1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại lợn nhâm xuân tiến, huyện đông hưng, tỉnh thái bình

73 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Đặ t v ấn đề (9)
  • 1.2. M ụ c tiêu và yêu c ầ u c ủ a chuyên đề (10)
    • 1.2.1. M ụ c tiêu (10)
    • 1.2.2. Yêu cầu (10)
  • 2.1. Điề u ki ện cơ sở nơi thự c t ậ p (11)
    • 2.1.1. Điề u ki ệ n t ự nhiên (11)
    • 2.1.2. Điề u ki ện cơ sở v ậ t ch ất nơi thự c t ậ p (12)
  • 2.2. T ổ ng quan tài li ệ u và các k ế t qu ả nghiên c ứu trong và ngoài nướ c có liên (15)
    • 2.2.1. Nh ữ ng hi ể u bi ế t v ề quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và l ợ n nái nuôi con (15)
    • 2.2.2. Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ (19)
    • 2.2.3. Nh ữ ng hi ể u bi ế t v ề đặc điể m sinh lý ti ế t s ữ a c ủ a l ợ n nái và các y ế u t ố ảnh hưở ng (22)
    • 2.2.4. Đặc điể m sinh lý, sinh d ụ c c ủ a l ợ n nái (24)
    • 2.2.5. Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi (28)
    • 2.2.6. Nh ữ ng hi ể u bi ế t v ề m ộ t s ố b ệnh thườ ng g ặp trên đàn lợn nái đẻ và l ợ n nái nuôi con (31)
  • 2.3. Tình hình nghiên c ứu trong và ngoài nướ c (39)
    • 2.3.1. Tình hình nghiên c ứu trong nướ c (39)
    • 2.3.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước (40)
  • 3.1. Đối tượ ng và ph ạ m vi ti ế n hành (42)
  • 3.2. Địa điể m và th ờ i gian ti ế n hành (42)
  • 3.3. N ộ i dung nghiên c ứ u (42)
  • 3.4. Phương pháp theo dõi (42)
    • 3.4.1. P hương pháp đánh giá tình hình chăn nuôi tạ i tr ạ i (42)
    • 3.4.2. Phương pháp xử lý s ố li ệ u (47)
  • 4.1. Kết quả đánh giá tình hình sản xuất chăn nuôi tại trại (48)
  • 4.2. K ế t qu ả th ự c hi ện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡ ng cho l ợ n nái và l ợ n con theo (49)
    • 4.2.1. K ế t qu ả theo dõi kh ả năng sinh sả n c ủa đàn lợ n nái tr ự c ti ếp chăm sóc nuôi dưỡ ng t ạ i tr ạ i trong th ờ i gian th ự c t ậ p (49)
    • 4.2.2. M ộ t s ố ch ỉ tiêu k ỹ thu ậ t c ủa đàn lợ n nái sinh s ả n c ủ a tr ạ i qua 6 tháng (51)
  • 4.3. K ế t qu ả th ự c hi ệ n các bi ệ n pháp phòng b ệ nh cho l ợ n nái sinh s ả n t ạ i tr ạ i (53)
    • 4.3.1. Công tác vệ sinh phòng bệnh (53)
    • 4.3.2. K ế t qu ả phòng b ệnh cho đàn lợ n nái và l ợ n con theo m ẹ t ạ i tr ạ i b ằ ng (56)
  • 4.4. K ế t qu ả ch ẩn đoán, điề u tr ị b ệ nh ở đàn lợ n nái sinh s ả n và l ợ n con theo mẹ tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (57)
    • 4.4.1. Tình hình m ắ c b ệ nh ở đàn lợ n nái sinh s ả n c ủ a tr ạ i (57)
    • 4.4.2. K ế t qu ả điề u tr ị b ệ nh ở đàn lợ n nái sinh s ả n t ạ i tr ạ i l ợ n Nhâm Xuân (59)
  • 4.5. K ế t qu ả thực hiện các công việc khác (61)
  • 5.1. K ế t lu ậ n (64)

Nội dung

Kết quả theo dõi khả năng sinh sản của đàn lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại trong thời gian thực tập .... Xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn trên, được sự đồng

Đặ t v ấn đề

Chăn nuôi ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu của ngành nông nghiệp Sản phẩm của ngành chăn nuôi là nguồn thực phẩm không thể thiếu được đối với nhu cầu đời sống con người Trong đó, chăn nuôi lợn đang rất phổ biến và trở thành một nghề quan trọng để phát triển kinh tế hộ gia đình nông nghiệp và các trang trại, đặc biệt là mô hình trang trại VAC Với mục đích đa ngành của nền kinh tế hiện nay, chăn nuôi lợn đã trở thành mũi nhọn trong cơ cấu ngành chăn nuôi nói riêng và phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói chung. Để hoàn thành chương trình học trong Nhà trường, thực hiện phương châm “Học đi đôi với hành”, “Lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, giai đoạn thực tập tốt nghiệp tại cơ sở trước khi ra trường rất quan trọng đối với mỗi sinh viên, nhằm củng cố và hệ thống lại toàn bộ những kiến thức đã học, nâng cao tay nghề, đồng thời tạo cho mình sự tự lập, lòng yêu nghề, có phong cách làm việc đúng đắn, đáp ứng nhu cầu của thực tiễn sản xuất Thực tập tại các trại chăn nuôi lợn sẽ giúp sinh viên nắm được phương pháp tổ chức và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tiễn sản xuất, khi ra trường sẽ trở thành một người cán bộ khoa học có chuyên môn, đáp ứng nhu cầu thực tiễn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp phát triển đất nước Xuất phát từ những cơ sở khoa học và thực tiễn trên, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y - trường đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng với sự giúp đỡ tận tình của cô giáo hướng dẫn và cơ sở thực tập, em tiến hành thực hiện chuyên đề: “ Th ự c hi ệ n quy trình chăm sóc, nuôi dưỡ ng, phòng tr ị b ệnh trên đàn lợ n nái sinh s ả n và l ợ n con theo m ẹ t ạ i tr ạ i l ợ n Nhâm Xuân Ti ế n, huy ện Đông Hưng, tỉ nh Thái Bình ”

M ụ c tiêu và yêu c ầ u c ủ a chuyên đề

M ụ c tiêu

- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại cơ sở

- Học và thực hành thành thạo quy trình phòng, trị bệnh và nuôi dưỡng, chăm sóc đàn lợn nái nuôi con tại cơ sở chăn nuôi.

Yêu cầu

- Thực hiện được quy trình phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái nuôi con

- Thực hiện được quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con

- Thực hiện tốt các yêu cầu, quy định tại cơ sở

- Chăm chỉ, học hỏi để nâng cao kỹ thuật, tay nghề của cá nhân

Điề u ki ện cơ sở nơi thự c t ậ p

Điề u ki ệ n t ự nhiên

Xã Đông Á có diện tích 6,47km² Theo tổng điều tra dân số năm 1999, xã Đông Á có số dân 6.990 người

Xã Đông Á nằm ở phía Đông Nam của huyện Đông Hưng.

- Phía Đông giáp xã Đông Huy, huyện Đông Hưng.

- Phía Nam giáp xã Đông Hoàng, huyện Đông Hưng và các xã Vũ Tây,

An Bình, huyện Kiến Xương (ranh giới tự nhiên là sông Trà Lý)

- Phía Tây giáp xã Đông Hoàng, huyện Đông Hưng.

- Phía Bắc giáp các xã Đông Vinh và Đông Phong, huyện Đông Hưng.

Trại lợn Nhâm Xuân Tiến nằm trên địa bàn xã Đông Á, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình Với tổng diện tích 10 ha, được xây dựng theo hệ thống khép kín Trang trại nằm trên một cánh đồng, cách xa khu dân cư 3km Được sự cho phép của khuyến nông tỉnh Thái Bình, trại lợn của ông Nhâm Xuân Tiến (trang trại tổng hợp Đông Hòa) được thành lập và đi vào hoạt động năm 2010 là một trang trại tư nhân nuôi gia công cho công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi CP Việt Nam với hệ thống chuồng trại, trang thiết bị hiện đại đội ngũ kĩ thuật vững vàng cũng như con giống và nguồn thức ăn đảm bảo

Trại chăn nuôi nằm trong địa bàn của xã Đông Á, nằm trong khu vực Đồng bằng Bắc bộ chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa

Nhiệt độ trung bình khoảng 23 – 24 o C

Lượng mưa trung bình năm 2.500mm, phân bố không đều trong năm tập trung nhiều và tháng 7, tháng 8 Độẩm không khí 86,10%.

Điề u ki ện cơ sở v ậ t ch ất nơi thự c t ậ p

Trại lợn Nhâm Xuân Tiến được thành lập và đi vào sản xuất từ năm 2010, với số vốn đầu tư lên tới gần 40 tỷđồng, trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản do Công ty cổ phần thức ăn chăn nuôi Việt Nam (một chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp 4 giống lợn Landrace, Yorkshire, Pitrain và Duroc Khu sản xuất gồm 13 dãy chuồng, trong đó 6 dãy chuồng đẻ, 4 dãy chuồng chửa, 2 chuồng cách ly và một chuồng đực Tổng lợn nuôi là 2.400 lợn nái, 17 lợn đực,

140 lợn hậu bị và khoảng 2500 lợn con theo mẹ và đã tách mẹ Mỗi năm trang trại xuất ra thịtrường khoảng 20.000 - 25.000 con lợn giống

2.1.2.2 Cơ cấu tổ chức của trại

Trại gồm có 63 người, trong đó có:

+ 04 tổ trưởng (2 chuồng đẻ, 2 chuồng chửa)

+ 04 bảo vệ chịu trách nhiệm bảo vệ tài sản chung của trại

Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng chửa Mỗi tổ thực hiện công việc hàng ngày một cách nghiêm túc, đúng quy định của trại

+ Có đầy đủ các thiết bị, máy móc để phục vụ cho công nhân và sinh viên sinh hoạt hàng ngày như: nước sinh hoạt, tắm nóng lạnh, tivi, tủ lạnh, quạt

+ Cơ sở vật chất trong chuồng trại chăn nuôi được trại chú trọng đầu tư:

Có hệ thống quạt gió, dàn mát, điện sáng, vòi uống nước tự động cho lợn Có hệ thống đèn điện sưởi ấm cho lợn con vào mùa đông Ngoài ra trại còn có một máy phát điện công suất lớn đủ cung cấp điện cho cả trại sinh hoạt và hệ thống chuồng nuôi những khi mất điện

Trại được xây dựng trên diện tích gần 10 ha chia làm 3 khu vực chính là: khu nhà điều hành khu sinh hoạt chung cho công nhân và khu sản xuất

Khu nhà điều hành gồm: phòng giám đốc (chủ trại), phòng kế toán trại và nhà ở sinh hoạt của chủ trại

Trong khu sinh hoạt chung cho công nhân gồm có: Cổng ra vào trại, phòng sinh hoạt ngoài giờ làm của công nhân, nhà ăn… các khu phục vụ cho các nhu cầu thiết yếu cho công nhân ngoài giờ làm Ngoài ra trại còn thiết kế thêm một số khu vui chơi phục vụ nhu cầu giải trí của công nhân

Khu chăn nuôi gồm 4 phần chính: Chuồng lợn đẻ, chuồng lợn chửa, chuồng cách ly và chuồng lợn đực

Hệ thống chuồng lợn đẻ của trại gồm 6 dãy chuồng chính, mỗi dãy chuồng gồm 2 ngăn chuồng có cửa thông với nhau ở cả đầu trên và cuối chuồng Mỗi ngăn chuồng lại gồm 54 ô chia làm 2 dãy với kích thước mỗi ô là 2,4m x 1,6m ô Trong mỗi ngăn được lắp đặt hệ thống dàn mát ở đầu chuồng và 6 quạt thông gió ở cuối chuồng Ngoài ra mỗi ngăn còn được lắp đặt thêm cửa sổ và hệ thống chiếu sáng, hệ thống điện Ngoài 6 chuồng chính còn có 2 chuồng cai sữa phục vụ cho việc chăm sóc lợn con đã qua 2 ngày tuổi xuất chuồng mà chưa được xuất bán

Thứ 2 là hệ thống chuồng chửa với 4 chuồng chính trong mỗi chuồng được lắp đặt 560 ô, kích thước 2,4m x 0,65m/ô Cũng như chuồng đẻ, chuồng chửa cũng có dàn mát, cuối mỗi chuồng có 8 quạt thông gió, ngoài ra trong mỗi chuồng chửa còn có hệ thống làm mát cho lợn bằng nước

Bên chuồng chửa là chuồng đực với sức chứa 30 lợn đực, 3 chuồng cách ly dùng để nhốt lợn mới nhập, lợn có dấu hiệu bị bệnh, 1 phòng tinh

Nguồn nước được sử dụng trong trại được cung cấp từ hệ thống giếng khoan, nước sau khi được bơm lên 2 bểđược xử lý bằng hóa chất Sau đó được bơm lên một bể ở trên cao, lợi dụng áp lực của nước để đưa nước tới hệ thống cung cấp nước uống, dàn mát và các vòi nước phục vụ cho công việc vệ sinh

Trong khu sản xuất còn có kho thuốc, phòng tắm sát trùng, nhà giặt và kho cám

2.1.2.4 Thuận lợi và khó khăn

+ Được sự quan tâm, tạo điều kiện và có các chính sách hỗ trợ của UBND xã Đông Á, Trạm thú y huyện Đông Hưng.

+ Được Công ty Cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam cung cấp về con giống, thức ăn và thuốc thú y có chất lượng tốt

+ Trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi, xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông

+ Chuồng trại được trang bị bằng các thiết bị hiện đại, điện lưới và hệ thống nước sạch luôn cung cấp đầy đủ cho sinh hoạt và chăn nuôi.

+ Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân

+ Đội ngũ cán bộ kỹ thuật có chuyên môn vững vàng, đội ngũ công nhân rất nhiệt tình, năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, do đó đã mang lại hiệu quảchăn nuôi cao cho trang trại

+ Đội ngũ công nhân trong trại còn thiếu về số lượng, do đó ảnh hưởng đến tiến độ công việc

+ Trang thiết bị vật tư, hệ thống chăn nuôi còn thiếu, chưa đáp ứng được nhu cầu sản xuất

+ Trong những năm gần đây, thời tiết diễn biến phức tạp kèm theo dịch bệnh khó kiểm soát, gây khó khăn cho chăn nuôi Những khó khăn trên đòi hỏi trại phải đẩy mạnh công tác phòng, chống dịch bệnh và nâng cao sức đề kháng cho đàn lợn tại trại lợn nái và lợn con.

T ổ ng quan tài li ệ u và các k ế t qu ả nghiên c ứu trong và ngoài nướ c có liên

Nh ữ ng hi ể u bi ế t v ề quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và l ợ n nái nuôi con

2.2.1.1 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái đẻ

Mục đích chăn nuôi lợn nái đẻ nhằm đảm bảo cho lợn đẻ an toàn, lợn con có tỷ lệ sống cao, lợn mẹ có sức khỏe tốt, đủ khả năng tiết sữa nuôi con

Chính vì vậy quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe lợn mẹ và lợn con

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [24], thức ăn dùng cho lợn nái đẻ phải là những thức ăn có giá trị dinh dưỡng cao, dễ tiêu hóa Một tuần trước khi lợn đẻ phải căn cứ vào tình trạng sức khỏe cụ thể của lợn nái để có kế hoạch giảm dần lượng thức ăn Đối với những lợn nái có sức khỏe tốt thì một tuần trước khi đẻ giảm 1/3 lượng thức ăn, đẻ trước 2 - 3 ngày giảm 1/2 lượng thức ăn Ngày lợn nái cắn ổ đẻ, cho lợn nái ăn ít thức ăn tinh (0,5kg) hoặc không cho thức ăn tinh nhưng uống nước tự do Ngày lợn nái đẻ có thể không cho lợn nái ăn mà chỉ có uống nước ấm có pha muối hoặc ăn cháo loãng Sau khi đẻ 2 - 3 ngày không cho lợn nái ăn nhiều một cách đột ngột mà tăng từ từ đến ngày thứ 4 - 5 thì cho ăn đủ tiêu chuẩn Thức ăn cần chế biến tốt, kích thước thức ăn nhỏ, có mùi vị thơm ngon để kích thích tính thèm ăn cho lợn nái, tăng khả năng tiêu hóa cho lợn đẻ

Việc chăm sóc lợn nái mẹ có vai trò quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và sức khỏe của cả lợn mẹ và lợn con

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [24]: cần phải theo dõi thường xuyên sức khỏe lợn mẹ, quan sát chửa vú, thân nhiệt lợn mẹ liên tục trong 3 ngày đầu sau khi đẻ để phát hiện các trường hợp bất thường và có biện pháp xử lý kịp thời Trước khi lợn đẻ 10 - 15 ngày cần chuẩn bị đầy đủ chuồng đẻ Tẩy rửa vệ sinh, khử trùng toàn bộ ô chuồng, nền chuồng, sàn chuồng dùng cho lợn con và lợn mẹ Yêu cầu chuồng phải khô ráo, ấm áp, sạch sẽ, có đầy đủ ánh sáng Sau khi vệ sinh tiêu độc nên để trống chuồng từ 3 - 5 ngày trước khi lợn nái vào đẻ

Theo Lê Hồng Mận (2002) [18] việc trực lợn đẻ là công việc rất cần thiết để hỗ trợ lợn đẻ an toàn:

- Chuẩn bị dụng cụ: vải xô, vải mềm sạch, cồn Iode 3%, kìm bấm răng nanh, kéo cắt rốn, chỉ buộc, Oxytoxin, đèn sưởi ấm v.v…

- Công việc trợ sản: lợn nái thường đẻ dễ do thai nhỏ, xương chậu rộng hay đẻ vào ban đêm yên tĩnh Lợn đẻ trong 1 giờ là tốt nhất, nếu đẻ kéo dài thì phải tác động cho đẻ nhanh hơn bằng cách tiêm Oxytoxin Khoảng cách đẻ giữa con trước đến con sau thường từ 15 - 20 phút hoặc có thể hơn Không được dùng oxytoxin trong trường hợp lợn nái rặn nhiều và co một chân lên vì rất có thể lợn con nằm ngang bịt kín đường đẩy thai ra Trường hợp này người trực sản phải can thiệp thò tay vào trong xoay lợn con về đúng tư thế rồi nhẹ nhàng lôi lợn con ra ngoài để cho lợn mẹ tiếp tục đẻđược

Nhau thai là một phần quan trọng của bào thai, nhau càng nặng lợn con càng khỏe Nhau thai thường ra sau khi lợn mẹđẻ con cuối cùng 12 - 20 phút Người trực trợ sản phải tuyệt đối không để lợn mẹ ăn nhau, nếu để lợn mẹ ăn nhau sẽ lên men và gây sốt sữa, làm rối loạn tiêu hóa, ảnh hưởng đến chất lượng sữa của lợn mẹ, ảnh hưởng đến lợn con làm lợn con sinh trưởng chậm

Trường hợp lợn nái đẻ lâu, đẻ khó, rặn yếu phải tiêm Oxytoxin giúp tử cung co bóp, nếu bịkhó đẻthì bôi vaselin cho trơn để dễđẻ Khi có lợn con chết trong bụng lợn mẹ thì người trợ sản phải cho tay vào lôi thai ra kịp thời Lợn đẻ xong, người trợ sản bơm vào tử cung thuốc tím hoặc rivanol để phòng nhiễm trùng đường sinh dục Theo dõi liên tục nhiệt độ của lợn nái trong 3 ngày để phát hiện lợn bị sót nhau, sốt sữa, nhiễm trùng vú mà chữa trị kịp thời

Theo Lê Hồng Mận (2002) [18], lợn đẻxong, dùng nước ấm rửa sạch âm hộ và vú Chú ý bảo đảm ô úm cho lợn con, che chắn chuồng ấm áp tránh gió lùa Sau đẻ lợn mẹ khát nước do mất máu phải bổ sung kịp thời nước sạch có pha thêm muối Chưa cho lợn nái ăn ngay, cho nhịn 6 - 12 giờ hoặc cho ăn ít để đề phòng viêm vú Sau đẻ 3 ngày cho lợn mẹ ăn theo mức khẩu phần nái nuôi con để đủ sữa cho lợn con bú, cần theo dõi các hiện tượng lợn bị viêm vú, viêm tử cung, nếu bị viêm phải can thiệp điều trị ngay

2.2.1.2 Quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con

Theo Lê Hồng Mận (2002) [18], khẩu phần thức ăn nái nuôi con phải đảm bảo đầy đủ thành phần và tỷ lệ chất dinh dưỡng để tiết sữa cho con bú, có độ hao mòn lợn mẹ vừa phải tạo thuận lợi cho lấy giống lứa đẻ tiếp

Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủdinh dưỡng cho lợn mẹ

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [24], trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau: Đối với lợn nái ngoại:

+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do

+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ

+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: Cho ăn 4kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày + Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức: Lượng thức ăn/nái/ngày

= 2kg + (số con x 0,35kg/con)

+ Số bữa ăn trên ngày: 2 bữa (sáng và chiều)

+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5kg thức ăn/ngày.

+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2kg rau xanh/ ngày sau bữa ăn tinh (nếu có rau xanh)

+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [24], vận động tắm nắng là điều kiện tốt giúp cho lợn nái nhanh phục hồi sức khỏe và nâng cao sản lượng sữa của lợn mẹ

Theo Lê Hồng Mận (2002) [18], luôn giữ chuồng khô ráo, có đệm lót rơm để giữ ấm cho lợn mẹ và lợn con có đèn sưởi ấm, tránh để lợn con nằm trên nền xi măng lạnh dễ bị bệnh phân trắng

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [24], chuồng lợn nái nuôi con phải có ô úm lợn con và ngăn tập ăn sớm cho lợn con Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp là 18 - 20ºC, độ ẩm 70 - 75%.

Đặc điểm của lợn con giai đoạn theo mẹ

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [24], lợn con sinh trưởng và phát dục lúc 21 ngày tuổi gấp 4 lần, lúc 30 ngày tuổi gấp 5 - 6 lần, lúc 40 ngày tuổi gấp

7 - 8 lần, lúc 50 ngày tuổi gấp 10 lần và lúc 60 ngày tuổi gấp 12 - 14 lần

Lợn con bú sữa sinh trưởng nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn

Tốc độ sinh trưởng nhanh trong 21 ngày đầu, sau đó giảm Do sinh trưởng phát dục nhanh nên khả năng tích lũy các chất dinh dưỡng rất mạnh

Ví dụ: lợn con 3 tuần tuổi tích lũy 9 - 14g protein/1kg khối lượng cơ thể, trong khi đó lợn trưởng thành chỉtích được 0,3 - 0,4g Điều đó cho thấy: nhu cầu dinh dưỡng của lợn con cao hơn lợn trưởng thành rất nhiều, đặc biệt là protein

Theo Vũ Đình Tôn và Trần Thị Thuận (2005) [26], khối lượng sơ sinh và khối lượng lúc 60 ngày tuổi có mối tương quan tỷ lệ thuận với nhau khá chặt chẽ Khối lượng sơ sinh không chỉ liên quan đến khối lượng cai sữa mà còn liên quan tới tỷ lệ chết khi sơ sinh cũng như tỷ lệ sống đến cai sữa Ở lợn ngoại, khối lượng sơ sinh từ 1,1 - 1,35kg thì tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa đạt 75% Trong khi đó, khối lượng sơ sinh 0,57kg hoặc nhỏ hơn chỉ sống sót hơn

2.2.2.2 Đặc điểm vềcơ quan tiêu hóa

Sự tăng lên về khối lượng, sự phát triển của các cơ quan trong cơ thể cũng đồng thời xảy ra Ở lợn con, cơ quan tiêu hóa phát triển nhanh nhưng chưa hoàn thiện Sự phát triển thể hiện ở sự tăng nhanh dung tích và khối lượng của bộ máy tiêu hóa, chưa hoàn thiện thể hiện ở số lượng cũng như hoạt lực của một sốmen trong đường tiêu hóa lợn con bị hạn chế

Dung tích dạ dày của lợn con lúc 10 ngày tuổi có thể tăng gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít)

Dung tích ruột non của lợn con lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích ruột non lúc sơ sinh 0,11 lít).

Trần Văn Phùng và cs (2004) [24] cho biết: dung tích ruột già lợn con lúc 10 ngày tuổi tăng gấp 1,5 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi tăng gấp 2,5 lần, lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần (dung tích ruột già lúc sơ sinh khoảng

2.2.2.3 Đặc điểm của bộ máy tiêu hóa lợn con Ở lợn con mới sinh bộ máy tiêu hóa chưa hoàn chỉnh, thể hiện qua sự phân tiết không đủ lượng acid chlohydric và các men tiêu hóa các chất dinh dưỡng Trên lợn con sơ sinh, khả năng tiết acid chlohydric rất ít, chỉ đủ để hoạt hóa men pepsinogen thành pepsin (men tiêu hóa chất đạm), lượng acid chlohydric tự do quá ít, không đủ để làm tăng độ toan của dạ dày, do vậy độ toan thấp, vi khuẩn bất lợi theo đường miệng có điều kiện sống sót ở dạ dày, vào ruột non vi khuẩn phát triển mạnh gây nên tiêu chảy Sự phân tiết các men tiêu hóa ở dạ dày và ruột non cũng rất kém, chỉ đủ sức tiêu hóa các loại thức ăn đơn giản như sữa

Dung tích bộmáy tiêu hóa tăng nhanh trong 60 ngày đầu: dung tích dạ dày lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần, lúc 20 ngày tuổi gấp 8 lần và lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 60 lần so với lúc sơ sinh (dung tích dạdày lúc sơ sinh khoảng 0,03 lít) Dung tích ruột non lúc 10 ngày tuổi gấp 3 lần lúc sơ sinh, lúc 20 ngày tuổi gấp 6 lần, lúc 60 ngày tuổi gấp 50 lần (dung tích lúc sơ sinh khoảng 0,12 lít) Còn dung tích ruột già lúc 60 ngày tuổi tăng gấp 50 lần so với lúc sơ sinh

Sự tăng về kích thước cơ quan tiêu hóa giúp lợn con tích lũy được nhiều thức ăn và tăng khảnăng tiêu hóa các chất

2.2.2.4 Đặc điểm vềcơ năng điều tiết thân nhiệt

Lợn con sơ sinh tỷ lệ nước trong cơ thể cao đến 82%, chỉ 30 giây sau đẻ, lượng nước đã giảm đến 1,5 - 2% kèm theo nhiệt độ cơ thể giảm dần đến 5 - 10ºC Sau 3 tuần tuổi thân nhiệt của lợn con tương đối ổn định và lên đến 39 -

39,5ºC Lợn con mới đẻ cần được sưởi ấm những ngày đầu bằng thùng úm, có đèn sưởi hoặc bếp than, củi nhất là những đêm trời lạnh

Chế độ nhiệt như sau: ngày mới sinh 35ºC sau đó cứ mỗi ngày giảm đi 2ºC đến ngày thứ 8 là 21ºC Nhiệt độnày được duy trì đến lúc lợn con cai sữa

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [24], đã giải thích nguyên nhân của hiện tượng mất nhiệt của lợn con như sau:

- Lớp mỡ dưới da còn mỏng, lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể còn thấp, trên thân lợn lông còn thưa.

- Hệ thống điều khiển cân bằng nhiệt chưa hoàn chỉnh

- Diện tích bề mặt cơ thể so với khối lượng chênh lệch tương đối cao nên lợn con bị mất nhiệt nhiều khi trời lạnh

2.2.2.5 Khảnăng đáp ứng miễn dịch của lợn con

Theo Babara Straw (2001) [1], hệ thống miễn dịch bắt đầu phát triển ở thai lợn chửa khoảng 50 ngày Khoảng 70 ngày tuổi thai lợn có thể phản ứng với các tác nhân lạ với sự sản sinh ra kháng thể Tuy nhiên trong nhiều trường hợp thì môi trường dạ con là vô khuẩn và lợn con đẻ ra không có kháng thể nào Vì vậy lợn con mới sinh phụ thuộc vào kháng thể có chứa trong sữa non trong vài tuần đầu cho tới khi hệ thống miễn dịch có thể phản ứng với thách thức với kháng nguyên từ nhiều tác nhân lây nhiễm gặp phải trong môi trường

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [24], lợn con khi mới sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể Lượng kháng thể tăng nhanh ngay sau khi bú sữa đầu của lợn mẹ, cho nên khả năng miễn dịch của lợn con là hoàn toàn thụđộng, phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thu được nhiều hay ít từ sữa đầu của lợn mẹ đặc biệt là 7 ngày đầu sau khi sinh

Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [27], ở lợn con mức độ đáp ứng miễn dịch không những phụ thuộc vào sự có mặt của kháng thể mà còn phụ thuộc vào mức độ sẵn sàng của hệ thống miễn dịch đối với tác nhân gây bệnh.

Nh ữ ng hi ể u bi ế t v ề đặc điể m sinh lý ti ế t s ữ a c ủ a l ợ n nái và các y ế u t ố ảnh hưở ng

2.2.3.1 Đặc điểm sinh lý tiết sữa của lợn nái

Cấu tạo: Tuyến sữa của lợn gồm 2 phần: phần phân tiết và phần dẫn sữa:

-Phần phân tiết gồm vô số các tuyến bào tạo thành từng chùm như các chùm nho, các tế bào phân tiết nằm mặt trong của các tuyến bào, tổng hợp sữa và phân tiết vào xoang tuyến bào

-Phần dẫn sữa: gồm hệ thống ống dẫn sữa nhỏ xuất phát từ các xoang tuyến bào, các ống dẫn sữa nhỏ dược tập trung lại thành ống dẫn sữa trung bình rồi thành ống dẫn sữa lớn

Quy luật tiết sữa của lợn nái:

Theo Nguyễn Quang Linh và cs (2005) [16] cho biết: đối với lợn chửa vú không có bể sữa Sữa được sản xuất ra từ các tuyến bào và được tích lũy trong các xoang tuyến bào Việc tiết sữa của chúng được thực hiện theo cơ chế thần kinh thể dịch và ba pha

Khi lợn con mút bú, đầu tiên lợn con ngậm và thúc vào vú mẹ, luồng xung động hưng phấn thần kinh hướng tâm truyền về vỏ não, rồi tới vùng dưới đồi, tiết các yếu tố giải phóng, các yếu tố giải phóng tác động lên thùy sau tuyến yên, kích thích tiết kích tố oxytoxin đi tới tuyến vú làm co bóp tế bào biểu mô, cơ tuyến bào và cơ tuyến vú Nhờ vậy, sữa được thải ra từ các xoang tuyến bào qua ống dẫn sữa nhỏ, qua ống dẫn sữa lớn và chảy ra ngoài theo ống tiết sữa, từ đó lợn con mới bú được Do vậy khi lợn con bú sữa, chúng thực hiện theo 3 pha như sau: Pha ngậm và thúc vú (80 - 100s), pha nằm im (20s), pha mút vú (20s)

Sự tiết sữa không đều theo lứa đẻ: sản lượng sữa tăng dần từ lứa 1 đến lứa 5 sau đó giảm dần

2.2.3.2 Những yếu tốảnh hưởng đến khảnăng tiết sữa của lợn nái

Giống: các giống lợn khác nhau thì có sản lượng sữa khác nhau lợn Berkshire có sản lượng sữa là 1,9 - 3,3 kg/ngày; Duroc 1,9 - 3,0 kg/ngày; Landrace 2,5 - 3,5 kg/ngày Các tài liệu gần đây cho biết lợn nái Yorkshire và Landrace có thể tiết > 10 lít sữa/ngày

Sốcon để nuôi trong một ổ: sốcon để nuôi trong ổ với sản lượng sữa của lợn mẹ có mối tương quan chặt chẽ với nhau, sản lượng sữa của lợn mẹ phụ thuộc vào sốcon để nuôi trong một ổ

Tuổi và lứa đẻ của lợn mẹ: sản lượng sữa của lợn mẹ lứa đầu thấp, sau đó tăng dần, đạt đỉnh cao ở lứa thứ 3, sau đó ổn định và giảm dần từ lứa để thứ 8 trởđi

Số vú lợn mẹ: giữa số vú và sản lượng sữa có tương quan dương (r = 0,262)

Vị trí của vú: sản lượng sữa giảm dần từ cặp vú phía trước ngực ra sau bụng

Chế độ dinh dưỡng: ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và sản lượng sữa, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng tỷ lệ nuôi sống của lợn con tăng lên nếu chúng ta cho lợn mẹ ăn khẩu phần ăn có nhiều chất béo của giai đoạn cuối của giai đoạn chửa và thời kì tiết sữa đầu Ảnh hưởng mức protein đến năng suất và chất lượng sữa: khi lượng ăn vào tăng sẽ nâng cao sản lượng sữa Khi lượng ăn giảm, dinh dưỡng để sản xuất sữa phải sử dụng từ nguồn dinh dưỡng dự trữ của cơ thể

Nước: nước chiếm 80 - 85%, vì lợn tiết sữa đòi hỏi một lượng nước rất lớn

Thời tiết, khí hậu: thời tiết mát mẻ lợn mẹ sẽtăng ăn vào, tăng sản lượng sữa Nhiệt độ cao giảm ăn vào giảm sản lượng sữa.

Đặc điể m sinh lý, sinh d ụ c c ủ a l ợ n nái

2.2.4.1 Sự thành thục về tính và thể vóc

- Sự thành thục về tính:

Một cơ thểđược gọi là thành thục về tính khi bộ máy sinh dục của cơ thể phát triển căn bản đã hoàn thiện Dưới tác dụng của thần kinh, nội tiết tố (các phản xạ về sinh dục), cơ quan sinh dục lợn nái có các noãn bào chín và tế bào trứng rụng, có khả năng thụ thai, tử cung cũng sẵn sàng cho thai làm tổ Tuy nhiên sự thành thục về tính sớm hay muộn phụ thuộc vào giống, tính biệt, các điều kiện ngoại cảnh cũng như chăm sóc, nuôi dưỡng

Các giống khác nhau thì thành thục về tính cũng khác nhau, những giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn những giống có tầm vóc lớn, những giống thuần hoá sớm thành thục sớm hơn các giống thuần hóa muộn

Tuổi thành thục về tính của các lợn cái ngoại và lợn cái lai muộn hơn các loại lợn cái nội thuần chủng (Ỉ, Móng cái…) Các giống lợn nội này thường có tuổi thành thục về tính vào khoảng 4 - 5 tháng tuổi, lợn ngoại là 6 - 8 tháng tuổi, lợn lai F1 (nội x ngoại) thường động dục lần đầu vào lúc 6 tháng tuổi

- Điều kiện nuôi dưỡng, quản lý:

Cùng một giống nhưng nếu điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý tốt, gia súc phát triển tốt thì sớm thành thục và ngược lại Điều kiện ngoại cảnh: khí hậu và nhiệt độcũng ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính của gia súc Theo Paul Hughes và James Tilton (1996) [34], nếu cho lợn cái hậu bị tiếp xúc với lợn đực hai lần/ngày với thời gian 15 - 20 phút thì 83% lợn nái ngoài 90kg động dục ở 165 ngày tuổi Lợn cái hậu bị nếu nuôi nhốt liên tục sẽ có tuổi động dục dài hơn lợn nuôi chăn thả

- Tuổi thành thục về tính của gia súc:

Tuổi thành thục về tính ở gia súc thường sớm hơn tuổi thành thục về thể vóc, nghĩa là sau khi con vật đã thành thục về tính vẫn tiếp tục sinh trưởng, lớn lên Đây là đặc điểm cần chú ý trong chăn nuôi, không nên cho gia súc sinh sản quá sớm để đảm bảo sựsinh trưởng và phát triển bình thường của lợn mẹ và phẩm chất giống của đời sau

- Sự thành thục về thể vóc

Theo Nguyễn Đức Hùng và cs (2003) [13], tuổi thành thục về thể vóc là tuổi có sự phát triển về ngoại hình và thể chất đạt mức độ hoàn chỉnh, tầm vóc ổn định Tuổi thành thục về thể vóc thường chậm hơn so với tuổi thành thục về tính Thành thục về tính được đánh dấu bằng hiện tượng động dục lần đầu tiên Lúc này sự sinh trưởng và phát dục của cơ thể vẫn còn tiếp tục, trong giai đoạn lợn thành thục về tính mà ta cho giao phối ngay sẽ không tốt, vì lợn mẹ có thể thụ thai nhưng cơ thể mẹ chưa đảm bảo cho bào thai phát triển tốt, nên chất lượng đời con kém, đồng thời cơ quan sinh dục, đặc biệt là xương chậu vẫn còn hẹp dễ gây hiện tượng khó đẻ Điều này ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn nái sau này Do đó không nên cho phối giống quá sớm Đối với lợn cái nội khi được 7 - 8 tháng tuổi khối lượng đạt 40 - 50 kg nên cho phối, đối với lợn ngoại khi được 8 - 9 tháng tuổi, khối lượng đạt 100 - 110kg mới nên cho phối

Chu kỳđộng dục là một quá trình sinh lý phức tạp sau khi toàn bộ cơ thể đã phát triển hoàn hảo, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng có quá trình phát triển của noãn bao, noãn bao thành thục, trứng chín và thải trứng Song song với quá trình thải trứng thì toàn bộ cơ thể nói chung đặc biệt là cơ quan sinh dục có hàng loạt các biến đổi về hình thái cấu tạo và chức năng sinh lý.

Lợn nái sau khi thành thục về tính thì bắt đầu có biểu hiện động dục, lần thứ nhất thường biểu hiện không rõ ràng, cách sau đó 15 - 16 ngày lại động dục, lần này biểu hiện rõ ràng hơn và sau đó đi vào quy luật mang tính chu kỳ

Một chu kỳ tính ở lợn thường dao động trong khoảng 18 - 22 ngày, trung bình 21 ngày theo Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn (2006) [28] cho biết: Chu kỳ động dục của gia súc chia làm 4 giai đoạn: giai đoạn trước động dục, giai đoạn động dục, giai đoạn sau động dục và giai đoạn nghỉ ngơi:

- Giai đoạn trước động dục (kéo dài 2 - 3 ngày) Đây là giai đoạn từ khi thể vàng tiêu huỷ đến lần động dục tiếp theo, chuẩn bị điều kiện cho cơ quan sinh dục lợn cái và trứng để tiếp nhận tinh trùng, đón trứng và thụ tinh

+ Bao noãn phát triển về khối lượng và chất lượng, nổi lên trên bề mặt buồng trứng và tăng tiết Oestrogen, kích thước noãn bao thay đổi rất nhanh, đầu giai đoạn này kích thước của noãn bao có đường kính là 4mm, đến cuối giai đoạn kích thước của noãn bao có đường kính 10 - 12mm

+ Tuyến sinh dục phụ tiết dịch nhày, loãng làm trơn cơ quan sinh dục

- Giai đoạn động dục (kéo dài 2 - 3 ngày)

Khi gia súc đã có biểu hiện tính dục thì đây là giai đoạn tiếp theo, giai đoạn này gồm 3 thời kỳ liên tiếp là: hưng phấn, chịu đực, và hết chịu đực Động dục là giai đoạn quan trọng nhưng thời gian lại ngắn Đối với lợn là 2 -

3 ngày, đặc điểm của giai đoạn này là:

+ Lượng Oestrogen tiết ra đạt mức cao nhất do đó gây hưng phấn mạnh mẽ toàn thân

+ Các biểu hiện ở cơ quan sinh dục: âm hộ sung huyết, tấy sưng lên chuyển từ hồng nhạt sang hồng đỏ, càng gần tới thời điểm rụng trứng thì âm hộ càng thẫm màu chuyển màu mận chín Tử cung hé mở rồi mở rộng, âm đạo tiết niêm dịch nhiều chuyển từ trong suốt và loãng sang đặc dần, keo dính có tác dụng bôi trơn cơ quan sinh dục và ngăn chặn sự xâm nhập của vi khuẩn

+ Các biểu hiện về thần kinh: thần kinh hưng phấn, con vật ít ăn hoặc bỏ ăn, bồn chồn không yên tĩnh hoặc kêu rít phá chuồng, nhảy lên lưng con khác lúc đầu chưa cho con đực nhảy lên sau đó mới chịu đực, mắt đờ đẫn đứng yên cho con đực nhảy

+ Trứng rụng: ở lợn sau động dục 24 - 30 giờ thì trứng rụng và thời gian rụng trứng kéo dài 10 - 15 giờ vì vậy nên phối 2 lần cho lợn sẽ có hiệu quả thụ thai cao

Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi

Trong chăn nuôi ngoài giống và thức ăn thì công tác thú y luôn được trú trọng Đây là điều kiện không thể thiếu để công tác chăn nuôi luôn bền vững và hiệu quả Công tác thú y gồm phòng bệnh và trị bệnh cho vật nuôi, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạṇ chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt :

Theo Nguyễn Ngọc Phục (2005) [25] bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn

Theo Trần Văn Phùng và cs, (2004) [24] từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ, ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như

Crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ

- Vệ sinh chuồng trại và thiết bịchăn nuôi

Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh.Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụ chăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi

Phòng bệnh bằng vaccine là biện pháp phòng bệnh chủđộng có hiệu quả nhất Theo Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [11] vaccine là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh truyền nhiễm nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô độc bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vaccine thế hệ mới - vaccine công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễm dịch làm cho động vật có miễm dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ướng

Khi đưa vaccine vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay mà phải sau 7 - 21 ngày (tuỳ theo từng loại vaccine) mới có miễn dịch

Theo Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [11] nguyên tắc để điều trị bệnh là:

- Toàn diện: phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc

- Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan

- Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng

- Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

- Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

- Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa

Theo Nguyễn Bá Hiên, Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [11] các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:

- Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những chuyển biến của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh

- Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)

- Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ

- Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dung thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:

+ Phải chẩn đoán đúng bệnh đểdùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn.

+ Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từđầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

+ Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh

+ Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

+ Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

Nh ữ ng hi ể u bi ế t v ề m ộ t s ố b ệnh thườ ng g ặp trên đàn lợn nái đẻ và l ợ n nái nuôi con

Theo các tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [3], Phạm Sỹ Lăng và cs

(2002) [15], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

- Công tác phối giống không đúng kỹ thuật, nhất là phối giống bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo làm xây xát niêm mạc tử cung, dụng cụ dẫn tinh không được vô trùng khi phối giống có thể từ ngoài vào tử cung lợn nái gây viêm

- Lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng thủ thuật gây tổn thương niêm mạc tử cung, vi khuẩn xâm nhập gây nhiễm trùng, viêm tử cung kế phát

- Lợn nái sau đẻ bị sát nhau xử lý không triệt đểcũng dẫn đến viêm tử cung

- Lợn nái phối giống trực tiếp, lợn đực mắc bệnh viêm bao dương vật hoặc mang vi khuẩn từ những con lợn nái khác đã bị viêm tử cung, viêm âm đạo truyền sang cho lợn khoẻ

- Do kế phát từ một số bệnh truyền nhiễm như: sẩy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… gây viêm.

- Do vệ sinh chuồng đẻ, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước và sau đẻ không sạch sẽ, trong thời gian đẻ cổ tử cung mở vi sinh vật có điều kiện để xâm nhập vào gây viêm Đoàn Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [7] cho biết: Nguyên nhân gây viêm tử cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết

(Streptococcus hemolitica) và các loại Proteus vulgais, Klebriella, E.coli….

Lê Văn Năm (1999) [19], cho rằng có rất nhiều nguyên nhân từ ngoại cảnh gây bệnh như: do thức ăn nghèo dinh dưỡng, do can thiệp đỡ đẻ bằng dụng cụ hay thuốc sản khoa sai kỹ thuật dẫn đến Muxin của chất nhày các cơ quan sinh dục bị phá hủy hoặc kết tủa, kết hợp với việc chăm sóc nuôi dưỡng bất hợp lý và thiếu vận động đã làm chậm quá trình thu teo sinh lý của dạ con

(trong điều kiện cai sữa bình thường dạ con trở về khối lượng kích thước ban đầu khoảng 3 tuần sau đẻ)

Bệnh còn xảy ra do thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý: khẩu phần thiếu hay thừa protein trước, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung Lợn nái sử dụng quá nhiều tinh bột gây đẻ khó, viêm tử cung do xây xát Khoáng chất, vitamin cũng ảnh hưởng đến viêm tử cung.

Theo Nguyễn Thị Thuận (2010) [31], khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin A gây sưng niêm mạc, sót nhau

Nhiễm khuẩn tử cung qua đường máu là do vi khuẩn sinh trưởng ở một cơ quan nào đó có kèm theo bại huyết, do vậy có trường hợp lợn hậu bị chưa phối nhưng đã bị viêm tử cung

Thể hiện qua các thể viêm sau:

- Viêm dạng nhờn là thể viêm nhẹ xuất hiện sau khi sinh 2 - 3 ngày, niêm mạc tử cung bị viêm nhẹ, tử cung tiết dịch nhờn, trong hoặc đục có mùi tanh vài ngày sau tiết dịch nhờn giảm lại đặc và hết hẳn Con vật không sốt họặc sốt nhẹ, vẫn cho con bú bình thường

- Viêm dạng mủ là thể viêm nặng thường xuất hiện trên con vật có thể trạng xấu, số lượng vi sinh vật nhiễm vào tử cung nhiều, cũng có thể viêm tử cung dạng nhờn kế phát Con vật thường sốt 40 - 41ºC, khát nước, kém ăn, nằm nhiều, tiểu ít, nước tiểu vàng, phân có màng nhầy, mệt mỏi, ít cho con bú hay đè con.

- Viêm dạng mủ lẫn máu là phản ứng ăn sâu vào lớp tử cung, tổn thương mạch mao quản gây chảy máu Các biểu hiện như: viêm sền sệt có mủ lẫn máu mùi rất tanh Thân nhiệt rất cao sốt kéo dài Không ăn kéo dài, sản lượng sữa giảm hoặc mất hẳn, thở nhiều khát nước, mệt mỏi kém phản xạ với tác động bên ngoài đôi khi đè con

Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ và được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản của con vật, khi con vật bị viêm tử cung lúc con vật động dục niêm dịch không thoát ra được do cổ tử cung bị tắc

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [8] và Trần Thị Dân (2004) [5], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả sau:

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sẩy thai

Lớp cơ trơn ở thành tử cung có đặc tính co thắt Khi mang thai, sự co thắt của cơ tử cung giảm đi dưới tác dụng của Progesterone, nhờ vậy phôi có thể bám chặt vào tử cung

Khi tử cung bị viêm cấp tính do nhiễm trùng, tế bào lớp nội mạc tử cung tiết nhiều prostaglandin F2α (PGF2α), PGF2α gây phân huỷ thể vàng ở buồng trứng bằng cách bám vào tế bào của thể vàng để làm chết tế bào và gây co mạch hoặc thoái hoá các mao quản ở thể vàng nên giảm lưu lượng máu đi đến thể vàng Thể vàng bị phá huỷ, không tiết Progesterone nữa, do đó hàm lượng

Progesterone trong máu sẽ giảm làm cho tính trương lực co của cơ tử cung tăng nên gia súc cái có chửa dễ bị sẩy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc thai chết lưu Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

Khi lợn nái bị nhiễm trùng tử cung, trong đường sinh dục thường có mặt của vi khuẩn E.coli, vi khuẩn này tiết ra nội độc tố làm ức chế sự phân tiết kích thích tố tạo sữa prolactin từ tuyến yên, do đó lợn nái ít hoặc mất hẳn sữa Lượng sữa giảm, thành phần sữa cũng thay đổi nên lợn con thường bị tiêu chảy, còi cọc

- Lợn nái bị viêm tử cung mạn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại Nếu tử cung bị viêm mạn tính thì sự phân tiết PGF2α giảm, do đó thể vàng vẫn tồn tại, vẫn tiếp tục tiết Progesterone

Tình hình nghiên c ứu trong và ngoài nướ c

Phương pháp theo dõi

K ế t qu ả th ự c hi ện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡ ng cho l ợ n nái và l ợ n con theo

K ế t qu ả th ự c hi ệ n các bi ệ n pháp phòng b ệ nh cho l ợ n nái sinh s ả n t ạ i tr ạ i

K ế t qu ả ch ẩn đoán, điề u tr ị b ệ nh ở đàn lợ n nái sinh s ả n và l ợ n con theo mẹ tại trại lợn Nhâm Xuân Tiến, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình

Ngày đăng: 24/11/2021, 14:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Barbara E.Straw (2001), C ẩm nang chăn nuôi lợ n, B ộ nông nghi ệ p và phát tri ể n nông thôn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang chăn nuôi lợn
Tác giả: Barbara E.Straw
Năm: 2001
2. Tr ầ n Ng ọ c Bích, Nguy ễ n Th ị C ẩ m Loan, Nguy ễ n Phúc Khánh (2016), “Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hi ệ u qu ả điề u tr ị c ủ a m ộ t s ố lo ại kháng sinh”, T ạ p chí Khoa h ọ c k ỹ thu ậ t Thú y, T ậ p XXIII (s ố 5), Tr.51 – 56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh”," Tạp chí Khoa học kỹ thuật Thú y
Tác giả: Tr ầ n Ng ọ c Bích, Nguy ễ n Th ị C ẩ m Loan, Nguy ễ n Phúc Khánh
Năm: 2016
3. Nguyễn Xuân Bình (2000), Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thịt , Nxb Nông nghiệp - Hà Nội, Trang 29 - 35 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trị bệnh heo nái - heo con - heo thịt
Tác giả: Nguyễn Xuân Bình
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2000
4. Bilken (1994), Qu ả n lý l ợ n nái và l ợ n cái h ậ u b ị để sinh s ả n có hi ệ u qu ả . 5. Trần Thị Dân (2004), Sinh sản heo nái và sinh lý heo con, Nxb Nôngnghiệp Tp. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý lợn nái và lợn cái hậu bịđể sinh sản có hiệu quả." 5.Trần Thị Dân (2004), "Sinh sản heo nái và sinh lý heo con
Tác giả: Bilken (1994), Qu ả n lý l ợ n nái và l ợ n cái h ậ u b ị để sinh s ả n có hi ệ u qu ả . 5. Trần Thị Dân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Tp. HCM
Năm: 2004
6. Ph ạ m H ữu Doanh, Lưu Kỷ (2003), K ỹ thu ậ t nuôi l ợ n nái m ắ n đẻ sai con, Nxb Nông nghi ệ p, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật nuôi lợn nái mắn đẻ sai con
Tác giả: Ph ạ m H ữu Doanh, Lưu Kỷ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
7. Đoàn Kim Dung, Lê Thị Tài (2002), Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu, Nxb Nông nghiệp - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng và trị bệnh lợn nái để sản xuất lợn thịt siêu nạc xuất khẩu
Tác giả: Đoàn Kim Dung, Lê Thị Tài
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2002
8. Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh (2002), Sinh sản gia súc, Nxb Nông nghiệp - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản gia súc
Tác giả: Trần Tiến Dũng, Dương Đình Long, Nguyễn Văn Thanh
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp - Hà Nội
Năm: 2002
9. Nguy ễn Văn Điề n (2015), Kinh nghi ệ m x ử lý b ệ nh viêm t ử cung ở l ợ n nái sinh s ả n, Trung tâm gi ố ng v ậ t nuôi Phú Th ọ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh nghiệm xử lý bệnh viêm tử cung ở lợn nái sinh sản
Tác giả: Nguy ễn Văn Điề n
Năm: 2015
10. Văn Lệ H ằng, Đạo Đức Thà, Chu Đình Tớ i (2009), Sinh s ả n v ậ t nuôi, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh sản vật nuôi
Tác giả: Văn Lệ H ằng, Đạo Đức Thà, Chu Đình Tớ i
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2009
11. Nguy ễ n Bá Hiên, Hu ỳ nh Th ị M ỹ L ệ (2012), Giáo trình b ệ nh truy ề n nhi ễ m thú y, Nxb Đạ i h ọ c nông nghi ệ p, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh truyền nhiễm thú y
Tác giả: Nguy ễ n Bá Hiên, Hu ỳ nh Th ị M ỹ L ệ
Nhà XB: Nxb Đại học nông nghiệp
Năm: 2012
12. T ừ Quang Hi ển, Phan Đình Thắ m, Ngôn Th ị Hoán (2001), Giáo trình th ứ c ăn và dinh dưỡ ng h ọ c gia súc – gia c ầ m, Nxb Nông nghiệp Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình thức ăn và dinh dưỡng học gia súc – gia cầm
Tác giả: T ừ Quang Hi ển, Phan Đình Thắ m, Ngôn Th ị Hoán
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2001
13. Nguy ễn Đứ c Hùng, Nguy ễ n M ạ nh Hà, Tr ần Huê Viên, Phan Văn Kiể m (2003), Giáo trình Truy ề n gi ố ng nhân t ạ o v ậ t nuôi, Nxb Nông nghi ệ p, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Truyền giống nhân tạo vật nuôi
Tác giả: Nguy ễn Đứ c Hùng, Nguy ễ n M ạ nh Hà, Tr ần Huê Viên, Phan Văn Kiể m
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2003
14. F.Madec, Neva.C (1995), “Viêm tử cung và ch ức năng sinh sả n c ủ a l ợ n nái”, T ạ p chí khoa h ọ c k ỹ thu ậ t thú y, tập 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viêm tử cung và chức năng sinh sản của lợn nái”", Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: F.Madec, Neva.C
Năm: 1995
15. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung (2002), Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị, tập II, Nxb Nông nghiệp, Trang 44 - 52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh phổ biến ở lợn và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân, Trương Văn Dung
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
16. Nguy ễn Quang Linh, Hoàng Nghĩa Duyệt, Phùng Thăng Long (2005), Giáo trình k ỹ thu ật chăn nuôi lợ n, Nxb Nông nhiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kỹ thuật chăn nuôi lợn
Tác giả: Nguy ễn Quang Linh, Hoàng Nghĩa Duyệt, Phùng Thăng Long
Nhà XB: Nxb Nông nhiệp
Năm: 2005
17. Nguy ễn Đức Lưu, Nguyễ n H ữu Vũ (2004), M ộ t s ố b ệ nh quan tr ọ ng ở l ợ n, Nxb Nông nghi ệ p, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh quan trọng ởlợn
Tác giả: Nguy ễn Đức Lưu, Nguyễ n H ữu Vũ
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
18. Lê H ồ ng M ậ n (2002), Chăn nuôi lợ n nái sinh s ả n ở nông h ộ , Nxb Nông nghi ệ p Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi lợn nái sinh sản ở nông hộ
Tác giả: Lê H ồ ng M ậ n
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp Hà Nội
Năm: 2002
19. Lê Văn Năm (1999), C ẩm nang bác sĩ thú y hướ ng d ẫ n phòng và tr ị b ệ nh l ợ n cao s ả n, Nxb Nông nghi ệ p, Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cẩm nang bác sĩ thú y hướng dẫn phòng và trị bệnh lợn cao sản
Tác giả: Lê Văn Năm
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
20. Nguy ễn Tài Năng, Phạm Đức Chương, Cao Văn, Nguyễ n Th ị Quyên (2016), Giáo trình Dượ c lý h ọ c Thú y, Nxb Đạ i h ọc Hùng Vương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Dược lý học Thú y
Tác giả: Nguy ễn Tài Năng, Phạm Đức Chương, Cao Văn, Nguyễ n Th ị Quyên
Nhà XB: Nxb Đại học Hùng Vương
Năm: 2016
21. Nguyễn Thị Ngân, Phan Thị Hồng Phúc, Nguyễn Quang Tính (2016), Giáo trình ch ẩn đoán b ệ nh gia súc, gia c ầ m, Nxb Nông Nghi ệ p Hà N ộ i Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chẩn đoán bệnh gia súc, gia cầm
Tác giả: Nguyễn Thị Ngân, Phan Thị Hồng Phúc, Nguyễn Quang Tính
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp Hà Nội
Năm: 2016

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm