Ý nghĩa thực tiễn Đề tài nghiên cứu và đánh giá một cách tổng quát hiệu quả hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm từ bò cho người dân chăn nuôi bò tại xã Lương Thông, từ đó nhận thức
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
TRIỆU THỊ DIÊM
THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH CHĂN NUÔI
BÒ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ LƯƠNG THÔNG, HUYỆN THÔNG NÔNG,
TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
- -
TRIỆU THỊ DIÊM
THỰC TRẠNG, GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH CHĂN NUÔI
BÒ TRÊN ĐỊA BÀN XÃ LƯƠNG THÔNG, HUYỆN THÔNG NÔNG,
TỈNH CAO BẰNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Định hướng đề tài : Hướng nghiên cứu Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Giảng viên hướng dẫn : TS Hà Thị Hòa
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Th ực tập tốt nghiệp là giai đoạn cần thiết và hết sức quan trọng của mỗi sinh viên, đó là thời gian để sinh viên tiếp cận với thực tế, nhằm củng cố và
v ận dụng những kiến thức mà mình đã học được trong nhà trường
Th ời gian thực tập tuy không dài nhưng đem lại cho em những kiến
th ức bổ ích và những kinh nghiệm quý báu, đến nay em đã hoàn thành bài tốt nghiệp khóa luận của mình
Em xin bày t ỏ lòng biết ơn chân thành tới các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Kinh t ế & PTNT, người đã giảng dạy và đào tạo, hướng dẫn chúng em
và đặc biệt là cô giáo TS Hà Th ị Hòa người đã trực tiếp hướng dẫn em một
cách t ận tình và chu đáo trong suốt thời gian thực tập và hoàn thành khoá luận này
Em xin g ửi lời cảm ơn tới các bác, cô chú, anh chị đang công tác tại , các ban ngành đoàn thể cùng nhân dân trong xã đã nhiệt tình giúp đỡ chỉ bảo
em hoàn thành báo cáo t ốt nghiệp này
Do th ời gian có hạn, lại bước đầu làm quen với phương pháp mới chắc chắn báo cáo không tránh khỏi thiếu xót Em rất mong nhận được ý
ki ến đóng góp của các thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn sinh viên để khóa
lu ận này được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành c ảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 01 tháng 06 năm 2019
Sinh viên
Tri ệu Thị Diêm
Trang 4M ỤC LỤC
Ph ần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính c ấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
1.3.3 Ý nghĩa đối với sinh viên 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Phát tri ển chăn nuôi bò 3
2.1.1 Khái ni ệm về chăn nuôi bò 3
2.1.2 N ội dung của phát triển chăn nuôi bò 4
2.1.3 Đặc điểm của chăn nuôi bò 5
2.1.4 Vai trò của ngành chăn nuôi bò 6
2.1.5 Các y ếu tố ảnh hưởng tới phát triển chăn nuôi bò 9
2.2 Cơ sở thực tiễn 18
2.2.1 Tình hình chăn nuôi bò trên thế giới 18
2.2.2 Tình hình chăn nuôi bò ở Việt nam 21
Ph ần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 30
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 30
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 30
3.3 N ội dung nghiên cứu của đề tài 30
3.4.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 30
3.4.2 Phương pháp thu thập thông tin 30
3.2.3.4 Phương pháp phân tích SWOT 32
3.2.4 Các chỉ tiêu phân tích 33
Trang 53.2.4.1 Ch ỉ tiêu phân tích tình hình chung về chăn nuôi bò trong toàn xã 33
Ph ần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội 38
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 38
4.1.2 Kinh tế - xã hội 44
4.2 Th ực trạng phát triển chăn nuôi bò tại xã Lương Thông 51
4.2.1 S ố lượng và tốc độ phát triển đàn bò của xã Lương Thông 51
4.2.2 Biến động cơ cấu đàn bò của xã Lương Thông 51
4.2.3 Bi ến động nguồn thức ăn cho chăn nuôi bò của xã Lương Thông 53
4.3 Th ực trạng phát triển chăn nuôi bò ở hộ nông dân xã Lương Thông 55
4.3.1 Quy mô chăn nuôi bò của hộ 55
4.3.2 M ục đích chăn nuôi bò của hộ 56
4.3.3 Th ức ăn cho chăn nuôi bò của hộ 56
4.3.4 Phương thức chăn nuôi bò của hộ 58
4.3.5 Tình hình chăm sóc nuôi dưỡng bò của hộ 59
4.3.6 Tình hình tiêu th ụ bò của hộ 62
4.3.7 Tình hình thu nhập và hiệu quả kinh tế chăn nuôi bò của hộ 67
4.3.8 Phân tích SWOT 71
4.4 Gi ải pháp phát triển chăn nuôi bò tại xã Lương Thông 72
4.4.1.Nhóm gi ải pháp khoa học kỹ thuật chăn nuôi bò 72
4.4.2 Giải pháp về tổ chức sản xuất chăn nuôi bò 74
4.4.3 Th ị trường tiêu thụ 75
4.4.5 Nhóm gi ải pháp về chính sách 76
K ẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 78
1 K ết luận 78
2 Ki ến nghị 80
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 82
PH Ụ LỤC
Trang 6DANH M ỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất xã Lương Thông qua 3 năm (2016 - 2018) 41 Bảng 4.2: Tình hình dân số và lao động xã Lương Thông năm (2016 -2018) 45
B ảng 3.3: Cơ cấu kinh tế của xã Lương Thông qua 3 năm (2016 - 2018) 47
B ảng 4.4: Diện tích, năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của xã qua 3 năm (2016 - 2018) 49 Bảng 4.5: Tình hình chăn nuôi của xã qua 3 năm (2016 - 2018) 50
B ảng 4.6 Bãi chăn thả và diện tích một số cây trồng có phụ phẩm làm thức ăn chăn nuôi chủ yếu 54
B ảng 4.7 Tổng hợp ý kiến đánh giá về nguồn thức ăn của các hộ điều tra 57
B ảng 4.8 Đối tượng mua bò 65
B ảng 4.9 Tỷ lệ hộ thường xuyên biết về thông tin giá cả bò trên thị trường 66
B ảng 4.10 Tình hình thu nhập bình quân của hộ 67
B ảng 4.11 Kết quả và hiệu quả chăn nuôi bò của hộ theo các phương thức chăn nuôi 68 Bảng 4.12 Kết quả và hiệu quả chăn nuôi bò của hộ theo cơ cấu giống 70
Trang 7DANH M ỤC CÁC HÌNH
Đồ thị 4.1 Cơ cấu bò theo mục đích chăn nuôi của xã Lương Thông [11] 52
Đồ thị 4.2 Cơ cấu về giống bò của xã Lương Thông [11] 53
Đồ thị 4.3 Quy mô chăn nuôi bò của hộ theo xóm 55
Đồ thị 4.4 Quy mô chăn nuôi bò của hộ theo mục đích chăn nuôi 56
Đồ thị 4.5 Cơ cấu phương thức chăn nuôi bò theo xóm 58
Đồ thị 4.6 Tình hình tiêm phòng của các hộ chăn nuôi 60
Đồ thị 4.7 Phương pháp phối giống cho bò cái 62
Trang 8Ph ần 1
M Ở ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi bò nói riêng là một bộ phận chính trong
hệ thống canh nông của người nông dân Nó có vai trò thiết thực trong các hộ gia đình và đem lại một nguồn thu nhập bằng tiền đáng kể cho rất nhiều người Nếu phát triển nghề này sẽ cơ bản giúp người dân tăng thu nhập nhanh, khắc phục cơ
bản sự phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên một cách nặng nề, đặc biệt các xã vùng cao miền núi, góp phần xoá đói, giảm nghèo cho đồng bào vùng cao nói riêng, góp
phần tăng thu nhập cho nền kinh tế quốc dân
Tuy nhiên, chăn nuôi bò nước ta hiện nay chưa đạt mức chăn nuôi tiên tiến, quy
mô lớn, mang tính sản xuất hàng hoá cao, đặc biệt ở các huyện vùng cao Bên cạnh
đó, một trong những trở ngại lớn đối với hoạt động phát triển sản xuất sản phẩm này nữa là mối quan ngại của người dân khâu tiêu thụ sản phẩm
Xã Lương Thông là một xã miền núi của huyện Thông Nông tỉnh Cao Bằng, có
diện tích tự nhiên là 69,76 km2, trong đó có một diện tích đáng kể để chăn nuôi và sản xuất thức ăn gia súc Điều kiện khí hậu tương đối phù hợp với việc phát triển các giống vật nuôi Đây là điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi để xã phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hoá Bên cạnh đó, điều kiện xã hội có một thế mạnh lớn về nhân lực giá nhân công rẻ, người dân có nhiều kinh nghiệm trong chăn nuôi
Mặc dù có nhiều lợi thế để phát triển kinh tế, điều kiện sống của người dân còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là người dân ở các xã vùng cao Một trong những khó khăn lớn của người dân là lựa chọn sản phẩm sản xuất, tìm đầu ra và nâng cao giá trị gia tăng cho các sản phẩm chăn nuôi được sản xuất tại địa phương Những tồn tại này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình mở rộng quy mô sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, khai thác lợi thế so sánh của đại phương Vì vậy,
vấn đề phát triển chăn nuôi bò là vấn đề mà cả người dân và lãnh đạo địa phương rất quan tâm Xuất phát từ tình hình thực tiễn đó tôi chọn đề tài “Thực trạng, giải
pháp phát tri ển mô hình chăn nuôi bò trên địa bàn xã Lương Thông, huyện Thông Nông, t ỉnh Cao Bằng” làm khóa luận tốt nghiệp
Trang 91.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng phát triển chăn nuôi bò tại xã Lương Thông
- Đề xuất các giải pháp chủ yếu để phát triển chăn nuôi bò của xã Lương Thông trong thời gian tới
1.3 Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Là nguồn cơ sở dữ liệu cho các nghiên cứu về sau:
- Củng cố kiến thức thực tiến trong lĩnh vực nông nghiệp về sau
- Nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương nghiên cứu
- Nâng cao kiến thức kĩ năng và rút ra nhiều kinh nghiệm thực tế cho công tác nghiên cứu sau này
- Xác định cơ sở khoa học, làm sáng tỏ lý luận về phương thức phát triển chăn nuôi bò tại địa phương
- Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài nghiên cứu và đánh giá một cách tổng quát hiệu quả hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm từ bò cho người dân chăn nuôi bò tại xã Lương Thông, từ
đó nhận thức được vị trí của chăn nuôi bò đối với sự phát triển kinh tế của địa phương Qua kết quả nghiên cứu có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho đội ngũ cán bộ Phòng Nông nghiệp huyện và các cơ quan liên quan trong việc phát triển kinh tế xã hội, chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại địa phuơng nhằm góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp nông hộ, đặc biệt là người dân chăn nuôi bò
1.3.3 Ý nghĩa đối với sinh viên
Quá trình thực tập tốt nghiệp giúp cho sinh viên có điều kiện tiếp cận với thực tế, giúp sinh viên củng cố kiến thức, kỹ năng học Đồng thời có cơ hội vận dụng vào thực tế
Trang 10Ph ần 2
T ỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Phát triển chăn nuôi bò
2.1 1 Khái niệm về chăn nuôi bò
- Khái ni ệm chăn nuôi bò
Bò là một loại tài sản có giá trị của nông dân Trước kia khi máy móc chưa phát triển bò được dùng làm sức kéo còn phổ biến, là đầu cơ nghiệp của nhà nông Ngày nay, ở nhiều nơi máy móc đã thay thế dần vai trò của bò trong khâu làm đất, nhu cầu sử dụng thịt bò làm thực phẩm của người tiêu dùng ngày càng cao, con bò
đã trở thành một loại tài sản đặc biệt, một loại hàng hóa có giá trị của người nông dân và chăn nuôi bò với mục đích lấy thịt đã trở thành một ngành kinh tế sản xuất hàng hóa
Sản xuất hàng hóa là một thuộc tính phổ biến, một tất yếu khách quan của sự phát triển sản xuất nói chung và chăn nuôi bò nói riêng Các sản phẩm của chăn nuôi
bò được tiêu thụ rộng khắp ở mọi nơi Người nông dân ngày càng chú trọng phát triển chăn nuôi bò theo hướng sản xuất hàng hóa, điều đó thể hiện thông qua việc họ đầu
tư nhiều hơn về nhân lực, tài lực, vật lực cho chăn nuôi, vận dụng các kiến thức kỹ thuật chăn nuôi bò tiên tiến như kỹ thuật cải tạo đàn bò, lựa chọn giống bò có năng
suất và chất lượng cao, kỹ thuật chăm súc đàn bò, kỹ thuật sản xuất thức ăn chăn nuôi Quy mô, cơ cấu đàn bò và phương thức chăn nuôi theo xu hướng tăng số lượng, chất lượng và chăn nuôi theo phương thức công nghiệp ngày càng cao tại các nông
hộ, các hợp tác xã, các trang trại
Là sản phẩm hàng hóa nên bò không khỏi ảnh hưởng bởi sự tác động của các yếu tố thị trường như giá cả, cạnh tranh, thị phần tiêu thụ Vì vậy, để phát triển chăn nuôi bò cần phải có thị trường tiêu thụ và giá cả ổn định
Chăn nuôi bò có thể là quá trình chăn nuôi khép kín (từ chăn nuôi bò cái sinh
sản đến nuôi bê thịt) hoặc chăn nuôi không khép kín Trong quy trình chăn nuôi bò không khép kín, phải chú trọng chăn nuôi bò cái sinh sản Trong chăn nuôi bò không khép kín, phải chú ý lựa chọn chất lượng bê giống khi nuôi thịt Thực hiện đầy đủ quy trình kỹ thuật trong chăn nuôi bò là cơ sở đảm bảo phát huy tối đa đặc
Trang 11tính di truyền của bò giống để có năng suất cao và chất lượng thịt tốt
Sản phẩm trong chăn nuôi bò là trọng lượng thịt bò hơi thu được trong chu kỳ sản xuất, là trọng lượng thịt tăng do kết quả của quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng Trọng lượng thịt tăng trong chăn nuôi bò gồm trọng lượng bê dưới 12 tháng tuổi, trọng lượng
lớn lên của đàn từ 13 đến 24 tháng tuổi, trọng lượng thịt tăng của đàn bò tơ và bò loại thải vỗ béo Trong quá trình nuôi bò với mục đích lấy thịt, nếu bê đủ tiêu chuẩn giống có thể được chuyển sang nuôi làm đàn giống sinh sản (Cục chăn nuôi, 2016)
2.1.2 Nội dung của phát triển chăn nuôi bò
Phát triển chăn nuôi bò bao gồm sự gia tăng về số lượng, năng suất và chất lượng đàn bò, đồng thời là sự biến đổi cơ cấu đàn bò, cơ cấu giá trị sản phẩm theo hướng hiệu quả và phát triển bền vững
Vì vậy, phát triển chăn nuôi bò phải thực hiện đồng thời nhiều nội dung khác nhau, trong đó tập trung vào các nội dung chủ yếu là:
- Tăng quy mô tổng đàn bò trong vùng (thể hiện tốc độ tăng trưởng trong chăn nuôi bò) bằng cách nhân giống, mua thêm con giống và mở rộng diện tích chăn thả, áp dụng các hình thức tổ chức chăn nuôi phù hợp với điều kiện của hộ, của vùng;
- Tăng năng suất, chất lượng bò bằng cách áp dụng giống mới có tầm vóc to,
trọng lượng lớn và tỷ lệ thịt sẻ cao, khả năng chống chịu bệnh tật tốt, thích nghi với điều kiện chăn thả từng vùng hay khu vực
- Đảm bảo cơ cấu đàn bò phù hợp với tái sản xuất đàn
- Tổ chức các phương thức chăn nuôi phù hợp, phát huy có hiệu quả tiềm năng kinh tế và thế mạnh của từng vùng Áp dụng tốt quy trình kỹ thuật chăn nuôi bò, công tác chăm sóc nuôi dưỡng, vệ sinh phòng bệnh, tạo ra sản phẩm thịt sạch, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm phục vụ nhu cầu con người
- Phát triển chăn nuôi bò phải cân đối với sự tăng trưởng chung của sản xuất nông nghiệp gắn với tăng trưởng kinh tế của vùng và khu vực, đảm bảo vệ sinh môi trường sống cho con người
- Trong chăn nuôi bò, sự phát triển về số lượng và chất lượng có quan hệ hữu
cơ với nhau, sự phát triển về chất lượng là nhân tố làm tăng nhanh sự phát triển về
Trang 12số lượng và ngược lại Với những giống bò có năng suất cao, khả năng chống chịu
tốt, thích ứng được các điều kiện chăn thả, cùng việc tổ chức chăn nuôi phù hợp là
cơ sở cho phát triển nhanh quy mô đàn bò, tăng lượng sản phẩm thu được Việc phát triên nhanh quy mô đàn bò, tăng lượng sản phẩm thu được là điều kiện hiệu
quả cao trong chăn nuôi
Để tạo điều kiện phát triển chăn nuôi bò thuận lợi, việc phát triển và hoàn thiện các cơ sở hạ tầng và các dịch vụ phục vụ cho chăn nuôi bò là vấn đề cấp thiết, đặc biệt là
hệ thống dịch vụ cung cấp giống, dịch vụ thức ăn gia súc, dịch vụ thú y, hệ thống tiêu thụ sản phẩm như chợ, cơ sở giết mổ, cơ sở chế biến thực phẩm
Thực hiện tốt các nội dung trên sẽ dẫn đến hiệu quả sản xuất từ chăn nuôi bò cao, thu nhập của người chăn nuôi bò tăng lên, đời sống của người chăn nuôi bò được cải thiện Trong chăn nuôi bò, hiệu quả kinh tế thu được từ phần chênh lệch
tiền thu bán sản phẩm trừ đi chi phí trong quá trình nuôi và được đánh giá qua các chỉ tiêu tổng thu nhập của hộ, thu nhập ròng/100kg thịt tăng, thu nhập ròng/công lao động, thu nhập ròng/đồng vốn bỏ ra, thu nhập ròng/tổng thu nhập từ chăn nuôi bò
Phát triển chăn nuôi bò, không chỉ chú ý các giải pháp tăng trưởng kinh tế của ngành sản xuất này mà còn phải chú ý cả đến các vấn đề nhằm cải thiện chất lượng sản phẩm, trên cơ sở bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái và đảm bảo sức
khỏe cho con người
2.1 3 Đặc điểm của chăn nuôi bò
Bò là loài gia súc ăn cỏ, trong cơ cấu khẩu phần ăn hàng ngày thì cỏ và thức
ăn thô xanh chiếm tới 90%, bình quân một năm bò sử dụng 9.125kg cỏ tươi/con (25kg/ngày/con) [10], đó là những loại thức ăn gia súc rẻ tiền, thậm chí không cần phải mua, nhưng lại có khả năng tăng trọng khá cao Vì vậy, trong quy hoạch phát triển chăn nuôi bò phải tính đến diện tích đồng cỏ phù hợp, bảo đảm thức ăn cho đàn bò Tùy theo giống, giai đoạn tuổi và kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng mà bò có
mức tăng trọng khác nhau Các giống bò ngoại hướng thịt có khả năng tăng trọng 1 ngày đêm khoảng 1000g hoặc cao hơn Thực tế cho thấy, nuôi bò sẽ thu được lợi nhuận cao hơn so với một số loại vật nuôi khác với cùng một mức đầu tư Tuy nhiên, nuôi bò cần mức đầu tư ban đầu về giống và chuồng trại cao hơn và thời gian
Trang 13thu lợi lâu hơn vì chu kỳ sinh học của bò dài hơn các vật nuôi khác
Bò là gia súc nhai lại có dạ dày 4 túi, nhờ có cấu tạo đặc biệt của dạ dày và sự cộng sinh của khu hệ vi sinh vật dạ cỏ mà bò có khả năng tiêu hóa các loại thức ăn như rơm lúa, cỏ và các loại thức ăn thô xơ khác, là những loại thức ăn ít có giá trị dinh dưỡng hoặc không có giá trị dinh dưỡng đối với động vật có dạ dày đơn Vì vậy, việc phát triển chăn nuôi bò không tạo ra sự cạnh tranh lương thực giữa người
và gia súc khác như là chăn nuôi các gia súc dạ dày đơn và gia cầm Trong điều
kiện kinh tế khó khăn, lương thực hạn chế, chúng ta vẫn có thể chăn nuôi bò nếu biết khai thác hợp lý các nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp, công nghiệp chế biến
và các thức ăn sẵn có của địa phương Đặc điểm trên là một thuận lợi đối với các hộ nông dân, đặc biệt là các hộ nghèo không có cơ hội đầu tư nhiều thức ăn tinh, khoáng chất cho chăn nuôi bò
Trên quan điểm phát triển bền vững, việc bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề ”nóng” mà các quốc gia trên thế giới quan tâm, thì việc tận dụng các nguồn phế phụ phẩm làm thức ăn cho bò lại càng quan trọng Nếu những phụ phẩm
này không được tận dụng làm thức ăn cho gia súc thì sẽ bị thối rữa và gây ô nhiễm môi trường Nếu các loại phế phụ phẩm và rơm lúa để đun nấu (như đang làm ở nhiều vùng đồng bằng), hoặc đốt đi lấy một ít tro bón ruộng như một số nơi đã và đang làm, thì sẽ thải vào khí quyển một lượng CO2 khổng lồ, góp phần phá hủy tầng ozôn đang hết sức mỏng manh.[10]
2.1 4 Vai trò của ngành chăn nuôi bò
Th ứ nhất: Chăn nuôi bò cung cấp thực phẩm quý cho con người
Trong bất kỳ một nền kinh tế xã hội nào sản phẩm được tạo ra ngành nông nghiệp nói chung, ngành chăn nuôi nói riêng luôn có vị trí quan trọng trong đời sống xã hội, là nguồn lương thực, thực phẩm phục vụ cho đời sống con người
Thịt bò là một loại thực phẩm cao cấp, protein của thịt bò chứa nhiều axit amin không thay thế cần thiết cho cơ thể con người, thịt bò còn nhiều các loại khoáng và vitamin ”Trong 100g thịt bò có 21g protein, 3,8g lipit, 1860mg lysin, 564mg methionin, 243mg tryptophan, 3,1g sắt và chứa khoảng 17,1kcal” [2] Ngoài
ra, thịt bò có giá trị cảm quan cao, được nhiều người ưa chuộng thông qua màu sắc,
Trang 14hương vị, độ mềm, độ ngọt, Vì vậy thịt bò là loại thực phẩm không thể thiếu được, đặc biệt trong nhu cầu hiện nay khi thịt mà càng ngày càng được sử dụng ít hơn trong bữa ăn của con người
Th ứ hai: Chăn nuôi bò cung cấp phân bón và tận dụng sức kéo cho ngành
tr ồng trọt, cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp
Nhiều nơi nước ta hiện nay đã sử dụng máy móc trong khâu làm đất và vận chuyển, tuy nhiên ở những vùng nông thôn nghèo người dân không thể đầu tư được máy móc nông nghiệp và những vùng đồi nói có địa hình khó khăn cho cơ giới hóa thì việc sử dụng trâu
bò vẫn chiếm vị trí quan trọng trong việc cày bừa đất Ở các vùng sâu, vùng xa và những nơi mà đường sá chưa được cải tạo, việc chuyên chở phân bón, nông phẩm, hàng hóa chủ yếu vẫn dùng sức kéo của trâu bò
Ngoài sức kéo, bò còn cung cấp một lượng phân đáng kể cho trồng trọt Phân
bò tuy giá trị dinh dưỡng (NPK) không cao như phân của một số động vật khác, nhưng số lượng lớn nên lượng NPK tổng số của phân bò vẫn lớn hơn phân lợn và có
ý nghĩa rất lớn để nâng cao độ tươi xốp của đất Thời gian phân hủy chậm nên bón phân bò cây trồng luôn luôn có dinh dưỡng trong chu kỳ sống Mặt khác phân trâu
bò giá rẻ, rất phù hợp với điều kiện của nông dân, nhất là nông dân nghèo, phân bò
có ý nghĩa rất lớn trong việc cải tạo đất lâu dài, giúp tăng độ phì của đất, bảo vệ nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đó Do đó mặc dù ngày nay phân hóa học rất phổ biến nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn không thể thiếu phân chuồng, trong đó có phân bò
Bên cạnh đó, bò còn cung cấp sản phẩm cho một số ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp như: chế biến thịt bò khô, xúc xích, các sản phẩm chế tác từ da bò ,
Th ứ ba: Chăn nuôi bò tạo thu nhập cho nông hộ, góp phần phát triển kinh t ế nông hộ:
Trong thực tế người nông dân kết hợp đồng thời nhiều mục đích trong chăn nuôi
bò, thường là vừa cày kéo vừa sinh sản lại vừa bán bò Chính sự kết hợp nhiều mục đích trong chăn nuôi đã làm tăng hiệu quả kinh tế của chăn nuôi bò của nông dân Ngoài vai trò cung cấp sức kéo và phân bón cho trồng trọt, góp phần làm giảm chi phí
Trang 15đầu tư, tăng năng suất cây trồng như đã đề cập ở trên, chăn nuôi bò còn góp phần sử dụng lao động nhàn rỗi trong nông nghiệp (trong thời kỳ nông nhàn), tăng thu nhập và nâng cao đời sống cho nông dân Vì vậy, chăn nuôi bò đã góp phần tận dụng được thời gian nhàn rỗi của nông dân, hạn chế nông dân vào các thành phố để kiếm việc làm, giảm những vấn đề xã hội có thể xảy ra
Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi bò nói riêng giúp nông dân có thêm thu nhập như tiền cày kéo thuê, bán bò, nông dân có cơ hội cải thiện đời sống, thoát khỏi đói nghèo Khoản thu nhập này góp phần trang trải các nhu cầu chi tiêu hàng ngày, nhu cầu tiết kiệm hay đầu tư kinh doanh, mở rộng sản xuất
Th ứ tư: Chăn nuôi bò góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghi ệp:
Chăn nuôi bò có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đặc biệt với các quốc gia có tiềm năng về đồng cỏ Đối với Việt Nam đất đai ít, dân số nông thôn đông và ngày càng tăng, diện tích canh tác bình quân thấp và ngày càng giảm, thu nhập ngành trồng trọt thấp, bấp bênh Trong khi đó ngành chăn nuôi nói chung, chăn nuôi bò nói riêng với các ưu thế như trên thì ngày càng phát triển ngày càng tăng ’’Từ năm 1986 đến nay, ngành chăn nuôi phát triển khá ổn định và có xu hướng tăng dần, tốc độ tăng trưởng giá trị đạt bình quân 5,27%/năm, cao hơn ngành trồng trọt” [7] Các nghiên cứu cho thấy, trồng cỏ thâm canh 1ha có năng suất 250 tấn nuôi được 14 con bò, tạo việc làm thêm cho 2 lao động, thu được 50 triệu đồng tiền cỏ (nếu trồng lúa chỉ thu được 27 triệu) Do vậy, phát triển chăn nuôi bò đang thực sự góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn, tạo việc làm tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho nông dân đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa Mặt khác, chăn nuôi bò có thể phát triển rộng trên phạm vi toàn quốc và góp phần xoá đói giảm nghèo
Nói tóm lại, phát triển chăn nuôi bò theo hướng hàng hóa góp phần phát triển kinh tế hộ, thúc đẩy quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, phát huy được thế mạnh của từng vùng kinh tế, làm cho sản xuất nông nghiệp phát triển toàn diện, ổn định vững chắc
Trang 162.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới phát triển chăn nuôi bò
Bò là động vật có chu kỳ sinh học dài hơn các loại vật nuôi khác Hơn nữa, bò
là động vật nhai lại, có đặc điểm sử dụng thức ăn và nhu cầu về dinh dưỡng khác với lợn và gia cầm, Do vậy các yếu tố ảnh hưởng đến chăn nuôi bò nói chung và
bò nói riêng cũng khác với các động vật khác Một số nhóm nhân tố tác động chủ yếu đến chăn nuôi bò là:
(1) Nhóm các yếu tố tự nhiên
Các yếu tố tự nhiên như: khí hậu, đất, nguồn nước, địa hình… có ảnh hưởng đến chăn nuôi bò, cụ thể:
- Khí h ậu và thời tiết ảnh hưởng đến chăn nuôi bò ở hai góc độ:
Th ứ nhất: Bò là loài động vật có hệ thần kinh cao cấp, rất mẫn cảm với môi
trường sống, do đó các yếu tố thời tiết, khí hậu có thể tác động trực tiếp đến chu kỳ sinh trưởng phát triển của đàn bò Thực tế cho thấy, bò ở các nước châu Âu có năng suất cao hơn các nước châu Á, “Khi di chuyển gia súc đến những vùng có khí hậu khác nhau sẽ làm giảm sức sản xuất, tăng chi phí thức ăn, giảm chất lượng sản
phẩm, giảm khả năng chống bệnh, ” [3] Khí hậu, thời tiết góp phần vào sự hình thành và phát triển của một số loại bệnh, nhiều bệnh truyền nhiễm đã phát sinh và phát triển trong mùa ẩm như dịch tả, tụ huyết trùng ở gia súc nói chung, bò nói riêng “Để giữ được cơ thể có nhiệt độ ổn định, gia súc phải tìm cách giảm gánh nặng về nhiệt bằng cách giảm lượng ăn vào, đồng thời trong điều kiện nhiệt độ môi trường cao thì khả năng tiêu hóa sẽ kém đi và sức chống được bệnh tật cũng giảm sút” [9
Th ứ hai: Thức ăn chính của bò là các loại cỏ tự nhiên và một số loại thảo
mộc Những loại cỏ cây này có quy luật sinh trưởng và phát triển riêng liên quan chặt chẽ tới thời tiết, khí hậu trong năm, thông thường chúng sinh trưởng vào mùa xuân, phát triển mạnh vào mùa hè và tàn lụi vào mùa đông Tính thời vụ của thức ăn
có ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của đàn bò Hơn nữa, “nhiệt
độ môi trường cao làm cho khả năng tích lũy chất dinh dưỡng trong cỏ không cao,
do vậy dinh dưỡng của gia súc không đảm bảo” [7] Đây cũng là yếu tố góp phần
giải thích về năng suất thấp của bò nhiệt đới Nắm chắc đặc điểm thời tiết, khí hậu
Trang 17để giải quyết tốt vấn đề thức ăn và khâu chăm súc, công tác thú y cho đàn bò
- Đất đai: Đất đai là nơi diễn ra quá trình chăn nuôi bò, bao gồm diện tích
đồng cỏ tự nhiên, diện tích cỏ trồng, diện tích chuồng trại Diện tích, năng suất và chất lượng đồng cỏ quyết định quy mô chăn nuôi bò Việc xây dựng và triển khai
thực hiện dự án phát triển chăn nuôi bò phải chú trọng đến năng suất và chất lượng đồng cỏ chăn thả
- Nguồn nước: Nước cần cho nhu cầu sống của bò và sự sinh trưởng phát
triển của cỏ và các loại thức ăn khác cho bò, “Bò trung bình mỗi ngày cần 30 - 45 lít nước Trong quá trình làm việc nặng nhọc gia súc luôn bị mất nước thông qua mồ hôi, nếu mất 20% lượng nước cơ thể thì gia súc sẽ chết sau 4 - 8 ngày nếu không được tiếp nước” Chất lượng của nước xét trên các đặc tính hóa học, đáng chú ý là
độ pH và độ mặn có ảnh hưởng đến vật nuôi Độ pH của nước có tác dụng gây hưng
phấn hoặc ức chế hoạt động của hệ thống thần kinh, làm thay đổi sự cân bằng của
hệ thống hô hấp Tuy nhiên nguồn nước cũng là môi trường có thể dễ lây truyền bệnh dịch và Do vậy, trong việc bố trí khu chăn nuôi, sản xuất và chế biến thức ăn chăn nuôi, chế biến sản phẩm thịt bò, tiêu huỷ xác chết phải chú ý đến việc quản lý,
sử dụng nguồn nước nhằm giữ vệ sinh môi trường, bảo đảm vệ sinh thú y
Tóm lại, nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố tự nhiên đối với chăn nuôi
bò để hiểu rõ sự tác động của các yếu tố tự nhiên đối với cơ thể gia súc, trên cơ sở
đó có thể đề ra các biện pháp tác động nhằm khai thác hợp lí và có hiệu quả các tài nguyên thiên nhiên để phát triển chăn nuôi bò Đồng thời hạn chế tối đa các ảnh hưởng bất lợi nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
(2) Nhóm các y ếu tố về kinh tế xã hội:
Nhóm yếu tố về kinh tế xã hội bao gồm:
- T ổ chức và quản lý sản xuất:
Đối với một ngành sản xuất, tổ chức quản lý bao trùm cả về kỹ thuật, nhân
sự, phương thức sản xuất, cung ứng đầu vào và giải quyết đầu ra, Sự yếu kém hoặc ách tắc ở bất kỳ khâu nào cũng đều ảnh hưởng đến kết quả của sản xuất Chăn nuôi bò ở nước ta hiện nay chủ yếu theo ba hình thức tổ chức sản xuất chủ yếu: Hộ gia đình, hợp tác xã, trang trại, trong đó hình thức chăn nuôi hộ gia đình vẫn chiếm
Trang 18tỷ trọng lớn nhất, đặc biệt tỷ lệ này ở các tỉnh khu vực miền núi Bắc Bộ càng cao hơn Với các tỉnh trung du và miền núi kinh tế hộ chưa chuyển mạnh sang sản xuất hàng hoá, nhiều nơi chưa thoát khỏi tập quán sản xuất tự cung tự cấp, ở nhiều nơi còn sản xuất tự phát, chưa theo quy hoạch Điều đó thể hiện trong chăn nuôi bò như quy mô chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào trong chăn nuôi rất hạn chế, năng suất và chất lượng sản phẩm thấp Kinh tế trang trại tuy có những bước phát triển, nhưng phổ biến là trang trại gia đình, quy mô sản xuất nhỏ,
chủ trang trại thiếu kiến thức về quản lý kinh tế Việc xác định rõ hình thức tổ chức chăn nuôi sẽ cho phép sử dụng hợp lý các yếu tố của quá trình sản xuất
- V ốn đầu tư:
Vốn cho sản xuất là một trong những yếu tố hàng đầu trong sản xuất kinh doanh nói chung và trong phát triển chăn nuôi bò nói riêng Trong chăn nuôi bò số lượng vốn cần thiết để xây dựng chuồng trại, mua con giống, nuôi dưỡng, chăm sóc, cho xúc tiến bán sản phẩm, cho tạo dựng các cơ sở chế biến… Đối với đại đa số hộ nông dân nước ta hiện nay, đây là một khó khăn lớn khi tích luỹ từ thu nhập của họ
rất thấp để dành cho đầu tư chăn nuôi, hệ số quay vòng vốn và thời gian nuôi bò dài nên không phù hợp với tâm lý của người dân, nhất là người nghèo Điều này cũng lý giải tại sao ở vùng miền núi, nơi rất có điều kiện để nuôi bò theo lối quảng canh, nhưng rất nhiều các hộ nghèo lại không chăn nuôi bò hoặc chăn nuôi với quy mô nhỏ
lẻ, giống bò bị thoái hóa, chăm sóc thú y không tốt, thức ăn sử dụng chủ yếu trong chăn nuôi là cỏ tự nhiên và thức ăn tận dụng khác , kết quả là số lượng và chất lượng đàn bò thấp, chưa thực sự trở thành những vùng sản xuất hàng hóa Với thực trạng trên, nông dân rất cần sự hỗ trợ về vốn của nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội, ngân hàng và các tổ chức tín dụng để họ được tiếp cận các nguồn vốn kịp thời, giúp hoạt động chăn nuôi được phát triển
- Lao động:
Lao động trong nông nghiệp nước ta chủ yếu là lao động chưa qua đào tạo (chủ yếu là người già và trẻ em), nguồn lao động này còn phù hợp với phương thức sản xuất truyền thống, nhưng sẽ không thể đáp ứng được với điều kiện sản xuất cần ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật công nghệ tiên tiến vào sản xuất “Trong xu thế phát
Trang 19triển, phương thức chăn nuôi bò theo lối tận dụng quảng canh sẽ ngày càng thu hẹp, phương thức chăn nuôi thâm canh và bán thâm canh đang ngày càng phát triển” (Nguyễn Văn Thưởng, 1999) Do vậy, lao động trong chăn nuôi bò cũng đòi hỏi phải
có kỹ thuật nhất là các khâu như chăm sóc, nuôi dưỡng, cắt cỏ, dọn vệ sinh, Muốn chuyển giao được tiến bộ kỹ thuật chăn nuôi bò thì người lao động cần được tập huấn nâng cao trình độ, chuyên môn về kỹ thuật chăn nuôi, đặc biệt là người dân ở vùng sâu, vùng xa để nâng cao năng suất lao động trong chăn nuôi bò
- Giao thông và cơ sở hạ tầng:
Hệ thống giao thông và cơ sở hạ tầng là điều kiện để người nông dân tiếp cận
với các thông tin thị trường, khoa học kỹ thuật chăn nuôi, giúp người dân thuận tiện trong việc mua bán và tiêu thụ, chế biến sản phẩm, giúp người nông dân có điều kiện giao lưu học hỏi kinh nghiệm sản xuất tốt Hệ thống giao thông và cơ sở hạ
tầng tốt cũng tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các dịch vụ phục vụ chăn nuôi như: dịch vụ thức ăn gia súc, dịch vụ thú y, dịch vụ tín dụng…Đây cũng là thuận lợi cho người thu mua sản phẩm và các tác nhân khác trong nền kinh tế, xã hội
- H ệ thống khuyến nông:
Khuyến nông là hoạt động chuyển giao khoa học kỹ thuật, thông tin kinh tế, thị trường nhằm nâng cao trình độ sản xuất kinh doanh tạo thu nhập cho người nông dân, làm động lực thúc đẩy kinh tế hộ phát triển
Nội dung chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới trong chăn nuôi bò gồm: Các giống bò mới, kỹ thuật chăn nuôi mới, công nghệ chăn nuôi mới, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi, chế biến thức ăn chăn nuôi, kiểm tra và khuyến khích các hộ dân trong công tác vệ sinh thú y, chuồng trại
Đối với phát triển chăn nuôi bò, công tác khuyến nông trong những năm qua
đã góp phần đưa giống mới cùng các quy trình chăn nuôi tiên tiến đến với người nông dân, thúc đẩy công tác lai tạo giống, giúp cho việc định hướng và xây dựng các vùng chăn nuôi bò theo hướng sản xuất hàng hoá
- Th ị trường tiêu thụ sản phẩm:
Thị trường là tập hợp các sự thoả thuận mà thông qua đó người mua và người bán tiếp xúc với nhau để trao đổi hàng hoá, dịch vụ Trong phát triển chăn
Trang 20nuôi bò, thị trường là một mắt xích quan trọng, việc tiêu thụ sản phẩm được thực
hiện qua các “kênh thị trường” Kênh thị trường phản ánh mối quan hệ giữa người
sản xuất người thu mua và người tiêu dùng Trong đó, người sản xuất là nông dân,
họ là người cung cấp ra sản phẩm bò; người thu mua (trung gian tiêu thụ) bao gồm người thu gom, người bán buôn, người chế biến, người bán lẻ đóng vai trò là cầu nối giữa người sản xuất và người tiêu dùng cuối cùng (người tiêu thụ các sản phẩm được chế biến từ bò) và được thể hiện thông qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1: Kênh thị trường chăn nuôi bò
Thị trường là yếu tố rất quan trọng, có những lúc thị trường trở thành yếu tố quyết định sản xuất, điều chỉnh quy mô và tốc độ của sản xuất Khi thị trường phát triển,
Người chăn nuôi (H ộ gia đình, trang trại, hợp tác xã)
Người thu gom
Ng ười bán buôn
Ng ười giết mổ,
c ơ sở chế biến
Ng ười bán lẻ
Ng ười tiêu dùng
Trang 21hàng hóa sản xuất ra bán được giá cao, người sản xuất thu được nhiều lợi nhuận, khi
đó nó thúc đẩy sản xuất phát triển với tốc độ cao, quy mô sản xuất được mở rộng,
và ngược lại Để phát triển thị trường tiêu thụ bò, cần phân tích và đánh giá được các nhân tố tác động đến thị trường
Các nhân tố chủ yếu tác động đến thị trường tiêu thụ thịt bò như:
- Số lượng, chất lượng bò cung cấp, theo quy luật cung cầu, số lượng bò bán
nhiều có thể dẫn đến cạnh tranh về giá, về thị phần Tuy nhiên, nếu quy mô chăn nuôi quá nhỏ lẻ sẽ làm tăng chi phí thu gom của trung gian tiêu thụ, nông dân bị ép giá Đối với chất lượng bò càng cao (nhiều nạc, màu sắc thịt đẹp, đảm bảo tiêu chuẩn an toàn thực phẩm) thì giá bán càng cao, dễ tiêu thụ
- Giá bán c ủa sản phẩm bò và giá của các nông sản khác liên quan: Việc
mua bán sản phẩm theo thỏa thuận và theo quy luật cạnh tranh, tuy nhiên nếu giá quá thấp thì không đảm bảo lợi nhuận cho người chăn nuôi, người chăn nuôi có thể thu hẹp quy mô sản xuất Ngoài ra, giá của thịt bò còn chịu ảnh hưởng của giá các loại sản phẩm khác liên quan như: giá các sản phẩm thịt lợn, thịt gà Nếu giá các sản
phẩm này càng cao sẽ làm người tiêu dùng chuyển hướng tiêu thụ thịt bò nhiều hơn, người chăn nuôi bò có cơ hội tăng thêm lợi nhuận từ sự tăng giá bò và mở rộng được quy mô chăn nuôi và ngược lại
- Hệ thống thông tin, thông tin đóng vai trò quan trọng cho cả người bán và
người mua, cả người sản xuất và người tiêu dùng Vấn đề thông tin ở các vùng nông thôn hiện nay chưa được chú trọng và đó cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho thị trường của nông thôn chưa phát triển
- Hệ thống các cơ sở chế biến và sự đa dạng các sản phẩm được chế biến,
sản phẩm bò có thể chế biến ra nhiều loại sản phẩm có giá trị gia tăng cao như: thịt
bò tươi, thịt bò khô, giò bò, da bò… Thông thường, các khu chăn nuôi bò nằm cách
xa với thị trường tiêu thụ, vì vậy cần phải có cơ sở giết mổ hợp vệ sinh, đảm bảo an toàn thực phẩm, có thiết bị bảo quản và phải có các phương tiện vận chuyển chuyên dùng
- Các nhân tố khác như: Thu nhập người tiêu dùng, mật độ dân số, khu vực
dân cư thành thị, nông thôn, thị hiếu và tập quán người tiêu dùng về sản phẩm được chế biến từ bò
Trang 22Hiện tại, thị trường tiêu thụ sản phẩm chăn nuôi của ta phát triển còn chậm,
chủ yếu là do sản xuất không gắn với thị trường và không xuất phát từ nhu cầu của thị trường để điều chỉnh sản xuất một cách thích ứng Vì vậy đòi hỏi người chăn nuôi phải chú ý đến các nhân tố này để có hướng chăn nuôi thích hợp đáp ứng
những sản phẩm mà thị trường yêu cầu
- Các chính sách c ủa nhà nước:
Chính sách kinh tế có vai trò rất quan trọng, nếu chính sách đóng sẽ thúc đẩy
nền kinh tế phát triển, ngược lại sẽ kìm hãm nền kinh tế
Phát triển chăn nuôi bò theo hướng sản xuất hàng hóa có liên quan đến các
vấn đề như: Quy hoạch khu vực đất đai cho chăn thả; hỗ trợ nông dân được tiếp cận vốn ưu đãi kịp thời; Hỗ trợ người nông dân tiếp cận với các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến và các dịch vụ khác cho chăn nuôi; Hệ thống thông tin thị trường; Các quy định, quy chế về tiêu chuẩn về chất lượng, vệ sinh an toàn thực phẩm, về đảm bảo môi trường sinh thái đối với các chủ thể có liên quan đến hoạt động sản xuất, tiêu thụ sản phẩm bò Hiện nay, Nhà nước cũng đã có nhiều chính sách kinh
tế nhằm phát triển chăn nuôi bò như: Chương trình cải tạo đàn bò, chính sách tín dụng lãi suất ưu đãi cho nông dân, chính sách đầu tư cho các viện, trường Ngoài ra các tổ chức, ban, ngành ở địa phương cũng có một số quy định, biện pháp cụ thể về chăn nuôi bò Các chính sách, các quy định này đã trở thành một động lực mạnh mẽ
để phát triển chăn nuôi bò Tuy nhiên, thực tế cũng đang nổi lên nhiều vấn đề đòi hỏi chúng ta phải tiếp tục nghiên cứu để thay đổi, bổ sung và hoàn thiện các chính sách vĩ mô để chính sách thực sự là một động lực thúc đẩy sản xuất chăn nuôi phát triển với tốc độ cao hơn
(3) Nhóm các y ếu tố về kỹ thuật:
- Gi ống bò: “Trong chăn nuôi, vai trò giống giữ vị trí qua trọng trong việc cải
tiến di truyền, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm chăn nuôi” Giống bò có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất và chất lượng thịt
Trong chăn nuôi bò, giống bò phải chọn lọc theo mục đích sản xuất để lấy thịt, giống bò phải đạt được các yêu cầu về tầm vóc to, tỷ lệ thịt xẻ cao, phù hợp với điều kiện chăn nuôi của vùng Hiện nay các giống bò đang nuôi dưỡng ở nước ta
Trang 23chủ yếu là giống bò vàng địa phương (bò cóc), tuy có những ưu điểm như có khả năng thích nghi với điều kiện khí hậu nóng ẩm, khả năng sinh sản cao, khả năng chống chịu bệnh tật cao, nhưng tầm vóc bé, tỷ lệ thịt xẻ thấp, trọng lượng nhỏ nên năng suất không cao Trong cùng điều kiện chăn nuôi, giống bò nội có năng
suất, chất lượng vẫn thấp hơn nhiều so với các giống bò cao sản trên thế giới hoặc các giống lai, do đó ảnh hưởng rất lớn đến việc tiêu thụ sản phẩm, nhất là tiêu thụ trên thị trường quốc tế Để nâng cao chất lượng giống trong chăn nuôi, một mặt cần
cải tạo đàn giống hiện có theo hướng nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm, mặt khác phải tiến hành lai tạo để tạo ra giống mới phù hợp có chất lượng tốt hơn
và năng suất vượt trội, sử dụng giống có nguồn gen cao sản của thế giới để lai tạo với các giống nội Vì vậy trong xây dựng định hướng phát triển chăn nuôi bò cần phải xây dựng một hệ thống quản lý giống vật nuôi để bảo vệ nguồn gen, chọn lọc, lai tạo và nhân giống bò; cần có kế hoạch cụ thể cho chương trình nâng cao chất lượng giống đạt hiệu quả
- Khoa học kỹ thuật và công nghệ:
Khoa học kỹ thuật và công nghệ là một trong những yếu tố để phát triển nông nghiệp nông thôn nói chung và phát triển chăn nuôi bò nói riêng “Tăng trưởng kinh tế và đổi mới cơ cấu kinh tế nông thôn và sản xuất nông nghiệp cũng
bắt đầu từ khoa học kỹ thuật” [9] Trong chăn nuôi bò, yếu tố khoa học kỹ thuật và công nghệ thể hiện đó là: Quy trình nhân giống, lai tạo giống, thử nghiệm giống bò tốt có chất lượng cao và phù hợp với điều kiện chăn nuôi của từng địa phương; kỹ thuật chăn nuôi phù hợp với các phương thức chăn thả; kỹ thuật xây chuồng trại cho đàn bò; công nghệ và quy trình chế biến thức ăn gia súc; quy trình và công nghệ chế biến sản phẩm thịt bò Ngày nay, cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đã trở thành một yếu tố của lực lượng sản xuất Vì vậy, đầu tư khoa học kỹ thuật chính là phương hướng đầu tư sớm mang lại hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi bò
- Công tác chăm sóc và nuôi dưỡng bò: Sức sản xuất thịt của bò trước tiên
phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng Mức độ dinh dưỡng cao thì tỷ lệ mỡ và cơ trong thân thịt cao, mô liên kết và xương giảm thấp và ngược lại Quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng bò, gồm: Đáp ứng đủ nhu cầu thức ăn về số lượng và chất dinh
Trang 24dưỡng cần thiết cho quá trình sinh trưởng phát triển của bò ở các độ tuổi, cung cấp nước uống, tổ chức tiêm phòng bệnh định kỳ, giữ gìn vệ sinh thú y khu vực chăn nuôi…Lượng thức ăn sử dụng trong chăn nuôi bò lớn, thức ăn chính chủ yếu là cỏ, đặc điểm của loại thức ăn này là giàu chất xơ, nghèo chất dinh dưỡng, sinh trưởng
và phát triển mang tính thời vụ (đặc biệt thiếu vào mùa khô) Để phát triển chăn nuôi bò, vấn đề thức ăn cần quan tâm giải quyết về cả số lượng và giá trị dinh dưỡng, cần chế biến và dự trữ thức ăn cho bò Hiện nay, thức ăn cho bò ở nước ta
chủ yếu là các nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp và tận dụng chăn thả tự nhiên Tuy nhiên, bãi chăn đang ngày càng bị thu hẹp, nhiều phế phụ phẩm đang còn bị lãng phí chưa được tận thu để nuôi bò, đặc biệt vào mùa khô, thức ăn cho bò thiếu trầm trọng Thức ăn là cơ sở quan trọng để phát triển chăn nuôi Năng suất chăn nuôi phụ thuộc vào hai yếu tố chủ yếu: tính năng di truyền và chế độ dinh dưỡng hợp lý Thức
ăn và giá trị dinh dưỡng trong khẩu phần ăn của gia súc ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm, hiệu quả chăn nuôi và cả sự cảm nhiễm dịch bệnh Ứng với mỗi giai đoạn, yêu cầu công tác chăm súc nuôi dưỡng khác nhau Các giai đoạn chăm sóc nuôi dưỡng bò có tính kế thừa, để chăn nuôi giai đoạn sau hiệu quả thì chăn nuôi ở các giai đoạn trước cần thực hiện tốt
- Phương thức chăn nuôi: Phương thức chăn nuôi có ảnh hưởng đến công tác
giống, vệ sinh thú y, việc đầu tư thâm canh cũng như việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quá trình tổ chức phát triển sản xuất Hiện nay có các phương thức chăn nuôi như: Chăn nuôi bò quảng canh, tận dụng và sử dụng sức kéo; Chăn nuôi bò bán thâm canh; Chăn nuôi bò thâm canh
- Công tác thú y:
Nước ta có khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, đây là môi trường thuận lợi cho việc phát triển các loại dịch bệnh, nhất là trong các giai đoạn chuyển mùa và những thời gian có độ ẩm cao Dịch bệnh không những ảnh hưởng đến sự phát triển về số lượng của đàn gia súc mà còn cả đến chất lượng sản phẩm và sức khỏe của con người Bò thường mắc một số bệnh nguy hiểm như: Bệnh tụ huyết trùng, nhiệt thán, lao, lở mồm long móng… Nhiệm vụ của công tác thú y là đề phòng và chống bệnh
dịch cho đàn gia súc, kiểm nghiệm sản phẩm trước khi xuất bán Công tác thú y liên
Trang 25quan chặt chẽ đến việc bảo vệ sức khỏe cho vật nuôi và người tiêu dùng, là nhân tố làm hạn chế các rủi ro sảy ra trong quá trình chăn nuôi Với phương thức chăn nuôi
bò ở nước ta hiện nay thì tổ chức công tác thú y nhằm bảo đảm an toàn cho gia súc
là vấn đề hết sức quan trọng, ngoài ra phải đáp ứng nhu cầu kinh phí cho hoạt động
của mạng lưới thú y, việc cung ứng thuốc thú y và vắccin phải thường xuyên, cần phải áp dụng các biện pháp phòng trừ tổng hợp, trong đó đặc biệt chú ý các biện pháp phòng bệnh Tổ chức tốt công tác tiêm phòng và tẩy ký sinh trùng định kỳ cho đàn bò, khi dịch bệnh xảy ra cần huy động mọi nguồn lực để dập tắt ổ dịch, hạn chế
sự lan rộng để bảo vệ sản xuất Phải làm tốt công tác thông tin, truyền thông nhằm nâng cao nhận thức của người chăn nuôi về vai trò, vị trí của công tác thú y trong quy trình chăn nuôi bò
Bảng 2.1 Biến động về số lượng đàn bò trên thế giới
(ĐVT:1000con)
Qu ốc gia Năm Tốc độ tăng trưởng (%)
2015 2016 2017 2016/2015 2017/2016 Trung bình Bra xin 207.157 205.886 199.752 -0,61 -2,98 -1,80
Ấn độ 180.837 178.703 176.594 -1,18 -1,18 -1,18 Trung Quốc 90.134 87.548 82.067 -2,87 -6,.26 -4,57
M ỹ 95.438 96.702 97.003 1,32 0,31 0,82 Achentina 50.167 50.700 50.750 1,06 0,10 0,58
Ê ti ô pi a 40.390 43.125 43.000 6,77 -0,.29 3,24
Xu đăng 40.468 40.994 41.404 1,30 1,00 1,15
Mê hi cô 28.763 31.163 31.950 8,35 2,53 5,44
Úc 27.782 28.393 28.037 2,.20 -1,26 0,47 Băng la đét 24.900 25.100 25.300 0,80 0,80 0,80
Vi ệt Nam 5.541 6.511 6.725 17,51 3,29 10,40
Th ế giới 1.350.178 1.361.540 1.357.184 0,84 -0,32 0,26
(Nguồn: Phòng thống kê của FAO, năm 2018)
Từ bảng 2.1 cho thấy tổng đàn bò trên thế giới trong những năm qua tăng
Trang 26chậm, năm 2017 là 1.357.183 nghìn con, tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2015-2017 là 0,26 % Trong đó Braxin, Ấn Độ là các quốc gia có tổng đàn bò lớn nhất thế giới, năm 2017 Braxin có 199.752 nghìn con (chiếm 14,72% tổng đàn bò thế giới), Ấn Độ có 176.594 nhìn con (chiếm 13,01% tổng đàn bò thế giới) Tuy nhiên số lượng đàn bò của cả 2 quốc gia trên đều có xu hướng giảm trong những năm gần đây, tốc độ giảm bình quân trong giai đoạn 2015-2017 là 1,8% đối với Braxin và 1,18% đối với Ấn Độ
Việt Nam là một trong những quốc gia đang phát triển và được đánh giá có tốc
độ phát triển kinh tế nhanh, điều đó cũng được thể hiện thông qua tốc độ tăng trưởng bình quân đàn bò giai đoàn 2015-2017 là 10,4%/năm và số lượng đầu con là 6.725 nghìn con năm 2017(chiếm 0,5% tổng đàn bò thế giới) Đây là kết quả bước đầu khi Việt Nam mới tham gia là thành viên chính thức của WTO
- V ề phương thức chăn nuôi:
Phương thức chăm sóc nuôi dưỡng bò ở từng nước trên thế giới cũng khác nhau, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của mỗi nước Ở những nước
có nền kinh tế phát triển, tổ chức chăn nuôi bò được đầu tư cao theo chiều hướng tập trung và thâm canh Việc áp dụng các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến và công nghệ mới vào chăn nuôi một cách triệt để ở tất cả các cung đoạn của sản xuất như công nghệ lai tạo cấy ghép gen, tự động hóa trong chăm sóc nuôi dưỡng bò và chế biến, bảo quản nâng cao giá trị sản phẩm thịt bò; kiểm soát chế độ dinh dưỡng nhằm tạo
ra những sản phẩm đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm không gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người Vì vậy năng suất, chất lượng của đàn bò ở các quốc gia này cao hơn các nước đang phát triển
Ở các quốc gia đang phát triển (chủ yếu ở châu Á và châu Phi), nền kinh tế còn nhiều khó khăn, đời sống kinh tế - xã hội cờn ở mức thấp nên đầu tư phát triển chăn nuôi bò hạn chế (đầu tư con giống, thức ăn, thú y ) Điều đó kéo theo là quy
mô chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún, tự phát, trình độ chăn nuôi thấp phần lớn theo phương thức chăn nuôi quảng canh tận dụng, chủ yếu phụ thuộc nhiều vào điều kiện
tự nhiên ưu đãi để phát triển quy mô đàn bò, nên chất lượng và năng suất đàn bò thấp
Xu thế phát triển chăn nuôi bò trên thế giới theo hướng phát triển chăn nuôi
Trang 27theo kiểu dây chuyền công nghiệp Nhờ có “giao lưu thương mại”, nhất là ”giao lưu
quốc tế” mà việc phát triển chăn nuôi công nghiệp đang dược áp dụng ngày càng rộng rãi không chỉ ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển Tuy nhiên đối với ngành chăn nuôi bò, hiện nay vẫn còn có 3 loại hình chăn nuôi chủ
yếu song song tồn tại ở các nước trên thế giới đó là: Chăn nuôi quảng canh; Chăn nuôi gia đình hay chăn nuôi kiêm dụng (bán thâm canh); Chăn nuôi thâm canh (hay chăn nuôi theo kiểu công nghiệp)
Chăn nuôi quảng canh: Nền tảng của chăn nuôi quảng canh trên thế giới là
đồng cỏ tự nhiên Đó là những trang trại chăn nuôi của Nam bán cầu, có những đàn gia súc du mục trên những vùng thảo nguyên rộng lớn Đó còn là những trang trại lớn ở Bắc Mỹ và Brazin, ngoài ra còn có những trang trại nhỏ của người dân ở Tây Ban Nha Ở miền Trung nước Pháp và ở Úc hiện nay, cũng vẫn còn một số mô hình chăn nuôi quảng canh như vậy
Chăn nuôi gia đình hay chăn nuôi kiêm dụng (bán thâm canh):Hiện nay ở
Mỹ, Canada, châu Âu và một số các nước khác đã phối hợp chăn nuôi quảng canh
với sự bổ sung thêm ngũ cốc hoặc thức ăn đậm đặc công nghiệp để tăng năng suất của chăn nuôi quảng canh Trên toàn thế giới ở trong mọi thời kỳ, chăn nuôi gia đình nông dân thường được phối hợp tốt với sự sản xuất của ngành trồng trọt và sự
đa dạng về cây trồng Kiểu chăn nuôi này thường có nhiều mục đích khác nhau theo hướng kiêm dụng, và để tận dụng thời gian nhàn rỗi (nhất là ở châu Á), nhưng số lượng bò của mỗi gia đình thường không nhiều lắm Trung Quốc là một nước phát triển kiểu chăn nuôi này và rất hiệu quả, hàng trăm triệu nông dân làm chăn nuôi nhỏ rất thành công và đã áp dụng hài hòa chăn nuôi cổ truyền và hiện đại để khai thác tốt mọi tiềm năng của đất nước
Chăn nuôi thâm canh hay chăn nuôi theo kiểu công nghiệp: Đây là
