Vận dụng những tư tưởng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh trong rèn luyện, giáo dục đạo đức cho cán bộ, nhân viên nghề y là cần thiết để xây dựng những nguồn nhân lực nghề y có bản lĩnh đạo đức,
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ HỒ CHÍ MINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN HIỀN LƯƠNG
HÀ NỘI - 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
TÁC GIẢ
Trần Thị Quỳnh Diễn
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
Chương 1: QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ RÈN LUYỆN, TU DƯỠNG ĐẠO ĐỨC NGHỀ Y VỚI SỰ PHÁT TRIỂN Y NGHIỆP 13
1.1 Hồ Chí Minh với giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức 13
1.2 Hồ Chí Minh với tu dưỡng, rèn luyện đạo đức người cán bộ y tế 28
1.3 Đạo đức người cán bộ y tế với sự phát triển y nghiệp ở Việt Nam 41
Chương 2: THỰC TRẠNG RÈN LUYỆN, TU DƯỠNG ĐẠO ĐỨC CỦA THẦY THUỐC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 47
2.1 Tình hình thực hiện rèn luyện, tu dưỡng đạo đức người thầy thuốc theo quan điểm y đức của Hồ Chí Minh 47
2.2 Giáo dục, tu dưỡng, rèn luyện y đức theo Tư tưởng Hồ Chí Minh và những thành tựu của ngành y tế 53
2.3 Một số hạn chế, tồn tại của việc rèn luyện, tu dưỡng đạo đức người thầy thuốc ở nước ta hiện nay 60
Chương 3: GIẢI PHÁP VỀ GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO NGƯỜI CÁN BỘ Y TẾ NHẰM PHÁT TRIỂN Y NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 64
3.1 Giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức người cán bộ y tế theo quan điểm Hồ Chí Minh nhằm phát triển y đức và y nghiệp ở nước ta hiện nay 64 3.2 Nâng cao vai trò của Đảng, Nhà nước trong giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng y đức của người cán bộ y tế nhằm phát triển y đức và y nghiệp 72
KẾT LUẬN 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO 84
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Xây dựng và rèn luyện bản lĩnh đạo đức người cán bộ y tế có vai trò quan trọng trong sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân Giáo dục phẩm chất đạo đức cho người lao động trong nghề y hiện nay đang là đòi hỏi đặt ra cho
xã hội Sự quá tải trong công việc, áp lực về kinh tế… đang trở thành thách thức cả về tài năng và đạo đức của đội ngũ cán bộ, nhân viên y tế Xây dựng bản lĩnh đạo đức nghề nghiệp cho cán bộ, những người làm việc trong ngành
y ngày càng trở nên cấp thiết Đó là quá trình giáo dục và rèn luyện lâu dài: từ giáo dục đạo đức y học, giáo dục lý tưởng, chuẩn mực đạo đức đúng đắn đến giáo dục, rèn luyện hành vi đạo đức thường xuyên, không ngừng tu dưỡng để trở thành người cán bộ y tế phục vụ tốt công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân Chỉ có rèn luyện tu dưỡng bản lĩnh đạo đức ngành y thì mới có thể xây dựng được một đội ngũ cán bộ y tế đủ bản lĩnh vượt qua được những thách thức và cám dỗ, hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn và đạo đức ngành nghề
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống các quan điểm của Người về các vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam Ngoài những vấn đề về đường lối cách mạng thì Người đặc biệt quan tâm đến vấn đề giáo dục và rèn luyện con người về đạo đức Người coi đạo đức là cái gốc, là nền tảng của cách mạng cũng như “sông có nguồn”, “cây có gốc”, người thì phải có đạo đức cách mạng Trong tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, những phẩm chất đạo đức được Người nêu ra phù hợp với từng đối tượng, có khi Người nhấn mạnh phẩm chất này hay phẩm chất khác là nhằm đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng Việt Nam ở từng giai đoạn và phù hợp với nhiệm vụ của mỗi nghề nghiệp khác nhau trong xã hội Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, ngay từ những ngày đầu người đã quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe cho con người Với Người thì “Mỗi một người dân yếu ớt, tức là làm cho cả
Trang 5nước yếu ớt một phần; mỗi một người dân mạnh khỏe, tức là góp phần cho cả nước mạnh khỏe” [35, tr.241]Chính vì quan tâm đến sức khỏe cũng như chăm sóc sức khỏe của nhân dân Người đã luôn chú trọng đến xây dựng, phát triển
y tế, đội ngũ cán bộ y tế Một trong những nội dung quan trọng mà Người bàn đến là xây dựng đạo đức cho cán bộ, nhân viên nghề y Vận dụng những tư tưởng của Chủ Tịch Hồ Chí Minh trong rèn luyện, giáo dục đạo đức cho cán
bộ, nhân viên nghề y là cần thiết để xây dựng những nguồn nhân lực nghề y
có bản lĩnh đạo đức, y đức để hoàn thành nhiệm vụ cao cả của mình trong thời đại mới
Y tế Việt Nam hiện nay đang có những bước tiến mạnh mẽ cùng với sự phát triển của y học thế giới Sự phát triển của xã hội và y tế hiện nay ngày càng đề cao sự chuyên nghiệp trong quá trình chăm sóc sức khỏe cho nhân dân Tính chuyên nghiệp trong nghề y hay còn gọi là y nghiệp đang là một trong những lĩnh vực được quan tâm của ngành y tế nước ta Chất lượng cuộc sống ngày càng nâng cao, đòi hỏi đặt ra đối với ngành y tế là cần nâng cao tính chuyên nghiệp trong phục vụ, chăm sóc sức khỏe người dân
Y nghiệp là một khái niệm không mới ở các quốc gia phát triển trên thế giới Tuy nhiên, ở Việt Nam đây còn là một khái niệm chưa phổ cập rộng rãi,
y nghiệp ở nước ta đang được nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống Vấn đề y nghiệp đang nhận được sự quan tâm rất lớn từ xã hội vì nó gắn với hoạt động liên quan đến sinh mạng của mỗi con người: hoạt động chăm sóc, nâng cao sức khỏe cho nhân dân Y nghiệp hay tính chuyên nghiệp trong nghề
y thể hiện sự gắn bó giữa chuyên môn và đạo đức trong quá trình thực hành nghề nghiệp Đạo đức là một phần của y nghiệp vì vậy giáo dục, rèn lyện, tu dưỡng đạo đức là cách thức để thúc đẩy y nghiệp phát triển
Hồ Chí Minh là lãnh tụ quan tâm đến sức khỏe và chăm sóc sức khỏe của người dân, người luôn luôn nhắc nhở cán bộ, nhân viên ngành y phải cố
Trang 6gắng rèn luyện để hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình Người đã đưa ra những tư tưởng để giáo dục, rèn luyện đạo đức người lao động nghề y để nền
y tế có thể phát triển toàn diện và hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe của ngành Những tư tưởng của Người mang giá trị thời đại và có ý nghĩa đối với sự giáo dục, rèn luyện tu dưỡng đạo đức của người cán bộ y tế góp phần vào sự phát triển y nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Chính vì những cấp thiết đặt ra của vấn đề y nghiệp cũng như việc rèn luyện tu dưỡng đạo đức người cán bộ y tế đối với sự phát triển y nghiệp tác
giả đã chọn đề tài “Quan điểm Hồ Chí Minh về đạo đức người cán bộ y tế
với vấn đề phát triển y nghiệp ở Việt Nam hiện nay” (Nghiên cứu trong
phạm vi mối quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân) làm đề tài nghiên cứu tốt
nghiệp cao học ngành Hồ Chí Minh học
2 Tình hình nghiên cứu đề tài:
Nhận thức được vai trò quan trọng của rèn luyện tu dưỡng đạo đức cách mạng của người cán bộ y tế đối với sự phát triển y tế và y nghiệp, nhiều nhà nghiên cứu trong những năm gần đây đã tiến hành nghiên cứu cả hai vấn đề này Những nhà nghiên cứu cả về khoa học xã hội và những nhà khoa học làm trong lĩnh vực y tế đã có nhiều công trình nghiên cứu đến các vấn đề này Cụ thể như:
- Hồ Chí Minh về đạo đức, Phạm Văn Trung (chủ biên), NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993 bàn về những vấn đề về đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh: những nội dung về vai trò của đạo đức cách mạng, các nội dung đạo đức cách mạng Cuốn sách này bàn đến khá sâu sắc những nội dung về đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh
- Năm 1996 cuốn sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” của Thành Duy cũng được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội ấn hành Cuốn sách
Trang 7cung cấp khá đầy đủ nội dung về tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh, những đóng góp của Hồ Chí Minh về giáo dục, xây dựng đạo đức cho con người
- GS Đỗ Nguyên Phương, PTS Nguyễn Khánh Bật, Bác sỹ Nguyễn Cao Thâm (đồng chủ biên) đã cho ra đời cuốn sách “Chủ tịch Hồ Chí Minh với y tế”, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1999 Công trình này đã đưa ra nhiều nội dung chuyên sâu về quan điểm của Hồ Chí Minh về y tế như: Vấn đề y đức trong y tế, vấn đề xây dựng nền y học dân tộc hiện đại, vấn đề y học dự phòng… Cuốn sách đã đưa đến một cách nhìn về các vấn đề Chủ tịch Hồ Chí Minh bàn đến về y tế của đất nước
- PGS.TS Nguyễn Khánh Bật đã xuất bản cuốn sách “Nâng cao đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, năm 2005, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội đã bàn đến những vấn đề về việc thực hành nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân, mối quan hệ giữa lý luận của đạo đức và thực hành đạo đức trong đời sống xã hội hiện nay
- Năm 2007 tác giả Lê văn Đính đã cho ra đời cuốn sách “Học tập tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay” được NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng ấn hành Cuốn sách này không chỉ nêu ra những nội dung tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh đồng thời còn nêu lên việc giáo dục, rèn luyện tu dưỡng đạo đức trong giai đoạn hiện nay
Ngoài những cuốn sách của các tác giả đã được xuất bản thì có hai kỷ yếu khoa học cần lưu ý đến đó là:
- Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” do Viện Hồ Chí Minh và khu Di tích Hồ Chí Minh tổ chức Đã có nhiều bài tham luận của Hội thảo được đưa ra trong kỷ yếu và đã cung cấp cho người đọc nhiều bài viết toàn diện về nội dung, phương pháp, cũng như việc thực hiện học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Trang 8- Kỷ yếu hội thảo “Bác Hồ với sự nghiệp bồi dưỡng thế hệ trẻ” của Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh nhân kỷ niệm 15 năm thực hiện Di chúc của Chủ tịch
Hồ Chí Minh Kỷ yếu có sự đóng góp của nhiều bài viết về việc rèn luyện đạo đức cho thế hệ trẻ hiện nay
Bên cạnh sách và các kỷ yếu hội thảo, đã có một số bài báo bàn về vấn
đề giáo dục y đức và việc thực hiện y đức hiện nay của cán bộ nhân viên y tế:
- Bài báo “Vấn đề y đức và sự cần thiết giáo dục y đức ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Hiền Lương được đăng trên Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp (Tạp chí của Bộ giáo dục và Đào tạo) in trên số ra tháng
12 năm 1996 đã nêu lên sự cấp thiết cần phải giảng dạy đạo đức y học cho sinh viên các trường Y
- Bài báo “Chuẩn mực về y đức và ý nghĩa giáo dục của nó” của tác giả Nguyễn Hiền Lương đăng trên Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp tháng 6 năm 1999 Bài báo đã đưa ra những quan điểm về chuẩn mực của đạo đức y học và giá trị của trong việc giáo dục sinh viên cũng như cán bộ, nhân viên ngành y tế
- Bài báo “Xây dựng y đức cho chiến sỹ quân y” của tác giả Chu Tiến Cường in trên báo Nhân dân ngày 1 tháng 8 năm 2008 đã bàn đến vấn đề xây dựng đạo đức nghề y cho các cán bộ nghề y phục vụ trong quân đội theo quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh thông qua các bức thư Người gửi cho cán bộ, chiến sỹ quân y
- Bài báo “Trang bị lý tưởng đạo đức nghề y” của tác giả Nguyễn Hiền Lương in trên báo Nhân dân số ra ngày 11 tháng 5 năm 2010 đã bàn đến vấn
đề lý tưởng nghề y và việc giáo dục, rèn luyện lý tưởng đạo đức nghề y cho cán bộ nhân viên nghề y
- Bài báo “Phải học tập y đức suốt đời” của tác giả Trung Hiếu in trên báo Nhân dân số ra ngày 04 tháng 9 năm 2011 đã cung cấp những thông tin
Trang 9về tình hình thực hành đạo đức của cán bộ, nhân viên y tế hiện nay và những giải pháp ban đầu được đưa ra để nâng cao đạo đức cho cán bộ y tế
Nhìn chung, những công trình trên là sự nghiên cứu khái quát về hai mảng vấn đề riêng biệt:
Thứ nhất là vấn đề đạo đức Hồ Chí Minh: Những nghiên cứu này đã tập trung làm rõ những quan điểm chung về đạo đức, những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức, quá trình hình thành đạo đức mới của Chủ tịch Hồ Chí Minh, những bài học kinh nghiệm quý báu được đúc kết từ tư tưởng của Người Đồng thời, trình bày những quan điểm của Đảng và Nhà nước khẳng định vai trò to lớn, sự cần thiết của tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh trong lịch sử dân tộc hiện đại cũng như trong giai đoạn hiện nay, qua đó đưa ra những giải pháp để học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người
Vấn đề thứ hai là bàn về đạo đức trong ngành y, sự cần thiết của việc học tập, rèn luyện y đức Tuy nhiên hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu khảo sát việc vận dụng giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức người cán bộ y
tế theo quan điểm Hồ Chí Minh, từ đó góp phần phát triển y nghiệp hiện nay Vậy để giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức người thầy thuốc nói riêng và góp phần thúc đẩy phát triển y nghiệp nói chung cho phù hợp hoàn cảnh Việt Nam, điều cần thiết phải xây dựng, rèn luyện đạo đức người thầy thuốc theo quan điểm giáo dục, rèn luyện đạo đức Hồ Chí Minh Chính vì điểm mới này, tác giả đã khai thác để đi sâu nghiên cứu đề tài trên
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu các quan điểm Hồ Chí Minh về y đức và thực trạng rèn luyện y đức theo tư tưởng Hồ Chí Minh của cán bộ y tế Việt Nam hiện nay, luận văn đề xuất một số giải pháp về giáo dục y đức cho cán bộ y tế nhằm phát triển y nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Trang 103.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Làm rõ nội dung rèn luyện tu dưỡng đạo đức theo quan điểm Hồ Chí Minh – đặc biệt là đối với người cán bộ y tế
Khảo sát thực tế việc giáo dục, rèn luyện tu dưỡng đạo đức của người cán bộ y tế hiện nay biểu hiện ở mối quan hệ thầy thuốc - bệnh nhân
Bước đầu đưa các giải pháp giáo dục nâng cao y đức cho cán bộ y tế theo quan điểm đạo đức nghề y của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm phát triển y nghiệp ở Việt Nam hiện nay
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
4.1 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
Quan điểm của Hồ Chí Minh về đạo đức của người cán bộ y tế
Thực trạng thực hành đạo đức của người cán bộ y tế với bệnh nhân ở nước ta hiện nay
Khách thể nghiên cứu: Tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh trong rèn luyện
tu dưỡng đạo đức nói chung và người cán bộ y tế nói riêng
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Đạo đức người cán bộ y tế hiện nay được thể hiện trong ba mối quan hệ chính là: Quan hệ thầy thuốc với bệnh nhân, quan hệ giữa thầy thuốc với thầy thuốc và quan hệ giữa thầy thuốc với xã hội Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, đề tài tập trung nghiên cứu đạo đức của người cán bộ y tế trong mối quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân
Trong nội dung nghiên cứu, đề tài nêu lên đạo đức người cán bộ y tế cụ thể là hướng đến người thầy thuốc trực tiếp thực hiện chăm sóc sức khỏe cho người bệnh Đề tài tập trung nghiên cứu y đức và thực hành y đức của người thầy thuốc đối với các hoạt động khám và chữa bệnh cho bệnh nhân
Trang 115 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu:
5.1 Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận trực tiếp của đề tài là quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức của người cán
bộ, đảng viên
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài chủ yếu sử dụng phương pháp của CNDVBC và CNDVLS, phương pháp lôgíc và lịch sử, điều tra xã hội học để thực hiện
Đạo đức là vấn đề đã được nêu ra trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng và có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Do vậy, tác giả đã căn
cứ vào một số văn kiện, nghị quyết của Đảng đề cập đến vấn đề đạo đức và đạo đức ngành y tế, kế thừa một số kết quả nghiên cứu của những công trình trước
6 Đóng góp mới của luận văn:
Cung cấp nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về rèn luyện và giáo dục con người nói chung và cán bộ y tế nói riêng
Cung cấp một số nghiên cứu về việc thực hiện y nghiệp ở Việt Nam cụ thể là xử lý mối quan hệ thầy thuốc - bệnh nhân trong ngành y tế
Góp phần làm rõ hơn giá trị của Tư tưởng rèn luyện, giáo dục đạo đức
Hồ Chí Minh về cán bộ y tế
Đề ra được một số giải pháp cụ thể để giáo dục rèn luyện lý tưởng, hành
vi trong xử lý mối quan hệ thầy thuốc - bệnh nhân theo quan điểm rèn luyện,
tu dưỡng đạo đức Hồ Chí Minh
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn:
Luận văn đã nghiên cứu và hệ thống những vấn đề cơ bản về đạo đức của người cán bộ y tế trong tư tưởng Hồ Chí Minh và vai trò của rèn luyện tu dưỡng đạo đức để nâng cao, phát triển y nghiệp ở Việt Nam
Trang 12Đề tài tập trung làm rõ thực trạng thực hành đạo đức của người cán bộ, nhân viên y tế nhất là bác sỹ đối với bệnh nhân ở nước ta hiện nay Những thành tựu và hạn chế về thực hành đạo đức của thầy thuốc đã được luận văn bàn đến cụ thể trong mối quan hệ với bệnh nhân
Luận văn đã đề xuất những giải pháp cho rèn luyện đạo đức người cán
bộ y tế theo quan điểm giáo dục, rèn luyện và tu dưỡng y đức theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ đó nhằm nâng cao y nghiệp của nước ta trong giai đoạn hiện nay
Luận văn có thể làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy, tham khảo của môn
tư tưởng Hồ Chí Minh, đặc biệt có ý nghĩa đối với việc giáo dục, rèn luyện và
tu dưỡng đạo đức cho sinh viên khối các trường Y khoa và cán bộ, nhân viên ngành y tế
8 Kết cấu nội dung đề tài:
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, đề tài gồm có
Trang 13Chương 1 QUAN ĐIỂM HỒ CHÍ MINH VỀ RÈN LUYỆN, TU DƯỠNG ĐẠO
ĐỨC NGHỀ Y VỚI SỰ PHÁT TRIỂN Y NGHIỆP
1.1 Hồ Chí Minh với giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức
1.1.1 Quan niệm đạo đức
Ý thức đạo đức là một trong những hình thái ý thức xã hội, xuất hiện rất sớm cùng với lịch sử loài người Trải qua các xã hội khác nhau của loài người, đạo đức cũng phát triển đa dạng, phong phú nhưng với xu hướng chính
là ngày càng hoàn thiện hơn Đạo đức là sự gắn chặt, không tách rời trong xã hội loài người của ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức, là sự nhận thức và thực hiện thiện – ác của mỗi người Ý thức đạo đức là những chuẩn mực, quy tắc của xã hội được con người nhận thức nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người Thực tiễn đạo đức bao gồm những thói quen, truyền thống trong hoạt động đạo đức của con người và những xu hướng đạo đức đang phát triển trong xã hội Chính vì vậy giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức sẽ là quá trình tác động lên đồng thời cả ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức Giáo dục ý thức đạo đức để có nhận thức đạo đức đúng đắn về thiện – ác phù hợp với xã hội, với hoàn cảnh, đồng thời xóa bỏ những quan điểm, thói quen đạo đức lỗi thời, không còn đúng, thay đổi những thói quen, hành vi đạo đức đúng nhưng không phù hợp với sự phát triển, tiếp tục phát triển những thói quen, hành vi đạo đức còn giá trị Định hướng cho các xu hướng đạo đức đang hình thành trong xã hội sẽ phát triển đúng đắn và hợp quy luật Với vai trò động lực tinh thần to lớn cho sự phát triển và tiến bộ xã hội, đã có rất nhiều công trình khác nhau nghiên cứu về đạo đức Có rất nhiều những cách hiểu về đạo đức khác nhau, nhiều từ điển, công trình nghiên cứu cũng đưa ra những khái nhiệm khác nhau về đạo đức:
Trang 14Theo Từ điển Tiếng Việt của NXB Khoa học xã hội thì: “Đạo đức là
những phép tắc căn cứ vào chế độ kinh tế và chế độ chính trị mà đặt ra để quy định quan hệ giữa người và người, giữa cá nhân và xã hội, cốt để bảo vệ chế độ kinh tế, chế độ chính trị”[55]
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam thì: “Đạo đức là một trong những
hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi con người trong quan hệ với toàn xã hội”[54, tr.738-739]
Ngoài ra, đạo đức ngày nay còn được định nghĩa: Đạo đức là một hình thái ý
thức xã hội, tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội
Ý thức đạo đức là một trong những hình thái sớm nhất của ý thức xã hội, bao gồm những chuẩn mực xã hội điều chỉnh hành vi của con người trong quan hệ với người khác và với cộng đồng (gia đình, làng xóm, giai cấp, dân tộc hoặc toàn xã hội) Căn cứ vào những chuẩn mực ấy, người ta đánh giá hành vi của mỗi người theo các quan niệm về thiện và ác, về cái không làm được (vô đạo đức) và về nghĩa vụ nên làm Khác với pháp luật, các chuẩn mực đạo đức không ghi thành văn bản pháp quy có tính cưỡng chế, xong đều được mọi người thực hiện do sự thôi thúc của lương tâm cá nhân và của dư luận xã hội Đạo đức ra đời và phát triển là do nhu cầu của xã hội phải điều tiết mối quan hệ giữa các cá nhân và hoạt động chung của con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Tính đạo đức biểu hiện bản chất xã hội của con người, là nét cơ bản trong tính người, sự tiến bộ của ý thức đạo đức là cái không thể thiếu được trong sự tiến bộ chung của xã hội
Ý thức xã hội là toàn bộ đời sống tinh thần của xã hội, nó biểu hiện thông qua các hình thái, như ý thức chính trị, pháp quyền đạo đức, tôn giáo,
Trang 15nghệ thuật, triết học Đạo đức cũng là một hình thái ý thức xã hội những khác với các hình thái chính trị, pháp quyền, tôn giáo, nghệ thuật, triết học, là
ở chỗ nó đưa ra những quy tắc chuẩn mực xã hội, để con người tự nhận thức,
tự điều chỉnh mình trong các quan hệ
Nếu hiểu theo phương diện này thì đạo đức có thể được định nghĩa như
sau: Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, bao gồm những quan niệm, quan
điểm, những quy tắc, nguyên tắc chuẩn mực xã hội Nhờ đó con người tự nhận thức, tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho phù hợp trước những lợi ích đặt ra
Ngoài ra, còn có một số sách đưa ra khái niệm về đạo đức: Đạo đức
được xem là một khái niệm luân thường đạo lý của con người, nó thuộc về vấn đề tốt - xấu, đúng - sai, được sử dụng trong ba phạm vi: lương tâm con người, hệ thống phép tắc đạo đức và giá trị đạo đức Nó gắn với nền văn hóa, tôn giáo, triết học và những luật lệ của một xã hội về cách đối xử từ hệ thống này [53]
Trong đời sống xã hội, bên cạnh pháp luật, các quy tắc, chuẩn mực hành
vi được áp dụng, đạo đức còn mang tính cảm xúc, tình cảm của con người với con người, của cá nhân với xã hội Vì vây, đạo đức chứa đựng ý nghĩa xã hội sâu sắc và điều chỉnh tích cực đối với con người Trong đời sống đạo đức, tự trách nhiệm cá nhân được đề cao và cấu thành một bộ phận quan trọng làm cho nhân cách mang tính đặc thù
Để có được đạo đức và được đánh giá là một người có đạo đức cần phải trải qua một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự tự giáo dục, rèn luyện và tu dưỡng của bàn thân Đạo đức của mỗi người không phải tự nhiên sinh ra mà nó hình thành phát triển cùng với sự hình thành, phát triển, phân biệt của ý thức, nhận thức… về xấu – đẹp, thiện – ác… trong xã hội của mỗi người
Trang 16Đạo đức có vai trò là động lực tinh thần to lớn cho sự phát triển tiến bộ của mỗi cá nhân và toàn xã hội, chính vì vậy mà cần được rèn luyện và tu dưỡng thường xuyên, liên tục
Muốn có được đạo đức, mỗi người cần phải rèn luyện và trải qua một quá trình lâu dài Quá trình này bắt đầu từ ý thức, nhận thức của con người, nâng dần lên thành tư tưởng, ý thức hệ, được nội tâm hóa và trở thành tính cách Ý thức được hiểu là sự phản ánh hiện thực khách quan vào trong bộ óc con người một cách năng động, sáng tạo, ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Trong quá trình con người lao động, hoạt động thế giới sẽ được phản ánh và mã hóa vào đầu óc của mình, không chỉ là với những vật hiện hữu thành hình khối mà đối với cả các hiện tượng, sự việc diễn ra trong đời sống của con người Ý thức là một hiện tượng xã hội, gắn liền với các hoạt động thực tiễn, chịu chi phối của cả quy luật sinh học và quy luật xã hội,
do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh hoạt hiện thực của con người quy định Trong quá trình lao động, giao tiếp của con người, con người nhờ
sự phản ánh của các sự vật, hiện tượng sẽ có ý thức Ý thức là điểm ban đầu
để nhận biết cái tốt, cái xấu, cái thiện, cái ác trong xã hội, là sự khởi đầu cho việc hình thành các phạm trù đạo đức của mỗi người
Từ ý thức ban đầu, con người đi đến quá trình nhận thức về đạo đức cá nhân cũng như đạo đức của cộng đồng Nhận thức là quá trình phản ánh tích cực, tự giác và sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người trên cơ sở thực tiễn Quá trình phản ánh tích cực, tự giác đã đưa con người đến những nhận thức các vấn đề xung quanh Có những nhận thức được hình thành tự phát, từ những sự kiện trực tiếp trong cuộc sống hàng ngày, phản ánh mọi sự vật hiện tượng xảy ra trong đời sống xã hội Những nhận thức này rất phong phú, muôn vẻ và gắn liền với những quan niệm sống thực tế hàng ngày, nó có vai trò chi phối hoạt động của mọi người trong xã hội Chính nhận thức thông
Trang 17thường này đã giúp con người nhận thức các hành vi đạo đức trong xã hội, có cách phân biệt các hành vi mang tính đạo đức và hành vi vô đạo đức của con người xung quanh Ý thức của con người về hạnh phúc, lẽ sống, lý tưởng, những quan niệm về triết lý của con người gắn bó chặt chẽ với ý thức đạo đức Những quan niệm đúng đắn giúp con người trước hết là nhận thức được
sự thống nhất giữa lợi ích xã hội, thống nhất hạnh phúc cá nhân và hạnh phúc
xã hội và người khác Sự trưởng thành về ý thức đạo đức con người liên quan đến sự trưởng thành trong nhận thức về những vấn đề lẽ sống, hạnh phúc, thiện ác
Đạo đức là hướng đến cái thiện cái tốt nên từ tính cách con người phải rèn luyện để biến tính cách đó thành những đức tính - tính cách tốt đẹp của mỗi con người Từ những ý thức ban đầu của con người về thế giới và xã hội xung quanh, con người dần nhận thức ra những yêu cầu đạo đức của xã hội đối với con người – những chủ thể đạo đức, từ đó tạo nên cá tính của mỗi con người Tính cách đó tiếp tục được tu dưỡng để trở thành tình cảm bên trong tốt đẹp của mỗi con người, là sự tự thôi thúc con người hành động theo cái thiện, cái tốt, hình thành “cái nết” trong mỗi con người
Khi nói đến đức tính chúng ta hiểu đó là tính tốt của con người, nhưng
để có được những tính tốt ấy trong con người thì cần phải qua một quá trình
tu đưỡng – giữ gìn và sửa đổi thêm cho tốt một cách lâu dài, bển bỉ Ban đầu con người nhận thức được những điều nên làm và phải làm đối với xã hội, luôn bị xã hội tác động, và nhiều khi thực hiện chỉ do đạo đức của xã hội tác động lên Tuy nhiên, cứ theo thời gian, con người trưởng thành và thấy sự tác động của những người khác lên hành vi của mình và thấy xấu hổ với chính bản thân mình về những hành vi đó Khi đó tính cách sẽ dần dần trở thành
“cái nết” trong mỗi con người Sự ý thức trách nhiệm trước bản thân, thấy hổ thẹn với chính bản thân mình, thấy hành động của bản thân cần phải thay đổi
Trang 18để không còn cảm giác hổ thẹn với chính mình qua thời gian đã tạo nên những đức tính tốt của con người Trở thành đức tính là khi các tính cách tốt đẹp đó được bộc lộ và được kiểm chứng và đánh giá qua thời gian Nếu chỉ là một vài những hành vi đạo đức nhỏ vì lương tâm của bản thân thì chưa được coi là đức tính Đức tính phải xuất hiện trong mọi tình huống, mọi hoàn cảnh, mọi hoạt động con người đều hướng đến cái tốt, cái đẹp, vì cái tốt, cái đẹp cho người khác cũng như cho xã hội
Đức tính được coi là biểu hiện của đạo đức con người Nhưng chỉ dừng ở đức tính thôi thì đạo đức của con người chưa hoàn chỉnh Sự tồn tại của đức tính đó sẽ chưa đủ cho con người vượt qua mọi cám dỗ trong cuộc đời, đặc biệt khi gặp phải tình trạng là sẽ phải hi sinh quyền lợi cá nhân vì lợi ích của người khác và của cộng đồng Chính vì vậy con người cần tiếp tục tu dưỡng
và rèn luyện để biến đức tính trở thành phẩm chất của con người Phẩm chất
là những giá trị bản chất tốt đẹp bên trong của người Nhờ phẩm chất tốt đẹp
đó mà trong mọi hoạt động, đứng trước mọi khó khăn thử thách, cám dỗ, đứng trước sự phân định lợi ích của bản thân hay vì cộng đồng xã hội thì con người đều có cách xử lý phù hợp để hướng đến những giá trị tốt đẹp của cuộc sống Có những khi là cả sự hi sinh lợi ích bản thân mình để mang lại lợi ích cho cộng đồng cho xã hội Trong hiện thực cuộc sống, có những khi sự nhầm lẫn giữa các hiện tượng đạo đức giả, thói bất lương và ngụy biện với phẩm chất đạo đức thật sự vẫn còn xảy ra Cũng có những hoàn cảnh sự thiện tâm, thiện ý, phẩm chất đạo đức của con người đều được biểu hiện một cách suôn
sẻ rõ ràng Chính vì vậy chỉ khi thực sự có phẩm chất đạo đức thì con người mới có thể khẳng định được giá trị của bản thân mình Để đức tính trở thành bản chất trong mỗi con người thì phải trải qua quá trình kiểm nghiệm lâu dài của thực tiễn Thực tiễn chính là môi trường để mỗi con người bộc lộ cá tính,
và tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của mình Khi thực tiễn đặt con người vào sự
Trang 19lựa chọn: quyền lợi, lợi ích cá nhân hay quyền lợi, lợi ích cho cộng đồng, xã hội thì đạo đức con người sẽ được bộc lộ Và khi đã trở thành phẩm chất thì gần như các chuẩn mực đạo đức của con người đã được hình thành và hoàn thiện Phẩm chất đạo đức đó vừa là sự khẳng định về bản chất của cá nhân đồng thời cũng là sự khẳng định, cam kết với xã hội về các hành vi, hoạt động của mình
Phẩm chất đạo đức của con người được biểu hiện rất rõ trong việc nhận thức và phân biệt cái thiện, cái ác, luôn luôn hướng về cái thiện, cái cao cả, tốt đẹp, đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác trong xã hội Đấu tranh cho cái thiện ở đây chính là đấu tranh vì lợi ích của con người phù hợp với sự tiến bộ của xã hội, phấn đấu, hi sinh vì con người, làm cho con người ngày càng tự do hơn, sung sướng hơn và hạnh phúc hơn Cái thiện vừa hàm chỉ những lý tưởng tốt đẹp của con người, đồng thời cũng thể hiện những giá trị cụ thể, tốt đẹp thông qua hoạt động xã hội của con người Cái thiện phải được thể hiện rõ trong hiện thực cuộc sống chứ không dừng lại ở ý thức, tư tưởng
Tu dưỡng, rèn luyện đạo đức là một quá trình lâu dài và vất vả, con người cũng phải trải qua rất nhiều những khó khăn, thử thách của cuộc đời mới có thể rèn cho mình một bản lĩnh đạo đức có sức cảm hóa với con người Quá trình tu dưỡng, rèn luyện đạo đức này phụ thuộc rất nhiều yếu tố khác nhau trong gia đình, xã hội tuy nhiên bản thân là chủ thể đạo đức chính là nhân tố quan trọng nhất trong quá trình này Chỉ khi tích cực tự tu dưỡng, rèn luyện thì mới có thể xây dựng và hình thành cho con người đạo đức tốt đẹp, luôn hướng về sự cao cả, nhân văn, cái thiện trong xã hội
1.1.2 Hồ Chí Minh với giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn luôn giữ những nguyên tắc và thực hiện giáo dục, rèn luyện và
tu dưỡng đạo đức của mình, đó cũng đã trở thành những quan điểm, tư tưởng
Trang 20đối với giáo dục, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức cho các thế hệ con người Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu cao tinh thần tự giáo dục và tự rèn luyện đạo đức của mỗi cá nhân
Quá trình tự giáo dục, tự rèn luyện của Người được thể hiện ngay từ khi rất trẻ, trên con đường ra đi học hỏi phương pháp, cách thức và con đường cứu nước cho dân tộc Trong thời gian đó, dù gặp rất nhiều những khó khăn, trở ngại nhưng chưa bao giờ Người từ bỏ ý chí, quyết tâm cứu nước của mình Tinh thần tự giáo dục, tự rèn luyện này được thể hiện rõ nhất đẩu tiên là qua những bài thơ của tập thơ “Ngục trung nhật ký” - “Nhật ký trong tù” của Người Trong hoàn cảnh tù tội ở nhà tù dưới chế độ Tưởng Giới Thạch, với
vô vàn những sự khổ sở, thiếu thốn, khó khăn… nhưng tất cả vẫn không ngăn được ý chí tinh thần cách mạng của Người, trái lại những vần thơ trong tù đó lại càng thể hiện rõ một tinh thần tự giáo dục và rèn luyện đạo đức đáng
ngưỡng mộ của người: “Gian nan rèn luyện mới thành công” [ 34, tr.382]
Trong cuộc đời mỗi con người, không phải lúc nào mọi việc cũng suôn
sẻ, tốt đẹp, chính vì vậy trong những lúc khó khăn, gian khổ thì không thể vượt qua được nếu như không có nghị lực Muốn có bản lĩnh, nghị lực thì không có cách nào hết là tự giáo dục và rèn luyện bản thân mình Ngay trong hoàn cảnh khó khăn nhất, khổ sở nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tự giáo dục,
tự tu dưỡng đạo đức cho chính mình để có thêm sức mạnh vượt qua mọi khó
khăn Người còn tự khuyên nhủ mình: “Tai ương rèn luyện tinh thần thêm
hăng”[34, tr.346]
Quá trình tự rèn luyện, tự tu dưỡng trước những khó khăn, thử thách của cuộc đời đó đã luyện cho Người một tinh thần thép, một ý chí kiên định với lý tưởng và con đường đã chọn Dù trong hoàn cảnh nào đi chăng nữa vẫn luôn
Trang 21thể hiện ý chí kiên trung, bản lĩnh của người cách mạng: “Vật chất tuy đau
khổ / Không nao núng tinh thần”[34, tr.418]
Chính sự tự giáo dục, tự rèn luyện bản lĩnh của mình mà Người đã vượt qua vô vàn những thử thách, không từ bỏ ý chí và khát vọng cứu nước của mình và đã lãnh đạo thành công cách mạng Tháng Tám -1945 giành độc lập cho dân tộc Qua đó thể hiện khí phách, bản lĩnh, đồng thời thể hiện tinh thần
tự giáo dục, tự rèn luyện của Người
Quan điểm của Người về giáo dục, rèn luyện đạo đức trong cán bộ, nhân dân không chỉ trong những tháng ngày khó khăn trước khi cách mạng chưa thành công, mà sau khi đất nước giành được độc lập, trong quá trình lãnh đạo kháng chiến cũng như bước đầu xây dựng đất nước, Người vẫn tiếp tục thể hiện tinh thần tự giáo dục rèn luyện của mình, đồng thời cũng nhắc nhở cho nhân dân cùng tự giáo dục và rèn luyện đạo đức
Rèn luyện, giáo dục đạo đức xuất phát từ việc nhỏ nhặt trong cuộc sống của mỗi con người Trong quá trình xây dựng “đời sống mới”, Người đã luôn
nhắc nhở nhân dân xây dựng đời sống mới là: “Mình hơn người thì chớ kiêu
căng Người hơn mình thì chớ nịnh hót Thấy của người thì chớ tham lam Đối của mình thì chớ bủn xỉn”[36, tr.117] Từ những điều nhỏ nhặt trong
cuộc sống như thế này sẽ tạo nên tính cách và đức tính cho mỗi con người
Không chỉ đối với toàn bộ nhân dân trong quá trình xây dựng đời sống mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt nhắc nhở đến việc tự rèn luyện, giáo dục đạo đức cho những người cán bộ, những nhân viên cơ quan chính phủ, Người
viết: “Người mà chịu được khổ thì việc to lớn, khó khăn mấy cũng làm được
Ta đã biết cần phải chịu khổ thì ta chịu một cách vui vẻ, dần dần ta sẽ không lấy làm khổ Chúng ta đem tinh thần mà chiến thắng được vật chất, chúng ta
vì nước, vì dân mà chịu khổ, một cái khổ rất có giá trị, thì vật chất càng khổ tinh thần càng sướng… Khổ tận thì cam lai Khổ nay chỉ là khổ tạm thời,
Trang 22kháng chiến thành công thì sẽ hết khổ” [36, tr.176] Ngoài ra, Người còn chỉ
cho mỗi người cách tự rèn luyện bản thân để có thể rèn luyện đạo đức cá nhân, trở thành người có ích cho đất nước Với các phương pháp rèn luyện rất đơn giản và thiết thực, Người đã chỉ cho mỗi người cách tự rèn luyện bản thân
mình tốt nhất trong tác phẩm “Sửa đổi lối làm việc” đó là “chớ tự kiêu, tự
đại”, phải “luôn luôn cầu tiến bộ”, “luôn luôn tự kiểm điểm, phê bình”, phải
luôn tự “sửa đổi khuyết điểm của mình” và “đồng thời phải hoan nghênh
người khác phê bình mình” Mỗi con người, dù trong hoàn cảnh nào cũng rèn
luyện cho bản thân những đức tính này thì sẽ nhanh tiến bộ trong công việc cũng như trong cuộc sống Bởi vì khi rèn luyện được đạo đức cho riêng mình thì mỗi người sẽ không ngại khó khăn nào trong cuộc sống và công việc Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã nhắc nhở riêng từng đối tượng về quá trình rèn luyện tu dưỡng đạo đức của mình Người đặc biệt quan tâm đến thế
hệ trẻ của đất nước đó chính là thiếu niên, nhi đồng và những sinh viên của đất nước Với các cháu thanh, thiếu niên nhi đồng, Người đã nhắc nhở là phải rèn luyện bản thân, cố gắng học tập tốt về cả chuyên môn và đạo đức, phải
biết “yêu tổ quốc”, “yêu nhân dân”, “yêu lao động”, “yêu khoa học” và đặc biệt là “yêu đạo đức” [42, tr.400] Có như vậy mới có thể xây dựng được thế
hệ trẻ “vừa hồng vừa chuyên” Nhắc nhở việc rèn luyện, tu dưỡng bản thân
mình với những tình yêu gần gũi và giản dị vừa là động viên, cổ vũ vừa là thúc giục thanh thiếu niên trở thành người có ích cho nước nhà Còn đối với sinh viên, những người chủ tương lai của đất nước, thế hệ vàng của dân tộc
thì Người đã nhắc nhở: “lao động trí óc thì phải kết hợp với lao động chân
tay Học lao động thì phải có quyết tâm; muốn có quyết tâm thì phải có tinh thần, phải có sáu cái yêu” [42, tr.400] Và “sáu cái yêu” Người nhắc đến với
sinh viên đó là: yêu Tổ quốc, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội, yêu lao
Trang 23động, yêu khoa học và kỷ luật Đối với từng đối tượng thì Người cũng đã chỉ
rõ các cách thức, phương pháp để thể hiện tình yêu của mình
Hồ Chí Minh với giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt đời
Đạo đức của một con người không phải tự nhiên mà sinh ra, không phải
tự nhiên mà có, nói như Hồ Chí Minh là không phải từ trên trời rơi xuống Muốn có đạo đức con người phải trải qua một quá trình rèn luyện lâu dài, tu dưỡng bền bỉ, hàng ngày để phát triển, củng cố, như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong Cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh là cuộc đời tiêu biểu cho việc giáo dục, rèn luyện tu dưỡng đạo đức suốt đời Ngay từ những tháng ngày ra đi tìm kiếm, học tập một phương pháp, một con đường cứu nước cho dân tộc, Người đã đi bằng hai bàn tay trắng của mình, trải qua rất nhiều những gian khổ, thiếu thốn, với rất nhiều nghề khác nhau, ở nhiều đất nước khác nhau Ý chí quyết tâm và tình yêu nước, thương dân đã giúp Người vượt qua tất cả mọi khó khăn, thiếu thốn, gian khổ để có thể thực hiện được tâm nguyện của mình Trên con đường lãnh đạo cách mạng đi đến thắng lợi, Người đã gặp phải vô vàn những khó khăn, không chỉ khó khăn, thiếu thốn về mặt vật chất, sự đày đọa về mặt thể xác mà còn là sự khó khăn
về mặt tinh thần, như thời kỳ 1931 – 1935; những khó khăn trong xây dựng một chế độ xã hội mới với con người mới, đạo đức mới và đặc biệt trong hai cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ (1945 – 1969) nhưng tất cả đều được Người vượt qua bằng bản lĩnh chính trị, và đạo đức cao cả của Người
Vì nước vì dân – đó chính là mục đích, phương pháp nhưng cũng là tâm nguyện suốt cả cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh Trong giai đoạn nào, thời
kỳ nào, trong quyết định bất cứ vấn đề gì của đất nước, Người đều vì lợi ích của dân của nước Trong những ngày tháng cuối đời của mình trên giường bệnh, Người vẫn luôn quan tâm đến nhân dân, luôn lo lắng cho cuộc sống của
Trang 24nhân dân Trên giường bệnh nhưng Người vẫn hỏi thăm mực nước sông Hồng, vẫn lo lắng cho nhân dân vì lũ lụt và nguy cơ vỡ đê Người không chịu rời khỏi Hà Nội, không rời nhân dân thủ đô trước nguy cơ vỡ đê, lụt lội Những ngày tháng cuối đời nhưng Người vẫn thực hành đạo đức – cái đạo gắn bó tính mệnh của mình với tính mệnh của nhân dân Người đã từng nói:
“tiên thiên hạ chi ưu nhi ưu, hậu thiên hạ chi lạc nhi lạc” hoặc có khi người
lại nói “tiên thiên hạ ưu, hậu thiên hạ lạc”, và suốt cuộc đời Người đã rèn
luyện đạo đức vì nước vì dân như vậy
Cuộc đời Hồ Chí Minh là giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng suốt đời Trong mọi hoàn cảnh, mọi thời kỳ, người luôn luôn tự ý thức rèn luyện đạo đức cách mạng của mình Cuộc đời Người là trọn vẹn cái chân, cái thiện, cái mỹ, không
bị tha hóa từ tuổi thiếu niên cho đến phút cuối cùng, từ lúc hàn vi với thân phận của người dân nô lệ luôn bị mật thám theo dõi, bị tù đày, đày đọa, bị xử
án tử hình vắng mặt … cho đến lúc đứng ở đỉnh tháp của quyền lực thì Người vẫn không bị quyền lực làm cho mờ mắt, không bị sức mạnh của quyền lực làm cho tha hóa, thay đổi Mọi sự cám dỗ thông thường dường như không thể nào có thể thay đổi được bản lĩnh đạo đức của Người Sự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức suốt cuộc đời của Người còn thể hiện rất rõ qua mục đích, tình cảm của Người Người đã từng nói: “Tôi hiến cả đời tôi cho dân tộc tôi” khi trả lời
nữ phóng viên báo Granma (Cuba) Mácta Rôhát ngày 14 tháng 7 năm 1969
Người cũng đã nói: “Những lúc tôi phải ẩn nấp nơi núi non, ra vào chốn tù
tội, xông pha sự hiểm nghèo là vì độc lập cho Tổ quốc, tự do cho đồng bào”
Hồ Chí Minh nói: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là
tất cả những gì tôi muốn, đấy là tất cả những gì tôi cần”[56, tr.94] Trên báo
“Cứu quốc” ngày 21 tháng 1 năm 1946 Hồ Chí Minh đã thể hiện rõ mục đích cuộc đời của Người khi trả lời phỏng vấn của các phóng viên nước ngoài:
“Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn
Trang 25toàn được độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn,
áo mặc, ai cũng được học hành”.Trong bản Di chúc cuối đời Người cũng đã
viết: “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toản Đảng, toàn dân ta đoàn
kết, phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, và giàu mạnh, nó góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới”[46, tr.624]
Sự giáo dục, tu dưỡng đạo đức suốt đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành năng lượng cuộc sống của Người, và không chỉ đối với riêng bản thân Người mà nó truyền sang cho cả những người xung quanh để tiếp tục phát huy Sự rèn luyện tu dưỡng đạo đức suốt cuộc đời của Người đã trở thành bản lĩnh, bản lĩnh của một con người “phú quý bất năng dâm, bần tiện bất năng di,
uy vũ bất năng khuất”
Rèn luyện, tu dưỡng đạo đức thiết thực: nói đi đôi với làm
Chủ tịch Hồ Chí Minh có cách ứng xử vô cùng văn hóa, và có thể coi cuộc đời của Người như một tấm gương sáng về đạo đức mà mỗi con người
có thể soi vào đó và kiểm điểm lại chính mình Đạo đức của Người không phải là những gì quá cao siêu, xa vời mà thật ra rất giản dị và gần gũi, học tập đạo đức của Người cũng không phải là sự bắt chước mà đơn giản chỉ là tìm thấy sự vận dụng phù hợp vào cuộc sống của mỗi người mà thôi
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người nêu lên các chuẩn mực đạo đức mới của người cách mang: đó là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Và cả cuộc đời Người là sự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức để thực hiện các chuẩn mực đạo đức
đó Suốt cuộc đời là sự giản dị với những đồ dùng rất đơn sơ: đôi dép cao su,
bộ áo vải kaki sờn, chiếc máy đánh chữ cũ… với những bữa ăn rất đạm bạc, nhận một túi cam biếu cũng thấy áy náy để rồi viết thơ cảm ơn người tặng cam… Những hành động nhỏ nhặt nhưng thể hiện sự rèn luyện đạo đức của người
Trang 26Theo Hồ Chí Minh, đạo đức không phải là đạo đức tu thân mà là đạo đức dấn thân, có nghĩa là đạo đức gắn liền với hành động Sự rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh không quá cao xa, mà thật sự rất thiết thực, giản dị Trước hết, đó là tấm gương có sức mạnh cảm hóa, đưa con người đến với niềm tin, sự tin Khi Người kêu gọi nhân dân tham gia ủng hộ phong trào “hũ gạo cứu đói” cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa mỗi bữa bỏ ra một
bơ để cứu giúp những người đang bị đói sau Cách mạng Tháng Tám 1945, và Người đã thực hiện đầu tiên, nghiêm túc để làm gương cho nhân dân, giúp những người dân đang bị đói Khi kêu gọi mọi người ra sức chống hạn cứu lúa, huy động người dân nông thôn bất kể ngày đêm đi tát nước thì Người cũng đã đi tát nước, cấy lúa với máy thí nghiệm… Khi bàn về chuyện cứu đói, tát nước chống hạn, và tinh thần tự giác, đạo đức trong đó Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã nói: “Phải làm gương cho đồng bào, phải siêng năng, hăng hái
Tôi lấy thí dụ như trong việc cứu nạn đói, mình bảo người ta 10 ngày nhịn ăn một bữa mà chính đến ngày nhịn, mình lại cứ chén tỳ tỳ thì nghe sao được Đáng lý dân nhịn một bữa mình nhịn hai bữa mới phải Về việc khuyến nông cũng vậy, bảo người ta đào đất trồng ngô, trồng khoai mà lúc người ta làm mình lại ngủ thì sao được? Miệng nói tay phải làm mới được” [35, tr.117]
Những hành động đó của Người đã đưa Người gần hơn với nhân dân, làm cho nhân dân xúc động trước tình cảm của một vị lãnh tụ đối với quần chúng và
có sức cảm hóa lớn trong quần chúng
Nói về đạo đức phải gắn liền với thực hành đạo đức, đặc biệt phải có hiệu quả Một người làm việc gì cũng không có hiệu quả, thì không thể coi là
một người có đạo đức, Người chỉ ra rằng “Phải lấy kết quả thiết thực đã góp
sức bao nhiêu cho sản xuất và lãnh đạo sản xuất mà đo ý chí cách mạng của mình Hãy kiên quyết chống bệnh nói suông, thói phô trương hình thức, lối làm việc không nhằm mục đích nâng cao sản xuất" [43, tr.68]
Trang 27Người khuyên cán bộ phải cần, kiệm, liêm, chính, phải thật sự là người đầy tớ của nhân dân, và chính Bác làm gương trước sống giản dị, thanh bạch,
khiêm tốn để làm đúng điều Người dạy: “Cán bộ Đảng, chính quyền ngay cả
Bác là cán bộ cao nhất đều là đầy tớ của nhân dân, phải hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, phải cần, kiệm, liêm, chính” Bởi thế, việc Người làm là
khước từ ở ngôi nhà sang trọng thuộc thời Toàn quyền Đông Dương, mà chỉ ở ngôi nhà của người công nhân phục vụ Toàn quyền Pháp thời đó; đi dép lốp,
mặc áo vá vai, dùng loại ô tô xoàng nhất, cũ nhất, chính là “cái phúc của dân,
đừng bỏ cái phúc đó đi” Mùa hè nóng bức, Bác dùng chiếc quạt lá cọ, Bác
bảo: Bác làm như thế để dành điện phục vụ cho sản xuất, dành điện phục vụ sinh hoạt cho nhân dân
Bác Hồ làm những việc như thế, để thực hiện điều Người đã nói: Cơm
chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra Vì vậy, chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân Muốn làm được như vậy, chúng ta phải cố gắng thực hiện, cần, kiệm, liêm, chính và Ai chẳng muốn no cơm, ấm áo, nhưng cuộc sống vật chất hết đời người là hết Còn tiếng tăm tốt xấu truyền đến ngàn đời sau Cán bộ, đảng
viên nếu làm theo được những việc như trên sẽ thật sự quan liêm - mà quan liêm thì dân hạnh phúc và sẽ đẩy thuyền đi; và sẽ chẳng có những loại quan tham - mà quan tham nhiều thì dân khổ, nước nguy
Bác Hồ dạy chúng ta: “Đem lòng chí công mà đối với người, với việc”,
“Làm bất cứ việc gì cũng đừng nghĩ đến mình trước”, “Không ham người tâng bốc mình”, thì Người nêu tấm gương sáng sống chân thành khiêm tốn,
sống cho dân, vì dân, sống cho đời chứ không sống cho mình Bác khuyên mọi người sống trong sạch, không tham lam, không tham tiền tài danh vọng, không cậy quyền thế mà ăn của đút, đục khoét, thì Bác đã làm những việc quang minh chính đại, để cán bộ, đảng viên nhất là những người có chức, có
Trang 28quyền bây giờ phải làm theo gương Bác, mà xem mình để khỏi phạm vào vòng tội lỗi Tại Bảo tàng Hồ Chí Minh còn lưu lại những câu chuyện của Người về sự quang minh: Đồng bào Thái Bình gửi biếu Bác 2 chai nước
mắm, Bác san sẻ quà đó với người khác cùng hưởng: “Hôm chủ nhật đồng
bào Thái Bình có cho tôi 2 chai nước mắm làm bằng tôm “Vật khinh tình trọng”, từ chối không được, tôi phải nhận lấy cho bằng lòng anh em Nay tôi xin gửi biếu Cụ 1 chai, và xin chúc Cụ mạnh khoẻ” Lần Bác tới thăm xí
nghiệp May X (nay là Công ty May X), xí nghiệp có gửi biếu Bác bộ quần áo
ka ki, Bác nhận và sau đó Bác gửi thư và quà cảm ơn: “Bác cảm ơn các cô,
các chú biếu Bác bộ quần áo, Bác đã nhận rồi, nay Bác xin gửi lại để làm phần thưởng thi đua” Nói đi đôi với làm mà Bác Hồ dạy chúng ta, và những
việc Bác làm để làm “mực thước” cho mỗi chúng ta, đó chính là lẽ sống
“thật” và “thật sự”
Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương nói đi đôi với làm Cho nên, ở Người có sức thuyết phục lớn, có một sức hút mãnh liệt làm cho cả dân tộc, các giai tầng xã hội, các thế hệ người Việt Nam đều tin tưởng, kính phục, yêu quý và đi theo lời kêu gọi của Người Các vị lãnh tụ cộng sản và nhân dân yêu chuộng hoà bình trên thế giới cũng kính yêu Người
1.2 Hồ Chí Minh với tu dưỡng, rèn luyện đạo đức người cán bộ y tế
1.2.1 Quan niệm y đức
Nghề y là một trong những ngành nghề tồn tại lâu dài nhất trong xã hội
và cũng là nghề đòi hỏi khắt khe về tiêu chuẩn đạo đức ngành nghề
Ngay từ nền văn minh Lưỡng Hà của Phương Đông, ngay từ những văn
tự sớm nhất nhân loại (Sumer 3.700 - 1000 TCN) đã ghi: “Toàn thể dân
chúng là thầy thuốc kẻ đi đường có bổn phận thăm hỏi bệnh nhân và không được làm thinh, lẳng lặng bỏ đi (Herodotu)” Đến nền văn minh Ai Cập cũng
đã nêu lên “thiên mệnh” người làm nghề y là “thiên mệnh chữa khỏi bệnh
Trang 29tật” Và đến Lão Tử, Ông cho rằng bản chất của y khoa là cứu người, cái đức
của người thầy thuốc là cứu người mà không thấy rằng mình cứu người, vì đấy là lý đương nhiên như chim bay, cá lặn, gió thổi
Ở phương Tây, các quan điểm về đạo đức của nghề y cũng được bản đến
từ rất sớm Trong thần thoại Hy Lạp, Apollon được biết đến là vị thần sáng lập ra thuật chữa bệnh đã thể hiện mầm mống tư tưởng đề cao nghề y Đến Hippocrate (460 - 377 TCN) - thầy thuốc vĩ đại, người có ảnh hưởng đến toàn
bộ nền y học phương Tây là người đã đặt nền móng cho việc xây dựng tiêu chuẩn đạo đức nghề y Và về cơ bản thì những tiêu chuẩn đó vẫn còn đúng cho đến tận ngày nay
Dù ở Phương Đông hay Phương Tây từ rất sớm ngành y đã đòi hỏi ở người làm nghề một lý tưởng đạo đức cao đẹp: Cố gắng hết mình vì người bệnh hay là sự hi sinh vô điều kiện đối với sự nghiệp y tế
Đạo đức y học đã được con người bàn đến từ rất sớm - khoảng 2500 năm trong nghề y, tính từ thời Hyppocrate Cùng với sự phát triển của y học thì khái niệm Đạo đức y học dần được hoàn thiện
Trong thập kỷ 20 - 40 của thế kỷ 20 đã có rất nhiều những thử nghiệm lâm sàng, nghiên cứu bị phát hiện liên quan đến vấn đề đạo đức y học như Nghiên cứu Tuskegee năm 1928; Thí nghiệm của Bác sỹ Josef Mengele (1911
- 1979) tại trại tập trung Auschwitz của Phát xít Đức
Và đến năm 1947, điều lệ Nuremberg - văn kiện đầu tiên của quốc tế về đạo đức trong nghiên cứu y sinh học có sử dụng con người ra đời - đây là một dấu mốc quan trọng, chính thức đưa khái niệm đạo đức y học vào các công văn, quy định mang tầm quốc tế chung của cả nhân loại
Ngày nay, đạo đức nghề y càng đặc biệt được quan tâm Hội Y học thế
giới cho rằng: Đạo đức là sự nghiên cứu về giáo lý, sự phản ánh một cách
thận trọng, hệ thống và sự phân tích các quyết định lương tâm và hành vi,
Trang 30trong quá khứ, hiện tại hoặc tương lai Đạo đức y học là nhánh nghiên cứu đề cập đến vấn đề đạo đức trong thực hành y học [60]
Ở Việt Nam, Đạo đức Y học cũng đã được bàn đến từ rất sớm: Từ Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1724 - 1791) đã đưa ra “Chín điều y huấn cách ngôn” để giảng dạy cho học trò Hồ Chí Minh cũng nêu lên những quan điểm về đạo đức ngành y Đến năm 1989 Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân được Quốc Hội Việt Nam thông qua cũng đã nhắc đến khái niệm y đức Và đến năm 1996, Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Quyết định về “12 Điều Y đức” quy định về Tiêu chuẩn đạo đức của người làm công tác y tế Trong đó đã đưa
ra định nghĩa về y đức như sau:
“Y đức là phẩm chất tốt đẹp của người làm công tác y tế, được biểu hiện
ở tinh thần trách nhiệm cao, tận tụy phục vụ, hết lòng thương yêu chăm sóc người bệnh, coi họ đau đớn như mình đau đớn, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã dạy: “Lương y phải như từ mẫu” Phải thật thà đoàn kết, khắc phục khó khăn, học tập vươn lên để hoàn thành nhiệm vụ, toàn tâm toàn ý xây dựng nền Y học Việt Nam Y đức phải thể hiện qua những tiêu chuẩn, nguyên tắc đạo đức được xã hội thừa nhận”[14]
Đạo đức y học còn được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra các cách hiểu, khái niệm khác nhau như:
Y đức là một hệ thống những nguyên tắc và giá trị đã được đồng thuận trong giới thấy thuốc mà quy định mối quan hệ thầy thuốc với bệnh nhân (ở cấp độ cá nhân) Y đức dựa trên việc tuân theo bốn nguyên lý: Tôn trọng quyền tự quyết; Thực thi lòng nhân ái; Không làm điều ác; Đảm bảo công lý
Có quan điểm cho rằng: Đạo đức y học là những quy tắc hay chuẩn mực
mà những người hành nghề y dược phải tuân theo trong thực hành nghề nghiệp Đạo đức y học bao gồm những quy tắc có tính đặc thù nghề nghiệp và
bao gồm những quy định về luật pháp trong thực hành nghề nghiệp Do vậy
Trang 31phạm trù đạo đức y học vừa mang những thuộc tính chung cho tất cả những người hành nghề y trên thế giới, nhưng đồng thời có những quy định riêng phụ thuộc vào luật pháp của từng quốc gia Tuy nhiên, đạo đức y học được thực hiện dựa trên một số nguyên lý cơ bản Mặc dù đây chưa phải là những nguyên tắc hay quy định bắt buộc người làm nghề y phải thực hiện tuy nhiên
nó mang ý nghĩa cung cấp, định hướng để những người lao động trong ngành
y tế có các quyết định đúng đắn đề chăm sóc sức khỏe một cách phù hợp, mang lại lợi ích cao nhất cho người bệnh Các Nguyên lý cơ bản của Đạo đức
y học bao gồm: Tôn trọng quyền tự chủ; Lòng nhân ái; Không làm việc có hại/ không ác ý; Công bằng
Nói tóm lại, dù nghiên cứu, tiếp cận ở góc độ nào đi chăng nữa thì Y đức cần được hiểu là một nhánh nhỏ của đạo đức - hay chính xác hơn là đạo đức của những người lao động trong nghề y - khám, chữa bệnh, chăm sóc và cung cấp dịch vị chăm sóc sức khỏe của nhân dân Y đức biểu thị đạo đức trong quan hệ giữa cán bộ, nhân viên nghề y với người bệnh nghĩa là cả đạo đức của người làm việc nghề y và cả đạo đức của người bệnh Tuy nhiên thường được hiểu nghiêng về đạo đức của người làm việc trong nghề y
Tóm lại, có nhiều định nghĩa khác nhau được đưa ra khi bàn về y đức, nhưng dù tiếp cận ở phương diện nào thì y đức vẫn luôn được hiểu là một
nhánh nghiên cứu của đạo đức như Hội Y học thế giới đã đưa ra: “Đạo đức y
học là nhánh nghiên cứu đề cập đến vấn đề đạo đức trong thực hành y học”
[55]
1.2.2 Quan điểm Hồ Chí Minh về y tế và rèn luyện đạo đức cho cán bộ y tế
Về vai trò, nhiệm vụ của người cán bộ y tế
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến con người – và một trong những yếu tố gắn liền với con người đó chính là sức khỏe Người luôn coi sức khỏe của con người chính là nhân tố quan trọng quyết định sự
Trang 32cường thịnh của một quốc gia, dân tộc Và Người cũng đã đưa ra quan niệm
về sức khỏe rất đúng đắn và toàn diện, Người viết: “khí huyết lưu thông, tinh
thần đầy đủ thế là sức khỏe”[35, tr.241] Có thể nói đây là một định nghĩa về
sức khỏe thể hiện trí tuệ và tầm nhìn của Người, vì đến năm 1978 khi Tuyên
ngôn Alma Ata của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đưa ra về định nghĩa với
sức khỏe “sức khỏe là trạng thái thoải mái về tâm hồn, về thể xác, về xã hội”
có thể thấy sự đồng nhất về quan điểm sức khỏe giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với Tổ chức Y tế Thế giới
Chính vì luôn luôn coi trọng sức khỏe của con người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn quan tâm đến việc chăm sóc sức khỏe cho con người và Người đặc biệt coi trọng vai trò, nhiệm vụ của người thầy thuốc và cán bộ nhân viên
y tế đối với sự nghiệp chăm sóc sức khỏe toàn dân
Ngay từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp, Người đã luôn luôn quan tâm, nhắc nhở vai trò của cán bộ, nhân viên y tế về
vai trò, trách nhiệm của mình: “Người thầy thuốc chẳng những có nhiệm vụ
cứu chữa bệnh tật mà còn phải nâng đỡ tinh thần những người ốm yếu” [36,
tr.487] Điều này thể hiện rõ nhiệm vụ, trách nhiệm của một người thầy thuốc: Không chỉ thực hiện vai trò của mình trong chuyên môn, trong y thuật mà còn phải là người bạn tinh thần, giúp đỡ, động viên tinh thần người bệnh, bởi vì bệnh nhân ngoài sự đau đớn về mặt thể xác cần được các bác sỹ chữa bệnh theo chuyên môn thì họ còn mang nỗi đau lớn về mặt tinh thần và cũng cần phải được giúp đỡ Quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về vai trò của người thầy thuốc đã đem lại cách nhìn tổng thể hơn về vai trò, trách nhiệm của những người lao động trong nghề y đối với bệnh nhân
Người luôn coi trọng vai trò của những con người đang chăm sóc thứ quý giá nhất của nhân dân đó chính là sức khỏe Người cho rằng chữa bệnh
tật, chăm sóc sức khỏe của nhân dân, bảo vệ “sự khang kiện của giống nòi” là
Trang 33trách nhiệm vẻ vang của cán bộ, nhân viên y tế được Chính phủ phó thác cho
Nhiệm vụ bảo vệ “sự khang kiện của giống nòi” thể hiện tầm nhìn xa trông
rộng của Hồ Chí Minh với vai trò nhiệm vụ của nghề y Không chỉ dừng lại việc khám chữa bệnh ở hiện tại mà còn mong muốn xây dựng một thế hệ tương lai khỏe mạnh, khang kiện đó cũng phải nhờ đến vai trò của ngành y tế
Là người chăm sóc sức khỏe của nhân dân, với Chủ tịch Hồ Chí Minh thì vai trò của y tế nói chung và bác sỹ nói riêng không chỉ dừng lại ở việc mổ
xẻ, chữa bệnh … cho nhân dân khi họ mắc phải bệnh tật, mà sâu xa hơn nữa
đó là nhiệm vụ vệ sinh phòng bệnh không để xảy ra những dịch bệnh lớn ảnh hưởng đến sức khỏe của nhân dân
Suốt cuộc đời, từ những năm đầu thành lập nước 1945 cho đến tận những ngày cuối cùng cuộc đời Người vẫn luôn luôn nhắc nhở ngành y và những người làm nghề y thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm của mình đối với
sự phát triển nền y học của dân tộc và nhất là hoàn thành nhiệm vụ chăm sóc
sức khỏe cho nhân dân vì một “dân cường quốc thịnh” Hồ Chí Minh đặc biệt
luôn nhắc nhở Đảng và Nhà nước ta ngoài việc phát triển nền kinh tế, văn hóa
xã hội thì không thể quên được nhiệm vụ phát triển y tế, phát triển công tác vệ sinh y tế, vệ sinh phòng bệnh và coi đây là trụ cột cho sự nghiệp chăm sóc bảo vệ sức khỏe toàn dân, để phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Tháng 2 năm 1949, trong Thư gửi cho nam nữ học viên Trường cán bộ y
tế Liên Khu I, Người viết: “Người y tá chẳng những giúp chữa bệnh mà còn
phải phổ biến vệ sinh” [37, tr.34] Qua đó cho thấy vai trò của những người
lao động trong nghề y không chỉ dừng lại ở việc khám chữa bệnh mà còn có nhiệm vụ xây dựng một môi trường sống trong sạch không có dịch bệnh cho nhân dân
Trang 34Đến năm 1953, vai trò, nhiệm vụ của người cán bộ y tế lại được nêu rõ
hơn trong Thư gửi Hội nghị cán bộ Y tế toàn quốc, Người viết: “Sức khỏe
của cán bộ và nhân dân được đảm bảo thì tinh thần càng hăng hái Tinh thần
và sức khỏe đầy đủ thì kháng chiến còn nhiều thắng lợi, kiến quốc càng mau thành công Nhiệm vụ ấy có hai phần: Phòng bệnh cũng cần thiết như trị bệnh…” [39, tr.154]
Ngày nay, chúng ta thường nhìn bác sỹ với vai trò là người chữa bệnh và bắt đầu đã có những nhận định đúng đắn về vai trò của bác sỹ trong việc phòng bệnh Như vậy là chúng ta đang trở về với tư tưởng Hồ Chí Minh khi bàn về vai trò của cán bộ, nhân viên ngành y tế Theo Hồ Chí Minh, con người sẽ thực sự hạnh phúc khi sống không có bệnh tật: nhân sinh vô bệnh thị chân tiên (không bệnh là tiên, sướng tuyệt trần) và đó cũng là điều Người mong muốn cho sức khỏe của nhân dân Việt Nam, để làm cho các thế hệ người dân Việt Nam luôn luôn có sức khỏe để xây dựng đất nước, làm cho đất nước ngày càng cường thịnh
Về giáo dục, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cho người cán bộ y tế
Với vai trò to lớn của những người lao động trong nghề y, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy cần phải giáo dục, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức cho người cán bộ y tế để có thể xây dựng một nền y tế hiện đại, tiến kịp với thế giới đồng thời góp phần củng cố sức khỏe cho thế hệ tương lai của đất nước Giáo dục, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức cho con người có ý nghĩa to lớn
và quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt chú trọng việc giáo dục, rèn luyện và bồi dưỡng đạo đức cho mỗi người nói chung và cho từng ngành nghề nói riêng Là một bộ phận trong tổng thể
xã hội nhưng đồng thời là cá tính, đặc trưng của từng nghề nghiệp tồn tại cùng với con người, y đức và y nghiệp càng cần sự giáo dục, rèn luyện và bồi dưỡng thường xuyên, lâu dài mới có thể hình thành được đội ngũ cán bộ nhân
Trang 35viên nghề y đáp ứng cho yêu cầu đảm bảo sức khỏe cho công cuộc xây dựng, kiến thiết đất nước
Y đức – nội dung cốt lõi của quá trình giáo dục, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức nghề y
Nghề y là nghề gắn bó với con người vì vậy dù chỉ là một sai sót nhỏ cũng có thể để lại những hậu quả khôn lường đối với sức khỏe cũng như tính mạng của nhân dân Từ xưa đến nay, nghề y luôn được coi là nghề cao quý, nghề quan trọng và là nghề nhân đạo có quan hệ đến tính mạng của con người, đến hạnh phúc từng gia đình, đến tương lai của nòi giống, đến sức khỏe và sự cường thịnh của một quốc gia, dân tộc, của toàn xã hội
Một trong những câu nói nổi tiếng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về đạo đức nghề y mà rất nhiều người biết đến là “lương y kiêm từ mẫu” Đây là tư tưởng của Người được nêu rõ trong “Thư gửi Hội nghị Quân Y” tháng 3 năm 1948:
“Người ta có câu: “lương y kiêm từ mẫu”, nghĩa là người thầy thuốc đồng thời phải là một người mẹ hiền” [36, tr.487] Và đến năm 1953 trong “Thư gửi Hội nghị cán bộ y tế toàn quốc”, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại tiếp tục dặn
dò những người cán bộ y tế là cần phải thương yêu người bệnh như anh em
ruột thịt Cần phải tận tâm, tận lực phụng sự nhân dân “Lương y kiêm từ
mẫu”
Người đã trở đi trở lại với quan điểm lương y kiêm từ mẫu để khẳng đingj vai trò của đạo đức đối với nghề y Người cũng đã từng nói nghề y là một nghề đặc biệt và sự đặc biệt đầu tiên của nghề y đó chính là chăm sóc thứ quý giá và quan trọng của con người là sức khỏe Và hàng ngày, đội ngũ nhân viên y tế phải tiếp xúc với rất nhiều người khác nhau, với nhiều loại bệnh tật khác nhau để hoàn thành và làm tốt nhiệm vụ của mình không có cách nào khác là phải phải rèn luyện đạo đức Với cán bộ, nhân viên y tế ngành y thì đạo đức cao đẹp phải hướng tới là trở thành “từ mẫu” – “mẹ hiền” Trong
Trang 36cuộc sống thì tình thương yêu đầm ấm và sâu sắc nhất chính là tình yêu thương từ người mẹ hiền từ, và cũng không có mối tình nào cao cả như tình mẫu tử Những người thầy thuốc tận tâm, đang ngày đêm cứu chữa cho những người bệnh thoát khỏi cơn thập tử nhất sinh đó cũng được coi là người mẹ thứ hai đã giành lại cuộc sống cho người bệnh Đồng thời, từ tấm lòng của người
“mẹ hiền” các cán bộ y tế cũng sẽ có đức tính, thái độ tốt như niềm nở, dịu dàng trong khi tiếp xúc, tận tình, cẩn trọng, chu đáo trong khi thăm khám và chăm sóc, ân cần, tỉ mỉ trong khi dặn dò, và trong những trường hợp khó khăn nguy kịch thì sẵn sàng chịu khó, chịu khổ, hy sinh quên mình để làm tròn phận sự cứu người
Hơn nữa, có tình thương của người mẹ hiền, người thầy thuốc sẽ tránh được những thói hư tật xấu như cầu lợi, bất công, phân biệt đối xử giữa người giàu, kẻ nghèo, giữa người sang kẻ hèn, tránh được sự hách dịch, lạnh lùng khi tiếp xúc với bệnh nhân, qua loa, tách trắc trong phục vụ, kèn cựa, đố kỵ
với đồng nghiệp Chính vì vậy “lương y kiêm từ mẫu” là cốt lõi của đạo đức
y học
Không chỉ muốn nói về tiêu chuẩn hàng đầu của đạo đức nghề y là “từ
mẫu”, sâu sắc hơn là “lương y kiêm từ mẫu” ở đây còn mang ý nghĩa người
thầy thuốc không đơn thuần chỉ là người thầy thuốc chữa bệnh mà họ còn có thêm một trách nhiệm, “kiêm” thêm một nhiệm vụ nữa là người mẹ hiền Nghĩa là ngoài việc khám chữa bệnh chuyên môn, đem tài năng, tri thức của mình để chữa bệnh, để chăm sóc cho bệnh nhân thì người thầy thuốc còn phải hết lòng yêu thương bệnh nhân, thật tâm lo lắng về bệnh tình, sức khỏe của bệnh nhân, quan tâm đến tinh thần bệnh nhân như một người mẹ hiền đối với người con Khi hoàn thành tố cả 2 nhiệm vụ về chuyên môn và về tinh thần thì người thầy thuốc đã rèn luyện được y đức cho bản thân mình
Trang 37Ngoài rèn luyện y đức “lương y kiêm từ mẫu” thì một nội dung rèn
luyện nữa được Hồ Chí Minh yêu cầu đối với cán bộ y tế là “phải có chí, chịu khó, chịu khổ, phải giàu lòng bác ái, hi sinh” Nghề y là một nghề đặc biệt, chính vì vậy rèn luyện đạo đức đối với nghề y lại càng đòi hỏi cao hơn so với những nghề khác Nghề y là nghề có thời gian đào tạo lâu nhất trong xã hội và
để trở thành một thầy thuốc giỏi thì không thể ngày một ngày hai mà yêu cầu phải bền bỉ lâu dài, chính vì vậy mà khi đã xác định để trở thành một người cán bộ y tế đúng nghĩa thì ngay từ đầu cần phải có ý chí Ý chí để vượt qua khó khăn trong học tập, trong cuộc sống để có thể hoàn thành được chương trình học, để có thể tiếp thu tốt nhất các kiến thức được các thầy cô và nhà trường truyền đạt lại Trong điều kiện đất nước đang gặp nhiều khó khăn, sự thiếu thốn về mọi mặt đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của y tế và tác động lớn đến việc thực hiện chữa bệnh và chăn sóc sức khỏe của nhân dân Trước những khó khăn của đất nước trong kháng chiến, Hồ Chí Minh đã yêu cầu các cán bộ y tế phải chịu khó, chịu khổ khắc phục những khó khăn, những thiếu thốn để hoàn thành được nhiệm vụ cao cả mà Đảng và Nhân dân giao phó Muốn trở thành cán bộ tốt, tận tâm phục vụ cho đất nước cho nhân dân thì dù ở trong ngành nào người cán bộ cũng phải rèn luyện đạo đức, phải giàu lòng bác ái và sự hi sinh Tuy nhiên, đối với nghề y thì yêu cầu này đặt ra cao hơn hẳn Bởi những bệnh nhân cần được chăm sóc là những người đang đau đớn cả về thể xác lẫn tinh thần, hơn ai hết họ cần được đối xử nhẹ nhàng, chu đáo và được quan tâm đầy đủ nhất Chỉ có sự nhân ái của người cán bộ y tế mới có thể làm vơi bớt nỗi đau về tinh thần trong mỗi bệnh nhân và giúp họ
có động lực cố gắng để hồi phục sức khỏe nhanh nhất Sự hi sinh của cán bộ, nhân viên ngành y ở đây chính là sự hi sinh quyền lợi của cá nhân, không vì
tư lợi mà gây ảnh hưởng đến quá trình chăm sóc sửc khỏe của bệnh nhân
Trang 38Bên cạnh việc nêu lên các nội dung của rèn luyện đạo đức nghề y thì Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã chỉ ra phương pháp, cách thức cho việc giáo dục, tu dưỡng và rèn luyện y đức cho các cán bộ ngành y
Người nêu vai trò của cá nhân trong việc thực hiện rèn luyện đạo đức
Muốn trở thành người cán bộ y tế “lương y kiêm từ mẫu”, muốn hoàn thành
tốt được trọng trách cao cả chăm sóc sức khỏe cho nhân dân thì Hồ Chí Minh
đã nhắc nhở đối với những sinh viên trường quân y – những nhân viên y tế
sau này là “phải chăm lo học hành, gắng thực hiện 5 điều: hăng hái, hy sinh,
bác ái, đoàn kết, kỷ luật” [35, tr.509] Đối với các sinh viên ngành y Người
đã nhắc nhở quan tâm đầu tiên đến việc học tập bởi chính sự quan trọng của việc học tập đối với thực hành nghề nghiệp sau này Và để trở thành một người nhân viên y tế tốt thì phải rèn luyện đầy đủ các phẩm chất: hăng hái, hy sinh, bác ái, đoàn kết, kỷ luật Đây vừa là nội dung nhưng đồng thời cũng là phương pháp rèn luyện đạo đức cho người cán bộ y tế Hăng hái, hy sinh là hai yếu tố vô cùng cần thiết đối với một người cán bộ y tế, đặc biệt là trong những hoàn cảnh cấp bách, người cán bộ có khi phải hy sinh lợi ích của bản thân có khi là cả tính mạng bản thân mình vì người bệnh, vì sức khỏe của nhân dân Rèn luyện trên tinh thần luôn luôn hăng hái, sẵn sàng hi sinh vì sức khỏe của nhân dân là yêu cầu quan trọng đối với người cán bộ y tế Có như vậy thì trong hoàn cảnh nào người cán bộ y tế cũng hoàn thành được nhiệm
vụ cao cả của mình
Rèn luyện để luôn có tinh thần bác ái, đoàn kết, kỷ luật là những yêu cầu không thể thiếu của người cán bộ y tế Tinh thần bác ái – yêu thương con người không phải tự nhiên tồn tại trong mỗi con người, phải luôn luôn tu dưỡng để tinh thần bác ái luôn hiện hữu trong mỗi cán bộ y tế có như vậy mới
đủ tình thương yêu để chăm sóc bệnh nhân, đặc biệt là đối với những bệnh nhân nặng và phải trải qua thời gian điều trị lâu dài Chăm sóc bệnh nhân là
Trang 39công việc đòi hỏi tinh thần bác ái rất lớn, bởi đối tượng mà người cán bộ y tế thực hiện chăm sóc không phải chỉ là người thân của mình mà hầu hết là những người bệnh xa lạ với mình
Muốn trở thành người cán bộ y tế vừa có đức, vừa có tài thì tinh thần đoàn kết và tính kỷ luật trở thành phương pháp rèn luyện cần thiết Nghề y là nghề đòi hỏi tính kỷ luật rất cao Kỷ luật chính là phương pháp rèn luyện cho mỗi con người có thể trưởng thành nhanh nhất và xây dựng ý thức trong mỗi con người Nghiêm túc, khẩn trương trong các hoạt động y tế, trong quá trình khám, chăm sóc cho bệnh nhân, thực hiện đúng, đầy đủ, cẩn thận các bước cần thực hiện trong quá trình khám và chữa bệnh đó là những biểu hiện cần thiết của sự kỷ luật trong nghề y Phương pháp rèn luyện bằng kỷ luật và rèn luyện để có tính kỷ luật là phương pháp có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình tu dưỡng y đức của người cán bộ y tế
Phương pháp rèn luyện đạo đức mà Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc
nhở đối với người cán bộ y tế là phải biết “lấy lòng nhân loại và tình thân ái
mà cảm động cảm hóa họ” [36, tr.487] Hồ Chí Minh đã nhìn xa trông rộng
về thái độ, hành động của người cán bộ ngành y trong quá trình chăm sóc bệnh nhân đặc biệt là đối với những thương bệnh binh hạng nặng cho nên Người đã nhắc nhở là phải lấy tình yêu thương con người để cảm hóa Trong hoạt động khám chữa bệnh và chăm sóc bệnh nhân, có những bệnh nhân vì đau đớn bởi vết thương, sự mệt mỏi của cơ thể đặc biệt là những người thương binh mới từ các chiến trường về nhiều bệnh nhân sẽ luôn ở trong tình trạng khó chịu, và có những thái độ không tốt đối với người cán bộ y tế Tuy nhiên, người cán bộ y tế không được vì thế mà lại cư xử thiếu y đức đối với những người bệnh này Phương pháp “cảm hóa” mà Hồ Chí Minh đưa ra có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình rèn luyện y đức Cảm hóa là làm thế nào để người bệnh có thể cùng tham gia với các nhân viên y tế trong quá trình chữa
Trang 40bệnh một cách thoải mái nhất Cảm hóa là xóa đi những mặc cảm mà người bệnh đang gặp phải, là làm cho những rào cản tâm lý của người bệnh về bệnh tật biến mất Để làm được những điều này có lẽ cách hiệu quả nhất là xuất
phát từ “lòng nhân loại, tinh thần bác ái” của mỗi người cán bộ ngành y Chỉ
khi thật sự thương yêu người bệnh, lo lắng cho sức khỏe của người bệnh thì người cán bộ y tế mới có thể toàn tâm, toàn sức chăm sóc cho bệnh nhân cẩn thận nhất và chu đáo nhất Quan điểm về tinh thần nhân ái, đức hi sinh của người cán bộ y tế được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục nhắc nhở trong “Thư
gửi nam nữ học viên trường y tá liên khu I” là “phải giàu lòng bác ái, hi
sinh”
Ngoài phương pháp “cảm hóa” đối với người bệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn đặc biệt quan tâm đến phương pháp đoàn kết của các cán bộ nghề y trong sự nghiệp cao cả của mình Đoàn kết giữa các bác sỹ, các nhân viên y tế cùng chung sức chung lòng tìm các phương pháp chữa bệnh nhanh nhất cho các bệnh nhân, đoàn kết giữa các cán bộ y tế với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân trong quá trình chữa bệnh và chăm sóc Người không chỉ dừng lại
ở việc đoàn kết mà cao hơn nữa là “thật thà đoàn kết” Phải dùng phương pháp “thật thà đoàn kết” này mới có thể xây dựng được một tập thể vững mạnh được Hồ Chí Minh biết rằng nghề y là nghề liên quan trực tiếp đến con người, đến sức khỏe và thể lực của con người, tuy nhiên trong quá trình khám chữa bệnh thì sẽ có rất nhiều những quan điểm khác nhau, phương pháp điều trị khác nhau, cách thức chăm sóc khác nhau điều này tùy thuộc vào tài năng y đức của từng cán bộ nhân viên ngành y tế Chính vì vậy nếu muốn xây dựng một tập thể những người làm nghề y luôn đặt mục tiêu vì sức khỏe của nhân dân lên trên hết thì phương pháp “thật thà đoàn kết” là phương pháp hiệu quả nhất để xây dựng và phát triển nền y tế nước nhà “Thật sự đoàn kết”
sẽ giúp cho từng bộ phận nhỏ trong toàn bộ hoạt động khám chữa bệnh lớn