1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Lãnh đạo và quản lý đối với lĩnh vực kinh tế, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, báo chí

230 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 230
Dung lượng 1,21 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu như vai trò lịch sử của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính vô sản quy định sự cần thiết phải có Đảng lãnh đạo, thì vai trò lãnh đạo

Trang 1

1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN KHOA NHÀ NƯỚC – PHÁP LUẬT

ĐỀ TÀI LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ ĐỐI VỚI LĨNH VỰC KINH TẾ, KHOA HỌC – CÔNG NGHỆ, GIÁO DỤC – ĐÀO TẠO, BÁO CHÍ

(Đề tài cấp cơ sở trọng điểm)

Tập thể tác giả: TS Nguyễn Vũ Tiến

Th.S Trần Quang Hiển

HÀ NỘI - 2008

Trang 2

2

LỜI NÓI ĐẦU

Để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu và học tập của sinh viên các lớp ngành Chính trị học, chuyên ngành Quản lý xã hội; ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước, ngành Báo chí học và các ngành học khác có liên quan tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền Tập thể giảng viên khoa Nhà nước - Pháp luật triển khai nghiên cứu đề tài "Lãnh đạo và quản lý đối với lĩnh vực kinh tế, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, báo chí" nhằm trang bị cho sinh viên thuộc các ngành học trên những kiến thức cơ bản về: Lãnh đạo, quản lý đối với lĩnh vực kinh tế, lãnh đạo, quản lý đối với khoa học - công nghệ; lãnh đạo, quản lý đối với giáo dục - đào tạo và lãnh đạo, quản lý đối với báo chí

Triển khai nghiên cứu đề tài này các tác giả tham khảo nhiều tài liệu công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo có liên quan về lãnh đạo quản lý kinh

tế, khoa học - công nghệ; giáo dục - đào tạo và báo chí Do tính chất phức tạp

và phạm vi rộng lớn trong lãnh đạo, quản lý đối với kinh tế, khoa học - công nghệ; giáo dục - đào tạo và báo chí cũng như về nội dung khoa học của nó, mặc dù các tác giả đã có nhiều cố gắng trong nghiên cứu, biên soạn, nhưng không tránh khỏi những thiếu sót Khoa Nhà nước - Pháp luật xin trân trọng giới thiệu kết quả nghiên cứu của đề tài và mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp quý báu của bạn đọc

Tập thể tác giả

Trang 3

3

MỤC LỤC

Chương 1: LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ KINH TẾ

PHẦN l: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI KINH TẾ

I Đảng lãnh đạo đối với kinh tế là một tất yếu khách quan 5

II Đặc điểm trong lãnh đạo kinh tế của Đảng 10 III Các nguyên tắc trong lãnh đạo kinh tế của Đảng 17

V Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế 26

PHẦN 2: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ 28 I Tổng quan quản lý nhà nước đối với kinh tế 28

II Các nguyên tắc quản lý nhà nước đối với kinh tế 34 III Hình thức và phương pháp quản lý của Nhà nước đối với kinh tế 36 IV Bộ máy quản lý nhà nước đối với kinh tế 38

V Cán bộ quản lý kinh tế 40

Chương 2: LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ ĐỐI VỚI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHẦN l: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI KHOA HỌC, CÔNG NGHỆ 45 I Khái niệm khoa học, công nghệ, hoạt động khoa học và công nghệ 45

II Vai trò của khoa học và công nghệ trong đời sống xã hội 54

III Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và công nghệ 57

IV Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với khoa học và công nghệ 63

PHẦN 2: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ I Sự cần thiết khách quan phải quản lý nhà nước đối với khoa học và công nghệ 68

II Nguyên tắc, phương pháp quản lý nhà nước đối với khoa học và công nghệ 74

III Bộ máy, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với khoa học và công nghệ 77

IV Nội dung quản lý nhà nước đối với khoa học và công nghệ 79 CHƯƠNG 3

LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ ĐỐI VỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

PHẦN 1: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Trang 4

4

I Khái niệm, vai trò, mục đích, nhiệm vụ của giáo dục và đào tạo 91

II Nội dung lãnh đạo đối với giáo dục và đào tạo 107 III Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với giáo dục và đào tạo 118

PHẦN 2: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

I Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước đối với giáo dục và đào tạo 132

II Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo 150 CHƯƠNG 4

LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ ĐỐI VỚI BÁO CHÍ

PHẦN l: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI BÁO CHÍ

I Báo chí cách mạng và vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí 160

II Nội dung lãnh đạo của Đảng đối với báo chí 177

III Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với báo chí 184

PHẦN 2: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI BÁO CHÍ

I Khái niệm báo chí và quản lý nhà nước về báo chí 205

II Nội dung, bộ máy quản lý nhà nước về báo chí 205 III Điều kiện, thẩm quyền cấp giấy phép và hiệu lực của Giấy phép

hoạt động báo chí

209

IV Lưu chiểu, phát hành, quảng cáo và họp báo 212

V Quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí liên quan đến nước ngoài 216

Trang 5

5

CHƯƠNG 1

LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ KINH TẾ PHẦN 1: SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI KINH TẾ

I ĐẢNG LÃNH ĐẠO ĐỐI VỚI KINH TẾ LÀ MỘT TẤT YẾU KHÁCH QUAN

1.1 Trước hết phải khẳng định rằng Đảng lãnh đạo kinh tế là một tất yếu lịch

sử Bởi lẽ xét đến cùng mọi cuộc cách mạng được tiến hành từ xưa đến nay trước hết vì lợi ích kinh tế Và chính lợi ích kinh tế là nguyên tắc điều tiết cơ bản mà mọi nguyên tắc khác phải tuân theo Đối với cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội càng phải như vậy như C Mác đã nói

về cuộc cách mạng này lại do giai cấp công nhân và nhân dân lao động tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản "Về thực chất, chủ nghĩa xã hội về mặt tổ chức là một vấn đề có tính chất kinh tế”1

- Sự lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế hơn nữa còn là một đòi hỏi của lịch sử Nếu như vai trò lịch sử của giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, thiết lập nền chuyên chính vô sản quy định sự cần thiết phải có Đảng lãnh đạo, thì vai trò lãnh đạo ngày càng tăng sau khi chính quyền

đã về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động và nhiệm vụ chủ yếu là cải tạo và xây dựng xã hội mới - một công việc còn khó khăn hơn việc giành chính quyền, những thành tựu về mặt chính trị hoặc là sẽ tiêu tan mất, hoặc là phải làm cho những thành tựu ấy đứng vững trên một cơ sở kinh tế Nói sự lãnh đạo của Đảng ngày càng tăng trong chủ nghĩa xã hội, trước hết và thực chất là phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế Quy mô rộng lớn và tính chất phức tạp của những nhiệm vụ kinh tế, xã hội trong thời kỳ đẩy mạnh công

nghiệp hoá, hiện đại hoá đang đòi hỏi tăng cường không ngừng năng lực lãnh

đạo và sức chiến đấu của Đảng, nói cách khác con đường đi lên của giai cấp công nhân và nhân dân lao động không giản đơn mà rất phức tạp, đời sống kinh tế không ngừng vận động và luôn luôn đặt ra những vấn đề hết sức mới

1

C. Mác - Ăng ghen , Tuyển tập Nxb Sự thật Hà Nội 1971, tập 2, tr 481

Trang 6

6

mẻ, chỉ có tăng cường sự lãnh đạo của Đảng mới có thể đảm bảo tính đúng đắn của các giải pháp kinh tế, để đưa nền kinh tế phát triển thuận lợi Thành tựu to lớn có ý nghĩa hàng đầu những năm đổi mới của Đảng ta là bước đầu đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng làm cho thế và lực của nước ta lớn mạnh lên nhiều Cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế được tăng cường Nếu từ bỏ lãnh đạo sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế cũng có nghĩa là Đảng từ bỏ lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, làm cho sự lãnh đạo của Đảng không có nội dung, không có mục đích Do đó, Đảng lãnh đạo đối với kinh tế

là một sự nghiệp đúng đắn nhất cả về nguyên tắc lẫn thực tiễn

Tuy vậy, cũng phải hiểu rằng lãnh đạo kinh tế của Đảng là lĩnh vực khó

khăn nhất do đó Lênin cho rằng: Chính ở chỗ này ( ) mà chúng ta gặp nhiều

thất bại và mắc nhiều sai lầm nhất, và điều đó lại càng khó khăn hơn đối với

những quốc gia từ sản xuất nhỏ là chủ yếu muốn đi lên chủ nghĩa xã hội

Thực tiễn trên 70 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới và quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta từ năm 1954 đến nay đã chứng minh điều đó 1.2 Sự thất bại của Liên Xô và các nước Đông Âu trong lịch sử xây dựng chủ nghĩa xã hội đã chứng tỏ rằng, trong thực tiễn các đảng cầm quyền đều chưa thành công trong công cuộc xây dựng xã hội mới - xã hội xã hội chủ nghĩa

Từ sự thất bại có thể rút ra bài học về lãnh đạo kinh tế của các Đảng đó như sau:

Bài học thứ nhất, các đảng cầm quyền chưa có nhận thức đúng về cơ sở kinh tế

của chủ nghĩa xã hội, về nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, càng chưa có hiểu biết

về sự hình thành cơ sở kinh tế ấy mà điểm xuất phát từ kinh tế lạc hậu Đảng

đã lãnh đạo kinh tế với lối tư duy chủ quan, duy ý chí như: nền kinh tế càng có nhiều xí nghiệp quy mô lớn, càng phát triển nhanh chế độ công hữu, càng

thống nhất quản lý tập trung, bao cấp thì càng sớm đi lên chủ nghĩa xã hội

Tư duy kinh tế kiểu ấy là nguồn gốc sinh ra những quan điểm và chính sách sai lầm, mà hậu quả lớn nhất là không tạo ra được động lực kinh tế, tư tưởng trong những người lao động, không thể hiện được bản chất làm chủ, công bằng của chế độ mới

Trang 7

7 Những quan niệm sai lầm này đã dẫn tới xoá bỏ hình thái kinh tế hàng hoá trên thực tế, làm cho mọi hoạt động hạch toán kinh tế, các hoạt động

kế toán, tài chính, ngân hàng mất hết nội dung kinh tế Do đó, chủ nghĩa xã hội không còn là kết quả tự nhiên của quá trình xã hội hoá lao động và sản xuất một cách tự giác Nó không tránh khỏi bộc lộ sự bất lực trong việc giải quyết các vấn đề kinh tế - xã hội đặt ra Chủ nghĩa xã hội trong điều kiện đó không chứng minh được tính ưu việt của mình, trái lại, đã rơi vào tình trạng lạc hậu

so với chủ nghĩa tư bản Nếu không cải tổ thì không tránh khỏi tình trạng khủng hoảng toàn diện

Bài học thứ hai, không coi trọng lôgích hệ thống “bắt đầu từ đâu và đi

tới đâu, của các quá trình kinh tế - xã hội Cũng như bất cứ sự vật nào, chủ nghĩa xã hội và nền kinh tế của nó, cũng có quá trình phát sinh và phát triển trong những điều kiện lịch sử cụ thể Nếu nhận thức không đầy đủ hoặc sai lầm

về điểm xuất phát và mục tiêu kinh tế trong từng giai đoạn lịch sử sẽ làm cho

sự lãnh đạo kinh tế của Đảng kém hiệu quả và phải trả giá đắt

Do nóng vội, không coi trọng vai trò điểm xuất phát nên chúng ta coi thường vấn đề có ý nghĩa chiến lược - vấn đề nông nghiệp, nông thôn và nông dân - trong quá trình xây dựng kinh tế Vì vậy, trải qua nhiều thập kỷ, đã kéo dài sự lạc hậu của công nghiệp và thành thị, đời sống công nhân, nông dân, trí thức rất thấp, nền kinh tế ngày càng mất cân đối, nợ nần ngày càng tăng

Điều đáng tiếc là, ở một số nước, các đảng đã có kinh nghiệm thành công như thời kỳ NEP (1921 - 1927) ở Liên Xô, thời kỳ 1955 - 1960 ở Việt Nam, những kinh nghiệm mở đầu kinh tế hàng hoá đó đã bị bỏ qua

Do nhận thức sai lầm về điểm xuất phát, đã dẫn đến coi thường và phủ nhận trên thực tế việc sử dụng "những nhịp cầu nhỏ", "Những khâu trung gian" trong các hình thức kinh tế quá độ như: các hình thức tư bản nhà nước đối với thành phần kinh tế tư bản tư nhân, các hình thức hợp tác hoá tự nguyện từ thấp đến cao đối với thành phần kinh tế cá thể Từ đó, đã không nhận thức được sự tồn tại khách quan và vai trò của các thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ Nhận thức sai lầm đó còn do lối tư duy ấu trĩ, định kiến, coi những quy luật và

Trang 8

8

cơ chế kinh tế có hiệu quả và có tác dụng chung cho mọi quá trình phát triển kinh tế, cho mọi chế độ xã hội chỉ là cái gì riêng có của chủ nghĩa tư bản, rồi xa lánh, phủ nhận chúng, như quy luật sản xuất, lưu thông hàng hoá và cơ chế kinh tế thị trường; quy luật về cơ cấu kinh tế và đầu tư kỹ thuật công nghệ; quy luật về động lực và khuyến khích lợi ích cá nhân, v.v

Do thiếu sót và sai lầm trong nhận thức về phương hướng, mục tiêu kinh

tế xã hội và phương thức, bước đi của quá trình phát triển, nên không phát huy được vai trò chỉ đạo chiến lược và quản lý vĩ mô; trái lại, đã rơi vào tình trạng hỗn loạn, vô chính phủ khi chuyển sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, không kịp thời đề ra chủ trương phát huy tính chủ động của cơ sở, địa phương

Bài học thứ ba, chưa nhận thức đúng quy luật kết hợp sức mạnh dân tộc

và sức mạnh thời đại trong lĩnh vực kinh tế Mỗi nước khi bắt tay vào xây dựng nền kinh tế mới, đều ở trong những điều kiện kinh tế, khoa học, kỹ thuật

và chính trị quốc tế nhất định Vì vậy, người lãnh đạo không những phải nhận thức được những điều kiện bên trong mà còn phải nắm vững những điều kiện bên ngoài, nhằm vận dụng có kết quả sự kết hợp quá trình phát triển tuần tự với quá trình nhảy vọt trong xây dựng kinh tế, nhằm khai thác sức mạnh tổng hợp, cho phép rút ngắn thời gian xây dựng và thu hẹp khoảng cách lạc hậu của đất nước so với trình độ chung của thế giới Ngày nay, cách mạng khoa học -

kỹ thuật hiện đại đang đặt các dân tộc trước thử thách có ý nghĩa lịch sử: hoặc nắm bắt kịp thời những thành tựu nhảy vọt của khoa học - kỹ thuật và tính quốc tế hoá của đời sống kinh tế thế giới để tiến lên, hoặc bỏ lỡ cơ hội để bị đẩy lùi Đó vừa là thời cơ, vừa là thách thức đối với tất cả các nước Lịch sử đã chứng minh rằng: để biến một nước lạc hậu thành một nước có trình độ hiện đại chỉ cần vài thập kỷ Đó là khách quan Bởi vậy, nó trở thành một thử thách

và là thước đo đối với trình độ lãnh đạo kinh tế của đảng cộng sản

Bài học thứ tư, chưa phân định đúng vai trò lãnh đạo kinh tế của Đảng

với chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước Sai lầm này dẫn đến hậu quả không tăng cường sự lãnh đạo về quan điểm chính trị, lý luận, tư tưởng và tổ chức của Đảng trong các lĩnh vực kinh tế; đồng thời, Nhà nước cũng không

Trang 9

9 xác định được chức năng quản lý kinh tế của mình Tình trạng cơ quan đảng làm thay chức năng quản lý của nhà nước, còn cơ quan nhà nước lấn át quyền quản lý kinh doanh của các đơn vị kinh tế kéo dài nhiều năm đã kìm hãm nặng

nề sự phát triển, tìm đường đi bên ngoài sự quản lý của Nhà nước và sự lãnh đạo của Đảng Lúc đó sẽ hình thành trạng thái xấu nhất của nền kinh tế: bên dưới thì rối loạn vô chính phủ, còn cơ quan quản lý bên trên mất dần hiệu lực, trở nên quan liêu và thoái hoá dần từng bộ phận

Bài học thứ năm, chưa coi trọng vai trò khoa học xã hội, trước hết là các

khoa học kinh tế và quản lý trong hoạt động lãnh đạo - quản lý Vì vậy, trình

độ nhận thức các quy luật khách quan thấp; hoạt động lãnh đạo quản lý rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm và chủ nghĩa nghiệp vụ; đội ngũ lãnh đạo quản lý kinh

tế các cấp không được bồi dưỡng, kiểm tra, đổi mới kịp thời nên đã phát sinh

tệ quan liêu tham nhũng và thoái hoá bộ phận

Hậu quả lớn nhất là nền kinh tế dân tộc ngày càng tích tụ nhiều nhân tố tiêu

cực, ngày càng kéo dài khoảng cách so với nền kinh tế phát triển trên thế giới

Bài học thứ sáu, chưa đặt đúng vai trò các tổ chức quần chúng cùng với chính

sách xã hội trong công cuộc xây dựng kinh tế Chính sách bao cấp tràn lan không thúc đẩy người lao động sáng tạo, mà đưa đến sự thụ động, chịu ơn đối với bên dưới, đưa đến sự ban ơn và cửa quyền của bên trên Hoạt động lãnh đạo quản lý vi phạm nguyên lý "xây dựng kinh tế là sự nghiệp của quần chúng dưới sự lãnh đạo của Đảng" Vì vậy, vai trò của các tổ chức quần chúng bị hạn chế và có tính chất hình thức

Những sai lầm nói trên chứng tỏ rằng, trong hoạt động của mình, các tổ chức đảng chưa nhận thức đúng đối tượng của sự lãnh đạo kinh tế Do đó, các hoạt động lãnh đạo kinh tế đã rơi vào tình trạng vừa chủ quan, nóng vội, vừa

bảo thủ, trì trệ

1.3 Sự lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế là đòi hỏi của chính bản thân

Đảng Mục đích của những người cộng sản là xây dựng thành công chủ nghĩa

xã hội không chỉ trong phạm vi đất nước mình, mà còn trên phạm vi toàn thế giới, trong khi đó việc thiết lập chủ nghĩa xã hội về thực chất là có tính chất

Trang 10

10 kinh tế: Nó là sự sáng tạo vật chất tạo ra những điều kiện cho sự liên hợp ấy

Do đó, Đảng cộng sản phải lãnh đạo kinh tế mới có thể hoàn thành được mục đích, thực hiện được lý tưởng của mình

1.4 Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với kinh tế là đòi hỏi của

nhân dân Trong điều kiện Đảng chưa có chính quyền, nhân dân gắn bó với Đảng, một lòng đi theo Đảng, bảo vệ Đảng Trong điều kiện cầm quyền lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng được thể chế hoá thành pháp luật, chính sách của Nhà nước, cho nên việc thực hiện đường lối chủ trương của Đảng không còn là nghĩa vụ riêng của đảng viên

mà trở thành nghĩa vụ chung của toàn dân Do đó nhân dân đòi hỏi Đảng phải

có đường lối, chủ trương kinh tế đúng đắn, định hướng cho đất nước phát triển

và cho sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh, ước nguyện đồng thời là đòi hỏi của nhân dân đối với Đảng cầm quyền

II ĐẶC ĐIỂM TRONG LÃNH ĐẠO KINH TẾ CỦA ĐẢNG

2.1 Lãnh đạo phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, chủ yếu của Đảng cầm quyền

Từ lãnh đạo giành chính quyền, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân chuyển sang lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện hoà bình là bước chuyển giai đoạn cơ bản nhất, có tính lịch sử trong

sự lãnh đạo cách mạng của Đảng Bước chuyển ấy được đánh dấu bằng nhiệm

vụ xây dựng, phát triển kinh tế nổi lên thành nhiệm vụ trung tâm quan trọng và chủ yếu nhất

Là Đảng cầm quyền lãnh đạo đất nước, trách nhiệm và nhiệm vụ của Đảng là chăm lo tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững hoà bình, độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia phải có tiềm lực quốc phòng hùng mạnh dựa trên cơ sở một nền kinh tế phát triển Xây dựng và kiện toàn hệ thống chính trị; giữ vững ổn định chính trị; đảm bảo an ninh, trật tự; đời sống vật chất được nâng cao, đời sống tinh thần ngày càng phong phú và tiến bộ; mở rộng quan hệ với các nước, các tổ chức quốc tế , những nhiệm vụ đó chỉ được thực hiện tốt trên cơ sở kinh tế là nhân tố quyết

Trang 11

11 định sự ra đời và tồn tại của một chế độ xã hội mới Thực tiễn lịch sử nước

ta và các nước anh em cho thấy, thời kỳ nào kinh tế phát triển và phồn thịnh thì thời kỳ ấy các nhiệm vụ văn hoá, giáo dục, quốc phòng, an ninh… được giải quyết suôn sẻ, uy tín của đất nước trên trường quốc tế được nâng cao; trái lại, khi kinh tế khủng hoảng, trì trệ thì các lĩnh vực khác cũng sa sút nghiêm trọng

Vì vậy, Đảng cầm quyền không thể không tập trung một cách thoả đáng trí tuệ, thời gian vào lãnh đạo và lãnh đạo đạt hiệu quả trên lĩnh vực kinh tế Các nghị quyết, chủ trương, đường lối mà Đảng đề ra cũng phải xuất phát từ các nhiệm vụ kinh tế, tính đến các điều kiện kinh tế Lãnh đạo lĩnh vực kinh tế thắng lợi là cơ sở quyết định để thực hiện thắng lợi những nhiệm vụ của các lĩnh vực khác, là nhân tố cơ bản quyết định nhất đối với việc giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền trong điều kiện hoà bình

Trước đây nhân dân tin tưởng và thừa nhận sự lãnh đạo của Đảng là do Đảng đề ra được chiến lược, sách lược giành chính quyền; phát động và tập hợp được toàn dân kháng chiến; đảng viên anh dũng, hy sinh, đi đầu trong chiến đấu Giờ đây, nhân dân chủ yếu căn cứ vào việc Đảng lãnh đạo xây dựng kinh tế ra sao Đảng lãnh đạo giỏi thì phát huy được sức mạnh của cả dân tộc, đất nước phồn vinh, đời sống mọi mặt của nhân dân được cải thiện và không ngừng nâng cao Dân tin yêu Đảng, Đảng trở thành cuộc sống, niềm tin của dân Nếu Đảng lãnh đạo kinh tế kém, dân đói, xã hội nhiều tệ nạn lòng tin của dân đối với Đảng sẽ giảm sút

2.2 Sự lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực kinh tế chịu tác động mạnh

mẽ của những đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hoá và chính trị của đất nước

Để lãnh đạo lĩnh vực kinh tế đạt hiệu quả, mà trước hết là xác định được nội dung, phương thức lãnh đạo lĩnh vực này phù hợp với điều kiện hiện tại của đất nước, cần thấy rõ những đặc điểm kinh tế, xã hội văn hoá và chính trị của đất nước và mức độ tác động của chúng đến sự lãnh đạo kinh tế của Đảng Những đặc điểm đó là:

2.2.1 Đặc điểm kinh tế

Trang 12

12

Thứ nhất, xuất phát điểm của nền kinh tế nước ta khi bước vào thời

kỳ mới rất thấp Đó là nền kinh tế của một nước nông nghiệp lạc hậu, lại vừa trải qua hơn 30 năm chiến tranh tàn phá và 19 năm bị Mỹ cấm vận Đặc điểm này được thể hiện ở những mặt sau: sức sản xuất kém phát triển; trình độ công nghệ lạc hậu, lao động đông, song trình độ tay nghề và trình độ văn hoá ở mức trung bình thấp; tài nguyên phong phú, đa dạng, song trữ lượng ở mức vừa và

nhỏ, điều kiện khai thác lại khó khăn; thiếu vốn

Từ xuất phát điểm ấy muốn tiến tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa phải vượt qua ngưỡng đói nghèo

Thứ hai, từ nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu chuyển sang xây dựng nền

kinh tế hàng hoà nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản

lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chú nghĩa là mô hình mới, nên phải vừa làm vừa rút kinh nghiệm Quá trình chuyển đổi này luôn xảy ra mâu thuẫn nội tại giữa cái cũ với cái mới, giữa phát triển, tăng trưởng với công bằng xã hội

Thứ ba, chuyển từ nền kinh tế theo cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp

sang nền kinh tế thị trường với chiến lược hướng về xuất khẩu, có một phần thay thế nhập khẩu Chúng ta còn gặp nhiều khó khăn do trình độ nghiệp vụ,

quản lý, khả năng tiếp thị, kinh nghiệm kinh doanh, chất lượng sản phẩm

chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường thế giới và khu vực

Thứ tư, lực lượng kinh tế giảm tương đối và tuyệt đối Điều này diễn ra

không phải chỉ đối với các đơn vị kinh tế quốc doanh dùng vốn trong nước, mà còn đối với một số doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, hoặc doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài Do đó, sự cạnh tranh giữa các cơ sở, các thành phần, các khu vực diễn ra gay gắt

2.2.2 Đặc điểm xã hội

Thứ nhất, hơn 80% dân số nước ta là nông dân, lao động phân tán, sản

xuất nhỏ, xã hội ta chưa trải qua giai đoạn công nghiệp hoá, nên phong cách sống, tác phong công tác, nếp nghĩ ít nhiều đều bị chi phối bởi tư tưởng nông dân

Trang 13

13

Thứ hai, trình độ dân trí thấp ảnh hưởng trực tiếp đến việc nhận

thức và vận dụng các quan điểm, nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, đến kỹ năng ứng dụng kỹ thuật vào sản xuất kinh doanh, đến tiếp nhận và xử lý các thông tin về chính trị, kinh tế và xã hội

Thứ ba, nước ta đã trải qua nhiều năm chiến tranh, những tổn thất về

người và của đã để lại hậu quả nặng nề Hàng triệu gia đình liệt sĩ, hàng triệu

thương binh các loại cùng với hàng triệu người già cô đơn, trẻ mồ côi điều

này đòi hỏi nền kinh tế phải có nhịp độ tăng trưởng cao mới có thể giải quyết tốt các vấn đề xã hội nêu trên Thực tế này là áp lực rất lớn, đòi hỏi sự đáp ứng của Đảng về lãnh đạo phát triển kinh tế

Thứ tư, sự chênh lệch lớn về sự phát triển giữa các vùng, các dân tộc và

các tầng lớp dân cư Đất nước ta có nhiều dân tộc, diện tích đất đai hẹp lại chạy dài và bị ngăn cách bởi địa hình phức tạp Các vùng sâu, rẻo cao giao thông khó khăn, vẫn còn mang nặng tính sản xuất tự cấp tự túc, trong khi đó ở các đô thị tính chất kinh tế hàng hoá đã phát triển ở trình độ cao Từ sự khác nhau về tính chất, trình độ phát triển sản xuất kéo theo khác nhau về mức sống, khác nhau về dân trí và các vấn đề xã hội khác

Những đặc điểm trên đây đang gây nên khó khăn cho quá trình phát triển hiện nay

2.2.3 Đặc điểm văn hoá

Nước ta có nền văn hoá lâu đời, dân tộc ta đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử khó khăn nhưng vẫn luôn gìn giữ, tôn tạo và hoàn thiện lối sống văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc Song, bên cạnh đó, ở nước ta hiện nay còn tồn tại những nếp sống, phong cách sống có những mặt hạn chế như: Một bộ phận dân

cư muốn giữ nếp sống, tập quán cũ còn mang tính chất phong kiến tiểu nông; một bộ phận khác, trẻ hơn cả về tuổi đời và kinh nghiệm sống, lại có xu hướng chạy theo lối sống thực dụng, đua đòi, lai tạp; tiếp nhận lối sống của các nước khác xa lạ với bản sắc dân tộc ta - lối sống mà chính nhân dân nước đó cũng đang tìm cách loại bỏ Đây là vấn đề đang ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế và lành mạnh hoá xã hội

Trang 14

14 Lối sống có văn hoá ảnh hưởng tích cực đến phát triển kinh tế và tiến

bộ xã hội, nhưng lối sống cổ hủ, những tập tục lỗi thời lại là lực cản đối với quá trình phát triển Lãnh đạo phát triển kinh tế đất nước không thể bỏ qua sự tác động của những nhân tố này Bởi vì, ngày nay giải quyết các vấn đề kinh tế chỉ đạt hiệu quả cao khi gắn nó với những vấn đề xã hội và nhân văn

2.2.4 Đặc điểm chính trị

Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo kinh tế trong

thời kỳ mới, là nhân tố quan trọng quyết định thắng lợi của cách mạng nước ta

Vì vậy, ở nước ta không có và không thể có cơ sở khách quan để hình thành đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập Chế độ một đảng lãnh đạo, nhất nguyên chính trị đến nay vẫn là thế mạnh và là nhân tố tác động thuận lợi nhất đối với

sự lãnh đạo lĩnh vực kinh tế của Đảng ta Đây là đặc điểm chính trị bao trùm nhất của đất nước, tác động mạnh mẽ trực tiếp đến sự lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực kinh tế Song, cũng cần đề phòng những nguy cơ nảy sinh từ đặc điểm này như: độc đoán, chuyên quyền, mất dân chủ, quyết định những chủ trương, chính sách kinh tế chủ quan, duy ý chí

Thứ hai, Đảng ta là một đảng có truyền thống đoàn kết, thống nhất, vững vàng

về chính trị, tư tưởng và tổ chức Đây là đặc điểm chính trị quan trọng của đất nước khi bước vào thời kỳ mới, là điều kiện thuận lợi để quy tụ phát huy trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân vào nhiệm vụ phát triển kinh tế đất nước Tuy nhiên, ở một số nơi vẫn còn tồn tại tình trạng cục bộ, bè cánh mất đoàn kết đã ảnh hưởng đến sự lãnh đạo kinh tế của Đảng

Thứ ba, lợi ích của Đảng, lợi ích của nhân dân lao động và dân tộc cơ bản là

thống nhất Sự thống nhất này là nhân tố chính trị tạo nên sức mạnh toàn dân ủng hộ sự lãnh đạo phát triển kinh tế làm hưng thịnh đất nước Song, trong điều kiện cơ chế thị trường, mở rộng quan hệ đối ngoại hiện nay, bên cạnh những mặt tích cực đang bộc lộ những tiêu cực về tư tưởng, chính trị, phẩm chất đạo đức và lối sống trong một bộ phận cán bộ, đảng viên

2.3 Tính chất phức tạp và đa dạng trong lãnh đạo nền kinh tế

Trang 15

15 Nền kinh tế quốc dân là một thể thống nhất với nhiều bộ phận cấu thành đan xen vào nhau, nhiều lực lượng tham gia và vận hành, bị chi phối bởi nhiều loại quy luật khác nhau Nó phụ thuộc và chịu sự tác động của nhiều nhân tố như: điều kiện tự nhiên, đời sống kinh tế và chính trị của thế giới, của

khu vực

Có những nguồn lực lúc này là đối thủ, lúc khác lại là trợ thủ, là đồng minh, có lúc lại trở thành gánh nặng cho nền kinh tế và sự quản lý Điều này được phản ánh trong đời sống xã hội, nhất là đời sống kinh tế đang vận động rất phức tạp và phong phúc, xen lẫn thời cơ và nguy cơ, những tình huống bất ngờ Nó đòi hỏi người lãnh đạo phải nắm bắt, nhận thức, dự báo và làm chủ được tình hình Vì thế, Đảng lãnh đạo kinh tế cần phải có đường lối kinh tế đúng, đồng thời phải cụ thể hoá, tổ chức thực hiện thắng lợi đường lối đó và sẵn sàng điều chỉnh, bổ sung các chủ trương, chính sách của mình cho phù hợp với thực tiễn

Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội còn tồn tại nhiều thành phần kinh tế Việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhằm khai thác tốt mọi nguồn lực kinh tế trong nước và hợp tác với nước ngoài Đây là con đường duy nhất đúng đắn đối với các nước tiến lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa Tuy nhiên, lãnh đạo một nền kinh tế như thế

là một sự thử thách lớn đối với Đảng Ở đây không chỉ khắc phục quan điểm, lập trường giai cấp thiển cận, hẹp hòi và lối tư duy giản đơn, suy nghĩa mà trong đường lối kinh tế của mình, Đảng còn tính đến lợi ích của tất cả các giai cấp, các tầng lớp Các lợi ích ấy về cơ bản là thống nhất, phù hợp với nhau, nhưng cũng còn một số mặt mâu thuẫn, thậm chí đối lập nhau Với bản chất giai cấp của mình, Đảng phải chăm lo cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, đồng thời cần tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế khác, kể cả kinh tế tư bản tư nhân phát triển, thúc đẩy toàn bộ lực lượng sản xuất xã hội phát triển, làm ra nhiều của cải vật chất và lãnh đạo sự phân phối của cải vật chất cho phù hợp với các tầng lớp nhân dân Nền sản

Trang 16

16 xuất xã hội đình đốn, ngưng đọng thì tất cả các giai cấp, các tầng lớp nhân dân đều bị ảnh hưởng

Do đó, đòi hỏi Đảng, một mặt lãnh đạo việc củng cố kinh tế Nhà nước; mặt khác, tạo điều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển Trong lĩnh vực kinh tế, Đảng cần huy động mọi giai cấp, mọi tầng lớp tham gia vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Đây là điểm khác lớn với lĩnh vực quốc phòng và an ninh

