉnh đồng bằng Sông Cửu Long Đặc điểm nổi bật của lễ hội truyền thống ở đây là sự hội tụ của nhân dân như ngày tết cổ truyền của dân tộc, qua lễ hội nhân dân thể hiện tình cảm uống nước nhớ nguồn, bộc bạch những ước mong, những ý tưởng lành mạnh, tốt đẹp cho cuộc sống hiện đại cũng như trong tương lai để xây dựng gia đình, quê hương giàu mạnh, đó chính là biểu hiện tích cực trong lối sống văn hóa
Ngày nay, trong công cuộc đổi mới toàn diện, đất nước đang trong quá trình mở cửa hội nhập Quốc tế, phát triển kinh tế thị trường bên cạnh những mặt tích cực thì những tác động tiêu cực đã ảnh hưởng trực tiếp đến những giá trị văn hóa truyền thống trong lễ hội nói chung Đặc biệt, trong những năm gần đây nhiều hiện tượng tiêu cực trong lễ hội như: mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh, thương mại hóa lễ hội, trộm cắp, ép giá, chèo kéo khách và nhiều biểu hiện tiêu cực khác, đôi lúc làm mờ đi lối sống văn hóa trong cộng đồng dân cư Bản thân lễ hội là một hoạt động mang tính linh thiêng, tâm linh mà lại chứa đựng những hành vi chạy theo tính thương mại và mục đích cá nhân
Trang 6làm mai một lối sống văn hóa tốt đẹp trong lễ hội truyền thống là điều không thể chấp nhận được Để cho nền văn hóa ấy phát triển bền vững thì công tác tuyên truyền xây dựng lối sống văn hóa trong lễ hội là yêu cầu rất cần thiết
hiện nay Với những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài “Công tác tuyên truyền
lối sống văn hóa qua các lễ hội truyền thống ở tỉnh Tiền Giang hiện nay”
để nghiên cứu
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, các bài viết đăng trên tạp chí ở Trung ương và các địa phương về vấn
đề này ở nhiều góc độ và phía cạnh khác nhau, dưới đây xin nêu một số tác giả và công trình tiêu biểu Trước hết là những công trình đã được in thành
sách của các nhà xuất bản:
- Văn hóa và lối sống đô thị Việt Nam - một cách tiếp cận” của tập thể
tác giả do PGS, TS Trương Minh Dục và TS Lê Văn Định đồng chủ biên: Các tác giả đã trình bày tổng quan về cơ sở lý luận và phương pháp tiếp cận nghiên cứu văn hóa và lối sống đô thị, các nhân tố ảnh hưởng và đi sâu phân tích sự hình thành, phát triển, đặc trưng về văn hóa và lối sống trong xã hội đô thị hiện đại ở một số đô thị lớn
- Lễ hội một nét đẹp trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng (1998) của Hồ
Hoàng Hoa: Tác giả đề cập đến tính mỹ học dân tộc trong lễ hội Việt Nam, tập trung vào việc phân tích tính thẩm mỹ và tính cộng đồng của lễ hội, chỉ ra những giá trị xã hội của lễ hội như các giá trị ích dụng, giá trị cộng đồng và giá trị về nhân cách Đây là kết quả của một tiến trình nghiên cứu lâu dài kết hợp với những chuyến đi thực địa quan sát tại chỗ nhiều lễ hội Việt Nam cũng như Nhật Bản dưới góc độ tìm hiểu chức năng và đặc biệt là những biểu hiện
đa dạng của cái đẹp trong lễ hội
- Một số công trình khác cũng đã lý giải được góc nhìn của lối sống văn
hóa gắn với các lễ hội với các chủ đề như: Các lễ hội truyền thống Việt Nam
Trang 7(2006) của Đỗ Hạ, Quang Vinh; Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam - Bộ Giáo dục và đào tạo (1998), do Nguyễn Như
Ý chủ biên; Lễ hội và du lịch văn hóa Việt Nam (2009) của Đoàn Huyền Trang; PGS.TS Lê Như Hoa (chủ biên): Lối sống trong đời sống đô thị hiện
nay, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội, 1993; PGS.TS Lê Như Hoa
(chủ biên): Lối sống đô thị miền Trung, mấy vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà
xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 1996; GS Trần Văn Bính (chủ biên):
Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001; TS Nguyễn Viết Chức
(chủ biên): Đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa Thủ đô trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Viện Văn hóa và Nhà xuất bản
Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, 2001; …
- Một số bài viết đi sâu phân tích những giá trị của lối sống mới trong
điều kiện hiện nay như: GS Đỗ Huy: Vấn đề xây dựng lối sống dân tộc hiện
đại ở nước ta hiện nay, Tạp chí Triết học, số 6, 1999; Phạm Ngọc Quang: Văn hóa một cách tiếp cận, Tạp chí văn hóa nghệ thuật, số 318/2-2010, tr7; Bùi
Hoài Sơn: Quản lý lễ hội với tư cách là di sản, Tạp chí văn hóa nghệ thuật, số 318/2-2010, tr32; Nguyễn Đắc Thủy: Lễ hội truyền thống và du lịch trong bối
cảnh giao lưu hội nhập, Tạp chí cộng sản, số 57/9-2011, tr36; TS Nguyễn
Hữu Thức: Khắc phục những lệch chuẩn trong tổ chức và quản lý lễ hội, Tạp chí tuyên giáo, số 3/2011, tr56; Phạm Huy Kỳ: Xây dựng lối sống mới trong
điều kiện hiện nay, Nghiên cứu Lý luận, số 7, 1999; Nguyễn Hữu Thức: Mấy suy nghĩ về xây dựng lối sống văn hóa cơ sở hiện nay, Tạp chí Thông tin lý
luận, số 8, 1999; ThS Hồ Tuyết Dung: Văn hóa thẩm mỹ với việc xây dựng lối
sống cho thanh niên đô thị hiện nay, Tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 11, 1999;
Nguyễn Chí Dũng: Xã hội hóa lối sống và xây dựng lối sống trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 5, 2000;
Trang 8Cao Văn Định: Giáo dục lối sống cho thanh niên đô thị hiện nay, Tạp chí Sinh hoạt lý luận, số 2, 2000; Vũ Hào Quang: Quan hệ giữa lối sống và cấu
trúc và xã hội của đám trẻ em lang thang, Tạp chí Tâm lý học, số 1, 2000; Bảo
Trung: Vấn đề đạo đức, lối sống cán bộ Đảng viên và một số giải pháp từ cơ
sở, Tạp chí Xây dựng Đảng, số 1, 2000; Lê Lâm Ứng: Lối sống mới của người Việt Nam, Tạp chí Quân đội nhân dân, số 26/1, 2001
Ngoài ra, còn có một số đề tài khoa học, luận văn thạc sĩ đề cập đến
vấn đề xây dựng lối sống: Lê Văn Dương: Cái phổ biến và cái đặc thù trong
việc hình thành lối sống xã hội chủ nghĩa, 1986; Lê Huy Ứng: Mấy vấn đề về lối sống trong chặng đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội,
1995; Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, các bài viết trên đã nêu khá
nhiều các vấn đề về lĩnh vực văn hóa và lối sống văn hóa, về lễ hội và lễ hội truyền thống; đồng thời mô tả diễn biến của các lễ hội truyền thống gắn với công tác xây dựng đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nào đi sâu nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động cũng như các giải pháp nâng cao công tác tuyên truyền xây dựng lối sống văn hóa qua các lễ hội truyền thống ®ối với tỉnh Tiền Giang
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận và thực tiễn về tuyên truyền lối sống văn hóa qua lễ hội truyền thống, luận văn đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền lối sống văn hóa qua các hoạt động lễ hội truyền thống ở tỉnh Tiền Giang hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Làm rõ một số vấn đề lý luận chung về tuyên truyền lối sống văn hóa qua
lễ hội truyền thống ở tỉnh Tiền Giang hiện nay
Khảo sát thực trạng lối sống văn hóa trên địa bàn tỉnh Tiền Giang gắn với các hoạt động lễ hội truyền thống
Trang 9Đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền lối sống văn hóa qua các lễ hội truyền thống tại địa phương
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4 1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là công tác tuyên truyền lối sống văn hóa qua các lễ hội truyền thống ở Tiền Giang hiện nay
4 2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu công tác tuyên truyền lối sống văn hóa qua một số lễ hội truyền thống tiêu biểu ở Tiền Giang (Lễ hội Nghinh Ông, Lễ hội Kỳ Yên,
Lễ hội Chiến thắng Ấp Bắc … từ năm 2005 đến nay)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên những lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; đồng thời kế thừa, tiếp thu những công trình có liên quan về tuyên truyền lối sống văn hóa qua các lễ hội truyền thống
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được tiến hành nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu: lôgic - lịch sử, phân tích - tổng hợp; quan sát, thống kê tài liệu, số liệu…
6 Cái mới của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ thêm những vấn đề
lý luận về lễ hội truyền thống và tuyên truyền lối sống văn hóa; đồng thời phân tích thực trạng một số lễ hội tiêu biểu gắn với đời sống tinh thần nhân dân ở tỉnh Tiền Giang Trên cơ sở phân tích, đánh giá khách quan về thực trạng những vấn đề nghiên cứu (mặt được và chưa được), tác giả đề ra một số
Trang 10giải pháp cơ bản, phù hợp, có tính khả thi để góp phần nâng cao hơn hiệu quả công tác tuyên truyền lối sống văn hóa qua các lễ hội truyền thống ở tỉnh Tiền Giang hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu các nội dung có liên quan đến đề tài đối với chuyên ngành công tác tư tưởng và chuyên ngành quản lý văn hóa - tư tưởng của khoa Tuyên truyền, học viện Báo chí và Tuyên truyền
Luận văn góp phần cung cấp cơ sở lý luận cho các cấp lãnh đạo địa phương, cán bộ làm công tác tuyên giáo và nhất là Ban Chỉ đạo thực hiện Phong
trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” ở tỉnh Tiền Giang
8 Cấu trúc luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo; phần nội dung chính gồm 3 chương, 10 tiết
Trang 11Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC TUYÊN TRUYỀN LỐI SỐNG VĂN HÓA QUA CÁC LỄ HỘI TRUYỀN THỐNG 1.1 Lễ hội truyền thống và lối sống văn hóa
1.1.1 Lễ hội truyền thống
1.1.1.1.Khái niệm lễ hội truyền thống
Tác giả Hoàng Hoa trong cuốn “Lễ hội một nét đẹp trong sinh hoạt văn
hóa cộng đồng” quan niệm: “Lễ hội là hai phạm trù hợp nhất thành một sinh
hoạt văn hóa cộng đồng hoàn chỉnh”, trong đó lễ “là nghi thức, là mở đầu cho hội làng” và hội “là những hoạt động, những trò diễn thường có tính lễ nghi theo một kịch bản mang tính ổn định với sự tham gia của một khối đông người mang tính cộng đồng cao”
Nghiên cứu về “Những tương đồng giữa các lễ hội cổ truyền Đông
Nam Á”, tác giả Trần Bình Minh đã đưa ra định nghĩa: “Lễ hội là một hình
thức sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt tinh thần và vật chất, tôn giáo tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng và đời thường… là một sinh hoạt
có sức hút một số lượng lớn những hiện tượng của đời sống xã hội”
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam thì: „Lễ hội là hoạt động của một tập
thể người liên quan đến tín ngưỡng và tôn giáo‟ Do nhận thức, người xưa rất tin vào trời đất, sông núi Vì thế, ở các làng xã thường có miếu thờ sơn thần, thủy thần, thổ thần… Lễ hội cổ truyền đã phản ánh hiện tượng đó Tôn giáo
có ảnh hưởng đáng kể đến lễ hội Tôn giáo thông qua lễ hội làm phương tiện
để phô trương thanh thế, ngược lại lễ hội thông qua tôn giáo để thần linh hóa những gì trần tục”
Người Việt Nam từ nhiều đời nay có truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” cho rằng: Lễ hội là sự kiện thể hiện truyền thống quý báu của cộng đồng, tôn vinh những hình tượng thiêng liêng, được định danh là những vị
Trang 12“thần”, những người có thật trong lịch sử dân tộc hay huyền thoại Hình tượng các vị thần linh đã hội tụ những phẩm chất cao đẹp của con người Đó
là những anh hùng chống giặc ngoại xâm; những người khai phá vùng đất mới, tạo dựng nghề nghiệp; những người chống chọi với thiên tai, trừ ác thú; những người chữa bệnh cứu người; những nhân vật truyền thuyết đã chi phối cuộc sống nơi trần gian, giúp con người hướng thiện, giữ gìn cuộc sống hạnh phúc Lễ hội là sự kiện tưởng nhớ, tỏ lòng tri ân công đức của các vị thần đối với cộng đồng, dân tộc Lễ hội là dịp con người được trở về nguồn, nguồn cội
tự nhiên hay nguồn cội của dân tộc đều có ý nghĩa thiêng liêng trong tâm trí mỗi người Lễ hội thể hiện sức mạnh cộng đồng làng xã, địa phương hay rộng hơn là quốc gia dân tộc Họ thờ chung vị thần, có chung mục tiêu đoàn kết để vượt qua gian khó, giành cuộc sống ấm no, hạnh phúc Lễ hội cũng là nhu cầu sáng tạo và hưởng thụ những giá trị văn hóa vật chất và tinh thần của mọi tầng lớp dân cư; là hình thức giáo dục, chuyển giao cho các thế hệ sau biết giữ gìn, kế thừa và phát huy những giá trị đạo đức truyền thống quý báu của dân tộc theo cách riêng, kết hợp giữa yếu tố tâm linh và các trò chơi đua tài, giải trí , Lễ hội là dịp để con người được giải tỏa, giãi bày phiền muộn, lo âu với thần linh, mong được thần giúp đỡ, chở che vượt qua những thử thách đến với ngày mai tươi sáng hơn
Như vậy, dù tiếp cận theo cách nào thì lễ hội cũng luôn luôn bao gồm hai phần chính là lễ và hội Lễ thể hiện mặt tinh thần, tôn giáo, tín ngưỡng, thể hiện tính linh thiêng Hội thể hiện mặt vật chất, văn hóa nghệ thuật, đời thường Lễ và hội gắn bó chặt chẽ với nhau tạo thành một hoạt động mang tính tập thể, cộng đồng cao Lễ thì bao gồm các nghi thức tế lễ theo một kịch bản nhất định còn hội thì bao gồm các hoạt động vui chơi giải trí và lễ hội thường được tổ chức nhân kỷ niệm một sự kiện xã hội quan trọng liên quan
đến cả cộng đồng.
Trang 13Lễ hội bao gồm hai phần lễ và hội
- Phần lễ: Là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn
kính của con người đối với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người trước cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện Lễ là phần thể hiện sự kính trọng của người dân đối với thế giới thần linh, những người có “uy lực”, có “sức mạnh”, mang màu sắc linh thiêng và thần bí Phần này bao gồm hai nghi thức chính là tế lễ và rước
- Phần hội: Là những sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng
đồng xuất phát từ nhu cầu cuộc sống, từ sự tồn tại và phát triển của cộng đồng,
sự bình yên cho từng cá nhân, hạnh phúc của từng gia đình Sự vững mạnh cho những dòng họ, sự sinh sôi nảy nở của gia súc, sự bội thu của mùa màng mà tự bao đời nay qui tụ niềm mơ ước chung vào bốn chữ “nhân khang, vật thịnh”
Tóm lại, tất cả các lễ hội đều mang những nét bản chất chung là tính chất linh thiêng của toàn bộ lễ hội, sự sùng bái các nhân vật lịch sử - văn hóa, suy tôn những biểu tượng được phụng thờ, là nhu cầu trở về cội nguồn tự nhiên xa xưa để khẳng định nguồn gốc cộng đồng và bản sắc văn hóa, là sự giải thiêng trong tâm thức, tâm lý và sinh hoạt cộng đồng (vui chơi, giải trí, ăn uống) Những bản chất này được biểu hiện ở tất cả các hiện tượng thuộc về lễ hội, từ những chi tiết nhỏ nhất đến những chi tiết lớn Mỗi lễ hội đều chứa đựng những giá trị văn hóa tiêu biểu như: tính cộng đồng và sự cố kết cộng đồng, tính chất tự quản, tinh thần dân chủ, nội dung của nhân bản Trong đó, hai yếu tố lễ (mặt thứ nhất - tinh thần, tôn giáo, tín ngưỡng, linh thiêng) và hội (mặt thứ hai - vật chất, văn hóa nghệ thuật, đời thường) giữa chúng phải được gắn bó chặt chẽ, hòa huyện với nhau không thể bỏ đi một yếu tố nào mà không làm mất đi bản thân nó
Lễ hội truyền thống là loại hình sinh hoạt văn hóa, sản phẩm tinh thần của người dân được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Gắn liền
Trang 14với dòng chảy của lịch sử, Lễ hội truyền thống là một bảo tàng phong phú về đời sống văn hóa - tinh thần của dân tộc Sức lan tỏa, tác động của nó diễn ra liên tục và mạnh mẽ đến tâm hồn, tư tưởng, tình cảm, đạo đức, cốt cách của bao thế hệ con người Đồng thời nó cũng phản ánh quá trình lao động và chiến đấu đầy khí phách của nhân dân cùng những biến cố xã hội quan trọng
Lễ hội truyền thống trong nhiều thập kỷ qua có những biến đổi lớn Trong những năm chiến tranh, hầu hết các địa phương đều không tổ chức được lễ hội Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước,
do nhiều lẽ, cùng với nhận thức còn đơn giản của nhiều người đã đánh đồng các dạng thức tín ngưỡng dân gian truyền thống với hủ tục mê tín đã dẫn đến các biện pháp mạnh mẽ và cấm đoán các hoạt động lễ hội ở các đình, đền, miếu, có nơi xem lễ hội ở đình miếu làng xã là di sản của phong kiến lạc hậu
Từ đó các di tích văn hóa - lịch sử như đình, miếu, đàn, từ phải chịu
“hương tàn khói lạnh” có một thời gian khá dài cơ sở vật chất bị hủy hoại,
nhưng lễ hội vẫn sống trong tâm thức của mọi người
Ở góc độ lịch sử văn hóa thì các hoạt động lễ hội truyền thống tín
ngưỡng dân gian là những biểu hiện “Tâm thức truyền thống” của văn hóa
dân tộc, khu biệt với các dạng tâm thức có được từ các trào lưu văn hóa - tôn giáo ngoại nhập Bên cạnh đó, các yếu tố kiến trúc, mỹ thuật, hình thức diễn
xướng, nghi lễ nói chung là những yếu tố cấu thành lễ hội dân gian - truyền
thống, là cái nền cơ bản tạo nên tính dân tộc xét trên diện rộng, đồng thời tạo nên bản sắc văn hóa xét ở góc độ địa phương, việc kế thừa và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong đó có lễ hội truyền thống đang là vấn đề được nhiều người quan tâm Tuy nhiên, trong công cuộc hiện đại hóa đất nước, vấn đề tổ chức lễ hội văn hóa truyền thống, có những nghi tiết đã không còn phù hợp; đồng thời cũng đã xuất hiện những hiện tượng lệch chuẩn về hình thức và ý nghĩa nội dung khiến cho việc bảo tồn bản sắc văn hóa thông qua hoạt động lễ
Trang 15hội gặp nhiều khó khăn Mặt khác, những năm gần đây đã nảy sinh hiện tượng “đánh đồng” giữa tín ngưỡng và mê tín tạo nên tình trạng không phân biệt rạch ròi giữa các nghi thức hành lễ mang tính văn hóa của các tập tục tín ngưỡng, hoặc lợi dụng danh nghĩa bảo vệ văn hóa dân tộc làm dịch vụ “buôn thần bán thánh”, làm phức tạp thêm đời sống văn hóa và môi trường xã hội
Một hiện tượng phát sinh khác là việc trùng tu, tôn tạo các cơ sở hoạt động lễ hội, bao gồm: Đình, miếu, đàn, từ đã hủy hoại khá nhiều các công trình kiến trúc điêu khắc có giá trị mỹ thuật mà đáng lẽ phải bảo tồn nguyên trạng hay gia cố có ý thức hơn, để lưu giữ di sản văn hóa vật chất cho các thế
hệ sau Đặc điểm quan trọng là đại bộ phận quần chúng ở nông thôn gắn liền đời sống tâm linh của họ vào các cơ sở tín ngưỡng dân gian (phân biệt với tín ngưỡng đạo giáo) và các tổ chức lễ hội Thông qua các hoạt động này nhằm thể hiện tinh thần đoàn kết xóm làng, giáo dục đạo đức cho các thế hệ con cháu biết “uống nước nhớ nguồn” Bên cạnh đó, những nghi tiết trong lễ hội truyền thống đóng vai trò bảo lưu bản sắc văn hóa dân tộc của cộng đồng dân cư; quan trọng hơn nó góp phần làm phong phú thêm các sinh hoạt văn hóa ở
cơ sở, hạn chế các trào lưu văn hóa ngoại nhập mà trong đó chứa đựng nhiều thành tố không phù hợp và cả những sản phẩm phản văn hóa Do vậy nghiên cứu lễ hội truyền thống nhằm tạo cơ sở khoa học giúp cho việc định hướng công tác bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa ở địa phương
Với các quan điểm cơ bản của các nhà nghiên cứu cùng với các hoạt động
thực tiễn trong đời sống xã hội, có thể hiểu lễ hội truyền thống như sau: Lễ hội
truyền thống là một sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt: tinh thần và vật chất, tôn giáo tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật, linh thiêng và đời thường, được hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Đó là một sinh hoạt có quy mô lớn về tầm vóc, có sức cuốn hút một số lượng lớn các tầng lớp nhân dân, những hoạt động của đời sống xã hội
Trang 161.1.1.2 Phân loại lễ hội truyền thống
Xác định Lễ hội bao gồm Hội và Lễ là một đóng góp về lý thuyết Nó dẫn đến sự khẳng định hai điểm có vẻ đối lập, nhưng lại được dung hòa trong một hoạt động chung là tính trần thế, tính thiêng liêng, tính vui vẻ và tôn nghiêm Và có như vậy mới tìm thấy giá trị ý nghĩa nhiều mặt của Lễ hội như: Giá trị lịch sử và giá trị văn hóa, ý nghĩa tâm linh và ý nghĩa thực tiễn Lễ hội biểu lộ nhiều hình thức văn hóa ứng xử: giữa con người và thần linh, giữa con người với biểu tượng, giữa công chúng và người tổ chức, giữa công chúng với nhau, giữa con người với thiên nhiên và với chính mình Việc phân loại các dạng của lễ hội truyền thống có thể xét và căn cứ theo hai cách như sau:
Xét theo cấp độ tổ chức và qui mô xã hội, có 3 loại lễ hội truyền thống:
- Lễ hội gia đình: Những lễ tiết (có thể kết hợp yếu tố hội) gắn với các
mốc chuyển đoạn đời người và qui mô diễn ra chủ yếu trong gia đình như sinh nhật, đám cưới, tang, giỗ, … hoặc các sinh hoạt khác liên quan đến phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng của cộng đồng gia đình
- Lễ hội làng và vùng: Những lễ hội đã được thiết chế hóa về cơ sở vật
chất, đội ngũ phục vụ tổ chức, quản lý và các hoạt động chuyên môn mang nét đặc thù và tương đối nề nếp ổn định Các lễ hội này thường gắn với các cơ
sở tín ngưỡng, tôn giáo như đình, miếu, lăng, đền, … và chi phối mạnh mẽ một cộng đồng người rộng lớn (ít nhất là một làng - xã)
- Lễ hội quốc gia, dân tộc: Những lễ hội chi phối và ảnh hưởng sâu
rộng tới mọi thành viên trong cộng đồng dân tộc, quốc gia như: Lễ hội thờ Quốc Tổ (Hùng Vương); Lễ hội thờ Quốc Mẫu (Pô Inư Nagar của người chăm), các ngày Lễ, Tết (lễ hội theo tiết mùa) của các dân tộc, …
Căn cứ vào đặc điểm, nội dung và đối tượng cử lễ, có 5 loại lễ hội:
- Lễ hội gắn với các nghi lễ nông nghiệp cổ truyền: Lễ hội tái hiện lại
những lễ nghi liên quan tới chu trình sản xuất nông nghiệp hoặc biểu dương,
Trang 17rước thờ các sản phẩm của sản xuất nông nghiệp như: lễ hội trình nghề, lễ hội mừng cơm mới sau vụ mùa…
- Lễ hội tưởng niệm các nhân vật lịch sử dân tộc: Lễ hội phản ánh cuộc
đấu tranh giữ nước, giữ làng gồm những lễ hội thờ các vị thần là các vị tướng lĩnh, các vị anh hùng dân tộc, diễn tả lại những sự kiện lịch sử, các trận đánh như: hội Gióng, hội Giá…, các lễ hội có các trò diễn thờ các vị thần là người
có công bảo vệ làng xã, chống giặc, chống thú dữ…
- Lễ hội nhằm sinh hoạt văn nghệ, giải trí, thi tài: Lễ hội có phần hội là
các cuộc thi hát các làn điệu dân ca, các cuộc thi thể hiện các trò chơi dân gian như đua thuyền, múa lân, kéo co, nhảy bao bố (Lễ hội có các trò diễn đáp ứng hay phản ánh đời sống văn hóa tinh thần, phong tục, tín ngưỡng, tôn giáo của người dân)
- Lễ hội gắn với tín ngưỡng phồn thực và giao duyên: Lễ hội phồn thực
giao duyên là lễ hội gắn với quan niệm tín ngưỡng phồn thực cầu mong sự sinh sôi nảy nở cho con người, cây trồng, vật nuôi Trong hội người ta rước, thờ, cướp các hình mẫu sinh thức khí như hội cướp kén, hội cướp bông, hội chen…
- Lễ hội tôn vinh truyền thống nghề nghiệp: Lễ hội phản ánh cuộc sống
lao động sản xuất của nhân dân gồm: các lễ hội về săn bắt, đánh cá, khai thác lâm thủy, hải sản, các lễ hội về những sinh hoạt nông nghiệp hoặc liên quan đến sản xuất nông nghiệp như: cầu ngư, chăn nuôi, trồng lúa, các nghề thủ công của nhân dân…
Có thể nói các hình thức lễ hội là hết sức phong phú và đa dạng bởi nó được sinh ra để phản ánh các mặt của đời sống cũng như các nhu cầu, nguyện vọng của con người ở mỗi thời kỳ Lễ hội truyền thống là một bộ phận trong đời sống tinh thần của xã hội, là cơ sở rất quan trọng để giữ gìn và phát huy
những bản sắc văn hóa của dân tộc Mỗi lễ hội truyền thống ở nước ta xưa
nay đều có nguồn gốc, đặc điểm, vị trí, chức năng riêng trong đời sống văn
Trang 18hóa tinh thần của nhân dân nhưng nói chung đều tồn tại như là một bảo tàng văn hóa Vì vậy, việc nghiên cứu các lễ hội truyền thống có nhiều ý nghĩa, trong đó có thể nhấn mạnh: „Nếu biết cách lần lượt bóc tách các tầng lớp văn hóa khác nhau đã bồi tụ chồng chất lên nhau trong các lễ hội truyền thống thì
có thể tìm hiểu lịch sử xã hội, lịch sử văn hóa của từng làng, từng vùng và của toàn thể đất nước… Việc làm ấy còn có thể giúp chúng ta hiểu tiến trình tiếp
biến văn hóa và những quy luật của tiến trình này‟
1.1.1.3 Đặc điểm lễ hội truyền thống
Nhìn trên tổng thể, lễ hội truyền thống của người Việt ở Nam Bộ không
có những khác biệt lớn so với lễ hội ở miền Bắc hay miền Trung Trên nhiều phương diện từ lịch sử hình thành, mục đích, nghi thức lễ, không gian và thời gian lễ hội cho đến những nhu cầu về tâm lý, tâm linh và ước vọng của người tham gia lễ hội Tuy nhiên, cũng như những hiện tượng văn hóa và tinh thần khác, lễ hội truyền thống của một dân tộc thường chịu sự tác động trực tiếp của những điều kiện địa lý, kinh tế, xã hội, lịch sử của môi trường mà nó hình thành và tồn tại Do vậy lễ hội truyền thống của người Việt ở Nam Bộ, bên cạnh những nét chung còn có những sắc thái đặc thù mang dấu ấn địa phương Điều đó không hề mâu thuẫn với cái chung, mà góp phần tạo nên sự phong phú, đa dạng của bản sắc văn hóa dân tộc, khẳng định sức sống mạnh mẽ của
tư tưởng, tình cảm của cộng đồng Dưới dây là những đặc điểm nổi bật nhất:
Trang 19hội của miền Bắc không chỉ là sản phẩm tinh thần, văn hóa của một khu vực dân
cư mà còn mang tầm vóc của quốc gia Trong khi đó, những lễ hội ở miền Nam nói chung được hình thành muộn màng sau nhiều thế kỷ, thường các lễ hội ở đây
có tuổi đời gắn liền với lịch sử khai phá và xác lập trọn vẹn vai trò chủ nhân của vùng đất phương nam Tổ quốc Ngay cả lễ hội tương đối lâu đời nhất ở đây như
lễ hội Nghinh Ông vốn bắt nguồn từ tục thờ cá voi của người Chămpa cũng chỉ dừng lại ở các mốc niên đại trên dưới 500 năm, tính từ khi đất Thuận Hóa sáp nhập vào bản đồ nước Việt Có thể coi lễ hội của người Việt ở Nam Bộ là một chặng đường nằm trong dòng chảy liên tục của nền văn hóa dân gian Việt Nam theo hình thế đất nước từ Bắc xuống Nam Nó vừa kế thừa những di sản tinh thần, văn hóa lâu đời của dân tộc, vừa phát huy và tiếp nhận những nhân tố mới
từ thực tiễn lịch sử, sáng tạo nên những nét sinh hoạt văn hóa mới nhằm đáp ứng những nhu cầu của đời sống tình cảm, tâm linh của cộng đồng cư dân nơi vùng đất mới khai phá Cái gốc bền vững của dân tộc vẫn được giữ gìn, vun đắp, bảo lưu; đồng thời tiếp nhận những cái hay, cái đẹp của các cư dân bản địa để làm phong phú, đa dạng thêm kho tàng văn hóa dân tộc
- Về qui mô của một số lễ hội chính
Mật độ lễ hội trong sinh hoạt tinh thần, văn hóa ở Nam Bộ rõ ràng là thưa thớt hơn so với miền Bắc Nếu như ở Miền Bắc lịch sinh hoạt lễ hội đã được đúc kết thành hàng chục câu ca dao, tục ngữ in sâu trong trí nhớ dân gian:
“Tháng giêng ăn Tết ở nhà, tháng hai cờ bạc tháng ba hội hè”, hoặc “Mồng bảy hội Khám, mồng tám hội Dâu, mồng chín đâu đâu trở về hội Đóng”,…thì ở Trung Bộ và Nam Bộ khó có thể tìm ra những câu ca như thế, dù rằng trong thực tế các lễ hội ở đây vẫn diễn ra đều đặn theo định kỳ hàng năm, có sức cuốn hút đông đảo các tầng lớp xã hội cả một phạm vi rộng lớn và không khí sùng bái, say vui cũng không kém phần cuồng nhiệt Đây là đặc điểm khá cụ thể trong vùng, miền của lễ hội truyền thống ở nước ta nói chung
Trang 20Một số lễ hội ở Nam Bộ có qui mô lớn như: Lễ hội Bà Chúa Xứ ở núi
Sam (An Giang) từ 23 đến 27 tháng tư Âm lịch với số người dự có năm lên
đến gần một triệu người từ các tỉnh, thành cả nước đổ về Lễ hội đền Linh Sơn
Thánh Mẫu ở núi Bà Đen (Tây Ninh) từ 10 đến 15 tháng giêng Âm lịch
thường đông đến hai, ba vạn người, đặc biệt trong thời gian gần đây có năm
tăng gấp đôi so với thường lệ Lễ hội Lăng Ông Bà Chiểu (nơi thờ Tả quân Lê
Văn Duyệt) từ 30 tháng 7 đến mồng 3 tháng 8 Âm lịch, có ưu thế là nằm ngay tại nội thành Thành phố Hồ Chí Minh nên số người dự rất đông, qui mô tổ chức, nghi lễ rất lớn; suốt những ngày lễ hội dòng người hành hương từ nhiều nơi đổ về liên tục cả ngày đêm Hội Lăng Ông phản ánh ký ức sâu đậm và lòng biết ơn của dân chúng đối với một vị phúc thần mà lúc sinh thời đã có công trong việc khai phá và xây dựng vùng đất Gia Định xưa (Nam Bộ) thành
một khu vực trù phú, nhưng sau khi chết lại chịu nhiều oan khuất Lễ hội
Nghinh Cô (thị trấn Long Hải, Bà Rịa - Vũng Tàu) vốn xuất phát từ một tín
ngưỡng dân gian của ngư dân gắn liền với truyền thuyết về một cô gái chết bất đắc kỳ tử và sau trở nên hiển linh, có sức thu hút số người dự hội lên đến hàng chục vạn, có những tàu thuyền cách xa hàng trăm hải lý cũng có mặt
trong những ngày lễ hội Lễ hội Kỳ Yên, lễ hội lớn nhất ở đình Vĩnh Bình,
huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang từ ngày 14 đến 16 tháng chạp Do quan niệm Thánh mẫu rất thiêng nên lễ viếng Bà tại Miếu đưa linh vị thần đến miếu Bà, cúng tế Bà rất long trọng Dân làng mang lễ vật đến dâng, sau đó tổ chức các trò chơi dân gian kéo dài suốt ban ngày, ngoài ra còn có múa lân, diễn tuồng hàng đêm
Trong những năm gần đây, nhiều địa phương tổ chức lễ hội truyền thống theo những yếu tố đương đại tạo nên tính hoành tráng về nghi thức, diễn xướng, điều đó đã tạo được lòng tự hào của người dân về lễ hội, đó cũng chính là sức mạnh tinh thần để lễ hội sống trong lòng cộng đồng Ở đặc điểm
Trang 21qui mô này qua nghiên cứu cho thấy hầu hết các lễ hội truyền thống của dân tộc, vùng, miền đều mang ý nghĩa sâu xa là sự mong đợi của từng nhóm đối tượng để đi đến các biện pháp tác động tương ứng với các nhóm đối tượng đó
Về mặt kết cấu chương trình, bên cạnh những lõi văn hóa của lễ hội truyền thống, nhà tổ chức phải sáng tạo thêm những trò diễn, diễn xướng hoặc những festival nghệ thuật bổ trợ kết hợp giữa truyền thống và hiện đại sao cho những sáng tạo đó vừa mới, vừa độc đáo, vừa hấp dẫn giới trẻ nhưng lại phải phù hợp với những điều kiện không gian, lịch sử và văn hóa của địa phương
- Lễ hội truyền thống với tư cách là một di sản
Trên bình diện quốc tế, thuật ngữ di sản có lịch sử của nó Hội nghị Di
sản toàn quốc (Anh) đã coi di sản “là những gì thuộc thế hệ trước giữ gìn và
chuyển giao cho thế hệ hiện nay và những gì mà một nhóm người quan trọng
Định nghĩa này chỉ ra rằng di sản là sự lựa chọn về mặt văn hóa, tập trung vào
sự bảo tồn Trải qua thời gian, khái niệm di sản đã có sự thay đổi, di sản được
coi “là tài sản do cha và mẹ để lại”, di sản được coi “là sở hữu tài sản do tổ
tiên chuyển giao” rồi thêm “tài sản văn hóa của một cộng đồng, một đất nước của nhân loại” và giờ đây người ta bắt đầu nói đến khái niệm di sản văn hóa phi vật thể bên cạnh khái niệm di sản văn hóa vật thể, cũng như đặt các vấn
đề liên quan đến ý thức hệ và quan điểm của mỗi thời đại ảnh hưởng đến khái niệm về di sản
Lễ hội truyền thống được xem là một phạm trù thuộc khái niệm di sản văn hóa phi vật thể Đây là một khái niệm được thu hút nhiều sự chú ý trong thời gian gần đây, trong đó UNESCO đã thảo ra một công ước về việc bảo vệ
di sản văn hóa này Và trong các loại hình di sản văn hóa phi vật thể, lễ hội truyền thống được xem là một loại hình di sản tiêu biểu, nó có đặc điểm là một hiện tượng xã hội tổng thể với một số đặc trưng chủ yếu: là một dạng
Trang 22sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh, là dịp biểu dương sức mạnh của cộng đồng địa phương; dịp đoàn kết, giáo dục truyền thống cộng đồng, hội chợ trưng bày các sản phẩm địa phương và các vùng khác; các trò chơi giải trí, thể thao, địa điểm hành hương, du lịch, …Tất cả những đặc trưng trên đều gắn với một đặc điểm là một sản phẩm của quá khứ được giữ gìn cho hiện tại và mai sau, và là một di sản văn hóa của cộng đồng
1.1.2 Lối sống văn hóa
1.1.2.1 Khái niệm lối sống
Trong một xã hội, mỗi nhóm người, mỗi con người đều tồn tại và phát triển trong mối quan hệ với tự nhiên, với người này và người khác trong một cộng đồng lịch sử nhất định Do phải sống, tồn tại và phát triển, con người đã sản xuất ra của cải vật chất để nuôi sống mình và phát triển xã hội Cùng với việc sản xuất ra của cải vật chất, con người đã sản xuất ra của cải tinh thần và những thiết chế của nền tảng văn hóa như lao động, gia đình, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, …để duy trì sự ổn định và phát triển của mình; trong quá trình đó mỗi cộng đồng xã hội đã tạo ra cách sống, phương thức sống và các hình thức sống riêng biệt Theo quan niệm của chủ nghĩa duy vật về lịch sử thì các cách sống, các phương thức sống, các hình thức hoạt động sinh sống của con người từ lao động, giao tiếp, gia đình và nhân cách trong một môi trường tự nhiên và xã hội nhất định được gọi là lối sống
Xây dựng lối sống là một nhiệm vụ quan trọng Chính điều đó, đã thu hút sự quan tâm của rất nhiều tác giả ở nước ta, trong đó có cả lãnh tụ cách mạng Người đầu tiên đề xuất vấn đề xây dựng lối sống mới là Chủ tịch Hồ
Chí Minh Cuốn sách Đời sống mới của Người dưới bút hiệu Tân Sinh được
Ủy ban Trung ương vận động Đời sống mới xuất bản vào tháng 3-1947 Tiếp
đó, dưới bút hiệu XYZ, Bác viết quyển Sửa đổi lề lối làm việc, nhà xuất bản
Sự thật in vào năm 1950 Cả hai quyển sách này mặc dù chưa nêu lên khái
Trang 23niệm lối sống nhưng đều đề cập đến những tinh thần cơ bản của lối sống mới
có văn hóa Ở lời tựa của quyển Đời sống mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết:
“Trong lúc kháng chiến, chúng ta đồng thời phải kiến quốc Thực hành đời sống mới là một điều cần kịp cho công cuộc cứu quốc và kiến quốc”
Xây dựng lối sống mới là yêu cầu mà thực tiễn cuộc sống đặt ra, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào của quá trình cách mạng nước ta, ngay cả trong chiến tranh Tuy nhiên, trong tình hình của các cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, vấn đề này chưa có điều kiện để được đề cập nhiều trên bình diện lý luận Từ sau ngày thống nhất đất nước năm 1975, tiếp thu lý luận về xây dựng “lối sống Xô viết” của Liên Xô, vấn đề xây dựng lối sống được đặt ra tại Đại hội Đảng lần thứ IV (1976) và thứ V (1981)
Ở Việt Nam, Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IV dùng khái niệm “nếp sống mới có văn hóa” và đề ra nhiệm vụ: “ vận động một cách kiên trì và sâu rộng để tạo ra nếp sống mới có văn hóa trong xã hội: đưa cái đẹp vào đời sống hàng ngày, vào lao động sản xuất” Đến Đại hội Đảng lần thứ V, khái niệm “lối sống mới” được sử dụng, Văn kiện Đại hội viết: “ cuộc đấu tranh giữa hai con đường, giữa cái mới và cái cũ, tiên tiến với lạc hậu, tiến bộ với phản động, trên lĩnh vực văn hóa, tư tưởng và lối sống đang diễn ra hàng ngày rất phức tạp” Đại hội Đảng lần thứ VI mở ra thời kỳ đổi mới Trong điều kiện này, xây dựng lối sống trở thành nhiệm vụ cấp bách, từ đó việc nghiên cứu lối sống được đặt ra khá phong phú, đa dạng cả bề rộng, chiều sâu
Xét trên phương diện xã hội, lối sống là một phạm trù thuộc lĩnh vực đời sống tinh thần xã hội Nó có nội dung rộng lớn và có tính lịch sử cụ thể Nói lối sống chính là nói phương châm sống, lý tưởng sống gắn liền với sự nhận thức ý nghĩa cuộc sống, ý nghĩa sự tồn tại của loài người nói chung và từng con người cụ thể Từ đó, đề ra toàn bộ sự ứng xử trong quan hệ với lao động, với cộng đồng xã hội, với gia đình, với từng cá nhân Vì lẽ đó, lối sống
Trang 24chính là bộ mặt văn hóa của một xã hội Xét trên phương diện cá nhân, lối sống là sự biểu hiện của đạo đức Cơ sở của vấn đề này là ở chỗ lối sống thể hiện quan điểm, quan niệm sống của từng cá nhân quy định đặc điểm của cá nhân, còn đạo đức là một hình thái ý thức xã hội bao gồm những quan niệm, quan điểm, những quy tắc, nguyên tắc, chuẩn mực xã hội Qua đó, con người
tự giác nhận thức, tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp trước những lợi ích đặt ra Một cá nhân có ý thức đạo đức cao thì thể hiện lối sống
có đạo đức Ngược lại, một cá nhân không có đạo đức thì thể hiện lối sống trái với những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội Đạo đức là cái cốt lõi, cái bản chất tạo nên phương hướng và sắc thái của lối sống
Lối sống là một khái niệm rộng bao hàm các khái niệm nếp sống, lẽ sống, cách sống, mức sống Cụ thể: Nếp sống là những hành vi ứng xử của con người được lặp đi lặp lại nhiều lần thành nếp, thành thói quen Lẽ sống là mặt ý thức của lối sống, là ý nghĩa cuộc sống mà con người tự nhận thức, tự hành động vì lý tưởng cao đẹp, vì lợi ích của xã hội - cộng đồng Cách sống là chỉ một nghĩa hẹp cụ thể, một kiểu sống có tính chất cá tính Mức sống là trình độ thỏa mãn nhu cầu của con người chủ yếu về vật chất Cho nên, mức sống là một chỉ báo về lối sống nhưng không phải là điều kiện quyết định lối sống … Các khái niệm này nằm trong phạm vi của lối sống Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, chúng ta nghiên cứu lối sống trước hết từ phương thức hoạt động sản xuất của con người Phương thức sản xuất là điều kiện kinh tế - xã hội của lối sống Tuy nhiên, không thể đồng nhất phương thức sản xuất với lối sống, bởi lẽ lối sống là một hình thức hoạt động, một phương thức sinh sống nhất định của con người nên có tính lịch sử cụ thể Trong xã hội có giai cấp, lối sống cũng mang tính giai cấp Ví như trong cùng một phương thức sản xuất, lối sống có sự khác nhau giữa chủ nô và nô lệ, giữa giai cấp phong kiến với nông dân, giữa tư sản với vô sản Phạm vi của lối sống rộng
Trang 25hơn phạm vi của phương thức sản xuất, vì nó bao hàm tất cả các hoạt động sống của con người như: hoạt động sản xuất, hoạt động xã hội, hoạt động chính trị, hoạt động tư tưởng văn hóa, các hoạt động về thể chất và rèn luyện
cá nhân Nhìn vào lối sống ta có thể đánh giá cao hoặc thấp về trình độ phát triển văn hóa của một xã hội Cho nên, khi nói lối sống văn hóa là hàm chỉ những ý nghĩa chính: lối sống là sản phẩm văn hóa tinh thần của xã hội, của tập đoàn người được biểu hiện ra trong từng lối sống cá nhân có văn hóa và lối sống văn hóa thực chất là hàm chỉ lối sống có văn hóa cao Như vậy, lối sống là một hình thức biểu hiện của văn hóa Phương thức sản xuất là một hình thức hoạt động sinh sống nhất định của con người, là mặt cơ bản của lối sống, thông qua đó mà con người biểu hiện đời sống của mình, biểu hiện bản thân mình Theo chúng tôi, tìm hiểu lối sống, trước hết, phải bắt đầu từ phương thức sản xuất của con người, ở cả hai mặt: quan hệ với tự nhiên (lực lượng sản xuất) và quan hệ với xã hội (quan hệ sản xuất) Phương thức sản xuất là điều kiện kinh tế - xã hội của lối sống Phương thức sản xuất như thế nào thì phương thức sống như thế ấy
Nói rằng lối sống bị quy định bởi hoàn cảnh khách quan của xã hội, bởi những điều kiện sống của giai cấp, các dân tộc, … không có nghĩa là loại trừ khả năng lựa chọn của con người về một hình thức hoạt động nào đó Những phương hướng có mục đích rõ ràng, những định hướng giá trị của con người tạo nên mặt chủ quan của lối sống Lối sống của con người phải được hiểu trong sự thống nhất giữa mặt lượng và mặt chất Nhân tố quyết định mặt chất của lối sống là tính chất của chế độ xã hội, địa vị giai cấp trong hệ thống các quan hệ kinh tế và chính trị Các nhân tố quyết định mặt lượng là trình độ phát triển của sức sản xuất và tiêu dùng, thể hiện trước hết ở mức sống và một
số chỉ tiêu khác
Trang 26Theo các cách tiếp cận trên, lối sống là bộ mặt văn hóa của một xã hội Cho nên, lối sống là một phạm trù cơ bản của khoa học xã hội, một vấn đề phong phú, đa dạng và phức tạp Từ trước đến nay, về lối sống, đã có nhiều nhà nghiên cứu đưa ra những định nghĩa khác nhau, tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, ở một khía cạnh nhất định, khái niệm lối sống sau đây
là hợp lý hơn:
Lối sống là một phạm trù xã hội học, khái quát toàn bộ hoạt động sống của các dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân, trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định và biểu hiện trên các lĩnh vực của đời sống: trong lao động và hưởng thụ; trong quan hệ giữa người với người; trong sinh hoạt tinh thần và văn hóa [64, tr 8]
1.1.2.2 Khái niệm lối sống văn hóa
Một trong những điều bình thường, giản dị nhất, nhưng cũng là cốt lõi
nhất đã làm nên văn hóa Hồ Chí Minh là ”lời nói luôn đi đôi với việc làm”
Tiếp tục đề cập về vấn đề văn hóa trong dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, TS Lê Trung Kiên - Giảng viên Viện Văn hóa và Phát triển - Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia
Hồ Chí Minh phân tích, trong bản dự thảo Cương lĩnh 2011 đã bổ sung nhiều
nội dung quan trọng, trong đó góp ý bổ sung nội dung “lời nói luôn đi đôi với
việc làm” Xét thực trạng đời sống văn hóa xã hội hiện nay, Đảng và Nhà
nước ta cũng đang chú ý nhiều đến việc xây dựng văn hóa Đảng, văn hóa chính trị Điều lệ Đảng Cộng sản đã xác định rất rõ là Đảng ta lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình Trong nhiều năm qua, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã và đang triển khai tích cực cuộc vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh Một trong những điều bình thường, giản dị
Trang 27nhất, nhưng cũng là cốt lõi nhất đã làm nên văn hóa Hồ Chí Minh mà chúng
ta đã nhận biết được một cách sâu sắc trong tư tưởng và trong hành động của
Người về phong cách làm việc, lối sống văn hóa là „lời nói phải đi đôi với
việc làm’ Trên thực tiễn cuộc sống, sự không thống nhất giữa lời nói và việc
làm, nói một đằng làm một nẻo hay chỉ nói mà không làm sẽ làm mất đi nhân cách con người Nếu là người cán bộ thì vấn đề không chỉ là nhân cách con người bị mất mà còn mất đi lòng tin, tình yêu của người dân với cán bộ của Đảng Sự không thống nhất giữa lời nói và hành động, lời nói không đi đôi với việc làm là một biểu hiện nổi trội nhất, dễ nhận biết nhất của sự xuống cấp, suy thoái về đạo đức, lối sống con người, đặc biệt là người cán bộ đảng viên Xuất phát từ những nhận thức như vậy, TS Lê Trung Kiên đề nghị bổ sung vào dự thảo Cương lĩnh 2011, nội dung thứ III: “Những định hướng lớn
về phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại” tại mục
6 khổ thứ nhất, câu thứ hai mấy chữ: “lời nói luôn đi đôi với việc làm” để câu
này được trọn vẹn như sau: “… Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính
và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao, lời nói luôn đi đôi với việc làm.…”
Con người có văn hóa luôn kết hợp hài hòa hai yếu tố căn bản gồm: Hành vi ứng xử đúng mực, luôn nhã nhặn lịch thiệp, kính trên nhường dưới, biết tôn trọng thuần phong mỹ tục, cổ vũ cái tốt và đấu tranh chống cái xấu,
có trách nhiệm công dân; hành động thiết thực nhằm quảng bá lối sống đẹp,
có tri thức cao nhưng phải biết khuếch tán giá trị tri thức với cộng đồng Như vậy, tri thức và lối sống tạo nên nhân cách hoàn chỉnh của con người có văn hóa, nhưng cái gốc vẫn là tính nhân bản sâu sắc Tựu trung lại, con người có văn hóa không thể tách rời những tố chất cần thiết của tinh hoa truyền thống
Trang 28dân tộc, đồng thời cần khẳng định rằng trình độ tri thức cao luôn phải gắn liền lối sống nhân văn lương thiện, sống có ích cho gia đình và xã hội
Đối lập với lối sống văn hóa, lối sống thực dụng (thường thể hiện trong lối sống của thế hệ trẻ), đó là kết quả nhận thức về thực trạng suy thoái trong lối sống, thực trạng của lối sống thiếu văn hóa của một bộ phận dân cư hiện nay Lối sống văn hóa ở đây được hiểu là sự hài hòa trong ứng xử để đạt đến các chuẩn mực, đạo đức của xã hội Trong điều kiện hiện nay, khi văn hóa được nhận thức như là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội; mục tiêu và động lực đó đã
được Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII) xác định “xây dựng và
phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc” Thực tế
trong nội dung xây dựng lối sống văn hóa là bao gồm nhiều hoạt động xã hội gắn với đời sống văn hóa từ khu phố văn hóa, gia đình văn hóa, cá nhân ứng
xử, giao tiếp có văn hóa …, văn hóa ở đây là thước đo của sự hài hòa, của chuẩn mực đạo đức
Từ cách tiếp cận từ góc độ thực tiễn mà xã hội đang đặt ra, cho nên chúng ta có thể hiểu lối sống văn hóa phải đáp ứng được đòi hỏi của sự phát triển của xã hội, biểu hiện trong ứng xử với tự nhiên, với xã hội và với bản thân mình Lối sống có văn hóa bao gồm các đặc điểm cơ bản: Có tinh thần yêu nước, yêu lao động và luôn sáng tạo trong lao động, có đạo đức trong sáng phù hợp được xã hội thừa nhận, có tinh thần tập thể và ý thức kỷ luật cao, không ngừng học tập và nâng cao trình độ về mọi mặt Như vậy, khái
niệm lối sống văn hóa có thể hiểu: Lối sống văn hóa là lối sống hướng đến
yêu cầu về phẩm chất văn hóa của việc xây dựng lối sống trong cộng đồng theo hướng tích cực, đồng nghĩa với lối sống đẹp thể hiện trong lẽ sống, nếp sống của con người
Trang 291.1.2.3 Cấu trúc lối sống văn hóa
Lối sống văn hóa của con người người luôn kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố căn bản giữa nhận thức và hành vi: Nhận thức trước hết là phải có tri thức thể hiện cái hiểu biết đúng, quan điểm tích cực có trách nhiệm, phải biết khuếch tán giá trị tri thức đó với cộng đồng xã hội Hành vi bao gồm việc ứng
xử đúng mực, luôn nhã nhặn lịch thiệp, kính trên nhường dưới, biết tôn trọng thuần phong mỹ tục, cổ vũ cái tốt và đấu tranh chống cái xấu, quảng bá lối sống đẹp Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII về văn hóa có đề ra nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam với những đức tính cụ thể:
+ Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc
+ Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung
+ Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh
+ Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp
+ Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết
Với 5 đức tính đó, con người Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới cần phải được cụ thể hóa thông qua phong trào hoạt cách mạng đó là: Tập trung xây dựng cho các giai tầng trong xã hội vững mạnh, có tinh thần yêu nước, năng động, sáng tạo, có nhận thức đúng về chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vị trí, vai trò của giai cấp công nhân, bản lĩnh chính trị, ý thức công dân, tinh thần dân tộc, đấu tranh chống sự xâm lược của các sản phẩm văn hóa độc hại, lai căn và các quan điểm sai trái trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật Huy động các nguồn lực, phát triển các nguồn quỹ xã hội chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, tạo các đợt sinh hoạt sôi nổi, rông khắp, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia, góp phần làm chuyển biến trong nhận thức và hành động, phát huy tinh thần đoàn kết, tương thân tương ái, giúp đỡ nhau trong công việc chuyên môn, trong cuộc sống và đời thường Như vậy, việc nghiên cứu cấu trúc của lối sống văn hóa
Trang 30trong môi trường xã hội, chúng ta không thể nằm ngoài hai yếu tố căn bản đó
là “Tri thức hiểu biết và Hành động lối sống tích cực” thể hiện qua 5 đức tính
trên, nhằm tạo nên nhân cách hoàn chỉnh của con người có văn hóa, nhưng cái gốc vẫn là tính nhân bản sâu sắc
Đó đây vẫn còn những chuyện tiêu cực về sự xuống cấp đạo đức, vấn nạn bạo lực học đường, mối quan hệ thầy trò không chuẩn mực hoặc các hành
vi trái đạo lý, không đẹp mắt trong quan hệ cộng đồng, láng giềng Tuy nhiên, cần nhìn rõ thực trạng ấy bằng phép biện chứng để tìm ra hướng khắc phục nhằm “xây” và “chống” kịp thời, tạo thành lối sống hiện đại nhưng tuân thủ các tiêu chí văn hóa
Những tấm gương người tốt việc tốt chính là biểu hiện rõ nhất về những người biết sống có văn hóa, họ vẫn đang làm nòng cốt nuôi dưỡng cái đẹp của nếp ứng xử trong cộng đồng Nét đẹp đời thường trong lối sống thuần Việt vẫn luôn được tôn vinh Đó là những tấm gương hy sinh cứu người hoạn nạn, gương vượt khó của học sinh nghèo vẫn học giỏi, những người hiến đất xây trường học, những cá nhân “vô danh” cần mẫn nhặt đinh của bọn xấu rải dọc xa lộ, những người hảo tâm đóng góp cho quỹ từ thiện xã hội, thấm đẫm nghĩa tình “lá lành đùm lá rách”…
Từ cách nhìn khoa học và thực tiễn sẽ thấy rõ, khi kinh tế tăng trưởng nhanh, tình trạng công nghiệp hóa lan rộng, không thể tránh khỏi sự mất cân đối về nhận thức, dẫn tới một bộ phận lệch lạc trong hành vi của lối sống văn hóa Chẳng hạn, sẽ có một lớp người đề cao cuộc sống xa hoa phung phí, xem nhẹ việc trau dồi nhân cách, là đồng nghĩa với sự tha hóa về nếp sống, lối sống Do đó, cần phải phản đối và lên án những việc làm gây tổn hại tới môi trường thiên nhiên, gây phản cảm trên đường phố, không tự giác chấp hành quy chế nếp sống văn minh, không nhường nhịn trên xe buýt, gây rối làm mất trật tự công cộng Đặc biệt, đối với giới trẻ cần chấn chỉnh các
Trang 31biểu hiện thường thấy như: tôn thờ thần tượng thái quá, học theo các trào lưu trang phục dị hợm, nói tục chửi thề, lối sống tách rời nội quy nhà trường, tập tành hưởng thụ sớm, đi bụi, bỏ học, hành hung bạn đồng trang lứa, thậm chí lập băng nhóm “tuổi teen”…
Hiện nay, trong “thế giới phẳng” những tiêu chuẩn cơ bản về con người
có văn hóa đã chuyển biến tiệm cận văn hóa thế giới, song đặc trưng thuần Việt không thể bị phai mòn Trong bối cảnh hiện tại, muốn phát huy vẻ đẹp của tâm hồn Việt, cần gắn kết hai khái niệm con người có trình độ tri thức và con người có lối sống văn hóa Bởi vẫn còn nhiều người trình độ chuyên môn cao nhưng ứng xử chưa phù hợp nếp sống văn hóa chung Vụ nhảy múa khỏa thân của sinh viên FPT vừa qua bị dư luận phê phán gay gắt, vụ tai tiếng này
là điển hình sự mâu thuẫn hiện nay giữa “trình độ cao” và “lối sống kỳ dị” thiếu văn hóa Ngược lại, nhiều vùng quê dân trí và mức sống còn thấp nhưng hương ước làng xã rất bài bản, tích cực duy trì bảo tồn nề nếp tốt đẹp xưa, đã góp phần tạo ra “bức tường văn hóa” ngăn cản cái xấu xâm thực Và lối sống văn hóa đó đã cho thấy giá trị nổi bật, những làng quê ấy luôn có nhiều thí sinh là thủ khoa trong các kỳ thi đại học
Tựu trung lại, con người có lối sống văn hóa không thể tách rời những
tố chất cần thiết của tinh hoa truyền thống dân tộc, đồng thời cần khẳng định rằng trình độ tri thức cao luôn phải gắn liền lối sống nhân văn lương thiện, sống có ích cho gia đình và xã hội
1.1.2.4 Vai trò của lối sống văn hóa trong đời sống xã hội
Lối sống văn hóa là một thành tố cấu thành nền văn hóa tinh thần
Trước hết, lối sống văn hóa có vai trò định hướng cho việc hình thành nhân cách con người mới Do lối sống là một trong những biểu hiện của đạo đức, còn đạo đức là cái bản chất bên trong của lối sống nên lối sống văn hóa
là sự khẳng định của đạo đức Nó cho thấy rằng đạo đức xã hội đã xác lập một
Trang 32cách cụ thể kết hợp với nhiều yếu tố khác trong đời sống xã hội Lối sống văn hóa đề ra những quan niệm, quan điểm sống cụ thể phù hợp với sự phát triển của xã hội Từ đó, con người thể hiện những thái độ hành động trong lao động, trong giao tiếp, ứng xử một cách đúng đắn, tiến bộ Việc hình thành nhân cách con người mới không thể thiếu vai trò tích cực của lối sống văn hóa Ở mỗi thời đại, quá trình giáo dục đạo đức lối sống cũng đồng thời là quá trình văn hóa cá nhân để hình thành nhân cách, tạo nên “cái gốc” vững bền và
“cái hình” tươi sáng cho sự phát triển hoàn thiện các phẩm chất khác theo yêu cầu phát triển xã hội
Lối sống văn hóa tác động tích cực tới đời sống xã hội
Các cơ quan có chức năng giáo dục đạo đức, lối sống thông qua việc thiết lập và vận dụng những phẩm chất về lối sống của cộng đồng, hướng các thành viên xã hội vươn tới những phẩm chất đó và tiếp tục tạo ra các giá trị mới Đồng thời xác lập các khuôn mẫu ứng xử mới, các giá trị chuẩn mực để quy định các hành vi của cá nhân phù hợp với đời sống đạo đức, phong tục tập quán của cộng đồng, nhằm đảm bảo cho cộng đồng ổn định và phát triển Vấn đề giáo dục lối sống văn hóa hiện nay là vấn đề mang tính cấp bách và lâu dài Trong chiến lược phát triển con người của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ta hiện nay, cần phải coi trọng và đề cao vai trò của giáo dục lối sống văn hóa cho thanh niên, sinh viên vì nó góp phần quan trọng vào quá trình hình thành nhân cách Đảng và Nhà nước ta đã không chỉ đề ra đường lối, chính sách đúng đắn về mọi phương diện cuộc sống xã hội, trong
đó có lĩnh vực đạo đức, lối sống mà còn phải đề ra được các chủ trương, biện pháp đúng đắn, thích hợp, cách thức tổ chức thực hiện có hiệu quả các chủ trương đó Có như vậy mới có thể thực hiện được quá trình xã hội hóa văn
hóa cá nhân và cá nhân hóa văn hóa cộng đồng
Trang 331.2 Tuyên truyền lối sống văn hóa
1.2.1 Tuyên truyền và các yếu tố cấu thành hoạt động tuyên truyền
Tuyên truyền theo tiếng Latinh (prapaganda) là: truyền bá, truyền đạt một quan điểm nào đó Theo một số tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ tuyên truyền xuất hiện khoảng 400 năm trước đây, nhà thờ La-Mã đã sử dụng để chỉ các hoạt động truyền giáo nhằm thuyết phục, lôi kéo những người khác tin và theo đạo Ki-Tô Sau này thuật ngữ tuyên truyền được sử dụng để biểu đạt các hoạt động nhằm tác động đến suy nghĩ, tư tưởng của người khác và định
hướng hành động của họ theo một khuynh hướng nhất định Tuyên truyền là một khái niệm rất quen thuộc đối với mỗi giai cấp hay tầng lớp trong xã hội, bao gồm việc truyền bá những tri thức lý luận chính trị, những thông tin cần
thiết phục vụ cho công tác lý luận và giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức cho quần chúng Công tác truyền bá hết sức quan trọng, bởi vì một chủ thuyết chỉ
có thể thấm vào quần chúng thông qua khâu truyền bá
Đối với chúng ta, công tác đó gồm các lĩnh vực như: Truyền bá lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; truyền bá các quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước; thông tin có định hướng các lĩnh vực khoa học công nghệ, kinh tế, các thành tựu khoa học xã hội và nhân văn, các thông tin chính trị, xã hội và văn hóa Công tác tuyên truyền được thực hiện ở nhiều kênh: trường, lớp, các phương tiện thông tin đại chúng, v.v và cũng có thể truyền bá dưới hình thức văn hóa, văn nghệ Ngày nay, công tác tuyên truyền còn được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật hiện đại, bằng mạng lưới vi tính và viễn thông, nên rất kịp thời, nhanh chóng, có thể đem lại hiệu quả to lớn với đối tượng công chúng rộng rãi Đó chính là con đường xã hội hóa công tác tư tưởng dựa trên tiến bộ kỹ thuật và công nghệ
Là một bộ phận cách mạng, công tác tư tưởng giải quyết những vấn đề
lý luận do thực tiễn đặt ra, đồng thời hình thành ý chí nhiệt tình cách mạng
Trang 34cho quần chúng nhân dân, hiện thực hóa đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước Công tác tư tưởng bao gồm ba bộ phận đó là: Công tác lý luận, công tác tuyên truyền và công tác cổ động Ba bộ phận có mối quan hệ biện chứng với nhau Trong đó, công tác tuyên truyền có vai trò quan trọng góp phần làm cho hoạt động công tác tư tưởng đạt hiệu quả cao Tuyên truyền là một hoạt động chỉ xuất hiện và tồn tại trong xã hội loài người Bởi vì chỉ có con người mới có nhu cầu trao đổi tư tưởng, tình cảm, trao đổi văn hóa và cũng chỉ có con người mới có khả năng trao truyền cho nhau tư tưởng, văn
hóa Do vậy tuyên truyền là một hoạt động xã hội đặc biệt của con người
Về vị trí, vai trò của tuyên truyền trong sự nghiệp cách mạng của giai cấp vô sản là nhiệm vụ rất quan trọng, người cách mạng phải có năng lực tuyên truyền; tuyên truyền là động lực thúc đẩy cách mạng phát triển, là nhân tố tạo nên sự thành công của cách mạng; tuyên truyền là chuẩn bị về tư tưởng, lý luận; về con người cho sự nghiệp cách mạng Người viết: “tổ chức tuyên truyền càng rộng rãi, tức là cách mạng nhanh chóng thành công” Tuyên truyền bao gồm cả một hệ thống về chủ thể, đối tượng, mục đích, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện tuyên truyền nhằm thực hiện mục đích của chủ thể đề
ra Trong tác phẩm “Người tuyên truyền và Cách tuyên truyền”, Hồ Chí Minh
cho rằng: Tuyên truyền là đem một việc gì nói cho dân hiểu, dân nhớ, dân tin
và dân làm Nếu không đạt được mục đích đó thì tuyên truyền thất bại [35, tr
162] Từ đó, chúng ta có thể tiếp cận khái niệm về tuyên truyền theo nhiều cách
khác nhau Tuy nhiên, mẫu số chung là các yếu tố cấu thành hoạt động tuyên truyền phải được đảm bảo và được đánh giá từ sự thay đổi nhận thức, niềm tin
và hành động của đối tượng
Hoạt động tuyên truyền là một chỉnh thể bao gồm các yếu tố cấu thành:
Chủ thể tuyên truyền: Là các giai cấp, các tổ chức, các cộng đồng xã
hội mà lợi ích của họ gắn liền với hoạt động tuyên truyền Trong xã hội ta,
Trang 35chủ thể tuyên truyền là toàn Đảng, toàn bộ hệ thống chính trị và các cán bộ tuyên truyền Cơ quan Tuyên giáo các cấp, các ngành, các đoàn thể, các cơ quan chính trị trong lực lượng vũ trang là lực lượng tham mưu cho cấp ủy đảng chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra hoạt động tuyên truyền Chủ thể tuyên truyền có vai trò quyết định đến hoạt động tuyên truyền, chủ thể tuyên truyền
đề ra phương hướng, tổ chức hoạt động tuyên truyền và kiểm tra, giám sát hoạt động tuyên truyền
Đối tượng tuyên truyền: Là những người chịu tác động tuyên truyền
của chủ thể Đó là những con người có cá tính, có thói quen, có tình cảm, biết
tư duy, có ý thức, họ không chỉ thụ động mà còn có sự động lập, chủ động, sáng tạo trước các tác động của chủ thể tuyên truyền Mặt khác, đối tượng còn
có tác động trở lại rất lớn đối với chủ thể tuyên truyền, đòi hỏi chủ thể không ngừng cải tiến và hoàn thiện mình
Mục đích tuyên truyền: Là sản phẩm dự kiến của hoạt động tuyên
truyền cần đạt tới trong tương lai Đó chính là nhận thức, niềm tin và hành động của con người cần đạt tới sau tuyên truyền Mục đích là yếu tố rất quan trọng của hệ thống tuyên truyền, là yếu tố cơ bản vì nó quyết định nội dung, hình thức, phương pháp tuyên truyền
Nội dung tuyên truyền: Bao gồm các vấn đề về chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội, an ninh quốc phòng Nội dung tuyên truyền có tính toàn diện Do vậy, muốn xác định nội dung tuyên truyền phải căn cứ vào mục đích tuyên truyền
Phương pháp tuyên truyền: Phương pháp là toàn bộ những cách thức
với tư cách như là hệ thống các nguyên tắc, xuất phát từ quy luật tồn tại và vận động của đối tượng, đã được nhận thức để điều chỉnh nhận thức nhằm đạt được mục đích Phương pháp tuyên truyền là tổng hợp các thao tác, cách thức, quy trình, là nghệ thuật tác động của chủ thể nhằm làm thay đổi nhận thức, thái độ, hành vi và xây dựng một kiểu ý thức xã hội ở đối tượng để cổ
Trang 36vũ tính tích cực xã hội của họ và thúc đẩy họ hoạt động theo mục đích tuyên truyền đã định Như vậy : Phương pháp tuyên truyền là cách thức, con đường
mà chủ thể tuyên truyền sử dụng để tác động đến đối tượng nhằm đạt được mục đích đặt ra Phương pháp tuyên truyền rất đa dạng và luôn được đổi mới
Từ những phương pháp tuyên truyền miệng, tuyên truyền trực quan, đền tuyên truyền cá biệt, nhóm, tuyên truyền nêu gương Phương hướng đổi mới công tác tuyên truyền hiện nay là tăng cường tính đối thoại, dân chủ thông
qua phong trào để thu hút mọi người
Hình thức tuyên truyền: Có hai hình thức Tuyên truyền trực tiếp: là
quá trình tác động trực tiếp của chủ thể tuyên truyền đến đối tượng bằng ngôn ngữ nói nhằm giúp cho đối tượng có nhận thức, niềm tin và tính tích cực hành động như: tổ chức các lớp học, trao đổi, tọa đàm, cổ vũ kêu gọi bằng miệng, qua tư vấn Tuyên truyền gián tiếp: Là sự tác động của chủ thể tuyên truyền đền đối tượng tuyên truyền được thực hiện thông qua các phương pháp, phương tiện khác nhau nhằm nâng cao nhận thức và hướng dẫn hành động cho đối tượng Có các hình thức như: Các hình thức văn hóa văn nghệ, thông qua các bài viết, chương trình, chuyên mục được phát qua các phương tiện thông tin đại chúng, các hoạt động xã hội Lồng ghép nội dung tuyên truyền qua các phong trào thi đua, lễ hội, hội thảo, các cuộc thi tìm hiểu
Hiệu quả tuyên truyền: Là kết quả, mức độ tiến dần đến mục đích tuyên
truyền, nó như một kênh phản hồi, điều chỉnh của tuyên truyền, hiệu quả tuyên truyền được đánh giá từ sự thay đổi nhận thức, niềm tin và hành động của đối tượng Như vậy, hiệu quả của hoạt động tuyên truyền là hoạt động bao gồm nhiều yếu tố, là một chỉnh thể có cơ chế hoạt động như sau: chủ thể tuyên truyền xác định mục đích, lựa chọn nội dung, hình thức và phương pháp tuyên truyền để tác động đến đối tượng Do vậy, để hoạt động tuyên truyền đạt hiệu quả cao thì cần có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các yếu tố cấu thành hoạt động tuyên truyền
Trang 371.2.2 Vai trò công tác tuyên truyền lối sống văn hóa
Công tác tuyên truyền có vai trò rất to lớn trong sự nghiệp cách mạng cũng như trong tiến trình phát triển của xã hội loài người Vai trò của công tác tuyên truyền thể hiện ở chỗ nó truyền bá, phổ biến hệ tư tưởng cách mạng trong xã hội, khơi dậy tính sáng tạo cách mạng của quần chúng nhân dân, động viên lực lượng quần chúng tham gia sự nghiệp cách mạng, góp phần tổ chức các phong trào cách mạng, chuẩn bị tiền đề tư tưởng, lý luận và con người cho cuộc cách mạng đó Do vậy, công tác tuyên truyền trở thành một
bộ phận trong công tác cách mạng và là công tác cách mạng đầu tiên của bất
kỳ giai cấp và tổ chức cách mạng nào Vai trò của công tác tuyên truyền chính
là làm cho “lý luận thâm nhập vào quần chúng” để qua đó “trở thành lực
lượng vật chất” Là một bộ phận của công tác tư tưởng, công tác tuyên truyền
đóng vai trò quan trọng trong công tác xây dựng Đảng vững mạnh Đảng Cộng Sản Việt Nam là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân ta Nhờ công tác tuyên truyền mà chủ nghĩa Mác - Lênin thâm nhập vào quần chúng lao động, giúp họ giác ngộ về cách mạng, về mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng,
tự nguyện đi theo Đảng làm cho đội ngũ của Đảng ngày càng được mở rộng Công tác tuyên truyền góp phần xây dựng Đảng thường xuyên vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, trong sáng về đạo đức lối sống
Công tác tuyên truyền góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam có ý thức tự chủ,
ý thức trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe; sống có văn hóa và tình nghĩa; giàu lòng yêu nước và tinh thần quốc tế trong sáng Công tác tuyên truyền còn góp phần đắc lực vào cuộc đấu tranh tư tưởng chính trị của Đảng, đấu tranh chống âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch đối với cách mạng nước ta, góp phần bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, giữ
Trang 38vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội Tuyên truyền là hoạt động đa dạng và phức tạp nhằm giáo dục, vận động, thuyết phục quần chúng hiểu, tin
và quyết tâm hành động theo đường lối cách mạng của Đảng Để thực hiện công việc khó khăn phức tạp đó, cán bộ tuyên truyền cần phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, niềm tin sắt đá, có tri thức đầy đủ, có trình độ nghề nghiệp tinh thông, nhiệt tình và sức sáng tạo cao
Tuyên truyền lối sống văn hóa là tuyên truyền những giá trị truyền thống quý báu của gia đình, của dân tộc được gìn giữ, vun đắp và phát huy trong suốt quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước; các giá trị nhân văn mới hiện nay gia đình cần tiếp thu và đề cao; đồng thời phê phán sự xuống cấp của các giá trị đạo đức truyền thống tốt đẹp trong gia đình, lối sống thực dụng, ích kỷ và tệ nạn xã hội như: ma túy cờ bạc, rượu chè, mại dâm, tảo hôn, bạo lực gia đình, xâm hại trẻ em, thiếu sự quan tâm trẻ em và người già, những biểu hiện tiêu cực trong hôn nhân với người nước ngoài… Qua đó nhằm giữ gìn, phát huy các giá trị đạo đức lối sống, cách ứng xử tốt đẹp trong gia đình và xã hội
Tuyên truyền lối sống văn hóa là mục tiêu cần đạt đến để hoàn thiện nhân cách của con người, vì nó có vai trò điều tiết sự phát triển thông qua hành
vi ứng xử của con người Lối sống văn hóa của từng cá nhân sẽ hình thành nên một môi trường văn hóa tốt đẹp, nuôi dưỡng con người và những khả năng sáng tạo của nó Môi trường văn hóa được xem là một tổng thể bao gồm hệ thống những giá trị văn hóa (cái văn hóa), hệ thống những quan hệ văn hóa (cái mang giá trị văn hóa), hệ thống những hình thái hoạt động văn hóa (cái thực hiện giá trị văn hóa) và hệ thống những thiết chế văn hóa (cái định hướng giá trị văn hóa) Môi trường văn hóa được xác định bởi những tiêu chí đó để con người tự định vị mình trong cộng đồng, tự điều chỉnh và phát huy một cách tốt nhất năng lực cá nhân Để làm được điều đó, chúng ta không chỉ tạo môi trường văn hóa ở những cơ quan, đơn vị hay địa phương nào đó, mà phải là cộng đồng, phải là toàn xã hội và cốt lõi là phải làm công tác tuyên truyền
Trang 39Như vậy, chúng ta có thể hiểu: Tuyên truyền lối sống văn hóa là tuyên truyền về phẩm chất văn hóa trong cộng đồng với lối sống đẹp được thể hiện trong lẽ sống, nếp sống của con người; đồng thời phải kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, nhằm hình thành ở đối tượng một kiểu ý thức xã hội được biểu hiện trong ứng xử với tự nhiên với xã hội và với bản thân mình, nhằm cổ vũ tính tích cực của họ trong hoạt động nhận thức và trong cải tạo thực tiễn văn hóa phù hợp với thời đại mới
1.3 Vai trò lễ hội truyền thống trong tuyên truyền lối sống văn hóa
1.3.1 Lễ hội góp phần nâng cao tinh thần cách mạng của dân tộc
Trước hết đối với đời sống tinh thần của người Việt, lễ hội nói chung và
lễ hội truyền thống nói riêng là một thuộc tính của văn hóa người Việt, là nhu cầu tinh thần, là văn hóa cộng đồng lâu đời, thể hiện nhu cầu tâm linh không thể thiếu được trong tư duy và sinh hoạt của nhân dân Theo nhiều nhà nghiên cứu thì lễ hội là một công đoạn sản xuất nông nghiệp, là kết thúc một chu kỳ sản xuất cũ, mở đầu cho một chu kỳ sản xuất mới Lễ hội dân gian của mỗi cộng đồng dân cư là biểu hiện cao nhất, tập trung nhất về văn hóa của mỗi cộng đồng về ăn mặc, tín ngưỡng, phong tục, tập quán, tâm linh, các hình thức nghệ thuật, ca múa, rước xách, là những rung cảm tinh thần trong mỗi tâm hồn của người dự hội; là kết tinh của tinh thần cộng đồng làng xã, là yếu
tố cao nhất trong văn hóa phi vật thể của làng xã Cho nên có thể khẳng định
lễ hội truyền thống là lễ hội của nhân dân và thuộc về lịch sử Qua lễ hội có thể phát huy cao độ bản sắc văn hóa dân tộc, khơi dậy niềm tự hào truyền thống quê hương, tinh thần đoàn kết cộng đồng, tạo niềm phấn khởi trong nhân dân, khiến họ thêm yêu làng xóm, quê hương, đất nước
Điều đáng chú ý là đại đa số các nhân vật trung tâm của lễ hội truyền thống của từng miền, vùng và của địa phương thường là những anh hùng, những nhân vật có công xây dựng, tạo lập cộng đồng hoặc có công lớn trong các cuộc
Trang 40chiến chống ngoại xâm, chống thiên tai, dịch bệnh hoặc có công trong truyền nghề cho cộng động, …đều tập trung ở mọi đức tính, phẩm chất cao đẹp mà hầu hết các tầng lớp nhân dân đều phải công nhận Để trở thành nhân vật trung tâm của lễ hội, những nhân vật đó được cả cộng đồng phụng thờ, họ không chỉ được người dân linh thiêng hóa phẩm chất, tính cách, đặc điểm vốn có trong cuộc sống đời thường mà còn được cộng đồng tô vẽ thêm những phẩm chất, tính cách theo mong muốn của họ Với ý nghĩa đó, chỉ có thể thông qua lễ hội và chính lễ hội là nơi chính yếu để con người thỏa mãn nhu cầu niềm tin, góp phần nâng cao ý chí cách mạng của dân tộc trong bất kỳ thời gian nào
Từ niềm tin, chúng ta hiểu được mục đích cốt lõi và ban đầu của lễ hội chính là để thông quan với những nhân vật hay những lực lượng được tin Và
lễ hội là hoạt động để qua đó con người bày tỏ niềm tin và ý chí cách mạng qua niềm tin đó Điều đó cũng dễ thấy: Ở nước ta, tín ngưỡng bản địa đặt niềm tin vào những nhân vật nếu không là những anh hùng văn hóa có công
mở đất lập làng, có công khai sáng dân trí, nếu không là anh hùng dân tộc có công đánh giặc giữ nước thì cũng là biểu tượng của anh linh tinh khí non sông đất Việt Nếu gạt qua một bên cái màu sắc tín ngưỡngg vốn là sản phẩm của một xã hội nông nghiệp cũ trì trệ hàng nghìn năm thì niềm tin bao hàm một nhân sinh quan tràn đầy tính nhân văn và thể hiện nhân cách văn hóa rất Việt Nam đó là hành động „Uống nước nhớ nguồn, Ăn quả nhớ kẻ trồng cây‟ Trong niềm tin ấy có cả cái đạo lý làm người mà đời đời các thế hệ Việt Nam vẫn truyền dạy và noi theo Và theo chúng tôi, ngay cả trong màu sắc tín ngưỡng của niềm tin cũng có thể tìm thấy những yếu tố tích cực Bởi vì, niềm tin ấy xuất phát từ quan niệm họ cho rằng tổ tiên mặc dù đã mất đi nhưng vẫn còn tồn tại trong thế giới vĩnh hằng của họ, luôn luôn chứng kiến cách sống của con cháu với một trách nhiệm cao Mà thông qua các hoạt động lễ hội