phương thức chăn nuôi thường có một số lượng bò lớn, nhưng với số người lao động rất ít và có trình độ cao trong chăn nuôi, vì trang trại chăn nuôi đã được công nghiệp hóa, hiện đại hóa và có thể đã sử dụng nhiều khâu tự động hóa ví dụ như: Nhật Bản, Mỹ, Ixraen, Bỉ, Anh Kiểu chăn nuôi này rất được phát triển trong
những năm gần đây, do nhu cầu về sản phẩm chăn nuôi ngày càng phát triển Với
Trang 28những tiến bộ kỹ thuật về thú y, di truyền, chọn giống, sinh sản và dinh dưỡng động
vật, kiểu chăn nuôi công nghiệp ngày càng có nhiều tiến bộ về ý nghĩa kinh tế
- V ề công tác giống:
Cùng với xu hướng về phương thức chăn nuôi thì công tác giống cũng được chú trọng, nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất Với mục đích đó các nhà khoa học đã tạo ra được những giống bò có thể trọng to, tỷ lệ thịt xẻ đạt trên 60% trọng lượng cơ thể như: Bò Hereford của Anh (có tỷ lệ thịt xẻ 58-62% trọng lượng cơ thể); bò Santa-Gertrudis của Mỹ (tỷ lệ thịt xẻ đạt 60-66%); bò Charolais
và Limousin của Pháp (tỷ lệ thịt xẻ 60-62%) Các giống bò trên được đưa vào chăn nuôi thực tế và được lai tạo với giống bò địa phương ở nhiều nước trên thế giới
2.2.2 Tình hình chăn nuôi bò ở Việt nam
2.2.2.1 Chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về chăn nuôi bò
(1) Các chương trình cải tạo đàn bò địa phương
- Chương trình Sind hoá (Zêbu hoá): Từ những năm 1960, nước ta đã có
chương trình cải tiến để nâng cao năng suất của đàn bò địa phương bằng các giống bò Zêbu như bò Red Sindhi, Sahiwal và Brahman Vào những năm 70 ngoài các giống bò nhiệt đới ra thì một số bò ôn đới như Limousine, Herefore, Simmental, Santagestrudit v.v đã được đưa vào nghiên cứu các công thức lai để tăng cường cải tiến đàn bò địa phương trên phạm vi và quy mô lớn hơn
- Dự án bò VIE 86/008: 225 Do UNDP tài trợ năm 1989-1992, đã hỗ trợ
cho phối giống bằng thụ tinh nhân tạo được khoảng 100.000 bò cái nền địa phương với tinh bò Limousine, Herefor, Charolais, Simmental và có 65.000 bê lai ra đời Dự
án đã trang bị và tăng cường thiết bị kỹ thuật thụ tinh nhân tạo và thuốc thú y cho các tỉnh tham gia dự án Một số cán bộ tham gia dự án đã được tham quan, thực tập và học tập tại nước ngoài về các khâu giống, dinh dưỡng, đồng cỏ, thú y và quản lý giống cũng như thụ tinh nhân tạo cho bò
- Chương trình khuyến nông cải tạo đàn bò Cr.2561-VN: Dự án khuyến
nông cải tạo đàn bò thuộc dự án Phục hồi Nông nghiệp 1995-1997, do kinh phí của Ngân hàng Thế giới (WB Cr 2561 VN), tổng kinh phí 10 triệu USD trong đó 7,7 triệu USD của Ngân hàng thế giới (WB) và 2,3 triệu USD vốn đối ứng của Việt
Trang 29Nam Dự án hỗ trợ phối giống bò bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo với tinh bò
Zê bu và lai tạo bằng phối giống trực tiếp giữa bò đực lai với đàn bò cái địa phương trên 27 tỉnh của cả nước Riêng chương trình thụ tinh nhân tạo đã tạo được trên 400.000 bê lai Zebu, đã đào tạo 2035 dẫn tinh viên và 5189 khuyến nông viên
- D ự án chăn nuôi bò dưới tán rừng ở xã Cư M'lan (huyện Ea Súp) do
Viện Khoa học kỹ thuật nông - lâm nghiệp Tây Nguyên, Sở Khoa học - Công nghệ (Ðác Lắc) và UBND huyện Ea Súp phối hợp triển khai Theo đánh giá của Viện Khoa học kỹ thuật nông - lâm nghiệp Tây Nguyên đến nay đã có thêm 43 mô hình chăn nuôi bò dưới tán rừng trên địa bàn huyện Ea Súp được hình thành từ việc học
tập và làm theo mô hình của dự án Cư M'lan Ðiều này cho thấy hiệu quả thiết thực
và sức lan tỏa mà dự án mang lại, thu nhập của các hộ tham gia dự án cao hơn trước đây khoảng 30% Ngoài ra, dự án trang bị kiến thức chăn nuôi cho các hộ tham gia,
từ đó tạo được niềm tin cho người dân trong vùng để họ sẵn sàng tiếp nhận và ứng dụng khoa học - kỹ thuật vào chăn nuôi
(2) Các chính sách khuyến khích phát triển chăn nuôi bò:
Chăn nuôi bò là một trong những ngành được Bộ NN&PTNT, các địa phương quan tâm ưu tiên phát triển và được nông dân tham gia tích cực Trên cơ sở các chính sách của Trung ương đến nay đã có 22 tỉnh và thành phố trong cả nước ban hành chính sách khuyến khích và có chương trình phát triển chăn nuôi bò Nội dung chính của các chính sách hỗ trợ phát triển chăn nuôi bò của các địa phương tập trung các lĩnh vực sau:
Giống bò: Hỗ trợ giống mới, giống chất lượng cao: Bò lai Zêbu, bò cái ngoại
hỗ trợ 40% kinh phí mua giống (Cao Bằng, Yên Bái) Hỗ trợ nuôi bò đực giống: 70% kinh phí mua bò đực giống lai Zêbu, hỗ trợ kinh phí mua và vận chuyển bò cái sinh sản từ tỉnh ngoài Hỗ trợ giống gốc theo Quyết định 125/CP của Chính phủ ban hành năm 1991 Hỗ trợ kinh phí mua tinh, vật tư phối giống, nitơ cho thụ tinh nhân tạo cải tạo đàn bò và lai tạo bò (Hỗ trợ 50%, 70% và 100% kinh phí thụ tinh nhân tạo bò cho các khu vực I, II và III của Điện Biên…)
Thức ăn, đồng cỏ: Hỗ trợ giống trồng cỏ hoặc tiền mua giống 70.000
đồng/sào cho trồng cỏ năm đầu nuôi bò; hỗ trợ các chương trình chế biến thức ăn
Trang 30thô xanh và thức ăn viên dự trữ nuôi bò; hỗ trợ xây dựng mô hình trồng cỏ, chế biến thức ăn thô xanh, ủ chua (Đồng Tháp, Bình Định)
Thú y và phòng bệnh: Hỗ trợ từ 50%-100% tiền mua các loại vắcxin và hỗ
trợ 500-1000 đồng tiền công/ mũi tiêm phòng cho bò Tiêm phòng miễn phí cho các
vùng khó khăn và các an toàn khu (Vĩnh Phúc, Cao Bằng, Bắc Giang ) Vốn vay và lãi xuất ngân hàng: Hỗ trợ 50%-100% lãi suất vay vốn mua bò trong 3 năm
(vốn vay 10-20 triệu đồng) để mua bò giống để phát triển chăn nuôi bò cho nông dân ( Đồng Tháp, Quảng Bình )
Đào tạo tập huấn, khuyến nông: Hỗ trợ kinh phí cho các chương trình đào
tạo tập huấn, khuyến nông, tham quan mô hình trình diễn về chăn nuôi bò (Cao Bằng, Nghệ An, Sơn La, Bắc Giang)
Đầu tư, đất đai: Tạo mọi điều kiện thuận lợi về thủ tục đất đai, hỗ trợ giải
phóng mặt bằng, hỗ trợ kinh phí xây dựng hạ tầng cho các doanh nghiệp đầu tư để xây dựng trang trại sản xuất giống bò không hạn chế quy mô và lĩnh vực đầu tư Hỗ trợ đầu tư xây dựng các trang trại nuôi bò tập trung thâm canh: cung cấp giống, vỗ béo bò Hỗ trợ chuyển đổi diện tích sang xây dựng trang trại chăn nuôi gia súc
Thị trường: Tổ chức, thành lập và mở các chợ đầu mối mua bán bò giống
bò, giới thiệu sản phẩm giống và thu hút các nhà đầu tư vào chăn nuôi bò Tìm thị trường nhập khẩu giống mới, thiết bị chăn nuôi, chế biến thức ăn, chế biến cỏ cho chăn nuôi bò và tìm thị trường trong nước cho việc kinh doanh, buôn bán sản phẩm bò
Hỗ trợ người nghèo: Hỗ trợ, ưu tiên người nghèo có cơ hội nuôi bò Chương
trình Ngân hàng bò cho người nghèo Chính sách hỗ trợ một mái nhà, một con bò, một bể nước của tỉnh Hà Giang thực sự giúp đỡ người nghèo
Hội thi bò: Tổ chức các lễ hội thi bò, đua bò theo tập quán và truyền thống
văn hóa Tổ chức hội thi bò giống tốt, hội thi chăn nuôi bò giỏi để khuyến khích phong trào nuôi bò
Khi hội nhập WTO bên cạnh những cơ hội và tiềm năng phát triển chăn nuôi
chúng ta cũng có những thách thức lớn như thiếu giống, năng xuất chăn nuôi thấp và vệ sinh an toàn thực phