1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xử lý thông tin trong chương trình cuộc sống thường ngày kênh vtv1, đài truyền hình việt nam (khảo sát từ tháng 82014 đến tháng 22015)

110 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 2,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình triển khai thực hiện nghiên cứu đề tài “Xử lý thông tin trong chương trình Cuộc sống thường ngày kênh VTV1, Đài truyền hình Việt Nam” Khảo sát trong 6 tháng t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ THANH HOA

XỬ LÝ THÔNG TIN TRONG CHƯƠNG TRÌNH CUỘC SỐNG THƯỜNG NGÀY KÊNH VTV1,

ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

(Khảo sát từ tháng 8/2014 đến tháng 2/2015)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

NGUYỄN THỊ THANH HOA

XỬ LÝ THÔNG TIN TRONG CHƯƠNG TRÌNH CUỘC SỐNG THƯỜNG NGÀY KÊNH VTV1,

ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM

(Khảo sát từ tháng 8/2014 đến tháng 2/2015)

Ngành : Báo chí học

Mã số : 60 32 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

NGƯờI HƯớNG DẫN KHOA HọC: PGS,TS Đỗ Chí Nghĩa

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

LUẬN VĂN ĐÃ ĐƯỢC CHỈNH SỬA THEO KHUYẾN NGHỊ

CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Đỗ Chí Nghĩa, các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong Luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Nguyễn Thị Thanh Hoa

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình triển khai thực hiện nghiên cứu đề tài “Xử lý

thông tin trong chương trình Cuộc sống thường ngày kênh VTV1, Đài truyền hình Việt Nam” (Khảo sát trong 6 tháng từ tháng 8 năm

2014 đến tháng 2 năm 2015), tác giả luận văn luôn nhận được sự giúp

đỡ nhiệt tình và chân thành của Đài THVN - Ban Thời Sự và của PGS,TS Đỗ Chí Nghĩa, các giảng viên của Học viện Báo chí - Tuyên truyền Trong điều kiện hạn chế về thời gian, chắc chắn luận văn không tránh khỏi những sơ suất Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp của Hội đồng, của thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thanh Hoa

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Format chương trình Cuộc sống thường ngày từ 2012 đến

tháng 11/2014 38

Bảng 2.2 Format chương trình Cuộc sống thường ngày từ tháng 11/2014 đến nay 39

Bảng 2.3 Vỏ chương trình Cuộc sống thường ngày 04t8 41

Bảng 2.4 Format Cuộc sống thường ngày mới 54

Bảng 2.5 Format Cuộc sống thường ngày cũ 56

Bảng 3.1 Bảng đo Rating hàng ngày của các chương trình của VTV 89

Bảng 3.2 Bảng thống kê, so sánh Rating theo tuần 90

Trang 8

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ THÔNG TIN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH 10

1.1.Một số thuật ngữ cơ bản 10

1.2.Vai trò của xử lý thông tin trong chương trình Truyền hình 22

1.3 Những yếu tố chi phối việc xử lý thông tin trong chương trình Truyền hình 28

1.4 Đặc trưng và mục đích của chương trình Cuộc sống thường ngày 33

Chương 2: THỰC TRẠNG XỬ LÝ THÔNG TIN TRONG CHƯƠNG TRÌNH CUỘC SỐNG THƯỜNG NGÀY 37

2.1 Phương pháp thông tin theo diễn tiến sự kiện hay điểm nổi bật 40

2.2 Phương pháp biểu dương tích cực hay phê phán tiêu cực 46

2.3 Xử lý thông tin chuyên sâu (focus) hay điểm tin 61

2.4 Những ưu điểm và hạn chế của phương pháp xử lý thông tin trong chương trình Cuộc sống thường ngày 64

Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ XỬ LÝ THÔNG TIN TRONG CHƯƠNG TRÌNH CUỘC SỐNG THƯỜNG NGÀY 69

3.1 Thể hiện nội dung chương trình 70

3.2 Lựa chọn khách mời cho chương trình 72

3.3 Phong cách và ngôn ngữ người dẫn 76

3.4 Tăng tính giải trí trong chương trình 82

3.5 Quảng bá chương trình trong thời đại số 85

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99 TÓM TẮT LUẬN VĂN

Trang 10

Điểm đáng chú ý tiếp theo của CSTN là đã tạo ra một hình thức dẫn dắt mới của chương trình thông tin tổng hợp trên kênh thời sự - chính luận VTV1 CSTN vừa ra đời năm 2007 đã có 2 người dẫn đôi, trò chuyện, trao đổi với phong cách trẻ trung, thoải mái về các vấn đề của cuộc sống Người dẫn di chuyển linh hoạt trên trường quay, tham gia các hoạt động với khách mời Chương trình ban đầu còn tạo ra hình ảnh của một gia đình vui vẻ, đầm ấm khi đưa cả ảnh cưới của các MC lên màn hình trong ngày cưới của MC đó Cho đến tháng 8/2014, CSTN thay đổi format mới, với 3 người dẫn ngồi trò chuyện, trao đổi, có thể làm những trò đùa vui nhộn trên sân khấu, chọc cười khán giả, yêu cầu khách mời biểu diễn các tiết mục, thậm chí MC tham gia biểu diễn với khách mời Đặc biệt, với những vị khách “phá cách” mà khán giả khó nghĩ là sẽ xuất hiện trên kênh VTV1 như chàng thanh niên Lệ Rơi, ca

sỹ Sơn Tùng MTP…Hoặc những vị khách đặc biệt như Người đàn ông từng đánh vợ nhiều nhất xóm, những người phụ nữ từng hoạt động mại dâm…Đó đều là những cái “đầu tiên” trên kênh thời sự chính luận của Đài THVN Một điểm đáng chú ý, cho đến tháng 10/2014, chương trình Chuyển động 24h của trung tâm tin tức VTV24 ra đời, phát vào khung giờ từ 18h20 đến 19h, nằm giữa chương trình CSTN và bản tin 19h Khi đó, có 3 chương trình lớn, dài, nằm liên tiếp nhau cùng cung cấp những thông tin đáng chú ý trong ngày trên kênh VTV1 Đây cũng là lúc bắt đầu xuất hiện những ý kiến

về việc các thông tin bị đưa trùng lắp trong suốt hơn 2 tiếng đồng hồ, trong

cả 3 chương trình, khiến khán giả mệt mỏi Nhiều khán giả đặt vấn đề: Như vậy chỉ cần xem 1 chương trình, chứ ko cần theo dõi cả 3 chương trình trên kênh VTV1

Vậy, từ những lý do nêu ra, thì những câu hỏi được đặt ra là: Xác định góc độ đưa tin trong chương trình CSTN như thế nào để có những cách làm mới, mang tính phát hiện, có ý nghĩa xã hội, tạo được sự thu hút, hấp dẫn, trên

Trang 11

“Xử lý thông tin trong chương trình Cuộc sống thường ngày kênh VTV1,

Đài truyền hình Việt Nam” (Khảo sát trong 6 tháng từ tháng 8 năm 2014 đến

tháng 2 năm 2015) làm đề tài nghiên cứu của mình

Là một người đã tham gia thực hiện chương trình CSTN từ chương trình đầu tiên cho tới ngày hôm nay, trực tiếp tham gia vào các khâu tổ chức sản xuất chương trình, thực hiện và xử lý các tin bài phục vụ cho chương trình, đây sẽ là điều kiện thuận lợi giúp tôi tìm hiểu sâu sắc và sưu tầm nguồn

tư liệu thực tế phong phú về đề tài đã chọn

Đề tài chọn khảo sát, tìm hiểu, phân tích những chương trình CSTN đã

được phát sóng Kết hợp với phân tích những nhận định của những người trực

tiếp làm chương trình CSTN về góc độ thông tin mà họ tiếp cận và xử lý Đồng thời tìm hiểu nhu cầu thực tế của khán giả cũng như những nhận xét của khán giả về cách thức xử lý thông tin đã thu hút và phù hợp chưa Ngoài ra, tác giả sẽ phỏng vấn ý kiến của những chuyên gia trong lĩnh vực truyền hình

về phương pháp xử lý thông tin của chương trình CSTN nói riêng và các chương trình truyền hình nói chung

Tác giả chọn thời gian khảo sát trong vòng 6 tháng từ tháng 8 năm

2014 đến tháng 2 năm 2015 vì khoảng thời gian này CSTN thay đổi format chương trình Format cũ là từ trước tháng 11 năm 2014, và Format mới vẫn được duy trì từ tháng 11 năm 2014 đến nay Khoảng thời gian khảo sát này

Trang 12

2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong tác phẩm truyền hình, phương pháp xử lý thông tin là tập hợp của rất nhiều yếu tố, bắt đầu từ việc phóng viên chọn lựa thông tin nào, tiếp cận dưới góc độ nào, rồi sau đó là dùng ngôn ngữ, hình ảnh, âm thanh gì để thể hiện Cách lựa chọn nhân vật phỏng vấn, sắp xếp các phỏng vấn ra sao Xác định phương pháp xử lý phù hợp sẽ giúp chuyển tải chủ đề của chương trình truyền hình, tạo dấu ấn riêng, tăng sức hấp dẫn, đảm bảo tính thống nhất và định hướng của chương trình cũng như duy trì công chúng thường xuyên Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn các nhà báo trước khi cầm bút phải tự hỏi “Viết cái gì? Viết cho ai? Viết thế nào?” Trong sự nghiệp báo chí của Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện quan điểm rõ ràng

và nhất quán “Viết về quần chúng, viết cho quần chúng”, đứng trên góc độ quần chúng để đưa tin Cách thức đưa tin, như vậy, thể hiện quan điểm của nhà báo về tính giai cấp, thể hiện tôn chỉ mục đích của người làm báo Nghiên cứu về vấn đề phương pháp xử lý thông tin của báo chí, có thể kể

đến những công trình của các nhà nghiên cứu trong nước như: Giáo trình nghiệp vụ báo chí (Khoa Báo chí trường Tuyên huấn Trung ương, 1977; Tác phẩm báo chí (Khoa Báo chí, Phân viện Báo chí và Tuyên truyền, 1995); Từ lý luận đến thực tiễn báo chí (PGS.TS Tạ Ngọc Tấn, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin, 1999); Các thể loại chính luận báo chí (Trần

Quang, Nhà xuất bản Văn hóa – Thông tin 2003)

Trang 13

Các công trình trên đã cung cấp cho luận văn những thông tin cơ vản,

đa chiều về báo chí, các thể loại báo chí Từ đó, tác giả luận văn có thể định hướng được cách tiếp cận, phát triển và giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài

Bên cạnh các công trình mang tính lý luận và học thuật cao, còn có một

số luận văn thạc sĩ nghiên cứu các đề tài ít nhiều gần gũi và có liên quan đến

ội dung đề tài của Luận văn, như: Luận văn thạc sĩ với đề tài Nâng cao chất lượng chương trình Thời sự của Đài Truyền hình Việt Nam của học viên Nguyễn Thị Thu Hiền, bảo vệ năm 2011; Luận văn thạc sĩ Tổ chức sản xuất phóng sự nhiều kỳ cho chương trình thời sự truyền hình ở Đài Phát Thanh và Truyền hình Phú Thọ của học viên Dư Hồng Quảng, bảo vệ năm 2014 đưa; Luận văn Nâng cao chất lượng hình ảnh trong phóng sự Truyền hình của các Đài Phát thanh – Truyền hình Miền Tây Nam Bộ của tác giả Trần Minh Nguyên, bảo vệ năm 2015; Luận văn thạc sĩ Phóng sự trong chương trình Thời sự Đài Truyền hình Việt Nam tại Học viện Báo chí tuyên truyền, Hà Nội

của học viên Thái Kim Chung, bảo vệ năm 2005; Luận văn thạc sĩ với đề tài

Nâng cao chất lượng phóng sự trong chương trình Thời sự 19 giờ - VTV1 của

học viên Nguyễn Thị Uyên, tại học viện báo chí tuyên truyền Hà nội, bảo vệ năm 2008…Các luận văn này đưa ra những nghiên cứu hữu ích và giá trị về các biện pháp để nâng cao chất lượng của Chương trình truyền hình, phân tích những thành công, hạn chế và nguyên nhân, qua đó kiến nghị những giải pháp

cụ thể để nâng cao chất lượng của các chương trình, sản phẩm truyền hình

Một số công trình có phạm vi nghiên cứu hẹp hơn như: Cảnh chủ chốt trong phóng sự truyền hình, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thùy Ngân K50 Báo chí; Ngôn ngữ phóng sự trên VTV Đài truyền hình Việt Nam,

Luận văn thạc sĩ tại Học viện Báo chí Tuyên truyền, Hà Nội của tác giả Bùi

Minh Hằng, bảo vệ năm 2012; Sử dụng chi tiết trong phóng sự của chương

Trang 14

trình Thời sự 19h Đài Truyền hình Việt Nam, Luận văn thạc sĩ tại Học viện

Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội của học viên Nguyễn Thái Lãm, bảo vệ năm 2012…đi sâu khảo sát và phân tích về các chi tiết để tạo nên chất lượng của thể loại phóng sự trên truyền hình Đây là cơ sở đối chiếu và tham khảo hữu ích của luận văn khi tìm hiểu về phương pháp xử lý thông tin trong chương trình CSTN trên kênh VTV1

Một số luận văn khác như Mối quan hệ giữa công chúng với truyền hình Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ bảo vệ năm 2007; Luận án tiến sĩ Báo chí Đặc điểm công chúng truyền hình Việt Nam hiện nay, của tác giả

Trần Bảo Khánh bảo vệ năm 2007; Cả 2 tài liệu này cung cấp nhiều thông tin

và cái nhìn tổng quan về tâm lý, nhu cầu của công chúng báo chí ở Việt Nam nói chung và công chúng truyền hình nói riêng Tuy nhiên giai đoạn năm

2007, 2008 với năm 2015 khác nhau rất nhiều Sự thay đổi mạnh mẽ của báo chí và công nghệ đã tạo nên sự thay đổi cả về thói quen, sở thích, nhu cầu khán giả truyền hình

Còn với chương trình thuộc thể loại thông tin tổng hợp như CSTN những nghiên cứu hay bài viết phân tích sâu về cách thể hiện của chương trình hầu như không có Trên báo chí chỉ có một số lượng nhỏ bài báo giới thiệu về nội dung chương trình CSTN, và một số bài phỏng vấn ê-kip làm chương trình, chứ không có những bài phân tích về thể loại hay phương pháp tiếp cận, xử lý thông tin của chương trình dưới dạng học thuật Cho đến nay, mới chỉ có một luận văn của Học viên Ngô Quý Thông - Học viên Cao học

PTTH K18, đề tài Nâng cao chất lượng thông tin cho chương trình Cuộc sống thường ngày - VTV1 - Đài Truyền hình Việt Nam, luận văn chủ yếu phân tích

về quy trình tổ chức sản xuất của chương trình, chứ không phân tích nhiều về phương pháp xử lý thông tin trong chương trình

Trang 15

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực trạng phương pháp xử lý thông trong chương trình Cuộc sống thường ngày kênh VTV1, Đài Truyền hình Việt Nam

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Thời gian khảo sát tôi lựa chọn trong thời gian 6 tháng từ tháng 8 năm

2014, đến tháng 2 năm 2015 Tháng 11 năm 2014, CSTN sẽ thay đổi format mới, như vậy chương trình khảo sát sẽ chia làm 2 giai đoạn, giai đoạn từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 11 năm 2014 là format cũ, và giai đọan từ tháng

11 năm 2014 đến tháng 2 năm 2015 là format mới

4 Mục đích và nhiệm vụ

4.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài này có mục đích là nhằm phân tích một cách có hệ thống những đặc điểm của phương pháp xử lý thông tin trong chương trình Cuộc sống thường ngày, từ đó chỉ ra những ưu điểm, tồn tại và đề xuất cách thức xử lý thông tin

hiệu quả và phù hợp nhất cho chương trình CSTN

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Căn cứ vào cơ sở lý luận và thực tiễn về báo chí nói chung, truyền hình nói riêng, để làm sáng tỏ vấn đề phương pháp xử lý thông tin trong chương trình CSTN qua các thể loại phóng sự, tin, ghi nhanh, phỏng vấn khách mời

- Nghiên cứu, khảo sát, đánh giá thực trạng phương pháp xử lý thông tin trong chương trình CSTN, từ đó tìm ra những ưu điểm và những tồn tại, vấn đề cần giải quyết

- Đề xuất những giải pháp, kiến nghị để có phương pháp xử lý thông tin tốt phù hợp nhất cho chương trình

Trang 16

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận của luận văn

Luận văn được triển khai dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam; cơ

Mác-sở lý luận gồm lý thuyết truyền thông, lý luận về báo chí, về tác phẩm báo

chí, lý luận về thể loại phóng sự báo chí

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Về phương pháp nghiên cứu, luận văn sẽ sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản như: khảo sát, thống kê, phân tích, tổng hợp, diễn dịch, quy nạp

+ Phương pháp khảo sát, thống kê được sử dụng trong việc lựa chọn

các chương trình CSTN để phục vụ nghiên cứu đề tài;

+ Phương pháp phân tích, tổng hợp được sử dụng nhằm rút ra những kết luận có tính khái quát về góc độ tiếp cận, cung cấp thông tin trong các tin, phóng sự, các phỏng vấn của chương trình

+ Phương pháp diễn dịch, quy nạp được sử dụng trong quá trình nhận xét, đánh giá nhằm rút ra ưu điểm và hạn chế trong cách thức cung cấp thông tin đến khán giả;

+ Ngoài ra luận văn còn sử dụng phương pháp điều tra xã hội học bằng cách gửi câu hỏi qua email lấy ý kiến khán giả của chương trình (phân tích trong chương 3) nhằm làm phong phú thêm phần khảo sát

6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Đề tài “Xử lý thông tin trong chương trình Cuộc sống thường ngày

kênh VTV1, Đài truyền hình Việt Nam” sẽ giúp cho bản thân những người

làm chương trình và đội ngũ biên tập có thêm một cái nhìn về cách thức khai thác cũng như cung cấp thông tin đến khán giả Góp phần làm cho chương trình thu hút hơn, đáp ứng các tiêu chí của chương trình truyền hình hiện đại

Trang 17

- Luận văn cũng góp phần phân tích và làm rõ vai trò của việc xác định phương pháp đưa tin trong các chương trình truyền hình Đây là yếu tố quan trọng để phân biệt các chương trình với nhau, cho dù có đưa cùng thông tin Xác định được phương pháp chuẩn sẽ giúp tạo sự thống nhất trong đa dạng cho một kênh truyền hình, mỗi chương trình cung cấp những thông tin theo khía cạnh khác nhau, thu hút khán giả

- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho công việc nghiên cứu, học tập của các sinh viên, học viên chuyên ngành báo chí cũng như các nhà báo đang hoạt động sáng tạo trong lĩnh vực truyền hình

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn được sắp xếp thành 3 chương

Chương 1: Những vấn đề lý luận về xử lý thông tin trong chương trình truyền hình

Chương 2: Thực trạng xử lý thông tin trong chương trình Cuộc sống thường ngày

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý thông tin trong chương trình Cuộc sống thường ngày

Trang 18

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ THÔNG TIN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH

“Informatio”, gốc của từ hiện đại “information” (thông tin) có hai nghĩa Một,

nó chỉ một hành động rất cụ thể là tạo ra một hình dạng (forme) Hai, tuỳ theo tình huống, nó có nghĩa là sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng Tuy nhiên cùng với sự phát triển của xã hội, khái niệm thông tin cũng phát triển theo Theo nghĩa thông thường: Thông tin là tất cả các sự việc,

sự kiện, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một người có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiên thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu, hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh Trên quan điểm triết học: Thông tin là sự phản ánh của tự nhiên

Trang 19

Theo quan điểm của triết học, thông tin là một hiện tượng vốn có của vật chất, là thuộc tính khách quan của thế giới vật chất Nội dung của thông tin chính là những thuộc tính, tính chất vốn có của sự vật với các sự vật hiện tượng được bộc lộ ra, thể hiện thông qua tác động qua lại của sự vật ấy với sự

vật khác Thông tin luôn gắn với quá trình phản ánh Những dấu ấn để lại

chính là những thông tin của hệ thống vật chất này đối với hệ thống vật chất khác Phản ánh của vật chất là phản ánh thông tin, không có thông tin chung chung mà thông tin là thông tin về sự vật này đối với sự vật khác

Sự quan tâm đến hiện tượng thông tin gia tăng đột biến vào thế kỷ XX

và ngày nay chúng trở thành đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành chuyên môn, trong đó có triết học, vật lý, sinh học, ngôn ngữ học, thông tin học và tin học, kỹ thuật điện tử và truyền thông, khoa học quản lý và nhiều ngành khoa học xã hội [31]

Trong khuôn khổ Luận văn này, Thông tin được quan tâm dưới góc độ báo chí mà cụ thể là lĩnh vực truyền hình Trong vô số những thông tin đang được truyền tải xung quanh chúng ta, những gì sẽ được chọn để phát trên Truyền hình? Khi đưa lên truyền hình, những thông tin đó sẽ được xử lý như thế nào? Ở một chương trình cụ thể, thông tin sẽ được xử lý ra sao? Giống

Trang 20

hay khác những chương trình khác? Dựa trên tiêu chí nào? Đó là khía cạnh

mà luận văn này mong muốn giải quyết

Như vậy, trong biển thông tin, báo chí sẽ lựa chọn những thông tin nào

để mang tới cho công chúng? “Từ điển tiếng Việt” năm 1992 của Viện Ngôn

ngữ học Viện Khoa học Xã hội định nghĩa [21]: Tin tức là một mẩu của thông

tin chung quanh một sự kiện đáng chú ý có sự hấp dẫn chung; Cái gì hấp dẫn

và sự thực đó là tin tức; Cái gì bạn chứng kiến là tin tức; Tin tức là điều được

truyền đi, báo đi cho biết về sự việc, tình hình xảy ra

“Tin tức là sự kiện hoặc sự biến của con người, sự vật và hiện tượng được truyền đạt đến người tiếp nhận bằng phương tiện truyền thông.”

Như vậy, thông tin được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, đó chính là nội dung thông tin; Thứ hai, đó là phương tiện thông báo, báo tin

Cách hiểu này phù hợp với khái niệm thông tin nêu trong phần mở đầu

“Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010” ban hành kèm theo Quyết định

số 219/2005/QĐ - TTg ngày 9/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ: “Thông tin được coi là một nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội, là công cụ để điều hành, quản lý, chỉ đạo của mỗi quốc gia, là phương tiện hữu hiệu để mở rộng giao lưu hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc, là nguồn cung cấp tri thức mọi mặt cho công chúng và là nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội”

Đặc biệt, Chiến lược phát triển thông tin đã nêu lên một luận điểm

quan trọng về vai trò của thông tin trong đời sống xã hội: Sự chênh lệch về trình độ phát triển thông tin giữa các nước là một đặc điểm về quy mô và trình

độ phát triển trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ Nước nào không vượt qua được những thách thức về thông tin, nước đó mất cơ hội phát triển và có nguy cơ mất khả năng tự chủ Thiếu thông tin, sẽ gặp khó khăn trong việc đưa ra các quyết định hoặc các quyết định sẽ bị sai lệch, thiếu cơ sở khoa học, không thực tiễn và trở nên kém hiệu quả

Trang 21

Tin tức bao gồm những yếu tố cơ bản và phải trả lời những câu hỏi sau: Cái gì? (What?), Khi nào? (When), Ở đâu? (Where), Ai? (Who?), Tại Sao? (Why?), Như thế nào? (How?)

Trong cuốn giáo trình “News Reporting and Writing” của Khoa Báo chí Đại học Missouri (bản dịch tiếng Việt có tên Nhà báo hiện đại) [27], câu

hỏi Tin tức là gì được xác định ngắn gọn như sau:

Có liên quan

Hữu ích

Gây được sự quan tâm

Những tiêu chí đó được áp dụng rộng rãi nhưng mỗi nhà báo hay mỗi

cơ quan báo chí đều sử dụng chúng theo một bối cảnh đặc thù để nhấn mạnh ý nghĩa theo cách riêng Bối cảnh đó do công chúng tạo ra

Định nghĩa này có thể hiểu: tin tức là những gì có liên quan gì tới công chúng, hữu ích đối với họ và gây được sự quan tâm chú ý của họ Đó là những định hướng khái quát để thẩm định giá trị thông tin của bất kỳ sự kiên, vấn đề hay nhân vật nào Bên cạnh đó, giá trị của tin tức còn được xác định bằng những yếu tố đặc trưng hơn tiềm tàng trong mỗi câu chuyện Quan trọng nhất là những yếu tố sau:

Tác động - Đây là một cách khác để đo mức độ liên quan và hữu ích

Có bao nhiêu người bị ảnh hưởng bởi một sự kiện hay một ý tưởng? Nó ảnh hưởng đến họ nghiêm trọng như thế nào?

Xung đột - Đây là một đề tài muôn thuở trong mọi câu chuyện, dù được

thuật lại bởi báo chí, văn chương hay kịch nghệ Những cuộc đấu tranh giữa người với người, giữa các quốc gia hay với sức mạnh thiên nhiên đều lôi cuốn người ta đọc Xung đột chính là một yếu tố cơ bản của đời sống, các nhà báo phải tỉnh táo trước cám dỗ muốn làm cho câu chuyện tăng thêm kịch tính hoặc đơn giản hóa thái quá

Trang 22

Mới lạ - Đây là một yếu tố khác phổ biến cả trong báo chí lẫn các loại

hình khác Con người hay sự kiện có thể gây được hấp dẫn và do đó có giá trị thông tin chỉ vì yếu tố đặc biệt hay kỳ quái

Danh tiếng - Tên tuổi tạo nên tin tức Tên tuổi càng lớn chừng nào thì

bài báo càng quan trọng chừng đó Những người dân thường luôn bị kích thích tò mò bởi việc làm của những người giàu có và nổi tiếng

Gần gũi - Thông thường, người ta thích thú và quan tâm đến những gì

diễn ra gần nơi họ ở Khi họ đọc hay nghe một tin trong nước hay tin thế giới,

họ thường muốn biết nó có liên can gì đến cộng đồng của chính họ

Cấp thời - Tin đòi hỏi phải mới Nếu tin thích đáng và hữu ích, nó hẳn

phải đúng lúc Ví dụ như khi viết về một vấn đề mà hội đồng thành phố phải đối mặt trước khi nó được quyết định thì sẽ có ích hơn là sau đấy Những bài báo kịp thời cho người ta cơ hội được tham dự vào các vụ việc chung hơn là chỉ làm một khán giả

Lưu ý rằng những yếu tố trên gợi ra hai điều quan trọng về tin Thứ nhất, không phải mọi tin tức đều nghiêm túc, đều là chuyện sống chết Nghề báo được miêu tả như “cuộc đối thoại của văn hóa với chính nó” Cuộc đối thoại đó gắn kết thành nền văn hóa từ những chuyện kể về tội ác, chính trị cho tới các sự kiện trên thế giới, tất nhiên rồi; nhưng nó cũng bao gồm những câu chuyện của đời sống hằng ngày Nó bao gồm cả những chuyện khôi hài và chuyện tầm phào Tất cả những điều đó đều có thể là tin tức Thứ hai, tin tức không chỉ là việc góp nhặt lại sự kiện Thuật lại một tin thường cũng có nghĩa là kể lại một câu chuyện Tính tường thuật, tính nhân văn, kịch tính của câu chuyện là nghệ thuật của báo chí Để tập hợp những sự kiện trong tác phẩm của mình, và sản xuất ra tác phẩm báo chí hấp dẫn, thu hút, phục vụ đối tượng công chúng của mình, nhà báo sử dụng nhiều kỹ thuật xử lý thông tin

Trang 23

1.1.1.2 Xử lý thông tin

Xử lý thông tin là việc tác động vào thông tin thu thập được theo hướng: loại bỏ thông tin nhiễu, liên kết thông tin theo những mối liên hệ bản chất, vốn có, nhằm rút ra những thông tin thật sự có giá trị, phục vụ cho mục đích đưa tin

Thông tin tự nó không có giá trị, giá trị của nó là do việc sử dụng nó như thế nào Vì vậy, để có được những thông tin giá trị, phục vụ hiệu quả cho một lĩnh vực nào đó, cần có quy trình và những phương pháp trong xử lý thông tin Thông thường, : tập hợp và phân loại thông tin; tóm tắt thông tin; tổng hợp thông tin; phân tích thông tin; xác định độ tin cậy của thông tin; lựa chọn thông tin

Thông thường, trong quy trình xử lý thông tin diễn ra các hoạt động và các phương pháp cơ bản sau:

- Tiếp nhận thông tin: là sự tập hợp thông tin từ nhiều nguồn về một nơi một cách chủ động hoặc bị động

- Phân loại thông tin: sau khi tiếp nhận thông tin, cần tiến hành phân loại Đó chính là việc chia thông tin ra thành từng loại, từng vấn đề, từng lĩnh vực khác nhau theo các tiêu chí được lựa chọn Có thể phân chia thông tin thành các loại khác nhau theo: nội dung thông tin; hình thức truyền đạt thông tin (thông tin bằng văn bản, bằng lời, thông tin phi ngôn ngữ)…

- Tóm lược thông tin: Tóm lược thông tin là việc giảm bớt lượng nội dung tin nhưng vẫn đảm bảo những nội dung cốt yếu và cơ bản của thông tin

để phục vụ cho việc tổng hợp thông tin và sử dụng thông tin

- Xác nhận, kiểm tra độ tin cậy của thông tin: Thông tin được thu thập

từ các nguồn tin khác nhau Người xử lý phải trả lời được câu hỏi đặt ra là: thông tin có được đến từ nguồn tin nào? Với mỗi một loại nguồn tin thường

có những độ tin cậy khác nhau, như: - Nguồn tin từ văn bản, công báo, tài liệu

Trang 24

lưu trữ: nguồn tin này thường có giá trị pháp lý cao - Nguồn tin từ sách, báo, tạp chí: nguồn tin này thường không được coi là nguồn tin có giá trị pháp lý cao Bởi độ tin cậy của các nguồn tin có sự khác nhau nên khi sử dụng hoặc cung cấp thông tin cần chú thích rõ nguồn thông tin Để kiểm tra độ tin cậy của nguồn tin, cần kiểm tra thực tế bằng cách kiểm tra trực tiếp hoặc kiểm tra gián tiếp nguồn tin

- Phân tích, tổng hợp, kiến nghị giải quyết

Phân tích thông tin: Phân tích thông tin là quá trình phân loại, so sánh,

đối chiếu để kiểm tra tính chính xác, tính khoa học, hợp lý của thông tin Việc phân tích nhằm nắm chắc nội dung và hiểu đúng bản chất của thông tin, bản chất của tình hình, sự việc

+ Phải phân loại thông tin thành: thông tin chính và thông tin hỗ trợ; thông tin có giá trị, ít giá trị hoặc không có giá trị; phải loại bỏ hoặc nghi ngờ những thông tin thiếu căn cứ, thiếu cơ sở khoa học

+ Phải so sánh, đối chiếu để kiểm tra tính chính xác, tính khoa học, hợp

lý của thông tin: đây cũng là phương pháp giúp kiểm định được độ tin cậy của thông tin Phương pháp này nhằm mục đích xác định rõ những thông tin nào đáng tin và thông tin nào không đáng tin Đồng thời, qua đó để phát hiện những điều bất hợp lý, mâu thuẫn, phi logic trong nội dung thông tin

Có nhiều phương pháp so sánh thông tin để xác định độ tin cậy và chính xác của thông tin như: so sánh thông tin thu được về tiến độ giải quyết công việc, kết quả đạt được với chương trình, kế hoạch đã định; so sánh thông tin về cách thức tổ chức thực hiện với ý kiến chỉ đạo của cấp trên; so sánh số liệu của báo cáo trước với báo cáo sau; … Nói cách khác, khi phân tích tin, cần đặt ra và trả lời các câu hỏi như: thông tin nói về việc gì? thông tin đề cập đến nội dung gì? những câu hỏi nghi vấn như: tại sao? nguyên nhân? diễn biến? kết thúc?,

Trang 25

Để cung cấp thông tin một cách hiệu quả, không thể bỏ qua khâu tổng hợp tin Quá trình tổng hợp thông tin sẽ giúp người xử lý thông tin nhìn nhận được bản chất, mối liên hệ và quy luật biến đổi, phát triển của các vấn đề, sự kiện thông qua các thông tin Để tổng hợp thông tin, cần thực hiện những thao tác sau:

+ Sắp xếp, hệ thống lại thông tin: theo thời gian hoặc theo tiến trình diễn

ra các vấn đề, sự kiện…Quá trình sắp xếp và hệ thống lại thông tin sẽ giúp người

sử dụng thông tin dễ dàng tiếp cận vấn đề theo trình tự lôgic nhất định

+ Tái hiện lại quá trình, cách thức giải quyết vấn đề, sự vật, hiện tượng + Tìm ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa các thông tin về một vấn đề, một sự việc

+ Tổng hợp các thông tin ở dạng số liệu bằng phương pháp tính toán,

so sánh để có sự nhìn nhận tổng quát vấn đề

Kiến nghị giải quyết thông tin

Có thể nói, chỉ có những người trực tiếp thu thập thông tin, tóm lược thông tin, phân tích thông tin và tổng hợp thông tin mới có những nhìn nhận thấu đáo, chính xác và tham mưu hiệu quả cho việc giải quyết thông tin Trước hết, để kiến nghị, giải quyết tin, cần có sự lựa chọn những thông tin phù hợp để cung cấp Đó là những thông tin có giá trị về nội dung và phù hợp với yêu cầu của người cần tin; thông tin có tính mới; thông tin có độ tin cậy cao; thông tin tiêu biểu - điển hình và có tính khái quát cao

Trang 26

Trên cở sở những thông tin được lựa chọn, cần có những ý kiến tham mưu giải quyết tin để đảm bảo việc sử dụng thông tin có hiệu quả Cuối cùng, cần lưu ý đến việc lưu trữ thông tin theo quy định Đặc biệt, cần chú ý lưu trữ các thông tin phải mất nhiều công thu thập, tổng hợp hoặc các số liệu quan trọng vì nó sẽ giúp cho việc thu thập, xử lý thông tin có hiệu quả và nhanh chóng ở những lần sau

1.1.2 Truyền hình và chương trình Truyền hình

1.1.2.1 Khái niệm về truyền hình

Truyền hình là một loại hình báo chí xuất hiện sau báo in và phát thanh (đầu thế kỷ XX) nhưng có tốc độ phát triển cực nhanh nhờ những tiến bộ của khoa học - kỹ thuật Truyền hình là một kênh thông tin quan trọng trong đời sống xã hội, là công cụ truyền thông thiết yếu trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội, an ninh, quốc phòng của hầu hết các quốc gia

Hiện nay có nhiều khái niệm, quan niệm về truyền hình Theo “Giáo trình báo chí truyền hình” của PGS.TS Dương Xuân Sơn [17]: Thuật ngữ

truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là “ở xa” còn “videre” là “thấy được”, còn tiếng Latinh nghĩa là xem được từ xa Ghép hai từ đó lại thành “Televidere”

có nghĩa là xem được ở xa Tiếng Anh là “Television”, tiếng Pháp là

“Télévision” Như vậy, dù phát triển ở bât cứ đâu, ở quốc gia nào thì tên gọi truyền hình cũng có chung một nghĩa là nhìn được từ xa

Theo PGS.TS Tạ Ngọc Tấn trong cuốn “Truyền thông đại chúng” [19]

nêu: "Truyền hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin băng hình ảnh động và âm thanh

Trong Giáo trình “Nhập môn truyền hình” của ThS Phan Văn Tú [20],

có thể phân loại Truyền hình như sau:

Xét dưới góc độ quản lý, có truyền hình công cộng (public TV) và

Trang 27

truyền hình thương mại (commercial TV)

Xét theo tiêu chí mục đích nội dung, người ta chia truyền hình thành

truyền hình giáo dục, truyền hình giải trí, truyền hình thông tấn Hiện ở Việt

Nam còn một cách phân loại khái quát hơn xét về nội dung các kênh sóng:

truyền hình quảng bá và truyền hình chuyên biệt

Xét theo góc độ kỹ thuật sản xuất và phát sóng có truyền hình tương tự (analog TV) và truyền hình số (digital TV)

Xét theo góc độ dịch vụ, chúng ta có truyền hình trả tiền và truyền hình miễn phí

Xét theo phương tiện kỹ thuật truyền tải, có truyền hình sóng (wireless TV); truyền hình cáp (CATV); truyền hình internet (IPtv)

1.1.2.2 Khái niệm chương trình truyền hình

Chương trình truyền hình là hình thức vật chất hóa sự tồn tại của truyền hình trong đời sống xã hội để truyền tải thông tin đến công chúng Đó là một sản phẩm hoàn chỉnh về nội dung và hình thức, là kết quả của một quá trình sáng tạo, là tập hợp nhiều cấp độ lao động khác nhau, tập hợp một hay nhiều

tác phẩm khác nhau, tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau Theo cuốn “Truyền thông đại chúng” của PGS.TS.Tạ Ngọc Tấn [19], thuật ngữ Chương trình truyền hình thường được sử dụng trong hai trường hợp:

Trường hợp thứ nhất, dùng để chỉ toàn bộ nội dung thông tin phát đi trong ngày, trong tuần hay trong tháng của mỗi kênh truyền hình hay của cả đài truyền hình

Trường hợp thứ hai, Chương trình truyền hình dùng để chỉ một hay

nhiều tác phẩm hoàn chỉnh hoặc kết hợp với một số thông tin tài liệu khác được tổ chức theo một chủ đề cụ thể với hình thức tương đối nhất quán, thời

lượng ổn định và được phát đi theo định kỳ Mỗi Chương trình truyền hình là

sự liên kết, sắp xếp, bố trí hợp lý các tin bài, bảng biểu, tư liệu bằng hình ảnh

Trang 28

và âm thanh được mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả Hiểu theo cách này, có thể kể tên một số chương trình truyền hình trên kênh VTV1: chương trình “Thời sự”, chương trình “Chào buổi sáng”, chương trình “Cuộc sống thường ngày”,

chương trình “Vấn đề hôm nay”, chương trình “Đối thoại chính sách”… Chương trình truyền hình là sản phẩm lao động của một tập thể bao

gồm các nhà báo, cán bộ kỹ thuật, bộ phận tài chính tổng hợp Chương trình truyền hình chính là sự gặp nhau giữa nhu cầu, thị hiếu của công chúng với mục đích, ý tưởng sáng tạo của những người làm chương trình thông qua phương tiện truyền hình Chất lượng của một chương trình truyền hình được đánh giá bằng mức độ thu hút sự quan tâm của khán giả đối với chương trình

đó và mức độ đạt được mục đích của những người làm chương trình

Hiện nay, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khán giả, các Đài Truyền hình không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng chương trình theo hướng vừa đa dạng phong phú vừa chuyên sâu Việc sắp xếp các chương trình trong ngày hay trong tuần luôn được các Đài Truyền hình cân nhắc kỹ lưỡng

bố trí sao cho tạo được sự thu hút liên tục đối với công chúng Kinh nghiệm thực tiễn cho hay, muốn xây dựng được các chương trình truyền hình thu hút người xem và xác định được giờ phát sóng phù hợp thì việc nghiên cứu công chúng - đối tượng của chương trình đó phải được đầu tư thực hiện một cách bài bản

1.1.3 Xử lý thông tin trong chương trình Truyền hình

Thông tin trong chương trình truyền hình là thể loại phổ biến, năng động và thể hiện rõ sự nhạy bén, tính xác thực của báo chí trong việc phản ánh sự kiện mới

Trang 29

Thông tin trong chương trình truyền hình sẽ trả lời những câu hỏi cơ bản một cách đặc biệt ngắn gọn Trước hết, nó tập trung vào bốn câu hỏi đầu

tiên là: Chuyện gì? (What), Khi nào? (When), ở đâu? (Where), Ai? (Who)?

Các dạng tin ngắn, tin tường thuật còn có thể trả lời các câu hỏi như: Với ai

(Which), Như thế nào (How), Tại sao (Why) Trong hầu hết các trường hợp,

ba câu hỏi đầu tiên thường được trả lời gọn trong một câu văn

Nhanh chóng, kịp thời

* Ba đặc điểm của thông tin truyền hình Ngắn gọn, cô đọng

Nói đến thông tin là nói đến sự kiện Tuy nhiên, không phải mọi sự

kiện đều trở thành đối tượng phản ánh của thông tin truyền hình Nguyên tắc đưa thông tin trong truyền hình chỉ quan tâm đến các sự kiện thời sự cấp

bách Đó là những sự kiện mới xảy ra, đang xảy ra, sắp xảy ra hoặc mới phát hiện được, hoặc diễn biến mới của một sự kiện đã biết Sự kiện thời sự cấp

bách thường tập trung phản ánh thời điểm bắt đầu và kết thúc của một quá

trình vận động phát triển của những sự kiện có quy mô lớn hơn

Thông tin trong chương trình truyền hình không phản ánh sự kiện một cách đầy đủ theo tiến trình, diễn biến mà chỉ thông báo về sự kiện một cách kịp thời ở những thời điểm tiêu biểu Thông tin trong chương trình truyền hình phản ánh sự kiện giống như những “lát cắt”, ở những thời điểm đỉnh cao

- nơi sự kiện bộc lộ bản chất của nó rõ nhất Nếu sự kiện mà thông tin chương trình truyền hình phản ánh vẫn còn đặt ra những vấn đề cần phải luận bàn hoặc cần được làm sáng tỏ thì các thể loại khác (như Bình luận, Điều tra, Ký chính luận, Phóng sự ) sẽ tiếp tục vào cuộc để tiếp tục phản ánh đầy đủ hơn, toàn diện hơn

Từ những quan điểm chọn sự kiện nào để đưa tin, hay cùng một sự kiện nhưng chọn thời điểm nào, góc độ nào để phản ánh, chúng ta có thể tạo ra

Trang 30

những chương trình truyền hình khác nhau trong một kênh truyền hình Nói một cách khác, mỗi một chương trình truyền hình khác nhau sẽ có một quy trình và những phương pháp xử lý thông tin riêng, phù hợp với mục đích, đối tượng khán giả và các tiêu chí đưa tin của chương trình đó

Như đã phân tích ở phần 1.1.1.2, thông thường, phương pháp xử lý

thông tin trong chương trình truyền hình có những bước cơ bản sau: tiếp nhận thông tin; phân loại thông tin; tóm lược thông tin; Xác nhận, kiểm tra độ tin cậy của thông tin; phân tích, tổng hợp, kiến nghị giải quyết thông tin; lưu trữ thông tin

1.2 Vai trò của xử lý thông tin trong chương trình Truyền hình

Dựa vào những luận văn và các bài nghiên cứu về chương trình Truyền

hình đã tham khảo, cũng như từ những ví dụ cụ thể rút ra từ việc phân tích sự khác nhau trong xử lý thông tin giữa 3 chương trình: Cuộc sống thường ngày, Chuyển động 24 giờ và Thời sự 19h, có thể rút ra vai trò cơ bản của phương pháp xử lý thông tin trong mỗi chương trình truyền hình Đó là: Tạo dấu ấn khác biệt của từng chương trình; Tăng sức hấp dẫn với mỗi chương trình phù hợp với những đối tượng khán giả khác nhau và những khung giờ khác nhau; Bảo đảm tính thống nhất và định hướng chung của chương trình cũng như của một kênh truyền hình; Duy trì công chúng thường xuyên, trung thành với

chương trình truyền hình đó

1.2.1 Tạo dấu ấn riêng biệt

Bước chân vào khu vực làm việc của Ban Thời sự VTV1, ấn tượng đầu tiên của người đến thăm sẽ là âm thanh từ 2 chiếc tivi đặt ngay phía ngoài cửa Mỗi chiếc Tivi đó thông báo chỉ số Rating hàng ngày của những chương trình lớn, những bản tin quan trọng mà Ban Thời sự đang sản xuất: Chào buổi sáng, bản tin 12h, Cuộc sống thường ngày, bản tin 19h, Vấn đề hôm nay Những chiếc Tivi thông báo rating được đặt ở đó bắt đầu từ năm 2015 này, để

Trang 31

những người làm chương trình có thể căn cứ vào đó nắm được lượng khán giả theo dõi chương trình của mình trồi sụt mỗi ngày, tiểu mục nào trong chương trình thu hút người xem nhất, tiểu mục nào không hấp dẫn khán giả Chiếc TV Rating, cũng chính là biểu hiện của một giai đoạn mà tính cạnh tranh của các chương trình truyền hình ngày càng cao, sức ép với người làm truyền hình ngày càng lớn, làm thế nào để hấp dẫn khán giả, làm thế nào để tạo ra sự khác biệt với các chương trình của các Đài khác, của các kênh khác trong Đài, hay của chính các chương trình trong cùng một kênh

Sử dụng chung nguồn thông tin, đội ngũ nhân lực, nếu các chương trình không có những điểm khác biệt, thì khán giả không thể phân biệt được từng chương trình với nhau Nói cách khác, mỗi một chương trình phải tạo được những dấu ấn riêng biệt trong lòng công chúng thì mới có thể tồn tại được trong một môi trường cạnh tranh như hiện nay

Vậy điều gì tạo nên Dấu ấn riêng biệt của từng chương trình? Bên cạnh những yếu tố thuộc phạm trù hình thức dễ nhận thấy như: Bộ Hình hiệu, Thiết

kế trường quay, Người dẫn thì yếu tố quan trọng nhất phải kể đến chính là Phương pháp xử lý thông tin Cùng một thông tin được đưa về, cách xử lý khác nhau của mỗi chương trình sẽ tạo nên những khác biệt phân biệt chương trình đó với chương trình khác sử dụng cùng nguồn tin tức

Lấy một ví dụ cụ thể về một sự việc gây xôn xao dư luận xảy ra vào tháng 10 năm 2014 Khi đó chương trình Chuyển động 24h của Đài Truyền hình VN là chương trình đầu tiên đưa tin về vị việc Giám đốc Bệnh viện đa khoa Lương Tài (Bắc Ninh) Phạm Văn Phan đã có hành vi không phù hợp với một công chức Sau bữa trưa ngày 15/10, do uống rượu quá chén, khi quay trở

về bệnh viện ông Phan đã có những hành vi cư xử không đúng chuẩn mực Ông này còn cản trở phóng viên báo chí tác nghiệp đưa tin về vụ mấy trăm

Trang 32

công nhân ngộ độc thực phẩm của Công ty TNHH MTV DHA đang được cấp cứu tại Bệnh viện Lương Tài

Về vụ việc trên Ngay trong chiều 15 tháng 10 năm 2014, Chương trình

CĐ 24h đã đưa nguyên văn Video Clip vị giám đốc này có thái độ không

chuẩn mực, chửi bới và thách thức phóng viên Clip này có hàng tít: GIÁM ĐỐC BỆNH VIỆN HÀNH HUNG PHÓNG VIÊN

Ngay sau khi Clip này được đưa lên sóng của chương trình, sự việc

đã gây rất nhiều bức xúc trong dư luận Nhiều ý kiến đồng cảm với phóng viên CĐ24h bị cản trở, đồng thời phản đối dữ dội hành vi của ông giám đốc Trong chuỗi chương trình tiếp sau đó, CĐ24h tiếp tục đưa thông tin về

vụ việc này cho tới khi ông giám đốc nhận quyết định xử lý kỷ luật và buộc thôi chức

Từ vụ việc này cũng như một số vụ việc khác được đưa trên CĐ24h từ những ngày đầu lên sóng, chương trình thể hiện phong cách và phương châm đưa tin quyết liệt, gay gắt, đeo bám, đi đến cùng sự việc, mang hơi hướng của thể loại điều tra, đi sâu, vạch trần sự việc cho đến “ra tấm ra món” Điều này thể hiện từ cách xử lý thông tin, phong thái của người dẫn, hay thậm chí từ cả cách rút tít của mỗi tin, phóng sự

Trong khi đó, chương trình Cuộc Sống Thường Ngày, ngay trước chương trình CĐ 24h, đưa tin về vụ việc theo cách khác Trong chương trình

ngày 16 tháng 10, Chương trình đưa phóng sự với hàng Tít: XỬ LÝ VỤ GIÁM ĐỐC BỆNH VIỆN LƯƠNG TÀI CẢN TRỞ PHÓNG VIÊN

Trong đó, phản ánh cuộc họp của Sở y tế Bắc Ninh với ông Phạm Văn Phan Điều đặc biệt, phóng viên có cuộc phóng vấn với ông Phan, trong đó ông giám đốc này nhận lỗi về hành vi của mình và giải thích thêm tình hình khi đó

có rất đông bệnh nhân, sự xuất hiện của phóng viên trong phòng bệnh khi không được phép là làm rối tình hình, ảnh hưởng đến công việc của y bác sỹ

Trang 33

Bên cạnh đó, chương trình cũng cung cấp thêm một số thông tin, đó là bản thân ông Phan cũng có 4 người cháu trong số những công nhân ngộ độc đang nằm viện Cách đưa tin này đem đến cho người đọc thêm những góc nhìn nhiều chiều hơn

Vụ việc này cũng phản ánh phong cách của Cuộc Sống thường ngày, nhẹ nhàng, dung dị trong cách tiếp cận, đưa tin theo góc nhìn đa chiều, và thường chọn đưa tin khi đã có những thông tin rõ ràng, hoặc tiếp cận được với các bên để lấy ý kiến

Cho đến chương trình Thời sự 19h ngày 16 tháng 10, sự việc được đưa

theo cách khác hơn nữa với hàng tít: CỨU CHỮA NẠN NHÂN VỤ NGỘ ĐỘC TẠI BẮC NINH Chương trình đưa chủ yếu thông tin về tình hình sức

khỏe của hàng trăm công nhân bị ngộ độc, họ đang được cứu chữa ra sao, lãnh đạo tỉnh tới thăm hỏi động viên Sau đó mới đề cập đến việc ông giám đốc bệnh viện bị xử lý và những lời xin lỗi của ông này Cách tiếp cận này phản ánh rất chuẩn xác phong cách truyền thống của thời sự 19h, chọn đưa những thông tin tác động đến số đông nhất (sức khỏe của công nhân), không chạy theo những sự việc riêng lẻ, không đưa tin theo cách có thể gây bức xúc

mà thường đưa khi sự việc đã có giải pháp đưa ra

Từ một ví dụ cụ thể trên có thể thấy mỗi chương trình trong dải giờ này

có cách tiếp cận riêng, cách xử lý thông tin riêng, vì vậy cho dù cùng đưa một thông tin, cũng không tạo cảm giác lặp lại Duy trì phong cách trung thành đó khán giả sẽ phân biệt được rõ từng chương trình cụ thể với những dấu ấn riêng Tuy vậy, trên thực tế, điều này không dễ thực hiện nếu không có những tiêu chí rõ ràng Chúng ta sẽ cùng phân tích trong phần sau của Luận văn này

1.2.2 Tăng sức hấp dẫn

Như đã nói ở trên, những tin tức xảy ra hàng ngày được rất nhiều báo đài đăng tải Thậm chí trong một Đài, tin tức đó có thể được đưa đi đưa lại

Trang 34

hàng chục, hàng trăm lần trong ngày, ở nhiều chương trình khác nhau Vậy điều gì khiến khán giả xem kênh của VTV1, xem chương trình Cuộc sống thường ngày, chứ không phải xem kênh khác, chương trình khác để thu nhận được tin tức đó? Phương pháp xử lý thông tin đóng vai trò quan trọng Đa phần khán giả sẽ bị hấp dẫn bởi những thông tin được khai thác được những góc nhìn mới mà các kênh khác không có; tiết lộ được những tình tiết, nhân vật, diễn biến mới; hoặc cũng có người thích cách đưa tin giật gân, câu khách;

số khác lại thích cách làm nhân văn, trung thực, đáng tin cậy…Phương pháp

xử lý thông tin sẽ mang lại những điểm khác biệt của mỗi chương trình, cũng như tăng tính hấp dẫn của các chương trình khác nhau, cho dù có cùng sử

dụng một tin gốc như nhau

1.2.3 Bảo đảm tính thống nhất và định hướng của chương trình

Trung thành và duy trì phương pháp xử lý thông tin nhất quán từ đầu tới cuối sẽ giúp Bảo đảm tính thống nhất và định hướng của chương trình VTV1 hiện nay có 18 bản tin hàng ngày, và một số chương trình dài hàng ngày như Cuộc sống thường ngày, Chuyển động 24h, Vấn đề hôm nay, Bản tin tài chính…Bên cạnh đó là những chuyên mục tuần được phát rải rác các ngày trong tuần như: Sự kiện bình luận, Đối thoại chính sách, Nông thôn mới, Khuyến công, Toàn cảnh thế giới, Báo chí toàn cảnh, Quốc hội với cử tri, Đảng trong cuộc sống hôm nay…Hay thậm chí, trong một dải giờ: từ 17h45 đến 19h45: có đến 3 chương trình khai thác tin tức cùng một nguồn: Cuộc sống thường ngày, Chuyển động 24 giờ, Thời sự 19h, khai thác hầu như cùng nguồn thông tin, cùng đội ngũ nhân lực, nếu không duy trì phương pháp

xử lý thông tin nhất quán đã được đặt ra từ khi chương trình bắt đầu, thì sẽ dẫn đến sự trùng lặp giữa các chương trình với nhau, khiến khán giả cảm thấy mệt mỏi khi phải xem đi xem lại cùng một thông tin, qua cả 3 chương trình

mà không hề có gì khác biệt

Trang 35

Thực tế thời gian qua, đã xảy ra tình trạng này với 3 chương trình của VTV1 Những người làm chương trình đã nhận được ý kiến phàn nàn của khán giả về việc 3 chương trình đưa trùng lắp thông tin quá nhiều Trên thực

tế, trùng lắp không quan trọng Có thể lấy ví dụ kênh tin tức CNN, các thông tin được đưa đi đưa lại liên tục trong ngày Nhưng vấn đề là phương pháp xử

lý phải khác (Vấn đề này sẽ được phân tích kỹ hơn ở phần sau của luận văn) Còn nếu không thì sẽ dẫn tới việc các chương trình dẫm chân nhau, và tự cạnh tranh, triệt tiêu lẫn nhau Trong khi một kênh truyền hình muốn phát triển tốt

và bền vững, thì các chương trình phải hỗ trợ nhau để khán giả bị hấp dẫn liên tục và không muốn rời kênh

1.2.4 Duy trì công chúng thường xuyên

Phương pháp xử lý thông tin giúp chương trình tạo được dấu ấn riêng biệt, tăng sức hấp dẫn, và đảm bảo nhất quán từ đầu đến cuối, thì điều tất yếu

sẽ đến đó là tạo ra những công chúng thường xuyên, yêu thích và theo dõi chương trình đó

Lượng công chúng đó trước đây được thể hiện bằng chỉ số rating ổn định, bằng những cuộc điều tra khán giả, hay những người thường xuyên gọi điện, viết thư về chương trình Còn hiện nay, nhờ công cụ mạng xã hội, có thể thấy khá rõ lượng công chúng thường xuyên của chương trình qua số lượng like, các comment góp ý, tương tác trên Facebook

Cuộc sống thường ngày lập trang fanpage vào tháng 11 năm 2014, khi bắt đầu ra số đầu tiên theo format hiện nay Hiện tại, trang fanpage của chương trình đã có gần 55000 người theo dõi, có những bài viết hàng nghìn lượt like và hàng trăm comment của khán giả

Bên cạnh đó chương trình Chuyển Động 24h cũng thu hút không kém, thậm chí là hơn CSTN Thể hiện ở con số hàng chục nghìn lượt like trang Fanpage CĐ24h, một số chương trình có hàng chục nghìn lượt xem

Trang 36

tại trong xã hội

1.3 Những yếu tố chi phối việc xử lý thông tin trong chương trình Truyền hình

1.3.1 Tôn chỉ mục đích

Nói đến tôn chỉ, mục đích thì luật pháp đã có quy định cho báo chí, và mỗi cơ quan báo chí đều phải có tôn chỉ mục đích của mình và thực hiện đúng theo tôn chỉ mục đích ấy Đó trước hết là trách nhiệm của các cơ quan báo chí đối với việc thực hiện đúng pháp luật Tuy nhiên bên cạnh đó, khi ra đời thì

cơ quan báo chí nào cũng phải nhằm đến các đối tượng độc giả, mục tiêu thực hiện Vậy thì buộc mỗi tờ báo phải phấn đấu để đạt được mục tiêu của mình,

và mục tiêu đó chính là sự thể hiện trong tôn chỉ, mục đích mà mình đưa ra khi xin cấp phép Một vấn đề nữa, đó là hiện nay chúng ta có rất nhiều cơ

quan báo chí (Theo thông tin từ Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến ngày 25/12/2014, cả nước Việt Nam có 838 cơ quan báo in; 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương; 90 báo và tạp chí điện tử) [32] Nếu

như báo nào cũng giống báo nào thì chắc chắn sẽ rất là nhàm chán, và dĩ nhiên độc giả sẽ không đọc, hoặc là đọc bất kỳ báo nào cũng được

Trang 37

Kênh VTV1 Đài Truyền hình Việt Nam có tôn chỉ mục đích hàng đầu

là kênh thông tin chủ đạo, tuyên truyền đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, là diễn đàn tin cậy của nhân dân, đồng thời cũng là kênh có uy tín, ảnh hưởng sâu rộng trong hệ thống báo chí và truyền hình cả nước, góp phần định hướng dư luận, tạo nhịp cầu gắn kết khối đại đoàn kết toàn dân Thông tin trên kênh VTV1 phải đảm bảo phản ánh nhanh nhạy, kịp thời, chính xác, toàn diện đến khán giả truyền hình cả nước Thực hiện tôn chỉ

đó, cho đến nay VTV1, đặc biệt là chương trình Thời sự 19H luôn là điểm hẹn tin cậy, là nơi để người dân thẩm định tính chính xác của các thông tin họ tiếp nhận được từ nhiều nguồn khác nhau Tôn chỉ mục đích này chi phối cách

xử lý thông tin của tất cả các chương trình trên kênh VTV1

Lấy Ví dụ chương trình Cuộc Sống Thường Ngày, có thể thấy rõ trong từng cuộc họp của nhóm làm chương trình vào mỗi buổi chiều là sự đấu tranh giữa việc đưa tin nhanh ngay lập tức với đưa tin thận trọng và chính xác

“- Có bao nhiêu người chết?

- 16

- Có thông tin là 19?

- Thông tin đó không chính thức

- Nhưng một số báo lớn đã đưa Check lại đi, lỡ 19 thì sao?

- Tôi không nghĩ nên báo tử cho ai khi chưa chắc chắn họ đã tử vong

- Hình ảnh này đắt đấy!

- Rất nhiều báo đài bị thu máy quay, chỉ có bên mình vào được tận nơi

- Tôi thấy thương tâm quá! Hình độc quyền, nhưng người nhà nạn nhân xem được sẽ rất đau đớn! Tôi nghĩ nên cắt đi…”

Đó là những trao đổi trong cuộc họp của nhóm làm chương trình Cuộc Sống Thường Ngày vào vào ngày 7 tháng 7 năm 2014, chiếc trực thăng Mi-

171 rơi ở khu vực Hòa Lạc cách trung tâm Hà Nội khoảng 40 km về phía tây

Trang 38

khi đang huấn luyện bay làm nhiều chiến sĩ tử vong Phóng viên Quý Thông được cử tới hiện trường để ghi lại những hình ảnh về vụ việc và mang về những hình quay rất đắt, vì khi đó chỉ có máy quay của VTV được vào tận nơi Tuy nhiên sau một hồi bàn luận, Ban Biên tập quyết định cắt nhiều hình ảnh vì chúng quá thương tâm, cho dù đó là những hình ảnh mà nhiều người muốn nhìn thấy tận mắt tại hiện trường vụ tai nạn Cùng với đó là thông tin được Bộ Quốc phòng cung cấp: 16 chiến sỹ tử vong Tuy vậy, một số nguồn tin từ các báo cho biết, thêm 3 chiến sỹ đã tử vong tại bệnh viện Đưa con số

16 hay 19? Nếu đưa 16 thì là một con số cũ, còn đưa 19 thì chưa chắc chắn, liệu có quyền tước đi “mạng sống” của người khác hay hi vọng của người thân của họ khi chưa chắc chắn hay không, cho dù chỉ là một con số trên màn hình Cuối cùng những người làm chương trình CSTN quyết định giữ nguyên con số 16 Và sau đó, một số báo đưa con số 19 cũng phải đính chính Cho dù con số thiệt mạng sau này lên tới 20 chiến sỹ, nhưng đó là sau nhiều ngày nỗ lực cứu chữa của bệnh viện

Đó chỉ là một trong vô vàn những cuộc đối thoại xẩy ra trong các cuộc họp của chương trình CSTN Không thể phủ nhận được đưa tin ngay tức thì, đưa tin đầu tiên, đưa những hình ảnh nóng, độc quyền…là mong muốn của bất cứ phóng viên, bất cứ chương trình tin tức nào Tuy vậy, trung thành với tôn chỉ mục đích đã được đặt ra, sự lựa chọn của CSTN luôn là bớt nhanh một chút, bớt nóng một chút, bớt gây shock một chút, nhưng phải đảm bảo tiêu chí hàng đầu là toàn diện, khách quan, nhân văn, chính xác

1.3.2 Khung giờ phát sóng

Phương pháp xử lý thông tin trong chương trình truyền hình, bị chi phối bởi khung giờ phát sóng Khái niệm này quá quen thuộc với truyền hình thế giới, nhưng với truyền hình Việt Nam thì mới chỉ được chú trọng vài năm trở lại đây Tại sao khi phát vào khung giờ nào thì thông tin phải phù hợp với

Trang 39

khung giờ đó? Một nguyên nhân quan trọng và có thể nhìn thấy dễ dàng, đó là những nghiên cứu tâm sinh lý căn bản của con người Ví dụ vào buổi sáng, khi người ta vừa thức dậy, khả năng tiếp nhận thông tin không cao, thời gian

để xem tivi cũng không nhiều, nếu đưa những tin tức hay những phóng sự dài dòng, bình luận phân tích sâu, sẽ khó thu hút Với đặc điểm tâm sinh lý đó, thông tin hấp dẫn vào buổi sáng thường là những thông tin nhanh, được biên tập ngắn gọn, đơn giản, dễ hiểu để phục vụ nhu cầu “BIẾT” của khán giả Trong khi đó, khung giờ buổi tối, ví dụ 19h, là lúc hầu hết mọi người Việt Nam đã đi làm về, đang ngồi bên mâm cơm, bắt đầu xem lại những tin tức đáng chú ý của một ngày Khi đó, họ đã “BIẾT” rất nhiều tin tức, nên có nhu cầu khác là “BIẾT RÕ HƠN” và “HIỂU”, lúc này nếu cung cấp thông tin nhiều và liên tục lại không hợp lý vì họ đã nạp quá nhiều thông tin trong ngày Vì vậy, điều hợp lý là đưa những tin tức sâu hơn, những phóng sự mang tính bình luận, phân tích sâu kèm theo những kiến giải của chuyên gia về sự kiện đáng chú ý đã diễn ra trong ngày

Với chương trình Cuộc Sống Thường Ngày, khung giờ của chương trình rơi vào thời điểm từ khoảng 6h kém 15 chiều đến 6h rưỡi Đây là thời điểm nhiều người bắt đầu đi làm về, đang chuẩn bị cơm nước hoặc dọn dẹp nhà cửa trước bữa ăn tối Họ không có thời gian ngồi ngay ngắn xem Tivi, mà

sẽ xem khi đang làm một việc gì đó Tâm lý lúc này cũng thường là muốn nhìn lại một ngày có những sự kiện gì, cũng như muốn theo dõi những vấn đề thường thức trong gia đình: như làm sao có bữa ăn ngon, làm sao tốt cho sức khỏe, làm sao để nuôi dạy tốt con cái, chăm sóc bản thân Với người dân thành phố, đây cũng là thời điểm nhiều người cảm thấy mệt mỏi sau một ngày bận rộn, sau khi vượt được đoạn đường tắc, nhiều khói bụi về đến nhà, nên họ muốn nghe những thông tin nhẹ nhàng một chút, để cảm thấy thư giãn và cảm giác tích cực cho buổi tối sắp đến Đây là những đặc điểm tâm sinh lý, chi

Trang 40

phối cách xử lý thông tin trong chương trình CSTN Bên cạnh một số tin tức dạng điểm lại trong ngày (đơn thuần là thông tin, không bình luận), thì chương trình chú trọng những vấn đề thường thức trong gia đình, những mối quan tâm đời thường của khán giả, với cách đưa tin nhẹ nhàng, gần gũi, thân thiện, chứ ít chú trọng vào các phóng sự điều tra hay phân tích bình luận sâu Chương trình cũng cố gắng chọn đưa nhiều những thông tin lạc quan, tích cực, và nếu thông tin mang tính tiêu cực thì thường đưa theo góc độ tìm giải pháp của vấn đề

1.3.3 Đối tượng khán giả

Xác định được đối tượng khán giả là vấn đề sống còn đối với truyền hình hiện đại Cũng giống như yếu tố khung giờ phát sóng, Truyền hình Việt Nam càng phát triển tiệm cận với các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới thì yếu tố Đối tượng khán giả càng được chú trọng quan tâm Tất nhiên, với các chương trình có yếu tố tin tức chính luận thì mục tiêu đối tượng khán giả càng rộng càng tốt Tuy vậy, với mỗi một chương trình, vẫn cần xác định được khán giả mục tiêu của mình Và nhu cầu của nhóm khán giả mục tiêu

đó, sẽ chi phối phương thức xử lý thông tin của mỗi một chương trình

Với CSTN, ngay từ khi ra đời, những người sáng lập chương trình đã xác định khán giả mục tiêu là những người nội trợ, những người sẽ trở về và

lo bữa ăn của mỗi gia đình vào cuối buổi chiều (bên cạnh đó là những người

có tuổi có thời gian ngồi xem tivi vào giờ đó) Mà nhu cầu của nhóm khán giả này là gì? Như ở trên đã phân tích, một trong những mối quan tâm nhất của

họ là những vấn đề thường thức gia đình, kiến thức để sống khỏe, sống có ích, kiến thức để chăm sóc gia đình, nuôi dạy con cái Đó là lý do, cho dù có thay đổi format chương trình nhiều lần, thay đổi cách thức dẫn dắt chương trình,

bộ nhận diện chương trình…thì về cơ bản, những chuyên mục “đinh” của chương trình vẫn giữ nguyên: Chuyên mục Sống khỏe (những kiến thức về

Ngày đăng: 24/11/2021, 15:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Dững (chủ biên; 2006) Tham luận tại hội thảo khoa học, Toàn cầu hóa và sự phát triển của báo chí truyền thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hóa và sự phát triển của báo chí truyền thông
2. Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận báo chí, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2012
3. Trần Bá Dung (2008), Nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng báo chí Hà Nội, Luận án tiến sỹ chuyên ngành truyền thông đại chúng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu tiếp nhận thông tin của công chúng báo chí Hà Nội
Tác giả: Trần Bá Dung
Năm: 2008
4. Hà Đăng (2002), Nâng cao năng lực và phẩm chất của phóng viên báo chí trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực và phẩm chất của phóng viên báo chí trong thời kỳ công nghiệp hoá - hiện đại hoá
Tác giả: Hà Đăng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2002
5. Nguyễn Thị Trường Giang (2008), Nghề báo không đơn thuần là nghề mưu sinh, Bài phỏng vấn nhà báo Hồ Quang Lợi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghề báo không đơn thuần là nghề mưu sinh
Tác giả: Nguyễn Thị Trường Giang
Năm: 2008
6. Vũ Quang Hào (2001, 2004), Ngôn ngữ báo chí, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
7. Hà Bình Hòa (2001), Nhu cầu tiếp nhận thông tin, Luận án tiến sĩ Tâm lý học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu tiếp nhận thông tin
Tác giả: Hà Bình Hòa
Năm: 2001
9. Đinh Văn Hường (2006), Các thể loại báo chí thông tấn. NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể loại báo chí thông tấn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2006
10. Trần Bảo Khánh (2007), Đặc điểm công chúng truyền hình Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Báo chí, Chuyên ngành Truyền thông đại chúng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm công chúng truyền hình Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trần Bảo Khánh
Năm: 2007
11. Trần Bảo Khánh (2012), Sản xuất chương trình Truyền hình, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất chương trình Truyền hình
Tác giả: Trần Bảo Khánh
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2012
12. Nguyễn Trí Nhiệm, “Các loại hình lao động báo chí và Phương pháp thu thập thông tin”, Bài giảng chuyên đề Lao động nhà báo, Chương trình đào tạo thạc sỹ Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Các loại hình lao động báo chí và Phương pháp thu thập thông tin”
13. Đỗ Chí Nghĩa (2012) Vai trò của báo chí trong định hướng dư luận xã hội, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của báo chí trong định hướng dư luận xã hội
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
14. Tạ Bích Loan (2010), Tiêu chí đánh giá tác phẩm truyền hình hay, Tài liệu của Đài Truyền hình Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiêu chí đánh giá tác phẩm truyền hình hay
Tác giả: Tạ Bích Loan
Năm: 2010
15. Lê Hồng Quang (biên dịch) (1999), Viết cho độc giả, Hội Nhà Báo Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết cho độc giả
Tác giả: Lê Hồng Quang (biên dịch)
Năm: 1999
16. Trần Quang (2005), Kỹ thuật viết tin, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật viết tin
Tác giả: Trần Quang
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2005
17. Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang, (2004), Cơ sở lý luận báo chí truyền thông, NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí truyền thông
Tác giả: Dương Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
18. Dương Xuân Sơn (2009), Giáo trình Báo chí Truyền hình, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Báo chí Truyền hình
Tác giả: Dương Xuân Sơn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
Năm: 2009
19. PGS.TS Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đại chúng, NXB Chính Trị 20. Phan Văn Tú (2010), Nhập môn truyền hình, Đại học KHXH và NVTp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng, "NXB Chính Trị 20. Phan Văn Tú (2010), "Nhập môn truyền hình
Tác giả: PGS.TS Tạ Ngọc Tấn (2001), Truyền thông đại chúng, NXB Chính Trị 20. Phan Văn Tú
Nhà XB: NXB Chính Trị 20. Phan Văn Tú (2010)
Năm: 2010
21. Viện Ngôn ngữ học Viện Khoa học Xã hội (1992), Từ điển tiếng Việt Tài liệu được dịch ra Tếng Việt Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Viện Ngôn ngữ học Viện Khoa học Xã hội
Năm: 1992
22. Brigitte Besse - Didier Desormeaux (2003), Phóng sự truyền hình, Nxb Thông Tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phóng sự truyền hình
Tác giả: Brigitte Besse - Didier Desormeaux
Nhà XB: Nxb Thông Tấn
Năm: 2003

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm