1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tư tưởng nho giáo về giáo dục và ảnh hưởng của nó đối với nền giáo dục ở việt nam

100 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 775,12 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để đáp ứng được đòi hỏi khách quan của xã hội, các nhà tư tưởng thời kỳ này đều cố gắng đưa ra các phương pháp trị nước an dân, mong muốn xây dựng một xã hội lý tưởng, với cách thức khác

Trang 1

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH QUỐC

GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

  

NGUYỄN THỊ THUẬN

TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỀ GIÁO DỤC

VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA NÓ ĐỐI VỚI NỀN GIÁO DỤC

Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Triết học

Mã số: 60 22 80

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS TRẦN VĂN THỤY

Hà nội - 2011

Trang 2

2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

Chương 1 Tư tưởng Nho giáo về giáo dục 13

1.1 Điều kiện ra đời tư tưởng Nho giáo về giáo dục 13

1.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Nho giáo về giáo dục 23

Chương 2 Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối với nền giáo dục Việt Nam thời phong kiến 41

2.1 Khái quát về chế độ phong kiến Việt Nam và đặc điểm của nó 41

2.2 Nền giáo dục Nho học Việt Nam thời phong kiến 55

Chương 3 Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối với nền giáo dục Việt Nam hiện nay 69

3.1 Quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam và tư tưởng Hồ Chí Minh về nền giáo dục cách mạng Việt Nam từ 1945-2011 69

3.2 Ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối với nền giáo dục Việt Nam hiện nay 85

KẾT LUẬN 95

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 3

về kinh tế, chính trị, đạo đức Các nước chư hầu gây chiến tranh liên miên, tàn khốc nhằm thôn tính, tranh giành địa vị lẫn nhau Cảnh tôi giết vua, con hại cha, anh em, vợ chồng chia lìa thường xuyên xảy ra Thiên hạ trở nên “vô đạo”, trật tự, lễ nghĩa, cương thường xã hội bị đảo lộn

Chính trong hoàn cảnh lịch sử xã hội như vậy, vấn đề cơ bản, cấp bách đặt ra đối với nhà cầm quyền và các nhà tư tưởng đương thời phải giải quyết là làm thế nào để cải biến được xã hội, giáo hoá được con người để làm cho xã hội bình trị Để đáp ứng được đòi hỏi khách quan của xã hội, các nhà tư tưởng thời kỳ này đều cố gắng đưa ra các phương pháp trị nước an dân, mong muốn xây dựng một xã hội lý tưởng, với cách thức khác nhau, dựa trên cơ sở quan điểm triết học và quan niệm về bản tính con người và lợi ích xã hội khác nhau

Dựa trên cơ sở quan điểm triết học, quan điểm về bản tính thiện của con người, về đức “trung dung” và đạo lý của trời đất, vạn vật, Nho giáo chủ

trương trị nước bằng phương pháp “đức trị”, đề cao việc giáo hoá con người

Xã hội lý tưởng của Nho giáo là một xã hội thanh bình, thịnh trị, mọi người

sống nhân đức theo trật tự các chuẩn mực đạo đức của xã hội Đó là xã hội lý

tưởng theo chế độ lễ nghĩa nhà Chu mà người sáng lập Nho giáo hoài vọng

Để xây dựng một xã hội lý tưởng như vậy, Nho giáo cho rằng điều trước hết

Trang 4

một hệ thống nội dung và phương pháp giáo dục khá chặt chẽ với những kiến

giải sâu sắc Với hệ thống ấy, người sáng lập ra Nho giáo là Khổng Tử - một

nhà giáo dục lớn, là người đầu tiên trong lịch giáo dục Trung Quốc, mở trường dạy học và chủ trương “hữu giáo vô loại” (dạy không biết phân xử các hạng người) Đó là quan điểm tiến bộ, đã cố gắng vượt qua giới hạn của đẳng cấp, danh phận xã hội lúc bấy giờ, góp phần làm cho sự nghiệp giáo dục, mở mang trí thức xuống đến dân chúng ở một phạm vi, trình độ nhất định

Lịch sử Việt Nam trước khi Nho giáo du nhập, chúng ta chưa thấy một tài liệu, bằng chứng xác thực về học thuyết xã hội nào chỉ đạo tư duy và hành động của dân tộc ta thời bấy giờ

Nho giáo du nhập vào Việt Nam từ đầu công nguyên Trong muời thế

kỷ Bắc thuộc, Nho giáo không dễ dàng bám rễ, nảy mầm ở đất nước ta Khi đất nước giành được độc lập, việc xây dựng thể chế quốc gia, đặt lễ nghi, phẩm phục, nội dung giáo dục của dân tộc đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo Các triều đại phong kiến đầu tiên ở nước ta khi đặt niên hiệu, tôn hiệu, kể cả bản chiếu dời đô của nhà Lý cũng thấm đượm tư tưởng Nho giáo

Từ khi nhà nước phong kiến Việt Nam tổ chức hệ thống nhà trường, tổ chức những kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình để chọn người tài gánh vác công việc

Trang 5

Để góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục – đào tạo của nước ta phát triển trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, việc nghiên cứu lại

tư tưởng Nho giáo về giáo dục, nền giáo dục Nho học Việt Nam thời phong kiến trên tinh thần có phê phán, gạn lọc, tiếp thu các nhân tố hợp lý là rất cần

thiết Xuất phát từ yêu cầu khách quan ấy, tác giả chọn đề tài “Tư tưởng nho

giáo về giáo dục và ảnh hưởng của nó đối với nền giáo dục ở Việt Nam” làm

đề tài nghiên cứu

2 Tình hình nghiên cứu có liên quan

Ở Việt Nam từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về Nho giáo Hầu hết các công trình nghiên cứu đã công bố đều có liên quan ít, nhiều đến đề tài của luận văn Khái quát một số thành quả cơ bản, tác giả thấy

có mấy loại hình chủ yếu sau :

Loại hình thứ nhất là các công trình nghiên cứu Nho giáo thông qua các

tác phẩm kinh điển của nó là Tứ thư và Ngũ Kinh Tiêu biểu cho loại hình này

có là các công trình của Phan Bội Châu, Trần Trọng Kim, Quang Đạm, Đào

Duy Anh

Cuốn “Khổng học Đăng” của Phan Bội Châu và cuốn “Nho giáo”của

Trần Trọng Kim đã làm sáng tỏ Nho giáo là một học thuyết chính trị - xã hội,

Trang 6

6

là học thuyết về đạo đức, về triết học Các học thuyết ấy đã ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến việc giáo dục, hoàn thiện đạo đức con người, ổn định trật

tự, kỷ cương của xã hội

Cuốn “Khổng giáo phê bình tiểu luận” của Đào Duy Anh đã phê phán

thái độ thiếu khách quan của một số trí thức trong lịch sử đã đánh giá không đúng đắn Nho giáo Ngược lại, ông cho rằng công dụng và sự nghiệp của Nho giáo vẫn trọn vẹn trong lịch sử không ai chối cãi và xoá bỏ được

Cuốn “Nho giáo xưa và nay” của Quang Đạm đã làm sáng tỏ quan

điểm của Nho giáo về mối quan hệ trời - đất - người, nhiều quan hệ đạo đức -

chính trị Đồng thời, ông đã đi sâu phân tích vấn đề học tập của Nho giáo với

nội dung: quan điểm và thái độ học tập, phương châm, phương pháp học tập

và giảng dạy Thông qua việc phân tích những nội dung trên, tác phẩm đã góp phần làm sáng tỏ những mặt tích cực, tiêu cực của học thuyết Nho giáo đối với xã hội

Các công trình nghiên cứu nêu trên có tính chất tổng hợp, trong đó có

những khía cạnh liên quan đến giáo dục Các công trình này đem lại nhiều bổ

ích cho các công trình nghiên cứu tiếp theo về Nho giáo, trong đó có các nghiên cứu tư tưởng về giáo dục của Nho giáo

Loại hình thứ hai là loại hình nghiên cứu sự thể hiện của Nho giáo trong

đời sống tinh thần của xã hội và con người Việt Nam từ khi dân tộc bước vào xây dựng chế độ phong kiến của mình đến khi thực dân Pháp xâm lược (thế kỷ

XI đến thế kỷ XIX) Các tác giả tiêu biểu của loại hình này ta thấy có: GS Đào Duy Anh, GS Cao Xuân Huy, GS.Vũ Khiêu, GS Trần Văn Giàu, GS Phan Ngọc, GS Phan Đại Doãn, GS.Nguyễn Tài Thư, GS.Trần Đình Hượu, GS.Phan Huy Lê, GS Trần Quốc Vượng, GS Hà Văn Tấn, PGS Nguyễn Đắc

Sự, GS Phan Văn Các, PGS Lê Sĩ Thắng…

Trang 7

7

Trong các công trình nghiên cứu của mình, các tác giả bắt đầu từ những

tư tưởng, phạm trù cơ bản của Nho giáo để nghiên cứu sự ảnh hưởng của nó đến các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội và con người Việt Nam như: chủ nghĩa yêu nước, chính trị - xã hội, đạo đức, hệ tư tưởng, văn hoá, giáo dục - khoa cử, thế giới quan…Ta có thể đề cập đến một số công trình tiêu biểu liên quan đến đề tài của luận văn như sau:

Cuốn “Một số vấn đề Nho giáo Việt Nam” của GS.Phan Đại Doãn chủ

biên đã nghiên cứu lịch sử Nho giáo Việt Nam từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ

XX và ảnh hưởng của nó trong lĩnh vực gia đình, giáo dục – khoa cử Các tác giả cho rằng “Nho giáo vào Việt Nam không còn giữ nguyên vẹn như ở Trung Quốc, nó đã được “Việt Nam hoá” …Các nhà Nho Việt Nam vì công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc đã tiếp nhận và khai thác những yếu tố Nho giáo cho phù hợp với xã hội và đất nước mình”… [10, tr.9 - 10]

Cuốn “Nho học và Nho học Việt Nam” của GS Nguyễn Tài Thư đã

trình bày về ảnh hưởng và vai trò của Nho giáo đối với xã hội và con người Việt Nam trong lịch sử Tác giả cho rằng ảnh hưởng nhiều của Nho giáo vào Việt Nam là lĩnh vực thế giới quan và nhân sinh quan Các bộ phận khác của

tư tưởng Việt Nam như tư tưởng chính trị, pháp quyền, đạo đức là những tư tưởng phản ánh trực tiếp quyền lợi của giai cấp phong kiến nên in đậm dấu ấn của Nho giáo hơn Phật giáo và Đạo Lão – Trang

Cuốn “Nho giáo tại Việt Nam” do PGS.Lê Sĩ Thắng (chủ biên) đã

nghiên cứu ảnh hưởng của Nho giáo vào Việt Nam từ nhiều phương diện Các tác giả thống qua sự nghiên cứu của mình đã làm sáng tỏ mặt tích cực và tiêu cực của Nho giáo ở các phương diện cụ thể GS.Vũ Khiêu cho rằng: Tìm hiểu Nho giáo ở Việt Nam, chúng ta càng nhất thiết đặt toàn bộ những vấn đề của

nó dưới ánh sáng của phương pháp khoa học nhất: phương pháp duy vật lịch

sử “Chúng ta tìm hiểu Nho giáo gắn liền với những điều kiện xã hội cụ thể

Trang 8

8

trong đó nó đã nảy sinh, phát triển và suy tàn” [47, tr.13] Trương Chính cho rằng “Từ khi giành được nền tự chủ, dân tộc Việt Nam muốn tồn tại thì phải chọn lấy một ý thức hệ tích cực, quan tâm đến con người, đến xã hội, đến vận mệnh của dân tộc Nho giáo có những hạn chế…nhưng cũng có nhiều nhân tố tích cực so với Lão Trang và Phật giáo” [47, tr.45] PGS Nguyễn Đức Sự cho rằng một trong những “nhu cầu xã hội giúp cho Nho giáo chiếm được địa vị độc tôn trong thời kỳ phát triển cực thịnh của chế độ phong kiến Việt Nam là nhu cầu phát triển văn hoá và giáo dục của nước ta khi chế độ phong kiến tập quyền bắt đầu ổn định Song song với việc mở rộng nền giáo dục và thi cử

…là việc cần phải phát triển các ngành học thuật, các lĩnh vực trí thức của dân tộc [47, tr.245]

Cuốn “Đến hiện đại từ truyền thống” của GS.Trần Đình Huợu cho rằng:

- Nho giáo được đề cao từ thời Lý, một triều đại giữ ngai vàng khá lâu

từ 1010 đến 1225…Nhà Lý lập Văn Miếu thờ Khổng Tử (1070), tổ chức thi

cử 1075), dùng thi cử để lấy người cho bộ máy nhà nước, lập Quốc Tử Giám dạy Nho học (1076)

- Nhà nước tập trung cần bộ máy quan lại ở trung ương và các châu, huyện để kiểm soát làng, xã…nên đã dùng khoa cử chọn người cho bộ máy

đó Nho học ở Việt Nam chịu sự chi phối mạnh của con đường dùng khoa cử chọn người này

- Sử sách Việt Nam coi “Chu Văn An là tiên hiền sử biểu” “Từ Chu Văn An về sau, Nho học phát triển liên tục cho đến thế kỷ XX, đời nào cũng

có danh Nho” [24, tr.94 - 97]

Cuốn “Góp phần tìm hiểu Nho giáo, Nho sĩ, trí thức Việt Nam trước

năm 1945” của PGS Chương Thâu cho rằng: “Tiếp thu một học thuyết từ bên

ngoài vào làm lý luận hướng dẫn tư duy và hành động cho dân tộc mình là một chân lý phổ biến, là một thực tế khách quan của các thời đại, của các dân

Trang 9

Ở loại hình thứ hai còn có các công trình nghiên cứu khác như Lịch sử

tư tưởng Việt Nam (tâp I) do GS Nguyễn Tài Thư chủ biên; Lịch sử tư tưởng Việt Nam (tập II) của PGS Lê Sĩ Thắng; Lịch sử tư tưởng Việt Nam (6 tập)

của Nguyễn Đăng Thục; Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XI đến

cách mạng Tháng Tám của GS Trần Văn Giàu; Bàn về đạo Nho của Nguyễn

Khắc Viện…

Các công trình nghiên cứu ở loại hình thứ hai cho chúng ta thấy rõ hơn nhiều sự thể hiện của Nho giáo tại Việt Nam qua các thời kỳ phát triển của xã hội phong kiến từ thế kỷ XI đến giữa thế kỷ XIX Các kết quả nghiên cứu đã công bố được đặt trong toàn bộ hệ vấn đề nghiên cứu về lịch sử tư tưởng, lịch

sử triết học, lịch sử dân tộc được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau với mục đích khác nhau Tuy nhiên, vấn đề của luận văn mà tác giả nghiên cứu chưa

có một tác giả nào trình bày một cách đầy đủ, có hệ thống

Loại hình thứ ba là các công trình nghiên cứu tư tưởng giáo dục của

Khổng Tử, của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với sự nghiệp giáo dục Việt Nam Đi theo phương diện này có một số tác giả như Nguyễn Đăng Thục, Bùi Thanh Quất, Nguyễn Thế Long, TS Nguyễn Thị Tuyết Mai, TS Nguyễn Thanh Bình, Lê Văn Giạng, TS Nguyễn Cường, PGS.TS Phạm Minh Hạc, GS Trần Văn Giàu

Cuốn “Lịch sử triết học” do PGS.Bùi Thanh Quất (chủ biên) cho rằng

“Từ kinh nghiệm của mình, Khổng Tử đã tổng kết được nhiều quy luật nhận

Trang 10

10

thức, thể hiện trí tuệ của cả thế hệ đọc nhiều, suy nghĩ sâu sắc, nhưng chủ yếu

là về thực tiễn giáo dục và phương pháp dạy và học” Trong tác phẩm tác giả

đã nêu lên một cách khái quát tư tưởng Nho giáo về giáo dục bao hàm ý nghĩa

và phương pháp giáo dục “Tư tưởng triết học chủ yếu là tư tưởng giáo dục, phương pháp và thái độ dạy, học của Khổng Tử…là bộ phận giàu sức sống nhất trong tư tưởng Nho giáo” [45, tr.87 - 89]

Cuốn “Lịch sử giản lược hơn 1000 năm nền giáo dục Việt Nam” của

Lê Văn Giạng đã nêu lên được những nét khái quát về giáo dục Nho học ở Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX Cuốn sách đã trình bày tóm tắt tiến trình giáo dục Nho học của từng triều đại từ khi đất nước giành được độc lập đến thế kỷ XIX

Cuốn “Sự phát triển giáo dục và chế độ thi cử ở Việt Nam thời phong

kiến” của Nguyễn Tiến Cường đã đi sâu trình bày sự phát triển giáo dục Nho

học Việt Nam từ thời nhà Lý đến triều Nguyễn Thông qua việc trình bày từng triều đại về chế độ giáo dục và thi cử, tác giả đã có những nhận xét khá sâu sắc

Cuốn “Quan niệm của Nho giáo về con người, về giáo dục, đào tạo con

người” của TS.Nguyễn Thị Tuyết Mai cho rằng:

Trong lĩnh vực đào tạo, giáo dục con người, Nho giáo có những cống hiến mà ngày nay phải ghi nhận đó là sự mở rộng đối tượng giáo dục, ai có điều kiện và khả năng học tập đều được thu nhận vào học, đó là coi trọng vai trò của trường tư thục bên cạnh trường công lập của triều đình, là tinh thần tôn sư trọng đạo, là coi trọng người có học, là rèn luyện theo nhân cách, lý tưởng, là phương pháp giảng dạy, học tập có những yếu tố hợp lý, tích cực Những điều đó ngày nay có thể thẩm định, phê phán, kế thừa, phát huy Đồng thời, quan điểm giáo dục đào tạo của Nho giáo cũng có những điều hạn chế cần khắc phục… [35, tr.187]

Trang 11

11

Cuốn “Học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo và ảnh hưởng của nó

ở Việt Nam” (từ thế kỷ XI đến nửa đầu thế kỷ XIX) của TS Nguyễn Thanh

Bình cho rằng:

Tư tưởng giáo dục là một trong những nội dung chủ yếu nhất trong học thuyết chính trị - xã hội của Nho giáo, là một trong những biện pháp cơ bản nhất để tạo lập ra mô hình xã hội và mẫu người lý tưởng cần có của chế độ phong kiến, là một trong những phương tiện chủ yếu nhất để truyền bá Nho giáo và ý thức hệ phong kiến, trong việc triển khai đường lối trị nước và lựa chọn nhân tài [4, tr.215]

Ở loại hình thứ ba, các công trình nghiên cứu bước đầu làm sáng tỏ vai trò của tư tưởng về giáo dục của Nho giáo, ảnh hưởng của tư tưởng ấy đối với nền giáo dục ở Việt Nam trong thời kỳ phong kiến Tuy nhiên, do mục đích nghiên cứu và cách tiếp cận tư tưởng giáo dục Nho giáo của các nhà nghiên cứu khác nhau, cho nên chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, hệ thống tư tưởng Nho giáo về giáo dục và ảnh hưởng của nó đối với nền giáo dục Việt Nam

Kế thừa kết quả nghiên cứu của cả ba loại hình trên, từ góc độ tiếp cận

triết học, luận văn cố gắng trình bày một cách có hệ thống những nội dung cơ

bản nhất tư tưởng giáo dục của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với nền giáo dục Việt Nam thời phong kiến và hiện nay

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn

Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ tư tưởng Nho giáo về giáo

dục và những ảnh hưởng của nó đối với nền giáo dục Việt Nam

Để đạt được mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:

Một là, làm rõ tư tưởng của Nho giáo về giáo dục;

Hai là, làm rõ ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối với

nền giáo dục Việt Nam thời phong kiến;

Ba là, làm rõ những ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo về giáo dục đối

với nền giáo dục Việt Nam hiện nay

Trang 12

12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nho giáo là học thuyết triết học lớn có nhiều tư tưởng và các tư tưởng

ấy đều ảnh hưởng lớn đến xã hội Việt Nam Tuy nhiên, trong phạm vi luận

văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu tư tưởng Nho giáo về giáo dục và

ảnh hưởng của nó đối với nền giáo dục ở Việt Nam

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Khi nghiên cứu đề tài, tác giả luôn lấy những nguyên tắc của chủ nghĩa

duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm cơ sở phương pháp luận

cho việc nghiên cứu

Khi thực hiện đề tài tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học cụ thể như: Lịch sử – logíc; trừu tượng đến cụ thể; quy nạp - diễn dịch; phân tích – tổng hợp; so sánh; khái quát hoá, trừu tượng hoá…

6 Đóng góp mới của luận văn

- Làm rõ hệ thống nội dung tư tưởng về giáo dục của Nho giáo

- Làm rõ ảnh hưởng tư tưởng giáo dục của Nho giáo đối với nền giáo dục ở Việt Nam

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Với những đóng góp nêu trên, luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho các công trình nghiên cứu tư tưởng của Nho giáo nói chung, hoặc những công trình nghiên cứu chuyên sâu về tư tưởng giáo dục của Nho giáo và ảnh hưởng của nó đối với nền giáo dục Nho học Việt Nam và nền giáo dục Việt Nam hiện nay

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 6 tiết

Trang 13

13

Chương 1:

TƯ TƯỞNG NHO GIÁO VỀ GIÁO DỤC

1.1 Điều kiện ra đời tư tưởng Nho giáo về giáo dục

1.1.1 Cơ sở kinh tế – xã hội Xuân Thu – Chiến quốc

Khoảng thế kỷ XII trước công nguyên, bộ tộc Chu nổi lên chinh phục các bộ tộc lân cận, chuẩn bị lật đổ nhà Thương Khoảng thế kỷ XI trước công nguyên, con trai của Chu Văn Vương đã lật đổ vua Trụ của nhà Thương, lập nên nhà Chu, đóng đô ở Thiểm Tây ngày nay, ở phía Tây nước Chu gọi là Tây Chu (khoảng 1135 – 770 TCN), đưa chế độ nô lệ ở Trung Quốc lên đỉnh cao, mở ra thời kỳ mới, thời kỳ văn minh dựng nước của lịch sử Trung Quốc

Trong những năm đầu của nhà Chu, theo sử sách ghi lại thì xã hội Tây Chu là xã hội thịnh vượng về kinh tế, ổn định về chính trị - xã hội, đạo đức,

kỷ cương giữ vững Thời kỳ này có nhiều ông vua sáng suốt như Chu Văn Vương nổi tiếng trọng hiền tài; Chu công có tài tổ chức việc nước, phong cho người trong họ giữ các nơi hiểm yếu để làm phên dậu cho mình, hình thành nên Lễ, Nhạc, chia ruộng đất cho nông dân theo phép tỉnh điền nhằm làm cho tài sản của nhân dân không chênh lệch

Những năm cuối của thời Tây Chu, đất nước suy vi, các rợ xung quanh thường xâm chiếm bờ cõi Khi U Vương lên ngôi, do ăn chơi trụy lạc dẫn đến chế độ Tây Chu suy, phải dời đô từ phía Tây sang phía Đông, nên lịch sử gọi

là thời kỳ Đông Chu

Thời kỳ Đông Chu (Xuân thu - Chiến quốc) kéo dài từ năm 770TCN đến 221TCN Đây là thời kỳ chiếm hữu nô lệ theo kiểu phương Đông bắt đầu suy tàn, chế độ phong kiến sơ kỳ đang hình thành, thể chế chính trị - xã hội và những quy tắc đạo đức xã hội mới còn manh nha Chính trị giao thời giữa hai chế độ đó đã gây nên những đảo lộn lớn lao, căn bản của xã hội:

Trang 14

14

Về kinh tế

Thời Xuân Thu, nền kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ thời đại đồ đồng

sang đồ sắt Việc dùng bò kéo cày đã trở nên phổ biến Điều này đã mang lại những tiến bộ mới trong việc cải tiến công cụ và kỹ thuật sản xuất nông nghiệp Thời kỳ này, hệ thống thủy lợi đã trải khắp khu vực Trường Giang Nhờ đó, diện tích đất canh tác được mở rộng, kỹ thuật canh tác được cải tiến, năng suất lao động trong nông nghiệp tăng Từ đó, người ta thấy không cần thiết phải chia lại ruộng đất công theo định kỳ căn cứ vào đất tốt hay đất xấu như trước nữa Giờ đây, công xã giao hẳn đất cho từng hộ nông nô cày cấy trong một thời hạn lâu dài Vì vậy, nông dân có thể dùng phương pháp lưu canh hay luân canh

để tăng năng suất lao động Mặt khác, nhờ có sự phát triển của công cụ bằng sắt và thuỷ lợi thuận lợi mà mà nông nô đã vỡ hoang được nhiều ruộng đất của công xã thành ruộng tư Bọn quý tộc cũng chiếm dần ruộng đất của công xã làm ruộng tư Chế độ “tỉnh điền” dần tan rã Sau đó, chế độ tư hữu ruộng đất ra đời được pháp luật nhà nước thừa nhận và bảo vệ

Trước đây, ruộng đất của công xã chia đều cho nông nô, nông nô phải nộp một phần sản lượng nông phẩm thu hoạch được cho công xã để nộp lên triều đình Khi chế độ tư hữư ruộng đất phát triển, số lượng ruộng đất của nông dân sở hữu không bằng nhau, nhà nước bỏ hình thức thu thuế cũ và thi hành chế độ thu thuế đánh vào từng mẫu ruộng Cùng với chế độ thuế mới, các nước cũng thi hành chế độ quân sự mới

Do việc sử dụng công cụ bằng sắt trở thành phổ biến, cùng với việc mở rộng quan hệ trao đổi sản phẩm lao động, sự phân công trong sản xuất thủ công nghiệp cũng đạt tới mức độ chuyên nghiệp cao hơn, thúc đẩy hàng loạt các ngành nghề thủ công nghiệp phát triển, như nghề luyện sắt, nghề rèn, nghề đúc, nghề làm đồ gốm, nghề mộc…

Cùng với sự phát triển của thủ công nghiệp, thương nghiệp cũng có nhiều phát triển hơn trước Tiền tệ đã xuất hiện Ở thời Chiến Quốc, mỗi nước

Trang 15

15

lớn đều hình thành các khu vực dân cư mang tính tổ chức, trật tự cao nên thương nghiệp có điều kiện phát triển mạnh Giữa các nước có thể buôn bán hoặc trao đổi hàng hoá với số lượng lớn Muối của nước Tề, vải vóc của nước

Sở, gạo của nước Tần, gia súc của nước Yên và nước Triệu đều là những mặt hàng được trao đổi, buôn bán thường xuyên giữa các nước với nhau

Từ Xuân Thu đến Chiến Quốc, các nước đều chú ý đến công thương,

những nhà buôn trở thành những bậc đại phú, tạo nên sự tôn trọng của nhà Vua đối với họ Nếu như ở thời Xuân Thu chỉ xuất hiện một số ông chủ nhỏ trong các nước thì sang thời Chiến Quốc đã xuất hiện nhiều người mở các xưởng với quy mô lớn Những người đó ngày càng giàu có và có người vượt qua cả các vua chúa đương thời Thương nhân đã có nhiều người kết giao với chư hầu và công khanh đại phu, gây nhiều ảnh hưởng đối với chính trị đương thời Tuy nhiên, do tình trạng xã hội rối ren, phương tiện giao thông thô sơ, lãnh thổ chia năm sẻ bảy do nạn chư hầu cát cứ, đi lại rất khó khăn, nên việc kinh doanh đòi hỏi phải những người có đầu óc tháo vát và lòng quả cảm đảm đương Hơn nữa, nghề buôn bán ở Trung Quốc thời bấy giờ bị coi là nghề rẻ mạt nhất, theo quan điểm “nông bản, thương mạt”, nên nó cũng chưa thực sự phát triển Nhưng sự hình thành của thương nghiệp, buôn bán đã tạo ra trong

cơ cấu xã hội một tầng lớp mới Tầng lớp này dần dần xuất hiện một loại quý tộc mới với thế lực ngày càng mạnh, tìm cách leo lên tranh giành quyền lực với tầng lớp quý tộc cũ

Về chính trị

Nếu như ở thời Tây Chu chế độ tông pháp, “phong hầu kiến địa” vừa

có ý nghĩa ràng buộc về kinh tế, vừa có ý nghĩa về chính trị, ràng buộc về huyết thống, có tác dụng tích cực làm cho nhà Chu giữ được một thời gian dài

hưng thịnh, thì đến thời Xuân Thu, chế độ tông pháp nhà Chu không còn được

tôn trọng, đầu mối các quan hệ về kinh tế, chính trị, quân sự giữa thiên tử và

Trang 16

16

các nước chư hầu ngày càng lỏng lẻo, huyết thống ngày càng xa, trật tự lễ nghĩa nhà Chu không còn được tôn trọng như trước Các nước bá chủ suy yếu, các khanh đại phu dần dần chấp chính, chuyên quyền, không còn nghe theo mệnh lệnh của vương thất Khanh đại phu của các nước chư hầu ngày càng ngang ngược, nhiều người còn giết vua hoặc đuổi vua ra khỏi nước của mình Các bồi thần cũng không chịu sự ước thúc, ngày càng trở nên hoành hành Điều này cho thấy chính quyền ngày càng đi xuống, trật tự xã hội đã bị đảo ngược, chiến tranh loạn lạc

Thời kỳ này, Thiên tử nhà Chu hầu như không còn quyền uy với các nước chư hầu Các lãnh chúa nhỏ và vừa xưa nay vẫn dựa vào quyền uy của Thiên tử giờ đây trở nên thất vọng Nhiều nước chư hầu mượn tiếng khôi phục lại địa vị tông chủ của nhà Chu đề ra khẩu hiệu “tôn vương bài di”, đua nhau động binh để mở rộng thế lực và đất đai, thôn tính các nước nhỏ, tranh giành địa vị bá chủ thiên hạ Thời Xuân Thu đã diễn ra tới 483 cuộc chiến tranh lớn nhỏ Nếu như đầu thời Tây Chu có hàng ngàn nước, thì đến cuối thời Xuân Thu chỉ còn hơn một trăm nước Trong đó, những nước hùng mạnh nhất thay nhau làm bá chủ thiên hạ là Tề, Tấn, Sở, Tống, Ngô, Việt, Tần

Chế độ phong đất dần bị thủ tiêu Vua là người chỉ định và bãi nhiệm người cai quản quận huyện Vì vậy, chế độ phong đất mang tính cát cứ đặc quyền của giai cấp quý tộc dần trở thành chính quyền quan lại Các bậc vương công rất ít khi phong đất để thưởng cho quan lại như trước, mà thường dùng gạo hoặc vàng Do đó, quan lại đối với vua không còn tính chất riêng tư, mà mang tính chất công việc chung, dẫn đến việc thay đổi hình thái quan hệ xã hội

Trong thời kỳ phong đất cho tướng lĩnh có công, giai cấp quý tộc cũng chính là thủ lĩnh quân sự Đến thời kỳ Chiến quốc, tướng cầm quân và quan lại trong triều là hai chức vụ khác hẳn nhau, được phân chia rõ ràng, có vai trò khác nhau và thường thì chức vụ quân sự lấn át chức vụ chính trị Người cầm

Trang 17

Việc các nước gây chiến tranh thôn tính lẫn nhau, cũng như các lãnh chúa bóc lột tàn khốc dân chúng không chỉ dẫn tới sự diệt vong của hàng loạt các nước chư hầu nhỏ, mà còn phá hoại lễ nghĩa nhà Chu, phá hoại trật tự triều hội, triều cống, chinh phạt giữa các nước chư hầu làm cho mâu thuẫn trong giai cấp thống trị ngày càng trở nên gay gắt và sự rối loạn trong xã hội ngày càng tăng Những nghi lễ chặt chẽ, tôn nghiêm đã từng góp phần bảo vệ và làm hưng thịnh chế độ tông pháp nhà Chu lúc này cũng bị xem thường Tình trạng lễ nghĩa, cương thường đảo lộn, đạo đức suy đồi ở thời Xuân Thu biểu hiện ra qua các quan hệ xã hội như “tiếm ngôi việt vị”, chư hầu chiếm dụng lễ nghĩa của Thiên tử, đại phu chiếm dụng lễ của chư hầu, chế độ triều cống bị các chư hầu tự ý phá bỏ, các nước lớn mượn danh Thiên tử bắt các nước nhỏ cống nạp

và lệ thuộc vào mình Trong xã hội, cảnh tôi giết vua, con hại cha, anh em, vợ chồng chia lìa thường xuyên xảy ra Tình trạng đó không phải xảy ra một sớm một chiều mà đã âm ỉ, mục ruỗng từ lâu Chế độ lễ nghi nhà Chu trở thành các hình thức sáo rỗng Việc “tang viếng, tế lễ, chúc mừng” không còn là lễ nghĩa của quan hệ gia tộc và quan hệ xã hội mà trở thành thủ đoạn ngoại giao

