Khái niệm quản lý Nhà nước về báo chí Khái niệm quản lý Nhà nước Theo quan niệm của C.MÁC: “Bất kỳ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào đó mà được tiến hành tuân theo mộ
Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Một số khái niệm về hoạt động quản lý
Quan điểm của các nhà quản lý, các nhà khoa học trên thế giới
Quản lý là hoạt động đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo từng nhóm đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động Trải qua rất nhiều năm phát triển, các nhà tư tưởng, nhà triết học, nhà khoa học đã tìm hiểu, nghiên cứu và đưa ra rất nhiều khái niệm khác nhau về quản lý, tạo nên một hệ thống khái niệm đồ sộ được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh khác nhau
Xét trên phương diện nghĩa của từ, quản lý thường được hiểu là chủ trì hay phụ trách một công việc nào đó Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ, quản lý (management) là “trông coi và giữ gìn theo những yêu cầu nhất định”(10; tr.612) Sau này, Các Mác khẳng định: “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc lao động chung khi thực hiện trên một quy mô tương đối lớn, ở mức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý”
Có nhiều cách định nghĩa khái niệm quản lý khác nhau tùy theo cách tiếp cận khác nhau Tuy nhiên nhìn chung, quản lý là một khái niệm gắn với quyền lực ở một mức độ nhất định Trong Từ điển tiếng Việt có nêu: Quản lý là “tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” Khái niệm này tương đồng với các khái niệm chỉ đạo, điều hành, điều khiển Khái niệm quản lý ở đây là muốn nói đến quản lý con người, quản lý xã hội và biểu hiện cụ thể nhất là ở quản lý nhà nước Khái niệm chung nhất về quản lý nhà nước được hiểu cô đọng ở việc: Tổ chức, điều hành các hoạt động kinh tế – xã hội theo pháp luật
Người ta tổng kết rằng có các trường phái quản lý nổi tiếng là: trường phái cổ điển với hai nhánh lý thuyết quản lý khoa học với đại diện là F.Taylor và lý thuyết tổ chức cổ điển với đại diện là H.Fayol và M.Weber; trường phái hành vi với đại diện là E.Mayo; trường phái định lượng hay còn gọi là trường phái khoa học quản lý xuất hiện tại Anh vào đầu chiến tranh thế giới thứ hai, nội dung chính là thành lập các nhóm nghiên cứu kết hợp (Operational Research) gồm nhiều nhà khoa học các ngành liên quan đến vấn đề giải quyết mà các biện pháp truyền thống không cho phép, đó gọi là nhóm khoa học quản lý phải trình bày trước lãnh đạo cơ sở hợp lý nhất để đưa ra quyết định đúng đắn
Học thuyết quản lý khoa học do F Taylor (1845 – 1915) - người được coi là “cha đẻ của khoa học quản lý” trong cuốn: “Nguyên lý của Khoa học quan lý” xuất bản năm 1911 tuy chưa có khái niệm quyết sách rõ ràng nhưng ông cho rằng: Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm, và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất Sau này, ông Lerence - Chủ tịch hiệp hội các nhà kinh doanh Mỹ đã khái quát quan điểm của F.Taylor và cho rằng: Quản lý là thông qua người khác để đạt được mục tiêu của mình
Cùng thời với F.Taylor, nhà quản lý hành chính người Pháp là H Fayon lại định nghĩa quản lý theo các chức năng của nó Theo H Fayon: Quản lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra
Trong tác phẩm “Những vấn đề cốt yếu của quản lý” Harold Koontz cho rằng: Quản lý là một dạng thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục tiêu của nhóm Ngoài ra ông còn cho rằng: Mục tiêu của nhà quản lý là nhằm hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, và sự bất mãn cá nhân ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn kiến thức có tổ chức về quản lý là một khoa học
Theo Paul Hersey và KenBlanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” thì: Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý và người bị quản lý nhằm thông qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt mục tiêu của tổ chức
Một nhân vật đại biểu được coi là một trong những nhà sáng lập chính trị của trường phái tổ chức cổ điển người Pháp là Henry (1841 – 1925) Theo ông, quản lý không phải là một tài năng thuộc về tư chất mà là một kỹ năng như mọi kỹ năng khác Trong đó, 5 chức năng với 14 nguyên tắc quản lý nổi tiếng của ông đến nay vẫn còn là kinh điển của lý luận quản lý Theo ông, 5 chức năng quản lý là: Kế hoạch,tổ chức, chỉ huy, hiệp đồng, kiểm soát Tuy nhiên, đến năm 1937, L.Gulick và L.Urwick (1891 – 1983) phát triển thành 7 chức năng (viết tắt là POSDCORB)
S – Staffing: Quản lý nhân sự
Trong những năm 60 của thế kỷ XX, H.Kootz và C.O’Donnell nêu ra 5 chức năng: Lập kế hoạch, tổ chức, quản trị nhân sự, điều khiển và kiểm tra Sau này, một số chuyên gia cho rằng trong thời hiện đại, khi nền hành chính chính quyền truyền thống đang chuyển hóa sang nền hành chính hiện đại, thì chức năng quản lý gồm có 5 chức năng (viết tắt là PAFHIER):
PA – Policy Analysic: Phân tích chính sách
F – Financial Management: Quản lý tài chính
H – Human Resouce Management: Quản lý nhân sự
I – Information Management: Quản lý thông tin
ER – External Relation: Quan hệ bên ngoài Đầu những năm 90 của thế kỷ XX, một số lý thuyết gia người Mỹ như J.Stoner, S Robbins quy về 4 chức năng chính là : Lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra
Quan điểm của các nhà quản lý, các nhà khoa học ở Việt Nam Ở Việt Nam, tác giả Trần Kiểm cho rằng: Quản lý là những tác hoạch định của chủ thể quản lý trong việc huy động, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất
Vũ Dũng và Nguyễn Thị Mai Lan cho rằng: Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó
Theo PGS.TS Trần Quốc Thành: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình quản lý xã hội, hành vi và hành động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan
Theo Nguyễn Quốc Chí và Đặng Thị Mỹ Lộc trong cuốn: “Quản lý giáo dục: Một số vấn đề về lý luận và thực tiễn” thì: Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt mục đích của tổ chức
Nội dung quản lý nhà nước về báo chí
Trên cơ sở các quy định của pháp luật, nhằm đảm bảo cho hoạt động báo chí được diễn ra thông suốt, đáp ứng nhu cầu về thông tin của quần chúng nhân dân, Nhà nước luôn xây dựng nội dung quản lý Nhà nước đối với báo chí trên cơ sở phù hợp với thẩm quyền pháp lý của từng chủ thể quản lý nhất định theo các điều kiện lịch sử trong từng giai đoạn
Quản lý báo chí truyền thông có thể phân chia thành 2 cấp độ: Đó là quản lý ở cấp vĩ mô và quản lý cấp vi mô Quản lý vi mô là hình thức quản lý tòa soạn báo chí Ở cấp độ này, có thể gọi là quản trị tòa soạn báo chí – nhìn từ góc độ kinh tế Quản lý vĩ mô là quản lý nhà nước về báo chí, bao gồm các công cụ chủ yếu như hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật, quản lý bằng pháp luật
Tất cả các cấp độ quản lý nói trên đều phải dựa trên những quan điểm, nguyên tắc nhất định Đặc biệt, ở Việt Nam, quản lý báo chí phải đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện và triệt để của Đảng về quản lý Nhà nước về Báo chí là một yêu cầu cơ bản và cấp thiết (BCTT hiện đại – Từ Hàn lâm đến đời thường, PGS.TS Nguyễn Văn Dững)
Xét ở khía cạnh vĩ mô, quản lý Nhà nước về báo chí bao gồm các hoạt động lập pháp, lập quy của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm đề ra các chính sách, pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của công dân liên quan đến báo chí và hoạt động báo chí; quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí trong bộ máy hành chính; hoạt động điều hành của nhà nước nhằm tổ chức, phối hợp các cơ quan trong hoạt động báo chí Quản lý nhà nước đối với báo chí còn bao gồm cả các hoạt động kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Các nội dung quản lý Nhà nước về Báo chí hiện nay xuất phát từ các quy định hiện hành của Đang và Nhà nước; cụ thể tại điều 6 Luật Báo chí năm 2016 quy định rõ các nội dung quản lý Nhà nước về báo chí, bao gồm:
1 Xây dựng, chỉ đạo và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển báo chí
2 Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về báo chí; xây dựng chế độ, chính sách về báo chí
3 Tổ chức thông tin cho báo chí; quản lý thông tin của báo chí
4 Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp cho đội ngũ người làm báo của các cơ quan báo chí và cán bộ quản lý báo chí
5 Tổ chức quản lý hoạt động khoa học, công nghệ trong lĩnh vực báo chí
6 Cấp, thu hồi các loại giấy phép trong hoạt động báo chí và thẻ nhà báo
7 Quản lý hợp tác quốc tế về báo chí, quản lý hoạt động của cơ quan báo chí Việt Nam liên quan đến nước ngoài và hoạt động của báo chí nước ngoài tại Việt Nam
8 Kiểm tra báo chí lưu chiểu; quản lý hệ thống lưu chiểu báo chí quốc gia
9 Chỉ đạo, thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, thống kê và công tác khen thưởng, kỷ luật trong hoạt động báo chí
10 Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về báo chí
Tóm lại, hoạt động báo chí liên quan đến toàn bộ các lĩnh vực kinh tế - xã hội, quốc phòng – an ninh…Mục đích quản lý Nhà nước đối với báo chí là nhằm đảm bảo cho hoạt động báo chí được diễn ra trong khuôn khổ của pháp luật, đặt lợi ích chung của toàn xã hội lên trên hết
Cần vào hoàn cảnh cụ thể đế có kế hoạch áp dụng phương thức quản lý báo chí cho phù hợp , nhằm vừa làm rõ trách nhiệm của các chủ thể quản lý vừa tránh buông lỏng quản lý; khắc phục tình trạng quan lieu, đùn dẩy, gây phiền hà cho đối tượng quản lý.
Cơ quan quản lý Nhà nước về báo chí
Theo quy định của Luật Báo chí 2016 (Luật số 103/2016/QH13), cơ quan quản lý Nhà nước về báo chí cấp Trung ương được quy định như sau: Điều 7 Luật Báo chí 2016:
1 Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về báo chí
2 Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về báo chí
3 Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông thực hiện quản lý nhà nước về báo chí
4 Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm quản lý nhà nước về báo chí tại địa phương
Nhà nước quản lý báo chí thông qua các chính sách, điều luật ban hành Các cơ quan quản lý nhà nước về báo chí truyền thông gồm: Cơ quan quản lý nhà nước về báo chí truyền thông ở Trung ương Bộ thông tin và truyền thông có trách nhiệm thực hiện chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được Luật Báo chí quy định, cụ thể:
- Chú trọng xây dựng các chiến lược quy hoạch, kế hoạch, phát triển sự nghiệp báo chí truyền thông và giám sát những hoạt động đó
- Ban hành và chỉ đạo tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về báo chí truyền thông
- Thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm các hoạt động báo chí truyền thông Quản lý nhà nước về báo chí truyền thông ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ: những cơ quan này đóng vai trò như cơ quan chủ quản báo chí, thực hiện công tác chỉ đạo quản lý cơ quan báo chí thuộc quyền trong việc thực hiện phương hướng nhiệm vụ, kế hoạch, tổ chức bộ máy xây dựng đội ngũ cán bộ báo chí đảm bảo các tiêu chuẩn về chính trị, nghiệp vụ
Bộ TT&TT là cơ quan Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về báo chí; xuất bản, in, phát hành; bưu chính; viễn thông; tần số vô tuyến điện; công nghệ thông tin, điện tử; phát thanh và truyền hình, thông tin điện tử, thông tấn, thông tin đối ngoại, thông tin cơ sở và quản lý nhà nước các dịch vụ công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của bộ
Riêng đối với báo chí, (bao gồm báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình, bản tin thông tấn): a) Hướng dẫn, chỉ đạo, tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển và quản lý báo chí trong cả nước, văn phòng đại diện cơ quan thường trú ở nước ngoài của các cơ quan báo chí Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; b) Tổ chức thông tin cho báo chí và quản lý thông tin của báo chí; thực hiện việc đo kiểm và công bố số liệu liên quan đến hoạt động báo chí theo quy định của pháp luật; c) Hướng dẫn kỹ thuật về biện pháp, quy trình bảo quản thông tin và hệ thống quản lý thông tin trong thực hiện quy định của pháp luật về tiếp cận thông tin; d) Ban hành quy chế tổ chức hội thi, hội thảo, liên hoan báo chí; đ) Kiểm tra báo chí lưu chiểu; quản lý hệ thống lưu chiểu báo chí in quốc gia; thực hiện lưu chiểu điện tử báo nói, báo hình, báo điện tử theo quy định của pháp luật; kiểm tra việc tổ chức thực hiện phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước theo quy định của pháp luật; e) Cấp, gia hạn, sửa đổi, bổ sung, tạm đình chỉ, đình chỉ, thu hồi các loại giấy phép trong lĩnh vực báo chí, phát thanh, truyền hình; cấp, thu hồi thẻ nhà báo; chấp thuận việc họp báo theo quy định của pháp luật về báo chí; g) Hướng dẫn việc hoạt động của báo chí và nhà báo trong cả nước, phối hợp với các cơ quan có liên quan quản lý hoạt động của báo chí Việt Nam liên quan đến nước ngoài và hoạt động báo chí của người nước ngoài, tổ chức nước ngoài tại Việt Nam; h) Có ý kiến về việc bổ nhiệm người đứng đầu các cơ quan báo chí theo quy định của pháp luật về báo chí; i) Quản lý nội dung, chất lượng và giá dịch vụ phát thanh, truyền hình theo quy định của pháp luật.
Các quan điểm của Đảng về quản lý Nhà nước về báo chí
Xét trên bình diện chung, các hoạt động của báo chí có tầm ảnh hưởng rất lớn đến đời song kinh tế - xã hội Vì vậy, muốn các hoạt động này đi vào khuôn khổ dưới sự điều chỉnh của pháp luật, cần thiết phải có những nguyên tắc quản lý phù hợp, bao gồm:
Nguyên tắc tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của công dân: Điều này đã được cụ thể hóa trong Luật Báo chí 2016 Theo đó, Điều 13 Luật Báo chí 2016 quy định: “Nhà nước tạo Điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình” Điều 10, Điều 11 Luật Báo chí 2016 quy định về quyền tự dó báo chí, quyền tụ do ngôn luận trên báo chí của công dân: “Sáng tạo tác phẩm báo chí; Cung cấp thông tin cho báo chí; Phản hồi thông tin trên báo chí; Tiếp cận thông tin báo chí; Liên kết với cơ quan báo chí thực hiện sản phẩm báo chí;
In, phát hành báo in” “Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các tổ chức, cá nhân khác”
Nguyên tắc đảm bảo quyền thụ hưởng thành quả hoạt động báo chí một cách bình đẳng của tất cả công dân
Bằng hoạt động của mình, báo chí đã góp phần đáng kể vào việc giữ vững ổn định chính trị, kinh tế - xã hội; định hướng dư luận xã hội một cách tích cực Tại Việt Nam, hệ thống pháp luật trong quản lý Nhà nước về báo chí là công cụ góp phần quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển nền văn hóa dân tộc; đảm bảo cho quá trình hội nhập môi trường thông tin và toàn cầu hóa Đây còn được xem như một nguyên tắc thể hiện tính nhân văn trong việc nâng cao chất lượng dân trí Điều 5 Luật báo chí quy định: Chính sách của Nhà nước về phát triển báo chí, trong đó: “Có chiến lược, quy hoạch phát triển và quản lý hệ thống báo chí; Đầu tư có trọng tâm, trọng điểm trong các lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng nhân lực về chuyên môn, nghiệp vụ và quản lý hoạt động báo chí, nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ hiện đại cho các cơ quan báo chí; Đặt hàng báo chí phục vụ nhiệm vụ chính trị, an ninh, quốc phòng, thông tin đối ngoại, phục vụ thiếu niên, nhi đồng, người khiếm thính, khiếm thị, đồng bào vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới, hải đảo và các nhiệm vụ trọng yếu khác phù hợp với từng giai đoạn theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; Hỗ trợ cước vận chuyển báo chí phục vụ nhiệm vụ, đối tượng và địa bàn quy định tại Khoản 3 Điều này.”
Kiên quyết đấu tranh chống lợi dụng việc tôn trọng tự do báo chí, tự do ngôn luận để làm trái pháp luật
Ngày nay, việc tôn trọng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận luôn được xem là như quyền cơ bản của con người Trên cơ sở cụ thể hóa Hiến pháp 2013, Luật Báo chí 2016 một mặt khẳng định sự tôn trọng quyền tự do báo chí của công dân, mặt khác đã tạo ra hành lang pháp lý ngăn chặn triệt để các những âm mưu của các thế lực thù địch luôn tìm cách lợi dung quyền tự do báo chí và các diễn đàn nhân dân làm cơ sở ho việc chống phá Nhà nước Theo đó, Khoản 1 Điều 13 nêu rõ: “Nhà nước tạo Điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình”.
Cơ sở pháp lý của quản lý Nhà nước về báo chí
Hiến pháp đầu tiên năm 1946 của nước Việt Nam Dân chủ Cộng Hòa ra đời đã ghi nhận quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của công dân Đến Hiến pháp năm 1959, 1980 và 1992 đều quy định về quyền tự do báo chí, ngôn luận; không ai được xâm phạm đến quyền này cuả nhân dân và cũng nghiêm cấm lợi dụng quyền tự do báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân
Hệ thống văn bản pháp luật về báo chí ngày càng được bổ sung và từng bước hoàn thiện, cụ thể như: Luật Báo chí năm 1989, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999; Nghị định số 51/2002/NĐ-CP ngày 26/4/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí; Quyết định số 77/ 2007/QĐ-TTg ngày 28/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí; Thông tư số 07/2007/TT-VHTT ngày 20/3/2007 của Bộ Văn hóa - Thông tin hướng dẫn cấp, đổi và thu hồi Thẻ nhà báo; Quyết định số 52/2008/QĐ-BTTTT ngày 02/12/2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông về việc ban hành Quy chế xác định nguồn tin trên báo chí; Thông tư số 13/2008/TT-BTTTT ngày 31/12/2008 của Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn việc thành lập và hoạt động của cơ quan đại diện, phóng viên thường trú trong nước của các cơ quan báo chí; Nghị định số 97/2008/NĐ-CP ngày 28/8/2008 của Chính phủ về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet; Đặc biệt, có rất nhiều văn bản được Nhà nước ban hành làm cơ sở pháp lý cho việc hoạt động báo chí ngày một được vận hành có hiệu quả hơn Điển hình như: Nghị định 133/HĐBT ngày 20/9/1992 quy định chi tiết về thi hành
Luật Báo chí về các mặt; Chỉ thị 63/CT-TW về Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác báo chí-xuất bản; Thông tư số 131/TT-VP ngày 20/11/1990 của Bộ Văn hóa – Thông tin hướng dẫn thi hành Nghị định 384/HĐBT và có điều chỉnh một số tiêu chuẩn nghiệp vụ của chức danh viên chức báo chí; Bộ luật Dân sự 1995; Bộ luật Hình sự 1999; Nghị định số 384/HĐBT về Tăng cường công tác quản lý báo chí – xuất bản… Bên cạnh đó, Luật Báo chí qua các thời kỳ và các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của báo chí Mặc dù chưa mang tính đồng bộ và phổ quát nhưng phần nào đã đặt ra một cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước thực hiện tốt chức năng quản lý Nhà nước đối với các cơ quan báo chí của mình
Tuy nhiên Luật Báo chí do Quốc hội Khóa XIII và thông qua kỳ họp thứ
11 có hiệu lực từ ngày 01/01/2017 đã có nhiều điểm đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động của báo chí, làm cho hoạt động quản lý báo chí trở nên rõ ràng và cụ thể hơn:
Tại Chương I, điều 4, điều 5 quy định về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của báo chí, trong đó nêu rõ: “Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí; góp phần ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của Nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa…” Đề án “Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí đến năm 2025”: Đây là đề án có ảnh hưởng sâu rộng đến toàn bộ đơn vị báo chí trong cả nước Với mục tiêu “tinh gọn và tinh nhuệ”, đề án quyết tâm quy hoạch hệ thống báo chí trên tất các loại hình: báo in, phát thanh truyền hình, báo điện tử và trên khắp các tỉnh thành ở Việt Nam Khi đề án này được đưa vào thực hiện, sẽ là cơ hội cho báo chí Bộ LĐ-TB&XH củng cố lại hệ thống, loại bỏ tình trạng các trang thông tin, website tràn lan, chồng chéo, trùng lặp về nội dung Đây cũng là cơ sở đề báo chí ngành LĐ-TB&XH góp phần tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội Đồng thời, phổ biến các mô hình điển hình, biểu dương người tốt, việc tốt; đấu tranh với những vi phạm, những biểu hiện tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực lao động, người có công và xã hội theo quy định của pháp luật
Tại chương III, Mục 1, Điều 14 của Luật Báo chí quy định về việc thành lập các cơ quan báo chí, đã quy định rõ: “Cơ quan của Đảng, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức tôn giáo từ cấp tỉnh hoặc tương đương trở lên, hoạt động hợp pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam được thành lập cơ quan báo chí”.
KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ
Giới thiệu về lĩnh vực quản lý của Bộ LĐ-TB&XH
2.2.1 Vị trí, chức năng của Bộ LĐ-TB&XH
Bộ LĐ-TB&XH là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các lĩnh vực: Lao động, tiền lương; việc làm, giáo dục nghề nghiệp; bảo hiểm xã hội; an toàn, vệ sinh lao động; người có công; bảo trợ xã hội; trẻ em; bình đẳng giới; phòng, chống tệ nạn xã hội (sau đây gọi chung là lĩnh vực LĐ-
TB&XH) trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ sự nghiệp công trong các ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý Nhà nước của Bộ
Là một lĩnh vực của đời sống xã hội nước ta, lĩnh vực lao động – thương binh và xã hội mang những đặc trưng cơ bản: tổng hợp chính trị - kinh tế - xã hội – quốc phòng – an ninh; trực tiếp phục vụ hàng triệu người và gia đình có công với Cách mạng và Tổ quốc, hàng chục triệu người lao động và hàng triệu người thuộc các đối tượng xã hội khó khăn, yếu thế Sự vận động của quá trình phát triển lao động – thương binh và xã hội trong từng thời kỳ Cách mạng trực tiếp tác động tới sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế, trật tự - an toàn xã hội, góp phần đắc lực thực hiện cương lĩnh, chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước
Trong lĩnh vực lao động, tiền lương, Bộ có nhiệm vụ hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về hợp đồng lao động, kỷ luật lao động, trách nhiệm vật chất, đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể, thỏa ước lao động tập thể, giải quyết tranh chấp lao động và đình công; hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về tiền lương tối thiểu, định mức lao động, thang lương, bảng lương
Về lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp (trừ sư phạm), Bộ ban hành điều lệ trường cao đẳng, trường trung cấp và trung tâm giáo dục nghề nghiệp; quy chế tuyển sinh đào tạo; quy chế kiểm tra, thi, xét công nhận tốt nghiệp; quy định khối lượng kiến thức tối thiểu ở mỗi trình độ đào tạo; quản lý và tổ chức thực hiện việc kiểm định chất lượng giáo dục nghề nghiệp Đối với lĩnh vực người có công, Bộ hướng dẫn và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về ưu đãi đối với người có công với cách mạng; quy định chế độ, định mức, phương thức trang cấp dụng cụ chỉnh hình và phương tiện trợ giúp cho người có công với cách mạng
2.2.2 Về cơ cấu tổ chức
Bộ LĐ-TB&XH có 23 đơn vị trực thuộc gồm: Vụ Bảo hiểm xã hội; Vụ Bình đẳng giới; Vụ Pháp chế; Vụ Hợp tác quốc tế; Vụ Tổ chức cán bộ; Vụ Kế hoạch - Tài chính; Thanh tra; Văn phòng; Cục Việc làm; Cục Quan hệ lao động và Tiền lương; Cục Quản lý Lao động ngoài nước; Cục An toàn lao động; Cục Người có công; Cục Trẻ em; Cục Bảo trợ xã hội; Cục Phòng, chống tệ nạn xã hội; Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp; Viện Khoa học Lao động và Xã hội; Trung tâm Thông tin; Tạp chí LĐXH; Tạp chí GĐTE; Báo LĐXH; Trường Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức lao động - xã hội.
Quản lý Nhà nước về báo chí Bộ LĐ-TB&XH
2.2.1 Quản lý theo các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành
Những yếu tố đặc thù trong vấn đề quản lý báo chí ngành LĐ-TB&XH theo luật định
Theo số liệu thống kê, từ năm 2005 đến nay, ngành LĐ-TB&XH đã có những bước đột phá trong xây dựng văn bản pháp luật, đã trình Quốc hội thông qua: Luật sửa đổi, bổ sung điều 73 Bộ luật Lao động (2007) Năm 2012 đã thông qua Bộ luật sửa đổi và bổ sung một số điều của Bộ luật Lao động; Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội thông qua năm 2006 và được sửa đổi 2014; Luật Dạy nghề (2006), Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014); Luật Việc làm (2013)… Qua đó, ta có thể thấy việc quản lý Nhà nước về lĩnh vực LĐ-
TB&XH là vô cùng quan trọng và cần thiết, nó ảnh hưởng đến đông đảo nhân dân, tác động trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của nhân dân trong quá trình thực thi các chính sách
Hệ thống văn bản pháp luật về lĩnh vực LĐ-TB&XH đang ngày được hoàn thiện, trong đó vấn đề về Lao động, người có công và xã hội nói chung và báo chí ngành LĐ-TB&XH nói riêng cũng được quan tâm, thông qua đó góp phần giúp cho ngành LĐ-TB&XH ngày càng phát triển ổn định Là một bộ phận của báo chí Việt Nam, nhưng lại mang đặc trưng của ngành, việc áp dụng quản lý nhà nước đối với báo chí LĐ-TB&XH theo luật định hiện hành sẽ có một số đặc thù như sau:
Thứ nhất, là một lĩnh vực của đời sống xã hội nước ta, báo chí lĩnh vực LĐ-TB&XH có nhiệm vụ chuyển tải thông tin mang những nét đặc trưng cơ bản: tổng hợp chính trị - kinh tế - xã hội – quốc phòng – an ninh; trực tiếp tuyên truyền đến đông đảo nhân dân về quá trình phát triển lao động – thương binh và xã hội trong từng thời kỳ; giúp cho hàng triệu người và gia đình có công với Cách mạng và Tổ quốc, hàng chục triệu người lao động và hàng triệu người thuộc các đối tượng xã hội khó khăn, yếu thế… góp phần giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, trật tự - an toàn xã hội và thực hiện cương lĩnh, chiến lược xây dựng và bảo vệ đất nước
Thứ hai, về nhân sự tham gia hoạt động báo chí, ngoài các phóng viên được đào tạo bài bản về chuyên ngành báo chí, còn có các phóng viên xuất thân từ các lĩnh vực liên quan như: Sư phạm Văn, Tổng hợp, Khoa học Xã hội nhân văn, Kinh tế … Vì thế, cơ chế đào tạo và tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ trong lĩnh vực này cũng tương đối mở Việc bổ nhiệm, tiêu chuẩn bằng cấp của lãnh đạo cơ quan báo chí cũng phải có sự linh hoạt theo tình hình thực tế của ngành Đây cũng là một trong những yếu tố quan trọng góp phần phát triển báo chí LĐ-TB&XH
Thứ ba, qua các đợt kiện toàn sắp xếp lại, đến nay chức năng, nhiệm vụ của Bộ, Ngành được xác định đầy đủ hơn, hoàn thiện hơn Hiện nay, Bộ có 63 đầu mối quản lý, trong đó khối cơ quan Bộ có 17 đơn vị thực hiện chức năng quản lý Nhà nước, 7 đơn vị sự nghiệp phục vụ quản lý nhà nước cùng 39 đơn vị sự nghiệp thuộc và trực thuộc Bộ Ngoài việc vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước, Bộ LĐ-TB&XH còn hướng dẫn chỉ đạo và trực tiếp tổ chức các đơn vị hoạt động sự nghiệp về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội trên phạm vi cả nước Vì vậy, nhu cầu trao đổi thông tin của công chúng báo chí ngành LĐ-TB&XH là rất lớn Những quy định về phát triển báo chí ngành cũng vì vậy mà không kém phần quan trọng, góp phần thực hiện được chức năng là diễn đàn, tiếng nói của người lao động về các lĩnh vực chuyên ngành
Quan điểm và phương thức quản lý nhà nước về báo chí Bộ LĐ- TB&XH hiện nay
Báo chí Bộ LĐ-TB&XH là một bộ phận của báo chí Việt Nam, xét trong vấn đề quản lý nhà nước vẫn phải tuân theo nội dung và phương thức quản lý chung đối với báo chí hiện nay Trên thực tế, báo chí ngành LĐ-TB&XH là cơ quan ngôn luận của ngành LĐ-TB&XH Theo đó, Bộ LĐ-TB&XH có nhiệm vụ chỉ đạo cơ quan báo chí thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động; tổ chức nhân sự và chịu trách nhiệm về hoạt động của cơ quan báo chí Ở cấp trung ương chịu sự quản lý trực tiếp của Ban Tuyên giáo Trung ương và Bộ Thông tin Truyền thông Việc quản lý báo chí Bộ LĐ-TB&XH tuy chưa có nhiều văn bản cụ thể hướng dẫn, nhưng không vì thế mà bộ phận báo chí này hoạt động tràn lan, phá bỏ khuôn khổ Về bản chất, việc quản lý các đơn vị báo chí ngành LĐ-TB&XH vẫn tuân thủ theo nguyên tắc Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý
Theo Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Ngọc Dung, hiện nay, các cơ quan báo chí của ngành còn thiếu tính nhạy bén về chính trị; chưa thực sự làm tốt vai trò định hướng dư luận, xã hội về một số lĩnh vực của ngành; Đôi khi để lọt thông tin một cách không chính thức, không trung thực, thiếu chính xác; Chưa chú trọng đến việc phát hiện, tuyên truyền, giới thiệu các điển hình tiên tiến nhằm cổ vũ, phát triển rộng Nhìn chung, hoạt động báo chí của ngành còn nhiều khó khăn, mức độ ảnh hưởng trong xã hội còn khiêm tốn
Nhìn chung, việc quản lý báo chí Bộ LĐ-TB&XH đang được thực hiện thông qua 3 phương thức chính, như sau:
- Thứ nhất, quản lý theo luật báo chí và các văn bản dưới luật: tức là thông qua các văn bản quy phạm pháp luật sẽ đảm bảo cho các cơ quan báo chí luôn phát triển theo đúng định hướng, phù hợp với sự phát triển của nhà nước Đồng thời đây cũng là cơ sở để giải quyết các tranh chấp, những sai phạm trong hoạt động của các cơ quan báo chí
Qua khảo sát từ năm 2015 đến 2017, Bộ LĐ-TB&XH đã nhận được 09 công văn chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn hạt động báo chí của cơ quan quản lý Nhà nước về báo chí cấp Trung ương Riêng đối với 03 cơ quan báo chí trong diện khảo sát, cũng trong quãng thời gian này, Tạp chí LĐ&XH nhận được 13 công văn; Tạp chí GĐ&TE nhận được 10 công văn; Báo LĐ&XH nhận được
15 công văn Các văn bản hướng dẫn công tác tuyên truyền có nội dung tập trung vào việc chỉ đạo các cơ quan báo chí tuyên truyền chủ trương đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước; ban hành quy định đạo đức nghề nghiệp của người làm báo; mở lớp đào tạo nghiệp vụ báo chí; các phong trào thi đua, các cuộc vận động; các cuộc tọa đàm, tập huấn, bồi dưỡng…
Ví dụ, ngày 20/10/2015, Bộ LĐ-TB&XH ban hành công văn số 4260 về việc xây dựng và triển khai thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật Ngành Theo đó, các cơ quan thông tin của Bộ xây dựng kế hoạch thông tin tuyên truyền, phổ biến và triển khai thự hiện pháp luật lao động, người có công và xã hội đến các cơ quan, doanh nghiệp, người lao động để làm căn cứ thực hiện, giám sát, kiểm tra theo định kỳ
Ngày 16/12/2016, Hội Nhà báo Việt Nam ban hành 10 điều Quy định đạo đức nghề nghiệp người làm báo Việt Nam và Chương trình hành động của Hội Nhà báo Việt Nam thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XII về ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ
- Thứ hai, đối với báo chí ngành LĐ-TB&XH, về mặt quản lý nhà nước, bộ phận báo chí này chịu sự quản lý của cơ quan cấp trung ương là Bộ Thông tin và Truyền thông, các bộ và cơ quan ngang bộ, cơ quan quản lý ở địa phương là các sở thông tin và truyền thông Để được cấp phép và hoạt động, báo chí Bộ LĐ-TB&XH phải tuân thủ theo đúng quy định của Luật báo chí; phối hợp với Bộ TT&TT thực hiện quản lý Nhà nước về báo chí và cùng chịu trach nhiệm trước Chính phủ để thực hiện quản lý Nhà nước về báo chí Đối với công tác quản lý Nhà nước về báo chí trong lĩnh vực lao động, người có công và xã hội, quy định này đã tạo điều kiện thuận lợi cho công tác báo chí truyền thông Bộ LĐ-TB&XH ngày càng phát triển mạnh mẽ Đặc biệt là việc cho ra đời các trang thông tin điện tử như Laodongxahoi.net; baodansinh.vn; giadinhvatreem.vn… được xem là cơ sở cho việc phát triển các sản phẩm báo chí nói riêng, góp phần phát huy thế mạnh trong việc cập nhật thông tin, phản ánh đúng, kịp thời những sự kiện của ngành và đất nước nói chung, làm cho báo chí ngành LĐ-TB&XH có tính thời sự cao hơn; góp phần làm phong phú về thể loại, đa dạng trong mội lĩnh vực hoạt động, trở thành nguồn tư liệu chính thống của ngành trong việc phục vụ công tác nghiên cứu và quản lý Đây cũng là nguồn tin đáng tin cậy giúp cho các cơ quan báo chí địa phương có thể khai thác được thông tin liên quan đến chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và phản ánh về các lĩnh vực hoạt động của Bộ, ngành từ Trung ương tới cơ sở và các sự kiện lớn của đất nước Tuy nhiên, việc ra đời các trang điện tử cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với các cơ quan báo chí trực thuộc cũng như đội ngũ cán bộ, phóng viên để đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ mới có tính cạnh tranh ngày càng cao hơn
-Thứ ba, quản lý theo chuẩn mực đạo đức báo chí Đây chính là những nguyên tắc, chuẩn mực điều chỉnh hành vi đối với mỗi nhà báo trong hoạt động thực tiễn nghề nghiệp, có những quy tắc đạo đức sẽ giúp cho phóng viên định hướng được những hành động của mình theo một mục đích chung có thể đem lại nhiều lợi ích cho cộng đồng và xã hội Là một lĩnh vực phản ánh mọi mặt của đời sống, vì thế báo chí có khả năng chi phối tư tưởng thậm chí làm thay đổi hành động của cộng đồng, sơ suất nhỏ của một người trong báo chí sẽ có ảnh hưởng đến hàng nghìn hàng triệu người, một sai phạm không đáng kể trong báo chí sẽ có thể trở thành một thảm họa cho xã hội Chính vì thế vấn đề đạo đức nghề báo hiện nay đang được xã hội quan tâm đặc biệt hơn bao giờ hết Đối với phóng viên báo chí Bộ LĐ-TB&XH, bên cạnh việc tuân thủ những quy tắc đạo đức chung của nhà báo, còn phải am hiểu về tường tận về các văn bản quy phạm pháp luật, giỏi về chuyên môn để thể hiện những hiểu biết sâu sắc của mình trong quá trình phản ánh cũng như thu thập thông tin, chuyển tải thông tin đến độc giả một cách nhanh nhạy và chính xác nhất
2.2.2 Quản lý thông qua xử lý các sai phạm
Giới thiệu các cơ quan báo chí trong diện khảo sát
Tạp chí LĐ&XH, tiền thân là Nội san Quản lý Lao động, ra số đầu tiên vào 15/10/1968 Qua 4 lần đổi tên, từ Nội san Quản lý Lao động (năm 1968) thành Tập san Quản lý Lao động (năm 1976), rồi đến Tạp chí Quản lý Lao động (năm 1984) Năm 1987, sau khi 2 Bộ Lao động và Bộ Thương binh và
Xã hội sáp nhập, Tạp chí Quản lý Lao động được chính thức đổi tên thành Tạp chí LĐ&XH, có chức năng là cơ quan ngôn luận của Bộ LĐ-TB&XH Tạp chí là đơn vị sự nghiệp có thu, hoạt động báo chí theo quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước Hoạt động với 2 loại hình báo chí: Tạp chí in và Tạp chí điện tử; chịu sự quản lý Nhà nước về báo chí, về xuất bản của Bộ Thông tin và Truyền thông
- Cơ quan chủ quản: 139 Nguyễn Thái Học, Ba Đình, Hà Nội
- Trụ sở phía Nam: 45 Phạm Ngọc Thạch, Quận 3, TP Hồ Chí Minh
Quá trình hình thành và phát triển
Trong giai đoạn 1968- 1986, từ Nội san Quản lý Lao động (năm 1968), Tập san Quản lý Lao động (năm 1976), rồi đến Tạp chí Quản lý Lao động
(năm 1984), Tạp chí đã tập trung tuyên truyền chủ trương, chính sách của Nhà nước ở cấp Trung ương, cấp tỉnh Trao đổi cơ sở lý luận và phổ biến chính sách, giải pháp giải quyết các vấn đề về quản lý vĩ mô về lao động trong phạm vi của cả nước, của ngành và doanh nghiệp Khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết về phân công lại lao động xã hội và Nghị quyết của Hội đồng Chính phủ về tăng cường quản lý lao động, Nội san, rồi Tập san đã tập trung đăng nhiều tin, bài tuyên truyền, hướng dẫn các doanh nghiệp, cơ sở thực hiện công tác định mức và tổ chức lao động khoa học, xây dựng định mức lao động, tuyên truyền chính sách, chế độ cụ thể về tiền lương tối thiểu, hình thức trả lương theo sản phẩm, … đã giúp Bộ Lao động nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện chính sách lao động phù hợp với cơ chế bao cấp trong điều kiện thời chiến Cùng với việc tuyên truyền, phổ biến chính sách quản lý lao động, công tác thương binh liệt sỹ, hậu phương quân đội ở giai đoạn này cũng được nội san tuyên truyền sâu rộng; phổ biến hướng dẫn chính sách, chế độ đối với thương binh, gia đình liệt sỹ, thanh niên xung phong,… góp phần thực hiện có hiệu quả chính sách của Nhà nước đối với các đối tượng chính sách
Sau ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, để ngành LĐ- TB&XH thực hiện tốt các nhiệm vụ trọng tâm như: giải quyết việc làm cho bộ đội xuất ngũ, thanh niên xung phong, công tác thương binh liệt sỹ và giải quyết các vấn đề xã hội,… Ngoài việc tuyên truyền phổ biến chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, Tập san Quản lý Lao động còn đăng tải nhiều bài viết về cơ sở lý luận xung quanh các vấn đề như: việc làm, tiền lương và thu nhập; tuyên truyền những giải pháp hay, cách làm mới của ngành và của các cấp trong quá trình thực hiện chính sách để phổ biến rộng rãi, góp phần tích cực vào việc thực hiện có hiệu quả công tác quản lý nhà nước của Bộ và toàn ngành
Từ năm 1987 đến nay, sau khi sáp nhập Bộ Lao động và Bộ Thương binh - Xã hội thành Bộ LĐ-TB&XH, Tạp chí với tên gọi chính thức là Tạp chí LĐXH như hiện nay có nhiệm vụ chính là tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng; Nhà nước và của ngành; phổ biến quan điểm, định hướng và giải pháp thực hiện chính sách, pháp luật về công tác Lao động - Thương binh
& Xã hội; đồng thời là diễn đàn để các nhà quản lý, các nhà khoa học trong và ngoài nước trao đổi những vấn đề về lý luận và nghiệp vụ; hướng dẫn thực hiện chính sách, chế độ và phản ánh những kinh nghiệm hay, điển hình tốt trong quá trình thực hiện chính sách của Nhà nước, của ngành
Tạp chí LĐ&XH là cơ quan ngôn luận của Bộ LĐ-TB&XH, có chức năng tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội Phổ biến các mô hình điển hình, biểu dương người tốt, việc tốt; đấu tranh với những vi phạm, những biểu hiện tham nhũng, tiêu cực trong lĩnh vực lao động, người có công và xã hội theo quy định của pháp luật và phân công của Bộ
Hiện nay, tạp chí có các chuyên mục: Nghiên cứu trao đổi; Thực tiễn – Kinh nghiệm; Phát triển nghề Công tác xã hội và chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; Hướng dẫn nghiệp vụ về công tác LĐ-TB&XH; Trả lời bạn đọc; Thông tin mộ liệt sĩ và giới thiệu văn bản
Về cơ bản, Tạp chí LĐ&XH bao quát được hầu hết các lĩnh vực chuyên ngành và thông tin rộng khắp các lĩnh vực quản lý của ngành với những bài viết vừa chuyên sâu, vừa đúng tầm, hàm chứa một khối lượng kiến thức khổng lồ về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội đã được đăng tải trên tạp chí Đó là kết quả lao động sáng tạo của đội ngũ cán bộ, biên tập viên, cộng tác viên của toàn ngành và cả nước Từ năm 2015 đến nay, 3 lĩnh vực được Tạp chí thông tin nhiều nhất là lao động – việc làm, dạy nghề, giảm nghèo và bảo trợ xã hội, chiếm 51,98%, có 6 lĩnh vực được Tạp chí thông tin ngang nhau là những vấn đề chung có tính chất định hướng, xuất khẩu lao động, bảo hiểm xã hội, an toàn và vệ sinh lao động, người có công, phòng chống tệ nạn xã hội, tiền lương và tiền công, chiếm 43,20% Đối với trang thông tin điện tử, tháng 7/2011, sau một thời gian triển khai tích cực về xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị, đào tạo đội ngũ và củng cố tổ chức bộ máy, Tạp chí điện tử LĐ&XH đã chính thức khai trương tại địa chỉ ldxh.vn, cung cấp cho độc giả về các chuyên mục: thời sự, lao động – xã hội, nghiên cứu trao đổi, kinh tế, giáo dục, pháp luật, văn hóa – thể thao, sức khỏe đời sống Việc ra đời Tạp chí điện tử Lao động và Xã hội không chỉ đánh dấu bước trưởng thành qua hơn 48 năm xây dựng và phát triển của tập thể cán bộ, phóng viên, biên tập viên Tạp chí LĐ&XH nói riêng mà còn của các cơ quan báo chí thuộc ngành nói chung bởi Tạp chí điện tử LĐ&XH cũng là tờ báo điện tử đầu tiên trong ngành LĐ-TB&XH
Với số lượng phóng viên, biên tập viên chỉ hơn 10 người nhưng Tạp chí đã bám sát các nhiệm vụ của Bộ, ngành và các sự kiện của đất nước để phản ánh kịp thời cập cập nhật hàng giờ, hàng ngày một cách tương đối toàn diện các lĩnh vực lao động, người có công và xã hội, các vấn đề thời sự, các sự kiện quan trọng trong và ngoài nước trên Tạp chí điện tử và Trang Thông tin điện tử của Bộ, góp phần tuyên truyền, quảng bá thành tựu của ngành và của đất nước Hoạt động Tạp chí điện tử ngày càng khẳng định được vai trò và vị thế của mình với độc giả; trình độ của đội ngũ phóng viên, biên tập viên cũng ngày càng được nâng lên; trang thiết bị được bổ sung và đáp ứng tốt yêu cầu Theo thống kê, từ khi đi vào hoạt động đến nay, Tạp chí đã cập nhật lên trang điện tử trên 32.500 tin, bài về chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và phản ánh về các lĩnh vực hoạt động của Bộ, ngành từ Trung ương tới cơ sở và các sự kiện lớn của đất nước, thu hút hàng triệu lượt người truy cập Chất lượng các tin, bài viết của phóng viên, và cộng tác viên trong cả nước được cập nhật lên mạng kịp thời, mang tính thời sự cao, phong phú về thể loại, đa dạng trong các lĩnh vực hoạt động, trở thành nguồn tư liệu chính thống của ngành, để phục vụ cho công tác nghiên cứu cũng như công tác quản lý Ngoài ra, đây còn được coi là kênh thông tin hữu dụng
+ Về tổ chức bộ máy và cán bộ:
Lãnh đạo Toà soạn hiện có 01 Tổng Biên tập và 01 Phó Tổng Biên tập
- Các tổ chức trực thuộc gồm:
+ Phòng Thư ký Tòa soạn
+ Phòng Hành chính - Trị sự
+ Phòng Kế toán – Tài vụ
+ Văn phòng đại diện phía Nam tại thành phố Hồ Chí Minh
Tạp chí LĐ&XH hiện có 24 cán bộ, viên chức; trong đó có 01 tiến sĩ, 06 thạc sĩ, còn lại đều có trình độ đại học
Ngày 14/4/1993, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Trần Đình Hoan đã ký văn bản số 1076 gửi Ban Tư tưởng Văn hóa Trung ương và Bộ Văn hóa Thông tin vè việc xin phép xuất bản tuần báo LĐ&XH Ngày 25/8/1993, Báo LĐ&XH xuất bản số đầu tiên sau một quá trình chuẩn bị đầy hào hứng của một số nhà báo tài năng dưới sự chỉ đạo, khích lệ rất chí tình của đồng chí Trần Đình Hoan, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH thời đó Tổng Biên tập đầu tiên của Báo là Thứ Trưởng, Anh hùng LLVT Trịnh Tố Tâm
Cơ quan chủ quản: Số 73 Nguyên Hồng, Quận Đống Đa, Hà Nội
Trụ sở phía Nam: 193 Bis – Lý Chính Thắng, Quận 3, TP, Hồ Chí Minh Văn phòng đại diện Nam miền Trung và Tây Nguyên: Nhà A2, Chung cư số 2 Lê Hồng Phong, TP Nha Trang, Khánh Hòa
+ Quá trình hình thành và phát triển
Sau khi thống nhất đất nước, vào thời kỳ chuyển đổi cơ chế, Bộ Lao động đã được hợp nhất với Bộ Thương binh và Xã hội thành Bộ LĐ-TB&XH Với chức năng quản lý Nhà nước về các lĩnh vực: Lao động – việc làm; Tiền công – tiền lương; chính sách xã hội thời hậu chiến… Do vậy, lĩnh vực lao động và xã hội đã thực sự trở thành vấn đề trọng yếu, đặc biệt là việc cải cách chế độ tiền lương sau thất bại của Giá Lương Tiền năm 1985; hay những lĩnh vực quan trọng như chính sách đối với thương binh – liệt sĩ, người có công với cách mạng trong thời hậu chiến Trong bối cảnh có rất nhiều vấn đề phải giải quyết như: Chương trình cải cách tiền lương – tiền công; Nghị quyết 120 về giải quyết việc làm khi chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường; Nghị định 176 về giải quyết lao động trong doanh nghiệp quốc doanh;
Bộ luật Lao động đầu tiên của nước CHXHCN Việt Nam; Pháp lệnh người có công; Pháp lệnh phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; chính sách chăm sóc thương binh và gia đình liệt sĩ…, ngoài tờ Tạp chí chuyên ngành (Tạp chí LĐ&XH) chuyên sâu về công tác nghiên cứu lúc bấy giờ vẫn không thể chuyển tải hết các mặt trong công tác của ngành, vì vậy, ngày 25/8/1993, Báo LĐXH chính thức xuất bản số đầu tiên sau quá trình ấp ủ từ ý tưởng của nguyên Bộ trưởng Trần Đình Hoan Trong đó, nhiệm vụ của tờ báo là tập trung tuyên truyền đường lối chủ trương, hoạch định chính sách cũng như tiếp thu phản hồi từ thực tiễn cuộc sống để các chính sách ngày một được hoàn thiện hơn
Cùng với việc tổ chức xuất bản, phát hành báo theo hướng phát triển, dấu ấn đặc biệt của báo LĐ&XH còn nổi bật trong hoạt động “Đền ơn đáp nghĩa”, uống nước nhớ nguồn, tri ân đối với liệt sĩ, thương binh và người có công Năm 1994 -1995, Ủy ban Thường vụ Quốc Hội ban hành 2 Pháp lệnh là Pháp lệnh Ưu đãi người có công với cách mạng và Pháp lệnh Phong tặng danh hiệu Nhà nước bà Mẹ Việt Nam Anh hùng Từ đó, những nội dung này được coi là một trong những nội dung trọng tâm trong công tác tuyên truyền của Báo Đây cũng là đơn vị đầu tiên trong cả nước thành lập Quỹ Đền ơn đáp nghĩa với sự hưởng ứng của nhiều doanh nghiệp, nhà hảo tâm để hỗ trợ xây dựng nhà tình nghĩa, tặng sổ tiết kiệm, tạo nên sự lan tỏa và phát triển sâu rộng trong các ngành, các cấp và địa phương như ngày nay
Thực trạng quản lý các cơ sở báo chí báo chí của Bộ LĐ-TB&XH
2.4.1 Nguồn nhân lực báo chí Bộ LĐ-TB&XH
Qua khảo sát 03 cơ quan báo chí trong diện nghiên cứu, ta có thể thấy, những người có trình độ chuyên môn nghiệp vụ báo chí, được đào tạo một cách cơ bản ở các trường đào tạo báo chí, có sự am hiểu các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội cũng như các lĩnh vực liên quan của ngành Những người này thường tiếp cận các vấn đề ở góc độ tin tức sự kiện, cần phải có sự quản lý về nội dung, thông điệp của những tác phẩm báo chí truyền thông
Hai là những người am hiểu lĩnh vực lao động, người có công và xã hội, say mê nghiên cứu về lĩnh vực này nhưng chưa có nghiệp vụ báo chí, viết về nó hoàn toàn từ niềm yêu thích và tìm tòi, học hỏi cũng như khám của bản thân Bộ phận này tuy có những hiểu biết nhất định về lĩnh vực nghiên cứu, nhưng chưa có nghiệp vụ và kinh nghiệm nên những sản phẩm truyền thông của họ chưa thực sự thu hút công chúng, nhiều khi diễn tả chưa được gãy gọn thông điệp mà họ muốn thể hiện Điều này đã tạo ra một số vấn đề thực tế đang diễn ra đối với đơn vị báo chí truyền thông Bộ LĐ-TB&XH Chính vì vậy mà vẫn có những bài báo hời hợt, thậm chí sai sự thật, vướng phải những cách xưng hô, từ ngữ sai cơ bản do người viết ẩu hoặc không có kiến thức về ngành
Với tình hình hiện nay, việc bổ nhiệm nhân sự quản lý các đơn vị báo chí trực thuộc là những người xuất thân không phải từ trường báo chí chuyên nghiệp mà chỉ dựa trên khả năng quản lý, kinh nghiệm công tác, việc luân chuyển cán bộ dựa trên tình hình khách quan Mặc dù những người làm công tác lãnh đạo có bề dày kinh nghiệm trong công tác quản lý nhưng lại chưa được đào tạo bài bản về kỹ năng lãnh đạo quản lý báo chí
- Những nhân sự quản lý báo chí ngành LĐ-TB&XH hiện nay đều là những người được luân chuyển từ các đơn vị trong Bộ, rất ít người có bằng cấp chuyên nghiệp về báo chí và quản lý nhà nước
- Phần lớn nhân sự báo chí ngành LĐ-TB&XH là những người xuất thân từ trường báo chí, cũng có những người thực hiện công việc bằng sự đam mê và kinh nghiệm, cũng có những người là cộng tác viên hoặc thường trú ở các địa phương Những đối tượng này thường là lao động tự do, không nằm trong quân số của bất kỳ tòa soạn nào
2.4.2 Thực trạng việc quản lý các cơ báo chí Bộ LĐ-TB&XH Đối với những quy định về việc quản lý nhân sự báo chí truyền thông ngành LĐ-TB&XH, hiện nay chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định một cách cụ thể và riêng biệt Chính vì vậy trong việc quản lý nhân sự báo chí truyền thông của ngành hiện nay vẫn chủ yếu dựa trên Bộ luật lao động, những quy định, nghị định về việc làm, hợp đồng lao động, tiền lương, thời giờ làm việc nghỉ ngơi, an toàn lao động, vệ sinh lao động …
Trong đó, căn cứ từ thực hiễn cho thấy, việc bổ sung tuyển dụng nhân sự báo chí truyền thông của Bộ hiện nay chưa thực sự hiệu quả Đa phần còn dựa trên các mối quan hệ quen biết, tuyển dụng nhân sự trái với yêu cầu về chuyên môn, đặc biệt là đội ngũ phóng viên, biên tập viên…
Vấn đề đào tạo nhân sự báo chí ngành LĐ-TB&XH:
Tính từ năm 2015 đến nay, chỉ có 2 người được cử đi đào tạo chuyên ngành báo chí hệ Thạc sĩ ở 2 đơn vị là Tạp chí LĐ&XH và Tạp chí GĐ&TE
Số lượng đội ngũ phóng viên, biên tập viên còn lại chủ yếu được tập huấn nghiệp vụ báo chí hoặc các lớp cấp chứng chỉ báo chí ngắn hạn
Vấn đề về bồi dưỡng nghiệp vụ truyền thông và tổ chức các khóa Hội thảo, tập huấn dành cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên:
Từ trước đến nay, để đào tạo bài bản, chuyên môn về báo chí ngành LĐ-
TB&XH cũng như quản lý báo chí trực thuộc ngành là chưa có hệ thống Theo số liệu khảo sát và tổng hợp của tác giả đối với 3 cơ quan báo chí trong diện khảo sát, giai đoạn 2015 - 2017, Bộ LĐ-TB&XH và các cơ quan báo chí truyền thông của ngành phối hợp với các tổ chức trong và ngoài nước đã thực hiện 18 khóa bồi dưỡng nghiệp vụ truyền thông, tập huấn, hội thảo báo chí cho các phóng viên chuyên trách của các cơ quan báo chí về lĩnh vực lao động, người có công và xã hội, cụ thể:
- 23/03/2015, Bộ LĐ-TB&XH tổ chức Tập huấn truyền thông về bình đẳng giới trong lĩnh vực chính trị cho hơn 40 phóng viên, biên tập viên của các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương
- 25/26/5/2015, Tạp chí GĐ&TE phối hợp với Học viện Báo chí và tuyên truyền tổ chức Tập huấn “Đào tạo nâng cao năng lực truyền thông của cán bộ phóng viên trong tòa soạn hội tụ”
- Ngày 11/6/2015, Tạp chí LĐ&XH phối hợp với Cục Bảo trợ Xã hội tổ chức tập huấn tăng cường công tác truyền thông phát triển nghề công tác xã hội cho 40 cơ quan báo chí truyền thông cho phóng viên các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương
- Ngày 26/8/2015, Cục Báo chí tổ chức Tập huấn kiến thức chung và cơ bản của báo điện tử cho đội ngũ phóng viên, biên tập viên của Tạp chí LĐ&XH, Tạp chí GĐ&TE; báo LĐ&XH
- Ngày 26 - 28/8/2015 tập huấn cho hơn 30 phóng viên, nhà báo sinh hoạt trong Câu lạc bộ “Nhà báo Vì trẻ em” về nội dung; “ Nâng cao năng lực về bảo vệ, chăm sóc trẻ em bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS”