Để phát huy truyền thống, phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam, để người phụ nữ thể hiện được vai trò, vị trí của mình trên các lĩnh vực, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ - HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TAO THỊ LAN ANH
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ VÀO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC PHỤ NỮ TẠI TỈNH ĐIỆN BIÊN HIỆN NAY
Ngành: Hồ Chí Minh học
Mã số: 60 31 02 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ HỒ CHÍ MINH HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Hoàng Anh
HÀ NỘI - 2012
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 4
Chương 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ VÀ SỰ CẦN THIẾT VẬN DỤNG VÀO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC PHỤ NỮ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY 10
1.1 Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ 10
1.2 Công tác phụ nữ và tiêu chí đánh giá chất lượng công tác phụ nữ 45
1.3 Sự cần thiết vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ vào nâng cao chất lượng công tác phụ nữ hiện nay 50
Chương 2: NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC PHỤ NỮ TỈNH ĐIỆN BIÊN DƯỚI ÁNH SÁNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 57
2.1 Những nhân tố tác động đến chất lượng công tác phụ nữ tỉnh Điện Biên hiện nay 57
2.2 Thực trạng công tác phụ nữ tỉnh Điện Biên hiện nay (qua khảo sát từ năm 2006 đến năm 2011) 61
2.3 Những phương hướng và giải pháp nhằm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ vào nâng cao chất lượng công tác phụ nữ tỉnh Điện Biên hiện nay 83
KẾT LUẬN 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 101
Trang 3DANH MỤC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Bảng 2.1: Kết quả thực hiện công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao
Bảng 2.2: Phụ nữ tham gia các cấp ủy Đảng 77
Bảng 2.3: Phụ nữ tham gia Hội đồng nhân dân 77
Bảng 2.4: Phụ nữ tham gia ủy ban nhân dân 78
Bảng 2.5: Kết quả thực hiện chương trình hỗ trợ phụ nữ phát triển
Bảng 2.6: Kết quả thực hiện phong trào thi đua “Phụ nữ tích cực
học tập, lao động sáng tạo, xây dựng gia đình hạnh phúc” 79
Biểu đồ: Chất lượng hoạt động cơ sở hội liên hiệp phụ nữ tỉnh
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phụ nữ là một lực lượng xã hội, chiếm một nửa dân số trên thế giới Từ xưa đến nay, qua thực tiễn, qua thơ, ca, nhạc, họa, người phụ nữ vẫn được biết đến như một “kiệt tác của vũ trụ” Lịch sử cũng đã chứng minh vai trò quan trọng của phụ nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Họ không chỉ
là người trực tiếp sản sinh, nuôi dưỡng những thế hệ tương lai của đất nước
mà còn là người duy trì, giữ ấm ngọn lửa gia đình - tế bào của xã hội Cùng với nam giới, phụ nữ còn là nguồn lực tạo ra của cải vật chất dồi dào phục vụ cho sự phát triển của xã hội ngày càng cao
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt, không thể không kể đến những người phụ nữ làm rạng danh dân tộc, quê hương, đất nước Từ những người phụ nữ là chỗ dựa cho gia đình trong nhiều phương diện của cuộc sống thời xa xưa, đến những người phụ nữ "tay cày, tay súng",
"tay búa, tay súng" làm nên một hậu phương vững chắc trên ruộng đồng, công trường, nhà máy, xí nghiệp, hầm mỏ cho tiền tuyến thời kỳ kháng chiến và đến hôm nay, người phụ nữ đang ngày càng khẳng định vị thế quan trọng của mình trong gia đình và ngoài xã hội, góp phần lớn vào công cuộc xây dựng và đổi mới đất nước
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại - Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới, với lòng nhân ái bao la, Người suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người Người luôn nhận thức và đánh giá đúng về vị trí, vai trò của người phụ nữ Người tặng phụ nữ Việt Nam 8 chữ vàng: “Anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang” và“Non sông gấm vóc Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp, rực rỡ” [21, tr.340] Đó cũng chính là lời khẳng định vai trò quan trọng của phụ nữ trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước
Trang 5Ở nước ta hiện nay, vị trí và vai trò của người phụ nữ đã và đang được khẳng định Không chỉ đảm đương vai trò là người con - người vợ - người mẹ trong gia đình, người phụ nữ còn là những cán bộ “giỏi việc nước” Số lượng
và chất lượng cán bộ nữ phát triển không ngừng Trong các cấp uỷ Đảng và ở các vị trí lãnh đạo từ Trung ương đến cơ sở đều có cán bộ nữ tham gia Đội ngũ cán bộ nữ được tạo điều kiện phát huy quyền làm chủ, đáp ứng ngày càng cao yêu cầu của sự nghiệp xây dựng đất nước Phong trào phụ nữ đã có bước phát triển, các tầng lớp phụ nữ tỏ rõ năng lực, phẩm chất, nêu cao tinh thần yêu nước, đoàn kết, phát huy tiềm năng, sức sáng tạo trong học tập, lao động sản xuất và công tác, đạt những thành tích xuất sắc trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng Đội ngũ cán bộ nữ đã có bước trưởng thành rõ rệt
Đồng hành cùng với sự phát triển của đất nước, Điện Biên - một thành phố cực Tây của Tổ quốc, trong những năm gần đây, đã có những bước phát triển vượt bậc về mọi mặt Trong đó, đặc biệt là sự quan tâm và những chính sách phát triển của chính quyền tỉnh Điện Biên nói chung cũng như của Hội phụ
nữ tỉnh Điện Biên nói riêng dành cho những nữ trí thức, nữ công nhân, nữ nông dân trong tỉnh Tuy nhiên, công tác nữ nói riêng và vị thế người phụ nữ nói chung vẫn chưa được phát huy tốt nhất Hiện tượng bất bình đẳng giới, xâm hại phụ nữ, không tạo điều kiện tốt cho phụ nữ phát triển còn tồn tại trong suy nghĩ của một bộ phận cán bộ, Đảng viên Để phát huy truyền thống, phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam, để người phụ nữ thể hiện được vai trò, vị trí của mình trên các lĩnh vực, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội của tỉnh thì việc vận dụng những tư tưởng của Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ
nữ vào nâng cao chất lượng công tác phụ nữ tại tỉnh Điện Biên không những có
ý nghĩa lý luận mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc Từ những đòi hỏi trong thực
Trang 6tiễn cuộc sống, với những kiến thức đã học, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ vào nâng cao chất lượng công tác phụ nữ tại tỉnh Điện Biên hiện nay” làm luận văn tốt
nghiệp cao học chuyên ngành Hồ Chí Minh học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ đã và đang được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm ở các góc độ khác nhau như: Lê Thi:
“Chủ tịch Hồ Chí Minh và con đường đưa phụ nữ Việt Nam đi tới bình đẳng,
tự do, phát triển”, NXB Khoa học xã hội, HN, 1990; “Hồ Chí Minh với sự nghiệp giải phóng phụ nữ”, NXB Phụ nữ, HN, 1990; Phạm Hoàng Điệp:
“Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự tiến bộ của phụ nữ”, NXB Văn hóa thông tin,
HN, 2008; Nhiều tác giả: “Bác Hồ với sự tiến bộ của Phụ nữ”, NXB Phụ nữ,
HN, 2009; Nguyễn Thị Kim Dung:“Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh về quyền bình đẳng của phụ nữ”, NXB Dân trí, HN, 2010…
Công trình khoa học: “Bác Hồ với phong trào phụ nữ Việt Nam” của
tác giả Dương Thoa xuất bản năm 1982 ghi lại những tư tưởng, quan điểm của Hồ Chí Minh về con đường giải phóng phụ nữ nước ta và gợi lên những hình ảnh đẹp đẽ về tấm lòng nhân đạo cao cả của Người
Công trình khoa học: “Chủ tịch Hồ Chí Minh với sự tiến bộ của phụ nữ” của tác giả Phạm Hoàng Điệp do Nhà xuất bản Văn hóa thông tin ấn hành năm 2008 chủ yếu thống kê các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh về
phụ nữ, về quyền bình đẳng của phụ nữ, quan điểm về giải phóng phụ nữ trong tư tưởng của Người một cách khái quát
Công trình khoa học“Tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người” do
PGS.TS Phạm Ngọc Anh chủ biên, NXB Chính trị quốc gia xuất bản năm
2005, khi bàn về nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, tác giả đã dành mục V để nêu lên “quan điểm sáng tạo độc đáo của Hồ
Trang 7Chí Minh về quyền phụ nữ” qua cách tiếp cận và những nội dung về quyền phụ nữ trong tư tưởng của Người
Nghiên cứu về việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ vào xây dựng đội ngũ nữ hiện nay được nhiều nhà khoa học
quan tâm nghiên cứu Cụ thể: “Hồ Chí Minh với cuộc đấu tranh về quyền bình đẳng của phụ nữ” là cuốn sách của tác giả Nguyễn Thị Kim Dung do
Nhà xuất bản Dân trí ấn hành năm 2010 Cuốn sách là tập hợp những bài báo, bài viết của tác giả trong các hội thảo Bên cạnh việc nêu lên những quan điểm của Hồ Chí Minh về quyền bình đẳng của phụ nữ; những quan điểm của Người trong việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ, tác giả trực tiếp nghiên cứu vấn đề: “Tăng cường bình đẳng giới và nâng cao vị thế năng lực cho phụ nữ theo tư tưởng Hồ Chí Minh”
Một số bài viết đăng trên các tạp chí như: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ và xây dựng đội ngũ cán bộ nữ” của tác giả Nguyễn Thị Trà Giang đăng trên tạp chí Xây dựng Đảng số tháng 6 năm 2010; “Tư tưởng
Hồ Chí Minh về vai trò phụ nữ trong quản lý nhà nước” của Nguyễn Thị Liên đăng trên website Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam ngày 7-3-2011; “Tư tưởng
Hồ Chí Minh về công tác phụ nữ trong xây dựng Chủ nghĩa xã hội”, Tạp chí
xây dựng Đảng tháng 3- 2011… đã đưa ra những nghiên cứu, nhận định và
sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ vào công tác phụ nữ hiện nay
Các công trình khoa học kể trên mới chỉ tập trung đề cập đến khía cạnh
tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ, công tác phụ nữ
Công trình nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “Tư tưởng Hồ Chí Minh về phụ nữ” do ThS Lê Đình Năm chủ nhiệm đề tài năm 2009 là một đề tài khoa
học nghiên cứu chuyên sâu, hệ thống đầy đủ, chi tiết các quan điểm của Hồ Chí Minh về phụ nữ và vận dụng vào công cuộc giải phóng phụ nữ hiện nay
Tuy nhiên, trong quá trình khảo sát, tác giả luận văn nhận thấy, chưa có công trình nghiên cứu khoa học nào đi sâu nghiên cứu về việc vận dụng tư
Trang 8tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ vào nâng cao chất lượng công tác phụ nữ tại tỉnh Điện Biên hiện nay Những công trình khoa học đã công bố sẽ là nguồn tư liệu khoa học khi tác giả triển khai nghiên cứu đề tài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về
sự nghiệp giải phóng phụ nữ, phân tích thực trạng công tác phụ nữ ở tỉnh Điện Biên hiện nay, tác giả đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ vào nâng cao chất lượng công tác phụ nữ tại tỉnh Điện Biên hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, đề tài tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Góp phần làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ
- Xây dựng hệ tiêu chí đánh giá chất lượng công tác phụ nữ
- Phân tích thực trạng vấn đề thực hiện công tác phụ nữ tại tỉnh Điện Biên hiện nay
- Đề xuất những phương hướng và giải pháp nhằm vận dụng tư tưởng
Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ vào nâng cao chất lượng công tác phụ nữ ở tỉnh Điện Biên hiện nay
4 Giới hạn, phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu nhằm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp
giải phóng phụ nữ vào nâng cao chất lượng công tác phụ nữ tại tỉnh Điện Biên
hiện nay (khảo sát từ năm 2006 đến năm 2011)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được triển khai trên nền tảng quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và những quan điểm chỉ đạo của Đảng về công tác phụ nữ
Trang 95.2 Phương pháp nghiên cứu
- Đề tài nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp lịch sử - logic, phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh…
6 Đóng góp mới của đề tài
Đề tài làm rõ thực trạng chất lượng công tác phụ nữ tỉnh Điện Biên hiện nay; đề xuất phương hướng và những giải pháp chủ yếu nhằm vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ vào nâng cao chất lượng công tác phụ nữ tại tỉnh Điện Biên hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn làm sáng tỏ tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ; góp phần nêu cao giá trị của tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ đối với công tác phụ nữ
7.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn góp phần đề xuất các phương hướng và giải pháp nhằm vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ vào nâng cao chất lượng công tác phụ nữ tại tỉnh Điện Biên hiện nay
Kết quả của luận văn có thể là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy những vấn đề lý luận liên quan thuộc chuyên ngành Tư tưởng Hồ Chí Minh
8 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài được kết cấu thành 2 chương 6 tiết
Trang 10Chương 1
TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ
VÀ SỰ CẦN THIẾT VẬN DỤNG VÀO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
CÔNG TÁC PHỤ NỮ Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.1 TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG PHỤ NỮ 1.1.1 Nguồn gốc hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ
1.1.1.1 Hồ Chí Minh kế thừa và tiếp thu những giá trị văn hóa truyền
Dân tộc Việt Nam trong hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước
đã tạo lập cho mình một nền văn hóa riêng, phong phú, bền vững với những truyền thống tốt đẹp và cao quý Đó chính là môi trường sống vô cùng quan trọng hình thành nên nhân cách của mỗi con người Với Hồ Chí Minh, truyền thống này là cơ sở cho ý chí, hành động, là niềm thôi thúc, nỗi khao khát cháy bỏng, thúc giục Người ra đi tìm con đường cứu nước mới, giải phóng gia đình, quê hương, đất nước khỏi sự ô nhục của kiếp sống nô lệ, tìm lại sự độc lập tự do cho giang sơn, giống nòi của mỗi con người Việt Nam, trong đó có biết bao thân phận những người mẹ, người chị, người em gái để từ đó hình thành nên quan điểm, tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ Những giá trị ấy có thể khái quát chung là:
Thứ nhất, trong truyền thống văn hóa dân tộc, người phụ nữ có vai trò
nhất định trong sự duy trì và phát triển đời sống gia đình Dân gian ta có câu:
“Thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn”, “Lệnh ông không bằng cồng bà”, “Chồng là cái giỏ, vợ là cái hom”, “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây
tổ ấm”… để nói về vai trò người phụ nữ Tuy nhiên, có thể thấy, vai trò của
người phụ nữ chỉ được đề cập trong phạm vi gia đình Người phụ nữ trong xã
Trang 11hội phong kiến và chế độ thuộc địa vẫn chịu nhiều đau khổ, thiệt thòi, luôn bị
áp bức, bóc lột cả về tinh thần lẫn vật chất Vị trí, vai trò của họ trong gia đình
và xã hội bị xem nhẹ, coi khinh
Mặc dù vậy, trên thực tế, lịch sử Việt Nam còn ghi lại chiến công hiển hách, vai trò to lớn đối với xã hội của rất nhiều người phụ nữ Tiêu biểu như Hai Bà Trưng (Trưng Trắc và Trưng Nhị) đã cầm đầu cuộc khởi nghĩa lật đổ
sự xâm lược và thống trị của phong kiến nhà Hán (Trung Quốc) vào những năm 40 sau công nguyên Hiện nay, ở nhiều nơi vẫn còn đền thờ Hai Bà Mấy trăm năm sau cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, lại xuất hiện một nữ anh hùng-
đó là Bà Triệu- đứng đầu cuộc khởi nghĩa lật đổ sự thống trị của nhà Đông Ngô vào năm 248 Câu nói đầy khí phách hào hùng của bà đến nay vẫn còn vang vọng: “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp bằng sóng dữ, chém cá kình ở biển Đông, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ tôi không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người ta” [43, tr.245]
Hay bà Đinh Phu Nhân, 10 năm liền hoạt động trong phong trào Duy Tân Bà là tác giả bài thơ tuyệt mệnh viết bằng máu của mình trên tường nhà ngục thực dân: “Tôi ước mong, sau khi chết được làm người Thần Người Thần này sẽ có một ngàn cánh tay và thề là có một ngàn ngọn giáo để chống giặc” [4, tr.480] Như vậy, người phụ nữ từ xa xưa đã nhận thức rất rõ ràng rằng: Tự
do của người phụ nữ gắn liền với tự do của dân tộc, khi đất nước còn bị nô dịch thì người phụ nữ không thể có tự do Và những người phụ nữ ấy đã vượt qua khỏi lễ giáo phong kiến, bằng tài trí của mình đứng lên đánh tan quân xâm lược, gây dựng cơ đồ, khiến cho quân giặc nhiều phen khiếp sợ và nể trọng
Ngoài ra, không thể không nhắc đến tên tuổi của các vị chấp chính tài
ba là nữ trong các triều đại phong kiến trước đây như Nguyên Phi Ỷ Lan, Thái Hậu Dương Vân Nga, đã có công truyền dạy các nghề; giúp vua bình ổn giang san, giữ yên bờ cõi; được coi là tổ của đình chùa với những tên dân gian như chùa Dâu, chùa Đậu, chùa Giang, chùa Nành Đáng chú ý là hiện tượng
Trang 12Hồ Xuân Hương, một hiện tượng rất độc đáo trong thơ văn Việt Nam cuối thế
kỷ XVIII, đầu thế kỷ XIX Hồ Xuân Hương đã nghiêm túc đặt ra một vấn đề cực kỳ quan trọng mà đến nay vẫn còn mang tính thời sự: Sự bình đẳng về giới Là một nhà thơ nữ mà Hồ Xuân Hương đã dám đứng lên đòi quyền
sống, quyền bình đẳng cho người phụ nữ; phản kháng lại chế độ “năm thê bảy thiếp”: “Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng Chém cha cái kiếp lấy chồng chung….Thân này ví biết dường này nhỉ Thà trước thôi đành ở vậy xong”;
vạch mặt sự tầm thường và giả dối của bọn nho sĩ thời bấy giờ và tự tin khẳng
định: “Ví đây đổi phận làm trai được, Sự nghiệp anh hùng há bấy nhiêu…”
Như vậy, từ trong cội nguồn, văn hóa Việt Nam đã tạo sẵn những cơ sở tinh thần cho sự phát huy quyền công dân của người phụ nữ trong xã hội Điển hình phụ nữ Việt tạo nên những hình ảnh đẹp, những tấm gương về lòng nhân ái, bao dung, đảm đang, kiên cường, bất khuất của người phụ nữ trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam
Thứ hai, quê hương Nam Đàn, Nghệ Tĩnh giàu truyền thống cách mạng
và văn hoá, có tinh thần yêu nước kiên trung, bất khuất trước kẻ thù cũng có rất nhiều người phụ nữ cần cù, chịu thương, chịu khó, tuy cuộc sống rất đỗi cơ cực nhưng luôn hết mình vì chồng, vì con, vì cách mạng Ngay từ thuở thiếu thời, sống ở quê nhà, Hồ Chí Minh đã luôn phải chứng kiến cảnh áp bức bóc lột dã man của bọn thực dân phong kiến đối với người lao động Và Người đã thấy:
Không một chỗ nào người phụ nữ thoát khỏi những hành động bạo ngược của bọn xâm lược: ngoài phố, trong nhà, giữa chợ hay thôn quê, ở đâu họ cũng vấp phải những hành động tàn nhẫn của những quan cai trị, sĩ quan, cảnh binh, nhân viên nhà đoan, nhà ga… Thói dâm bạo ở thuộc địa là hiện tượng tàn ác và phổ biến không thể tưởng tượng được…[32, tr.29] Dẫu có diễn tả thế nào
đi nữa cũng chưa nói hết được sự thật Chưa có bao giờ, ở một nước nào, một thời đại nào mà người ta lại vi phạm mọi quyền làm người một cách dã man, độc ác đến thế [32, tr.37]
Trang 13Hình dáng những người phụ nữ Việt Nam Người gặp đầu tiên, để lại dấu
ấn sâu đậm chính là ở trong gia đình của mình Khi Nguyễn Sinh Cung- Nguyễn Tất Thành được lớn lên, sống tuổi ấu thơ bên cạnh bà ngoại và mẹ, được bà ngoại dạy dỗ, uốn nắn từng lời nói, từng cách đối xử đối với mọi người
Với tấm lòng yêu nước thiết tha, sự mẫn cảm chính trị lớn lao của một nhân cách lớn, một tâm hồn cao thượng và tầm nhìn vượt thời đại, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã sớm nhận thấy vị trí, vai trò của phụ nữ Việt Nam trong lịch
sử dựng nước và giữ nước Vì vậy, Người đã kế thừa và phát huy truyền thống của phụ nữ Việt Nam phục vụ sự nghiệp cách mạng của dân tộc Sau này, Người khẳng định rõ: Phụ nữ chính là động lực của sự phát triển xã hội,
là lực lượng cách mạng to lớn, họ có vai trò và vị trí quan trọng trong xã hội cũng như trong gia đình Và trên bước đường Người tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc Việt Nam - con đường cách mạng vô sản - con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người, đồng thời Chủ tịch
Hồ Chí Minh cũng tìm ra con đường giải phóng cho phụ nữ Việt Nam
1.1.1.2 Hồ Chí Minh kế thừa và tiếp thu quan niệm về vị trí, vai trò của người phụ nữ trong tinh hoa văn hóa phương Đông, phương Tây
Ngoài truyền thống văn hoá gia đình, quê hương, đất nước, trong quá trình tìm đường cứu nước và hoạt động cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã
biết tiếp thu, kế thừa những tư tưởng tiến bộ, cải biến cho phù hợp những tư
tưởng không phù hợp trong tinh hoa văn hóa Phương Đông, Phương Tây để làm phong phú thêm nguồn tri thức của mình; vận dụng một cách phù hợp và hiệu quả những tri thức đó trong thực tiễn, trong từng hoàn cảnh và từng đối tượng xã hội… trong đó phụ nữ là một đối tượng quan trọng
Thứ nhất, Hồ Chí Minh đã tiếp thu và kế thừa một cách có chọn lọc
những quan niệm của Nho giáo về phẩm chất của người phụ nữ
Trang 14"Công - Dung - Ngôn - Hạnh" là một mô hình văn hoá của Nho giáo và
là một trong những chuẩn mực của người phụ nữ trong gia đình Đây vừa là cái đích hướng đến, vừa là thước đo, là tiêu chí để khẳng định giá trị của
người phụ nữ “Công” là sự khéo léo của người phụ nữ trong việc chăm lo
cho hạnh phúc gia đình, nữ công gia chánh và nuôi dạy con cái, khéo nâng
khăn sửa túi cho chồng Đức “Dung” không đơn thuần chỉ là diện mạo, hình
thức bên ngoài mà còn là sự kết hợp hài hòa giữa vẻ đẹp hình thức và vẻ đẹp
tâm hồn “Ngôn” trong “tứ đức” là lời nói có duyên, dịu dàng - một trong
những thế mạnh đặc trưng của phái nữ, là sự khéo léo, lễ phép khi phục vụ gia trưởng, gọi dạ, bảo vâng, ăn nói nhẹ nhàng, nín nhịn, đặc biệt khi bị gia trưởng giận dữ Người nói năng đúng mực, nhỏ nhẹ, lễ độ thể hiện là con nhà
gia giáo “Hạnh” là sự thể hiện phẩm chất đạo đức của người phụ nữ: vị tha,
độ lượng, nhân ái, yêu chồng, thương con và chủ yếu là tiết hạnh Chết đói là việc nhỏ, thất tiết là việc lớn Người phụ nữ phải biết thủ tiết với chồng
Trong khi “trai khôn năm bảy vợ” thì “gái chính chuyên chỉ thờ một chồng”,
các vua chúa phong kiến thường chọn cho mình hàng trăm cung tầm mỹ nữ
để rồi tùy tiện chà đạp lên nhân phẩm của họ, gây ra biết bao đau khổ cũng như những chuyện lộn xộn trong cung đình Trải qua các thời kỳ lịch sử khác
nhau, “tứ đức”: “Công - dung - ngôn - hạnh” đã làm nên nét bản sắc của người phụ nữ Việt Nam “Công, dung, ngôn, hạnh” mãi mãi là khuôn vàng
thước ngọc của người phụ nữ ở mọi thời đại
Tuy nhiên, quan niệm của Nho giáo về người phụ nữ vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế thể hiện sự khinh thường phụ nữ Khổng Tử cho rằng: phụ
nữ là “tiểu nhân”, “nan hóa”, khó thể cải đổi, khó nuôi, khó dạy, tri thức
nông cạn Do đó, ông chủ trương đưa phụ nữ vào khuôn phép Nếu như các triều đại phong kiến theo Nho giáo đều dùng đạo đức Nho giáo để ràng buộc nhân dân vào vua, vào trật tự phong kiến hà khắc, thì đỉnh cao của sự hà khắc
Trang 15đó là sự ràng buộc, áp bức đối với phụ nữ Bởi người phụ nữ là người bị bóc lột nhiều nhất dưới chế độ phong kiến
Một là, ngoài yêu cầu một người phụ nữ là phải có “tứ đức”, phong kiến Nho giáo còn buộc vào cổ người phụ nữ sợi dây oan nghiệt “tam tòng” “Tam tòng” tức là “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Ở nhà phải
phụ thuộc vào cha, người cha là người quyết định thực sự vận mệnh, hạnh phúc của con gái Người mẹ cũng có vai trò nhất định, song chỉ là thứ yếu bởi vì phụ
nữ phải phục tùng chồng Trong “gia đình riêng” của mình người phụ nữ phải chịu thân phận nô lệ, bị coi như là một thứ tài sản có thể chuyển nhượng, cầm
cố Chức năng đáng giá nhất của họ là sinh con, mà phải là sinh con trai để nối dõi tông đường của gia trưởng Thực tế lịch sử đã chứng minh, người phụ nữ chịu ảnh hưởng của Nho giáo thì thùy mị, nết na, đức hạnh Tuy nhiên, mặt trái
của học thuyết “tam tòng, tứ đức” đã gieo vào con người đầu óc địa vị, tư
tưởng gia trưởng, sự phân biệt đẳng cấp Người phụ nữ quá lệ thuộc vào người đàn ông Họ bị cột chặt vào lĩnh vực gia đình mà không có điều kiện phát huy tài năng cũng như thực hiện những khao khát chính đáng của mình
Hai là, phong kiến Nho giáo có tư tưởng “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (một con trai xem như có, mười con gái cũng như không), “trọng nam khinh nữ”, với những biểu hiện phức tạp trên nhiều lĩnh vực, từ cuộc sống gia đình cho đến xã hội Họ cho rằng chỉ có nam giới mới có đủ khả
năng nhìn xa trông rộng, đủ sức đảm đương những cương vị quan trọng Cấm người phụ nữ tham gia các lĩnh vực học hành, thi cử, quan trường, chính trị Người phụ nữ không có cơ hội, điều kiện để chứng minh được bản lĩnh, tài năng của mình Không ít đại biểu phong kiến nhìn họ bằng con mắt sai lệch
Ví dụ, Tự Đức đã nói về trường hợp của Nguyên phi Ỷ Lan trông coi triều
chính để vua Lý đi đánh giặc như sau: “Bây giờ há lại không có đại thần để cho ở lại giữ nước hay sao mà phải cần đến đàn bà can dự chính sự?” Như
Trang 16vậy, dưới chế độ phong kiến vai trò của người phụ nữ hoàn toàn bị xem nhẹ,
bị phân biệt đối xử trên mọi lĩnh vực của đời sống
Tuy nhiên, khi tiếp thu những tư tưởng Nho giáo, Hồ Chí Minh tỏ rõ thái
độ của mình đối với cái hay, cái nhược điểm của tư tưởng trên; kế thừa các giá trị tiến bộ của Nho giáo nhưng không lặp lại máy móc các tư tưởng mang tính hạn chế nhất là tư tưởng coi khinh phụ nữ Ngoài Nho giáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn tiếp thu các tư tưởng triết lý của Phật giáo, Lão giáo… Nhưng dù thế nào chăng nữa thì Người đều lấy mục tiêu giải phóng con người làm trung tâm, mưu cầu hạnh phúc trên mặt đất cho con người nói chung và phụ nữ nói riêng
Thứ hai, Hồ Chí Minh đã kế thừa và tiếp thu quan niệm về người phụ
nữ trong văn hóa phương Tây
Một là, những quan niệm của phương Tây về con người nói chung và
người phụ nữ nói riêng đã được Hồ Chí Minh tiếp thu từ khi còn là một người học trò nhỏ chưa từng đặt chân tới những vùng đất lạ Ngay từ lúc còn học ở trường tiểu học Pháp - Việt và trường Quốc học Huế, Nguyễn Tất Thành - Hồ
Chí Minh đã từng biết đến khẩu hiệu “Tự do - Bình đẳng - Bác ái” của đại cách
mạng Pháp, được tiếp xúc với những tờ báo tiếng Pháp có xu hướng tự do qua những người lính lê dương tiến bộ; tư tưởng tiến bộ nhìn thấy hạn chế và bản chất xấu xa của chủ nghĩa tư bản giải phóng con người của Phuriê Sáclơ (1772 - 1837) - nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng Pháp với các quan niệm tiến bộ về giải phóng con người xóa bỏ đối lập lao động trí óc và lao động chân tay, thành thị và nông thôn, lợi ích cá nhân gắn liền với lợi ích xã hội… Văn minh phương Tây với những thành tựu của khoa hoc kỹ thuật đã khơi gợi tư duy của Hồ Chí Minh - tư duy của một thanh niên yêu nước khiến Người muốn đi sang các nước phương Tây để tìm hiểu những gì ẩn giấu đằng sau khẩu hiệu ấy Đặc biệt, Người quan tâm đến bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ đề cập đến
“quyền bình đẳng”, “quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc”…
Trang 17của con người và bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Cách mạng
Pháp năm 1789 về “tự do và bình đẳng về quyền lợi” của con người…
Hai là, trong quá trình hoạt động thực tiễn, với gần 10 năm bôn ba,
khảo sát các nước tư bản lớn như Mỹ, Anh, Pháp và các thuộc địa của họ; qua tiếp xúc với các nhà chính trị - xã hội có tiếng và cả qua xem xét thực tế cuộc sống của dân chúng; trực tiếp hoạt động trong các tổ chức chính trị - xã hội ở các nước đó, Người đã rút ra những nhận xét, đánh giá, để tìm ra những gì là
“tinh hoa” tốt đẹp cần tiếp thu và những gì còn hạn chế cần khắc phục Sang Pháp, những điều tai nghe mắt thấy làm Người ngạc nhiên: “Ơ, ở Pháp cũng
có người nghèo như bên ta”[53, tr.22] Nạn đói khổ thất nghiệp đã đẩy một số phụ nữ đi vào con đường làm gái điếm Người tự hỏi: “Tại sao người Pháp không “khai hóa” đồng bào của họ trước khi “khai hóa” chúng ta?”[53, tr.22]
Từ đó, Hồ Chí Minh ngày càng nhìn rõ sự bóc lột, sự tàn ác của bọn tư bản, bọn đế quốc đối với giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước, bất kể
là da trắng hay da màu Và ở đâu, phụ nữ cũng chịu sự thiệt thòi nhất, bị phân biệt đối xử, bị bóc lột thậm tệ Đặc biệt ở các nước thuộc địa châu Phi, đời sống của phụ nữ lao động và con em họ cũng chẳng khác gì phụ nữ Việt Nam Trong bài “Văn minh của những kẻ cướp”, Người đã tả lại như sau: “Một địa phương của châu Phi bị đói, nhân dân phải ăn cỏ và rễ cây, cha mẹ đều chết dần chết mòn vì họ nhường thức ăn cho con cái Những trẻ thơ cố nhay những đôi vú, những đôi vú đã héo khô không còn một giọt sữa Thế mà chính phủ vẫn bắt họ nộp thuế” [32, tr.155] Người rút ra kết luận: tất cả bọn đế quốc Anh, Pháp, Mỹ đều như nhau, bản chất của chúng là bóc lột tàn nhẫn giai cấp công nhân ở chính quốc và nhân dân lao đông các nước thuộc địa Nhưng
“…để che đậy sự xấu xa của chế độ bóc lột giết người, chủ nghĩa tư bản thực dân luôn luôn điểm trang cho cái huy chương mục nát của nó bằng những
Trang 18châm ngôn lý tưởng: Bác ái, bình đẳng…”[32, tr.17] Tuy nhiên, không chỉ
nhận ra sự thối nát của đế quốc thực dân, nỗi khổ cực của nhân dân khắp nơi trên thế giới nói chung và người phụ nữ nói riêng, Hồ Chí Minh còn tổng kết được vai trò to lớn của người phụ nữ trong các cuộc cách mạng:
Xem trong lịch sử cách mệnh, chẳng có lần nào là không có đàn
bà, con gái tham gia Cách mệnh Pháp có những người như cô học trò Sáclốt Coocđây rút dao đâm chết người tể tướng hung bạo, như bà Luy Misen đã giúp tổ chức Pari Công xã Khi Nga cách mệnh, đàn bà ra tình nguyện đi lính, sau tính lại lính cách mệnh đàn bà chết 1.854 người Nay cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế, cũng vì đàn bà con gái hết sức giùm vào [16, tr.313]
Có thể nói, các tư tưởng tiến bộ mà Hồ Chí Minh đã tiếp thu được cũng như những gì mà Người đã được tận mắt chứng kiến trong thực tiễn cuộc sống khi hoạt động tại phương Tây đã thu hút sự quan tâm của Hồ Chí Minh, góp phần định hình những tư tưởng của nội dung cách mạng, những vấn đề
mà Người mong muốn đem về cho đồng bào nói chung và phụ nữ nói riêng
1.1.1.3 Hồ Chí Minh kế thừa và tiếp thu quan điểm về giải phóng phụ nữ trong Chủ nghĩa Mác - Lênin
Học tập và noi gương các lãnh tụ vô sản vĩ đại C Mác, F Engghen và
VI Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trọn đời đấu tranh cho mục đích và lý tưởng cao cả của chủ nghĩa cộng sản là tiêu diệt nạn áp bức, bóc lột của người đối với người, giải phóng nhân dân lao động và các dân tộc bị áp bức, mang lại cho họ một cuộc đời ấm no và hạnh phúc
Thứ nhất, Hồ Chí Minh đã tiếp thu tư tưởng cách mạng của chủ nghĩa
Mác- Lênin về con đường giải phóng con người một cách triệt để trong đó có người phụ nữ
Trang 19Tháng 7/1920, Hồ Chí Minh đã đọc luận cương của Lênin bàn về các vấn đề dân tộc và thuộc địa đăng trên báo Nhân đạo Nhờ đó, Người đã được tiếp thu những học thuyết cách mạng và khoa học của thời đại, đã chỉ ra con đường đi đúng cho các dân tộc nói chung và các dân tộc bị áp bức nói riêng
và trên cơ sở đó đã tìm thấy con đường giải phóng cho dân tộc mình Đi sâu
tìm hiểu chủ nghĩa Mác- Lênin, bản sơ thảo “Luận cương của Lê nin về các vấn đề dân tộc và thuộc địa”, Người thấy vô cùng phấn khởi, sáng tỏ và tin
tưởng vào tiền đồ của cách mạng vô sản Sau nay Hồ Chí Minh kể lại:
Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng
tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: “Hỡi đồng bào bị đầy đoạ đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta” [26, tr.563]
Từ một người yêu nước chân chính, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành một chiến sĩ cộng sản kiên định, vững vàng
Tiếp thu tư tưởng của Lê nin về vấn đề dân tộc trong thời đại mới, Hồ Chí Minh đã chỉ ra được con đường đúng đắn nhất cho cách mạng Việt Nam Theo Người: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[23, tr.314]: giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp, độc lập dân tộc không tách rời chủ nghĩa xã hội Để đạt được mục tiêu đó, cách mạng Việt Nam phải do giai cấp công nhân lãnh đạo, giai cấp có khả năng và có tinh thần cách mạng triệt để nhất, giai cấp tiên phong dẫn nhân dân ta đi đến thắng lợi cuối cùng: giành độc lập và thống nhất cho Tổ quốc, tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội
Do đó trong thời gian 1920- 1930, Người luôn tìm cách truyền bá chủ nghĩa Mác- Lênin về trong nước, giác ngộ các tầng lớp quần chúng đứng lên đấu tranh Bởi:
Trang 20Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công,
và thành công đến nơi, nghĩa là dân chúng được hưởng cái hạnh phúc tự do, bình đẳng thật, không phải tự do và bình đẳng giả dối như đế quốc Pháp khoe khoang bên An Nam Cách mệnh Nga đã đuổi được vua, tư bản, địa chủ rồi, lại ra sức cho công, nông các nước và dân tộc bị áp bức các thuộc địa làm cách mệnh để đập
đổ tất cả đế quốc chủ nghĩa và tư bản trong thế giới[16, tr.304]
Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng chỉ ra được: con đường giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp cũng là con đường giải phóng phụ nữ Ở nước ta, phụ nữ chiếm quá nửa dân số, thuộc lớp người phải chịu đựng tất cả những nỗi bất công của xã hội và sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ, sự thiếu thốn cùng cực về kinh
tế, văn hóa, tình trạng ấy có căn nguyên là do chế độ phong kiến để lại, lại bị bọn
thực dân Pháp sang cướp nước ta, tiếp tục duy trì và giả danh: “tự do, bình đẳng, bác ái” nhưng lại đối xử với phụ nữ Việt Nam tàn bạo, độc ác hơn trước Do đó,
Hồ Chí Minh đã đi đến kết luận: Phụ nữ Việt Nam chỉ được giải phóng chừng nào nhân dân ta đã thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp và bọn phong kiến tay sai Vì vậy, cuộc vận động giải phóng phụ nữ phải gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, tiến lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của giai cấp công
nhân mà đội tiên phong của nó là Đảng cộng sản
Thứ hai, Hồ Chí Minh đã kế thừa những quan điểm của chủ nghĩa Mác-
Lênin bàn về vị trí, vai trò và khả năng của người phụ nữ trong cuộc cách mạng là vô cùng quan trọng
Theo đánh giá của C Mác thì: Trong lịch sử nhân loại không có một phong trào to lớn nào của những người áp bức mà lại không có phụ nữ lao động tham gia Phụ nữ lao động là những người bị áp bức nhất trong tất cả những người bị áp bức Trong các thời kỳ lịch sử, phụ nữ và trẻ em đã chiến đấu, sát cánh cùng những người đàn ông để đánh đổ giai cấp thống trị Do đó, địa vị xã
Trang 21hội, trình độ chính trị, văn hóa, điều kiện sinh sống của người phụ nữ là sự phản ánh trình độ giải phóng chung của cả xã hội Từ thực tế lịch sử đó mà C Mác đã khái quát: “Ai đã biết lịch sử thì biết rằng muốn sửa sang xã hội mà không có phụ nữ giúp vào, thì chắc chắn không làm nổi Xem tư tưởng và việc làm của đàn bà con gái thì biết xã hội tiến bộ ra thế nào”[16, tr.313] Hay như Lênin nói
rằng: “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” Mà quần chúng ở đây bao
gồm một nửa nhân loại- đó chính là phụ nữ Tuy nhiên, vị trí, vai trò, khả năng của phụ nữ không phải khi nào cũng được xác nhận như là một tất yếu khách quan Đánh giá về vị trí, vai trò của phụ nữ, Lênin cho rằng:
Chừng nào phụ nữ không những chưa được tự do tham gia đời sống chính trị nói chung mà cũng chưa được quyền gánh vác một công việc thường xuyên và chung cho tất cả mọi người thì chừng
ấy chưa có thể nói đến ngay cả một chế độ dân chủ toàn vẹn và bền vững được[35, tr.73]
Từ kinh nghiệm của cách mạng tháng Mười, Hồ Chí Minh đã kết luận:
“Cách mệnh Nga thành công mau như thế, đứng vững như thế cũng vì đàn bà con gái hết sức giùm vào…”[49, tr 49] và “An Nam cách mệnh cũng phải có
nữ giới tham gia mới thành công” [49, tr 51]
Thứ ba, Hồ Chí Minh đã kế thừa những quan điểm về phương thức xây
dựng và phát triển con người trong chủ nghĩa Mác- Lênin
Trong học thuyết lý luận của mình các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lênin luôn lấy con người làm vị trí trung tâm C Mác cho rằng sự phát
triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người
và để có sự tự do đó, các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin đã đặt ra cho xã hội loài người nhiệm vụ bức thiết phải xây dựng những con người
“Hoàn toàn mới”, đó là những con người làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội,
những con người được phát triển toàn diện về mọi mặt như: Trí, đức, thể,
Trang 22mỹ…để nhằm đáp ứng những yêu cầu của xã hội hiện đại - xã hội cộng sản chủ nghĩa mà giai đoạn đầu là chủ nghĩa xã hội
Kế thừa và phát triển tư tưởng của chủ nghĩa Mác- Lênin về xây dựng con người mới Xuất phát từ quan điểm cho rằng quần chúng nhân dân là những người sáng tạo chân chính ra lịch sử và cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, Lênin coi vấn đề xây dựng con người mới là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa Cuộc cách mạng này không chỉ thay thế phương thức sản suất tư bản chủ nghĩa, xây dựng một phương thức sản xuất tiến bộ hơn mà còn phải xây dựng được những con người mới đủ sức hoàn thành sứ mệnh lịch sử đó, bởi lẽ con người không chỉ
là sản phẩm của lịch sử xã hội mà còn là chủ thể xây dựng xã hội mới
Xã hội xã hội chủ nghĩa tạo ra được những thành tựu nổi bật có sức hấp dẫn đối với mọi người không phải chỉ là ở chỗ đã xây dựng được cơ sở vật chất
- kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, tạo ra cho nhân dân lao động một đời sống vật chất và tinh thần tốt đẹp hơn dưới ách thống trị của giai cấp bóc lột, mà còn là
ở chỗ tạo ra được một lớp người mới với những mối quan hệ tốt đẹp Những con người đó ngày càng có đủ năng lực và phẩm chất để xây dựng và bảo vệ một xã hội mới mà các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lênin hoạch định
Trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng con người mới, Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển lý luận về con người và xây dựng con người mới lên một tầm cao mới mang tính duy vật và khoa học thực sự Người đã nêu ra những yêu cầu, những tiêu chuẩn của con người mới phù hợp với thực tiễn đất nước Việt Nam Theo người muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần phải có những con người mới xã hội chủ nghĩa Tư tưởng đó của người đã được thể hiện trong hệ thống tư tưởng về giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân lao động, giải phóng người phụ nữ; tư tưởng về con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của cách mạng cũng như thể hiện trong tư tưởng về phát triển con người toàn diện của Hồ Chí Minh
Trang 23Cái vĩ đại trong tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện ở chỗ, Người đã đặt tất
cả niềm tin ở con người, thấy được vị trí quyết định của con người trong cuộc cách mạng Do đó, ngay sau khi tìm được chân lý cách mạng, Người đã đặt tất
cả tâm huyết của mình vào việc xây dựng và phát triển con người mới, con người chủ thể của cách mạng Từ đó, có thể nhận định sự nghiệp cách mạng ở nước ta có được những thành tựu vĩ đại như ngày hôm nay là nhờ có được sự quan tâm đúng mực đến việc xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa theo
tư tưởng Hồ Chí Minh từ việc kế thừa những quan điểm về phương thức xây dựng và phát triển con người của chủ nghĩa Mác- Lê nin
Thứ tư, Hồ Chí Minh đã kế thừa những quan điểm của chủ nghĩa Mác-
Lênin về bình đẳng giới
Trước đây, chưa có ai chỉ ra được căn nguyên thật sự đã gây ra sự bất bình đẳng giữa nam và nữ Người ta thường nhắc đến những quan niệm lỗi thời, những tư tưởng lạc hậu, những phong tục tập quán cổ hủ là những nguyên cớ dẫn đến sự khinh miệt và đối xử không bình đẳng với phụ nữ Căn
cứ vào những tài liệu lịch sử, C Mác, Engghen đã chứng minh rằng: trong lịch sử nhân loại, việc người đàn ông áp bức người đàn bà nảy sinh từ chế độ
tư hữu về tư liệu sản xuất; sự áp bức phụ nữ là biểu hiện đầu tiên của sự áp bức giai cấp Người phụ nữ phải phụ thuộc về mặt kinh tế, dần dần bị tước quyền về kinh tế và chính trị, bị nô dịch về tinh thần và cô lập với xã hội Phạm vi hoạt động của họ bị giới hạn trong công việc nội trợ
Xuất phát từ tình trạng bất bình đẳng giữa nam và nữ do hoàn cảnh lịch
sử - xã hội trước kia để lại, Engghen đã khẳng định: “Sự giải phóng phụ nữ, quyền bình đẳng giữa nam và nữ đều không thể có và mãi mãi không thể có được chừng nào mà phụ nữ vẫn còn bị gạt ra ngoài lao động sản xuất xã hội
và còn bị bó hẹp trong công việc riêng tư của gia đình”[6, tr.506] Để giải
quyết tình trạng này, C Mác đã đưa ra giải pháp là phải đưa những công việc
Trang 24nội trợ của gia đình thành công việc chung của xã hộ và biến nội trợ gia đình thành lao động hàng hoá Lênin cũng đưa ra kiến giải xung quanh vấn đề giải phóng phụ nữ phải qua hai bước:
- Bước 1: Bóc trần sự lừa bịp và giả nhân, giả nghĩa của chế độ dân chủ
tư sản, xoá bỏ chế độ sở hữu về ruộng đất, công xưởng, nhà máy, trao toàn bộ quyền lực nhà nước về tay quần chúng lao động, chính quần chúng lao động đang nắm sự nghiệp chính trị trong tay là nắm sự nghiệp xây dựng xã hội mới Thủ tiêu sự bất bình đẳng trong tay pháp luật, hôn nhân và gia đình, sự bất bình đẳng về con cái Và chính Lênin coi đó mới chỉ là bước đầu tiên để
đi đến giải phóng phụ nữ
- Bước 2: Giải phóng phụ nữ ra khỏi “cảnh nô lệ gia đình” Bởi phụ nữ còn bận công việc gia đình thì địa vị của họ vẫn còn bị hạn chế, muốn triệt để giải phóng phụ nữ, muốn làm cho họ thật sự bình đẳng với nam giới thì phải
để phụ nữ tham gia lao động sản xuất chung để cùng tạo ra của cải Chính
quyền Xôviết phải ban hành một số chính sách và biện pháp khác nhau như: Lập một số cơ quan làm mẫu như: nhà ăn, nhà giữ trẻ để giúp phụ nữ tham gia chính trị, tham gia quản lý các xí nghiệp công cộng, quản lý nhà nước Và trên thực tế của Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) đã khẳng định chân lý:
“Giai cấp vô sản sẽ không đạt được tự do hoàn toàn nếu không giành được hoàn toàn tự do cho phụ nữ[5, tr.64]
Như vậy, chủ nghĩa Mác- Lênin, học thuyết khoa học, cách mạng, tiên tiến nhất của thời đại là sự kế tục, phát triển những tư tưởng của nhân loại về giải phóng phụ nữ, đã chỉ ra nguồn gốc của sự bất bình đẳng giữa nam và nữ là do phụ nữ bị gạt ra khỏi quá trình sản xuất xã hội, chỉ ra vai trò và khả năng to lớn của phụ nữ đối với quá trình cách mạng vì sự tiến bộ xã hội; chỉ ra điều kiện để
đi đến giải phóng phụ nữ là đưa phụ nữ trở lại tham gia lao động sản xuất xã hội, chuyển công việc nội trợ gia đình thành công việc to lớn của xã hội Gắn sự
Trang 25nghiệp giải phóng phụ nữ với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, xem vấn đề giải phóng phụ nữ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng vô sản
Tiếp thu tư tưởng của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã xây dựng những quan điểm, tư tưởng tiến bộ, đầy tính nhân văn về phụ nữ thông qua những quan điểm của Người về công cuộc giải phóng cho người phụ nữ Việt Nam nói riêng, công cuộc giải phóng phụ nữ thuộc địa nói chung
1.1.1.4 Những phẩm chất của Hồ Chí Minh với việc hình thành và
Cả cuộc đời Hồ Chí Minh luôn luôn hy vọng, khát khao vào tương lai, hạnh phúc của cả dân tộc Người đấu tranh không mệt mỏi, quyết tâm hiến dâng tất cả tuổi trẻ, hạnh phúc cá nhân của mình cho sự nghiệp cao quý ấy Nhà báo Rơnê Depet của báo Phong trào Mỹ đã ca ngợi Hồ Chí Minh như sau: “Những ai muốn biết thế nào là con người chân chính, đâu là vẻ đẹp của thế giới, đâu là sự thắng lợi của lý tưởng trên trái đất này, đâu là mùa xuân, thì phải tìm hiểu cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tìm hiểu cuộc sống mẫu mực của người anh hùng này của thời đại chúng ta”[51, tr.398]
Về nhân cách, phẩm chất Hồ Chí Minh, nhiều tác giả trong nước và nhiều chính khách, nhiều nhà hoạt động văn hóa xã - hội nước ngoài đã nói đến và có những ý kiến vô cùng sâu sắc Có thể nói Hồ Chí Minh là một con người có những phẩm chất cá nhân hết sức tiêu biểu:
Hồ Chí Minh là một vị lãnh tụ yêu nước, thương dân; có lý tưởng và khát vọng đúng đắn Ngay từ thuở thiếu thời, trái tim lớn của Người đã luôn bị xúc động, thương xót cho cảnh ngộ của nhân dân ta dưới ách áp bức, đày đọa của bọn đế quốc và thực dân Pháp Người cảm nhận sâu sắc nỗi đau khổ của riêng mỗi người, mỗi gia đình và gộp tất cả những nỗi đau khổ ấy lại thì thành nỗi đau khổ chất chứa của đời Người Chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, chứng kiến sự thất bại của các phong trào yêu nước lúc bấy giờ, Người đã
Trang 26quyết tâm ra đi tìm con đường cứu nước mới cho toàn dân tộc chỉ với tài sản duy nhất là tình yêu dành cho quê hương, đất nước và khát khao giành độc lập,
tự do cho dân tộc mình Hoài bão, ham muốn, ham muốn tột bậc của Người
“…là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự
do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”[18, tr.187] Chính ham muốn mãnh liệt ấy đã tạo cho Người một ý chí, nghị lực phi thường
“giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy vũ không thể khuất phục” và cho đến khi phải từ biệt thế giới này, Người vẫn chỉ có một
điều luyến tiếc là không được phục vụ nhân dân lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa
Là một vị lãnh tụ có trí tuệ thông minh, sáng tạo, độc lập, tự chủ, những
năm tháng hoạt động ở trong nước và những năm tháng bôn ba học tập, nghiên cứu ở nước ngoài, Hồ Chí Minh đã không ngừng quan sát, nhận xét thực tiễn, từ đó làm phong phú thêm sự hiểu biết của mình Người tự học và thành thạo 5 ngoại ngữ: Anh, Pháp, Mỹ, Nga, Trung Quốc nên có nhiều điều kiện tiếp cận và tìm hiểu nền văn hóa của các nước trên thế giới: tiếp thu có chọn lọc những triết lý, tư tưởng của Nho giáo; Phật giáo; tư tưởng của Lão Tử; Hàn Phi Tử; chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn; và tiếp xúc với
nhiều tác phẩm của các nhà tư tưởng tiến bộ tại Pháp: Voltaire, Rousseau,
Montesquieu; những tư tưởng vĩ đại của các tổng thống Mỹ: George Washington , Jephson, Lincoln…từ đó hình thành nên nếp sống đạo đức, trong
sạch, giản dị, chăm lo làm điều thiện, chống lại mọi phân biệt đẳng cấp và hình thành nên phong cách dân chủ của Người trong thực tiễn.…
Cùng với phẩm chất cá nhân, Hồ Chí Minh còn có năng lực hoạt động thực tiễn Trong quá trình sống và làm việc ở nước ngoài, Người đã tiếp thu ý
chí và tinh thần đấu tranh vì độc lập của nhân dân Mỹ, đọc bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776, đã ở Bruclin, đến thăm khu da đen Harlem, chiêm ngưỡng tượng
nữ thần tự do và phát hiện ra những nghịch lý: đằng sau những lời lẽ hoa mỹ về
tự do, bình đẳng là sự bất bình đẳng và nghèo đói của hàng triệu người lao động,
Trang 27là điều kiện sống khủng khiếp của người da đen, là nạn phân biệt chủng tộc ghê ghớm… Hồ Chí Minh còn tham gia nhập công đoàn thủy thủ và cùng giai cấp công nhân Anh tham gia các cuộc biểu tình, đình công bên bờ sông Themme…Những bài học thực tiễn đó đã giúp Hồ Chí Minh đúc rút ra những quan điểm sáng tạo, độc đáo, góp phần làm phong phú thêm kho tàng lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin; góp phần vào sự phát triển của phong trào cách mạng thế giới Từ đó, Người đã lựa chọn con đường cứu nước phù hợp cho dân tộc; cùng với Đảng ta đề ra đường lối chiến lược, sách lược đúng đắn để lãnh đạo, chỉ đạo nhân dân ta tiến hành cuộc Cách mạng Tháng Tám, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và sau đó, tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước quá độ đi lên CNXH
Có nhiều người ra đi tìm đường cứu nước nhưng chỉ riêng Chủ tịch Hồ Chí Minh, với những phẩm chất riêng có đã đến được với Chủ nghĩa Mác- Lênin, tiếp thu những tinh hoa văn hóa của dân tộc, của nhân loại, và tìm ra con đường đúng đắn cho cách mạng Việt Nam làm phong phú và làm nên nét đặc sắc trong tư tưởng của mình đúng như lời khẳng định của
HêlenTuốcmêrơ: “Hồ Chí Minh là hình ảnh hoàn chỉnh của sự kết hợp: Đức
khôn ngoan của Phật, lòng bác ái của Chúa, Triết học của Mác, thiên tài cách mạng của Lênin và là tình cảm của người chủ gia tộc - Tất cả đều hòa hợp
trong một dáng dấp tự nhiên”[13, tr.8]
1.1.2 Nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về sự nghiệp giải phóng phụ nữ
1.1.2.1 Giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ là mục tiêu của cách mạng
Cả cuộc đời, Hồ Chí Minh luôn đấu tranh cho quyền lợi của phụ nữ và coi đó như là mục tiêu quan trọng của cách mạng Việt Nam Giáo sư sử học người Mỹ G.Steven đã từng nhận xét rằng:
Trang 28Hai thế kỷ qua đã sản sinh ra những lãnh tụ chính trị nổi tiếng trên thế giới nhiều hơn tất cả các giai đoạn khác trong lịch sử Trong số những lãnh tụ là nam giới như T.Giécphecxen, M.Giăngđi, Các Mác, V.I.Lênin, Mao Trạch Đông… chỉ có Hồ Chí Minh đã luôn nói về quyền bình đẳng của phụ nữ được hưởng các quyền lợi khác nhau như nam giới Chỉ có Hồ Chí Minh là thấy được rằng phụ nữ đã phải chịu gánh nặng như nam giới và còn hơn thế nữa Tất cả các lãnh tụ nói trên đều quan tâm sâu sắc đến công lý xã hội cho toàn thể xã hội, nhưng chỉ
có Hồ Chí Minh đã thẳng thắn nói về chủ đề phụ nữ
[12, tr.142]
Sinh ra trong cảnh nước mất nhà tan, chứng kiến nỗi cơ cực và thân phận
bị chà đạp của người phụ nữ Việt Nam, Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh đã quyết tâm ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân tộc khỏi đêm trường nô lệ, đem lại quyền sống, quyền bình đẳng, quyền tự do như bao dân tộc khác trên thế giới Đi đến đâu Người cũng thấy có cảnh phụ nữ bị đối xử bất công, bị bóc lột và chà đạp nhân phẩm một cách tàn nhẫn như phụ nữ Việt Nam và trong Người đã hun đúc một hoài bão lớn là phải làm sao để phụ nữ Việt Nam nói riêng và phụ nữ thế giới nói chung thoát khỏi sự áp bức bất công của xã hội, làm sao để phụ nữ được tôn trọng, được đặt đúng vị trí của mình và được bình đẳng như nam giới
Thứ nhất, Người lên án chế độ thực dân Pháp vi phạm quyền con người
của phụ nữ ở Việt Nam nói riêng và các nước thuộc địa nói chung Trong
“Bản án chế độ thực dân Pháp”, Người đã dành cả một chương để trình bày
cho toàn thế giới biết thân phận cũng như nỗi khổ nhục mà những phụ nữ bản
xứ phải gánh chịu Đó là việc người phụ nữ đã trở thành nạn nhân của thói dâm bạo thực dân, nó khiến chị em phải chịu bao nỗi ê chề nhục nhã về thể xác và tinh thần, thậm chí còn dẫn đến cái chết oan uổng của nhiều người, kể
cả các em bé gái ít tuổi Người đã đau đớn thốt lên rằng:
Trang 29Thật là một sự mỉa mai đau đớn khi ta thấy rằng nền văn minh dưới nhiều hình thức khác nhau, như tự do, công lý… được tượng trưng bằng hình ảnh một người đàn bà dịu hiền và được một hạng người nổi tiếng là hào hoa phong nhã ra sức điểm tô - lại đối xử một cách hết sức bỉ ổi với người đàn bà bằng xương bằng thịt và xúc phạm một cách vô liêm sỉ tới phong hóa, trinh tiết và đời sống của họ[15,tr.114] Người phụ nữ trở thành trọng điểm của “chính sách” bóc lột sức lao động và cướp đoạt ruộng đất:
18 xu Mặc dù vậy, để duy trì cuộc sống của mình và gia đình, những phụ nữ mang thai phải giấu, phải thắt chặt bụng lại, vì nếu biết chủ
sẽ đuổi Chị em sinh nở nghỉ không được hưởng lương mà còn bị đe dọa mất việc làm Có con nhỏ chị em không được nghỉ cho bú giữa giờ làm việc Có thể nói đây là những hành động vô cùng dã man chỉ
có bọn tư bản thực dân mới nghĩ ra và áp dụng Chúng vừa bóc lột sức lực, vừa đàn áp tinh thần, vừa hành hạ thể xác người phụ nữ Chúng không bao giờ quan tâm đến việc cải thiện điều kiện làm việc của chị em Chỗ làm việc của chị em thường hết sức nóng bức, chật
Trang 30chội, thiếu vệ sinh, tai nạn lao động thường xuyên xảy ra Riêng nhà máy dệt Nam Định, nơi có đến 60% công nhân là phụ nữ, từ năm
1926 đến năm 1930 đã có 417 người bị tai nạn lao động, trong đó có
8 người chết, 104 người bị cụt tay, cụt chân.[48, tr.43]
Thứ hai, cùng với việc phơi bày những khổ nhục của phụ nữ, Hồ Chí
Minh đã chỉ ra cho nhân dân thế giới biết: mọi áp bức, nô dịch đối với phụ nữ ở các nước thuộc địa không phải chỉ do quan niệm lỗi thời, tư tưởng phong kiến
mà chủ yếu là do chế độ áp bức dân tộc và bóc lột giai cấp của chủ nghĩa thực dân gây ra Theo Người: “Ách áp bức dân tộc và bóc lột giai cấp của bọn thực dân Pháp và phong kiến tay sai là nguyên nhân cơ bản gây nên những nỗi đau khổ, cơ cực của người phụ nữ” [45, tr.15]; “Chế độ thực dân là chế độ ăn cướp Chúng tôi xin nói thêm: chế độ hãm hiếp đàn bà và giết người”[45, tr 6]
Phân tích nỗi khổ cực của phụ nữ Việt Nam dưới ách thống trị của bọn thực dân phong kiến, Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Cái chủ yếu và cái nặng nề nhất
là phải cùng chồng con anh em của giai cấp mình chịu nạn áp bức dân tộc và bóc lột giai cấp Trong các gia đình công nông thì cả nhà, vợ chồng, con cái, anh em đều bị khổ sở, đói rách, vì chủ xưởng trả lương rẻ mạt, chủ ruộng bóc lột tô tức nặng nề, bị bọn quan cai trị đánh đập, tù đầy vì không nộp đủ sưu thuế, lễ vật, cống nạp Do đó, trong vấn đề áp bức, bóc lột phụ nữ, cái cơ bản
là sự bóc lột áp bức của bọn phong kiến, địa chủ đối với nữ công nhân, của bọn đế quốc đối với phụ nữ các nước thuộc địa Xuất phát từ nguyên nhân cơ bản ấy, Hồ Chí Minh đã giải quyết vấn đề giải phóng phụ nữ trên cơ sở xác định: Quyền lợi của người phụ nữ phải gắn liền với quyền lợi của dân tộc, của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Do đó, muốn quyền lợi của phụ nữ được đảm bảo thì trước tiên phải giành lại quyền lợi cho dân tộc, cho giai cấp
Thứ ba, Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân
tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[23, tr.314]
Trang 31Người xác định mục tiêu trước mắt và lâu dài là làm cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người đem lại quyền tự do cho dân tộc, đồng thời giải phóng phụ nữ, đem lại quyền bình đẳng cho phụ nữ, vì chỉ khi đánh đổ đế quốc, giành lại quyền tự quyết cho dân tộc thì phụ nữ mới được bình đẳng, mới được hưởng quyền mà tạo hóa đã ban cho mình Hồ Chí Minh từng nói: “Chúng ta làm cách mạng là để tranh lấy quyền bình đẳng trai gái đều ngang quyền như nhau”[29, tr.260] Mục tiêu này được Hồ Chí Minh xác định ngay từ khi Người còn bôn ba ở hải ngoại Trong một bài báo viết năm 1925, Người viết: “vì quyền lợi của đàn bà con gái An Nam mà chúng ta làm cách mạng” [16, tr.506] và phân tích: “Đàn bà con gái cũng nằm trong nhân dân Nếu cả dân tộc được tự do, đương nhiên họ cũng được tự do Ngược lại nếu dân tộc còn trong cảnh nô lệ thì họ và con cái họ cũng sẽ sống trong cảnh nô lệ
đó thôi”[16, tr.506] Năm 1930 với tư cách là người sáng lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Hồ Chí Minh đã soạn thảo Cương lĩnh cho Đảng Người đã ghi vào
Chánh cương vắn tắt và Lời kêu gọi nhân dịp thành lập Đảng: “Thực hiện nam
nữ bình quyền” Đến sau khi cách mạng Tháng Tám thành công, với tư cách là
Chủ tịch nước, là Trưởng ban soạn thảo Hiến pháp, Hồ Chí Minh đề nghị đưa vấn đề bình đẳng nam nữ vào hiến pháp Điều 9 hiến pháp đầu tiên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và
nữ: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện” Tuy nhiên, thực
tế cho thấy việc thực hiện sự ngang quyền giữa đàn ông và đàn bà là một việc làm vô cùng khó khăn, phức tạp Hồ Chí Minh đã chỉ rõ đây là cuộc cách mạng lâu dài và đòi hỏi sự quan tâm của toàn xã hội
1.1.2.2 Giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội
Thực chất của quyền bình đẳng là việc thừa nhận các quyền con người của phụ nữ và cơ hội, điều kiện để họ hưởng thụ các quyền đó trên mọi lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình Đồng thời, là các nghĩa vụ
Trang 32cơ bản để phụ nữ phấn đấu trở thành một công dân gương mẫu, người vợ đảm đang, người mẹ hiền, người con hiếu thảo Tuy nhiên, phải hiểu sự bình đẳng theo đúng nghĩa của nó Sự bình đẳng ở đây là phụ nữ có quyền như nam giới, đồng thời có một số quyền ưu đãi đặc biệt khi phụ nữ phải gánh vác thêm nghĩa vụ có ý nghĩa xã hội quan trọng là sinh đẻ và giáo dục con cái để tái sản xuất ra sức lao động và duy trì nòi giống Cho nên, không nên hiểu biết quyền
bình đẳng của phụ nữ theo nghĩa tuyệt đối: “Bình đẳng” tức là “Sự ngang quyền” giữa phụ nữ và nam giới
Hồ Chí Minh cho rằng, quyền bình đẳng của phụ nữ phải là bình đẳng trên mọi lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình
Án nghị quyết của Trung ương toàn thể hội nghị (tháng 10/1930) khi nói về phụ nữ vận động, Đảng ta nhận rõ: “Lực lượng cách mạng của phụ nữ
là một cái lực lượng rất trọng yếu Nếu quảng đại quần chúng phụ nữ không tham gia vào những cuộc tranh đấu cách mạng thì cách mạng không thắng lợi được…” Đảng đặt ra yêu cầu đòi “bình quyền” cho phụ nữ: “Đàn bà, đàn ông, thanh niên việc làm ngang nhau thì tiền công cũng phải ngang nhau Công nhân đàn bà trước và sau khi sanh đẻ phải nghỉ tám tuần lễ có lương”;
“không được bắt đàn bà và trẻ con làm những việc nặng nề và nguy hiểm”
Đảng đề ra các yêu cầu cho phụ nữ đấu tranh đòi quyền lợi của mình bằng
Trang 33cách yêu cầu bỏ hết các pháp luật và tục lệ hủ bại làm cho đàn bà không được bình đẳng với đàn ông, bỏ cái chế độ áp bức của cha mẹ đối với con gái, của chồng đối với vợ (ép duyên, thóa mạ đàn bà con gái), cấm tục năm thê bảy thiếp, vợ hầu vợ lẽ, quyền đàn bà được giữ con mình lúc ly dị
Giữ cương vị là người đứng đầu đất nước, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ (3/9/1945), Hồ Chí Minh đã đề ra 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó có Tổng tuyển cử, xây dựng Hiến pháp Người đề nghị chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu
và tất cả công dân trai gái 18 tuổi đều có quyền ứng cử và bầu cử, không phân biệt giàu nghèo , tôn giáo, dòng giống
Khi Tổng tuyển cử thành công, Hồ Chí Minh đã chỉ đạo soạn thảo và ban hành ngay Hiến pháp Với tư cách là trưởng ban soạn thảo, Người đề nghị đưa vấn đề bình đẳng nam nữ vào Hiến pháp Điều 9, Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa năm 1946 ghi rõ: “Đàn bà ngang quyền với đàn ông
về mọi phương diện”[18, tr.8]
Hiến pháp năm 1946 đã được Quốc hội khóa I thông qua Trong lời phát biểu tại phiên họp bế mạc kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa I nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Hồ Chí Minh đã vui mừng công bố: Hiến pháp đó tuyên bố với thế giới Việt Nam đã độc lập Hiến pháp đó đã tuyên bố với thế giới: Phụ
nữ Việt Nam đã được đứng ngang hàng với đàn ông để được hưởng chung mọi quyền tự do của một công dân
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam, quyền bình đẳng của phụ
nữ được Pháp luật nhà nước công nhận Người phụ nữ có cơ sở pháp lý vững chắc để đảm bảo tự do trong cuộc sống của mình Nguyên tắc hiến định đó tiếp tục được Hồ Chí Minh chỉ đạo mở rộng và phát triển trong Hiến pháp sửa
đổi năm 1959 Tại điều 24 chương III Hiến pháp năm 1959 ghi rõ: “Phụ nữ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình”.
Trang 34Ngoài ra, Hiến pháp còn quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng trước Pháp luật” (Điều 55) và “Công dân có quyền tham gia quản lý công việc của Nhà nước và của xã hội” (Điều 56)
Những nguyên tắc Hiến pháp quy định trên đã được Hồ Chí Minh chỉ đạo thực hiện hóa trong quá trình lãnh đạo cách mạng, người nhiều lần nhắc nhở các sở, ban, nghành từ Trung ương đến địa phương phải chú ý chăm lo bồi dưỡng phát triển cán bộ nữ, để phụ nữ nhận thức và tham gia ngày càng nhiều hơn trong lĩnh vực chính trị Đến tham dự các hội nghị hoặc thăm các lớp học chính trị, bao giờ Người cũng để ý xem số phụ nữ được tham gia là bao nhiêu phần trăm Khi đến thăm lớp bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo cấp Huyện, quan sát chỉ có vài cán bộ nữ, Bác đã thẳng thắn phê bình:
Cán bộ nữ ít như vậy là một thiếu sót Các đồng chí phụ trách lớp học chưa quan tâm đến việc bồi dưỡng cán bộ nữ Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ, hay thành kiến, hẹp hòi Như vậy là rất sai Hiện nay, có nhiều phụ nữ tham gia công tác lãnh đạo ở cơ sở Nhiều người có công tác rất giỏi Có cháu gái làm chủ nhiệm lớp hợp tác xã toàn thôn Không những hăng hái mà còn làm tốt Các cháu gái ở các hợp tác xã thường có nhiều ưu điểm, ít mắc tệ tham ô, lãng phí, không hay chè chén, ít hống hách mệnh lệnh như một số cán bộ nam[26, tr 208]
Đến thăm và nói chuyện với đồng bào và cán bộ xã Đại Nghĩa, Hồ Chí Minh đã phê bình Ban lãnh đạo xã đã không quan tâm, dìu dắt, giúp đỡ chị
em phụ nữ được đứng vào hàng ngũ của Đảng Người nói: “Đảng viên ở xã Đại Nghĩa thì lại càng ít, chỉ có 2 đồng chí Như thế là các chú còn trọng nam khinh nữ… Các chú không chú ý dìu dắt, giúp đỡ chị em, tổ chức chị em vào Đảng là không đúng”[27, tr.210]
Trang 35Dưới sự quan tâm của Hồ Chí Minh, có thể nói, phụ nữ đã được bình đẳng với nam giới trong đời sống chính trị Hầu hết phụ nữ đến tuổi trưởng thành đều được tham gia sinh hoạt chính trị; được quyền bầu cử, ứng cử, được tham gia sinh hoạt ở các đoàn thể ; nhiều phụ nữ đã được tham gia vào bộ máy nhà nước Năm 1960, “số phụ nữ tham gia công tác ở các cơ quan Trung ương là 5000 người; ở huyện, xã có hơn 16000 người và các tỉnh có hơn 300 người, đặc biệt trong Quốc hội khóa II, trong số 362 đại biểu ở miền Bắc thì
có 53 đại biểu là phụ nữ”[26, tr.640] Số phụ nữ tham gia hoạt động chính trị ngày càng được tăng lên Đó là kết quả sinh động của quá trình nhận thức và
tổ chức thực hiện tư tưởng bình đẳng nam nữ về chính trị của Hồ Chí Minh
Bình đẳng trên lĩnh vực kinh tế
Bình đẳng trên lĩnh vực kinh tế tức là phụ nữ có cơ hội có việc làm, có
thu nhập như nam giới, bình đẳng với nam giới trong quan hệ tài sản…
Chủ nghĩa Mác đã chỉ ra nguyên nhân của sự bất bình đẳng chính là sự
áp bức của người đàn ông đối với đàn bà về mặt kinh tế và Engghen chỉ ra tình trạng không bình quyền giữa đôi bên là kết quả của việc áp bức đàn bà về mặt kinh tế Đối chiếu những điều Engghen viết vào thực tế xã hội Việt Nam trước đây, Hồ Chí Minh khẳng định sự nhận định của Engghen là hoàn toàn chính xác Vì vậy, Người đã kiên quyết đấu tranh thực hiện cho bằng được sự bình quyền giữa nam và nữ trong lĩnh vực kinh tế, làm tiền đề để tiến tới bình quyền trên các lĩnh vực khác Dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, quyền bình đẳng giữa nam và nữ trong lĩnh vực kinh tế được khẳng định trong Hiến pháp
nước CHXHCN Việt Nam năm 1946: “Tất cả mọi công dân đều ngang hàng quyền về kinh tế và quyền tư hữu tài sản được bảo đảm”
Ngay từ cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương tiến hành cải cách ruộng đất; thực hiện người cày có ruộng, xác định quyền bình đẳng về sở hữu ruộng đất của phụ nữ, xóa bỏ mọi ràng buộc phong kiến, tạo điều kiện để phụ nữ có thể tham gia bình đẳng với
Trang 36nam giới trong mọi lĩnh vực kinh tế Người đã chỉ rằng: “Bây giờ toàn dân ta
ai cũng muốn xây dựng CNXH Muốn xây dựng CNXH phải làm gì? Nhất định phải tăng gia sản xuất cho thật nhiều Muốn sản xuất nhiều thì phải có nhiều sức lao động Muốn có nhiều sức lao động thì phải giải phóng sức lao động của phụ nữ”.[44, tr 15]
Hồ Chí Minh đề ra phương thức giải phóng sức lao động của phụ nữ, trước hết là đưa phụ nữ tham gia vào nhiều ngành nghề mới phát triển ở nước
ta như công thương nghiệp, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học… Không để họ chỉ lao động trong ngành nông nghiệp truyền thống như bao đời nay Đồng thời gạt bỏ các trở ngại đang hạn chế việc phát huy sức mạnh tiềm tàng về năng lực, trí tuệ, về phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người phụ nữ, kết hợp với sức lao động cần cù và khéo léo của họ để phục vụ cho sự nghiệp xây dựng xã hội mới
Người phụ nữ có quyền được có việc làm bình đẳng như nam giới; có quyền xin vào làm việc ở bất cứ ngành nghề nào nếu họ có đủ trình độ và khả năng đáp ứng được yêu cầu nhân lực của ngành nghề đó Điều này đã được
Hiến pháp sửa đổi năm 1959 quy định cụ thể: “Công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền làm việc” (Điều 30) đồng thời Hiến pháp còn quy định
“Cùng việc làm như nhau, phụ nữ hưởng lương ngang với nam giới”
Hồ Chí Minh không ngừng nhắc nhở các cấp lãnh đạo quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ chị em phụ nữ nâng cao trình độ kiến thức, chuyên môn, kỹ thuật để có thể đáp ứng yêu cầu công việc Người yêu cầu các sở ban ngành phải lập nhà trẻ, vườn trẻ, nhà ăn để phụ nữ yên tâm công tác và lao động sản xuất Người nói: “Muốn cho người mẹ sản xuất tốt thì cần tổ chức tốt những nơi giữ trẻ và những lớp học mẫu giáo… Hội phụ nữ cần phải phổ biến những kinh nghiệm đó và giúp đỡ các nơi khác tổ chức cho tốt”[27, tr.59] Mặt khác,
Hồ Chí Minh đề nghị ban hành Nghị quyết 31- CP ngày 8/ 3/ 1967 về “Tăng cường lực lượng lao động nữ trong các cơ quan xí nghiệp” bao gồm những
chế độ chính sách cần thiết để thúc đẩy sự phân bố, bổ sung, sử dụng lao động
nữ một cách hợp lý, đáp ứng yêu cầu cấp thiết của xã hội
Trang 37Có thể nói , dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, quyền bình đẳng của phụ nữ trong lĩnh vực kinh tế đã được xác lập Tỷ lệ lao động là phụ nữ ngày càng được tăng lên trong các ngành nghề; tạo cho chị em phụ nữ sự phấn khởi, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Bình đẳng trên lĩnh vực văn hóa
Trước hết, để bình đẳng trên lĩnh vực này, Hồ Chí Minh hết sức coi
trọng đến việc xóa bỏ “giặc dốt” trong cả nước Đặc biệt, Người quan tâm
đến phụ nữ- nạn nhân chính trong chính sách ngu dân của thực dân Pháp Người đã không ngừng khuyến khích chị em chịu khó học tập, tham gia tích cực trong phong trào bình dân học vụ để có thể nắm được những vấn đề cơ bản về lịch sử, địa lý, khoa học tự nhiên, xã hội, chính trị…nâng cao hiểu biết; giúp chị em có nhận thức đúng đắn, có khả năng làm chủ về mọi mặt, thoát khỏi sự phụ thuộc của chế độ phong kiến lạc hậu, bất công; để có thể đứng ngang hàng với nam giới, làm chủ đất nước
Hồ Chí Minh đã đề nghị đưa vào Hiến pháp vấn đề bình đẳng nam nữ trong lĩnh vực văn hóa Điều 6, Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa năm 1946 đã quy định: “tất cả công dân Việt Nam đểu ngang quyền về mọi
phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa” và đã được cụ thể hóa trong Hiến
pháp năm 1959 ở điều 33: “Phụ nữ nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về sinh hoạt văn hóa… Có quyền học tập, quyền tự do nghiên cứu khoa học, sáng tác văn học, nghệ thuật và tiến hành các hoạt động văn hóa khác” Nhờ đó, phụ nữ Việt Nam đã thoát khỏi kiếp sống tối tăm, u mê mà giai cấp phong kiến và bọn thực dân đã phủ lên đầu họ Trẻ em, trai cũng như gái đều được sắp xếp đến trường Phụ nữ không chỉ biết
trau dồi “công, dung, ngôn, hạnh” mà còn được học tập, nâng cao hiểu biết,
phát triển tài năng, trí tuệ để phục vụ quê hương, đất nước; vươn lên làm chủ cuộc đời mình, làm chủ đất nước ngang hàng với nam giới
Trang 38Bình đẳng trong gia đình
Hồ Chí Minh cho rằng, muốn thực hiện nam nữ bình đẳng thì trước hết
phải giải phóng phụ nữ ra khỏi trói buộc của tư tưởng “trọng nam khinh nữ”,
và những bất công ngay trong gia đình của họ Khi nước nhà giành được độc lập, Hồ Chí Minh đã tham gia tích cực soạn thảo Hiến pháp và Hiến pháp đầu
tiên của nước ta (Hiến pháp năm 1946) đã quy định: “Nam, nữ bình đẳng”
Tuy nhiên, do những tàn tích của lịch sử để lại, trong nhiều gia đình, phụ nữ chưa được hoàn toàn bình đẳng với nam giới Nhiều nơi, phụ nữ còn bị đánh đập, bị ép duyên… Hồ Chí Minh đã đưa ra nhiều dẫn chứng cụ thể: Ở Lương Yên (Hà Nội), trong 196 gia đình thì có 26 người chồng thường đánh mắng
vợ, có người đánh vợ bị thương; ở xã Quảng Lưu (Thanh Hóa), có người nhét tro vào miệng vợ, đánh vợ què tay; có người cạo trọc đầu vợ, lột hết quần áo rồi giông vợ đi bêu khắp thôn xóm…
Người lên án mạnh mẽ quan điểm “Đàn bà phải quanh quẩn trong bếp” vì chính quan điểm đó đã dẫn đến việc người phụ nữ bị hạ thấp tột bậc
trong gia đình và xã hội Đặc biệt, Người lên án hiện tượng phân biệt đối xử
với phụ nữ, “khinh rẻ phụ nữ và dã man nhất là thói đánh vợ”[27, tr.525]
Hồ Chí Minh yêu cầu ban hành Luật hôn nhân gia đình Nội dung của Luật đã quy định rõ quyền bình đẳng của nam và nữ trong gia đình:
Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi (điều 3); Trong gia đình vợ chồng bình đẳng về mọi mặt (điều 12); Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, quí trọng, giúp đỡ nhau tiến bộ, xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc (điều 13); Cha
mẹ không được hành hạ con cái, không đối xử tàn tệ với con dâu (điều 18)[19, tr.524]
Theo Hồ Chí Minh, việc ban hành và thực hiện luật hôn nhân gia đình là một cuộc cách mạng thật sự, bởi lẽ đạo luật này sẽ tham gia xóa bỏ sự phân biệt đối xử giữa nam và nữ trong hôn nhân, gia đình
Trang 39Hồ Chí Minh luôn theo dõi và nhắc nhở việc thực hiện nghiêm chỉnh đạo luật Người yêu cầu các đoàn thể có trách nhiệm tuyên truyền cho từng gia đình và toàn thể cộng đồng trong xã hội; đồng thời kêu gọi chị em phụ nữ phải tìm hiểu nắm chắc luật để làm cơ sở đấu tranh bảo vệ quyền lợi trong gia đình của mình
Được sự quan tâm của Hồ Chí Minh và sự điều tiết của pháp luật trong việc thực hiện bình đẳng trong gia đình, những tệ nạn cũ (gia trưởng, đánh vợ, chửi vợ, ép duyên…) dần dần được xóa bỏ Hầu hết các gia đình thực hiện nếp sống mới, công việc gia đình được các thành viên quan tâm, chia sẻ, không còn tình trạng trút hết lên đầu phụ nữ
Hồ Chí Minh không chỉ đề cập đến vấn đề tạo điều kiện cho phụ nữ tham gia hoạt động xã hội, mà Người còn rất chú trọng đến những nét đặc thù riêng của người phụ nữ, từ đó đề ra những chính sách ưu đãi Hiến pháp năm 1959 quy
định rõ: “Nhà nước bảo đảm cho phụ nữ công nhân và phụ nữ viên chức được nghỉ trước và sau khi đẻ mà vẫn hưởng nguyên lương Nhà nước bảo hộ quyền lợi này của người mẹ và của trẻ em, bảo đảm phát triển các nhà đỡ đẻ, nhà giữ trẻ và vườn trẻ” Như vậy, dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng
cộng sản Việt Nam, vấn đề thực hiện bình đẳng nam nữ đã được đề ra và thực hiện một cách nghiêm túc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Tuy nhiên,
do ảnh hưởng của những phong tục, tập quán cổ hủ đã ăn sâu vào đời sống của con người hàng ngàn năm qua nên bước đầu thực hiện sự nghiệp đó gặp không ít khó khăn cần thêm nhiều thời gian và biện pháp cụ thể
1.1.2.3 Biện pháp giải phóng phụ nữ, thực hiện quyền bình đẳng nam nữ
Chứng kiến người phụ nữ bị đối xử bất công, bị áp bức, bóc lột nặng
nề, Chủ tịch Hồ Chí Minh không dừng lại ở sự cảm thông, thương xót mà Người còn tìm ra căn nguyên của sự bất bình đẳng, từ đó vạch ra những biện pháp đưa phụ nữ thoát khỏi bất công của xã hội
Trang 40Để thực hiện thành công sự nghiệp bình đẳng nam nữ trong toàn xã hội,
Hồ Chí Minh khẳng định dứt khoát: cần phải có sự tham gia của Đảng, Nhà nước, chính bản thân phụ nữ và của toàn xã hội Chỉ khi nào kết hợp được sự đồng lòng, quyết tâm của các chủ thể trên mới có thể xóa được những hủ tục mà lịch sử để lại Như Người đã nói: “Giải phóng người đàn bà, đồng thời phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản trong người đàn ông” [23, tr.524] Với quan điểm trên, Hồ Chí Minh đã đưa ra một số giải pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, giải phóng phụ nữ phải gắn liền với chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước
Theo Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước phải quan tâm giúp đỡ phụ nữ, giải thoát phụ nữ khỏi những bất công của xã hội bằng cách đề ra chủ trương, chính sách cụ thể để giáo dục toàn dân thực hiện Quan điểm này của Hồ Chí Minh được thể hiện rõ trong Cương lĩnh của Đảng: Thực hiện nam nữ bình quyền (Chánh cương vắn tắt của Đảng) Đến khi cách mạng Tháng Tám năm
1945 thành công, đất nước được độc lập, vấn đề bình đẳng nam nữ được Hồ Chí Minh yêu cầu đưa vào Hiến pháp Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa 1946 đã quy định: Đàn bà ngang quyền với đàn ông về mọi phương diện (Điều 9) Đây là lần đầu tiên quyền bình đẳng của phụ nữ Việt
Nam được pháp luật công nhận
Trong bản hiến pháp tiếp theo (1959), các quyền bình đẳng nam nữ đã được cụ thể hơn, nội dung càng đầy đủ và phù hợp với thực tế hơn Hiến pháp
khẳng định: “Phụ nữ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt sinh hoạt, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội” Trên
cơ sở các nguyên tắc hiến pháp đã định, Hồ Chí Minh yêu cầu Đảng và Nhà nước phải có kế hoạch cụ thể hóa các nguyên tắc đó trong hệ thống các ngành luật bảo đảm cho phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới Ngày 13/1/1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 02-LCT công bố Luật hôn nhân và gia đình, công nhận quyền bình đẳng của công dân trong lĩnh vực hôn nhân và