1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề thông tin về đa dạng sinh học trên báo mạng điện tử ở việt nam hiện nay (khảo sát báo điện tử dantri com vn, vnexpress net, baotainguyenmoitruong vn, năm 2015)

126 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • MỞ ĐẦU

  • CHƯƠNG 1

  • CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

    • 1.1. Những khái niệm cơ bản

    • 1.2. Cơ sở chính trị pháp lý của vấn đề nghiên cứu

  • CHƯƠNG 2

  • THỰC TRẠNG THÔNG TIN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC

  • TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

    • 2.1. Thông tin chung về đa dạng sinh học trên báo mạng điện tử

    • 2.2. Nội dung thông tin đa dạng sinh học trên các báo mạng điện tử

    • 2.3. Hình thức trình bày thông tin đa dạng sinh học trên báo mạng điện tử

    • 2.4. Các ưu điểm, hạn chế của thông tin đa dạng sinh học trên báo mạng điện tử

  • CHƯƠNG 3

  • ĐÁNH GIÁ THÔNG TIN ĐA DẠNG SINH HỌC

  • TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

    • 3.1. Đánh giá của công chúng về thông tin đa dạng sinh học trên báo mạng điện tử

    • 3.2. Một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin đa dạng sinh học trên báo mạng điện tử ở Việt Nam

  • KẾT LUẬN

  • TÀI LIỆU THAM KHẢO

  • PHỤ LỤC

  • Word Bookmarks

    • page29

    • page31

    • page32

    • page33

    • page34

    • page35

    • page18

    • page19

Nội dung

2015” được thực hiện nhằm nghiên cứu nội dung, hình thức thể hiện của các thông tin về bảo tồn đa dạng sinh học trên báo mạng điện tử, đánh giá ý kiến của độc giả với các thông tin này,

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

Những khái niệm cơ bản

Trong cuốn "Cơ sở lý luận của báo chí" của E P Prôkhôrốp, thông tin báo chí được cho là tồn tại dưới ba nghĩa có mối quan hệ chặt chẽ với nhau: (1) các bản tin ngắn, không bình chú, phản ánh các sự kiện của đời sống trong nước và quốc tế; (2) một danh mục các thể loại tin tức, bao gồm tin ngắn, báo cáo, tường thuật và phỏng vấn; (3) đôi khi thông tin được hiểu như chính là một thể loại tin ngắn Định nghĩa này dường như hơi hẹp, vì nếu hiểu theo cách đó, một số tư liệu của bài báo hay chương trình như phóng sự, điều tra hay phim tài liệu có thể không được xem là thông tin báo chí.

Trong cuốn "Cơ sở lý luận báo chí truyền thông", thông tin báo chí được hiểu theo hai cách: một là tri thức và tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc sống; hai là sự loan báo nhằm phổ biến thông tin đến mọi người biết.

Theo cách hiểu đầu tiên, thông tin thể hiện tính chất khởi đầu, khởi điểm (tương tự với khái niệm hình tượng trong nghệ thuật, hàng hóa trong kinh tế…) Đây là đặc trưng cơ bản của báo chí nói chung Còn theo cách hiểu thứ hai, là sử dụng các phương tiện kỹ thuật hiện có để truyền đạt kết quả sáng tạo của nhà báo ra thế giới xung quanh Như vậy, thông tin cũng chính là chức năng của báo chí (theo nghĩa là sử dụng phương tiện kỹ thuật để phổ biến kết quả lao động sáng tạo của nhà báo)

Trong thực tiễn báo chí hiện nay, khi đề cập tới thuật ngữ thông tin, các nhà báo cũng có nhiều cách sử dụng khác nhau Có trường hợp, các nhà báo sử dụng nó để biểu thị tính chung nhất của các thông báo ngắn, không kèm theo lời phân tích, bình luận về một sự kiện mới (như tin vắn, tin ngắn) Trong trường hợp khác, nó được dùng để chỉ tất cả các thể loại được dùng để ghi chép những sự kiện, hiện tượng mới như: tin tức, tường thuật, phỏng vấn…

Thuật ngữ thông tin có thể được hiểu theo nhiều nghĩa rộng; để nắm vững nó, cần xem xét từng ứng dụng riêng biệt Dù sao cũng có thể coi toàn bộ các tác phẩm và hệ thống tin tức là thông tin Theo cách hiểu này, thông tin là một danh từ tập hợp chứa đựng nội dung phong phú và có mối liên hệ trực tiếp với chức năng và hiệu quả của công tác báo chí, với nguyên tắc cung cấp thông tin, với những yêu cầu nghiệp vụ báo chí và sự tác động lẫn nhau giữa các yếu tố nói trên Khái niệm thông tin chính là nền tảng của công tác báo chí.

1.1.2.1 Khái niệm báo mạng điện tử

Trong cuốn "Báo mạng điện tử những vấn đề cơ bản" của PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang, vẫn chưa có một khái niệm chung và thống nhất về báo mạng điện tử; cả thế giới và Việt Nam đều dùng nhiều cách gọi khác nhau cho loại hình báo chí này, như báo điện tử, báo trực tuyến, báo số, báo Internet và báo mạng điện tử.

Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã nghiên cứu sâu và đi đến khái niệm thống nhất về báo mạng điện tử Theo cuốn Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản của Nguyễn Thị Trường Giang, báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức trang web, phát hành trên mạng Internet Báo mạng điện tử có ưu thế vượt trội trong truyền tải thông tin nhanh chóng và tức thời, đồng thời tích hợp đa phương tiện và tương tác cao giữa báo chí và độc giả.

Vì vậy, dù cho đến nay vẫn có nhiều khái niệm khác nhau về loại hình báo chí trên Internet, nghiên cứu này định nghĩa báo điện tử là một loại hình báo chí được phát hành tới công chúng thông qua mạng.

Internet tồn tại dưới dạng một trang web với các đặc điểm nổi bật như khả năng truyền tải thông tin nhanh, sự đa phương tiện, tính tức thời và mức độ tương tác cao; dựa trên các lý thuyết cơ bản và nền tảng tổng quát đã được trình bày, cùng với cơ sở nghiên cứu vững chắc từ Học viện báo chí và tuyên truyền, tác giả quyết định sử dụng khái niệm và thuật ngữ báo mạng điện tử làm định nghĩa chính cho luận văn này.

1.1.2.2 Đặc trưng của báo mạng điện tử

Nhờ sự phát triển của công nghệ và vai trò của mạng Internet, báo mạng điện tử cho phép cập nhật tin tức một cách tức thì và liên tục Nhờ đường truyền nhanh, các nhà báo trực tuyến có thể nắm bắt sự kiện, viết bài nhanh chóng và gửi về tòa soạn qua hệ thống điện tử, thậm chí tường thuật đồng thời với diễn biến sự kiện như một trận bóng đá hay một cuộc họp báo Báo mạng điện tử không chỉ cung cấp tin tức nhanh mà còn cho phép cập nhật thường xuyên, khác với báo giấy hay các loại hình báo chí khác ở chỗ nhà báo có thể đăng tải tin tức bất cứ lúc nào mà không phải chờ lên khuôn hay sắp xếp chương trình Vì thế, báo mạng điện tử có tính phi định kỳ, giúp vượt trội về tốc độ thông tin và lượng tin, đảm bảo tính thời sự và mang lại sự tiện lợi cho độc giả Nhiều người tìm đến báo mạng điện tử để cập nhật thông tin cũng vì lý do này.

