Từ đó mà có phương hướng vận dụng đúng đắn và sáng tạo mối quan hệ đó vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.về mặt thực tiễn, do chưa nhận thức dầy đủ về mối quan hệ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến các thầy cô giảo, các cản bộ của Viện Triết học và Học viện Bảo chỉ và tuyên truyền đã giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tôi xin gửi lời cảm ơn đến thầy
PGS TS Vũ Văn Viên đã tạo điều kiện và hướng dẫn tôi trong suốt quả trình
học tập và hoàn thành luận văn.
Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến bố, mẹ, anh, em và chồng tôi đã khích lệ và tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong quả trình học tập và hoàn thành luận văn này.
Tôi xin ghi nhận những tình cảm và công lao ấy.
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự giúp đỡ và hướng dẫn của thầy giáo PGS.TS Vũ Văn Viên Các nguồn trích dẫn và tài liệu tham khảo trong luận văn là hoàn toàn chân thực Nếu sai sót tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, ngày 15 tháng 11 năm 2012
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Hồ Thị Lương
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1.
MÓI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI RIÊNG
VÀ VẤN ĐÈ XÂY DựNG NÈN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM 8 1.1 Quan điểm của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng 8
1.1.1 Khái niệm cái riêng, cái chung và cái đơn n h ất à 91.1.2 Quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riên g 121.1.3 ý nghĩa phương pháp luận của mối liên hệ biện chứng giữa cáichung và cái riêng 20
1.2 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là sự vận dụng
lý luận chung về kinh tế thị trường vào điều kiện cụ thể ở Việt n am 22
1.2.1 Vận dụng những đặc trưng của lý luận chung về kinh tế thị trườngvào quá trình xây dựng kinh tế thị trường ở Việt N am 22
ỉ 2.1.1 Khải quát về kinh tế thị trường và kinh tể thị trường đinh hướng
1.2.2.2 Tính dặc thù của kinh te thị trưởng dịnlì hướng xà hội chù nghĩa
ớ Việt nam còn the hiện ở những dặc trưng s a u 36
Trang 5Chương 2.
VÁN ĐÈ XÂY DựNG, HOÀN THIỆN NÈN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 43 2.1 Thực trạng và những vấn đề đặt ra của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay 43
2.1.1 Thực trạng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủnghĩa ở Việt Nam hiện nay 43
2.1.1 ỉ Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
là nền kinh tế thị trường được xây dựng theo con đường phát triển rút ngắn 43 2.1.1.2 Còn biểu hiện chẫm trễ và bảo thủ trong đổi mới tư duy lý luận
về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 46
2 ỉ 1.3 Việc xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa còn chậm chạp, nhiều yếu ké m 42 2.1.1.4 Duy trì khu vực kinh tế nhà nước cồng kềnh, kém hiệu quà 49 2.1.1.5 Hệ thống thị trường trong nền kinh tế thị trường ở nuớc ta chưa phát triển đồng bộ 50
2.1.2 Nhừng vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng và hoàn thiền nềnkinh tế thị trường định hướng xã hôi chủ nghĩa ở Việt Nam hiện n ay 55
2.2 Những giải pháp cơ bản nhằm hoàn thiện và phát triền nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ờ Việt Nam 64
2.2.1 Một số giải pháp tiếp tục vận dụng lý luận về kinh tế thị trường (cái chung) vào quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xâ hội chủ nghĩa ở Việt Nam (cái riêng) 64
2.2.1.1 Tiếp tục nghiên cứu lý luận và thực tiễn, nhận thức xâu sắc hơn cái chung- tính phố biển và cái riêng- tính đục thù cùa kình tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa 64 2.2.1.2 Vụn dụng và kết hợp có hiệu quà tỉnh phổ biến và dặc thù cũa kình tế thị trường dịnh hướng xà hội ờ Việt N a m 65
Trang 62.2.1.3 Đưa ra dự bảo vê mô hỉnh định hướng xã hội chủ nghĩa những thập niên đầu của thế kỷ XXI ở Việt N am 66
2.2.2 Một số giải pháp nhằm phát triển nền kiĩ)h tế thị trường đảm bảo giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay 68
2.2.2.1 Tiếp tục đoi mới tư duy lý luận và phương thức lãnh đạo của Đảng Cộng sả n 68 2.2.2.2 Hoàn thiện vai trò quản lý kinh tế của Nhà nước 72 2.2.2.3 Xây dựng hệ thống thị trường hiện đại, phát triển đồng bộ các loại thị trường 74 2.2.2.4 Đổi mới hệ thống giáo dục - đào tạo, góp phần nhanh chóng tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước 76 2.2.2.5 Tăng cường năng lực khoa học và công nghệ của nền kinh tế so
KẾT L U Ậ N 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7MỞ ĐÀU
l.Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế là một yếu tố không thể thiếu trung quá trình xây dựng và bảo
vệ tổ quốc, nhất là trong công cuộc xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Đại hội VI là mốc đánh dấu sự chuyển đổi quan trọng trong nhận thức
và tư duy của Đảng về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
ở Việt Nam Từ những thành quả đạt được của việc thực hiện nghị quyết đại hội VI, Hội nghị trung ưomg 6 khóa VI đã tổng kết và có bước phát triển, coi chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần có ý nghĩa chiến lược lâu dài Đại hội IX Đảng đã tổng kết sự tác động của quá trình chuyển đổi đối với phát triển kinh tế, xã hội ở nước ta và khẳng định: Chủ trưomg thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Đó chính là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Tại Đại hội X, Đảng ta coi đây chính là mô hình kinh tể tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xà hội: “để đi lên chủ nghĩa xã hội chúng ta phải phát triển kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa” Đây là một mô hình kinh tế mới cả về mặt lý luận và thực tiễn, do vậy, việc nghiên cứu kinh
tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ờ Việt Nam xét trong mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng có ý nghĩa to lớn về mặt lý luận và thực tiền
về mặt lý luận, vấn đề kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định
hướng xã hội chù nghĩa ở Việt Nam đã dược nhiều tác giả nghiên cứu nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên bên cạnh nhừng khía cạnh đã được bàn khá rõ thì vần còn một số khía cạnh còn dang bó ngỏ Đặc biệt là, nghiên cứu mối quan hộ giữa lý luận chung về kinh tế thị trường nói chung và kinh tế thị trường dinh hướng xâ hội chủ nghĩa ở Việt Nam, chúng ta cần phài lăm vừng
Trang 8quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng một cách có hệ thống Từ đó mà có phương hướng vận dụng đúng đắn và sáng tạo mối quan hệ đó vào công cuộc xây dựng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.
về mặt thực tiễn, do chưa nhận thức dầy đủ về mối quan hệ giữa kinh tế
thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, nên
đã có nhiều cách nhìn nhận sai lầm như: phủ nhận sự tồn tại của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng nhất kinh tế thị trường với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; hay kinh tế thị trường và tư bản chủ nghĩa là một còn kinh tế thị trường va chủ nghĩa xã hội đối lập nhau nên không thể ghép “định hướng xẫ hội chủ nghĩa” vào kinh tế thị trường một cách miễn cưỡng được Hơn nữa, Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa thì việc nghiên cứu lý luận chung về kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa xét trong mối quan hệ biện chứng giừa cái chung cái riêng càng có ý nghĩa to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xâ hội ở nước ta Bởi, trong bối cảnh đất nước
có nhiều thay đổi chúng ta cần xác định lại lý luận và thực tiến rõ hơn, đặt biệt cần phải tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, cụ thể là lý luận về kinh tế thị trường (được xây dựng từ sự khái quát nhừng thuộc tính chung của các nền kinh tể thị trường cụ thể và có thể được xem như là cái chung) vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam một cách sáng tạo, đủng đắn Muốn vận dụng có hiệu quả nhừng giá trị này trong điều kiện cụ thể của đất nước, chúng ta cần phải nhận thức đúng các đặc trưng chung cùa kinh tế thị trường cũng như mối quan hệ giừa kinh tế thị trường với kinh tế thị trường định hướng xà hội chủ nghĩa ở Việt Nam Nói cách khác, nghiên cứu để nhận thức đúng dằn hơn, đầy dú hơn, sâu sắc hơn kinh tế thị trường xét trong mối quan hộ cái chung, cải riêng và vận dụng cỏ hiệu quả trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xà hội chù nghĩa ở nước ta hiện nay là diều vô cùng quan trọng và cần thiết
Trang 9Xuất phát từ nhận thức trên, chúng tôi chọn đề tài: “Từ lý luận chung về kinh tế thị trường đến kỉnh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay ( xét trong mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng) ” làm để tài luận văn thạc sĩ của mình .
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta vẫn là một
đề tài mang tính thời sự, đặt biệt là việc lựa chọn xây mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dựa trên việc nghiên cứu những nguyên lý của chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng chúng trong điều kiện cụ thể ở Viêt Nam càng thu hút sự quan tâm của những người làm công tác nghiên cứu lý luận
Theo hướng nghiên cứu cơ bản, quan hệ giừa cái chung, cái riêng, một
số tác giả tập trung làm rõ các khái niệm cái chung, cái phổ biến, cái đặc thù, cái đơn nhất và mối quan hệ giữa chúng
Chẳng hạn, các bài viết: Vũ Hùng “lại nói về cái riêng và cái chung” Tạp chí cộng sản, số 8 -1986 Lê Trọng Ân “Một vài suy nghĩ về phép biện chứng của cái phổ biến” - Tạp chí Triết học, số 1 - 1989
Cũng theo hướng nghiên cứu trên, các hướng nghiên cứu này được chú
ý trong các giáo trình mang tính chuẩn quốc gia hay sách tham khảo giành cho sinh viên, học viên cao đẳng - đại học, thạc sỹ nghiên cứu sinh không chuyên triêt hoặc chuyên triết Tiêu biểu như: “ Giáo trình chủ nghĩa duy vật biện chứng” (Hệ cao cấp lý luận chính trị) của Khoa Triết học - Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hà nội xuất bản năm 2004; hay cuốn “ Nhừng chuyên đề triết học” giành cho cao học và nghiên cứu sinh của PGS,TS Nguyền Thế Nghĩa - Viện Khoa học Xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhà xuất bàn Khoa học Xà hội năm 2007
Theo hường nghiên cứu về kinh tế thị trường và kinh tế thị trường định hướng xâ hội chú nghĩa, trên thực te dà có nhiều công trình nghicn cứu về các vấn de này
Trang 10Chẳng hạn, cuốn sách tham khảo “ Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của GS.TS Vũ Đình Bách chủ biên, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2008 Cuốn sách được biên soạn trên cơ sở tổng hợp nội dung của 11 đê tài thuộc chương trình khoa học câp nhà nước Cuôn sách hàm chứa nhiều nội dung rộng lớn và phức tạp, trong đó đáng chú ý là nhận định của GS.TS Vũ Đình Bách, kinh tế thị trường mỗi nước không giống nhau mà luôn mang đậm sắc thái đặc thù dân tộc.
Cuốn “Sự vận động và phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta” của Mai Tết, Nguyễn Văn Tuất, Đặng Danh Lợi, nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2006 Trong
đó tác giả chỉ ra sự giống nhau của các mô hình kinh tế thị trường và phác họa những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta
Cuốn , “Một số vấn đề công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam” do GS
Đỗ Hoài Nam chủ biên, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2003 Từ việc rút ra kinh nghiệm thế giới về công nghiệp hóa và một số quan điểm lý luận và thực tiễn chủ yếu về phát triển, công nghiệp hóa ở một số nước đang phát triển Châu Á Công trình đà khẳng định, kinh tế thị trường định hướng xà hội chủ nghĩa gắn với thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hỏa ở Việt Nam là con đường rút ngắn theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Cuốn “Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bàn chủ nghĩa ở Việt Nam” của GS.TS Dương Phú Hiệp, xuất bàn năm 2001 Trong đó giáo sư làm
rõ lý luận của các nhà kinh điển về con đường đi lên chủ nghĩa xà hội không qua giai đoạn phát triền tu bàn chủ nghĩa, từ đó Giáo sư luận giải con đường
đi lên chủ nghía ở nước ta, đó là con dường rút ngăn, do dặc thù của đất nước qui dịnh
Cuốn "Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xà hội chủ
nghía Trong điều kiện Mệt Nam là thành viên cùa tố chức thương mụi thể
Trang 11giớ i” của TS Nguyễn Văn Hậu, TS Nguyễn Thị Như Hà đồng chủ biên, nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội, 2009 Các tác giả đã là rõ những vấn đề đặt ra trong quá trình xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cả về lý luận và thực tiễn, đồng thời đua ra những giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa khi Việt Nam là thành viên của tổ chức Thưomg mại Thế giới
Cuốn “20 năm đổi mới và sự hình thành thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” của PGS,TS Nguyễn Cúc, Nhà xuất bản Lý luận chính trị năm 2005 Tác giả đã làm rõ những đặc trưng của kinh tế thị trường
và đưa ra một số kinh nghiệm, giải pháp đổi mới hệ thống kinh tế, hệ thống chính trị nhàm hoàn thiện dần thể chế kinh tế thị trường và nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trinhg hội nhập
Cuốn “Nền kinh tế quá độ trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” của PGS,TS Vũ Văn Phúc, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, năm
2005, sách chuyên khảo Trong đó phó gió sư đã là rõ đặc điểm của nền kinh
tế thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đi xâu nghiên cứu một số thành phần kinh tể trong thời kỳ quá độ, nhấn mạnh vai trò của nhà nước đổi với sự phát triển kinh tế
Có thể thấy, các công trình, bài viết trên được các nhà nghiên cửu đề cập nội dung phong phú, đa dạng, với mức độ nông xâu khác nhau Trong luận văn của mình, xuất phát từ nghiên cứu một cách khái quát, hệ thống quan điểm của triết học Mác - Lênin về phạm trù cái chung cái riêng và mối quan hệ biện chứng giữa chúng, chúng tôi tập trung làm rõ việc vận dụng lý luận về kinh tế thị trường (lý luận khái quát về nhừng đặc trưng chung của mọi nền kinh tế thị trường) trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xà hội chủ nghĩa
ở Việt Nam xét trong mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái ricng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cửu
Mục đích của dề tài là trên cò sở lý luận biện chứng giừa cái chung và cái
Trang 12riêng, vận dụng lý luận chung vê kinh tê thị trường vào xây dựng nên kinh tê thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, từ đó làm rõ thực trạng của việc xây dựng nền kinh tế thị trường ở nước ta thời gian qua và đưa ra một
số phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
Để đạt được mục đính trên luận văn có nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, làm rõ quan điểm của triết học Mác - Lênin về cái chung, cái riêng và mối quan hệ giữa chúng
Thứ hai, phân tích những vấn đề lý luận cơ bản về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Thứ ba, làm rõ thực trạng về việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thời gian qua và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay
4 Cở sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cở sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam
Luận văn sử dụng tổng hợp các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, các phương pháp đi từ trù tượng đến cụ thể, kết hợp với một
số phương pháp khác như phân tích và tổng hợp, so sánh, logic và lịch sử.
5 Đối tưựng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu lý luận chung về kinh tề thị trường (là lý luận khái quát những đặc trưng chung của các nền kinh tế thị trường) và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt nam, xét trong mối quan hệ biên chứng giừa cái chung và cái ricng
Từ dối tượng nghiên cửu trôn, luận văn tập trung nghicn cứu là quan điềm của triết học Mác - Lênin ve phạm trù cái chung, cái ricng và mổi quan
hệ giữa chúng; lý luận chung về kinh tế thị trường và kinh tề thị trường định
Trang 13hướng xã hội chủ nghĩa trên cở sở đó luận giải môi quan hệ giũa chúng dựa trên phạm trù cái chung và cái riêng.
6 Đóng góp của đề tài
Vê mặt lý luận: Luận văn hệ thông lại quan diêm của Triêt học Mác -
Lênin về phạm trù cái chung, cái riêng và mối quan hệ giữa chúng Trên cơ sở
đó làm rõ sự vận dụng mối quan hệ cái chung và cái riêng vào việc nhận thức mối quan hề giữa lý luận chung về kinh tế thị trường với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
về mặt thực tiễn: Kết quả của luận văn có thể là tài liệu tham khảo trong
cá trường Cao đẳng, Đại học khi giảng dạy và học tập chủ nghĩa Mác
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được chia thành 2 chương, 4 tiết
Trang 14Chương 1.
MÓI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA CÁI CHUNG VÀ CÁI
RIÊNG VÀ VẤN ĐÈ XÂV DựNG NẺN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM • • •
1.1 Quan điểm của triết học Mác - Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cải riêng
Cũng giống như những vị tiền bối của mình (Heghen), C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin không tác phẩm nào chuyên bàn về phạm trù cái chung và cặp phạm trù cái riêng; nhưng trong tác phẩm của mình các ông đã
để lại cho nhân loại chân lý khoa học về phép biện chứng (những nguyên lý, những qui luật, ngững cặp phạm trù) áp dụng vào cả tự nhiên xẵ hội và tư duy Phép biện chứng đó không chỉ có ý nghĩa về phương diện lý luận mà còn
có giá trị về mặt thực tiễn Đấy là điểm khác biệt giữa triết học Mác nói chung, cặp phạm trù cái riêng, cái chung nói riêng đối với tất cả các nhà triết học trước Mác, kể cả Hêghen là: “Người đầu tiên trình bày một cách khía quát và có ý thức những hình thức vận dụng chung của phép biện chứng ấy”
[37,35] Trong Tư bản, Mác đã đối lập phương pháp biện chứng của mình với
phương pháp biện chứng của Hêghen: “Phương pháp biện chứng của tôi không những khác với phương pháp của Hêghen về cư bản, mà còn đối lập hẳn với phương pháp ấy nừa Đối với Hêghen quá trình tư duy - mà ông thậm chí còn biến thành một chủ thể độc lập với tên gọi ý niệm - chính là vị thần sáng tạo ra hiện thực, và hiện thực này chẳng qua chỉ là biện chứng bên ngoài cúa tư duy mà thôi Đổi với tôi thì lại tái lại, ý niệm chẳng qua chi là vật chất dược dem chuyển vào trong đầu óc con người và được cài biến ở trong đó” [37,35]
Van dề cái chung, cái riêng dược dề cập trong một sổ tác phẩm của
Trang 15C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin Chẳng hạn như: Tư bản, Biện chứng của tự nhiên, Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phản đặc biệt là Bút
ký triết học của Lênin Bút ký triết học là những ghi chép tóm tắt, đánh giá
của Lê nin về các công trình triết học thời trước, từ Hy lạp cổ đại đến Hêghen
và Latxan Trong gần 400 trang của tác phẩm Bút ký triết học (từ trang 3 đến trang 397), rải rác, khi nghiên cứu khi nghiên cứu các tác phẩm của Platon, Arixtoots đặc biệt là khi nghiên cứu triế học của Platon, Arixtoots đặc biệt
là khi nghiên cứu triết học của Hêghen, Lênin đã đưa ra quan điểm của mình
về phép biện chứng, trong đấy cái riêng và cái chung được trình bày tưomg đối toàn diện và đầy đủ
7.7.7 Khải niệm cải riêng, cải chung và cải đơn nhất
Trước đây, một số nhà triết học thường đồng nhất quan niệm về cái riêng và cái đơn nhất Chẳng hạn Stecnin, ông viết: cái đơn nhất là một sự vật riêng lẻ, một hiện tượng, một quá trình, một sự biến riêng lẻ xảy ra trong tự nhiên và trong xà hội Cái đơn nhất trong triết học thường gọi là cái riêng lẻ Nếu nhìn thấy kỳ các tác phẩm của Mác, Ăngghen, Lênin thì hoàn toàn không
phải như vậy Trong Bút ký triết học, Lênin thường sử dụng các cặp quan hệ
chung - riêng, đơn nhất - phổ biến đi liền với nhau Việc đồng nhất giừa hai phạm trù cái riêng và cái đơn nhất dễ khiến người ta bị rối lên khi tìm hiểu sự vật hiện tượng và các thuộc tính của chúng, từ đó hiểu sai chúng trong nhận thức và vận dụng sai chúng trong thực tiền
Từ sự phân tích các quan điểm của các nhà kinh điển triểt học trước Mác
- Lênin, cho đen nay về cơ bản các nhà nghiên cứu đã phân biệt cái riêng và cái đơn nhất, xcm cái riêng là một khái niệm, cái đơn nhất là một khái niệm khác Vậy vái riêng là gì? Cái chung là gì? Cái đơn nhất là gì?
Trong sách giáo khoa thường có một xu hướng định nghĩa cái riêng như
là một sự vật, một hiện tượng, một quá trình riêng lè nhất định Các định nghĩa như vậy đâ mô tá được sự tồn tụi của các sự vật, hiện tượng trong thực
Trang 16tế khách quan; tuy nhiên, nó chưa giúp chúng ta thấy được sự liên hệ cái riêng này với cái riêng khác giữa vũ trụ bao la này.
Chúng tôi tán thành cách hiểu của Trần Phúc Thăng và Trần Thành, ở
bài viết Phép biện chứng duy vật với việc nhận thức và cải tạo thế giới trong cuốn Giáo trinh chủ nghĩa duy vật biện chứng, năm 2004, khi các tác giả xem
cái riêng là một sự vật, hiện tượng, một quát trinh riêng lẻ, tồn tại với tư cách
là một sự vật, hiện tượng riêng lẻ, tồn tại với tư cách là một chỉnh thể trong mối quan hệ độc lập tương đối với các những cái khác
Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta thường tiếp xúc với các sự vật, hiện tượng, quá trình riêng lẻ khác nhau như: cái bàn, cái cây, con người cụ thể mỗi sự vật đó được gọi là cái riêng; đồng thời chúng ta cũng thấy chúng không tồn tại biệt lập, tách rời mà có sự liên hệ nhất định với nhau Cho nên, nếu hiểu cái riêng như một sự vật riêng lẻ thì hoàn toàn chưa đầy đủ, mà còn phải thấy được sự tồn tại của nó với tư cách là một chỉnh thể độc lập tương đối với sự vật riêng lẻ khác
Theo chúng tôi, cải riêng là một phạm trù dùng để chỉ một sự vật, một hiện tượng, một quả trình riêng lẻ tồn tại với tư cách một chỉnh thể độc lập tương đối với những cái khác.
Cái riêng là một chỉnh thể, bởi cái riêng là sự thống nhất của các mặt,
các yếu tố, các bộ phận hợp thành một sự vật, hiện tượng riêng lẻ, tồn tại trong thực tế Mồi cái riêng đều bao hàm trong nó cái chung và cái đơn nhất Thiếu cái chung hoặc cái đơn nhất đều không thể cỏ cái riêng với tư cách là
một chỉnh thể cụ thể Vì vậy, đặc trưng của cái riêng chính là sựu tồn tại độc lập cùa nỏ, ở tính muôn hình muôn vẻ của nỏ.
Thực chất sự phân biệt cái riêng với các cái chung và cái đơn nhất chính
là sự phân biệt giừa sự vật với các thuộc tính, các mặt của nó Với cách hiểu ricng như vậy, việc định nghĩa cái chung, cái đơn nhất trở nên de dàng hơn
Chúng tôi chơ rằng, cái chung là một phụm trù dùng dế chi nhừng mặt, những
Trang 17thuộc tính giống nhau được lặp lại ở tất cả các sự vật, hiện tượng thuộc một lớp đối tượng nào đó.
Như vậy, muốn hiểu cái chung là gì, trước hết phải có hiểu biết về thuộc tính, về những mặt Vậy thuộc tính là gì? Khác với các sự vật, thuộc tính (tính qui định) vốn có của sự vật mà nhờ đó chúng ta biết được sự vật là gì, sự giống nhau và khác nhau giữa các sự vật đó như thế nào Cái chung được hiểu
là thuộc tính giống nhau được lặp lại ở tất cả các sự vật, hiện tượng thuộc một lớp đối tượng nhất định Ví dụ, thuộc tính ý thức chỉ tồn tại trong một lớp đối tượng xác định - con người Ý thức là của con người, nằm trong bộ não con người, không thể tách rời bộ não con người Thuộc tính chung này tồn tại trong mọi con người, dù người đó có dáng vóc cân nặng, tuổi tác như thế nào, sổng ở vùng đất nào Song, mức độ phổ biến của cái chung là khác nhau Điều này phụ thuộc vào lớp đối tượng mà cái chung đó phản ánh Nếu lớp đối tượng càng rộng thì tính phổ biến càng lớn
Bất kỳ một sự vật, hiện tượng nào cũng có nhhiều thuộc tính, trong đó
có những thuộc tính không chỉ tồn tại trong sự vật ấy mà còn tồn tại trong nhiều sự vật, hiện tượng cùng với lớp đổi tượng cùng lớp đối tượng với nó; nhưng cũng có những thuộc tính chỉ tồn tại trong sự vật ấy mà không tồn tại ở bất kỳ sự vật, hiện tượng nào khác Chẳng hạn, kết cấu của tháp Ẻppen là cái đơn nhất mà kết cấu của các tháp khác không có, tháp rùa giừa Hồ Gươm Hà Nội là cái đơn nhất mà các hồ khác trên thế giới không có Cũng ví dụ trên, giai cấp công nhân Việt Nam có những thuộc tính riêng mà các giai cấp công nhân nước khác không có, như ra đời trước khi có giai cấp tư sản Việt Nam, trong nội bộ không có tầng lớp công nhân quý tộc Điểm dặc biệt trên dấu vân tay chì có ở người này mà người khác không có Như vậy, cái đơn nhất là phạm trù dùng dể chì những mặt, nhừng thuộc tính chi có ờ một sự vật, hiện tưựng mà không lặp lại ờ nhừng sự vật hiện tượng khác
Tuy nhiên, khi hiểu về cái đơn nhất như trên, chúng ta không được hiểu
Trang 18máy móc mà phải đặt sự vật trong các mối quan hệ của nó, trong sự tồn tại thực tế của nó mà xem xét Nếu không, chúng ta sẽ mắc phải sai lầm đáng tiếc trong hạt động thực tiễn.
Từ sự phân tích trên chúng ta có thể khẳng định, cải chung và cải đơn nhất đều có điểm giống nhau: một là, chúng đều là những mặt những thuộc tính tồn tại trong các sự vật cụ thể; hai là, chúng đều là những bộ phận của cái riêng, đều dựa vào cái riêng để thể hiện sự tồn tại của mình Điểm khác nhau căn bản giữa cải chung và cải đơn nhất là: những mặt, những thuộc tính của
cái chung được lặp lại trong nhiều sự vật, hiện tượng của một lớp đối tượng, còn những mặt, những thuộc tính của cái đom nhất chỉ tồn tại trong một sự vật, hiện tượng mà không lặp lại ở bất kỳ sự vật, hiện tượng nào khác Như vậy, trong lớp đối tượng đó, cái đom nhất chỉ ra sự khác nhau giữa các sự vật, còn cái chung nói nên sự giống nhau giữa các sự vật đó Tuy nhiên, không phải có sự giống nhau nào đề là cái chung theo nghĩa triết học
ỉ 1.2 Quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng
Triết học Mác - Lênin khẳng định rằng, cái riêng và cái chung và cái chung có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Cái riêng tồn tại với tư cách là một
sự vật, hiện tượng, quá trình riêng lẻ; cái chung tồn tại với tư cách là những mặt, nhừng thuộc tính giống nhau được lặp lại ở tất cả các sự vật, hiện tượng thuộc một lớp đối tượng Như vậy không có cái riêng biệt lập, cũng không có cái chung biệt lập Vậy giữa cái chung và cái riêng có mối quan hệ với nhau như thế nào? Trên cơ sở lập luận và lý giải của các nhà kinh điển về vấn đề này, theo chúng tôi cần phải làm rõ bốn nội dung lớn sau:
Thứ nhất, củi chung, củi riêng và cải đơn nhất cỏ tồn tại khách quan không?
1 Cái chung tồn tại một cách khách quan nhưng không tồn tại biệt lập với cái riêng mà tồn tại ở trong cái riêng, thông qua cái riêng mà bieur hiện sự tồn tụi cùa mình V.I.I.ênin viết: “cái chung chì tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng” [33, 318] Chàng hạn, mồi con người là một cái riêng, mồi
Trang 19người đều có rất nhiều dấu hiệu cụ thể, các thuộc tính khác nhau về vóc dáng, trọng lượng nhưng tất cả những con người ấy đều có thuộc tính chung là biết chế tạo và sử dụng công cụ lao động Thuộc tính chung này của con người tồn tại thực sự, tồn tại khách quan, nhưng nó không tồn tại biệt lập ở dâu đó mà tồn tại trong những con người cụ thể, trong cái riêng Sẽ là vô lý khi thừa nhận những đặc điểm chung của con người tồn tại bên ngoài những con người cụ thể, thậm chí là vượt lên trên những con người cụ thể.
Một ví dụ khác, điểm chung của mọi xã hội đều được tạo nên bởi những yếu tố cơ bản sau: Lực lượng sản xuất, quan hệ sản suất, cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng Không có xã hội nào tồn tại mà thiếu những yếu tố đó Nhưng bản thân những yếu tố đó chỉ vận động trong những xã hội cụ thể, tức
là chúng tồn tại thông qua những cái riêng
2 Khẳng định cái chung chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng
mà biểu hiện sự tồn tại của mình; điều đó không có nghĩa là tuyệt đói hóa cái riêng và phủ nhận vai trò của cái chung đối với cái riêng Ngược lạ, cái riêng chỉ tồn tại trong mối liên hệ với cái chung, không có cái riêng thuần túy tách khỏi cái chung Kinh tế thị trường ở mồi nước là một cái riêng, nhưng các nền kinh tế đó đều bị chi phối bởi cái chung của qui luật giá trị, qui luật cung - cầu Trong giới tự nhiên cũng vậy, mồi sinh vật sống là một cái riêng, sự tồn tại của các sinh vật khác nhau tạo nên sự phong phú, đa dạng của thế giới tự nhiên; song tất cả các sinh vật đều chiu sự tác động của qui luật tự nhiên: qui luật chọn lọc tự nhiên, qui luật đấu tranh sinh tồn Cho nên, cả thế giới tự nhicn lẫn các hiện tượng xã hội chúng ta đều thấy rằng cái riêng không tồn tại tách rời cái chung mà liên hệ chặt chẽ với cái chung Chính vì thế, V.I.Lênin
dă nhận xét sâu sắc răng, “Cái riêng chì tồn tại trong mối liên hệ đưa đến cái chung" 133,381 ] 1 lơn nừa, bất cúa cái ricng nào cũng tham gia vào muôn vàn mối liên hộ vởi các sự vệt, hiện tưựng khác, các mối liên hộ ấy cứ tài rộng dần
vù trong sỗ chúng sỗ có mối liên hộ đưa dến một cái chung nào đó Có nhừng
Trang 20sự vật, hiện tượng tưởng như hết sức xa lạ với nhau, ví như người A ở trong nhà này và con khỉ ở trong khu rừng kia, nhưng nếu xét kỹ thông qua hàng nghìn mối liên hệ, cuối cùng ta vẫn thấy giữa chúng có cái chung nhất định,
và do đó đều liên hệ với nhau, chẳng hạn người A và con khỉ đều có thuộc tính phản ánh, vận động, quảng tính
3 Cái đơn nhất cũng tồn tại khách quan và cũng giống như cái chung, nó tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà thể hiện sự tồn tại của mình Vì thế, nếu một người A nào đó không tồn tại thì điểm đặc biệt trên dấu vân tay của người đó cũng sẽ không tồn tại
Thứ ha, cải chung, cải riêng, cái đơn nhất có thổng nhất với nhau không?
v ề điều này chúng ta có thể khẳng định: Chúng thống nhất với nhau trong
đó cái riêng là cơ sở để cái chung, cái đơn nhất tồn tại Nói cách khác, cái riêng
là cái toàn bộ, cái chung là cái bộ phận Cái riêng phong phú hơn cái chung, còn cái chung sâu sắc hơn cái riêng Khi dẫn ra ví dụ đơn giản I-van là một người, Giu-tso-ca là một con chó, Lênin đã vạch ra rằng trong mỗi câu đó ta khẳng định rằng cái riêng là (I-van, Giu-tsow-ca) và cái chung (người, con chó) Cái riêng là cái toàn bộ, phong phú hơn cái chung, cái riêng ngoài cái chung còn có cái đơn nhất, nhùng thuộc tính chỉ có ở nó và không lặp lại ở bất
kỳ một sự vật, hiện tượng khác Trái lại cái chung lại sâu sắc hơn cái riêng vì cái chung phản ánh những thuộc tính, những mối liên hệ ổn định, tất nhiên lặp lại ở nhiều cái riêng cùng loại Do vậy, cái chung là cái tồn tại với cái bản chất, qui luật qui định phương hướng tồn tại và phát triển của cái riêng Chẳng hạn chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam vẫn có nhừng thuộc tính chung với các nước xã hội khác như: có Dàng cộng sán lành đạo dựa trên khối liên minh công - nông - trí thức, Nhà nước là Nhà nước của dân, do dân và vì dân chính nhùmg thuộc tính chung đó đà tụo nên bán chất cùa chủ nghía xã hội ở Việt Nam, qui định phương hướng tồn lại và phát triển chủ nghĩa xă hội ờ Việt Nam
Trang 21Rõ ràng, trong mỗi cái riêng không chỉ chứa đựng cái chung mà còn chứa đựng cái đơn nhất Cũng giống như cái chung, cái đơn nhất chỉ là một mặt, một khía cạnh, một bộ phận của cái riêng; nhưng khác với cái chung, cái đơn nhất nói lên thuộc tính khác nhau giữa các sự vật, hiện tượng Vì vậy, không phải cái chung mà chính cái đơn nhất đa tạo nên sự khác biệt giữa các
sự vật, hiện tượng, giúp ta phân biệt sự vật này với sự vật kia, hiện tượng này với hiện tượng khác trong một lớp đối tượng bất kỳ Không phải ngẫu nhiên
ai đó lại nói: Đây là người nông dân Việt Nam, đây là người nông dân Trung Quốc Bởi, bên cạnh cái chung với nông dân các nước, nông dân Việt Nam còn có những tính qui định riêng mà chỉ người nông dân Việt Nam mới có Thí dụ nông dân Việt Nam bên cạnh cái chung với nông dân Trung Quốc và nông dân các nước khác trên thể giới là có tư hữu nhỏ, sản xuất nông nghiệp, sống ở nông thôn còn có đặc tính riêng là chịu ảnh hưởng của văn hóa làng
xã, của các tập quán lâu đời của dân tộc, của điều kiện tự nhiên đất nước nên
dù rất cần cù chịu khó, có khả năng chịu đựng những khó khăn trong cuộc sống Chính những đặc điểm riêng này đã tạo nên sự khác biệt giữa nông dân Việt Nam với người nông dân Trung Quốc và nông dân thế giới
Như vậy, mỗi cái riêng đều bao hàm trong nó cái chung và cái đơn nhất Không thể có cái riêng, có cái chung mà thiếu cái đơn nhất Và càng không thể có cái riêng, cái đơn nhất mà thiếu cái chung Nếu có quan niệm như vậy
về tính thống nhất của cái chung, cái riêng, cái đơn nhất thì chúng ta sê có sự vận dụng đúng đắn mối quan hệ này trong hoạt động thực tiền, tránh nhừng sai lầm đáng tiếc trong hoạt động thực tiễn
Tlỉừ ha, cái riêng, cải chung và cái đơn nhất cỏ thể chuyến hóa cho nhau không?
1 Cái riêng có thể chuyển hóa thành cái chung không? Theo sự phân tích trên cái riêng bao giờ cùng là cái toàn bộ, còn cái chung là bộ phận Với cách hiểu như vộy thì một sự vật cỏ thể chuyển hóa thành sự vật khác chứ
Trang 22không thể chuyển hóa thành những nét, những mặt, những thuộc tính (cái chung) của nó Trong trường hợp cái riêng chuyển hóa thành cái khác thì chỉ
có một sổ đặc điểm, đặc tính của nó được sự vật mới kế thừa và trở thành một
bộ phận của sự mới, chứ không phải là toàn bộ sự vật cũ (cái tiêng) chuyển hóa thành cái chung
2 Cái chung có khả năng chuyển hóa thành cái riêng không? Đối với khả năng cái chung chuyển hóa thành cái riêng, chúng ta không được hiểu một cách máy móc, cứng nhắc và cho rằng, cái bộ phận hoàn toàn chuyển hóa thành cái toàn bộ Đúng là cái chung có khả năng xâm nhập vào cái riêng khi lớp đối tượng được phản ánh ngày càng rộng Chẳng hạn, thuộc tính phản ánh khi chưa xuất hiện thế giới hữu cơ, nó chỉ tồn tại trong thế giới vô cơ, nhưng khi xuất hiện các hệ thống hữu cơ, đặc biệt là sự xuất hiện của con người thì thuộc tính này trở nên phong phú, đa dạng hơn Thực chất thuộc tính này không tồn tại ở đâu đó rồi mới xâm nhập vào trong các sự vật, hiện tượng riêng lẻ của thế giới hữu cơ mà trong các sự vật, hiện tượng riêng lẻ của thế giới hữu cơ đó đã chứa đựng tiềm ẩn thuộc tính này
Đúng là sự phát triển tự nhiên của các hình thái kinh tế - xã hội đang tạo điều kiện cho loài người tiến lên chủ nghĩa cộng sản, đây là vấn đề mang tính quy luật, là cái chung trong sự phát triển xã hội Cái chung này được thể hiện ngày càng rõ nét hơn, khi mà sự phát triển của lực lượng sản xuất đạt tới một trình độ nhất định, khiến cho quan hệ mang tính chất tư nhân trở thành lực cản đối với sự phát triển của nỏ Chính sự vần động của nhừng quy luật chung
đó mà xã hội loài người ngày càng có khả năng đến gần với chủ nghĩa cộng sản Vì vậy, cần phài hiểu khà năng chuyển hỏa cái chung thành cái riêng một cách mềm deo và dặt chúng trong những mối quan hệ cụ thể, dồng thời phài
cỏ sự lý giải rõ ràng hơn
Cái dơn nhất và cái chung có thể chuyền hóa cho nhau không? Ve điều
này, các nhủ triết học Mác xít khá thống nhất vởi nhau và điều khàng dịnh cái
Trang 23chung chuyến hóa thành cải đơn nhất và cải đơn nhất chuyển hóa thành cải chung tỏng những điều kiện xác định.
Sở dị có sự chuyển hóa đó là vì, bất kỳ sự vật, hiện tượng riêng lẻ nào trong thế giới vật chất cũng luôn vận động và biến đổi không ngừng, những mặt, những thuộc tính của sự vật đó vì thế cũng vận động và biến đổi Ví như, trước đây chế độ phong kiến với những đặc trưng của nó tồn tại như là cái chung; còn bây giờ nếu đâu đó tên thế giới còn tồn tại chính quyền kiểu phong kiến, với những đặc trưng kiểu phong kiến thì nó chỉ là cái đơn nhất.Mặt khác, trong hiện thực cái mới, cái tiến bộ thường nảy sinh trong lòng cái cũ, cái lạc hậu dưới góc dạng đơn nhất và lúc đầu xuất hiện không bao giờ toàn diện, đầy đủ, nó phải trải qua quá trình đấu tranh gay gắt với cái cũ Song, theo qui luật phát triển, cái mới nhất định sẽ thắng lợi cái cũ và nó phát triển trở thành cái chung Thí dụ từ công xã Pari, chủ nghĩa xã hội nay đã trở thành hệ thống Trái lại, nhiều thuộc tính lúc đầu là cái chung, nhưng càng về sau nó vận động không phù hợp với điều kiện mới nên dần dần trở thành cái đơn nhất Thí
dụ hiện tượng đa thê, đa thiếp là cái chung của đạo đức phong kiến, nếu đâu đó trong xã hội ta còn tồn tại thì đó chỉ là hiện tượng đơn nhất
Tuy nhiên, cái chung chuyển hóa thành cái đơn nhất và cái đơn nhất chuyển hóa thành cái chung chỉ xảy ra trong những điều kiện xác định Điều kiện xác định, theo chúng tôi có cả nhừng nhân tố khách quan và cả nhân tố chủ quan Song nhân tố khách quan mới là nhân tổ quyết định, còn nhân tố chủ quan là nhân tố ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của sự vật
Cái đơn nhất và cái chung là hai mặt đối lập cùa sự thống nhất biện chứng Cái đơn nhất luôn chi rỏ sự khác nhau giữa nhừng sự vậy, hiện tượng nào dó với những sự vật, hiện tượng khác, cho nên nó biểu hiện như là cái dặc thù; còn cái chung mang tính bàn chất, qui luật thường thể hiện ra như là cái phô biến, nó tồn tại trong một nhóm sự vụt nhất định Sv dổi lập giừa cái chung và cái dơn nhất thể hiện rỏ trong tự nhiên, xã hội và tư duy Tuy nhiên,
Trang 24sự khác nhau giữa cái chung và cái đơn nhất chỉ mang tính tương đối Trong hiện thực mỗi cái chung đều là một cái đơn nhất so với một phạm vi rộng hơn Vì vậy chỉ có liên hệ với nhau thì mới xác định xem một thuộc tính nào
đó là cái đơn nhất hay cái chung, phổ biến hay đặc thù "Do đó, nhiệm vụ của khoa học là phải phát hiện ra cái đơn nhất, từ những cái đơn nhất tìm ra những mối liên hệ đặc thù và phổ biến để hình thành nên những khái niệm, phạm trù qui luật nhằm rút ra những tri thức mới để chỉ đạo hoạt động của con người theo đúng qui luật khách quan
Thứ tư, cái chung, cải riêng, cái đơn nhất có thế tồn tại vĩnh viễn không?
v ề sự tồn tại của cái riêng, trong triế học Mác xít, tất cả các ý kiến đều thống nhất khẳng định, mỗi cái riêng khi khi xuất hiện chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian nhất địnhvà nó sẽ mất đi, không có cái riêng nào tồn tại vĩnh viễn cả Vì vậy, mỗi cái riêng chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian cỏ hạn, luôn lằm trong chu trình phát sinh, phát triển, tiêu vong, rồi lại xuất hiện dưới một dạng tồn tại khác của vật chất
Đối với cái đơn nhất, theo chúng tôi, nó sẽ có hai khuyng hướng, khuynh hướng thứ nhất là sẽ tiêu vong, chuyển hóa cùng với cái riêng thành cái khác và khuyng hướng thử hai là nó sê nhanh chóng trở thành cái chung Như vậy cái đơn nhất cũng chỉ tồn tại tạm thời trong một không gian, thời gian nhất định rồi chuyển hóa thành cái khác
Cái chung có tồn tại vĩnh viễn không? vấn đề này, về cơ bản, trong triết học Mácxít có hai ý kiến:
Ý kiến thứ nhất cho răng, cái chung tồn tại trong nhiều cái riêng, khi một cái ricng nào đó mất đi thì những cái chung tồn tại trong cái riêng ẩy không mất di và nó vần tồn tụi ở nhiều cái riêng khác nôn cái chung tồn tại vĩnh viền
Ý kiến thứ hai cho răng, có nhừng cái chung tồn tại vĩnh viền, song có những cái chung tồn tại trong một giai đoạn lich sử nhất định, rồi mất cùng lớp sự vụt mà nó phàn ánh
Trang 25Chúng ta vẫn khẳng định bóc lột giá trị thặng dư là cái chung của chủ nghĩa tư bản Nếu theo ý kiến thứ nhất thì thuộc tính bóc lột giá trị thặng dư
sẽ tồn tại vĩnh viễn cùng với sự tồn tại của xã hội loài người dù cho sau này loài người có bước sang một hình thái kinh tế - xã hội nào chăng nữa Nếu theo ý kiến thứ hai thì thuộc tính này có thể mất đi khi lớp sự vật mà nó phản ánh mất đi
Một vấn đề đặt ra là, các nhà kinh điển cho rằng có lớp sự vật có qui mô rộng lớn nhất (vật chất) sẽ tồn tại vĩnh viễn, vậy cái chung của lớp sự vật đó có tồn tại vĩnh viễn không? nếu chúng ta hiểu thuộc tính của tất cả các sự vật hiện tượng trong thế giới vật chất là thuộc tính của vật chất thì kết luận tất yếu được rút ra là cái chung tồn tại vĩnh viễn Thế nhưng, bên cạnh những thuộc tính của tất cả các sự vật, hiện tượng trong thế giới vật chất, lại có những thuộc tính chỉ
có trong một lớp sự vật hiện tượng nhất định Ví dụ, thuộc tính bóc lột giá trị trăng dư là thuộc tính chỉ có trong chủ nghĩa tư bản Vậy thuộc tính này cỏ thể tồn tại vĩnh viễn không? Đốn đây, chúng ta có một cách hiểu khác
Theo chúng tôi nhừng cái chung thuộc loại này không tồn tại vĩnh viễn Cho dù thế giới vật chất luôn vận động biến đổi, phát triển và chuyển hóa lẫn nhau không ngừng nhưng không có sự vật, thậm chí một lớp sự vật nào đó tồn tại vĩnh viễn cả Vì vậy, cái chung của các sự vật, hiện tượng đó sê không tồn tại vĩnh viễn mà được chuyển hóa thành cái khác
Tóm lại, bất kỳ sự vật, hiện tượng nào trong thế giới vật chất cũng là sự thống nhất của cái chung, cái riêng và cái đơn nhất Chúng tồn tại khách quan song không bất động mà luôn cỏ sự vận động và phát triển Tuy nhiên, nếu thể giới vật chất tồn tại vĩnh viễn thì bản thân chúng chì tồn tại trong một thời gian có hạn, luôn lam trong chu trình phát sinh, phát triển và ticu vong, rồi lại xuất hiện dưới dạng tồn tại khác của vật chẩt Cho nên, trong hoạt động nhận thức cũng như trong hoạt dộng thực tiễn chúng ta phải hiểu dúng và vận dụng đúng quan hộ giữa cái chung và cái riêng
Trang 261.1.3 ý nghĩa phương pháp luận của mối liên hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng
Trên cơ sở phân tích, mối quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng, chúng ta rút ra những kết luận có ý nghĩa phương pháp luận đối với hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người
Thư nhất, trong nhận thức, chúng ta phải thừa nhận cái chung, cái riêng, cái đơn nhất thống nhất với nhau Trong đó cái riêng là một sự vật, hiện tượng, quá trình riêng lẻ của thế giới khách quan trong mối quan hệ độc lập tương đối với cái riêng khác, còn cái chung, cái đơn nhất chỉ tồn tại trong cái riêng, thông qua cái riêng mà biểu hiện sự tồn tại của mình Vì vây, trong quá trình nhận thức, con người phải đi từ cái riêng lẻ mà rút ra cái chung, cái phổ biển
Có thể nói, bộ Tư Bản là một điển hình của sự vận dụng lý luận về mối
quan hệ cái chung, cái riêng để cắt nghĩa bản chất đích thực của chủ nghĩa tư bản C.Mác đã từ các nhà nước tư bản cụ thể (các cái riêng), ông đà chỉ cho
chúng ta thấy quan hệ chung tồn tại phổ biến trong xã hội tư sản, quan hệ
giữa tư sản và vô sản hay còn gọi là quan hệ bóc lột và bị bóc lột Từ đỏ, ông
chỉ ra bản chất chung của chủ nghĩa tư bản là bóc lột giá trị thặng dư.
Rõ ràng, Mác không thể rút ra được cái chung của chủ nghĩa tư bản nếu không bắt đầu từ các nước tư bản cụ thể Tuy nhiên, trong quá trình nhận thức, chúng ta không dừng lại ở cái chung mà phải từ cái chung, cái trừu tượng đến cái cụ thể trong tư duy V.I.Lênin đã viết: “Ý nghĩa cùa cái chung
là có tính chất mâu thuẫn: nó là chết cứng, là không thuần khiết, là không
hoàn toàn etc etc., nhưng chỉ nó mới là một giai đoạn trên con đường đi tới nhận thức cái cụ thể Một tổng sổ vô hạn nhừng khái niệm chung, nhừng
qui luật ctc dem lại cải cụ thể trong tính vẹn toàn của nó” [33, 298]
Như vậy, nhận thức của con người bắt dầu từ sự vật, hiện tượng riêng lè trong thực tế đốn cải chung và từ cái chung, cái trừu tượng đến cái cụ thể trong tư duy, rồi trong sự vận dụng cái chung đũ dược nhạn thức vào nhừng
sự vât, hiện tượng I lêng lè trong thực te
Trang 27Thứ hai, cái chung tồn tại trong cái riêng và thường là cái bản chất, cái sâu
sắc, cái mang tính qui luật, nên trong hoạt động thực tiễn, khi chúng ta cải tạo cái riêng thì cần phải dựa vào cái chung, phải thấy vai trò của cái chung trong cái riêng Nói cách khác, hiểu biết lý luận phản ảnh những cái chung sẽ giúp chúng
ta tránh được trình trạnh hoạt động một cách mò mẫm, thậm chí là tùy tiện Vì vậy, chúng ta cần tăng cường công tác nghiên cứu lý luận khoa học, ứng dụng cái chung vào những điều kiện hoàn cảnh cụ thể của mỗi cái riêng
Thứ ba, cái chung chỉ là một bộ phận của cái riêng, như là một mặt của
của cái riêng và ở trong mối liên hệ chặt chẽ tác động qua lại với cái đem nhất Điều đó đã đem lại cho cái chung một hình thức rất riêng biệt, cá biệt Vì vậy, việc áp dụng cái chung vào cái riêng cần phải có sự sáng tạo đúng đắn cho phù hợp với từng điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của cái riêng Nếu không chú ý đến điều đó, đem áp dụng nguyên xi cái chung, tuyệt đổi hóa cái chung sê dẫn tới sai lầm của của căn bệnh tả khuynh, giáo điều Trái lại, nếu coi thường cái chung chỉ chú ý đến cái đom nhất, tuyệt đối hóa cái đom nhất thì rơi vào sai lầm của tư tường hừu khuynh, bảo thủ Thí dụ, khi áp dung lý luận chủ nghĩa
xã hội khoa học, của chủ nghĩa Mác - Lênin, chúng ta phải căn cứ vào tình hình cụ thể ở từng thời kỳ lịch sử của đất nước để vận dụng lý luận đó sao cho thích hợp, có như vậy mới đưa lại kết quả cao trong thực tiền xây dựng xà hội chủ nghĩa ở Việt Nam Do vây, mọi biện pháp thực tiễn dựa trên việc vận dụng cái chung đều không thể như nhau đổi với tất cà các hiện tượng liên quan đến cái chung Điều này có nghĩa, biện pháp xuất phát từ cái chung đó, trong nhừng tường hợp cụ thể, cần phải thay đổi hình thức, phải được sáng tạo cho thích hụrp với đặc điểm cùa nhừng sự vật, hiện tượng cụ thể
Thừ lư, vì quá trình phát triển của sự vật, trong nhừng điều kiện nhất
định, cái dơn nhất có thể chuyển hóa thành cái chung và cái chung có thể chuyến hóa thành cái dem nhất nên trong hoạt dộng thực tiền, ta cần chù dộng tạo diều kiện cho cái cho cái đơn nhất (là cải mới, cái tiến bộ) phát triển
Trang 28chăm sóc nó và bảõ vệ nó để nó có thể nhanh chóng trở thành cái chung Đồng thời, phải biết tạo ra những điều kiện cần thiết để cái chung đã lạc hậu (cái lạc hậu, cái phản tiến bộ) thành cái đon nhất Tuy nhiên cần lưu ý là cả cái mới và cái cũ đều không phải do con người tùy tiện áp đật cho sự vật, hiện tượng theo ý muốn của mình mà chúng là kết quả của sự vận động của sự vật, hiện tượng theo các qui luật khách quan, cho nên phải căn cứ vào các qui luật khách quan mà có chiến lược hành động phù hợp.
1.2 Kinh tế thị trường định hướng xã hôi chủ nghĩa là sự vận dụng
lý luận chung về kinh tế thị trường vào điều kiện cụ thể ở Việt nam
Từ quan niệm về cái chung, cái riêng, cái đom nhất và mối quan hệ biện chứng giữa chúng chúng ta hãy nhìn nhận về quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam Chúng ta có thể thấy các nền kinh tế thị trường có nhừng thuộc tính chung Những thuộc tính này không tồn tại biệt lập mà liên kết, hòa quyện vào nhau được khái quát hỏa, xây dựng thành lý luận về kinh tế thị trường Từ đó chúng ta có thể xem lý luận chung về kinh tế thị trường là cái chung (là sự phản ánh tổng hợp nhừng thuộc tỉnh chung, bản chất của các nền kinh tế thị trường khác nhau) mà nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam phải có Cũng theo quan niệm
đã trình bày trong tiết 1.1 nói trên, nền kinh tế thị trường định hướng xà hội chủ nghĩa là cái riêng Trong cái riêng này có bao chứa các cái chung được phản ánh trong lý luận chung về kinh tế thị trường, đồng thời có bao chửa nhừng đặc diêm đặc thù của Việt Nam, trong đó sự định hướng xà hội chủ nghĩa là đặc điếm lớn nhất Chính vì vậy có thể nói một cách khái quát việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xà hội chủ nghĩa ở Việt Nam là sự vận dụng lý luận về kinh tố thị trường vào điều kiện cụ thể của Việt Nam
z.2 / I 'ận dụng những dặc trưng của lý luận chung về kình tể thị
trưởng vào quá trình xây dựng kinh tề thị trường ở Việt Nam
Lý luận chung về kinh té thị trường là cải chung, còn định hướng xã hội
Trang 29chủ nghĩa là cái đơn nhất, chúng kết hợp hòa quyện vào nhau tạo thành những đặc trưng bản chất của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
1.2.1.1 Khải quát về kinh tế thị trường và kinh tế thị trường đinh
hướng xã hội chủ nghĩa
1 Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, khi tất
cả các quan hệ kinh tế trong quá trình sản xuất xuất hiện đều được tiền tệ hóa, dich vụ trên thị trường và thái độ cư xử của thành viên chủ thể là hướng vào việc kiếm lợi ích của chính mình theo sự dẫn dắt của thị trường
Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ cao, khi tất cả các quan hệ khi kinh tế trong quá trình phát triển sản xuất xuất hiện đều được tiền tệ hóa, các yếu tố sản xuất như: vốn, đất đai và tài nguyên, vốn bằng tiền
và vốn vật chất, sức lao động, công nghệ và quản lý, các sản phẩm và dịch vụ tạo ra, chất xám đều là đối tượng mua bán, là hàng hóa
Ngoài ra khi nói về khái niệm kinh tể thị trường thì chúng ta có thêm hai quan điểm khác nhau nừa được đưa ra trong hội thảo về “kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa” do hội đồng lý luận Trung ương tổ chức:
Một là, xem “Kinh tế thị trường là phương thức vận hành lẩy kinh tế thị trường hình thành do trao đổi và lưu thông hàng hóa làm người phân phối các nguồn lực chủ yếu; lấy lợi ích vật chất cung cầu thị trường và mua bán giữa hai bên làm cơ chế khuyến khích hoạt động kinh tế Nó là phương thử tổ chức vận hành kinh tế - xà hội, không tốt mà cũng không xẩu Tổ hay xấu là do người sử dụng nỏ” Theo quan điềm này kinh tế thị trường là vật “trung tính”,
là “công nghệ sản xuất” ai sử dụng cùng được
lỉai là, xem “Kinh tế thị trường” là một loại kinh tể - xà hôi - chính trị,
nó in dấu ấn cua lực lượng xâ hội làm chủ thị trường Kinh tể thị trường là một phạm trù hoạt dộng, có chù thể của quá trình hoạt dộng đó, có sự tác dộng lần nhau cùa cúc chủ thể hoụt dộng Trong xã hội có giai cấp, chủ thể
Trang 30hoạt động trong kinh tế thị trường không phải chỉ cá nhân riêng lẻ, đó còn là những tập đoàn xã hội, những giai cấp Sự tác động qua lại giữa các chủ thể hoạt động đó có thể có lợi cho người này, tầng lớp hay gia cấp này; có hại cho tầng lớp, giai cấp khác.
Tóm lại, kinh tế thị trường là một trong những phương thức tồn tại của nền kinh tế mà trong đó các quan hệ kinh tế đều được biểu hiện thông qua quan hệ hàng hóa - thị trường Kinh tế thị trường là trình độ phát triển cao của kinh tế hàng hóa và vì thế nó hoàn toàn khác với kinh tế tự nhiên - là nền kinh
tế quan hệ dưới dạng hiện vật chưa có trao đổi
2 Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là kiểu tổ chức nền kinh tế - xã hội dựa trên nhừng nguyên tắc và qui luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên nhừng nguyên tắc và qui luật của chủ nghĩa xẵ hội Bởi vậy, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có hai nhóm nhân tố cơ bản tồn tại trong nhau, kết hợp với nhau và bố sung cho nhau Đó là nhân tố kinh tế thị trường và nhóm nhân tố của xu hướng mới đang vận động, đang phát triền theo hướng xã hội chủ nghĩa Trong đó, nhóm thứ nhất đóng vai trò
“động lực” thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển nhanh, hiệu quả; nhóm thứ hai đóng vai trò “hướng dẫn”, “chế định” sự vận động của nền kinh tế theo những mục tiêu đà xác định, bổ sung nhừng mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của kinh tế thị trường, hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội c ỏ thể nói răng: kinh tê thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta vừ mang những nét đặc trưng chung của kinh tế thị trường, vừa mang nhừng nét đặc thù, đó là định hướng xà hội chủ nghĩa Tính định hướng xà hội chủ nghĩa của nền kinh tế không phủ nhận các qui luật kinh tế thị trường, mà là cơ sở để xác định sự khác nhau giừa kinh tể thị trường ờ nước ta với các nước khác
ỉ 2.1.2 Vận dụnỊỊ lý luận chunịi »<• kinh tể thị trườnỊỊ vào việc xây dựnịỊ nền kình tề thị trườnịỊ ở Vỉệt Nam hiện nay
Như dà biết quá trình toàn cầu hóa kinh tế ngày nay dà và đang thu hút
Trang 31nhiều quốc gia, dân tộc vào quĩ đạo của kinh tế thị trường với mô hình cụ thể mang tính đặc thù Qui luật của tự nhiên và xã hội là khi sự vật càng phát triển thì càng có những hình thức biểu hiện đa dạng, phong phú và hoàn bị hom Dựa vào tên gọi hiện tại, kinh tế thị trường có những mô hình điển hình là: kinh tế thị trường tư bản kiểu Mỹ, kinh tế thị trường tư bản Tây Âu, kinh tế thi trường xã hội chủ nghĩa đặc sắc Trung Quốc tuy có sắc thái biểu hiện đặc thù, nhưng các mô hình này đều phải dựa trên nền tảng, cơ sở chung của kinh tế thị trường Sự phát triển của chúng phải tuân theo những nguyên tắc
và qui luật của thị trường Nen kinh tế thị trường Việt Nam cũng không ngoại
lệ hay dị biệt
Do đó kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam cũng
có những đặc tính chung của kinh tế thị trường là:
Thứ nhất, tính tự chủ và tự chịu trách nhiệm: chủ thể hay doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa đều có quyền tự chủ kinh doanh,
tự chịu trách nhiệm về lồ lài, tự điều chỉnh, căn cứ vào nhưng tín hiệu thị trường là không phải dựa vào mệnh lệnh hàrh chính quan liêu từ bên ngoài hay trên dội xuống
Thư hai, tính cạnh tranh: cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường định
hướng xà hội chủ nghĩa là nhân tố quyết đinh việc phân bổ hiệu quả các nguồn lực, thúc đẩy cải tiến công nghệ, hợp lý hỏa sản xuất, tiết kiệm chi phí,
hạ giá thành nâng cao chất lượng, mầu mã sản phẩm đễ chiếm thị phần Cạnh tranh cùng dẫn tới phân hóa và độc quyền, nếu thiếu sự kiềm soát chặt chè của Nhà nước xã hội chủ nghĩa
Thứ ha, tính tự phát: do cơ chế vận hành của thị trường phải thông qua
những dao dộng không ngừng của tín hiệu giá cả, nên luôn tiềm án các yếu tổ phá vờ cân dối, tách rời cung cầu và sự xung đột ý chí giừa các chu thể độc lụp, thậm chí gây nên nhừng tổn thát to lờn như làm phát, thất nghiệp, suy thoái, xâm hụi môt trường và cạn kiệt nguồn tài nguyên không thể tái sinh
Trang 32Chính vì lý do này mà ở đâu, trong nên kinh tê thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì “bàn tay vô hình” cần được bổ sung bằng “bàn tay hữu hình” với sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước xã hội chủ nghĩa nhằm can thiệp, hạn chế các khuyết tật và thất bại vốn có của thị trường.
Thứ tư, tính mở: xét về cả mặt không gian, qui mô và trình độ, bởi kinh
tế thị trường là phương thức kinh tế tích lũy và tăng tưởng, tái sản xuất mở rộng theo cả hai hướng quảng canh và thâm canh, đương nhiên quảng canh là chủ yểu
Hoạt động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa phải dựa trên cơ chế và các qui luật thị trường Đây là cơ chế về mối liên hệ và tác động qua lại giữa các bộ phận chủ yếu của thị trường như cung cầu và giá cả
Cơ chế thị trường thực hiện vai trò phối hợp hoạt động giữa các chủ thể riêng
và điều tiết sự phân phối phúc lợi cũng như nguồn lực thông qua các qui luật thị trường Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trước hết phải tuân theo các qui luật chung của kinh tế thị trường là:
Một là, qui luật giá trị
Qui luật giá trị là qui luật kinh tế cơ bản của quá trình sản xuất hàng hóa, ở đâu có sản xuất trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự hoạt động cùa qui luật giá trị
Ọui luật giá trị là qui luật chi phối cơ chế thị trường và chi phối các qui luật kinh tế khác, các qui luật kinh tế khác là biểu hiện yêu cầu của qui luật giá trị mà thôi
Đối với việc sản xuất một hàng hóa riêng biệt thì yêu cầu của qui luật giá trị biểu hiện ở chỗ: hàng hóa của người sản xuất muốn bán được trên thị trường, muốn dưực xà hội thừa nhận thì lưựng giá trị cùa một hàng hóa cá biệt phải phù hợp với thời gian lao động xà hội cần thiết Đối với một loại hàng hóa thì qui luật giá trị yêu cầu việc sàn xuất và trao dổi hàng hóa phải dưực tiên hành trên cơ sớ cũa việc hao phí lao dộng xà hội cần thiết:
Trang 33Trong lĩnh vực sản-xuất, yêu cầu qui luật giá trị thể hiện là tổng giá trị của hàng hóa phù hợp vời nhu cầu có khả năng thanh toán của xẫ hội.
Trong lĩnh vực trao đổi: việc trao đổi phải tiến hành theo nguyên tắc ngang giá Qui luật giá trị biểu hiện sự hoạt động của mình thông qua sự vận động của giá cả xung quanh giá trị Giá cả phụ thuộc vào giá trị, giá trị là cơ
sở của giá cả, những hàng hóa có hao phí lao động lớn thì giá trị của nó lớn dẫn đến giá cả cao và ngược lại Đối với mỗi hàng hóa thì giá cả hàng hóa có thể bằng hoặc nhỏ hơn hoặc lớn hơn giá trị nhưng đối với toàn bộ hàng hóa của xã hội thì chúng luôn luôn có tổng giá cả hàng hóa bằng tổng giá trị
Tác dụng của qui luật giá trị: qui luật giá trị tự phát điều tiết việc sản xuất và lưu thông hàng hóa thông qua sự biến động của cung - cầu thể hiện qua giá cả trên thị trường
Điều quan trọng là khi thừa nhận sự tồn tại và vận hành của qui luật giá trị, thì mọi hình thức can thiệp của Nhà nước hay các doanh nghiệp vào mức giá cả thị trường đều làm méo mó giá cả Thực chất đây là xu hướng phủ nhận qui luật giá trị do đó, phủ nhận kinh tế thị trường Các độc quyền (dù là Nhà nước hay tư nhân) đều là những biểu hiện của xu hướng này Qui luật giá trị là qui luật chung của mọi nền kinh tế thị trường, tự bản thân nó không mang trặc trưng và bản chất chế độ xã hội, Việt Nam đi theo con đường xây dựng kinh
tế thị trường thực sự, các chù thể kinh tế và Nhà nước cần và cỏ thể sử dụng mặt tích cực của qui luạt giá trị nhằm tính toán chi phí và quản lý hữu hiệu nền kinh tế
Hai là, qui luật giá trị thằng dư
Qui luật giá trị thặng dư là qui luật kinh tế cơ bản của mọi nền kinh tế thị trường phát triển, dặc trưng cho thời đại tích lũy kinh tể và tăng tướng Bởi xét cho cùng de tăng trường nhanh, tái sàn xuất mờ rộng nhiều, tích lùy lớn phải dựa trên cơ sờ giâ trị thặng dư Theo C.Mác: sàn xuất giá trị thặng dư là quá trình sàn xuất giá trị dược kéo dài vượt quá một điểm nào dấy hoặc vượt
Trang 34quá sức lao động, về nguyên tắc thì quá trình sản xuất giá trị và giá trị thặng
dư là thống nhất trong nền kinh tế thị trường Nhưng trong điều kiện tư bản chủ nghĩa nhằm thực hiện mục tiêu chiểm đoạt giá trị thặng dư làm giàu cho giới chủ tư bản, còn phía kia là tích lũy sự nghèo khổ đối với người lao động
Đó là tính chất tư bản của qui luật giá trị thặng dư *
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xà hội chủ nghĩa cần hạn chế
và loại bỏ tính chất bóc lột và tích lũy nghèo khổ, biến qui luật giá trị thặng
dư phục vụ cho tích lũy và tái sản xuất mở rộng, cải thiện cuộc sống và phúc lợi, làm giàu cho xã hội Nhà kinh doanh nếu kinh doanh có hiệu quả, tôn trọng pháp luật, làm tốt các nghĩa vụ xã hội, nộp thuế và trả công lao động thích đáng thì không thể coi là bóc lột, đồng thời vẫn có khả năng tạo ra nhiều giá trị thặng dư, tích lũy tái sản xuất mở rộng Tóm lại, Nhà nước và pháp luật xã hội chủ nghĩa khuyến khích làm giàu chính đáng và hợp pháp
Đó là biểu hiện của sự vận dụng sáng tạo qui luật giá trị thặng dư của Đảng ta
Ba là, Qui luật cung cáu
Cung phản ánh khối lượng hàng hóa được đưa ra thị trường để thực hiện (để bán) Cung do sản xuất quyết định, nó không đồng nhất với sản xuất
Cầu phản ánh nhu cầu tiêu dùng có khả năng thanh toán của xã hội Do đó cầu không đồng nhất với tiêu dùng, vì đó không phải là nhu cầu tự nhiên, nhu cầu bất kỳ theo nguyện vọng têu dùng chủ quan của con người mà phụ thuộc vào khả năng thanh toán
Cung - cầu có mối quan hệ hừu cơ với nhau, thường xuyên tác động lần nhau trên thị trường, ở đâu có thị trường thì ở đó có qui luật cung - cầu tồn tại
và hoạt động một cách khách quan Cung cầu tác dộng lẫn nhau:
Cầu xác định cung và ngược lại cung xác định cầu cầu xác định khối lượng, chất lượng và chúng loại hàng hóa, những hàng hóa nào dược ticu thụ thì mới dược tái sân xuất Ngược lụi cung tạo ra cầu, kích thích tăng cầu thông qua
phát triển sỗ lượng, chát lượng, chúng loại hàng hóa, hình thức, qui cách và
Trang 35gia ca cua no.
Qui luật cung cầu tác động khách quan và rất quan trọng Nếu nhận thức được chúng thì chúng ta vận dụng để tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh theo chiều hướng có lợi cho quá trình tái sản xuất xã hội Nếu Nhà nước có thể vận dụng qui luật cung - cầu thông qua chính các sách, các biện pháp kinh tế như: giá cả, lợi nhuận, tín dụng, hợp đồng kinh tế, thuế, thay đổi
cơ cấu tiêu dùng để tác động vào các hoạt động kinh tế theo qui luật cung - cầu, duy trì những tỷ lệ cân đối cung - cầu một cách lành mạnh và hợp lý
Bổn là, Quy luật cạnh tranh
Qui luật cạnh tranh là qui luật quan trọng, đặc trưng cho vận hành của cơ chế thị trường Cạnh tranh là sự tác động lẫn nhau giừa các nhóm người, giữa người mua và người bán, giữa người sản xuất và người tiêu dùng Hai nhóm này tác động lẫn nhau với tư cách là một thể thống nhất, một hợp lực ở đây cá nhân chỉ tác động với tư cách là một bộ phận, một lực lượng xã hội, là một nguyên tử của một khối Chính dưới hình thái đó mà cạnh tranh đà vạch rõ tính chất xã hội của sản xuất và tiêu dùng
Cạnh tranh như một tất yếu trong nền kinh tế hàng hóa Cạnh tranh có tác dụng san bàng các giá cả mấp mô để có giá cả trung bình, giá trị thị trường
và giá cả sản xuất đều hình thành từ cạnh tranh trong nội bộ ngành và giừa các ngành Cạnh tranh chủ yếu mang tính tích cực: nó thúc đẩy cải tiến hợp lý hóa sản xuất kinh doanh, áp dụng tiến bộ khoa học và công nghệ, giảm kinh phí và hạ giá thành sản phẩm, tăng năng suất lao động và phát triển lực lượng sàn xuất Tuy nhiên cạnh tranh tiềm ẩn xu hưởng dản tới độc quyền tự nhiên, nhừng kè chiến thằng trong tự nhiên luôn tìm mọi cách củng cố địa vị bá chủ, quay trờ lụi giết chết cạnh tranh Nền kinh té thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ờ Việt Nam cần khuyến khích và tạo điều kiện cho cạnh tranh lành mạnh, hơn nữa, không chi là cụnh tranh giữa các doanh nghiệp và hàng hóa dịch vụ trong nước mà quan trọng là phái túng cường sức cạnh tranh giừa các
Trang 36doanh nghiệp và hàng hóa dịch vụ trong nước với nước ngoài.
Tóm lại, trong cơ chế thị trường, qui luật cạnh tranh như một công cụ, phương tiện gây áp lực cực mạnh thực hiện yêu cầu của qui luật giá trị, cạnh tranh trong một cơ chế vần động chứ không phải cạnh tranh nói chung
Năm là, Quy luật lưu thông tiền tệ
Qui luật lưu thông tiền tệ là qui luật là qui luật xác đinh lượng tiền cần cho lưu thông Lượng tiền cần cho lưu thông chính bằng tỷ sổ giữa tổng giá cả hàng hóa với tốc độ lưu thông tư bản
Trong thực tế lượng tiền cần cho lưu thông bằng tỷ số giữa tổng giá cả hàng hóa trừ đi tổng tiền khấu trừ, trừ đi tổng giá cả bán chịu cộng với tổng tiền thanh toán với tốc độ lưu thông tư bản
Qui luật lưu thông tiền tệ tuân theo các nguyên lý sau:
Lưu thông tiền tệ và cơ chế lưu thông tiền tệ do cơ chế lưu thông hàng hóa quyết định
Tiền đại diện cho người mua, hàng đại diện cho người bán Lưu thông tiền tệ
có quan hệ chặt chẽ với tiền - hàng, mua - bán, giá cả - tiền tệ
Kinh tế hàng hóa trên một ý nghĩa nhất định có thể có thể gọi là kinh tế tiền tệ, quyết định cơ chế lưu thông tiền tệ
Mặt khác cơ chế lưu thông tiền tệ còn phụ thuộc vào cơ chế xuất nhập khẩu, cơ chế quản lý kim loại quý, cơ chế kinh doanh tiền của ngân hàng
Nếu qui luật cạnh tranh qui luật cung - cầu làm giá hàng hóa vận động, san bằng thì qui luật lưu thông tiền tệ giữa mối liên hệ cân bàng giừa hàng và tiền.Vận hành của nền kinh tế thị trường định hướng xà hội chủ nghĩa được thực hiện và phàn ánh thông qua các qui luật thị trường Điều này có nghĩa rằng các pliạrn trù như cung - cầu, giá trị, giá cả, giá thành, lợi nhuận, tiền tệ, cạnh tranh phải dược tôn trọng và phát huy tác dụng diều tiết việc phân bỗ các nguồn lực, nền kinh tế thị trường mời thực tế vận hành như một hộ thống chinh thể thay cho hệ thống kinh tế tự nhiên và kinh tẻ hàng hóa - chì huy
Trang 37Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có xuất phát điểm thấp,
do đó cần vận dụng tốt các qui luật thị trường nhằm thực hiện phát triển rút ngắn, nhanh chóng nâng cao trình độ lực lượng sản xuất và có điều kiện giải quyết tốt các vấn đề xã hội
1.2.2 Tính đặc thù của kinh tế thị trường định hưởng xã hội chủ
nghĩa ở Việt Nam.
1.2.2.1 Định hướng xã hội chủ nghĩa là điểm khác biệt căn bản nhất của kinh tế thị trường ở Việt Nam với kinh tế thị trường ở các nước khác.
Lịch sử loài người đã chứng kiến nhiều mô hình kinh tế khác nhau Mỗi
mô hình là sản phẩm của trình độ nhận thức nhất định trong những điều kiện lịch sử cụ thể Kinh tế hàng hóa cóa nguồn gốc từ xa xưa, tuy nhiên kinh tế hàng hóa trở thành kinh tế thị trường chỉ phát triển mạnh mẽ phong phú trong vài trăm năm gần đậy Các nhà kinh điển cho rằng, kinh tế thị trường là giai đoạn lịch sử tất yếu mà nhân loại bắt buộc phải trải qua để đi tới chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên, trước đây, những nhà lãnh đạo các nước xã hội chủ nghĩa cho rằng, khi giai cấp công nhân giành được chính quyền, bước vào xây dựng chủ nghĩa xã hội thì không cần đến qui luật giá trị, qui luật cung cầu , phù nhận kinh tế thị trường và cho rằng kinh tế thị trường phát triển cao trong xã hội tư bản, và do đó nó chỉ gắn với chủ nghĩa tư bản, thậm chí đồng nhất chủ nghĩa
tư bản với kinh tế thị trường Vì vậy, những người lãnh đạo nào có ý định kết hợp kế hoạch với thị trường đều bị lên án và bị coi không phải là người Mát xít chân chính
1 hực chất, kinh tế thị trường không phải là sản phẩm riêng, đặc thù của bất kỳ một hình thái kinh tế xã hội nào, nó là một hình thức tổ chức kinh tế do loài người sáng tạo ra trong quá trình phát triển của lịch sử nhân loại Chính
Lênin, khi xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước Nga với chính sách kinh tề mới
(N EP> đa cho ràng: Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xà hội tương đổi lạc hậu như nước Nga thì cùng với việc tiến hành công nghiệp hỏa thì cần phải sừ
Trang 38dụng quan hệ hàng hóa và nền kinh tế nhiều thành phần, sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước: “Vì chúng ta chưa có điều kiện chuyển từ nền tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hôi, bởi vậy, trong một mức độ nào đó chủ nghĩa tư bản là không thể tránh khỏi, nó là sản vật tự nhiên của nền tiểu sản xuất và trao đổi, chúng ta lợi dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên” [34,276]
Như vậy, xét cả về mặt lý luận và thực tiễn, các nhà kinh điển đều khẳng định sự cần thiết phải xây dựng kinh tế thị trường cho mục tiêu phát triển từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Các quốc gia lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội càng phải biết sử dụng kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa như một yếu tố khách quan cho sự phát triển lục lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỳ thuật cho chủ nghĩa xã hội
Đối với kinh tế thị trường định hướng xà hội chủ nghĩa Việt Nam, một mặt vừa có những đặc điểm chung giống như các nước khác có nền kinh tế thị trường là tôn trọng sự hoạt động của các qui luật kinh tế: Qui luật giá trị, qui luật cung cầu và vừa chứa đựng sự cạnh tranh, sự phá sản, sự bóc lột Mặt khác, nền kinh tế mà chúng ta xây dựng phải có nhừng đặc điểm riêng, phân biệt với các nền kinh tế khác Đó là nền kinh tế thị trường phát triển theo định lướng xã hội chủ nghĩa chứ không phải là kinh tế thị trường tự do theo kiểu
ư bản và mục đích của nền kinh tế là nhằm làm cho dân giàu nước mạnh, xã lội công bàng, dân chủ, văn minh, chứ không phải là nền kinh tế thị trường tư làn phục vụ lợi ích các nhà tư sàn, phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa
)ê dưa ra quyết định xây dựng nền kinh te thị trường định hướng xã hội chù ìghĩa ờ Viột Nam là cà một quá trình thay dối tư duy lý luận, nhận thức tìm
òi, học hòi và nghiên cứu của Đáng Cộng sàn Việt Nam bát đầu từ Đại hội /1 (1986) đen nay
Trang 39dụng quan hệ hàng hóa và nền kinh tế nhiều thành phần, sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước: “Vì chúng ta chưa có điều kiện chuyển từ nền tiểu sản xuất lên chủ nghĩa xã hôi, bởi vậy, trong một mức độ nào đó chủ nghĩa tư bản là không thể tránh khỏi, nó là sản vật tự nhiên của nền tiểu sản xuất và trao đổi, chúng ta lợi dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là bằng cách hướng nó vào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nền tểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện, con đường, phương pháp, phương thức để tăng lực lượng sản xuất lên” [34,276]
Như vậy, xét cả về mặt lý luận và thực tiễn, các nhà kinh điển đều khẳng định sự cần thiết phải xây dựng kinh tế thị trường cho mục tiêu phát triển từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội Các quốc gia lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội càng phải biết sử dụng kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa như một yếu tố khách quan cho sự phát triển lục lượng sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội
Đối với kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, một mặt vừa có những đặc điểm chung giống như các nước khác có nền kinh tế thị trường là tôn trọng sự hoạt động của các qui luật kinh tế: Qui luật giá trị, qui luật cung cầu và vừa chứa đựng sự cạnh tranh, sự phá sản, sự bóc lột Mặt khác, nền kinh tế mà chúng ta xây dựng phải có những đặc điểm riêng, phân biệt với các nền kinh tế khác Đó là nền kinh tế thị trường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa chứ không phải là kinh tế thị trường tự do theo kiểu
tư bản và mục đích của nền kinh tế là nhằm làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội công bàng, dân chủ, văn minh, chứ không phải là nền kinh tế thị trường tư bản phục vụ lợi ích các nhà tư sản, phát triển chế độ tư bản chủ nghĩa
Đe dưa ra quyết định xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là cà một quá trình thay dối tư duy lý luận, nhận thức tìm tòi, học hòi và nghiên cứu của Dáng Cộng sán Việt Nam bắt đầu từ Dại hội
VI (1986) dến nay
Trang 40Trên cơ sở nhận thức đúng đắn về xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (tháng 12 năm 1986) đã đề ra đường lối đổi mới toàn diện đất nước nhằm thực hiện hiểu quả hơn công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Đại hội đưa ra những quan điểm mới về con đường, phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt là công nghiệp hóa chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ, về cơ cấu kinh tế thừa nhận
sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa và thị trường, phê phán triệt để
cơ chế tập trưng quan liêu bao cấp, và khẳng định chuyển hẳn sang hoạch toán kinh doanh
Đại hội VII của Đảng đã có bước phát triển mới trong nhận thức về mối quan hệ giữa cơ chế thị trường, Nhà nước và doanh nghiệp Tuy chưa khẳng định “Nền kinh tế thị trường” nhưng đã xác định: Cơ chế vận hành nền kinh
tế hàng hóa nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa là cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước bằng pháp luật, chính sách, kế hoạch và các công cụ khác
Đại hội VII xác định công bằng xã hội phải được thực hiện cả trong phân phối tư liệu sản xuất và kết quả sản xuất; khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói giảm nghèo; quan hệ giữa người giàu và người nghèo; chính sách đền ơn đáp nghĩa, điều tiết thu nhập Những quan điểm đó được triên khai trên thực tế đã tác động tích cực đến việc phất triển kinh tế, ổn định chính tri - xã hội và tăng cường đồng thuận xà hội
Đến Đại hội lần thứ IX (tháng 4/ 2001), khái niệm kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chính thức được thể hiện trong các văn kiện, dồng thời khẳng dịnh phát triển kinh tể thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là đường lối nhất quán, là mô hình tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ
lên chù nghĩa Xíì hội ờ Việt Nam Đụi hội IX của Đảng đà khẳng định: ‘‘Kinh
tề thị trường định hường xă hội chù nghĩa ở Việt Nam là một kiểu tồ chức kinh té vừa tuân theo những quì luật cùa thị trường, vừa có dịnh hướng hời