Đảng quyết định những vấn đề lớn của nền kinh tế như mục tiêu, chiến lược, con đường và bước đi của nền kinh tế, đồng thời, Đảng có quan điểm chỉ đạo việc giải quyết các nhu cầu thường ngày của các tầng lớp nhân dân Đảng

không thể thoái thác trách nhiệm, chỉ lo việc lớn mà không lo các việc nhỏ

Muốn thực hiện được những vấn đề nêu trên phải xây dựng cơ sở lý luận của việc phát triển kinh tế đất nước Bởi lẽ, bất kỳ một quốc gia nào muốn kinh

tế phát triển, quốc gia hưng thịnh đều phải dựa trên những học thuyết phát triển kinh tế nhất định

2.4 Đảng thực hiện sự lãnh đạo kinh tế chủ yếu thông qua Nhà nước

Đây là đặc điểm mới, chỉ có được sau khi Đảng có chính quyền lãnh đạo xây dựng đất nước Đảng không trực tiếp thực hành công việc tổ chức, quản lý, điều hành như đối với các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, đối ngoại

- Đảng lãnh đạo hoạt động của toàn bộ bộ máy Nhà nước ở các cấp, các ngành Điều này có nghĩa là các hoạt động ấy phải phục tùng đường lối chung của Đảng, sự chỉ đạo của cấp uỷ đảng cấp trên và sự lãnh đạo của tổ chức đảng cùng cấp

- Ngoài Nhà nước là chủ yếu, trong lãnh đạo kinh tế, Đảng còn thông qua các đoàn thể chính trị - xã hội và các tổ chức quần chúng Đặc điểm này cũng nói lên sự khác biệt ít nhiều so với sự lãnh đạo của Đảng đối với các lĩnh

vực văn hoá, văn học - nghệ thuật

Đảng lãnh đạo kinh tế chủ yếu thông qua Nhà nước là một thuận lợi lớn, nhưng cũng phát sinh nhiều vấn đề phức tạp Tình trạng thường gặp là nhiều cấp uỷ đảng “khoán trắng” cho chính quyền Nhà nước các cấp và buông lỏng

Trang 17

17

sự lãnh đạo kinh tế, hoặc ngược lại, nhiều cấp uỷ đảng bao biện làm thay chức năng quản lý kinh tế của chính quyền Cái gốc của vấn đề là phải phân định chức năng giữa lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước Trong lĩnh vực kinh tế rất khó phân biệt rạch ròi đâu là công việc của Đảng, đâu là phần việc của Nhà nước, chưa kể trên thực tế, các vị trí chủ chốt trong bộ máy nhà nước đều do cán bộ đảng và đảng viên nắm giữ Đảng và nhà nước đều có mục đích chung là lo làm sao để kinh tế phát triển, làm ra nhiều của cải, tăng cường

cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội, cải thiện đời sống nhân dân Nhà nước được nhân dân trao quyền quản lý nhà nước đối với nền kinh tế, còn Đảng được nhân dân giao phó cho quyền lãnh đạo toàn bộ sự phát triển của nền kinh

tế Hai chủ thể cùng tác động vào một đối tượng chung nên rất dễ trùng lặp, lẫn lộn chức năng, nhiệm vụ, nhất là ở cấp cơ sở Vì vậy đối với Đảng cầm quyền, ngoài việc tránh không để phạm sai lầm về đường lối, phấn đấu nâng cao trình

độ trí tuệ để đủ sức lãnh đạo kinh tế còn cần tìm mọi cách giải quyết tốt mối quan hệ giữa Đảng và Nhà nước trong lãnh đạo, quản lý nền kinh tế, tránh sự bao biện, lấn sân hoặc buông lơi sự lãnh đạo

III CÁC NGUYÊN TẮC TRONG LÃNH ĐẠO KINH TẾ CỦA ĐẢNG

3.1 Nguyên tắc đảm bảo sự thống nhất biện chứng giữa chính trị và kinh tế

Trong điều kiện Đảng lãnh đạo công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội thì chính trị và kinh tế phải được kết hợp thống nhất, chặt chẽ Sự thống nhất này mang tính nguyên tắc, nó trở thành thước đo chủ yếu đối với công tác lãnh đạo kinh tế Điều đó có nghĩa là, hoạt động lãnh đạo kinh tế không được sa vào

"chủ nghĩa kinh tế tầm thường và thực dụng, hoặc chỉ nhấn mạnh một chiều yêu cầu xã hội - chính trị chung chung, không tính đến lợi ích kinh tế của cá nhân, tầng lớp và giai cấp"

Làm thế nào để thực hiện được sự thống nhất về chính trị và kinh tế? Theo Lênin, chỉ có nắm vững phép biện chứng giữa chính trị và kinh tế thì mới

có được sự thống nhất giữa hai mặt trong hoạt động lãnh đạo Phép biện chứng

Trang 18

18

đó là: "Chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế chính trị không thể

không chiếm địa vị hàng đầu so với kinh tế”1

- Chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế Chính sách ở đây không phải do Đảng tuỳ tiện định ra, Lê nin đã vạch rõ thêm: "Chính trị tức là kinh tế

cô đọng lại" Người cho rằng: gốc rễ sâu xa của mọi chính sách đối nội, đối ngoại là lợi ích kinh tế, địa vị kinh tế của những giai cấp làm chủ xã hội

- Như vậy, chính trị ở đây là phản ánh địa vị kinh tế, lợi ích kinh tế của giai cấp công nhân, nông dân, trí thức và những người lao động khác, phản ánh mối quan hệ của các lợi ích kinh tế trước mắt và lâu dài giữa các thành phân kinh tế, các giai cấp và tầng lớp xã hội một cách hợp lý Chính trị được thể hiện trong đường lối, chính sách kinh tế đúng, trong công tác giáo dục và hoạt động lý luận của Đảng, trong hoạt động tổ chức, quản lý của chính quyền, cuối cùng phải thể hiện trong sự trưởng thành về ý thức làm chủ về quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động

- Chính trị phải chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế Khi chính trị thể hiện đúng yêu cầu, quy định của kinh tế thì nó trở thành quan điểm chỉ đạo trong lãnh đạo, quản lý kinh tế Lênin đã căn dặn rằng: không có lập trường chính trị đúng thì không thể lãnh đạo thành công sự nghiệp xây dựng kinh tế, rằng chúng ta mong muốn "làm chính trị ít hơn và làm kinh tế nhiều hơn Nhưng cũng dễ hiểu rằng muốn cho lòng mong muốn thành sự thật thì cần phải không có những nguy cơ về chính trị và những sai lầm chính trị"1

Vận dụng nguyên tắc thống nhất biện chứng giữa chính trị và kinh tế vào hoạt động lãnh đạo kinh tế phải đặc biệt chú ý những khía cạnh sau đây:

- Các chính sách, chủ trương kinh tế như: thuế, giá cá, tiền lương, v.v phải được luận chứng về mặt kinh tế và về mặt chính trị trong sự thống nhất biện chứng Cần khắc phục những sai lầm tách rời kinh tế với chính trị, đề phòng ảnh hưởng của chủ nghĩa nghiệp vụ, chủ nghĩa kỹ trị trong hoạt động lãnh đạo kinh tế

1 V.I.Lênin: Toàn tập, t.2, Nxb Tiến bộ, Matxcơva, 1977, tr.394

1 Sđd, tr.352

Trang 19

19

- Giải quyết đúng đắn lợi ích trước mắt với lợi ích lâu dài, lợi ích

bộ phận với lợi ích toàn bộ, lợi ích toàn xã hội với lợi ích mỗi giai cấp, mỗi tầng lớp, mỗi cá nhân

- Giải quyết đúng việc sử dụng đầy đủ tiềm năng các thành phần kinh tế với phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế xã hội chủ nghĩa

- Các chính sách kinh tế luôn luôn phải đi đôi với chính sách xã hội, tạo

ra động lực vật chất gắn với động lực tinh thần Phát triển kinh tế gắn với tiến

bộ và công bằng xã hội

- Đánh giá thành công hay sai lầm trong công tác kinh tế phải phân tích nguyên nhân về chính trị, đồng thời phải rút ra bài học về mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế

3.2 Nguyên tắc bảo đảm sự thống nhất biện chứng giữa tập trung

và dân chủ

Nguyên tắc này phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế hàng hoá và phù hợp với bản chất của Đảng Tập trung dân chủ khác với tập trung quan liêu, với tự phát vô chính phủ Vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo kinh tế cũng có nghĩa đồng thời phải đấu tranh triệt để với xu hướng tập trung quan liêu và xu hướng vô chính phủ Chỉ có vậy, mới xác lập được nguyên tắc lãnh đạo kinh tế của Đảng

Vận dụng nguyên tắc này vào hoạt động lãnh đạo kinh tế cần thực hiện đầy đủ các yêu cầu sau đây:

- Xây dựng nền nếp lãnh đạo tập thể và cá nhân phụ trách trong các cấp uỷ Khắc phục triệt để căn bệnh "lãnh đạo tập thể" một cách hình thức, chỉ nhất trí bề ngoài; cũng như sự phân công cá nhân phụ trách nhưng không đi đôi với quyền hạn giải quyết vấn đề và chịu trách nhiệm trước cấp uỷ, còn cấp uỷ thì không chịu trách nhiệm trước đảng bộ

- Muốn vận dụng nguyên tắc tập trung dân chủ cần phải có quy hoạch, hình thành cơ cấu tái sản xuất mở rộng của kinh tế hàng hoá, trước hết trên phạm vi lãnh thổ, không theo cấp quản lý hành chính Cần lưu ý rằng, nếu trên

cơ sở tổ chức phân tán, chia cắt và sự can thiệp quá sâu của nhà nước vào hoạt

Trang 20

20 động kinh tế thì không thể vận dụng đúng nguyên tắc tập trung dân chủ trong lãnh đạo kinh tế

- Ngoài ra, cần lựa chọn những hình thức kinh tế phù hợp với kinh tế hàng hoá nhằm sử dụng có hiệu quả tất cả các thành phần kinh tế hiện có và

phát huy trong thực tế vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế quốc doanh

3.3 Nguyên tắc bảo đảm sự phù hợp giữa chính sách kinh tế đối nội

và chính sách kinh tế đối ngoại

Kết hợp đúng đắn nhân tố dân tộc và nhân tố quốc tế đã trở thành tính quy luật trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của tất cả các nước

Trong điều kiện hiện nay, khi cách mạng khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ đẩy nhanh quá trình phát triển, khi quá trình liên kết kinh tế và phân công lao động quốc tế đã phát triển cao, chính sách kinh tế đối ngoại trở thành một trong những nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng kinh tế Những chính sách kinh tế đối ngoại chỉ có hiệu quả khi gắn liền với chính sách kinh tế đối nội thành một hệ thống, nhằm khai thác sức mạnh tổng hợp trong và ngoài nước để thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội đã được vạch

ra một cách có căn cứ

Sự kết hợp chính sách kinh tế đối nội và đối ngoại được thực hiện ngay

từ khi soạn thảo đường lối, chính sách kinh tế, cho đến toàn bộ các khâu của quá trình thực hiện như: Vấn đề quy hoạch cơ cấu kinh tế, vấn đề tổ chức nghiên cứu thông tin, đổi mới và nâng cao trình độ công tác kinh tế đối ngoại

và hệ thống ngoại giao của nước ta, vấn đề cơ chế lãnh đạo và quản lý trên các lĩnh vực ấy

3.4 Nguyên tắc bảo đảm sự phù hợp giữa chính sách kinh tế với chính sách cán bộ

Những kinh nghiệm thành công và thất bại của Đảng ta trong lãnh đạo kinh tế nhiều năm qua đều chứng minh mối quan hệ hữu cơ giữa chính sách kinh tế với chính sách cán bộ Nếu "chính trị tức là kinh tế được cô đọng lại" thì "không thể tách những vấn đề tổ chức khỏi những vấn đề chính trị được"1

1 Sđd, t.45, tr.147

Trang 21

21 Nói cụ thể hơn, nếu chính trị phản ánh những lợi ích kinh tế của giai cấp nhất định, thì cán bộ lãnh đạo kinh tế là đại biểu cho giai cấp đó Trong thời kỳ hiện nay, đòi hỏi ở người cán bộ lãnh đạo quản lý kinh tế hai tiêu chuẩn cơ bản: Trung thực và có tài Trung thực là phẩm chất của nhà khoa học và của nhà chính trị của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Phẩm chất đó là cơ sở đầu tiên để cán bộ lãnh đạo nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan, để họ biết làm việc với quần chúng lao động và đội ngũ trí thức, để phân biệt họ với người cơ hội Lãnh đạo kinh tế đòi hỏi tính khoa học

và tính nghệ thuật sáng tạo Đó là tài năng của người cán bộ về tầm nhìn trong giải quyết các vấn đề kinh tế đối nội và đối ngoại Cán bộ ở cấp lãnh đạo cao thì tài năng chủ yếu thể hiện ở giải quyết tốt những vấn đề chiến lược Còn cán

bộ cơ sở và cấp sát cơ sở thì tài năng chủ yếu thể hiện ở giải quyết những vấn

đề chiến thuật hàng ngày Bố trí sai cán bộ chiến lược và cán bộ chiến thuật là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến thất bại trong lãnh đạo kinh tế Lựa chọn, đào tạo và bố trí đúng những cán bộ trung thực, có tài năng trở thành yêu cầu số một của lãnh đạo kinh tế trong điều kiện đổi mới hiện nay Đó là những cán bộ lãnh đạo có bản lĩnh, có niềm tin vững chắc ở lý tưởng, nhạy cảm với cái mới, hiểu rõ nguyện vọng của quần chúng, có tiềm năng tư duy lý luận và chính trị

có năng khiếu làm công tác lãnh đạo, không những có khả năng vận dụng sáng tạo đường lối của Đảng, mà còn đóng góp ngày càng nhiều cho sự hoàn thiện đường lối

3.5 Bảo đảm nguyên tắc Đảng không ngừng tự đổi mới trong tiến trình phát triển kinh tế- xã hội

Vai trò đội tiên phong của Đảng trong phát triển kinh tế - xã hội đòi hỏi không ngừng đổi mới và nâng cao trình độ tư duy, lý luận kinh tế và phương pháp lãnh đạo kinh tế, không ngừng đổi mới, hợp lý hoá về mặt tổ chức, chuyển hướng công tác cán bộ, chính sách cán bộ cho phù hợp với bước chuyển sang cơ chế thị trường theo hướng xã hội chủ nghĩa

Bản thân các tổ chức đảng và đảng viên phải luôn luôn phát huy được tác dụng tích cực của nhân tố chính trị đối với kinh tế, bảo đảm cho tiến bộ

Trang 22

22 kinh tế đi đôi với tiến bộ xã hội và sự phát triển cá nhân người lao động Đồng thời, sự phát triển xã hội và cá nhân trở thành động lực mạnh mẽ của tiến

bộ kinh tế với nhịp độ lớn, chất lượng cao

IV NỘI DUNG LÃNH ĐẠO KINH TẾ CỦA ĐẢNG

4.1 Soạn thảo và thông qua các quyết định kinh tế

Đây là công việc sáng tạo, thể hiện sự tập trung trí tuệ của Đảng, là nhân

tố quyết định trước tiên sự thành công và hoạt động lãnh đạo kinh tế và uy tín của Đảng Tiêu chuẩn để đánh giá đường lối, chính sách kinh tế của Đảng là tính khoa học và tính thực tiễn của nó, được kiểm tra bằng sự đồng thuận và hiệu quả kinh tế - xã hội

Để bảo đảm cho các quyết định của Đảng, đi sát với đòi hỏi của quy luật khách quan, cần chú ý cả hai khâu soạn thảo và thông qua

4.1.1 Yêu cầu của công tác soạn thảo quyết định

Công thức chung cho quá trình soạn thảo là:

Lực lượng tham gia công tác soạn thảo giúp cấp uỷ đảng là đội ngũ các nhà khoa học và các nhà quản lý, các cơ quan đảng và nhà nước có liên quan dưới sự lãnh đạo của cấp uỷ

Phương pháp soạn thảo đường lối, chính sách phải tuân theo những yêu cầu sau đây:

- Tổng kết thực tiễn, rút kinh nghiệm về lãnh đạo kinh tế của mỗi cấp uỷ đảng Đối với thực trạng kinh tế - xã hội với đường lối, chính sách đã đề ra, với nhiệm vụ đã phân công trong cấp uỷ để rút ra những bài học kinh nghiệm lãnh đạo

Lý luận và phương

pháp luận Mác –

Lênin

Thực tiễn chính trị - kinh tế, khoa học – kỹ thuật của thế giới

Đường lối, Cương lĩnh, Chiến lược, Mô hình, Chính sách Thực tiễn kinh tế - xã

hội của đất nước

Trang 23

23

- Phân tích các bài học kinh nghiệm của các đảng cầm quyền trong lãnh đạo kinh tế, có chú ý đến tính đặc thù và tính giai đoạn của các kinh nghiệm

đó Sự phân tích này nhằm học tập có phê phán kinh nghiệm quốc tế

- Đưa ra những kết luận về những biến đổi trên thế giới và các khu vực

về chính trị, kinh tế, khoa học - kỹ thuật Dựa trên những kết luận đó mà đánh giá chính sách kinh tế đối ngoại, vạch ra những yêu cầu mới của chính sách đó

- Ngoài tổng kết chung về đường lối và chính sách, cần thiết phải tổng kết sâu sắc các chính sách trọng điểm của Đảng trong từng thời kỳ

Quan điểm chỉ đạo đối với quá trình soạn thảo đường lối, chính sách, không phải để khẳng định ưu điểm, tính chất đúng đắn của đường lối, chính sách đã qua, không phải nhằm phê phán cơ chế và cơ quan lãnh đạo, mà điều chủ yếu là đảng cần tìm tòi sự thật, cần tiếp cận chân lý khách quan, để luôn luôn giữ vững vai trò lãnh đạo Do đó, phương pháp soạn thảo phải xem xét toàn diện cả yêu cầu của quy luật phổ biến với tính chất đặc thù của dân tộc, của giai đoạn; xem xét yêu cầu chung của nền kinh tế quốc dân với yêu cầu của địa phương, ngành và vùng lãnh thổ xem xét lợi ích của các tầng lớp, các giai cấp trong điều kiện cụ thể; xem xét các vấn đề chiến lược, chiến thuật và sách lược Cách xem xét toàn diện đó nhằm tránh những mâu thuẫn trong đường lối, chính sách, trong tổ chức thực hiện sau này

4.1.2 Những yêu cầu của quá trình thông qua quyết định

Giai đoạn thông qua các văn bản là giai đoạn tiếp tục hoàn thiện việc soạn thảo và ra quyết định Do đó, đây là quá trình phát huy dân chủ rộng rãi đi đôi với yêu cầu tập trung trí tuệ Muốn vậy, cần chuẩn bị về mặt thông tin, thảo luận và tranh luận qua nhiều nấc thang cần thiết Điều đáng chú ý là những người sẽ tham gia biểu quyết các văn bản đó phải đích thân tham gia vào quá trình thảo luận, không thể chỉ nghe phản ánh tính hình, vì chính những người

đó phải nâng cao trình độ lý luận và nhận thức thực tiễn qua đợt thảo luận để đi đến nhất trí cao khi thông qua và thực hiện quyết định

4.2 Tổ chức thực hiện quyết định

Trang 24

24

Sự đồng thuận trong tổ chức thực hiện quyết định là một điều kiện quyết định thắng lợi của đường lối, chính sách Sự nhất trí này tạo ra sức chiến đấu của tổ chức đảng và niềm tin trong quần chúng Do đó, sự nhất trí về mục tiêu và quan điểm chiến lược của những người cộng sản không gạt bỏ tính sáng tạo trong vận dụng và phát hiện những khía cạnh chưa hoàn thiện của đường lối, chính sách khi đi vào cuộc sống muôn màu, muôn vẻ Công tác tuyên truyền, giáo dục bảo đảm sự nhất trí không những phải làm rõ căn cứ khoa học

và thực tiễn của đường lối, chính sách mà còn phải kịp thời thông tin những kinh nghiệm vận dụng, sự sáng tạo của cơ sở và địa phương, phê phán ảnh hưởng của chủ nghĩa giáo điều, chủ nghĩa kinh nghiệm, bệnh quan liêu, giấy tờ

cũng như thái độ tự do, tuỳ tiện trong quá trình tổ chức thực hiện

Do yêu cầu đó, lực lượng bảo đảm việc tổ chức thực hiện phải có trình

độ nghiên cứu và lãnh đạo ngang tầm với yêu cầu của đường lối, chính sách và trình độ người thực hiện chính sách Chỉ có như vậy mới tránh được hình thức, chủ nghĩa nghiệp vụ hẹp hòi, quan liêu trong tổ chức thực hiện

4.3 Tổng kết kinh nghiệm lãnh đạo kinh tế

Tổng kết kinh nghiệm để không ngừng nâng cao trình độ lãnh đạo kinh

tế của Đảng là một nhu cầu tất yếu của cách mạng xã hội chủ nghĩa, của sự phát triển của bản thân Đảng Trong điều kiện đổi mới, cải cách và trong điều kiện quốc tế hiện nay, vấn đề tổng kết kinh nghiệm, tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của các đảng anh em càng trở nên đặc biệt bức thiết đối với các dạng hoạt động trong điều kiện đất nước còn nghèo nàn, lạc hậu

Mục đích tổng kết là giúp Đảng ta trưởng thành trong việc nhận thức và vận dụng các quy luật khách quan để đảng hoạt động tự giác hơn, tránh lặp lại sai lầm đã qua, gây thiệt hại cho quần chúng Do đó, công tác tổng kết phải mang tính đảng và tính khoa học nghiêm túc, tránh thái độ coi thường tổng kết, coi thường né tránh, che giấu sai lầm

4.4 Đào tạo, sử dụng và kiểm tra đội ngũ cán bộ lãnh đạo kinh tế

Lãnh đạo kinh tế là một trong những chức năng quan trọng nhất của Đảng cộng sản Thắng lợi của Đảng trên lĩnh vực này phụ thuộc vào đội ngũ

Trang 25

25 cán bộ của Đảng được phân công lãnh đạo, quản lý kinh tế Do đó, Đảng phải có kế hoạch đào tạo, bố trí đúng, thực hiện tốt kiểm tra và không ngừng bồi dưỡng, đổi mới kiến thức và cơ cấu đội ngũ đó Khi hoạt động kinh tế xấu

đi, khi các vấn đề xã hội cấp bách tăng lên, thì vấn đề đầu tiên của Đảng là soát xét lại đường lối, chính sách kinh tế và đội ngũ cán bộ lãnh đạo kinh tế, không thể chỉ xem xét một mặt trong hai mặt đó Ngay cả khi Đảng đã đưa ra được chính sách kinh tế phù hợp, nhưng việc đổi mới cán bộ lãnh đạo lại chỉ làm nửa vời, hình thức thì cũng không thể cải thiện được tình hình kinh tế

Trước mắt, phải đổi mới trên tất cả các khâu của hệ thống đào tạo, bố trí,

sử dụng và kiểm tra, đánh giá cán bộ Trong đào tạo cán bộ lãnh đạo kinh tế,

có tình trạng chưa phân biệt rõ cán bộ quản lý kinh tế khác các cán bộ chính trị, chưa coi trọng tư duy lý luận và tư duy chính trị, chưa phân biệt rõ đào tạo cán bộ tầm chiến lược và cán bộ tầm chiến thuật, giữa các cấp trong mỗi cấp

Trong bố trí cán bộ lãnh đạo kinh tế, còn lẫn lộn cán bộ lãnh đạo kinh tế với cán bộ chính trị, cán bộ kỹ thuật với cán bộ hành chính Thậm chí, vẫn còn quan niệm cứ lương cao, kinh qua cấp uỷ cao, thì phải bố trí ở cấp lãnh đạo kinh tế cao

4.5 Gắn liền hoạt động lãnh đạo kinh tế với hoạt động lãnh đạo trong sự nghiệp phát triển giáo dục, văn hoá, khoa học và công nghệ

Trong thời đại cách mạng công nghệ, sự phát triển kinh tế, xã hội ngày càng dựa nhiều vào điều kiện tiên quyết là trình độ phát triển giáo dục, văn hoá, khoa học và công nghệ Sự phát triển này tạo ra hai nhân tố cơ bản cho sự phát triển kinh tế và xã hội: phát triển đội ngũ khoa học và kỹ thuật, nâng cao dân trí Đây là hai nhân tố cơ bản bảo đảm cho nền kinh tế đạt tới tốc độ lớn và chất lượng cao Nhờ đó, không ngừng rút ngắn khoảng cách phát triển giữa dân tộc mình với thế giới văn minh

Đảng cần sớm có chính sách tạo ra sự thúc đẩy lẫn nhau giữa sự nghiệp kinh tế và sự nghiệp giáo dục, văn hoá, khoa học và công nghệ Khắc phục trong thực tế sự tách rời nhau, làm yếu nhau giữa hai sự nghiệp đó Trong

Trang 26

26 chính sách đầu tư cần tính cả đầu tư cơ bản về giáo dục và khoa học, như

bộ phận cấu thành của đầu tư phát triển kinh tế - xã hội

V PHƯƠNG THỨC LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG ĐỐI VỚI KINH TẾ

5.1 Lãnh đạo kinh tế của Đảng trước hết thông qua Nhà nước, xây dựng

nền kinh tế thị trường cần có nhà nước pháp quyền Để nền kinh tế thị trường mang định hướng xã hội chủ nghĩa thì nhà nước pháp quyền phải mang bản chất nhân dân, nhà nước của dân, do dân và vì dân

Lãnh đạo để nhà nước biết quản lý kinh tế là phương thức lãnh đạo kinh

tế quan trọng nhất của Đảng Bởi đường lối kinh tế đúng đắn nhưng bộ máy quản lý yếu kém thì mục tiêu của Đảng sẽ không đạt được Do đó, đổi mới và nâng cao hiệu lực quản lý kinh tế của Nhà nước là công việc hết sức quan trọng trong lãnh đạo kinh tế của Đảng

Đảng lãnh đạo Nhà nước xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ trên cơ sở phát huy nội lực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Nhà nước thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; cơ cấu kinh tế nhiều thành phần với các hình thức tổ chức sản xuất, kinh doanh đa dạng dựa trên chế độ

sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân, trong đó sở hữu toàn dân và

sở hữu tập thể là nền tảng

Đảng lãnh đạo để chính sách kinh tế của Nhà nước đảm bảo mục đích làm cho dân giàu, nước mạnh đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và tinh thần của nhân dân trên cơ sở phát huy mọi năng lực sản xuất, mọi tiềm năng của các thành phần kinh tế, thúc đẩy cơ sở vật chất - kỹ thuật, mở rộng hợp tác kinh tế, khoa học, kỹ thuật và giao lưu với thị trường thế giới, thúc đẩy

sự hình thành, phát triển và từng bước hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa

5.2 Lãnh đạo kinh tế bằng việc sử dụng phương thức kiểm tra các hoạt

động kinh tế để đánh giá đúng thực trạng nền kinh tế, đánh giá đúng các tổ chức và cán bộ, từ đó đưa ra những giải pháp đúng Kiểm tra để ngăn chặn

Trang 27

27 chệch hướng trong hoạt động kinh tế, ngăn chặn sự thoái hoá của bộ máy và cán bộ

Kiểm tra quá trình tổ chức thực hiện quyết định của bộ máy nhà nước

Sự lãnh đạo kinh tế của Đảng và quản lý kinh tế của Nhà nước là sự tác động của kiến trúc thượng tầng đối với sự hình thành và phát triển của cơ sở kinh tế Vai trò lãnh đạo và quản lý kinh tế của Nhà nước phải tạo ra sự tác động, thúc đẩy kinh tế phát triển đúng hướng Do đó, phải có sự phân định rõ chức năng

cơ quan đảng với chức năng cơ quan nhà nước

Trước hết, phải tổ chức bộ máy chính quyền thành cơ quan thật sự dân

chủ và có quyền lực Đó là nhà nước pháp chế của nhân dân, là kênh chủ yếu của mối liên hệ hai chiều giữa đảng lãnh đạo với nhân dân, với các giai cấp và các tầng lớp xã hội

Hai là, không ngừng cải tiến lề lối và phương pháp liên hệ giữa cơ quan

đảng với cơ quan chính quyền (trong các hoạt động lập pháp, hành pháp và quản lý hàng ngày) Các hoạt động quản lý kinh tế của nhà nước phải phân định rõ với hoạt động quản lý sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế

Ba là, cơ quan đảng thường xuyên tổ chức sự kiểm tra đối với hoạt động

quản lý kinh tế của chính quyền Sự kiểm tra của Đảng phải phối hợp chặt chẽ với sự kiểm tra của nhân dân, của các tổ chức quần chúng, nhằm bảo đảm cho chính quyền luôn luôn đổi mới, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế, tránh được nguy cơ quan liêu, thoái hoá

5.3 Lãnh đạo kinh tế của Đảng đầu tư vào khâu trung tâm là vấn đề

nhân lực thông qua chiến lược đào tạo đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ, đội ngũ cán bộ quản lý kinh tế và đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý vĩ mô, bởi

họ có vai trò vô cùng quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến việc xây dựng đường lối, chính sách và quá trình tổ chức thực hiện đường lối, chính sách kinh

tế của Đảng và nhà nước, đồng thời họ cũng có vai trò mang tính quyết định trong việc tổ chức, điều hành kinh tế theo nguyên tắc tập trung dân chủ

Trang 28

28

PHẦN 2: QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ

I TỔNG QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ

1.1 Khái niệm

Quản lý Nhà nước đối với kinh tế là sự quản lý của Nhà nước đối với toàn

bộ nền kinh tế quốc dân bằng quyền lực nhà nước thông qua cơ chế quản lý kinh

tế nhằm đảm bảo tốc độ tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân

Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước đối với kinh tế được thực hiện thông

qua cả ba loại cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của Nhà nước

Theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước đối với kinh tế được hiểu như hoạt

động quản lý có tính chất nhà nước nhằm điều hành nền kinh tế, được thực hiện bởi cơ quan hành pháp Theo nghĩa này, quản lý nhà nước đối với kinh tế được gọi là quản lý hành chính - kinh tế

1.2 Đặc điểm của quản lý nhà nước đối với kinh tế

1.2.1 quản lý nhà nước đối với kinh tế chủ yếu là quản lý vĩ mô nền kinh tế

Nhiệm vụ chủ yếu quản lý vĩ mô nền kinh tế là đảm bảo cân đối cơ bản trên bình diện tổng thể nền kinh tế, tạo ra môi trường tốt cho các chủ thể kinh

tế trên thị trường đặc biệt là doanh nghiệp, dẫn dắt nền kinh tế quốc dân phát triển liên tục với tốc độ cao và lành mạnh

Để Nhà nước thực sự thực hiện chức năng quản lý vĩ mô nền kinh tế, trong cơ chế quản lý kinh tế mới cần phải có những thay đổi:

- Chuyển từ chỗ chủ yếu điều tiết kinh tế Nhà nước sang điều tiết toàn

bộ nền kinh tế quốc dân

- Chuyển từ chỗ chủ yếu là phân phối vốn đầu tư, phê duyệt các dự án, định ra các chỉ tiêu sang xây dựng các quy hoạch, các chiến lược phát triển, các chính sách lớn quan trọng

- Chuyển từ chỗ chủ yếu là quản lý kế hoạch đầu tư, sản xuất sang điều tiết toàn bộ quá trình vận hành nền kinh tế

- Chuyển từ chỗ lấy quản lý hình thái hiện vật là chính sang quản lý dưới hình thái giá trị là chính

Trang 29

vi mô

1.2.2 Quản lý nhà nước đối với kinh tế mang tính quyền lực nhà nước

Quản lý nhà nước đối với kinh tế là quản lý của Nhà nước đối với hệ thống kinh tế quốc dân, của các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, của chính quyền đối với nền kinh tế quốc dân Quản lý nhà nước đối với kinh tế mang tính quyền lực nhà nước có nghĩa là mọi mặt quản lý này lệ thuộc vào chính trị, xuất phát từ chỗ Nhà nước là bộ phận trung tâm trong hệ thống chính trị xã hội, là công cụ đặc biệt để thực hiện quyền lực chính trị (lập pháp, hành pháp và tư pháp) của giai cấp thống trị đối với giai cấp khác và xã hội Mặt khác, quản lý này mang tính pháp quyền và thực hiện theo nguyên tắc pháp chế đối với xã hội Quản lý nhà nước về kinh tế là một lĩnh vực quan trọng nhất của quản lý nhà nước, nó càng cần được quản lý bằng pháp luật

Dưới chế độ chủ nghĩa xã hội, quyền lực nhà nước không chỉ là quyền lực chính trị mà còn là quyền lực kinh tế, Nhà nước xã hội chủ nghĩa là chủ sở hữu lớn nhất trong xã hội Chính đặc điểm này của Nhà nước dẫn đến tình trạng lẫn lộn giữa chức năng quản lý nhà nước về kinh tế và chức năng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp, giữa chức năng quản lý toàn bộ nền kinh tế quốc dân với chức năng quản lý khu vực kinh tế nhà nước

1 2.3 Quản lý Nhà nước đối với kinh tế nhằm mục tiêu phát triển lấy hiệu quả kinh tế - xã hội là chính

Xuất phát từ hai đặc điểm trên, mục tiêu đặt ra trong quản lý nhà nước đối với kinh tế là mục tiêu kinh tế - xã hội, mục tiêu này được thể hiện ở mục tiêu tăng trưởng và phát triển nền kinh tế quốc dân Hiệu quả kinh tế xã hội được xem như là tiêu chuẩn để đạt được mục tiêu trên Hiệu quả kinh tế - xã

Trang 30

30

hội được hiểu theo hai nội dung Thứ nhất, là hiệu quả kinh tế xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế quốc dân Theo nội dung này, lỗ hoặc lãi của một

cơ sở, một ngành chưa phải là lỗ hoặc lãi của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Thứ hai, là hiệu quả tổng hợp không chỉ là hiệu quả kinh tế mà còn là hiệu quả

chính trị, xã hội văn hoá và môi trường

1.3 Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp là khâu cơ bản trong quản lý Nhà nước về kinh tế

Nói theo nghĩa đặc điểm của quản lý nhà nước về kinh tế thì quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp là quản lý vĩ mô, quản lý bằng quyền lực nhà nước và quản lý nhằm mục tiêu kinh tế - xã hội của quốc gia Quản lý nhà nước đối với các doanh nghiệp là khâu cơ bản trong quản lý nhà nước về kinh

tế xuất phát từ vai trò, vị trí của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, trong phát triển kinh tế đất nước Trong nền kinh tế tự nhiên, hình thức tổ chức sản xuất cơ bản là các cá thể nhỏ, không chuyên, khép kín, giữa chúng không

có phân công và liên hệ với nhau Trong nền kinh tế lớn xã hội hoá lấy sản xuất đại cơ khí và tiến bộ kỹ thuật làm trụ cột, đòi hỏi hiệu suất cao thích ứng với hình thức tổ chức sản xuất chuyên môn hoá, đơn vị cơ sở là doanh nghiệp Các doanh nghiệp vừa đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến là tế bào phân công xã hội, giữ quan hệ khăng khít với xã hội, là thể hữu cơ Hình thức chắp nối quan hệ giữa các doanh nghiệp, giữa sản xuất với tiêu dùng là thị trường gồm cả các doanh nghiệp thương nghiệp và các tổ chức tài chính tiền tệ làm chức năng lưu thông Ba loại doanh nghiệp nói trên gánh vác chức năng kinh tế

“phân công”, “liên hợp” hình thành một chỉnh thể vận hành kinh tế

Trong nền kinh tế thị trường XHCN, doanh nghiệp nhà nước đang đóng vai trò chủ đạo Bởi vậy, quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp là khâu cơ bản trong quản lý nhà nước về kinh tế mà nền tảng của nó là doanh nghiệp nhà nước

Nhận thức rõ khâu cơ bản quản lý nhà nước về kinh tế có ý nghĩa lý luận sâu sắc Một mặt, khẳng định được định hướng trong cải cách kinh tế, trong lĩnh vực mà Nhà nước XHCN còn quá ít kinh nghiệm, mặt khác khẳng định phải cải cách đồng bộ xoay quanh khâu trung tâm đó Vấn đề cuối cùng là

Trang 31

31 quản lý nhà nước có làm sống động các doanh nghiệp hay không, nơi sản sinh ra của cải cho xã hội

1.4 Bản chất của quản lý Nhà nước đối với kinh tế

Thực chất của quản lý kinh tế nói chung là quản lý con người, hoạt động kinh tế và thông qua con người để thực hiện mọi nhiệm vụ và đặt các mục tiêu đặt ra cho các hệ thống kinh tế Quản lý Nhà nước đối với kinh tế là một dạng của quản lý kinh tế, bởi vậy nó không thoát ly với con người Nếu kinh tế quốc dân là một hệ thống kinh tế xã hội, một hệ thống vận động bởi hoạt động của những con người trong sản xuất, trong phân phối, trong trao đổi và tiêu dùng của cải - nói theo quan điểm của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác thì mọi nhiệm vụ của nền kinh tế được thực hiện tại từng nơi làm việc Nơi đó, con người kết hợp với tư liệu lao động sản sinh ra mọi của cải cho xã hội Quản lý Nhà nước đối với kinh tế muốn tạo ra nhiều của cải phải biết khai thác nhân tố con người để làm sống lại và sử dụng các nguồn lực khác trong nền kinh tế

Quản lý Nhà nước về kinh tế thực chất không phân biệt đó là quản lý của Nhà nước tư sản hay Nhà nước xã hội chủ nghĩa Những kinh nghiệm thành công trong quản lý của các nước TBCN nếu gạt bỏ tính chất TBCN đều

là bài học quý giá cho các nước XHCN trong quản lý nền kinh tế của mình

Nếu thực chất của quản lý Nhà nước đối với kinh tế trả lời câu hỏi, làm gì? Ai làm? Làm ở đâu và làm như thế nào? Thì bản chất của quản lý Nhà nước đối với kinh tế trả lời câu hỏi làm cái đó cho ai và vì ai ?

Một điều cần chú ý rằng bản chất của quản lý kinh tế là phục vụ lợi ích của giai cấp thống trị, giai cấp nắm chính quyền (Nhà nước), giai cấp của những “ông chủ” sở hữu nhưng lợi ích của những ông chủ này có được hiện thực hay không phụ thuộc vào “ông chủ” đó giải quyết tốt những quan hệ lợi ích có liên quan đến hoạt động của hệ thống kinh tế đó như thế nào? Nhà nước

xã hội chủ nghĩa với chế độ công hữu và chính quyền nằm trong tay nhân dân không có nghĩa là Nhà nước đó sẽ đem lại cuộc sống tốt đẹp cho mọi người bằng bất kỳ cách quản lý nào của mình Điều đó còn phụ thuộc vào cách Nhà nước đó quản lý nền kinh tế như thế nào? tạo ra hay không tạo ra của cải cho

Trang 32

32

xã hội Nếu tạo ra của cải quá ít thì rơi vào tình trạng bần cùng nghèo đói Nếu vậy, tình trạng trong xã hội có ít người giàu và đại bộ phận người nghèo còn hay hơn Quản lý để có đại bộ phận người giàu, quản lý đó cần mang tính khoa học, tính nghệ thuật

1.5 Quản lý Nhà nước đối với kinh tế vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật

1.5.1 Tính khoa học

Tính khoa học của quản lý Nhà nước đối với kinh tế muốn nói các hoạt động quản lý của Nhà nước trên thực tế không thể phụ thuộc vào ý chí chủ quan hay sở thích của một cơ quan Nhà nước hay cá nhân nào? mà phải dựa vào các nguyên tắc, các phương pháp, xuất phát từ thực tiễn kiểm nghiệm Tức

là xuất phát từ các quy luật khách quan và điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn và điều kiện cụ thể Chủ nghĩa Mác đã cảnh tỉnh rằng:

Nhà nước xã hội chủ nghĩa chỉ có thể bị tan vỡ bởi hai căn bệnh, quan liêu và tham nhũng Quan liêu là phi thực tiễn, là bất chấp quy luật, là không khoa học

Chức năng quản lý kinh tế mà Nhà nước xã hội chủ nghĩa đảm nhiệm là hết sức mới mẻ Những sai lầm thất bại là khó tránh khỏi Vấn đề ở chỗ Nhà nước đó dám

nhìn vào sự thật để tìm ra các giải pháp tốt hơn cho thực tiễn hay không

Để quản lý của Nhà nước mang tính khoa học cần:

- Tích cực nhận thức các quy luật khách quan, tổng thể thực tiễn đề ra các nguyên lý cho lĩnh vực hoạt động của Nhà nước đối với kinh tế

- Tổng kết kinh nghiệm, những mô hình quản lý kinh tế của các Nhà nước trên thế giới

Áp dụng các phương pháp đo lường định lượng hiện đại, sự đánh giá khách quan các quá trình kinh tế

- Nghiên cứu đồng bộ các hoạt động của nền kinh tế, không chỉ giới hạn

ở mặt kinh tế - kỹ thuật mà còn phải suy tính đến các mặt xã hội và tâm lý Tức

là phải giải quyết tốt vấn đề thực chất và bản chất của quản lý quản lý Nhà nước đối với kinh tế

Trang 33

33 Sức mạnh của Nhà nước xã hội chủ nghĩa trong việc quản lý nền kinh tế quốc dân là sự kết hợp giữa quyền lực chính trị, kinh tế và quy luật khách quan

1.5.2 Tính nghệ thuật

Bên cạnh tính khoa học, quản lý Nhà nước đối với kinh tế còn mang tính nghệ thuật, tính nghệ thuật trong quản lý Nhà nước đối với kinh tế thể hiện ở việc xử lý linh hoạt các tình huống phong phú trong thực tiễn kinh tế trên cơ sở các nguyên lý khoa học

- Bản thân khoa học không thể đưa ra câu hỏi trả lời cho mọi tình huống trong hoạt động thực tiễn Nó chỉ có thể đưa ra các nguyên lý khoa học là cơ sở cho các hoạt động quản lý thực tế Còn vận dụng những nguyên lý này vào thực tiễn cuộc sống phụ thuộc nhiều vào kiến thức, ý chí và tài năng của các nhà quản lý kinh tế Kết quả của nghệ thuật quản lý là một quyết định hợp lý nhất được đưa ra hay một biện pháp tốt nhất được lựa chọn cho một tình huống

1.6 Chức năng quản lý của Nhà nước đối với kinh tế

Chức năng quản lý Nhà nước đối với kinh tế là nội dung hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý nền kinh tế, là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà Nhà nước phải thực hiện để quản lý nền kinh tế quốc dân Có ba cách tiếp cận chức năng quản lý Nhà nước đối với kinh tế

- Cách tiếp cận theo các giai đoạn của quá trình quản lý Theo cách này để quản lý nền kinh tế quốc dân Nhà nước phải thực hiện những chức năng sau đây:

Trang 34

34

+ Quản lý các doanh nghiệp Nhà nước

- Cách tiếp cận theo yếu tố và lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế quốc dân Chức năng quản lý Nhà nước đối với kinh tế bao gồm:

+ Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực tài chính tiền tệ,

+ Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực đối ngoại

+ Quản lý Nhà nước về tài nguyên và môi trường

+ Quản lý Nhà nước trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực

1.7 Nội dung của quản lý nhà nước đối với kinh tế

Cơ sở phương pháp luận của quản lý nhà nước đối với kinh tế

- Tổng quan quản lý nhà nước đối với kinh tế

- Vận dụng các quy luật trong quản lý nhà nước đối với kinh tế

- Các nguyên tắc quản lý nhà nước đối với kinh tế

- Các phương pháp quản lý nhà nước đối với kinh tế

Cơ sở tổ chức quản lý nhà nước đối với kinh tế

- Chức năng quản lý nhà nước theo giai đoạn tác động

- Chức năng quản lý nhà nước theo phương hướng tác động

- Chức năng quản lý theo lĩnh vực tác động

- Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước đối với kinh tế

- Cán bộ quản lý nhà nước đối với kinh tế

Quá trình quản lý

- Thông tin, quyết định trong quản lý nhà nước đối với kinh tế

- Phương tiện quản lý

Đổi mới quản lý nhà nước đối với kinh tế

- Hiệu quả và hiệu lực trong quản lý nhà nước đối với kinh tế

- Cải cách nền hành chính trong lĩnh vực quản lý kinh tế

II NGUYÊN TẮC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ

2.1 Khái niệm

Các nguyên tắc quản lý kinh tế của Nhà nước là các quy tắc lãnh đạo, những tiêu chuẩn hành vi mà các cơ quan quản lý Nhà nước phải tuân thủ trong quá trình quản lý kinh tế

Trang 35

Biểu hiện của tập trung: 1)Thông qua hệ thống kế hoạch, 2) Thông qua

hệ thống pháp luật và chính sách quản lý kinh tế, 3) Thực hiện chế độ một thủ trưởng ở tất cả các đơn vị, các cấp

Biểu hiện của dân chủ: Mở rộng phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của các cấp, phân biệt rõ chức năng quản lý kinh tế của Nhà nước và chức năng quản lý kinh doanh của các doanh nghiệp,

2.2.3 Kết hợp hài hoà các loại lợi ích xã hội

Quản lý kinh tế trước hết là quản lý con người, là tổ chức mang tính tích cực lao động của người lao động Con người có những lợi ích, những nguyện vọng và những nhu cầu nhất định Do đó một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý là phải chú ý đến lợi ích của con người để khuyến khích việc làm có hiệu quả phát huy tính tích cực lao động của họ

2.2.4 Tiết kiệm và hiệu quả

Tiết kiệm và hiệu quả là hai mặt của một vấn đề: Làm sao để với một cơ

sở vật chất và kỹ thuật, một nguồn tài nguyên, một lực lượng lao động xã hội hiện có và sẽ có trong giai đoạn phát triển kinh tế nào đó, có thể sản xuất ra được khối lượng của cải vật chất và tinh thần nhiều nhất đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu vật chất và văn hoá của xã hội

Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, tiết kiệm bao gồm cả tiết kiệm trong sản xuất xây dựng và tiêu dùng Tiết kiệm cả lao động sống, lao động vật hoá và

Trang 36

36 nguồn lực khác của đất nước Đặc biệt là nguồn lực về con người và nguồn lực thiên nhiên Cơ sở khách quan của chế độ tiết kiệm trong quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa và cũng là bảo đảm chắc chắn cho chế độ ấy trở thành hiện thực trong hoạt động kinh tế là tính kế hoạch trong toàn bộ nền sản xuất xã hội và

sự nhất trí về lợi ích cơ bản trong xã hội xã hội chủ nghĩa giữa các giai cấp, các tầng lớp, các cá nhân người lao động xã hội chủ nghĩa, giữa lợi ích cá nhân tập thể và toàn xã hội

III HÌNH THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ

3.1 Hình thức hoạt động quản lý của Nhà nước

3.1.1 Khái niệm

Hình thức hoạt động quản lý Nhà nước là sự biểu hiện về hoạt động quản lý của các cơ quan quản lý Nhà nước trong việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình đối với các quan hệ xã hội

3.1.2 Các hình thức hoạt động quản lý của Nhà nước

- Hình thức hội nghị

Hội nghị là hình thức cần thiết quan trọng, đặt biệt đối với các cơ quan thẩm quyền chung, theo chế độ lãnh đạo tập thể Do đó việc tổ chức và chủ trì hội nghị phải được tiến hành một cách khoa học để cho trong một thời gian ngắn sẽ thu được hiệu quả cao

- Sử dụng các phương tiện kỹ thuật trong quản lý nhà nước

- Phối kết hợp mọi đơn vị và cá nhân có liên quan trong thực thi một hoạt động quản lý Nhà nước nhằm thực hiện các quy định hành chính mang tính liên kết giữa các ngành, các địa phương các cơ quan chức năng

Trang 37

37

- Tác nghiệp xử lý công việc hàng ngày để thực hiện các kế hoạch quý, tháng, tuần của các cơ quan, viên chức quản lý Nhà nước

- Kiểm tra việc thực hiện các công việc được giao cho đơn vị và cá nhân

để kịp thời nắm chắc tiến độ thực hiện nhiệm vụ, đồng thời xử lý kết quả đã kiểm tra để phát huy ưu điểm, xử lý nghiêm túc khuyết điểm trong thi hành công vụ

3.2 Phương pháp quản lý của Nhà nước đối với kinh tế

3.2.1 Khái niệm

Phương pháp quản lý của Nhà nước đối với kinh tế là tổng thể các cách thức tác động có chủ đích và có thể có của Nhà nước lên hệ thống kinh tế quốc dân, nhằm đạt được mục tiêu quản lý kinh tế - xã hội đặt ra

Phương pháp quản lý của Nhà nước đối với kinh tế là biểu hiện cụ thể của mối quan hệ qua lại giữa Nhà nước với đối tượng và khách thể quản lý kinh tế, tức là mối quan hệ giữa những con người cụ thể, với tất cả sự phong phú, phức tạp của đời sống Vì vậy, các phương pháp quản lý kinh tế mang tính chất đa dạng và phong phú, đây là vấn đề cần phải đặc biệt lưu ý trong quản lý kinh tế vì nó chính là bộ phận năng động nhất của hệ thống quản lý kinh tế Phương pháp quản lý thường xuyên thay đổi trong từng tình huống cụ thể, tuỳ thuộc vào đặc điểm của đối tượng cũng như năng lực và kinh nghiệm của Nhà nước và đội ngũ cán bộ, viên chức Nhà nước

3.2.2 Các phương pháp quản lý chủ yếu của Nhà nước đối với kinh tế

- Phương pháp hành chính

Phương pháp hành chính trong quản lý Nhà nước đối với kinh tế là các cách tác động trực tiếp bằng các quyết định dứt khoát mang tính bắt buộc của Nhà nước lên đối tượng và khách thể trong quản lý kinh tế của Nhà nước nhằm đạt mục tiêu đặt ra trong những tình huống nhất định

- Phương pháp kinh tế

Phương pháp kinh tế là sự tác động vào đối tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế để cho đối tượng bị quản lý lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động

Trang 38

38

- Phương pháp giáo dục

Phương pháp giáo dục là cách tác động vào nhận thức và tình cảm của con người nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình năng động của họ trong việc thực hiện nhiệm vụ

Các phương pháp giáo dục có ý nghĩa to lớn trong quản lý nhà nước đối với kinh tế vì đối tượng của quản lý là con người - một thực thể năng động và

là tổng hoà của nhiều mối quan hệ xã hội Do đó để tác động lên con người không chỉ dùng các phương pháp hành chính, kinh tế, mà còn có tác động tinh

thần, tâm lý - xã hội

- Vận dụng tổng hợp các phương pháp quản lý kinh tế của Nhà nước Việc vận dụng tổng hợp các phương pháp quản lý kinh tế được thể hiện trong quá trình đề ra và tổ chức thực hiện các quyết định quản lý của Nhà nước Đó chính là việc sử dụng tổng hợp các công cụ trong tay Nhà nước Từ công cụ kế hoạch và pháp luật đến các đòn bẩy kinh tế và các công cụ khác

như các phương tiện thông tin đại chúng và hệ thống giáo dục đào tạo v.v

- Nghệ thuật quản lý kinh tế của Nhà nước

Nghệ thuật quản lý kinh tế của Nhà nước (thuật quản lý hoặc thủ đoạn quản lý kinh tế là việc xem xét động tĩnh công việc (trong nước, khu vực, quốc

tế để chế ngự nó một cách có hiệu quả nhất, thực hiện thành công mọi ý đồ, chiến lược, mục tiêu, kế hoạch phát triển đất nước

IV BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI KINH TẾ

4.1 Khái niệm, nguyên tắc tổ chức bộ máy quản lý, quản lý nhà nước đối với kinh tế

4.1.1 Khái niệm

Bộ máy quản lý nhà nước đối với kinh tế là hệ thống tổ chức bao gồm nhiều người, nhiều cơ quan nhiều bộ phận có những chức năng quyền hạn khác nhau nhằm đảm bảo tổ chức và quản lý có hiệu quả các lĩnh vực kinh tế của Nhà nước

4.1.2 Các nguyên tắc tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với kinh tế

- Chuyên môn hoá và phân nhóm chức năng

Trang 39

39

- Phân định phạm vi quản lý và phân cấp quản lý

- Nguyên tắc hoàn chỉnh thống nhất

- Nguyên tắc về sự nhất trí giữa các chức năng, nhiệm vụ với quyền hạn

và thấm quyền, giữa quyền hạn và trách nhiệm, giữa nhiệm vụ, trách nhiệm với phương tiện

- Nguyên tắc hiệu quả và hiệu lực

4.3 Cơ cấu bộ máy quản lý Nhà nước đối với kinh tế

4.3.1 Cơ cấu bộ máy quản lý nhà nước đối với kinh tế ở trung ương

Trong thể chế nhà nước thì dù theo hình thức nào cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và bộ máy quản lý nhà nước đối với kinh tế nói riêng đều theo mô hình thứ bậc Mối quan hệ thứ bậc này có thể rất khác nhau và sự khác nhau này chủ yếu do sự phân công trách nhiệm giữa người đứng đầu bộ máy hành chính nhà nước với nguyên thủ quốc gia; quan hệ giữa các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp; quan hệ giữa trung ương và địa phương Mỗi quốc gia, Nhà nước đều có và phải lựa chọn cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với kinh tế thích ứng với môi trường kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, pháp Luật, công nghệ mà trong đó bộ máy hoạt động và tồn tại Khó có thế tìm thấy một cơ cấu chung cho mọi quốc gia

Bộ máy quản lý nhà nước đối với kinh tế ở trung ương gồm có:

- Chủ tịch nước

- Quốc hội

- Chính phủ

- Toà án nhân dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao

- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ

4.3.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước đối với kinh tế ở địa phương

- Hệ thống chính quyền địa phương

+ Hội đồng nhân dân do nhân dân địa phương bầu ra

+ Uỷ ban nhân dân do Hội đồng nhân dân bầu ra

+ Có ngân sách địa phương

Trang 40

40 Với các quan niệm như trên, hiện nay cả nước có ba cấp chính quyền địa phương

+ Tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương

+ Huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh;

+ Xã, phường, thị trấn

- Bộ máy quản lý nhà nước đối với kinh tế ở địa phương gồm có :

+ Hội đồng nhân dân

+ Uỷ ban nhân dân

+ Các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân

V CÁN BỘ QUẢN LÝ KINH TẾ

5.1 Khái niệm chung về các bộ quản lý kinh tế

Cán bộ quản lý kinh tế là người làm lao động quản lý kinh tế, là một trong những yếu tố chủ yếu của hệ thống quản lý

5.2 Vai trò của người lãnh đạo cấp cao trong quản lý kinh tế

Người lãnh đạo cấp cao trong quản lý kinh tế là một trong những nhân

tố cơ bản quyết định sự thành công hay thất bại của đường lối, chủ trương, chính sách phát triển kinh tế quốc gia; bởi vì chính họ là những người trực tiếp

đề ra và đưa ra thực hiện đường lối, chủ trương, chiến lược, chính sách kinh tế

và xã hội của đất nước Mọi quốc gia ngày nay muốn phát triển và ổn định được đều phụ thuộc rất nhiều vào đội ngũ những nhà lãnh đạo cấp cao nói chung và các nhà lãnh đạo cấp cao trong quản lý kinh tế nói riêng Khi xã hội phát triển và thịnh vượng thì người giỏi, người có đức độ chiếm số đông trong

số các nhà lãnh đạo cấp cao, còn khi xã hội suy thoái, kỷ cương xã hội lỏng lẻo

là lúc những kẻ kém tài đức chiếm số đông trong các nhà lãnh đạo

5.3 Vai trò của các nhà quản lý doanh nghiệp

Các nhà quản lý doanh nghiệp là một trong những nhân tố cơ bản quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Một doanh nghiệp dù quy mô lớn đến đâu, mức độ trang thiết bị hiện đại đến đâu, nguồn vốn to lớn đến đâu, đội ngũ cán bộ lao động tài giỏi đến đâu nhưng giám đốc điều hành bất tài, vô

Ngày đăng: 24/11/2021, 15:35

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w