Riêng việc tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí khu vực Đông Đông Bắc lại có những hạn chế như cách chọn chương trình sao cho hấp dẫn, sinh động, đội ngũ nhân sự, ê-kíp thự
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN XUÂN BẰNG
VẤN ĐỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH GIẢI TRÍ CỦA CÁC ĐÀI PT-TH
KHU VỰC ĐÔNG ĐÔNG BẮC HIỆN NAY
(Khảo sát các Đài Bắc Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh năm 2015)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN XUÂN BẰNG
VẤN ĐỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH GIẢI TRÍ CỦA CÁC ĐÀI PT-TH KHU VỰC ĐÔNG ĐÔNG BẮC HIỆN NAY
(Khảo sát các Đài Bắc Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh năm 2015)
Ngành : Báo chí học
Mã số : 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS HÀ HUY PHƯỢNG
HÀ NỘI – 2018
Trang 3Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày……tháng… năm 2018
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(Ký và ghi rõ họ tên)
PGS, TS Đỗ Thị Thu Hằng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn “Vấn đề Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí của các Đài Phát thanh và Truyền hình khu vực Đông Đông Bắc hiện nay (Khảo sát các Đài Bắc Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh năm 2015)” là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của PGS,TS Hà Huy Phượng (Học viện báo chí và tuyên truyền) Các số liệu nêu trong Luận văn là trung thực; những kết luận của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác; các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được trích dẫn rõ nguồn gốc
Tôi xin chịu trách nhiệm đối với luận văn của mình
Hà Nội , ngày tháng năm 201
Tác giả
Nguyễn Xuân Bằng
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tác giả trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Khoa Báo chí , Học viện Báo chí và Tuyên truyền; đồng nghiệp Đài PTTH các tỉnh: Bắc Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh đã giúp tôi hoàn thành luận văn này Trân trọng cảm ơn gia đình
đã tạo điều kiện, giúp đỡ cho tác giả hoàn thành luận văn
Luận văn chắc chắn sẽ còn một số thiếu sót về mặt kiến thức cũng nhƣ kỹ thuật văn bản Rất mong nhận đƣợc sự đóng góp chân thành của các nhà khoa học quý thầy cô giáo và đồng nghiệp
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân Bằng
Trang 7MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH GIẢI TRÍ - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN 10
1.1 Các khái niệm liên quan 10
1.2 Đặc điểm và tính chất tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí 16
1.3 Những yêu cầu về vấn đề tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí 18
Chương 2: THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH GIẢI TRÍ CÁC TỈNH ĐÔNG ĐÔNG BẮC 29
2.1 Tổng quan về Đài Phát Thanh Truyền Hình các tỉnh Đông Đông Bắc 29
2.2 Vấn đề tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí tại đài Phát thanh - Truyền hình Bắc Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh 35
2.3 Đánh giá vấn đề tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí tại các Đài Phát thanh - Truyền hình khu vực Đông Đông Bắc 55
Chương 3 : GIẢI PHÁP VÀ KHUYẾN NGHỊ VỀ VẤN ĐỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH GIẢI TRÍ TẠI ĐÀI PHÁT THANH TRUYỀN HÌNH CÁC TỈNH ĐÔNG BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY 63
3.1 Những vấn đề đặt ra đối với tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí tại các Đài Phát Thanh Truyền hình hiện nay 63
3.2 Giải pháp tổ chức sản xuất của chương trình truyền hình giải trí tại Đài Phát thanh truyền hình các tỉnh Đông Đông Bắc Việt Nam 67
3.3 Một số khuyến nghị về vấn đề tổ chức sản xuất chương trình THGT tại Đài PTTH thuộc các tỉnh Đông Đông Bắc Việt Nam hiện nay 82
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 94
PHỤ LỤC 97 TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, truyền hình là một trong những phương tiện truyền thông đại chúng lôi cuốn sự chú ý của đông đảo công chúng bởi khả năng thông tin trực quan sinh động bằng hình ảnh và âm thanh Những khái niệm truyền thông, báo chí, truyền hình đang dần trở thành quen thuộc, vai trò của nó đối với đời sống xã hội là không thể phủ nhận Nó gắn liền với sự phát triển của khoa học
kỹ thuật và tiếp thu được các đặc điểm của các loại hình nghệ thuật và báo chí khác Hiện nay, sóng truyền hình có mặt ở khắp nơi và tần suất của nó không còn giới hạn, cùng với sự phát triển của công nghệ nghe nhìn, truyền hình có bước tiến vĩ đại, từ phát sóng kỹ thuật kỹ thuật Analog đã chuyển dần sang phát sóng kỹ thuật số (Digital) Ngoài việc cải thiện đáng kể về chất lượng âm thanh và hình ảnh, tư duy sản xuất chương trình cũng có những bước thay đổi đáng kể Truyền hình giải trí đang trở thành một hướng chính trong cấu trúc các chương trình phát sóng của nhà đài bởi bản chất sâu xa của thông tin là tăng tính tương tác với công chúng
Truyền hình giải trí là một dạng chương trình phát trên sóng truyền hình qua khâu dựng hậu kỳ Trong truyền hình giải trí, công chúng xem sự kiện, được sống cùng sự kiện, được tham gia sự kiện Đây là yếu tố sống còn của truyền hình Truyền hình giải trí thể hiện được ưu thế vượt trội của báo hình: thông tin tức thời, khách quan, trung thực Truyền hình giải trí mang lại cho người xem những giây phút thư giãn thoải mái nhưng không kém phần sâu sắc khi biết lồng ghép các yếu tố văn hóa – xã hội vào trong từng chương trình phát sóng
Đây chính là một trong những nhu cầu của công chúng đối với các phương tiện thông tin đại chúng nói chung và truyền hình giải trí nói riêng
Trang 9Từ đó, truyền hình giải trí đang thực sự phát huy thế mạnh của báo chí, tác động, hình thành và định hướng một cách tích cực dư luận xã hội
Chương trình truyền hình giải trí đưa người xem đến với một thế giới giải trí, sống động ở từng giờ lên sóng thông qua màn ảnh nhỏ, ngày càng chiếm lĩnh thị trường trong lĩnh vực truyền thông và mang tính xu thế của truyền hình hiện đại Chính vì sự hấp dẫn và hiệu quả của chương trình lớn như vậy nên hiện nay ở Việt Nam, rất nhiều đài truyền hình từ Trung ương đến địa phương đều rất quan tâm và tích cực trong khai thác dạng chương trình này
Nhưng thực tế, chất lượng các chương trình truyền hình giải trí nói chung và những hạn chế trong việc tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí nói riêng là điều đáng được quan tâm, nghiên cứu Riêng việc tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí khu vực Đông Đông Bắc lại có những hạn chế như cách chọn chương trình sao cho hấp dẫn, sinh động, đội ngũ nhân sự, ê-kíp thực hiện chương trình phối hợp như thế nào, trang thiết bị
kỹ thuật có đáp ứng được công việc sản xuất hay không, yếu tố kinh phí như thế… Để có một chương trình hay, đạt chất lượng, phù hợp với nhu cầu công chúng khán giả, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó có yếu tố tổ chức sản xuất Tổ chức sản xuất chặt chẽ, đồng bộ, từng thành viên trong ê-kíp làm việc với tinh thần trách nhiệm cao sẽ mang đến thành công cho chương trình truyền hình giải trí Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình là hoạt động quan trọng trong việc thực hiện các chương trình truyền hình nói chung trong
đó, có chương trình truyền hình giải trí Vì thế, việc hiểu được công tác tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí là vô cùng cần thiết
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả thực hiện đề tài: “Vấn đề tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí của các Đài Phát thanh và Truyền hình khu vực Đông Đông Bắc (Khảo sát các đài Bắc giang, Lạng Sơn ,Quảng
Trang 10Ninh năm 2015)” để làm luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Báo chí, với hy vọng
sẽ đóng góp được những bài học kinh nghiệm quí báu để nâng cao chất lượng
chương trình truyền hình giải trí ở các đài khu vực Đông Đông Bắc
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cơ sở dữ liệu ban đầu để nghiên cứu về tổ chức, sản xuất chương trình truyền hình giải trí có nhiều sách, luận văn, khóa luận, bài viết, các đề tài nghiên cứu khoa học của các tác giả đề cập về lĩnh vực truyền hình, bao gồm
hệ thống cơ sở lý luận chuyên ngành, tài liệu cơ bản về quy trình và kỹ năng sản xuất tác phẩm Sau đây, tôi xin được tóm tắt nội dung những tài liệu có liên quan đến đề tài (theo trình tự thời gian) có thể điểm một số nghiên cứu sau đây:
- Sách “Truyền thông đại chúng” của Tạ Ngọc Tấn, Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2001 Trong đó, có Chương 3 đề cập kỹ thuật sản xuất chương trình truyền hình Đây là một trong những quyển sách cung cấp những lý luận và kiến thức cơ sở để tác giả nghiên cứu về tổ chức sản xuất các chương trình giai THGT khu vực Đông Đông Bắc
- Cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình”, Trần Bảo Khánh, Nhà
xuất bản Văn hóa - Thông tin, Hà Nội 2003, chỉ đề cập phương pháp sản xuất các chương trình truyền hình mà tác giả chưa xoáy sâu vào việc làm sao để tổ chức sản xuất chương trình truyền hình chất lượng
- Cuốn “Giáo trình Công nghệ sản xuất chương trình truyền hình”, của
tác giả Phạm Thị Sao Băng, Trường Cao đẳng Truyền Hình, VTV, Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội 2005 Mục 6 chương 3 của giáo trình đề cập công nghệ sản xuất chương trình THGT bao gồm: Đặc điểm của truyền hình, THGT các chương trình văn nghệ, ca nhạc, giải trí THGT các cuộc thi đấu, thể thao THGT các cuộc thi đấu thể thao có sử dụng camera di động Công nghệ sản xuất cầu truyền hình
Trang 11- Cuốn “Giáo trình báo chí truyền hình” của tác giả Dương Xuân Sơn,
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội 2009 Các nội dung chính liên quan đến THGT được tác giả đề cập là: sản xuất chương trình THGT Vai trò của các chương trình THGT Đặc điểm của chương trình cầu truyền hình Quá trình chuẩn bị một chương trình cầu truyền hình, thực hiện ghi hình và phát sóng
Những năm gần đây đã có một số luận văn Thạc sĩ đề cập đến những hoạt động của ngành PTTH ở trung ương và địa phương nước ta Cụ thể, có một số tác giả sau đây:
- “Tổ chức sản xuất chương trình thời sự truyền hình ở Đài Phát thanh
- Truyền hình Đồng Tháp”, luận văn Thạc sĩ của Dương Thị Thanh Hương,
thực hiện năm 2004 tại Phân viện Báo chí và Tuyên truyền thuộc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh Nội dung của đề tài bàn về cách thực hiện, TCSX chương trình thời sự phát sóng bình thường, chứ chưa đề cập đến việc TCSX chương trình thời sự được phát sóng trực tiếp
- Mai Vũ Tuấn, “Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình trực tiếp tại các Đài Phát thanh - Truyền hình khu vực Đông Bắc”, Luận văn Thạc sĩ
chuyên ngành Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, năm 2008 (Khảo sát tại các Đài PTTH Quảng Ninh, Lạng Sơn, Bắc Giang từ 01/2007 đến 06/2008) Tác giả cũng đề cập đến việc tổ chức sản xuất và việc nâng cao chất lượng một chương trình THTT Trong đó, tác giả đã giải quyết được các vấn
đề về lý luận và thực tiễn của quy trình TCSX Tuy nhiên phạm vi khảo sát của đề tài là khu vực các tỉnh Đông Đông Bắc, Việt Nam Nội dung của luận văn này chỉ dừng lại ở lý thuyết thực tiễn khu vực Đông Đông Bắc
- “Nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình trực tiếp trên Đài Truyền hình Quốc gia Lào” Luận văn Thạc sĩ truyền thông đại chúng chuyên
ngành Báo chí học của của Houm Phaeng Vilayphone, thực hiện năm 2010 tại Học viện Báo chí và Tuyên truyền Trong đó, đã giải quyết được các vấn đề
Trang 12lý luận và thực tiễn của quy trình TCSX; Các dạng chương trình THTT; Điều kiện để thực hiện chương trình THTT Tuy nhiên phạm vi khảo sát của 2 luận văn này tập trung ở các Đài PT&TH khu vực Đông Bắc và Đài Truyền hình Quốc gia Lào Nội dung của luận văn này chỉ dừng lại ở chất lượng các chương trình
- “Nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình trực tiếp trên Đài Truyền hình Việt Nam” của tác giả Phùng Thị Phúc (năm 2004) Tác giả chỉ
đề cập đến hiệu quả và phương pháp nâng cao chất lượng chương trình THTT trên sóng VTV
Nhìn chung, những luận văn cũng đề cập đến các chương trình truyền hình trực tiếp Tuy nhiên, mỗi đề tài phản ánh ở những khía cạnh khác nhau
Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào về “Vấn đề tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí của Đài Phát thanh và Truyền hình khu vực Đông Đông Bắc ” Vì vậy, có thể nói đây là đề tài mới, không trùng
lặp với bất cứ đề tài nào đã được công bố
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu công tác tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình như một hình thức báo chí mới xuất hiện, những thế mạnh của nó trong việc thu hút khán giả truyền hình, đi sâu phân tích những đặc điểm của kịch bản và cách thức tổ chức thực hiện chương trình, tìm đối tượng tham gia phù hợp, chuẩn bị đạo cụ minh họa, liên hệ cố vấn chuyên môn và hệ thống cộng tác viên đắc lực, tập luyện và tổ chức buổi ghi hình tại trường quay và hiện trường, chu toàn khâu hậu kỳ và dựng băng phát sóng
Trên cơ sở khảo sát một số chương trình truyền hình đã và đang phát sóng trên các Đài PTTH tỉnh Bắc Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh để đưa ra
Trang 13những nhận định, phân tích và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng chương trình truyền hình nói chung Từ đó đề xuất, kiến nghị những hướng đi thích hợp trong điều kiện hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả xây dựng nhiệm vụ như sau:
- Hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết liên quan đến sản xuất chương trình truyền hình và tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí
- Khảo sát, thống kê, phân tích, đánh giá thực trạng việc tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí tại một số Đài trong khu vực
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí của Đài PTTH khu vực Đông Đông Bắc hiện nay
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí
Luận văn thực hiện trên cơ sở nhận thức luận các vấn đề lý luận báo chí
về tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình Quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta về phát triển báo chí, truyền thông
Luận văn xây dựng khung lý thuyết về quy trình sản xuất chương trình truyền hình và mô hình tổ chức tòa soạn các cơ quan báo chí truyền thông và khung lý thuyết về lãnh đạo, quản lý báo chí và truyền thông
Trang 145.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở các phương pháp công cụ sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập các tài liệu có liên quan
đến vấn đề tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí Tham khảo các tài liệu sách báo, các luận văn của các nhà nghiên cứu đã từng làm trước đó
Phương pháp này giúp cho người nghiên cứu nắm được phương pháp của các
nghiên cứu đã thực hiện trước đây; có thêm kiến thức sâu, rộng về lĩnh vực đang nghiên cứu và làm rõ hơn đề tài nghiên cứu của mình
- Phương pháp khảo sát: Khảo sát thực tế hoạt động tổ chức sản xuất
chương trình truyền hình giải trí tại Đài PTTH các tỉnh Đông Đông Bắc Việt Nam Để có nhận định việc tổ chức sản xuất so với lý thuyết về tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí với thực tế đồng thời ghi nhận năng lực cũng như những ưu điểm và hạn chế trong quá trình tổ chức sản xuất
- Phương pháp thống kê: Tập hợp số lượng các chương trình phát sóng
của các Đài khu vực Đông Đông Bắc để phân tích, đánh giá hoạt động tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí tại Đài PTTH các tỉnh Đông Đông Bắc Việt Nam nhằm làm cơ sở kiến nghị cách nâng cao hiệu quả, chất lượng tổ chức sản xuất chương trình
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thu thập ý kiến của Ban Giám đốc,
trưởng, phó các phòng, những người tham gia sản xuất các chương trình truyền hình giải trí thuộc các Đài PTTH các tỉnh Đông Đông Bắc để thu thập các ý kiến về chất lượng, quy trình, công tác tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí nhằm đánh giá chung về công tác tổ chức sản xuất cũng như những thành công hạn chế của nó Thành phần phỏng vấn sâu gồm: 03 lãnh đạo cơ quan Đài PTTH nghiên cứu, khảo sát, và cán bộ tham gia trực
tiếp sản xuất chương trình THGT
- Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp này sử dụng bảng hỏi
điều tra theo bảng hỏi nhằm thu thập, phân tích một cách có định lượng ý kiến của khán giả thuộc các tầng lớp nhân dân Tổng số phiếu phát ra là 150 phiếu
Trang 156 Đóng góp mới của đề tài
Luận văn hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí, cụ thể là:
- Khái quát và nêu bật các khái niệm liên quan đến việc tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí
- Chỉ ra các yếu tố cấu thành trong việc tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí, điều kiện, tiêu chí để thực hiện một chương trình truyền hình giải trí có chất lượng…
- Luận văn chỉ ra thực trạng vấn đề tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí hiện nay Luận văn khẳng định tính tích cực của truyền hình giải trí, đồng thời chú trọng chỉ rõ những hạn chế cần sớm khắc phục đặc biệt là
về nhận thức cũng như quá trình sản xuất chương trình
- Đóng góp của luận văn là đánh giá được thực tế việc tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí hiện nay tại các Đài Bắc Giang, Lạng Sơn và Quảng Ninh nói riêng cũng như các Đài trong khu vực hiện nay nói chung, từ đó đã đề xuất được một số giải pháp để nâng cao chất lượng tổ chức sản xuất để phục vụ tốt hơn nhu cầu của khán giả đồng thời thu hút được khán giả, góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị của mình cũng vừa tăng thu hút quảng cáo, thực hiện tự chủ theo lộ trình của chính phủ
7 Ý nghĩa lý luận và giá trị thực tiễn của đề tài
7.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn là tài liệu tham khảo lý luận về tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí đối với các cơ sở đào tạo, nghiên cứu báo chí truyền thông
7.2 Giá trị thực tiễn
Luận văn có giá trị tham khảo về mặt thực tiễn tại các cơ quan báo chí nói chung và tại các Đài PTTH thuộc các tỉnh Đông Đông Bắc Việt Nam nói
Trang 16riêng Giúp những người làm truyền hình có hiểu biết sâu sắc hơn về tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí, giúp tác giả đề tài mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả, chất lượng tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí tại các Đài PTTH khu vực Đông Đông Bắc Việt Nam
8 Kết cấu của bài luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn
gồm có 3 chương, Hình vẽ, biểu bảng minh họa Cụ thể:
- Chương 1:Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí - Một
số vấn đề lý luận cơ bản
- Chương 2: Thực trạng vấn đề tổ chức sản xuất chương trình truyền hình
giải trí tại Đài Phát thanh Truyền hình các tỉnh Đông Đông Bắc Việt Nam
- Chương 3: Giải pháp và khuyến nghị liên quan đến vấn đề tổ chức
sản xuất chương trình truyền hình giải trí tại Đài Phát thanh Truyền hình các tỉnh Đông Đông Bắc Việt Nam
Trang 17Chương 1
TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH GIẢI TRÍ -
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN
1.1 Các khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm “chương trình truyền hình giải trí” và “tổ chức sản xuất chương trình giải trí”
Chương trình truyền hình (tiếng Anh: television program, television show) là một phân đoạn của nội dung dự định để phát sóng trên truyền hình,
mà không phải là một đoạn quảng cáo thương mại, quảng cáo kênh hay quảng cáo phim Nó có thể là một bản sản xuất duy nhất, hoặc phổ biến hơn, một loạt các phần liên quan (cũng được gọi là một phim bộ truyền hình)
Chương trình truyền hình có thể hư cấu (như trong những phim hài kịch và phim truyền hình), hoặc không hư cấu (như trong tài liệu, tin tức, và truyền hình thực tế) Nó có thể là chuyên đề (như trong trường hợp của một bản tin trên đài địa phương và một số bộ phim được thực hiện cho truyền hình), lịch sử (như trong trường hợp của nhiều phim tài liệu và phim hư cấu) Chúng có thể cùng chủ yếu là giảng dạy, giáo dục, giải trí hay như trường hợp trong tình huống hài kịch và các game show
Qua ghi nhận từ quá trình tham khảo tài liệu và trao đổi với các nhà báo
có kinh nghiệm trong lĩnh vực truyền hình và kinh nghiệm rút ra trong hoạt động thực tiễn của bản thân, tác giả xin đề xuất khái niệm về chương trình
THGT như sau: “Chương trình truyền hình giải trí là chương trình truyền hình chuyển tải những hoạt động, những sự kiện một cách nghệ thuật và có ý
đồ của người sản xuất đến với công chúng tiếp nhận thông qua sóng truyền hình Quá trình giao tiếp được diễn ra đồng thời, giữa chủ thể sản xuất chương trình và công chúng tiếp nhận có thể giao lưu, tương tác với nhau”
Trang 18Với các chương trình THGT, công chúng có cơ hội nắm bắt thông tin mới nhất, chính xác nhất và còn có cơ hội thưởng thức những buổi biễu diễn nghệ thuật, trực tiếp tham gia vào các hoạt động văn hóa, xã hội Với lợi thế
là truyền tải bằng hình ảnh, có màu sắc, kết hợp âm thanh nhiều cung bậc
- Chương trình truyền hình
+ Khái niệm về “Chương trình”: Chương trình là toàn bộ những nội
dung dự kiến hành động theo một trình tự nhất định và trong một thời gian nhất định Chương trình còn được định nghĩa là một loạt các hoạt động được thực hiện với sự hỗ trợ của các nguồn lực nhằm đạt được những mục tiêu cụ thể cho các nhóm khách hàng, nhóm đối tượng đã được định sẵn Để đánh giá chương trình là sự thu thập cẩn thận các thông tin về một chương trình hoặc một vài khía cạnh của một chương trình để ra các quyết định cần thiết đối với chương trình
+ Khái niệm về “Truyền hình”: Là một loại hình truyền thông đại
chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh về một vật thể hoặc một cảnh đi xa bằng sóng vô tuyến điện
Tác giả Dương Xuân Sơn, trong „Tập bài giảng môn Truyền hình” của Khoa Báo chí, Trường Đại học Quốc gia Hà Nội nêu: “Truyền hình là một phương tiện thông tin đại chúng truyền đạt thông tin nhờ phương tiện kỹ thuật đến đối tượng tiếp nhận là người xem Thông tin trong truyền hình gồm hình ảnh và âm thanh Hình ảnh trong truyền hình có cả hình ảnh động và hình ảnh tĩnh” [27, tr.3]
Trong cuốn “Truyền thông đại chúng”, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 2001, tác giả Tạ Ngọc Tấn cho rằng: “Truyền hình là một loại phương tiện thông tin đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh Nguyên nghĩa của thuật ngữ vô tuyến truyền hình bắt đầu từ hai từ Tele có nghĩa là “ở xa” và Vision nghĩa là “thấy được”, tức là “thấy được ở xa” [28, tr.143]
Trang 19Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia Truyền hình trở thành vũ khí công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như lĩnh vực văn hóa, xã hội an ninh, quốc phòng
Truyền hình bao gồm những đặc điểm sau: Là một loại hình báo chí mới, là kết hợp giữa thành tựu khoa học công nghệ, truyền thông và nhu cầu thông tin của xã hội; Hình ảnh sinh động, hấp dẫn tác động trực tiếp vào cảm quan người xem Có ưu thế nổi trội trong việc truyền tải cả âm thanh và hình ảnh; Nó là một phương tiện truyền thông đại chúng có vai trò to lớn trong việc đáp ứng nhu cầu của đời sống xã hội
+ Khái niệm về “Chương trình truyền hình”: Là sản phẩm của truyền
hình, là toàn bộ nội dung phát đi trong ngày, trong tuần, trong tháng Với nghĩa này nó bao hàm cả quá trình sáng tạo ra một tác phẩm từ nhiều công đoạn khác nhau Như vậy, ở góc độ nào đó, chương trình cũng có thể hiểu là cách gọi cho một sản phẩm hoàn chỉnh Từ chương trình bao hàm nhiều vấn đề: nội dung, hình thức thể hiện, đối tượng hướng tới, kết quả đạt được Chương trình truyền hình được nhìn nhận từ góc độ tổ chức sản xuất, theo tác
giả Tạ Ngọc Tấn “Chương trình truyền hình là sản phẩm lao động của một tập thể các nhà báo và cán bộ kĩ thuật, dịch vụ Đồng thời, đó cũng chính là quá trình giao tiếp truyền thông giữa người làm truyền hình với công chúng xã hội” [28, tr.143]
Trong quyển sách “Giáo trình báo chí truyền hình” của tác giả Dương Xuân Sơn, chương trình truyền hình là “Kết quả truyền hình; trong đó bao gồm các quá trình sáng tạo ra nó từ nhiều công đoạn và tồn tại ở nhiều mức
độ khác nhau Quá trình tạo dựng kế hoạch và sắp xếp chương trình gọi là chương trình truyền hình” [26, tr.115]
Tóm lại , chương trình truyền hình là sản phẩm lao động của một tập thể các nhà báo và các cán bộ kỹ thuật dịch vụ Đồng thời đó cũng là quá
Trang 20trình giao tiếp truyền thông giữa những người làm truyền hình với công chúng xã hội Chương trình truyền hình là cầu nối giữa công chúng và những người làm truyền hình Bất kỳ một chương trình truyền hình nào cũng hàm chứa những giá trị tư tưởng, văn hóa đặc thù của dân tộc, quốc gia, giai cấp hay tầng lớp xã hội rộng rãi Những giá trị này không chỉ được chuyển tải qua nội dung mà còn biểu hiện cả trong phương pháp sáng tạo và hình thức thể hiện
- Khái niệm về “truyền hình giải trí”
Tiếng Anh có nghĩa là: TV entertainment là một dạng hoạt động văn hóa, giải trí được hình thành sau khi truyền hình trở thành một phương tiện truyền thông Truyền hình giải trí giúp cho người xem dễ dàng tiếp cận với các hoạt động giải trí mà không cần phải trực tiếp tham gia các chương trình tại nơi tổ chức Truyền hình giải trí ngày càng phát triển đòi hỏi các nhà Đài càng phải sáng tạo, nỗ lực đưa ra các chương trình với chất lượng cao để thỏa mãn nhu cầu giải trí ngày càng cao của khán giả
1.1.2 Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí
Theo Từ điển Tiếng Việt (Nhà xuất bản Thanh Hóa), tổ chức là việc sắp xếp, bố trí thành các bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc cùng một chức năng chung [Mục tài liệu tham khảo số 33, tr.157] Tổ chức còn là
“làm những gì cần thiết để tiến hành một hoạt động nào đó nhằm có được hiệu quả tốt nhất”
Hiểu theo nghĩa thông thường, tổ chức là liên kết nhiều người lại để thực hiện một công việc nhất định Tổ chức đặt ra để thực hiện nhiệm vụ Mỗi
tổ chức đều có mục đích, nhiệm vụ riêng
Cũng theo Từ điển Tiếng Việt (Nhà xuất bản Thanh Hóa), sản xuất là tạo ra vật phẩm cho xã hội bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào đối tượng lao động [Mục tài liệu tham khảo số 33, tr.157], là hoạt động bằng sức
Trang 21lao động của con người hoặc bằng máy móc, chế biến các nguyên liệu thành của cải vật chất cần thiết
Sản xuất hay sản xuất của cải vật chất là hoạt động chủ yếu trong các hoạt động kinh tế của con người Sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng, hay để trao đổi trong thương mại Quyết định sản xuất dựa vào những yếu tố chính sau: Sản xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất cho ai? Giá thành sản xuất và làm thế nào để tối ưu hóa việc sử dụng và khai thác các nguồn lực cần thiết làm ra sản phẩm
Thuật ngữ sản xuất trước đây chỉ bao hàm việc tạo ra sản phẩm hữu hình Sau này nó được mở rộng bao hàm cả việc tạo ra các dịch vụ Ngày nay, nói đến sản xuất có nghĩa là không kể việc nó tạo ra sản phẩm hữu hình hay dịch vụ Hệ thống sản xuất có các đặc tính:
Một là, hệ thống sản xuất chịu trách nhiệm cung cấp sản phẩm hay dịch
vụ cho nhu cầu xã hội
Hai là, các hình thức sản xuất khác nhau có thể có đầu vào khác nhau,
đầu ra khác nhau, các dạng chuyển hóa khác nhau, song đặc tính chung của
nó là chuyển hóa các yếu tố đầu vào thành các kết quả đầu ra có tính hữu dụng, có ích cho đời sống của con người
Nếu coi sản xuất là một quá trình thì tổ chức sản xuất là các biện pháp, các phương pháp, các thủ thuật để duy trì mối liên hệ và phối hợp hoạt động của các cá nhân, các bộ phận cùng tham gia vào quá trình sản xuất đó một cách hợp lý theo thời gian
Nếu coi sản xuất là một trạng thái thì tổ chức sản xuất là các phương pháp, các thủ thuật nhằm hình thành các bộ phận sản xuất có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và phân bổ chúng một cách hợp lý về mặt không gian
Để tổ chức sản xuất tạo ra sản phẩm, đầu tiên cần phải phân chia quá trình sản xuất tạo nên sản phẩm thành các quá trình riêng Căn cứ vào phương pháp, kỹ
Trang 22năng khác nhau, dựa trên lao động máy móc sẽ hình thành nên loại hình sản xuất,
cơ cấu sản xuất, lập kế hoạch sản xuất và tổ chức công tác điều phối sản xuất
Như vậy có thể hiểu, tổ chức sản xuất là làm những gì cần thiết để liên kết những người lao động, các quy trình lao động để tạo ra vật phẩm, đáp ứng nhu cầu thiết thực cho xã hội, bằng cách dùng tư liệu lao động tác động vào
đối tượng lao động, trên cơ sở các quy tắc nghề nghiệp và theo quy trình nhất định Thực chất của quá trình tổ chức sản xuất là việc phân chia quá trình sản
xuất phức tạp thành các quá trình thành phần (tức là các bước công việc), trên
cơ sở đó áp dụng những hình thức công nghệ, các biện pháp tổ chức phân công lao động và các phương tiện, công cụ lao động thích hợp Trong quá trình đó tìm biện pháp phối hợp hài hòa giữa các bộ phận tham gia vào quá trình sản xuất nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất Và cuối cùng, tổ chức sản xuất có vai trò quyết định đối với hiệu quả của quá trình sản xuất
Trong lĩnh vực truyền thông có thể hiểu việc tổ chức sản xuất là tạo ra, làm nên các sản phẩm truyền thông Ví dụ: Tổ chức sản xuất ra tờ báo in, chương trình phát thanh, chương trình truyền hình, chương trình Thời sự, chương trình Chuyên đề
Qua trao đổi ý kiến với các nhà tổ chức sản xuất chương trình THGT và đúc rút từ hoạt động thực tiễn của bản thân, tác giả đưa ra khái niệm: Tổ chức sản xuất là hoạt động sử dụng tối đa và hiệu quả các nguồn nhân lực, trang thiết bị chuyên ngành một cách có kế hoạch và hợp lý, phát huy mọi khả năng sáng tạo của con người để tạo ra một sản phẩm truyền hình có chất lượng
Tổ chức sản xuất là khâu quan trọng trong quá trình hình thành tác phẩm báo chí Trong việc sản xuất các chương trình truyền hình, tính tập thể được thể hiện khá rõ ở khâu tổ chức sản xuất Sản phẩm truyền hình là kết quả của quá trình lao động của nhiều thành phần tham gia như: Biên tập,
Trang 23phóng viên, quay phim, âm thanh, ánh sáng Với những chương trình THGT, đội ngũ những người tham gia sản xuất chương trình còn đông đảo hơn và ở nhiều vị trí khác nhau như: Tổng đạo diễn, đạo diễn, trợ lý đạo diễn, tổ chức thực hiện, quay phim, phụ quay, thư ký, phụ trách trường quay, kỹ thuật viên
âm thanh, ánh sáng, bấm hình…
Để tạo ra sản phẩm báo chí truyền hình, trước tiên người chịu trách nhiệm sản xuất chương trình phải đề ra mô hình sản xuất, cách thức sản xuất, dựa trên nền tảng tri thức chuyên ngành truyền hình và những công cụ sản xuất Sau đó, tập hợp một lực lượng lao động có những tiêu chuẩn năng lực nhất định thường xuyên tham gia sáng tạo; sản phẩm tạo ra là sản phẩm tập
thể, được phổ biến rộng rãi bằng phương tiện nghe nhìn
Tóm lại, tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí được
hiểu là: Quá trình lực lượng lao động có nghiệp vụ truyền hình liên kết nhau bởi những quy chế tổ chức lao động chặt chẽ để xây dựng kế hoạch, kịch bản chương trình, điều hành đội ngũ sản xuất chương trình; nhằm tạo ra một loại sản phẩm báo chí được công luận đặc biệt quan tâm, có khả năng đáp ứng các yêu cầu: thông tin đồng thời với sự kiện đang diễn ra, trọn vẹn, chính xác
1.2 Đặc điểm và tính chất tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí
1.2.1 Đặc điểm của chương trình truyền hình giải trí
* Đặc điểm về nội dung thông tin:
- Nội dung các chương trình truyền hình giải trí thường rất rộng bao gồm nhiều thể loại từ trò chơi truyền hình đến các chương trình có tính thời sự, tính xã hội học, kiến thức học xoay quanh đời sống hàng ngày hoặc có thể được mua bản quyển từ các chương trình có tiếng khác của các nước trên thế giới
- Việc tổ chức chương trình THGT, nội dung phải được tổ chức một cách đặc thù từ khâu kịch bản đến khâu biên tập Kết cấu chương trình phải được sắp
Trang 24xếp theo các trình tự nhất định mà kịch bản đã đề ra, nhằm tạo ra một loại sản
phẩm báo chí được công luận đặc biệt quan tâm, có khả năng đáp ứng các yêu
cầu: thông tin đồng thời với sự kiện đang diễn ra, trọn vẹn, chính xác
* Đặc điểm về hình thức và phương thức thể hiện:
Thông thường các chương trình truyền hình giải trí đều được phát sóng định kỳ theo kế hoạch năm với các chủ đề và thời lượng gần như đã định sẵn Việc lên được kịch bản nội dung rồi thành lập nhóm sản xuất chương trình đều đòi hỏi sự khoa học của công tác tổ chức sản xuất Tổ chức sản xuất có thể được coi là mắt xích quan trọng như một kim chỉ nam cho mọi hoạt động của nhóm thực hiện
Các chương trình THGT thường thể hiện tính lôgic qua “đường dây hình” được chi tiết hóa trong kịch bản Ê kíp thực hiện bố trí, sắp xếp, dàn dựng thành một chỉnh thể thống nhất Để có một chương trình truyền hình giải trí hay nhất thiết phải có cách tổ chức tốt, hợp lý, lôgic, khoa học với một kịch bản sáng tạo, giàu chất liệu, và tiến dần tới quy chuẩn hóa một cách chuyên nghiệp
1.2.1 Tính chất tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí
Với đặc thù riêng biệt của truyền hình giải trí là mang tính giải trí cao nên việc lựa chọn chương trình để sản xuất cần phải đáp ứng các yêu cầu cụ thể là: gần gũi với công chúng, dễ gây được sự chú ý thiện cảm với người xem, nội dung phải phù hợp với thị hiếu của khán giả Đây là điều kiện đầu tiên và cũng là điều kiện quan trọng nhất khi quyết định sản xuất một chương trình truyền hình giải trí nào đó
Một trong những thế mạnh của THGT là giúp cho người xem có được những khoảng thời gian thư giãn sau giờ làm việc rất hữu ích, không chỉ mang tính giải trí cao mà các nhà tổ chức sản xuất còn biết lồng ghép các sự kiện đời thực vào các chương trình làm cho các chương trình có tính nhân văn
Trang 25rất cao, tạo ra sự tương tác tích cực với khán giả Truyền hình giải trí cũng
chứng minh được tính báo chí của nó bằng sự nhanh chóng và thuyết phục
Những chương trình được “nâng tầm” bằng cách dùng phương thức THGT để
mang nguyên vẹn giá trị thông tin của nó đến với công chúng
Để sản xuất được một chương trình THGT, việc tổ chức sản xuất bao
gồm các yếu tố sau:
- Tổ chức nhân sự, nhân lực và kinh phí
- Tổ chức hệ thống trang thiết bị, kỹ thuật
- Tổ chức sản xuất nội dung
Tương tự như mọi quá trình sản xuất tạo ra sản phẩm khác, việc tạo ra
một chương trình THGT đòi hỏi phải có yếu tố đầu vào, đầu ra, nhân sự và các
trang thiết bị, khoa học công nghệ được sử dụng để sản xuất ra sản phẩm
1.3 Những yêu cầu về vấn đề tổ chức sản xuất chương trình truyền
hình giải trí
1.3.1 Những yêu cầu chung
* Yêu cầu về thực hiện chương trình truyền hình giải trí
- Nội dung thông tin
Sản xuất nội dung là khâu rất quan trọng trong việc tổ chức sản xuất chương
trình THGT, nó quyết định đến chất lượng cả một chương trình THGT Để xây
dựng nội dung một chương trình THGT, cần trải qua các bước sau:
- Xác định mục tiêu, chủ đề, tư tưởng của chương trình THGT
- Lên kế hoạch về bố cục chương trình, xây dựng kịch bản Đây là sự sắp
xếp và phân bổ chương trình vào các vị trí xác định, để diễn biến của chương
trình THGT mà khán giả theo dõi một cách thuận lợi, rõ nét trong việc tiếp cận
nội dung của cả chương trình diễn ra
- Tổ chức nhân sự:
Để tổ chức nhân sự khoa học, hiệu quả người sản xuất cần thực hiện
những nhiệm vụ sau:
- Tổ chức và sử dụng nhân sự một cách có kế hoạch và hợp lý nhằm
Trang 26đảm bảo tiết kiệm nhân sự, đồng thời sử dụng tối đa và hiệu quả các nguồn nhân lực khác, không ngừng tăng năng suất lao động
- Xây dựng trong đơn vị mối quan hệ công tác giữa người và người, giữa người với tư liệu sản xuất hợp lý để quá trình sản xuất đạt hiệu quả cao
- Không ngừng cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo cho sản xuất an toàn, bảo vệ sức khỏe, ngăn chặn bệnh nghề nghiệp, nâng cao đời sống vật chất lẫn tinh thần cho người lao động
- Có chính sách khuyến khích phát huy mọi khả năng sáng tạo của lực lượng lao động
Nhân sự của một ê-kíp thực hiện chương trình truyền hình, đặc biệt là chương trình THGT có nhiều bộ phận như bộ phận kỹ thuật (âm thanh, ánh sáng, thiết kế ), bộ phận sản xuất (nhà sản xuất, quản lý sản xuất, đạo diễn, quay phim, biên kịch dẫn chương trình)…
Một chương trình truyền hình nói chung, chương trình THGT nói riêng không phải là sản phẩm của cá nhân nào mà là sản phẩm của tập thể Đây là điểm khác biệt của truyền hình so với các tác phẩm báo in, mạng Người làm báo in, báo mạng có thể tự thân độc lập đi viết bài, chụp ảnh, biên tập rồi nộp cho người duyệt bài và đăng bài Để sáng tạo một chương trình truyền hình thì phải có nhiều khâu, mỗi khâu cần sự tham gia của một bộ phận nhân sự như biên tập, quay phim, kỹ thuật Đặc biệt, đối với các chương trình THGT, vai trò của các bộ phận nhân sự là ngang nhau, nếu thiếu bộ phận nào thì không thể đảm bảo phát sóng chương trình Với tính chất như vậy, việc tổ chức nhân sự trong quá trình sản xuất chương trình là hết sức quan trọng Mỗi nhân sự trong quy trình sản xuất có chuyên môn riêng, nhưng đều phải hướng tới chương trình chung Nhân sự trong một kênh truyền hình bao giờ cũng phức tạp, cồng kềnh hơn so với các tòa soạn báo thuộc những loại hình báo chí khác Chi phí cho nhân sự cũng tốn kém hơn
Trang 27Khâu tổ chức nhân sự hết sức quan trọng trong việc tổ chức sản xuất
chương trình truyền hình nói riêng và trong hoạt động của các cơ quan báo chí
nói chung Người làm báo được xem là “nhân vật trung tâm của các cơ quan báo
chí” và việc “tổ chức và quản lý để đào tạo và sử dụng tài năng thật sự là chuyện
đáng bàn Đã làm nghề thì phải được đào tạo”
Chất lượng nhân sự tham gia chương trình THGT rất quan trọng, việc
tổ chức nhân sự đó như thế nào cho hợp lý còn quan trọng hơn Việc quản lý
tổ chức nhân sự trong một cơ quan báo chí nói chung và truyền hình nói riêng
vừa phải đảm bảo tính thống nhất về tư tưởng, hành động nhưng cũng phải
đảm bảo khuyến khích ý kiến cá nhân của người làm báo, phát huy tinh thần
sáng tạo
* Nhân lực thực hiện chương trình truyền hình giải trí gồm:
+ Người viết kịch bản: Là người được Tổng đạo diễn phân công thực
hiện kịch bản cho 1 chương trình THGT cụ thể Tùy theo từng lĩnh vực mà
phân công người viết kịch bản khác nhau Người viết kịch bản có nhiệm vụ
xây dựng kịch bản; liên hệ mời khách mời tham gia THGT; trao đổi với người
DCT và đạo diễn hình về nội dung kịch bản
+ Đạo diễn: Đạo diễn là người được tín nhiệm phân công chịu trách nhiệm
về chương trình, là người có năng lực đưa ra những ý tưởng về nghệ thuật và
quyết định toàn bộ về phần nội dung và hình ảnh sẽ thực hiện của chương trình
Sau khi trao đổi, bàn bạc với người viết kịch bản, đạo diễn sẽ cùng với những
cộng sự của mình cụ thể hóa kịch bản thành chương trình THGT Đạo diễn sẽ giải
thích, phân công ê kíp thực hiện phối hợp với nhau cho ăn ý mới có thể tạo ra hiệu
quả tác động cao nhất của chương trình THGT
+ Dẫn chương trình: người dẫn chương trình đóng một vai trò quan
trọng trong THGT Vì vậy người dẫn chương trình phải có khiếu ăn nói, ngoại
hình dễ nhìn để ngay từ đầu có thể gây sự chú ý đối với công chúng, buộc họ
Trang 28phải ngồi lại trước màn hình theo dõi chương trình Xem kỹ và trao đổi nội dung kịch bản với người viết kịch bản trước khi thực hiện chương trình THGT Kịp thời xử lý những tình huống phát sinh (nếu có) nhất là về mặt nội dung theo sự chỉ đạo của tổng đạo diễn
+ Quay phim: Quay phim là người có thể đem đến cho khán giả những
hình ảnh trung thực khái quát nhất trong thực hiện một chương trình THGT
Để làm được điều này người quay phim ngoài năng lực sáng tạo và làm chủ các thiết bị ghi hình phải nắm được nội dung chủ đề của chương trình để thể hiện bằng ngôn ngữ hình ảnh
+Tổ chức sản xuất: TCSX là công việc đứng ở vị trí trung gian giữa
đạo diễn, giám đốc sản xuất và ê kíp thực hiện Là quản lý chung về nội dung
và thời lượng của chương trình Chức danh này có vai trò quan trọng quản lý thực hiện mọi mắt xích trong quá trình sản xuất, có tầm bao quát chung và nhắc nhở đạo diễn cùng ê kíp về lịch làm việc và tiến độ công việc phải hoàn thành khi THGT Người TCSX có nhiệm vụ chuẩn bị các thủ tục hành chính, kinh phí, cơ sở vật chất trước khi diễn ra chương trình và làm thanh quyết toán khi chương trình đã phát sóng
+ Nhóm phụ trách kỹ thuật: Các kỹ sư và kỹ thuật viên thuộc nhóm kỹ
thuật, chịu trách nhiệm về mặt kỹ thuật trong các chương trình THGT
+ Chỉ đạo sản xuất: Giám đốc sản xuất thường là giám đốc hoặc phó
giám đốc các Đài Là người chịu trách nhiệm chính về tài chính của chương trình, được quyền đưa ra những yêu cầu về đặt hàng và sản xuất Chức danh này phải là một người hoặc nhóm người có khả năng tổng hợp và khái quát công việc một cách kinh nghiệm và có toàn quyền trong việc quyết định nhân
sự, cách sản xuất và chịu trách nhiệm về chất lượng cuối cùng của mỗi chương trình THGT
Trang 29+ Khán giả tham gia chương trình: chia làm 2 nhóm: nhóm khán giả tại
trường quay hoặc ngồi tại sân khấu nơi diễn ra chương trình và nhóm khán giả ngồi nhà xem tivi Số lượng khán giả xem truyền hình là một trong những yếu tố “đo lường” sự thành công của chương trình THGT, bởi họ chính là một phần của sự kiện
*Về tài chính:
Cùng với đội ngũ nhân lực và trang thiết bị kỹ thuật, một chương trình THGT không thể thực hiện được nếu như không có hoặc hạn chế về kinh phí Kinh phí để trang trải mua sắm, thuê mướn đạo cụ, chi trả thù lao cho khách mời, ê kíp thực hiện, trao giải thưởng… Sự hạn chế về kinh phí sẽ cản trở khả năng sáng tạo của ê-kíp sản xuất chương trình, bởi vì THGT đòi hỏi cao về nghiệp vụ truyền hình, do đó chế độ “bồi dưỡng” cũng phải tương xứng để động viên tinh thần làm việc của ê kíp thực hiện Chương trình cũng có thêm mục giao lưu với khán giả ở trường quay nên tính tương tác cao hơn; nhưng
do “bó hẹp” về kinh phí nên không thể “nâng tầm” chất lượng chương trình
Cho dù không phải là yếu tố quyết định nhưng kinh phí có ảnh hưởng và liên
quan đến chất lượng chương trình THGT
Phần lớn kinh phí để thực hiện các chương trình THGT hiện nay đều do tài trợ, nhất là các chương trình thực hiện định kỳ Mức độ và tần suất tài trợ phụ thuộc nhiều vào tầm ảnh hưởng của Đài đối với cộng đồng xã hội Vấn đề quan trọng là đừng để các nhà tài trợ can thiệp quá sâu vào nội dung chương trình Điều này đã từng xảy ra đối với một số Đài
*Về trang thiết bị, kỹ thuật
Chúng ta đều biết truyền hình ra đời nhờ sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật Nhờ yếu tố này, truyền hình ngày càng có những bước tiến mới về thực hiện chương trình và hệ thống thu phát sóng Tổ chức hệ thống máy móc, trang thiết bị là công việc không thể thiếu trong việc sản xuất chương trình truyền hình
Trang 30Có thể nói, trong các loại hình báo chí, truyền hình có độ phụ thuộc vào máy móc, trang thiết bị kỹ thuật lớn nhất Ngay từ khâu chuẩn bị sản xuất, người tổ chức phải có kế hoạch cụ thể về kỹ thuật, công nghệ, tổ chức thực hiện, nguồn kinh phí, tính khả thi trong việc sử dụng các máy móc, trang thiết
bị Việc tổ chức hệ thống máy móc, trang thiết bị một cách hiệu quả còn có tác dụng trong việc tối ưu hóa các lợi ích kinh tế, tiết kiệm thời gian và tạo ra môi trường làm việc thuận lợi, thoải mái, hiệu suất cao Đối với một kênh truyền hình, bên cạnh bộ phận nội dung, bộ phận kỹ thuật cũng chiếm tỷ lệ nhân sự đông đảo, bao gồm cả kỹ thuật viên dựng hình, kỹ thuật viên âm thanh, kỹ thuật viên truyền dẫn phát sóng
Sản xuất chương trình truyền hình có đặc thù vừa mang tính nghệ thuật, vừa mang tính kỹ thuật Sự kết hợp hài hòa, hợp lý giữa hai yếu tố này sẽ mang lại thành công cho chương trình
Lĩnh vực truyền hình gồm rất nhiều trang thiết bị, máy móc có chức năng khác nhau như tạo tín hiệu hình, gia công xử lý tín hiệu, tạo các dạng kỹ xảo truyền hình, phát sóng, ghi, thu tín hiệu hình Ngoài ra, còn có các thiết bị
âm thanh, ánh sáng, trường quay
Đối với THGT, điều kiện kỹ thuật đóng một vai trò vô cùng quan trọng
Sự kiện diễn ra có cuốn hút đến mức nào cũng trở nên vô nghĩa khi nó không được chuyển tải đến công chúng do thiếu một thiết bị kỹ thuật nào đó hoặc do những sự cố về kỹ thuật bất ngờ xảy ra Có thể nói: thiết bị kỹ thuật hiện đại
là cầu nối, làm cho khoảng cách giữa truyền hình với cuộc sống gần hơn
Hệ thống máy móc, trang thiết bị kỹ thuật mang lại nhiều tiện ích cho quá trình sản xuất chương trình truyền hình Tuy nhiên, chi phí đầu tư cho các
hệ thống thiết bị hiện đại rất đắt đỏ Cho nên việc thường xuyên đổi mới kỹ thuật, trang bị những máy móc hiện đại còn tùy thuộc vào tiềm lực kinh tế của mỗi kênh truyền hình Không phải cứ khi khoa học kỹ thuật phát minh ra máy móc, công nghệ mới về truyền hình là bất cứ một kênh nào cũng có thể tiếp
Trang 31cận được Ngoài ra, mỗi khi có công nghệ mới, các kênh truyền hình còn phải tập trung đào tạo kỹ thuật cho nhân sự của mình
- Hạn chế “khoảng lặng” trong chương trình truyền hình giải trí :
Với các chương trình THGT phát sóng sẽ có những khoảng “thời gian chết” khá lớn khiến cho khán giả sẽ chuyển kênh khác để chọn xem những chương trình hay hơn Như vậy, người làm truyền hình hoặc quyết định ngay
từ đầu không truyền hình trực tiếp, hoặc phối hợp với đơn vị tổ chức, xây dựng kịch bản chương trình thật chi tiết, cụ thể để hạn chế tối đa những khoảng thời gian trống, hoặc là chuẩn bị trước những phần bổ trợ như phóng
sự, phỏng vấn, âm nhạc để lấp vào những khoảng trống đó một cách hợp lý, vừa tạo được sự liên tục của chương trình; đồng thời làm cho chương trình hay hơn và hấp dẫn hơn
1.3.2 Những yêu cầu cụ thể đối với vấn đề tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí tại Đài Phát thanh - Truyền hình các tỉnh Đông Đông Bắc Việt Nam hiện nay
- Hình thành chủ đề cho chương trình
Đây là khâu đầu tiên trong quy trình thực hiện chương trình THGT Các nhà làm truyền hình thường dễ bỏ qua khâu này, nhất là đối với những người đã có bề dày kinh nghiệm Bởi vì họ tin vào kinh nghiệm và sự hiểu biết mà họ sẵn có để xác định, lựa chọn chương trình phù hợp
Đề tài là những vấn đề đặt ra trong cuộc sống thực, rất đa dạng và phong phú, không phụ thuộc vào phạm vi, giới hạn rộng hay hẹp của vấn đề,
sự kiện mà thường mang tính khách quan Những người làm chương trình THGT xác định đề tài, chủ đề và tư tưởng chủ đề của chương trình để quyết định hướng khai thác và thu thập thông tin liên quan, cần thiết cho chương trình, bám sát với chủ đề chương trình Đây là khâu quan trọng, nó giúp những người làm chương trình THGT xác định và giới hạn vấn đề để triển khai các bước tiếp theo
Trang 32- Khảo sát hiện trường
Khảo sát hiện trường là một công tác rất quan trọng, công việc này phải được tiến hành trước, được tiến hành nhiều lần để nắm chắc những thông tin cần thiết, đảm bảo cho chương trình không xảy ra những sai sót, trục trặc
Người làm công tác tổ chức sản xuất chương trình THGT phải tiến hành khảo sát về địa hình, khí hậu, thời tiết, dân cư, văn hóa, lối sống, phong tục tập quán ở địa điểm sự kiện sẽ diễn ra, phương tiện kỹ thuật hiện, các điều kiện để có thể ghi hình nhằm thu được những hiệu quả cao nhất
- Xây dựng kịch bản chương trình
Trong những chương trình THGT thì kịch bản quán xuyến từ đầu đến cuối chương trình được sắp xếp thống nhất, chặt chẽ Kịch bản của chương trình THGT phải thể hiện rõ trình tự của các nội dung sẽ thực hiện
Một kịch bản tốt nhất phải có tính sáng tạo Những chất liệu thực tế được người viết kịch bản chọn lọc, thẩm định và chọn ra những chi tiết tiêu biểu nhất để đưa vào kịch bản Khi xây dựng kịch bản, còn phải biết dự kiến mọi tình huống xấu có thể xảy ra trong chương trình để có phương án khắc phục hữu hiệu nhất Trong đó nội dung và thời lượng nên dự kiến ở mức độ tối đa và luôn sẵn sàng có phương án bổ sung, thay thế nếu có sự thiếu hụt
- Chuẩn bị các phương tiện kỹ thuật
Qua thực tế tác nghiệp có thể khẳng định rằng: phương tiện kỹ thuật ngày càng có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng phát sóng các chương trình truyền hình, đổi mới phương thức hoạt động nghiệp vụ của những người làm truyền hình nói chung và làm các chương trình THGT nói riêng Yếu tố kỹ thuật
sẽ quyết định chương trình đó có thực hiện được hay không, thực hiện với quy
mô, phạm vi như thế nào? Các thiết bị hiện đại đã tạo cơ sở hiện thực cho việc giải phóng năng lực sáng tạo của con người
Như ở phần trên đã trình bày, đối với việc thực hiện một chương trình THGT, khâu chuẩn bị phương tiện kỹ thuật giữ một vị trí, vai trò rất quan
Trang 33trọng Nó quyết định tới trên 50% cho sự thành công hay không thành công ở mức độ nào đó của mỗi chương trình, ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tổ chức sản xuất và ảnh hưởng đến chất lượng chương trình
- Xử lý sự cố và phương án dự phòng
Thực tế cho thấy bên cạnh những ưu thế thì trong THGT thường có những tình huống bất ngờ, buộc người biên tập, phóng viên, người dẫn chương trình, kỹ thuật viên, đạo diễn phải xử lý nhanh, thậm chí phải có những phương án dự phòng nếu không sẽ ảnh hưởng tới chương trình, thậm chí có thể phá hỏng cả một chương trình Những người làm THGT không thể biết trước được các tình huống
sẽ xảy ra ở thời điểm nào, trong khâu nào của chương trình Do đó, họ phải luôn sẵn sàng đón nhận để có cách xử lý sao cho thật nhanh nhạy, thông minh để chương trình không bị “đổ” Sự cố trong chương trình THGT phần lớn do lổi chủ quan như, sự chuẩn bị chưa tốt, do những sai sót về kỹ thuật hoặc những sai sót trong quá trình thao tác, điều khiển máy móc… Các nguyên nhân khách quan là những rủi ro do thời tiết: mưa to, gió lớn, bão hoặc những sự cố về thiết bị máy móc do tác động bên ngoài
Để có thể hạn chế, khắc phục được những sự cố, rủi ro, những người tham gia chương trình THGT ngoài sự tính toán trước và chuẩn bị thật chu đáo, còn phải có khả năng phản ứng linh hoạt, nhạy bén và sự quyết đoán Điều này phụ thuộc vào kinh nghiệm, bản lĩnh và trình độ tay nghề của những người tổ chức thực hiện chương trình Trước khi diễn ra THGT ê kíp thực hiện phải có mặt tại nơi thực hiện chương trình sớm ít nhất là 30 phút để kiểm tra lại tất cả mọi thứ lần cuối; đồng thời phải chuẩn bị cho mình một tâm lý thật bình tĩnh, tự tin, phải làm chủ kịch bản, máy móc và sẵn sàng đón nhận
và xử lý nhanh nhạy các tình huống Có phương án dự phòng và xử lý tốt các tình huống xảy ra đó là những thử thách, đồng thời cũng chính những điều đó
đã tạo ra sự hấp dẫn không chỉ đối với đông đảo khán giả mà còn hấp dẫn ngay cả với những người tham gia sản xuất chương trình THGT
Trang 34Tiểu kết Chương 1
Trong Chương 1, tác giả đã khái quát và nêu bật các khái niệm liên quan đến việc tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí bao gồm: Chương trình truyền hình, truyền hình giải trí, khái niệm về tổ chức sản xuất
và tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí Đặc điểm của chương trình truyền hình giải trí Các yếu tố cấu thành trong việc tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí, điều kiện, tiêu chí để thực hiện một chương trình truyền hình giải trí có chất lượng…
Căn cứ vào các khái niệm, đặc điểm, các yếu tố dẫn đến thành công của chương trình THGT cho thấy: công tác tổ chức sản xuất chương trình THGT phải là một quy trình mang tính khoa học, là công việc có ý nghĩa tổng hợp mang tầm bao quát, là cầu nối trong bộ máy thực hiện, để lập ra kế hoạch SX cho một quy trình vận hành mang lại kết quả tốt Để làm tốt công tác tổ chức sản xuất các chương trình THGT đòi hỏi:
- Các phương tiện kỹ thuật phải hiện đại và đáp ứng tốt quy trình sản xuất chương trình trình truyền hình giải trí
- Đội ngũ ê-kíp sản xuất chương trình phải có nhận thức đúng về vai trò của THGT và tuân thủ nghiêm ngặt quy trình sản xuất đã quy định
- Cần xây dựng chế độ thù lao, kinh phí đầu tư cho việc thực hiện chương trình trình truyền hình giải trí
Ba yếu tố đó đặt trong mối tương quan chung, có nghĩa là muốn có chương trình trình truyền hình giải trí đảm bảo chất lượng, thì các yếu tố trong tổ chức sản xuất phải đảm bảo đó là việc: xây dựng kế hoạch, kịch bản chương trình, điều hành đội ngũ sản xuất chương trình Việc lựa chọn được một ê-kíp thực hiện cùng với cách phân công công việc khoa học, hợp lý qua
Trang 35vai trò của công tác tổ chức sản xuất sẽ dẫn đến những thành công và tính lâu bền của chương trình truyền hình giải trí
Việc nêu những tiêu chí, những yêu cầu có tính quyết định đến công tác
tổ chức sản xuất chương trình THGT sẽ giúp các Đài PTTH khu vực Đông Đông Bắc tìm ra các điểm mạnh, điểm yếu để chuẩn hóa các khâu trong quá trình tổ chức sản xuất các chương trình THGT; góp phần tăng hiệu quả các chương trình THGT Đây cũng là cơ sở và nền tảng để giải quyết các vấn đề ở Chương 2
Trang 36Chương 2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH GIẢI TRÍ CÁC TỈNH ĐÔNG ĐÔNG BẮC
2.1 Tổng quan về Đài Phát Thanh Truyền Hình các tỉnh Đông Đông Bắc
2.1.1 Các tỉnh Đông Đông Bắc Việt Nam
Vùng Đông Đông Bắc là một vùng cực Bắc của Việt Nam, còn được gọi là Vùng Đông Bắc hoặc Vùng Đồng bằng sông Hồng hoặc theo cách gọi của người dân Việt Nam ngắn gọn là Đông Bắc có 11 tỉnh Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam, năm 2011, tổng diện tích các tỉnh 63.627km2
Tên gọi của vùng đã nói lên vị trí chiến lược của nó đối với quốc gia Phía Bắc vùng này giáp với Đông Nam Trung Quốc, phía Tây giáp vùng Tây Bắc, phía Nam giáp Đồng bằng Bắc Bộ, phía Đông giáp biển Đông Vị trí của vùng có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc trao đổi hàng hóa, giao lưu buôn bán với Đông Nam Trung Quốc qua các cửa khẩu Lào Cai, Thanh Thủy (Hà Giang), Trùng Khánh (Cao Bằng) và Móng Cái ( Quảng Ninh)…với các nước trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và thế giới thông qua các cảng Cửa ông, Hồng Gai và cảng Cái Lân
Vùng núi và trung du Đông Bắc có địa hình không cao so với vùng Tây Bắc, là khu vực có nhiều dãy núi cao hình cánh cung Đông Bắc là một trong những vùng giàu tài nguyên khoáng sản vào bậc nhất ở nước ta
Đông Bắc có nhiều dân tộc khác nhau: Tày, Nùng, Mường, Thái, Cao Lan, Sán Chỉ, H‟Mông Mỗi dân tộc có sắc thái văn hóa độc đáo phản ánh tập quán sản xuất và sinh hoạt của riêng mình Tất cả điều đó đã tạo nên một tổng thể văn hóa đa dạng và phong phú
Xét về lịch sử xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vùng Đông Đông Bắc đã
để lại những di tích lịch sử hiển hách, thể hiện rõ sức mạnh của người Việt Nam trong việc chinh phục tự nhiên và chống giặc ngoại xâm
Trang 372.1.2 Giới thiệu Đài Phát Thanh Truyền Hình Các tỉnh Đông Đông Bắc
- Đặc điểm công chúng các tỉnh Đông Đông Bắc
Đông Đông Bắc có tỉ lệ dân số đô thị thấp là 19%, thấp hơn mức trung bình cả nước và rất không đồng đều giữa các tỉnh, cao nhất là Quảng Ninh (47%), thấp nhất chỉ khoảng vài phần trăm Các đô thị trong vùng được hình thành trên cơ sở một số điểm công nghiệp, trung tâm hành chính Là vùng có
cơ cấu dân tộc đa dạng nhất trong cả nước, có đại đa số là công chúng nông thôn Chính vì thế việc tìm hiểu đặc điểm của công chúng nông thôn là một yêu cầu cần thiết
Công chúng nông thôn: “Nông thôn Việt Nam” là danh từ để chỉ những vùng đất trên lãnh thổ Việt Nam, ở đó, người dân sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp Nông thôn là vùng sinh sống và làm việc chung của cộng đồng dân cư, hoạt động sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Do đó, công chúng nông thôn Việt Nam là những người dân sống trên những vùng đất khu vực nông thôn và sinh sống chủ yếu bằng nông nghiệp Cơ sở hình thành và trình
độ tiếp cận thị trường, trình độ sản xuất hàng hóa còn thấp so với thành thị (do diện tích rộng, mức đầu tư cho nông nghiệp không lớn) Thu nhập và đời sống của người dân còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo đói cao Nông dân trải dài trên địa bàn rộng lớn nên chịu nhiều ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên
Vùng nông thôn có vai trò quan trọng trong cuộc sống con người: là nơi cung cấp lương thực, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu; cung cấp hàng hóa cho xuất khẩu; cung cấp lao động cho công nghiệp và thành thị; là thị trường rộng lớn để tiêu thụ những sản phẩm của công nghiệp
và dịch vụ Phát triển nông thôn tạo điều kiện để ổn định kinh tế về mặt kinh
tế - chính trị - xã hội Nông thôn nằm trên địa bàn rộng lớn về mặt tự nhiên - kinh tế - xã hội
Trang 38Nông thôn Việt Nam chiếm vị trí quan trọng cả về không gian, kinh tế, con người, văn hóa và chính trị Nông dân gắn bó với nông thôn, chiếm đa số dân cư sinh sống và làm việc ở nông thôn là đối tượng đang biến đổi nhanh Năm 2011, cư dân nông thôn Việt Nam có 59.951.000 người, chiếm khoảng 68,8% so với dân số cả nước Tăng trưởng -0,77% so với năm 2010 (60.416 nghìn dân nông thôn) và năm 2009 có 60.440 nghìn dân nông thôn Chính vì thế cuộc sống và tổ chức nông thôn ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến toàn xã hội Giai đoạn phát triển mới trong quá trình công nghiệp hóa sẽ chứng kiến sự chuyển đổi cơ cấu rõ rệt trong kết cấu cư dân nông thôn Việt Nam Các chính sách trong tương lai vì vậy sẽ phải hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi cơ cấu này diễn ra một cách hiệu quả nhất
Một trong những con đường được xem là rất nhanh và rất hữu hiệu để phát triển nông thôn chính là tăng cường phổ biến thông tin hữu ích đến người dân nông thôn qua các phương tiện truyền thông đại chúng Những năm gần đây, báo chí nước ta phát triển nhanh và không ngừng được cải tiến về nhiều mặt, ngày càng bám sát cuộc sống để phản ánh, phân tích, nghị luận, định hướng dư luận và phục vụ thiết thực cho sự phát triển đất nước Nhờ đó, ngày càng có nhiều thông tin hữu ích như: các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, những tiến bộ kỹ thuật trong canh tác nông, lâm, ngư nghiệp; kiến thức về bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, giữ gìn vệ sinh môi trường, mua sắm, tiêu dùng được chuyển tải đến nông dân - nông thôn, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống cả vật chất lẫn tinh thần
Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vướng mắc khiến cho nhiều thông tin, dù rất cần cho sự phát triển, vẫn chưa đến kịp thời với nông dân, với nhiều vùng nông thôn Trong đó, đáng lưu ý là do một bộ phận nông dân còn hạn chế về trình độ học vấn, dẫn đến nhận thức hạn chế, không tận dụng được các nguồn thông tin; do điều kiện khó khăn, không có đủ sách báo, phương tiện nghe
Trang 39nhìn để nắm thông tin; do không có cán bộ hướng dẫn khai thác sử dụng các thông tin hữu ích phục vụ sản xuất, đời sống; cũng có trường hợp do vùng sâu vùng xa, phương tiện giao thông đi lại khó khăn Những nguyên nhân đó khiến nhiều nông dân, nhiều vùng nông thôn rơi vào tình trạng “đói” thông tin, khó phát triển nhanh, tiếp tục tạo ra sự cách biệt ngày càng lơn giữa nông thôn và thành thị
Các cơ hội để người dân có thể tiếp cận với thông tin (phương tiện truyền thông tin): Cán bộ phổ biến thông tin (trưởng xã, thôn, cán bộ các đoàn thể quần chúng, cán bộ tập huấn chuyên ngành các lĩnh vực ); Truyền hình trung ương và địa phương; Radio; Loa truyền thanh; Các ấn phẩm xuất bản định kỳ như báo, tạp chí; Bưu điện văn hóa xã, hiệu sách báo; Điện thoại; Thư viện các ấn phẩm xuất bản không định kỳ Và một số công nghệ mới về phương tiện truyền thông tin đã được thử nghiệm như máy tính, internet, website; thư viện điện tử
Tuy có nhu cầu và điều kiện tiếp cận thông tin những trên thực tế còn tồn tại các trở ngại đối với việc tiếp cận thông tin của người nông dân: Có nhu cầu thông tin nhưng hạn chế tiếp nhận do điều kiện kinh tế; Chưa có nguồn tài trợ riêng biệt cho việc tạo ra các kênh thông tin có nội dung phù hợp với người nông dân nghèo; Không có đủ các kênh thông tin; Thụ động trong việc tiếp nhận thông tin; Một số nội dung thông tin không có tính kịp thời, khó hiểu, khó làm theo
Trên thực tế hiện nay, trong khi nhiều người có kiến thức, điều kiện
ở khu vực đô thị đang nắm một lượng thông tin khá lớn, đa dạng nhưng lại ít sử dụng hoặc sử dụng không đúng chỗ thì đại đa số người dân lao động, đặc biệt là nông dân các vùng nông thôn, lại đang thiếu thông tin Trong nhiều trường hợp, chỉ cần có một lượng thông tin phù hợp, kịp thời, được tư vấn tốt (nhất là các thông tin về kỹ thuật sản xuất, thị trường)
Trang 40cũng đủ để giúp nhiều nông dân đổi đời Thế nhưng, ở nhiều nơi, nhu cầu
đó lại đang thiếu trầm trọng
- Nhu cầu thông tin giải trí của công chúng các tỉnh Đông Đông Bắc
Tìm hiểu nhu cầu thông tin giải trí và đáp ứng nhu cầu thông tin cho công chúng trên báo chí nhằm chăm lo đời sống vật chất tinh thần cho người dân chính là chăm lo nguồn lực cho xã hội trước mắt và lâu dài Tạo dựng đời sống vật chất tinh thần lành mạnh cho nông dân là một quá trình kiên trì, lâu dài, bắt đầu từ việc tìm hiểu nhu cầu thông tin của người dân ở nông thôn Đây là vấn đề tìm con đường và cách chuyển tải thông điệp nhanh nhất, có hiệu quả nhất cho công chúng nông thôn
Đối với nước ta, đời sống kinh tế còn nghèo, nhất là vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, điều kiện giao thông đi lại còn nhiều khó khăn khó khăn Chính vì thế các chương trình truyền hình giải trí sẽ đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ văn hóa nghệ thuật của người dân Nhất là đối với các sự kiện trọng đại của khu vực, các hoạt động văn hóa văn nghệ
Căn cứ vào tiêu chí nghề nghiệp, công chúng có nhu cầu đón nhận một
số chương trình nông nghiệp nông thôn, môi trường và phát triển, đầu tư tài chính, khoa học công nghệ, vì an ninh tổ quốc, quân đội nhân dân
Công chúng các nhóm nghề nghiệp khác nhau luôn muốn tin tức phải nhanh chóng và hợp thời Nhanh chóng và hợp thời là hai yếu tố tạo nên giá trị của thông tin Nếu nhanh chóng được hiểu là khoảng thời gian từ khi sự kiện xảy ra đến khi công chúng được hiểu biết nó thông qua song truyền hình Thông tin nhanh và hợp thời sẽ tạo khả năng đem lại hiệu quả tác động của thông tin
Căn cứ chương trình đáp ứng nhu cầu, sở thích có thể điều hòa tâm lý
xã hội một cách có hiệu quả Người dân sau một ngày làm việc vất vả và họ
có nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí bằng cách thưởng thức các chương trình yêu thích Mục đích tác động của những chương trình đáp ứng nhu cầu, sở thích