Tính tương tác là đặc trưng nổi bật của báo chí hiện đại, và báo mạng điện tử với lợi thế công nghệ cho thấy mức độ tương tác cao hơn so với các loại hình khác Đối với báo mạng điện tử, tính tương tác diễn ra ở nhiều cấp độ: độc giả có thể tương tác trực tiếp với toà soạn và nhà báo, tương tác giữa độc giả với độc giả, thậm chí với các nhân vật trong tác phẩm báo chí, tạo thành một mạng lưới đối thoại đa chiều Quá trình này diễn ra nhanh chóng và thuận tiện nhờ các công cụ như mục phản hồi (comment), hệ thống vote, email và nhiều kênh tương tác khác giúp độc giả dễ dàng đóng góp ý kiến ngay sau khi bài viết được đăng tải Điều này khác biệt so với báo hình, phát thanh hay báo giấy, nơi các kênh phản hồi và mức độ tương tác ít hơn Nói ngắn gọn, báo mạng điện tử tận dụng công nghệ để nâng cao sự tham gia của độc giả và sự tương tác toàn diện giữa độc giả, nhà báo và nội dung.

Báo mạng điện tử mang tính đa phương tiện ở mức cao, là một loại báo chí tổng hợp tích hợp nhiều công nghệ multimedia Trên một tờ báo mạng, thậm chí ngay trong một tác phẩm báo mạng có thể tích hợp cả báo viết, báo phát thanh và báo hình, tạo nên trải nghiệm truyền thông đồng thời về nội dung và hình thức Tính đa phương tiện giúp nâng cao khả năng kể chuyện, tăng sự hấp dẫn và tối ưu hóa khả năng tiếp cận thông tin trên internet thông qua đa dạng định dạng và từ khóa liên quan.

Đọc báo mạng cho phép người đọc chủ động xem các tác phẩm mình quan tâm ở bất kỳ trang nào, giống như báo in, đồng thời trực quan với hình ảnh, video clip và nghe âm thanh mà không bị phụ thuộc vào thời gian hay không gian Sự tích hợp đa phương tiện này mang lại những yếu tố hấp dẫn của các loại hình báo chí khác, giúp báo mạng điện tử trở nên sinh động và cuốn hút hơn.

Khả năng liên kết của báo mạng điện tử rất lớn nhờ sự đa dạng của siêu liên kết (hyperlink), từ khóa, liên kết web và hồ sơ người dùng Từ một bài báo, độc giả có thể dễ dàng tìm thấy những thông tin liên quan và đi sâu hơn vào vấn đề quan tâm thông qua các liên kết nội dung liên quan; hoặc chỉ với một thao tác nhấp chuột, có thể truy cập tới các web liên kết khác Khả năng liên kết mở ra kho thông tin vô hạn cho độc giả, đồng thời tăng cường tối ưu hóa cho công cụ tìm kiếm (SEO) và nâng cao trải nghiệm người đọc.

Báo mạng điện tử cho phép lưu trữ bài viết theo hệ thống khoa học với lượng thông tin khổng lồ và dễ tìm kiếm nhờ các từ khóa gắn trên mỗi trang Người đọc có thể xem bài theo ngày, theo bài hoặc theo chủ đề, đồng thời có thể lưu bài để đọc sau hoặc đọc lại nhiều lần một cách đơn giản Việc lưu trữ và tra cứu trên báo mạng mang lại sự linh hoạt và tiện ích vượt trội so với truyền hình hay phát thanh khi cần đọc, tìm kiếm và truy cập nội dung nhanh chóng.

Cơ sở chính trị pháp lý của vấn đề nghiên cứu

Việt Nam nổi bật với nguồn tài nguyên đa dạng sinh học phong phú, xếp hạng thứ 16 trên thế giới về mức độ đa dạng của tài nguyên sinh vật Tính đa dạng hệ sinh thái gồm rừng, biển và đất ngập nước cùng sự phong phú về loài và nguồn gen tạo nên giá trị to lớn từ các dịch vụ sinh thái và môi trường mà chúng mang lại Bên cạnh đó, hệ thống kiến thức truyền thống và văn hóa địa phương về quản lý và sử dụng tài nguyên đóng vai trò then chốt trong bảo đảm an ninh lương thực và thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội Việt Nam, đặc biệt ở các lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp và thủy sản Du lịch sinh thái đang nổi lên như một ngành kinh tế đầy tiềm năng, thu hút đầu tư cả trong nước và nước ngoài.

Nhận thức được sự cần thiết phải bảo tồn ĐDSH, từ đầu những năm

Vào thập niên 1960 của thế kỷ trước, Đảng và nhà nước đã triển khai các chính sách bảo vệ khu rừng nguyên sinh (rừng cấm), nhờ đó Vườn quốc gia Cúc Phương được thành lập Tuy nhiên, quyết tâm và cam kết bảo tồn ĐDSH của nhà nước được chú trọng hơn sau khi Việt Nam trở thành thành viên của Công ước về Đa dạng sinh học (CBD) và Công ước về thương mại quốc tế các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) năm 1994 Nhiều bộ luật liên quan tới bảo tồn và sử dụng bền vững ĐDSH như: Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 1991 (sửa đổi, bổ sung năm 2004); Luật Đất đai năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2003); Luật Bảo vệ Môi trường năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 2005); Luật Thủy sản năm 2003; và gần đây nhất, Luật Đa dạng sinh học được Quốc hội phê chuẩn ngày 13 tháng 11 năm 2008 Từ đó, hệ thống các vườn quốc gia và khu bảo tồn của Việt Nam đã được quy hoạch và thành lập trên toàn quốc Đến nay, Việt Nam đã có 164 khu bảo tồn rừng đặc dụng với tổng diện tích gần 2,2 triệu ha và dự kiến đến năm 2020 sẽ nâng lên.

176 khu tương đương 2,4 triệu ha

Luật đa dạng sinh học được Quốc hội thông qua ngày 13/11/2008 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2009 là sự kiện trọng tâm, mở ra cột mốc quan trọng trong sự nghiệp bảo tồn đa dạng sinh học Việt Nam Luật được đánh giá rất tiến bộ, có tầm nhìn, hệ thống và bao quát các cam kết, chuẩn mực quốc tế về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học, đồng thời là khung pháp lý đầu tiên ở Việt Nam quy định rõ quyền và nghĩa vụ của tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong lĩnh vực này Dựa trên cơ sở đó, đến nay đã có 10 Nghị định của Chính phủ, 12 Quyết định của Thủ tướng và 23 Thông tư của Bộ trưởng được ban hành, thể chế hóa các chiến lược, quy hoạch và cơ chế về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học Việt Nam Nhằm duy trì và bảo tồn đa dạng sinh học và thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng, các cơ quan Nhà nước phải triển khai đồng bộ nhiều giải pháp và biện pháp.

Trước khi có Luật Đa dạng sinh học, hoạt động liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học được điều chỉnh bởi 3 luật chính: Luật Thủy sản (2003), Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (2004) và Luật Bảo vệ môi trường (2005) Luật Thủy sản, được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003 (số 17/2003/QH11) và có hiệu lực từ ngày 01/7/2004, quy định hai hệ thống khu bảo tồn vùng nước nội địa và khu bảo tồn biển với các mức phân hạng: vườn quốc gia; khu bảo tồn loài và sinh cảnh; và khu dự trữ tài nguyên thiên nhiên thủy sinh Theo điều 9 của Luật Thủy sản, Chính phủ ban hành tiêu chuẩn phân loại và công bố các khu bảo tồn; quy hoạch, xây dựng và phân cấp quản lý các khu bảo tồn vùng nước nội địa, khu bảo tồn biển; ban hành quy chế quản lý khu bảo tồn có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế.

Luật Bảo vệ và Phát triển rừng (BV&PTR) được Quốc hội thông qua ngày 14 tháng 12 năm 2004 (số 29/2004/QH11) và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 4 năm 2005, là văn bản pháp lý quan trọng đối với công tác bảo vệ hệ sinh thái rừng – một hệ sinh thái có diện tích lớn, đa dạng sinh học cao và nhiều giá trị đối với đời sống đất nước và người Việt Nam BV&PTR quy định hệ thống rừng đặc dụng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, làm mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen sinh vật rừng; nghiên cứu khoa học; bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; phục vụ nghỉ ngơi, du lịch, kết hợp phòng hộ, góp phần bảo vệ môi trường, bao gồm: (i) Vườn quốc gia; (ii) Khu bảo tồn thiên nhiên gồm khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh; (iii) Khu bảo vệ cảnh quan gồm khu rừng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh; (iv) Khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học.

Luật Bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 29 tháng 11 năm

Luật Bảo vệ môi trường (2005, số 52/2005/QH11) có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2006 là cơ sở pháp lý quan trọng cho công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam Theo luật này, các khu vực và hệ sinh thái có giá trị đa dạng sinh học ở cấp quốc gia và quốc tế phải được điều tra, đánh giá và lập quy hoạch để bảo vệ dưới dạng: khu bảo tồn biển, vườn quốc gia, khu dự trữ thiên nhiên, khu dự trữ sinh quyển và các khu bảo tồn loài và sinh cảnh Đồng thời, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và Luật Bảo vệ môi trường đưa ra 7 căn cứ thành lập khu bảo tồn, gồm: (i) giá trị di sản tự nhiên của thế giới, quốc gia và địa phương; (ii) giá trị nguyên sinh, tính đặc dụng, phòng hộ; (iii) vai trò điều hòa, cân bằng sinh thái vùng; (iv) tính đại diện hoặc tính độc đáo của khu vực địa lý tự nhiên; (v) nơi cư trú, sinh sản, phát triển thường xuyên hoặc theo mùa của nhiều loài động vật, thực vật đặc hữu, quý hiếm bị đe dọa tuyệt chủng; (vi) giá trị sinh quyển, sinh cảnh, cảnh quan thiên nhiên, sinh thái nhân văn đối với quốc gia, địa phương; và (vii) các giá trị bảo tồn khác theo quy định của pháp luật.

Luật Đa dạng sinh học được Quốc hội thông qua ngày 13 tháng 11 năm

Luật Bảo tồn đa dạng sinh học số 20/2008/QH12, ban hành năm 2008 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2009, quy định bảo tồn đa dạng sinh học là sự bảo vệ sự phong phú của các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng, đặc thù hoặc đại diện; bảo vệ sinh cảnh tự nhiên của loài hoang dã, cảnh quan môi trường và vẻ đẹp độc đáo của thiên nhiên; đồng thời nuôi dưỡng, trồng chăm sóc các loài nằm trong Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ Theo luật này, khu bảo tồn thiên nhiên được phân chia theo 5 loại hệ sinh thái gồm rừng, biển, đất ngập nước, núi đá vôi và đất chưa sử dụng; đồng thời các khu bảo tồn được xếp vào 4 loại là Vườn Quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, khu bảo tồn loài và sinh cảnh, và khu bảo vệ cảnh quan Luật cũng quy định vùng đệm là khu vực bao quanh, tiếp giáp khu bảo tồn, có tác dụng ngăn chặn và giảm nhẹ các tác động tiêu cực từ bên ngoài đối với khu bảo tồn.

Trước khi Luật Đa dạng sinh học được ban hành, các văn bản luật khác như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thủy sản đã quy định quản lý một số đối tượng cụ thể như hệ sinh thái rừng, động vật và thực vật rừng, hệ sinh thái biển và động thực vật biển, vùng nước ven bờ; tuy nhiên Luật Đa dạng sinh học lại trực tiếp và đầy đủ đề cập đến trách nhiệm bảo tồn đa dạng sinh học theo nghĩa đầy đủ của thuật ngữ này Đa dạng sinh học được định nghĩa là sự phong phú về gen, loài và hệ sinh thái trong tự nhiên (Điều 3 khoản 5), bất kể nguồn gen thuộc về động vật hay thực vật, bất kể loài trên cạn hay dưới nước, hay hệ sinh thái rừng, biển hay đất ngập nước Đây là cách tiếp cận của Công ước Đa dạng sinh học được cộng đồng quốc tế công nhận.

Như vậy, cho đến nay đang tồn tại 03 bộ Luật chính liên quan đến bảo tồn đa dạng sinh học, đó là: Luật Thuỷ sản, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng và Luật Đa dạng sinh học Theo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật

“Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn” (Điều 83.2); “Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau” (Điều 83.3) Theo vậy, có thể hiểu khi Luật Đa dạng sinh học được ban hành sẽ có những điều khoản áp dụng thay thế các điều khoản liên quan của các Luật Thuỷ sản, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Bảo vệ môi trường nếu xét về mục đích bảo tồn đa dạng sinh học Hiện nay, đối tượng quản lý của Luật Đa dạng sinh học là khu bảo tồn Tuy nhiên, trên thực tế cho đến thời điểm này, Luật Đa dạng sinh học chưa có đối tượng cụ thể để quản lý vì chính các đối tượng này đã được điều chỉnh bởi Luật Thuỷ sản và Luật Bảo vệ và Phát triển rừng trong thời gian qua

Bên cạnh các bộ Luật đã đề cập ở trên, trong thời gian qua không thể không đề cập tới một văn bản có ý nghĩa rất quan trọng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam Đó là Kế hoạch Hành động quốc gia về Đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 thực hiện Công ước Đa dạng sinh học và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học (gọi tắt là Kế hoạch 79) (được ban hành theo Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31/5/2007 của Thủ tướng Chính phủ) Tại thời điểm năm 2007, đây là văn bản có tính tổng thể nhất về bảo tồn đa dạng sinh học với nhiều mục tiêu, chỉ tiêu được đặt ra cho đến năm 2010 Đầu năm 2011, Bộ Tài nguyên & Môi trường đã có báo cáo đánh giá 03 năm thực hiện Kế hoạch 79

Chương 1 trong luận văn đã trình bày cơ sở lý luận của việc nghiên cứu thông tin đa dạng sinh học trên báo điện tử Một số khái niệm có liên quan được sử dụng trong luận văn bao gồm: thông tin, báo mạng điện tử, đa dạng sinh học, bảo tồn đa dạng sinh học, thông tin về đa dạng sinh học, những nội dung hoạt hoạt động thông tin về đa dạng sinh học Các khái niệm trên phục vụ cho quá trình xây dựng bảng mã, phân tích và lý giải cách các thông tin đa dạng sinh học được đăng tải và đề cập tới trong các bài viết trên báo mạng điện tử Ngoài ra, trong chương 1 còn nêu cơ sở chính trị pháp lý của vấn đề nghiên cứu, các hoạt động thông tin liên quan tới đa dạng sinh học Những nội dung trong chương 1 là nền tảng cho việc nghiên cứu thông tin đa dạng sinh học trên báo điện tử với kết quả được trình bày ở chương 2 của luận văn.

THỰC TRẠNG THÔNG TIN VỀ ĐA DẠNG SINH HỌC34 TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Thông tin chung về đa dạng sinh học trên báo mạng điện tử

Nghiên cứu được thực hiện trên 3 trang báo mạng điện tử, gồm 2 báo mạng điện tử đại chúng là VnExpress tại địa chỉ http://vnexpress.net và Dân trí tại địa chỉ http://dantri.com.vn; 1 báo điện tử chuyên biệt là Báo Tài nguyên và Môi trường tại địa chỉ http://baotainguyenmoitruong.vn

VnExpress hay Tin nhanh Việt Nam là trang báo điện tử duy nhất tại Việt Nam không có phiên bản báo giấy, bắt đầu hoạt động từ ngày 26/2/2001 và được Bộ Văn hóa - Thông tin cấp giấy phép Đây là nguồn tin tức cập nhật nhanh và đáng tin cậy cho người đọc, phục vụ nhu cầu theo dõi thông tin thời sự, công nghệ và nhiều lĩnh vực khác.

VnExpress là trang tin điện tử hàng đầu Việt Nam với 18 chuyên mục và cập nhật tin tức hàng ngày từ trong nước và thế giới; hiện nay nó nằm ở top đầu về lượng người truy cập tại Việt Nam, xếp thứ 7 trên bảng xếp hạng Alexa và nằm trong 500 trang web được truy cập nhiều nhất trên thế giới Báo điện tử Dân trí trực thuộc Trung ương Hội Khuyến học Việt Nam, đi vào hoạt động từ ngày 15/7/2005 theo giấy phép 378/GP-BTTTT Hà Nội cấp ngày 16-09-2013; Dân trí có lượng người truy cập đáng kể, với phiên bản di động theo Opera đứng sau Google về lượng truy cập từ thiết bị di động, còn theo Google Analytics, mỗi tháng đạt khoảng 900 triệu lượt xem và mỗi ngày có trên 10 triệu lượt người truy cập bằng tiếng Việt và tiếng Anh, trong đó 20% đến từ nước ngoài Tin tức của Dân trí được cập nhật hàng giờ và trang còn vận hành diễn đàn trực tuyến về các vấn đề kinh tế, chính trị, thể thao và văn hóa.

Báo Tài nguyên và Môi trường là cơ quan ngôn luận của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ra số báo đầu tiên vào ngày 3/2/2005, có chức năng thông tin và tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; thông tin về các hoạt động quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên, môi trường thuộc phạm vi quản lý của Bộ, gồm đất đai, tài nguyên nước, địa chất và khoáng sản, môi trường, khí tượng thủy văn, biến đổi khí hậu, đo đạc và bản đồ, viễn thám, quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo; phục vụ công tác quản lý của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đáp ứng nhu cầu thông tin của xã hội và là cầu nối hữu hiệu với các doanh nghiệp, nhà đầu tư quan tâm đến lĩnh vực đất đai, khoáng sản, môi trường tại các địa phương trên toàn quốc Ngày 6/11/2015, Bộ Thông tin và Truyền thông đã cấp giấy phép hoạt động báo chí điện tử số 616/GP-BTTTT cho Báo điện tử Tài nguyên và Môi trường.

Bảng 2.1 Tỷ lệ các tin, bài đƣợc khảo sát Tên báo Số lƣợng tin, bài Tỷ lệ (%)

Báo Tài nguyên & Môi trường 143 45,4

Trong tổng số khoảng 150.000 bài viết về các vấn đề xã hội khách trong

Trong 12 tháng (01/01/2015 - 31/12/2015), khảo sát của ba báo mạng điện tử cho thấy có 313 bài viết về ĐDSH, trung bình mỗi tuần mỗi báo đăng từ một tới hai bài viết về chủ đề này Lượng tin, bài đề cập đến ĐDSH chiếm 0,21% tổng số tin, bài được đăng tải trên ba báo điện tử Như vậy, chủ đề này được quan tâm ở mức độ thấp, chiếm tỉ lệ rất nhỏ so với tổng số bài viết thuộc các chủ đề khác được đăng tải trên báo mạng điện tử trong cùng khoảng thời gian So sánh với các chủ đề khác như biến đổi khí hậu chiếm 1,3%, bạo lực gia đình 1,66%, an toàn thực phẩm 0,4%, ĐDSH được quan tâm ở mức độ thấp hơn rất nhiều.

Báo Tài nguyên và Môi trường có tỷ lệ mẫu lớn nhất liên quan đến ĐDSH, tập trung vào những chủ đề chính thuộc tôn chỉ hoạt động nên được đi sâu nghiên cứu về đa dạng sinh học và môi trường Ngược lại, số lượng bài viết về đa dạng sinh học trên các báo điện tử tổng hợp như Dân trí hay VnExpress thấp hơn nhiều so với Báo Tài nguyên và Môi trường vì ĐDSH nói riêng hay môi trường nói chung không nằm trong những chủ đề chính của các báo này.

2.1.1 Tần số đăng tải thông tin đa dạng sinh học theo thời gian

Số lượng tin bài mỗi tháng có sự khác biệt, trung bình khoảng 26 bài/tháng, trung bình 0.86 bài/ngày Điều này cho thấy vấn đề đa dạng sinh học chưa được các báo mạng điện tử quan tâm quan tâm lớn

Thời gian đăng tải được phân chia thành quý để khảo sát, mỗi quý là tổng hợp các bài báo thuộc quý đó Nhìn chung, số lượng bài viết về đa dạng sinh học (ĐDSH) giữa các quý không có sự khác biệt đáng kể Điều này cho thấy các vấn đề liên quan đến ĐDSH không diễn ra theo chu kỳ mùa vụ mà diễn ra thường xuyên trong đời sống hàng ngày.

Biểu 2.1: Số lƣợng tin, bài trong mỗi quý (bài)

Theo khảo sát trên ba báo, quý 4 có lượng bài đăng thấp hơn so với các quý khác trong năm Nguyên nhân có thể là gần Tết cổ truyền khiến các tờ báo tập trung nhiều hơn vào các chủ đề kinh tế, xã hội, đời sống và văn hóa, nên ít quan tâm đến chủ đề đa dạng sinh học Điều này cho thấy sự biến động theo mùa trong hoạt động đưa tin có thể làm giảm phạm vi và tần suất đề cập đến môi trường và đa dạng sinh học.

Xét tương quan giữa các báo điện tử cho thấy báo Tài nguyên và Môi trường đăng tải với số lượng bài tương đối ổn định, không có hiện tượng thất thường như ở các báo điện tử tổng hợp Dân trí hay VnExpress Điều này dễ hiểu vì đa dạng sinh học là một trong những chủ đề chính của báo Tài nguyên và Môi trường, góp phần tạo nên tính nhất quán và định hướng nội dung cho các bản tin liên quan đến môi trường và tài nguyên.

Biểu 2.2: Tương quan số lượng bài viết giữa các báo (bài)

Báo Tài nguyên & Môi trường có số lượng bài viết nhiều nhất và tập trung chủ yếu vào quý 2, đặc biệt là các tháng mùa hè 4–6, trong đó tháng 5 có 19 tin bài là cao nhất; ngược lại, báo Dân Trí có phân bổ bài viết không đồng đều, với tháng 1 có 12 tin và tháng 3 và tháng 4 lần lượt có 11 tin, trong khi tháng 11 chỉ có 1 tin và tháng 12 có 3 tin.

Báo VnExpress cũng không đồng đều lượng tin bài về ĐDSH trong các tháng Cao điểm nhất tháng 1 (12 tin bài), tháng 3 (10 tin bài) trong khi tháng

2.1.2 Chuyên mục đăng tải bài viết về đa dạng sinh học

Chuyên mục đăng tải được xem như một chỉ báo quan trọng cho vị trí của các thông điệp dựa trên cách sắp xếp của nhà truyền thông; trong ba báo mạng điện tử, phần lớn tin bài được đăng tại tiểu mục Môi trường, với 176 bài chiếm khoảng 60% tổng số tin.

Cả báo điện tử đều có tiểu mục (chuyên mục con) về Môi trường, nhưng cách sắp xếp lại không giống nhau

Biểu 2.3: Tỉ lệ các chuyên mục đăng tải bài viết về đa dạng sinh học (%)

Các báo điện tử Việt Nam có cách bố trí tiểu mục Môi trường khác nhau: Dân Trí để Môi trường nằm trong Xã hội, VnExpress đặt Môi trường ở Khoa học, còn Tài nguyên & Môi trường có một mục Môi Trường riêng Khảo sát cho thấy cách sắp xếp tin bài phản ánh quan điểm biên tập về nội dung liên quan đến môi trường: với Dân Trí, các bài về đa dạng sinh học (ĐDSH) thường được đưa vào tiểu mục Khoa học và Môi Trường; ban đầu tiểu mục Khoa học của Dân Trí nằm trong chuyên mục Giáo dục, nhưng từ ngày 1/5/2015 tiểu mục này được xóa bỏ và ghép vào Khoa học - Công Nghệ Hiện nay tiểu mục Môi trường nằm trong Xã hội và phần lớn bài viết liên quan tới môi trường trên Dân Trí thuộc tiểu mục Môi Trường (Xã hội) Điều đó cho thấy quan điểm biên tập về cách phân bổ nội dung và nhấn mạnh lĩnh vực môi trường trên từng tờ báo.

Dân Trí khi cho rằng vấn đề về môi trường là một trong những vấn đề thời sự xã hội

VnExpress hiện sắp xếp tiểu mục Môi Trường nằm trong mục Khoa học và chỉ đăng tin dịch từ các nguồn nước ngoài về đa dạng sinh học (ĐDSH) Đây là tờ báo duy nhất trong nghiên cứu sử dụng tin dịch về ĐDSH Đa số bài viết khảo sát liên quan tới ĐDSH ở Việt Nam đăng tải trên VnExpress được sắp xếp ở mục Thời sự, cho thấy quan điểm của ban biên tập VnExpress tương tự Dân Trí khi coi môi trường là một vấn đề nhỏ nằm trong xã hội.

Hộp 2.1: Bài dịch về đa dạng sinh học đƣợc đăng trên báo VnExpress Đối với báo Tài nguyên và Môi Trường, do là báo ngành đặc thù cho nên tờ báo này đã có hẳn hai chuyên mục lớn liên quan tới đa dạng sinh học Môi trường và Tài nguyên Số lượng bài viết khảo sát được trên báo Tài nguyên và Môi trường khá đồng đều giữa các quý.

Nội dung thông tin đa dạng sinh học trên các báo mạng điện tử

Trong các bài viết về chủ đề đa dạng sinh học, số lượng tin bài được đăng tải có chủ đề liên quan tới các loài hoang dã và các giống vật nuôi, cây trồng nguy cấp, quý, hiếm chiếm lượng lớn, lên tới 228 tin, bài Các hệ sinh thái tự nhiên có 53 bài viết liên quan.Giới thiệu và phổ biến đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước có 9 bài viết Bảo tồn đa dạng sinh học trong bối cảnh biến đổi khí hậu với 13 bài viết Khai thác các nguồn lợi, chia sẻ lợi ích từ dịch vụ hệ sinh thái và ĐDSH với chỉ 5 bài viết (1,60%); Các vụ việc xâm hại đa dạng sinh học có 68 bài viết liên quan; Các cá nhân, tổ chức điển hình trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học có 103 tin, bài

Bảng 2.2: Số lƣợng tin, bài theo từng chủ đề trong đa dạng sinh học (bài)

TT Nội dung Số lƣợng bài viết

1 Các hệ sinh thái tự nhiên 53

2 Các loài hoang dã và các giống vật nuôi, cây trồng nguy cấp, quý, hiếm 228

3 Khai thác các nguồn lợi, chia sẻ lợi ích từ dịch vụ hệ sinh thái và ĐDSH 5

4 Phổ biến đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước 9

5 Bảo tồn đa dạng sinh học trong bối cảnh biến đổi khí hậu 13

6 Báo mạng điện tử thông tin về các cá nhân, tổ chức điển hình trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học 103

Báo mạng điện tử phát hiện, tiếp nhận xử lý thông tin phản hồi về hành động xâm phạm đa dạng sinh học

2.2.1 Báo điện tử phản ánh thực trạng đa dạng sinh học và bảo tồn đa dạng sinh học

2.2.1.1 Các hệ sinh thái tự nhiên được phản ánh trên báo mạng điện tử

Việt Nam sở hữu hệ sinh thái phong phú và đa dạng, với nguồn tài nguyên sinh học tập trung ở ba hệ sinh thái chính: rừng, đất ngập nước và biển Theo kết quả nghiên cứu từ ba báo mạng điện tử, đã có tổng cộng 53 bài viết liên quan đến các vấn đề của hệ sinh thái được đăng tải trong năm 2015 Các thông tin này cho thấy mức độ quan tâm ngày càng cao đến bảo vệ, quản lý và khai thác bền vững hệ sinh thái của Việt Nam, đồng thời cung cấp dữ liệu hữu ích cho chiến lược nội dung tối ưu hóa SEO với các từ khóa như hệ sinh thái Việt Nam, đa dạng sinh học, rừng, đất ngập nước, biển và 53 bài viết năm 2015.

Bảng 2.3: Số lƣợng tin, bài của báo mạng điện tử về hệ sinh thái (bài)

Hệ sinh thái Các báo mạng điện tử khảo sát

VnExpress Dân trí TN&MT

Hệ sinh thái đất ngập nước 0 2 3

Hệ sinh thái rừng Việt Nam trải dài theo vĩ tuyến và đai cao với địa hình đa dạng, hơn hai phần ba lãnh thổ là đồi núi, khí hậu biến đổi từ nhiệt đới ẩm phía Nam đến á nhiệt đới ở vùng cao phía Bắc đã tạo nên sự đa dạng và phong phú về hệ sinh thái và loài Các loại rừng ở nước ta gồm rừng lá rộng thường xanh, rừng bán rụng lá, rừng rụng lá, rừng trên núi đá vôi, rừng hỗn hợp lá rộng và lá kim, rừng tre nứa, rừng ngập mặn, rừng tràm và rừng ngập nước ngọt Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tính đến tháng 12 năm 2008, diện tích rừng cả nước là 13,1 triệu ha (chiếm 38,7% tổng diện tích tự nhiên), bao gồm 10,3 triệu ha rừng tự nhiên và 2,8 triệu ha rừng trồng.

Trong bài phản ánh về đặc trưng hệ sinh thái rừng Hoàng Liên trên báo Dân trí, độc giả được thấy giá trị đa dạng sinh học và cấu trúc sinh thái đặc thù của khu vực này Bài báo đưa tin về việc thêm 4 quần thể cây rừng Hoàng Liên vào danh sách Cây di sản Việt Nam, thể hiện sự quan tâm của các cơ quan quản lý và cộng đồng đối với bảo tồn nguồn gen và cổ thụ có ý nghĩa vùng cao Việc công nhận này sẽ nâng cao nhận thức và hình thành các biện pháp quản lý, bảo vệ và giáo dục cộng đồng về tầm quan trọng của rừng Hoàng Liên Hệ sinh thái rừng núi nơi đây được đặc trưng bởi khí hậu mát lạnh, độ ẩm cao và sự phong phú của nhiều loài cây quý hiếm, tạo điều kiện thuận lợi cho sự sinh trưởng của các quần thể rừng quan trọng Thêm vào đó, quyết định này cho thấy sự phối hợp giữa nhà nước, giới khoa học và cộng đồng nhằm bảo tồn, quản lý bền vững và phát huy giá trị của rừng Hoàng Liên trước những thách thức biến đổi khí hậu và mất môi trường sống.

Vào ngày 20/12/2015, 26 cây thuộc 4 quần thể loài ở Vườn quốc gia Hoàng Liên được công nhận là Cây Di sản Việt Nam, gồm 6 cây Đỗ quyên Quang Trụ, 7 cây Hồng Quang, 4 cây Thiết Sam Fansipan và 9 cây Trâm ổi; đây là những cây đặc hữu quý hiếm có tuổi từ hơn 200 đến 300 năm, mọc tự nhiên trên dãy Hoàng Liên quanh đỉnh Fansipan ở độ cao trên 2.000 m so với mực nước biển Phản ánh thực trạng hệ sinh thái rừng, báo Tài nguyên và Môi Trường ngày 13/04/2015 cũng ghi nhận hiện tượng rừng chết khô vì nắng tại huyện Xuân Lộc, Đồng Nai, với hàng chục nghìn cây chết hàng loạt, lá rụng và mặt đất khô nứt do khô hạn vào đỉnh điểm của mùa khô.

Phản ánh của báo Tài nguyên và Môi trường về công tác bảo tồn hệ sinh thái rừng ở Thừa Thiên Huế cho thấy việc trồng rừng thay thế cho đất chuyển mục đích sang thủy điện vẫn diễn ra chậm, đặc biệt ở các dự án thủy điện Trong 8 năm từ 2006 đến 2014, tỉnh mới trồng được 106 ha trong tổng số 965 ha rừng thay thế do nhượng đất cho thủy điện Trước thực trạng này, UBND tỉnh Thừa Thiên Huế đã cảnh báo rằng nếu các chủ đầu tư dự án thủy điện cố tình trì hoãn việc trồng rừng thay thế, tỉnh sẽ có biện pháp mạnh, như xử phạt hành chính và thậm chí đình chỉ hoạt động.

Cũng nội dung trên, báo Tài nguyên và Môi trường ngày 13/1/2015 có đăng bài " Để rừng thôi “chảy máu” ", bài viết phản ánh thực trạng phá rừng nhức nhối trên cả nước Theo đó, năm 2014 có tới 21 nghìn vụ phá rừng trong cả nước Bài viết phản ánh thực trạng những vi phạm của con người với hệ sinh thái rừng, phân tích nguyên nhân khiến cho công tác bảo vệ rừng chưa hiệu quả và thông tin việc cơ quan quản lý nhà nước cao nhất là Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông đã khẳng định sẽ chấn chỉnh lại công tác quản lý để việc bảo vệ rừng được hiệu quả hơn

Kết quả nghiên cứu trên báo mạng điện tử cho thấy số lượng tin bài về hệ sinh thái rừng chiếm số lượng lớn trong mảng thông tin về hệ sinh thái nói chung (45 tin bài) Các báo mạng điện tử phản ánh nội dung đa dạng phong phú từ đặc trưng, hiện trạng và công tác bảo tồn rừng

Đất ngập nước Việt Nam có hệ sinh thái phong phú và đa dạng về loại hình, chức năng và giá trị sinh thái Việt Nam đã xác định 39 kiểu đất ngập nước khác nhau và ghi nhận 60 vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế, được công nhận chính thức là những khu vực có giá trị về môi trường và đa dạng sinh học [9].

Thông tin về đặc trưng hệ sinh thái đất ngập nước, báo Tài nguyên và Môi trường ngày 26/11/2015 đăng bài: " Láng Sen là khu Ramsa thứ 7 của

Việt Nam đón nhận quyết định của Tổ chức Công ước Ramsar công nhận Khu bảo tồn đất ngập nước Láng Sen, thuộc tỉnh Long An, là khu Ramsar – khu đất ngập nước có ý nghĩa quốc tế Quyết định này ghi nhận giá trị đa dạng sinh học và hệ sinh thái tại Láng Sen, đồng thời mở ra cơ hội hợp tác bảo tồn, giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái bền vững cho khu vực Đồng bằng sông Cửu Long Việc công nhận Láng Sen là khu Ramsar thể hiện cam kết của Việt Nam trong bảo vệ các vùng đất ngập nước, đóng góp vào mạng lưới bảo tồn thiên nhiên và tăng cường vị thế sinh thái của đất nước trên trường quốc tế.

Vùng đất ngập nước này có tầm quan trọng quốc tế về đa dạng sinh học và bảo tồn, đóng vai trò thiết yếu trong việc duy trì các hệ sinh thái và dịch vụ môi trường Đây là khu Ramsar thứ 7 của Việt Nam và thứ 2.227 trên thế giới, khẳng định cam kết toàn cầu đối với bảo vệ những khu vực có giá trị sinh học cao Việc được công nhận là khu Ramsar giúp nâng cao nhận thức và thúc đẩy các hoạt động bảo tồn, nghiên cứu và giáo dục về đa dạng sinh học cho cộng đồng.

Kết quả nghiên cứu trên ba báo mạng điện tử cho thấy số lượng tin bài phản ánh nội dung về hệ sinh thái ngập nước rất ít, chỉ khoảng 5 tin bài Do đó, nội dung liên quan đến hệ sinh thái ngập nước trên các nguồn tin điện tử chưa được bao phủ đầy đủ.

Hệ sinh thái biển là hệ sinh thái thủy sinh lớn nhất thế giới, bao gồm đại dương, ruộng muối, hệ sinh thái bãi triều, cửa sông và phá, thực vật ngập mặn, rạn san hô ngầm, biển sâu và sinh vật đáy Ở Việt Nam có 20 kiểu hệ sinh thái biển điển hình, và nhờ kết quả nghiên cứu phân tích các kiểu hệ sinh thái biển với đặc trưng điều kiện tự nhiên và môi trường biển, đặc biệt là tính đa dạng sinh học của rạn san hô, có thể phân chia vùng biển Việt Nam thành 6 vùng đa dạng sinh học biển Các kết quả cho thấy các kiểu hệ sinh thái rạn san hô và thảm cỏ biển quanh đảo ven bờ là nơi có mức đa dạng sinh học cao nhất và đồng thời rất nhạy cảm với biến đổi môi trường Trong các vùng biển Việt Nam, quần đảo Trường Sa là vùng có tính đa dạng của rạn san hô cao nhất thế giới.

Phản ánh về công tác bảo tồn hệ sinh thái biển, báo VnExpress ngày 24/1/2015 có đăng tải bài: " Quảng Ngãi dự kiến lập khu bảo tồn biển Lý

Quảng Ngãi đang ghi nhận quá trình thu thập ý kiến từ cơ quan chức năng và người dân để lập Khu bảo tồn biển huyện đảo Lý Sơn, nhằm gắn kết bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học với phát triển du lịch sinh thái biển đảo Việc tham vấn rộng rãi giúp xác định phạm vi và mức độ bảo tồn, cơ chế quản lý và các giải pháp phát triển bền vững cho cộng đồng địa phương, đồng thời nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của bảo tồn biển Khu bảo tồn biển Lý Sơn được kỳ vọng trở thành nền tảng cho bảo tồn hệ sinh thái biển đặc sắc và thúc đẩy du lịch sinh thái gắn với giáo dục môi trường và kinh tế địa phương, góp phần vào du lịch bền vững của Quảng Ngãi.

Kết quả nghiên cứu từ ba báo mạng điện tử cho thấy tin tức về hệ sinh thái biển rất hiếm, chỉ có 3 bài, và nội dung chủ yếu tập trung vào công tác bảo tồn.

2.2.1.2 Các loài hoang dã và các giống vật nuôi, cây trồng nguy cấp, quý, hiếm được phản ánh trên báo mạng điện tử

Hình thức trình bày thông tin đa dạng sinh học trên báo mạng điện tử 63 2.4 Các ưu điểm, hạn chế của thông tin đa dạng sinh học trên báo mạng điện tử

2.3.1 Thể loại tác phẩm đưa tin về đa dạng sinh học

Trên 3 báo mạng điện tử trong mẫu khảo sát, các tác phẩm thuộc loại thông tấn (tin, tường thuật, phỏng vấn, bài phản ánh, ghi nhanh, điều tra, phóng sự) chiếm phần lớn Các bài viết về ĐDSH không xuất hiện ở các tác phẩm chính luận (bình luận, xã luận, chuyên luận và phiếm luận) hay thông tấn nghệ thuật (ký sự, thư phóng viên, sổ tay phóng viên…)

Khảo sát các tác phẩm trên báo mạng điện tử cho thấy chủ yếu là thể loại tin, chiếm 67,62% tổng số bài (210 tin) Các thể loại còn lại gồm 90 bài phản ánh (28,25%), 9 phóng sự (2,86%) và 4 bài phỏng vấn (2,86%) Thực tế cho thấy thể loại thông tấn, bao gồm tin và bài phản ánh, tập trung phản ánh các sự kiện, hiện tượng thời sự, những vấn đề nóng có ý nghĩa xã hội, nhằm đáp ứng nhanh, khách quan nhu cầu thông tin mà dư luận quan tâm.

Mục đích của báo chí là cung cấp cho công chúng những thông tin mới nhất về các sự kiện, hiện tượng và vấn đề phong phú, đa dạng diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong nước và trên phạm vi toàn cầu Để phản ánh nhanh các thông tin này về các vụ việc ĐDSH, các nhà báo phải lựa chọn kỹ lưỡng các tác phẩm thông tấn nhằm đảm bảo nội dung cập nhật sát với thực tế và phản ánh đúng diễn biến sự kiện.

Ngược lại, sự khác biệt giữa báo điện tử và báo in nằm ở cách trình bày tin tức: báo điện tử đề cao tính thời sự và cập nhật nhanh, đồng thời truyền đạt thông tin ngắn gọn để phù hợp với độc giả trẻ, những người không có nhiều thời gian nhưng vẫn muốn cập nhật lượng thông tin lớn nhất trong thời gian ngắn nhất [15].

Bảng 2.6: Số lƣợng bài báo chia theo thể loại báo chí trên mỗi trang báo

Tên báo Thể loại tác phẩm

Tin Phản ánh Phóng sự Phỏng vấn Tổng

Tin là một trong những thể loại cơ bản của báo chí, có nhiệm vụ thông báo kịp thời những sự kiện mới nhất ở dạng ngắn gọn và chặt chẽ nhất Trong tin không có sự xuất hiện của nhân vật, không có cái tôi của tác giả, hay sử dụng ngôn ngữ giàu hình ảnh, cảm xúc và bút pháp, giọng điệu của tin không linh hoạt, sinh động như nhiều thể loại báo chí khác mà tập trung vào thông tin.

Phân tích ba báo mạng điện tử cho thấy bài viết về đa dạng sinh học chiếm tỷ lệ lớn nhất và các tờ báo vẫn chủ yếu tập trung vào tính chất nóng hổi và mức độ nghiêm trọng ở bề nổi của sự kiện, dừng lại ở việc mô tả ngắn gọn các diễn biến theo khuôn mẫu của thể loại tin tức Bên cạnh đó, đặc thù của báo điện tử với diện tích trang giao diện có hạn và cấu trúc đa tầng khiến thể loại tin được ưa chuộng trên nền tảng này.

Ba báo mạng điện tử đều có số lượng bài viết ở thể loại tin chiếm tỉ lệ cao nhất, đặc biệt VnExpress chiếm tới 87% Các tin chủ yếu có dung lượng từ ở mức trung bình và tập trung vào cung cấp tin tức nhanh, ngắn gọn để phù hợp với độc giả đọc trên màn hình.

Trong vài năm gần đây, các bản tin về bảo tồn động vật hoang dã cho thấy cả thành công và thách thức Ví dụ, phát hiện hơn 60 cá thể Voọc quý hiếm tại một vùng núi đá vôi cho thấy quần thể vẫn tồn tại nhưng dễ bị tác động bởi săn bắt và buôn bán trái phép Tin về săn, sấy khô “nữ hoàng” linh trưởng để bán càng cho thấy nạn buôn bán động vật hoang dã vẫn còn nghiêm trọng Tại An Giang, đề nghị đưa cây thốt nốt vào danh mục cây quý hiếm nhằm bảo vệ hệ sinh thái và sinh kế người dân.

Đây là mô hình tin ngắn có độ dài từ 100-300 chữ, nhằm cung cấp thông tin một cách ngắn gọn, súc tích và đảm bảo tính thời sự Ví dụ minh hoạ gồm các tiêu đề như: “Thả cá thể khỉ mốc về môi trường tự nhiên” (Dân trí, 21/01/2015); “Trung Quốc thu giữ 620 con rùa nhập lậu từ Việt Nam” (VnExpress, 31/08/2015); “Vườn quốc gia Tràm Chim tiếp nhận chim quý” (Tài nguyên và Môi trường, 14/08/2015); “Ngang nhiên bán chim trời giữa đường phố Buôn Ma Thuột” (Tài nguyên và Môi trường, 05/09/2015).

Các tin về đa dạng sinh học thường được viết theo hai cấu trúc chủ đạo là hình tháp ngược (thông tin quan trọng nhất được đưa lên đầu) và kết cấu thời gian (xếp theo trình tự sự kiện hoặc phối hợp giữa thời gian và đảo ngược trình tự) Tùy nội dung và mục đích, tác giả lựa chọn cấu trúc phù hợp để người đọc dễ nắm bắt và tối ưu hóa hiệu quả SEO, đồng thời tăng khả năng hiển thị trên công cụ tìm kiếm Cấu trúc hình tháp ngược giúp dẫn dắt người đọc ngay với các từ khóa và thông tin cốt lõi, trong khi kết cấu thời gian cung cấp bối cảnh và mạch câu chuyện cho các bài tường thuật sự kiện Các yếu tố như bố cục rõ ràng, câu ngắn gọn, tiêu đề súc tích và sử dụng từ khóa liên quan đến đa dạng sinh học đều được cân nhắc để đảm bảo tính mạch lạc và tối ưu SEO cho từng nội dung.

Thể loại bài phản ánh là một loại tác phẩm báo chí có nội dung và hình thức tương đối hoàn chỉnh, trong đó chất lượng thông tin chủ yếu phản ánh một cách toàn diện quy mô, tính chất, khuynh hướng vận động và các mối quan hệ phong phú của một sự kiện, hiện tượng hay vấn đề trong xã hội và tự nhiên Bài phản ánh thường tập trung phản ánh các vấn đề đã được định hình và luôn xuất hiện sau tin, nhằm cung cấp cái nhìn sâu và đa chiều về hiện tượng Nhờ đặc điểm này, bài phản ánh được sử dụng phổ biến trên báo chí, đặc biệt là báo mạng điện tử.

Ba báo mạng điện tử ghi nhận số bài phản ánh về đa dạng sinh học xếp sau các thể loại tin khác, với tỷ lệ lần lượt là 12.64% ở VnExpress, 25.30% ở Dân Trí và 40.56% ở Tài nguyên và Môi trường.

Trong thể loại tin tức, đặc điểm thông tin cập nhật nhanh, liên tục đòi hỏi báo điện tử phải nhạy bén và có kỹ năng lọc chọn thông tin Đây là yếu tố then chốt cho báo chí nói chung, đặc biệt là báo điện tử, nhưng chưa đủ để đáp ứng nhu cầu của công chúng, bởi theo lý thuyết nhu cầu, độc giả vừa muốn được biết, vừa muốn được hiểu về sự kiện Vì vậy, phản ánh sự việc bằng bút pháp mô tả kết hợp với trình bày khách quan về quy mô, diện mạo, tính chất, vị trí và thời gian của đối tượng phản ánh, cùng với phân tích, so sánh và nhận định khái quát sẽ là công cụ hữu hiệu giúp các nhà báo đưa tin về đa dạng sinh học một cách toàn diện Ví dụ về một số bài phản ánh nổi bật có thể được tham khảo để thấy cách áp dụng các nguyên tắc này.

"Phát hiện nhiều loài thực vật mới tại “Đà Lạt thứ 2 của miền Trung” (Dân trí, 05/10/2015), "Lâm tặc “oanh tạc” nhiều khu rừng phòng hộ" (Dân trí, 13/10/2015), "“Nóng” tình trạng phá rừng khu vực biên giới Đắk Nông" (Tài nguyên và Môi trường, 27/11/2015), "Đa dạng sinh học đối mặt với nguy cơ bị xâm hại" (Tài nguyên và Môi trường, 29/11/2015)

Thể loại phỏng vấn: Trong báo chí, phỏng vấn là một dạng bài viết theo dạng phóng viên hỏi và người được phỏng vấn trả lời Phỏng vấn thường được dùng trong hai trường hợp: thể hiện chân dung nhân vật hoặc cung cấp thông tin về lĩnh vực mà người được phỏng vấn là chuyên gia hoặc có trách nhiệm trả lời Phỏng vấn báo chí có nhiều cách thực hiện: phỏng vấn trực tiếp (phóng viên và người được phỏng vấn gặp nhau mặt đối mặt - cách truyền thống), phỏng vấn bằng văn bản (phóng viên chuẩn bị các câu hỏi bằng văn bản, người được phỏng vấn cũng trả lời bằng văn bản - thường dùng khi những thông tin trong cuộc phỏng vấn tương đối phức tạp, người trả lời phỏng vấn không thể trả lời chính xác ngay lập tức), phỏng vấn qua điện thoại hoặc các phương tiện liên lạc khác (khi một trong hai bên, hoặc cả hai bên không đủ thời gian cho một cuộc gặp trực tiếp) Đối với báo Dân Trí và báo Tài nguyên và Môi trường, lượng bài phỏng vấn rất ít, chiếm lượng nhỏ (cao nhất chưa tới 3%) các bài viết về đa dạng sinh học Đặc biệt, báo VnExpress không sử dụng bất kỳ viết nào viết nào ở thể loại phỏng vấn Trong các bài phỏng vấn có nội dung về đa dạng sinh học, người được phỏng vấn là chuyên gia hoặc có trách nhiệm trả lời Ví dụ một số bài phỏng vấn: "Bảo vệ cây xanh, đa dạng sinh học chính là bảo vệ cuộc sống của chúng ta" (Tài nguyên và Môi trường, 06/05/2015), "Hành động cho đến khi chấm dứt nuôi nhốt gấu hoàn toàn" (Tài nguyên và Môi trường,

ĐÁNH GIÁ THÔNG TIN ĐA DẠNG SINH HỌC TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ

Ngày đăng: 24/11/2021, 15:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
14. Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng (2015), Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản, Nxb Lý luận Chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Lý luận Chính trị
Năm: 2015
15. Hà Minh Đức (2010), C.Mác-Ph. Aawngghen- V.L Lênin với báo chí, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác-Ph. Aawngghen- V.L Lênin với báo chí
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2010
16. Nguyễn Thị Trường Giang (2011) Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
17. Nguyễn Thị Trường Giang (2014) Đạo đức nghề nghiệp nhà báo, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức nghề nghiệp nhà báo
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
18. Nguyễn Thị Trường Giang (2011) 100 bản qui tắc đạo đức nghề báo trên thế giới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 100 bản qui tắc đạo đức nghề báo trên thế giới
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
19. Đảng cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
20. Đỗ Xuân Hà (1997), Báo chí với thông tin quốc tế, Nxb ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí với thông tin quốc tế
Tác giả: Đỗ Xuân Hà
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1997
21. Vũ Quang Hào (2004), Ngôn ngữ báo chí, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ báo chí
Tác giả: Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2004
22. Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2005), 80 năm báo chí cách mạng Việt Nam - Những bài học lịch sử và định hướng phát triển, Nxb CTQG, tr 261 -262 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 80 năm báo chí cách mạng Việt Nam - Những bài học lịch sử và định hướng phát triển
Tác giả: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 2005
23. Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2012), Báo cáo Hội thảo khoa học quốc tế “Truyền thông đại chúng với biến đổi khí hậu tại tiểu vùng sông Mekong: Thực tế hay hư cấu”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Hội thảo khoa học quốc tế “Truyền thông đại chúng với biến đổi khí hậu tại tiểu vùng sông Mekong: Thực tế hay hư cấu”
Tác giả: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Năm: 2012
24. Học viện Báo chí và Tuyên truyền (2013), Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế “Truyền thông đại chúng Việt Nam với biến đổi khí hậu”, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế “Truyền thông đại chúng Việt Nam với biến đổi khí hậu
Tác giả: Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Năm: 2013
25. Đặng Huy Huỳnh (2015), Nhìn lại 20 năm bảo tồn đa dạng sinh học, Trung tâm con người và thiên nhiên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại 20 năm bảo tồn đa dạng sinh học
Tác giả: Đặng Huy Huỳnh
Năm: 2015
27. Đinh Văn Hường (2000), Vai trò của báo chí trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước, Nxb ĐHKHXH&NVHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của báo chí trong sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: Nxb ĐHKHXH&NVHN
Năm: 2000
28. Đinh Văn Hường (2008), Các thể loại báo chí thông tấn, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các thể loại báo chí thông tấn
Tác giả: Đinh Văn Hường
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2008
29. Nguyễn Thành Lợi (2014), Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại, Nxb Thông tin truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại
Tác giả: Nguyễn Thành Lợi
Nhà XB: Nxb Thông tin truyền thông
Năm: 2014
30. Khuất Thị Diệu Linh (2015), Thông điệp an toàn thực phẩm trên báo mạng điện tử hiện nay, Luận văn thạc sĩ xã hội học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông điệp an toàn thực phẩm trên báo mạng điện tử hiện nay
Tác giả: Khuất Thị Diệu Linh
Năm: 2015
31. Hồ Chí Minh (2000), Hồ Chí Minh toàn tập, tập 5, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh toàn tập
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
62. Báo Tài nguyên và Môi trường: http://baotainguyenmoitruong.vn/ Link
64. Quỹ bảo tổn thiên nhiên Việt Nam: http://vietnam.panda.org/ Link
65. Tổ Chức Bảo Tồn Thiên nhiên Quốc tế: https://www.iucn.org/node/3960 66. http://www.biodivn.com Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w