Đối lập với cảnh người dân phải sống vất vả, cùng cực, các vương hầu

và lãnh chúa quý tộc sống rất xa hoa Họ xây cất những cung điện nguy nga, rộng mấy trăm dặm, trong cung chen chúc vũ nữ Do đói rét, khổ cực, nạn cướp

Trang 18

18

biển nổi lên, nên bọn quý tộc lại càng tăng cường áp bức, bóc lột đời sống của nhân dân làm cho cuộc sống của họ ngày càng nghẹt thở Chính vì vậy, nông dân và nô lệ ở nhiều nơi đã đứng lên đấu tranh, mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên gay gắt, chế độ chiếm hữu nô lệ sắp đến giờ phút cáo chung

Ở thời Xuân Thu, ngoài các cuộc đấu tranh thường xuyên giữa các nước, cũng thường xuyên xảy ra những cuộc tranh giành đất đai, địa vị, quyền thế giữa bọn quý tộc ở trong nước với nhau Ở nước Tấn, năm 403 trước Công nguyên có ba dòng họ lớn là Hàn, Triệu, Ngụy Khi đó Trung Quốc đã bước vào thời kỳ Chiến quốc Lúc này, chỉ còn bảy nước lớn là Tề, Sở, Yên, Tần, Hàn, Triệu, Nguỵ, tạo thành cục diện “thất hùng”, thường xuyên gây chiến tranh với qui mô lớn và tàn khốc hơn thời Xuân Thu để giành ngôi bá chủ thiên hạ Trong đó, nước Tần ở phía Tây Hàm Cốc quan, sáu nước kia ở phía Đông ải quan đó, nên thường gọi là Sơn Đông lục quốc

Về xã hội

Sự phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực kinh tế đã ảnh hưởng và tác động to lớn đến lĩnh vực chính trị - xã hội Nó làm xuất hiện một cục diện mới trong xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu, đó là “triều đại nhà Chu suy sụp

từ đầu Đông Chu đến đây là hết hẳn Tình trạng xen kẽ lẫn nhau giữa hình thái chiếm hữu nô lệ cứ lùi dần và hình thái phong kiến cát cứ mới nảy sinh với xu thế hướng tới tập quyền ngày càng mạnh mẽ cũng chấm dứt” [11, tr.21] Sự tác động đó trước hết và rõ rệt nhất đối với các hình thức sở hữu ruộng đất và kết cấu giai cấp của xã hội Hệ quả tất yếu là, những mâu thuẫn vốn có và những mâu thuẫn mới nảy sinh trong lòng xã hội ngày càng sâu sắc và trầm trọng hơn, đặc biệt là mâu thuẫn giữa giai cấp thống trị bóc lột với giai cấp nông dân và các tầng lớp bị thống trị, bị bóc lột khác

Cuối thời Xuân Thu - Chiến Quốc, do cạnh tranh khốc liệt mà giai cấp quý tộc đã mất đi tính tiến bộ và tính tranh đấu Họ ngày càng trở nên mục

Trang 19

19

nát, hủ bại Chính vì vậy mà đến thời Chiến Quốc, vua thường bắt giết các quý tộc Chế độ tông pháp nhà Chu đi đến chỗ suy diệt Tôn ti, trật tự được hình thành từ thời Tây Chu theo thang bậc từ trên xuống dưới bây giờ chỉ còn

là danh nghĩa, hình thức Trong xã hội, mọi người không còn có ý thức tuân thủ địa vị và danh phận đã qui định Những thang bậc trong xã hội đang đứng trước những thách thức của sự biến lịch sử

Thời Chiến Quốc, kinh tế đã có những bước phát triển mạnh mẽ Chính

sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá và chiến tranh loạn lạc xảy ra liên miên

đã làm cho công xã nông thôn tan rã Chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất dần trở thành quan hệ sở hữu thống trị Chế độ thu thuế không dựa vào sản lượng thu hoạch như trước đây mà tính theo số lượng ruộng đất Việc mua bán ruộng đất tự do và sự phổ biến của chế độ tư hữu đã dẫn đến tình trạng ruộng đất tập trung trong tay một số ít lãnh chúa và địa chủ giàu có Phần đông nông dân nghèo mất hết ruộng đất nên phải đi cày thuê, cấy mướn và trở thành tá điền, cố nông Từ đó, chế độ bóc lột bằng phát canh thu tô xuất hiện Trong lòng xã hội đã xuất hiện những yếu tố của quan hệ sản xuất mới, đó là chế độ phong kiến quận huyện Mâu thuẫn xã hội ngày càng trở nên gay gắt,

xã hội đảo lộn Nhận thức được tình hình trên, giai cấp thống trị đã tiến hành một số biện pháp cải cách để ngăn chặn những nguy cơ đảo lộn trật tự xã hội

Đó là phong trào “biến pháp” ở hàng loạt nước như nước Nguỵ, nước Triệu, nước Hàn, nước Tề, nước Tần…suốt thời Chiến quốc

1.1.2 Tiền đề tư tưởng thời Đông Chu

Bên cạnh những điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội, những tiền đề tư tưởng cũng có ảnh hưởng rất lớn tới sự hình thành tư tưởng nho giáo nói chung và tư tưởng về giáo dục của nho giáo nói riêng Những tiền đề này bắt nguồn từ đời sống tư tưởng của Trung Quốc từ trước tới nay, đặc biệt là dưới thời nhà Chu

Trang 20

20

Về tôn giáo

Bên cạnh việc tiếp tục truyền thống của Đế tổ, Tiên vương của người

Ân, người Chu còn có thêm tư tưởng kính trời, thờ Thượng Đế, hợp mệnh trời, người với trời hợp nhất Theo quan điểm của nhà Chu, Thượng Đế và thần tổ tiên là hai, không thể lẫn làm một Họ cho rằng, Trời là lực lượng có nhân cách, có ý chí và có uy quyền tuyệt đối Nhà Ân do không biết “mệnh trời”, hành động không hợp với “mệnh trời” nên Thượng Đế đã trừng phạt, ban mệnh xuống cho thần phục vào nhà Chu, cho người Chu hiện nay lập ấp, dựng nước và ban mệnh cho “nhận dân nhận cõi”, cho tổ tiên người Chu được

“sánh ngang với Thượng Đế” và nhận mệnh làm vương, làm hậu, làm hoàng; con cháu nhà Chu phải dốc tâm gìn giữ truyền thống ấy Có thể rõ ràng nhận thấy tư tưởng tôn giáo này đã bị chính trị hóa, phản ánh tư tưởng thống trị quý tộc thị tộc, phản ánh nền chuyên chính quý tộc thị tộc lúc bấy giờ

Dựa trên cơ sở quan điểm tôn giáo như vậy, nhà Chu đã xây dựng nên một thứ văn hóa, một thứ học thức “học ở quan phủ” của riêng bọn quý tộc thị tộc, không xuống đến nông thôn Đảm nhiệm quan chức văn hóa chủ yếu là những người làm Chúc, Tông, Bốc, Sử Trong đó, Chúc là người đại biểu cho thị tộc để hướng lên thần cầu khấn; Tông là người đứng ra trông coi sổ sách, chăm lo việc tế lễ tông miếu của thị tộc; Bốc là người trông nom những việc tôn giáo về xem điềm, xem bói để dự đoán về lành – dữ, họa – phúc cho thị tộc; Sử là người trông nom văn thư, quan sát khí tượng

Về chính trị

Các nhà tư tưởng của tầng lớp quý tộc nhà Chu cho rằng vì nhà Chu biết và làm theo “mệnh trời” nên được “nhận dân” từ tay nhà Ân để “hưởng dân” và “trị dân” suốt đời; nếu kẻ nào chống lại “mệnh trời” thì nhà Chu sẽ vâng mệnh trời và thay trời trừng phạt Vua nhà Chu là chủ sở hữu tối cao về ruộng đất và mọi người trong xã hội đều là thần dân của nhà vua Vua là Thiên tử được thay trời thống trị thiên hạ, cai trị dân

Trang 21

21

Như vậy, có thể thấy tư tưởng chính trị chủ yếu của giai cấp quý tộc nhà Chu là “nhận dân”, “hưởng dân” và “trị dân” Đó là tư tưởng của giai cấp quý tộc độc chiếm tư liệu sản xuất là ruộng đất và sức lao động Tư tưởng này đã được tôn giáo hóa một cách toàn diện Mọi chính sách của nhà Chu đề được giải thích là “vâng mệnh trời”, “thuận theo mệnh trời” Họ cho rằng, kẻ chịu mệnh trời để thống trị thiên hạ là Thiên tử Thiên tử cùng sánh vai với trời Thiên tử cũng là Đế, nhưng là Hạ đế Nhân dân, bờ cõi, đất đai là sở hữu của Thiên tử, nhận từ Trời mà cũng nhận từ Tiên vương Do đó, phải kính cẩn, sợ

uy trời và tôn trọng phép tắc của Tiên vương Nhà Chu đã theo mệnh trời mà nhận dân từ tay nhà Ân Tuy nhiên, dân ở đây không thể đem ra mua bán như dân nô lệ ở Hy Lạp, mà việc trao – nhận dân ở đây chỉ là quan hệ bí mật giữa Thượng Đế và Tiên vương của nhà Chu Nếu kẻ làm dân mà làm loạn thì kẻ được “hưởng dân” sẽ phải dùng các phép “không phải đạo thường” mà chém giết, trị dân Đây là tư tưởng chính trị chuyên chính tàn khốc của giai cấp quý tộc thị tộc Chu, được che đậy bằng lớp son tôn giáo về “ý trời”, “mệnh trời”

Về đạo đức

Tư tưởng đạo đức của nhà Chu lấy hai chữ Đức và Hiếu làm nòng cốt Từ

quan niệm chính trị - tôn giáo “Trời và người hợp nhất”, nhà Chu khẳng định rằng các bậc tiên vương nhà Chu được sánh vai cùng thượng đế, được thượng đế cho hưởng nước, hưởng dân… là vì họ có đức Do đó, các vua đời sau phải biết học tập để con cháu đời sau được hưởng nước, hưởng dân lâu dài Hiếu là thờ phụng tổ tiên, phải nhớ công lao của tổ tiên để giữ gìn phép tắc mà tổ tiên để lại Vua phải có cái đức Hiếu như vậy mới nhận được mệnh trời để hưởng nước, hưởng dân mãi mãi Đây là một quan niệm đạo đức nhằm củng cố và tuyên truyền sự tồn tại vĩnh viễn địa vị thống trị của tầng lớp quý tộc nhà Chu và nhà nước quý tộc Chu Nho giáo đã tiếp nhận những tư tưởng đạo đức này của nhà Chu vào hệ thống của mình Mục đích của phương thức này là sử dụng thần quyền để củng cố và thực hiện vương quyền trong việc cai trị

Trang 22

22

Đến thời Khổng Tử, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, nho giáo liên hệ mật thiết với đời sống kinh tế và phản ánh đời sống kinh tế của xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ Để khắc phục tình trạng rối loạn xã hội, đưa xã hội vào trạng thái ổn định và phát triển, ở phương diện nào đó, một mặt nho giáo vẫn thừa nhận sức mạnh của thần quyền Nhưng mặt khác, tư tưởng của nho giáo vẫn phải khẳng định địa vị đứng trên của vương quyền đối với thần quyền

Trong đời sống chính trị của Trung Quốc từ trước đến đời Khổng Tử, các thế lực thống trị xã hội phải quan tâm, dù ở một mức độ nào đó, đến đời sống của nhân dân, đến vai trò của người dân Điều này không phải là ý muốn chủ quan của của các thế lực thống trị xã hội mà nó phản ánh một thực tế ở Trung Quốc (cũng như các nước phương Đông nói chung) là địa vị thống trị

xã hội không phải bao giờ và lúc nào cũng bị quyết định trực tiếp bởi địa vị

kinh tế Ngay trong Kinh Thư đã cho thấy nhiều tư tưởng thể hiện sự quan

tâm của tầng lớp thống trị đến đời sống của nhân dân, đến vai trò của nhân dân, như tuy thừa nhận “mệnh trời” luôn có uy quyền tối cao, tuyệt đối, nhưng lại thể hiện ra, thậm chí đồng nhất với “ý dân”, “lòng dân”

Như trên đã nói, dưới triều đại nhà Chu, địa vị và uy quyền của trời, mệnh trời đã được vận dụng vào việc chống lại nhà Ân, vào việc luận giải để biện hộ cho sự tồn tại vĩnh viễn của nhà Chu Tuy nhiên đến đầu thời Xuân Thu, sự suy yếu về mọi mặt của nhà Chu đã cho thấy, sự linh thiêng và bất khả xâm phạm của thần quyền đã bị xâm phạm; nó báo hiệu sự thắng lợi của quyền lực trần thế trước quyền lực thần thánh Cho đến cuối thời xuân thu, với sự suy đồi của tầng lớp thống trị, trật tự, kỷ cương xã hội theo mô hình nhà Chu ngày thêm rối loạn, sự khốn cùng của đời sống nhân dân đã làm lay chuyển gốc rễ địa vị thống trị của thần quyền

Chính những điều kiện lịch sử của xã hội Đông Chu đã đặt ra những vấn

đề cơ bản, cấp bách, buộc các nhà cầm quyền và các nhà tư tưởng phải giải

Trang 23

23

quyết làm thế nào để cải biến được xã hội, giáo hóa được con người, khiến cho

xã hội bình trị? Nhằm giải quyết các vấn đề ấy, tất cả các nhà tư tưởng đứng đầu các học phái triết học ra đời thời Đông Chu cố gắng đưa ra những phương

pháp “trị nước an dân”, mơ ước xây dựng một xã hội lý tưởng với cách thức

khác nhau, tùy theo quan điểm triết học, quan niệm về bản tính của con người, cũng như địa vị và lợi ích xã hội khác nhau Người sáng lập học phái Nho gia

là Khổng Tử đã dựa trên cơ sở học thuyết về bản tính thiện của con người, đức

“trung hòa”, “trung dung” là đạo lý của trời đất và vạn vật, chủ trương trị nước bằng phương pháp “đức trị” và đề cao việc giáo hóa con người

Xã hội lý tưởng theo Khổng Tử là xã hội Đại đồng, đó là xã hội thanh bình, thịnh trị, mọi người sống nhân đức theo theo trật tự Lễ nghĩa, “chính danh định phận”, “dĩ hòa vi quý”, “vua nhân, tôi trung, cha từ, con hiếu, anh lành, em đễ”, không có kẻ phản nghịch, “lương thực cho đủ nuôi dân, binh lực cho đủ bảo vệ dân, lòng tin cậy của dân đối với mình”[34, XII, 7]…Đó là

xã hội lý tưởng theo chế độ lễ nghĩa của nhà Chu mà Khổng Tử luôn hoài vọng: “Triều đại nhà Chu soi xét hai triều đại đã qua mà chế định lễ tiết Nhờ vậy lễ tiết trở nên rực rỡ biết bao Vậy ta theo lễ nhà Chu”[34, III, 14]

Để xây dựng được một xã hội lý tưởng như vậy, theo Khổng Tử là phải coi trọng giáo dục và đào tạo nên một mẫu người lý tưởng có đủ tài - đức, trí - lực, văn - chất, một lòng trung thành phụng sự chế độ, là rường cột của chế độ

xã hội Mẫu người lý tưởng mà Khổng Tử chủ trương giáo dục, đào tạo ấy không phải là nhân dân lao động mà là “đấng trượng phu”, là “bậc quân tử”

mà xã hội phong kiến hết sức đề cao

1.2 Nội dung cơ bản của tư tưởng Nho giáo về giáo dục

Nền giáo dục Trung Quốc thời cổ đại phát triển sớm bằng nhiều quan điểm riêng của các học phái Trong các học phái thời cổ đại, tư tưởng giáo

Trang 24

1.2.1 Tư tưởng về giáo dục của Nho giáo thời cổ đại và trung đại

1.2.1.1 Tư tưởng giáo dục thời cổ đại

Khổng Tử (551 – 479 TCN) là người sáng lập Nho giáo, có một số tư tưởng về giáo dục tiến bộ như sau:

Ông là người đầu tiên đề cao tư tưởng giáo dục Luận điểm đầu tiên được ông đề xuất là “Tính tương cận, tập tương viễn”, nghĩa là bản tính của con người vốn gần gũi với nhau, nhưng do tập quán, thói quen của xã hội ngày càng làm cho con người xa cách nhau [34, XVIII, 2] Đồng thời, ông cũng khẳng định ảnh hưởng của hoàn cảnh, tác dụng quan trọng của giáo dục đối với sự phát triển của con người

Ông đề xuất thực hiện chủ trương “hữu giáo vô loại”[34, XV, 38], khiến cho người nào muốn học tập đều có cơ hội được dạy dỗ, không phân biệt giàu nghèo, sang hèn

Mục đích giáo dục của Khổng Tử là đào tạo nhân tài để có khả năng trị quốc, an dân, có đầy đủ đức độ cao thượng, đào tạo kẻ sĩ, người quân tử có

học thức đầy đủ Căn cứ vào mục đích giáo dục ấy, Khổng Tử đã xác định nội

dung giáo dục gồm hai phương diện là đạo đức và tri thức, trong đó, đạo đức

vẫn là chủ yếu Kinh nghiệm giáo dục của Khổng Tử phong phú, khái quát lại giáo dục đạo đức như sau: Lập chí an vui với đạo học, tự khắc lấy bản thân để

có sự yên lặng bên trong nội tâm, đem hết khả năng mà thực hiện điều mình học được, phải xét mình tự sửa đổi điều sai trái để theo điều thiện (lập chí lạc

Trang 25

25

đạo, nội tình tự khắc, thân thể lực hành, cải quá thiên nhiên) Về phương pháp

dạy dỗ, dìu dắt hướng dẫn theo lối phải phát huy học sinh tự giác ngộ, học và

hành hay học và suy tư đều đặt ngang hàng nhau, mở rộng kiến thức sống để quay về ước chế lấy bản thân

Từ cơ sở tư tưởng của Khổng Tử, vào thời Chiến Quốc, ra đời học phái Mạnh Tử và Tuân Tử, họ là những người phát triển mạnh, làm cho tư tưởng giáo dục của Khổng Tử trở nên phong phú

- Tư tưởng giáo dục của Mạnh Tử lấy tính thiện của con người làm cơ

sở lý luận Ông cho rằng bản tính của con người là thiện, nó là “lương năng” (không cần phải học vẫn có khả năng) và là “lương tri”(không suy tư mà vẫn biết) Mọi người sinh ra đều có lòng trắc ẩn, lòng tu ố (xấu hổ), biết nhường nhịn, cái tâm biết phải trái, đó là đầu mối của Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí Cho nên, nhân tính của con người có mặt xấu, ác là do ảnh hưởng của hoàn cảnh bên ngoài làm mất đi bản tính thiện Tác dụng của giáo dục là quay trở về giữ gìn, bồi dưỡng…làm sống lại tính thiện đó Mục đích giáo dục theo Mạnh Tử là

“minh nhân luân” Nguyên tắc và phương pháp giáo dục của ông về cơ bản kế

thừa tư tưởng của Khổng Tử, đồng thời đưa ra một số tư tưởng mới

- Tư tưởng giáo dục của Tuân Tử lại laị lấy tính ác làm cơ sở Ông cho

rằng con người sinh ra vốn có lòng ham muốn hay dục vọng Có dục vọng tất

có cầu mong đạt được, rồi cứ theo cái thiên tính của mọi người mà phát triển,

sẽ chạy theo hướng ác, xấu, cho nên ông kết luận bản tính của con người là ác Tính con người là ác thì thì tất phải có lễ, nghĩa, pháp luật để tiết chế nhân dục, uốn nắn lại bản tính của con người Tác dụng của giáo dục là trừ khử cái ác để lập nên điều thiện khiến cho con người thành kẻ sĩ, người quân tử và đến thành bậc thánh nhân Tuân Tử cho rằng, dù con người có khốn khổ đến mấy cũng có

thể trở thành Ông Vũ, đồng thời coi trọng dùng lễ nhạc để giáo dục Lễ có thể

tiết chế dục vọng của con người, nó là cương kỷ của xã hội, là chỗ đến của đạo

Trang 26

26

đức Trong giáo dục đạo đức, Tuân Tử đưa ra nguyên tắc “tích thiện thành đức” Về phương pháp giáo dục đạo đức, Tuân Tử đề ra “chuyên nhất một điểm” hay như “nhất dĩ quán chi” (suy từ mình mà ra đến người) của Khổng

Tử Ông cụ thể hóa quá trình học tập có bốn khâu liên hệ mật thiết với nhau là văn, kiến, tư, hành, trong đó hành là mục tiêu Tuân Tử cho rằng:

“Không nghe chẳng bằng được nghe

Nghe được không bằng thấy được

Thấy được không bằng biết được

Biết được không bằng làm được”

Đặc biệt, Tuân Tử rất coi trọng vai trò của thầy dạy Ông coi thái độ tôn kính đối với thầy có liên quan đến sự hưng vong của đất nước Ông nói: “Nước sắp hưng thịnh, tất biết kính trọng sư, còn nước sắp mất thì khinh rẻ thầy”

1.2.1.2 Tư tưởng giáo dục thời nhà Hán

Đổng Trọng Thư kế thừa, phát triển tư tưởng giáo dục của Khổng Tử

và Tuân Tử, đề ra thuyết tính “Tam phẩm” Ông đem tính người chia làm ba

hạng: Tính của Thánh nhân, tính của dân bậc trung và tính hèn mọn Ông cho rằng tính của Thánh nhân vốn thiện, không cần dạy dỗ; tính của đám hèn mọn giống như loài cầm thú, không sao giáo hóa được Nhưng tính của Thánh nhân và tính hèn mọn rất ít, trong đó tính dân bậc trung là đại biểu cho tính vạn dân, đồng thời nó có đủ tính ác, tính thiện Tính thiện không phải tự nhiên

mà có mà phải được giáo dục mới thành thiện, cho nên, tác dụng của giáo dục rất quan trọng Thuyết tam phẩm được áp dụng vào giáo dục nhà Hán và nhà Đường Đồng thời, Đổng Trọng Thư đưa ra kiến nghị tôn trọng Nho Thuật,

mở mang trường học, tiến cử nhân tài Cả ba đề nghị ấy đều được thực hiện

- Thời nhà Đường:

Hàn Dũ nổi tiếng là nhà văn học, nhà tư tưởng, nhà giáo dục có một tầm

ảnh hưởng lớn Ông từng đảm nhiệm các chức vụ như Tứ môn bác sĩ, Quốc tử

Trang 27

27

học bác sĩ, Quốc tử tế tựu, từng gây dựng trường học ở các châu Trong các tác

phẩm của ông có nhiều bài về vấn đề giáo dục, trong đó có bài “Sự thuyết” là

quan trọng nhất Qua bài đó cho thấy tư tưởng lớn nhất của ông là Trọng đạo Ông chủ trương: “Không có gì là sang, không có gì là hèn, không có gì là lớn, không có gì là nhỏ, hễ cái đạo còn thì cái bậc làm thầy còn”

1.2.1.3 Tư tưởng giáo dục thời Tống, Minh, Thanh

Lý học thời Tống Minh Thanh phát triển cũng dựa vào cơ sở của học thuyết Mạnh Tử Các nhà lý học chú trọng tư tưởng triết học, cho nên đối với

tư tưởng giáo dục thể hiện tinh tế hơn

Chu Hy, nhà lý học đại biểu cho chủ nghĩa duy tâm khách quan cho rằng nhân tính chia làm hai: Tính của trời phú cho và tính do khí chất tạo ra Tính trời hay còn gọi là tính của thiên mệnh, đại biểu cho thiên lý Tính của khí chất do nhân dục mà tồn tại, nó là nguồn gốc của sự ác Tác dụng của giáo dục là biến cái tính của khí chất thành ra tính của thiên mệnh Quá trình giáo dục là “Tồn thiên lý, diệt nhân dục”, mục đích của giáo dục là “minh nhân

luân”, phương pháp giáo dục căn bản là “Cư kính cùng lý”, muốn cùng lý cần

phải học hành Ông nói: “Vật trong thiên hạ không có gì là không có lý, nhưng có đầy đủ, tinh vi, uẩn khúc là ở trong sách vở của thánh hiền, nên phải tìm kiếm ở nơi đó thôi” Vì thế, Chu Hy rất coi trọng đọc sách, học hành và nêu lên nguyên tắc “tuần tự từng bước mà tiến”, “phải đọc thật chín và suy nghĩ thật tinh” Hơn 40 năm dạy học, ông có chủ trương rằng tiểu học và đại học là hai giai đoạn, nội dung mỗi giai đoạn cần phải chú trọng Ở giai đoạn tiểu học chú trọng bồi dưỡng hành vi tập quán, còn giai đoạn đại học thì chú trọng đi sâu nghiên cứu nghĩa lý Ông đưa ra phương pháp của thầy dạy là căn

cứ vào phương pháp của học là tốt nhất, thầy “là người chỉ dẫn dắt” Ông cho rằng việc dạy dỗ phải có giáo trình nghiêm túc, sự sắp đặt phải cụ thể chu đáo, đi từng bước chắc chắn thì mới tích lũy được những sở đắc Tư tưởng

Trang 28

Thi ca có tác dụng làm cho tính tình, chí của nhi đồng phát triển, có thể chuyển những hoạt động chạy nhảy, hò hét của chúng thành những hoạt động

có quy tắc vần điệu nhịp nhàng; ước lễ có thể dìu dắt, bồi dưỡng từ nhỏ, con nhỏ biết lễ nghĩa cung kính mà vui khiến cho nhi đồng có những động tác luyện tập nghi lễ, làm cho huyết mạch lưu thông, tình cảm của nó được triển khai thoải mái [8, tr.273]

Vào cuối nhà Minh đầu nhà Thanh, tư trào chống lại lý học phát triển, trong đó nổi lên là Nhan Nguyên Nhan Nguyên phê phán gắt gao nền giáo dục truyền thống của Trung Quốc từ đời Hán đến đời Thanh Ông cho rằng, hàng mấy nghìn năm, nền giáo dục cổ xưa đã thoát ly khỏi thực tế, chỉ chăm chú vào sách vở, chữ nghĩa, kết quả là “càng đọc sách càng ngu khờ, không biết nhận định sự việc, không có khả năng làm kinh tế” Ông đả kích chủ trương giáo dục khôi phục truyền thống Chu Khổng và tự mình đề ra chủ

Trang 29

29

trương đổi mới Ông đòi hỏi, phải thông qua giáo dục nhằm nuôi dưỡng nhân tài thực dụng Mục tiêu giáo dục của ông cũng là “minh nhân luân”, “học làm thánh nhân, nhưng thánh nhân theo ông là người có thực tài, thực đức, có khả năng làm lợi cho muôn dân Ông chủ trương nội dung giáo dục phải là thực học để thực thi một nền chính trị có công dụng thực tế, cho nên ông đưa ra cương lĩnh Thực học là Lễ, Nhạc, binh, nông, ngoài ra còn có thiên văn, địa

lý, lịch sử, y học đều được ông xem trọng Về phương pháp giáo dục, ông nhấn mạnh “tập – hành” và “sự chủ động” Tư tưởng giáo dục của Nhan Nguyên so với tư tưởng truyền thống Nho gia có những biến đổi rất lớn, đó là

sự phản ánh những đòi hỏi cải cách trong lĩnh vực giáo dục vào buổi suy tàn của chế độ phong kiến

1.2.2 Những vấn đề chung về tư tưởng giáo dục của Nho giáo trong

xã hội Trung Quốc cổ - trung đại

1.2.2.1 Mục tiêu giáo dục

Xã hội Đông Chu là xã hội rối loạn bởi chiến tranh, bởi những mâu thuẫn xã hội gay gắt Điều kiện lịch sử ấy đã đặt ra vấn đề cấp bách là làm thế nào cải biến được xã hội, giáo hóa được con người, khiến xã hội bình trị Nhằm giải quyết vấn đề căn bản ấy, các nhà tư tưởng đã đưa ra phương pháp trị nước

an dân, mơ ước xây dựng một xã hội lý tưởng Nho giáo dựa vào bản tính của con người, dựa vào đức trung hòa của đạo lý trời, đất, vạn vật, chủ trương trị

nước bằng phương pháp đức trị và mơ ước xã hội lý tưởng của mình là xã hội

đại đồng với các đặc trưng cơ bản là: Thái bình, ổn định, có trật tự, kỷ cương,

mọi cái trong xã hội đều là của chung, mọi người trong xã hội đều có quyền lợi, bình đẳng, hòa mục, thân ái; có đạo đức, có đời sống vật chất đầy đủ; là xã hội có giáo dục, mọi người trong xã hội phải được giáo dục, giáo hóa

Để xây dựng một xã hội lý tưởng như vậy, Khổng Tử cho rằng: Mục

tiêu của giáo dục Nho giáo là đào tạo nên một mẫu người lý tưởng có đủ tài -

Trang 30

lo buồn Bậc trí thì không mê hoặc Bậc dũng chẳng sợ hãi Tóm lại, quân tử

là người hoàn thiện về tri thức, đạo đức, nhân cách, tình cảm, thái độ và hành động, đối lập với kẻ tiểu nhân

1.2.2.2 Ý nghĩa của giáo dục

Ý nghĩa trọng đại của giáo dục là cải tạo nhân tính Sách Trung Dung

mở đầu rằng “giáo dục là tu sửa cái đạo làm người”[12, tr.139], sách Đại học

cũng mở đầu rằng “Đạo của Đại học là ở chỗ làm sáng tỏ đức sáng” [12, tr.77] Tu sửa cái đạo làm người và làm sáng tỏ đức sáng là mục đích tối cao của giáo dục trong việc cải tạo nhân tính Khổng tử coi giáo dục vừa mở

mang trí, tình lẫn ý hay là trí, nhân dũng, cốt sao dạy con người hoàn thành

đạo lý Vì vậy, Trung Dung viết: “Tự sáng tỏ đến chỗ thành thật gọi là giáo dục”[12, tr.185] Khổng Tử cho rằng bất cứ một cá nhân có thiên tài lỗi lạc như thế nào, nếu không để cho giáo dục uốn nắn thì cũng không có thể thành một nhân cách hoàn toàn được Vì vậy, Khổng Tử nói:

Muốn nhân mà không học, cái che đó thành ra ngu

Muốn trí mà không học, cái che ấy là đãng

Muốn tín mà không học, cái che ấy là giặc

Muốn trực mà không học, cái che ấy là nóng nảy

Muốn dũng mà không học, cái che ấy là loạn

Muốn cương mà không học, cái che ấy là cuồng [34, XVII, 8]

Trang 31

31

1.2.2.3 Mục đích giáo dục

Trước hết, học để ứng dụng có ích cho xã hội, chứ không phải làm

quan sang, bổng hậu Học trò có người cầu học với hy vọng bổng lộc, Khổng

Tử bảo rằng: “nên nghe nhiều, những gì còn nghi ngờ thì hãy để khuyết đó Cẩn thận trong lời nói thì ít lỗi Nên xem nhiều, những gì chưa chắc chắn thì hãy để khuyết đó Cẩn thận mà làm những điều không nguy hại thì chắc ít phải ăn năn Nói ít lỗi, làm ít ăn năn, lộc ở bên trong vậy”[34, II, 18] Học phải có ích dụng, cho nên Khổng Tử chỉ rõ rằng: “Đọc ba trăm bài kinh, được trao cho chính sự lại làm không đạt, đi sứ bốn phương lại không ứng đối được, thế thì học nhiều để làm gì”[34, XIII, 5]

Thứ hai, học để hoàn chỉnh nhân cách

Học là cho mình chứ không phải cho ai, nhằm hoàn thiện nhân cách Khổng Tử nói rằng: “Những bậc học giả thời xưa dùng học vấn để đề cao đạo đức của mình; học giả thời nay dùng học vấn tạo dáng cho người ngoài xem”[34, XIV, 25] Giáo dục coi trọng việc bồi dưỡng thành nhân cách để ứng dụng cho đời, cho nên học vừa phải học văn chương, vừa phải coi trọng rèn luyện hành vi Khổng Tử nói: “Học trò ta vào nhà thì hiếu với cha mẹ, ra ngoài thì đễ, cẩn thận

mà giữ lòng tin, làm thừa sức những điều ấy rồi mới học văn chương”[34, I, 6]

Để cho người học đạt tới mục đích hoàn chỉnh nhân cách, Khổng Tử đã lấy “bốn điều làm chương trình giáo dục là văn chương, thực hành, trung nghĩa, tín nhiệm”[34, VII, 24] Trong bốn mục, ba mục thuộc về phương diện nhân sinh hành vi, đại biểu cho nhân cách cá nhân hành động ở đời

Thứ ba, học để tìm tòi chân lý

Khổng Tử phản đối học cầu lợi mà coi trọng vào việc tìm tòi chân lý thông qua khoa học Chân lý ở đây là đạo, nên Khổng Tử nói: “Tu sửa đạo gọi là giáo dục”[12, tr.139] Khổng Tử đã tả lòng mình khi học đạo: “Buổi sáng nghe được đạo lý, buổi chiều chết cũng vui”[34, IV, 8]

Trang 32

32

1.2.2.4 Nội dung giáo dục – đào tạo của Nho giáo

Nội dung trung tâm của giáo dục – đào tạo của Nho giáo là học và dạy

đạo lý Đạo theo Nho giáo là đường đi lối lại, là nền nếp, phép tắc Nghĩa đen

của Đạo là con đường đúng đắn từ nơi đi tới nơi đến Con người không đặt ra đạo cho trời đất để trời đất tuân theo Đạo là cái vốn có của trời, của đất, của con người Đạo trời là âm dương, đạo đất là nhu cương Đối với con người, xã hội loài người, việc lập ra đạo đúng đắn, rõ ràng là rất quan trọng Không biết đạo thì không thể làm người, không thể sống một cuộc sống xứng đáng Muốn dẫn nhân loại trở về với tính gần nhau, tránh được các “tập” làm cho xa nhau, thì phải lập đạo cho con người Kinh Dịch ghi rõ: “Lập đạo của người nói nhân

và nghĩa” Đạo nhân, nghĩa của con người theo Nho giáo là phù hợp với tính của con người, do con người lập nên, rất gần gũi với con người, không bao giờ mất đi Vì vậy, con người phải hiểu đạo, làm đúng theo đạo, nước và thiên hạ phải hiểu đạo, làm đúng theo đạo thì mới có cuộc sống hữu đạo

Học và dạy đạo lý là nhằm làm cho con người xác định được năm mối quan hệ cơ bản trong cuộc sống (ngũ luân): vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, anh – em, bầu bạn Điều quan trọng hơn là làm tròn trách nhiệm của mình trong năm mối quan hệ đó Chính năm mối quan hệ ấy quyết định đạo làm người và quyết định những đức tính cần thiết nhất cho con người để phục vụ năm mối quan hệ ấy Để củng cố năm mối quan hệ trên, Nho giáo nêu lên những phẩm chất quan trọng bậc nhất mà mọi người phải cố gắng đạt tới Mục tiêu phấn đấu của từng người là phải ra sức tu dưỡng bản thân để xây dựng cuộc sống tốt đẹp trong gia đình, để góp phần tích cực vào việc quản lý đất nước và sau đó đem lại sự yên vui cho cả thiên hạ (tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ)

Để đạt được đạo lý, trong giáo dục, Khổng Tử lấy bốn điều làm chương trình giáo dục, đó là văn chương, thực hành, trung nghĩa, tín nhiệm [34, VII,

Trang 33

33

24] Trong khi dạy và học, tùy vào độ tuổi, Nho giáo phân định cụ thể Từ bé đến 15 tuổi học các môn “Lễ, Nhạc, Xạ, Ngự, Thư, Số” Sau độ tuổi 15 học bốn môn: đức hạnh, chính sự, ngôn ngữ, văn chương

Ngoài học đạo lý, trong hệ thống trường học của Nho giáo, không học các môn văn hóa cơ bản và kỹ thuật

1.2.2.5 Sách giáo khoa để giáo dục và đào tạo

Sách giáo khoa dùng để dạy và học đạo lý là kinh điển của Nho giáo được khái quát trong bộ Tứ thư, Ngũ kinh

Tứ thư (bốn cuốn sách) có cuốn Luận Ngữ gồm 20 thiên, mỗi thiên chia

nhiều chương Nội dung chủ yếu bao gồm các quan điểm của Khổng Tử và các môn đệ về các vấn đề chính trị, đạo đức, học thuật…bao trùm lên tất cả

các quan điểm ấy là chữ Nhân Cuốn Đại học tác giả là Tăng Tử có nội dung: nhấn mạnh vào tính thống nhất không thể chia cắt giữa tu dưỡng đạo đức bản

thân và việc trị quốc, bình thiên hạ Sách Đại học nêu bật Tam cương: minh

minh đức (làm sáng tỏ đức sáng), tân tân (làm cho dân mới), chí ư chí thiện

(đứng vào chỗ chí thiện), Bát mục: cách vật, trí tri, thành ý, chính tâm, tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, trong đó tu thân là quan trọng nhất Trung

dung được hiểu khái quát là trong những hoàn cảnh, điều kiện, thời

gian…khác nhau, mọi suy nghĩ và hành động của con người đều phải giữ

vững ở mức độ vừa không “thái quá”, cũng không “bất cập” Mạnh Tử là tác

phẩm do chính Mạnh Tử viết Tư tưởng Mạnh Tử kế thừa tư tưởng Khổng

Tử, có cải biến và phát triển cho phù hợp với xã hội đương thời Những luận điểm quan trọng của Mạnh Tử là vương đạo, nhân chính và tính thiện

Ngũ Kinh gồm các tác phẩm: Kinh Thi là tuyển tập thơ ca ra đời sớm

nhất của Trung Hoa cổ đại, bao gồm những tác phẩm xuất hiện từ đầu đời

Chu cho tới Xuân Thu, được chỉnh lý và sắp xếp thành tập Kinh Lễ gồm

nhiều tư liệu quan trọng về tư tưởng xã hội – chính trị, luân lý, đạo đức, chế

Trang 34

34

độ tông pháp, quan hệ giai cấp của Trung Hoa cổ đại Kinh Thư là tập tư liệu

cổ nhất của Trung Hoa Nội dung chính là ghi lại những vấn đề lịch sử chính

trị từ đời Nghiêu Thuấn đến thời Tây Chu Kinh Dịch là sách bói toán của

người Trung Hoa cổ đại, sau được bổ sung thêm nhiều phần luận bàn về lẽ

sinh thành biến hóa của muôn vật trong trời đất Kinh Xuân Thu là bộ sử biên

niên xuất hiện sớm nhất của Trung Hoa

Trong sách Luận Ngữ có ghi: “Khổng Tử thường hay giải luận về Thi, Thư, Lễ”[34, VII, 17] Chỗ khác trong Luận Ngữ viết: Khổng Tử thường dạy học trò về bốn môn: Văn chương lục nghệ, đức hạnh, trung thứ, tín [34, VII, 24] Ông không dạy học trò những vấn đề như quái dị, bạo lực, phản loạn và

mê tín quỷ thần [34, VII, 20] Ông cho rằng “chuyên tâm nghiên cứu những điều dị đoan, hoang tưởng là có hại cho mình vậy” [34, II, 16] Từ đó, Khổng

Tử chỉ rõ, bất cứ ai, dù có lỗi lạc đến mấy, nếu không để cho giáo dục uốn nắn thì không thể trở thành một nhân cách hoàn toàn

1.2.2.6 Phương châm, phương pháp giáo dục và đào tạo

Trong các tài liệu kinh điển của Nho giáo, các nhà sáng lập Nho giáo không hề nói tới phương châm, phương pháp học và dạy Vì vậy, để tìm hiểu vấn đề này, chúng ta đi sâu nghiên cứu một số lời nói, câu văn rời rạc liên quan tới phương châm, phương pháp học tập của các “thánh hiền” trong các tác phẩm kinh điển

Khi nghiên cứu Nho giáo có thể có những vấn đề, những người này tán đồng, những người khác không tán đồng, song có vấn đề nhiều người tán đồng là các “thánh hiền” như Khổng Tử, Khổng Cấp, Mạnh Kha, Tuân Tử thời Đông Chu; Đổng Trọng Thư đời Hán; Chu Đôn Di, Trình Hạo, Trình Di, Chu Hy đời Tống; Vương Thủ Nhân đời Minh là những người học nhiều, hiểu biết rộng, suy nghĩ sâu sắc Họ là những danh nhân đạo Nho có công lớn đào tạo ra những con người lý tưởng – mẫu người của xã hội phong kiến Trung

Trang 35

35

Quốc Vì vậy, thông qua các lời nói, bài văn, ta có thể rút ra được hệ thống phương pháp dạy và học của họ trong suốt chiều dài tồn tại của Nho giáo

Khổng Tử là một vị thầy trong số nhiều thầy, sau khi ông mất được coi

là vị thầy duy nhất ở trên mọi thầy khác Lần đầu tiên trong lịch sử giáo dục Trung Quốc, ông mở trường dạy học và chủ trương “hữu giáo vô loại” – nghĩa là “dạy không phân biệt đối xử với các loại lớp, hạng người”[34, XV, 38] Ông tuyên bố: Kẻ nào xin nhập môn, tự mình làm lễ dâng lên một thúc nem, thì chẳng bao giờ ta chê lễ mọn mà chẳng dạy cho”[34, VII, 7] Đó là quan điểm tiến bộ nhằm “vượt qua” giới hạn của đẳng cấp danh phận của xã hội đương thời, góp phần làm cho sự nghiệp giáo dục mở mang tri thức xuống đến dân chúng ở một phạm vi và trình độ nhất định Ông chủ trương “Lặng nhẫm mà ghi nhớ trong lòng, học đạo mà không chán, dạy người không mỏi,

ta có gì đâu”[34, VII, 2], “học từ mức thấp để đạt lên mức cao”[34, XIV, 37]

Khái quát hệ thống phương pháp giáo dục và đào tạo con người của Nho giáo (chủ yếu là Khổng Tử) ở những điểm sau:

Một là, Khổng Tử coi trọng cách giáo dục theo đúng lịch trình tâm sinh lý

Khổng Tử kể lại lịch trình học của mình như sau: “Ta 15 tuổi để chí vào học, 30 tuổi thì vững chí trên đường đạo đức, 40 tuổi không nghi hoặc (biết được lẽ tự nhiên của muôn vật), 50 tuổi biết được mệnh trời, 60 tuổi tai thuận (nghe người nói mà mình thông ngay), 70 tuổi biết theo cái lòng mình thích, nhưng không vượt qua khuôn khổ” [34, II, 4] Cách giáo dục như vậy cốt hướng dẫn đúng với điều kiện tâm sinh lý, chứ không võ đoán Nó nuôi cho tình cảm nảy nở rồi mới đưa vào khuôn phép, song rồi lại phải điều hoà các mâu thuẫn xung đột ở trong tâm

Thứ hai, phương pháp gợi mở đối thoại giữa thầy và trò, giữa người dạy và người học nhằm phát huy tính năng động chủ quan và sự độc lập suy

nghĩ sáng tạo của người học

Trang 36

36

Khổng Tử nói: “đối với học trò không có tinh thần bực tức vì không hiểu được thì không gợi ý cho, ai không có tinh thần ấm ức muốn tỏ ý kiến của mình thì không giảng giải cho Nêu một góc mà không chỉ ra ba góc kia thì không dạy lại nữa” [34, VII, 8] Ông yêu cầu người học phải biết quan sát tinh tường, biết suy luận, từ một vật mà biết được vật khác, từ cái này, biết cái kia: “Biết một mà thông suốt tất cả” [34, XV, 2]

Thứ ba, phương pháp học gắn với tư, học gắn với tập, học gắn với hành

Học theo từ gốc, có nghĩa là bắt chước theo Bắt chước là y theo ý nghĩ,

y theo nói, y theo người khác Người khác có thể là thầy, là bạn, là sách, là kinh nghiệm của bao nhiêu bậc thầy Khổng Tử đã nói “học cho chính mình,

tự giác mà học” và học “do nhu cầu ở mình”, chứ không phải học “cho người khác, nhu cầu ở người khác…Nghĩa là đã học thì phải có ý chí, có công phu,

có sự nỗ lực của bản thân trong tư duy, trong biện luận, trong thể nghiệm, trong hành động Vì vậy, Khổng Tử cho rằng HỌC phải gắn liền với sự suy nghĩ (TƯ), gắn liền với thể nghiệm trong thực tế (TẬP) và làm việc có hiệu quả đối với cuộc sống (HÀNH) Quan hệ giữa HỌC với TƯ, HỌC với TẬP, HỌC với HÀNH càng tốt thì kết quả và thành công của học ngày càng to lớn

“Nói nhiều mà làm ít, người quân tử lấy làm hổ thẹn” [34, XIV, 29]

Trang 37

37

Thứ tư, một số nguyên tắc để dạy và học đúng đắn

Học là để biết, dạy là làm cho người khác để biết, đem điều mình biết

để truyền cho người khác Biết không phải là khâu cuối cùng, mà là khâu phải đạt tới để Hành Không biết thì không hành được Vì vậy, các nhà sáng lập

Nho giáo cho rằng, để học và dạy đúng đắn, cần thực hiện các nguyên tắc

thận trọng, khách quan, khiêm tốn, trung thực

Trong mọi trường hợp, cần phân biệt rõ ràng giữa biết và không biết Khổng Tử nói: “Biết thì tỏ là biết, không biết thì tỏ là không biết, thế là biết vậy” [34, II, 17] Trong cuộc sống thường nhật, không ít trường hợp biết mà làm ra không biết và càng nhiều trường hợp không biết mà làm ra biết Điều đó có hại cho bản thân trong học tập, có thể gây hại cho người khác trong giảng dạy Biểu hiện dứt khoát cái biết và cái không biết một cách khách quan, trung thực là những nguyên tắc phương pháp luận cần thực hiện để tìm ra chân lý

Theo tinh thần trên, khi tìm tòi chân lý, Khổng Tử nêu lên chữ “nghi”

Có cái biết, có cái không biết, cũng có cái không dễ khẳng định biết hay không

biết Cái thứ ba ấy là cái “nghi” Tuy nhiên, có cái nghi là hỏi ngay được, có

thể có nghi mà không có nơi hỏi được và cũng có thể hỏi và không sáng tỏ được Trong trường hợp ấy, cái nghi vẫn tồn tại, phải để lại xác minh Về vấn

đề này, theo Khổng Tử, nguyên tắc thận trọng, khách quan, khiêm tốn, trung thực biểu hiện ở chỗ: “Nên nghe nhiều, những gì còn nghi ngờ thì hãy để khuyết đó, thận trọng nói năng với những gì còn lại, thế thì mau ít hối hận Nói

ít lời, làm ít hối hận, lộc ở ngay trong ấy” [34, II, 18] Đồng thời, muốn học để biết phải có thái độ học khách quan, trung thực trong học tập, dứt khoát bốn không: không vị kỷ tư dục (không ý), không võ đoán (không tất), không cố chấp (không cố), không tự phụ chủ quan (không ngã) [34, IX, 4]

Trang 38

Theo Khổng Tử, người học phải luôn cố gắng, nỗ lực, cần mẫn, siêng năng trau dồi tri thức cho mình: “Người phấn phát mà suy nghĩ đạo lý đến quên

ăn, khi đạt được đạo lý thì vui sướng đến quên các nỗi lo buồn; chuyên tâm với đạo lý cho đến mức chẳng hay cái tuổi già nó sắp đến với mình” [34, VII, 18]

Khổng Tử khuyên người học “phải ráng sức mà học, dường như chẳng kịp theo người, chỉ sợ mình tụt lại phía sau” [34, VIII, 17] Thậm chí, ông nói: Trong ba người đi đường ắt có người là thầy ta Mình chọn điều phải của người này để làm theo; mình xét điều quấy, điều bất thiện của người kia mà sửa đổi mình” [34, VII, 21]

Ngoài ra, muốn học tập, rèn luyện để trở thành người tài đức, Khổng

Tử cho rằng người học phải luôn có thái độ cầu tiến vượt lên Ông nói: “Kẻ không đủ sức, đi được nửa đường thì bỏ, còn người chẳng phải không đủ sức, tại người vạch sẵn mức đường, đến mức đó thì người tự thoả mãn, chẳng tiến tới nữa” [34, VI, 10]

1.2.2.7 Quan điểm về giảng dạy trong giáo dục – đào tạo

Khổng Tử cho rằng giữa học và dạy có quan hệ mật thiết với nhau Học

là để cho mình hiểu biết được đạo, dạy là làm cho người khác hiểu được đạo

Vì đạo mà học thì học không chán, vì đạo mà dạy thì dạy không biết mệt mỏi Như vậy, quan điểm coi trọng học và coi trọng dạy là nhất quán, tương ứng và

rõ ràng với nhau Học là để biết thì dạy cho người khác biết cũng có ích cho sự

Trang 39

39

hiểu biết của mình, cũng có tác dụng nâng cao, củng cố và mở rộng sự hiểu biết của mình Vì thế, muốn dạy người khác thì người dạy bao giờ cũng phải xác định, kiểm tra, sắp xếp thật tốt sự hiểu biết của mình để diễn đạt cho rõ ràng, truyền thụ cho đúng đắn sáng tỏ Người học hiểu biết được điều mình dạy thì mình lại càng phải có hiểu biết thêm rộng hơn, cao hơn, sâu hơn để dạy Kinh Thư nói rằng “dạy là một nửa học” điều đó theo tinh thần trên là đúng

Dạy và học của Nho giáo là dạy và học đạo lý Nho giáo, đi từ Lễ, nhạc,

xạ, ngự, thư, số, lên tới đạo đức, chính sự, ngôn ngữ, văn học Còn dạy học làm ruộng, làm vườn, chăn nuôi, dạy học các nghề thủ công, mua bán, bốc thuốc chữa bệnh không được xếp vào các ngành, các khoa trong trường lớp nhà Nho Học 6 ngành, 4 khoa để trở thành nhà Nho, để tùy thời mà giữ cương vị này, khác trong mọi hoàn cảnh hành đạo Dạy theo yêu cầu của Nho giáo là làm cho người khác hiểu biết như vậy, làm được như vậy và hành đạo như vậy Do vậy, ham học và học tốt là điều tất yếu đối với người quân tử Nho giáo và khẳng định, người quân tử Nho giáo phải là người ham dạy và dạy tốt nữa Dạy trong gia đình, dạy trong trường lớp, dạy trong nước và dạy trong thiên hạ, ở đâu và ở trong phạm vi nào, trên địa bàn nào, người quân tử Nho giáo cũng có nhiệm vụ, trọng trách dạy người cả Dạy trong nhà tốt thì dạy trong trường, trong nước và trong thiên hạ sẽ tốt Hơn nữa, dạy trong nhà tốt thì kết quả đó sẽ phát huy tác dụng tốt trong cả nước và thiên hạ

Như vậy, công việc dạy là công việc rất quan trọng của những người trị nước, bình thiên hạ Vì vậy, Khổng Tử coi người làm chính sự biết dạy dân giỏi chính là nhà chính trị giỏi, tốt Như vậy, người quân tử ra làm quan, tức có cương vị xã hội để hành đạo thì cách tốt nhất để hành đạo là giáo Có giáo mới được lòng dân, mới đưa dân, nước, thiên hạ vào hữu đạo Đó là một ước vọng, còn cuộc sống thực tế thì không đơn giản như vậy Trải qua mấy ngàn năm, các

triều đại vừa phải chính, hình, vừa phải Lễ, giáo theo kinh truyện Nho giáo một

cách trang nghiêm chặt chẽ Trong các Lễ giáo của các triều đại phong kiến

Trang 40

40

Trung Quốc cũng như các nước Hán học trước đây, Nho giáo chiếm ưu thế Những tư tưởng của Nho giáo không hề được thực hiện, họ cho đó là do mệnh trời Người quân tử phải biết mệnh trời, biết dạy người sợ mệnh trời, đó là điều quan trọng khi dạy cho dân Khi người quân tử bị gạt bỏ (tàng) thì vẫn có việc làm vì đạo rất tốt, đó là giáo ở bất kỳ đâu Chính những mối quan hệ qua lại giữa học và dạy, giữa giáo và hành như trên, làm cho các hiền triết đạo Nho càng học lại càng ham dạy và càng dạy lại càng ham học để ngày càng thêm tôn kính đạo của mình và ngày càng hăng say bảo vệ, truyền bá đạo của mình

1.2.2.8 Về chế độ trường học

Chế độ trường học cổ đại của Trung Quốc có thể chia ra làm hai loại công

và tư Xét về trình độ, có thể chia thành hai giai đoạn là Đại học và Tiểu học

Vào thời đại Đông Chu, do những biến đổi quá mau lẹ của xã hội nên chế độ giáo dục cũng có những chuyển biến lớn Cơ chế học quan (trường công) suy vi, ngành học tư phát triển Khổng Tử là người đầu tiên sáng lập nhà học tư Ông thu nhận học sinh thuộc các giai tầng trong xã hội, dùng Lục Kinh để truyền dạy cho các môn đồ Việc sáng lập ra các nhà học tư trong cơ chế giáo dục của Trung Quốc là sự sáng tạo của thời đại, hoạt động giáo dục thành một nghề chuyên môn Về sau, trong xã hội phong kiến, trường học tư với trường công hỗ trợ cho nhau trong quá trình giáo dục – đào tạo

Tóm lại: Nền giáo dục cổ đại của Trung Quốc ra đời sớm, có nhiều

quan điểm khác nhau của các học phái triết học Trong các học phái ấy, tư tưởng Nho giáo về giáo dục là phong phú nhất, luôn giữ địa vị chủ đạo từ thời

cổ đến tận các triều đại phong kiến Biểu hiện rõ nét của tư tưởng giáo dục Nho giáo qua các triều đại là mục tiêu, nội dung, tài liệu giáo dục, quan điểm

về phương pháp học và dạy học…Qua các triều đại, phần đông các nhà Nho, học giả của đạo Nho vẫn lấy việc giáo dục làm sự nghiệp, do đó đã góp phần hình thành một chế độ giáo dục khá hoàn bị, để lại nhiều kinh nghiệm, tư tưởng giáo dục có giá trị

Ngày đăng: 24/11/2021, 15:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w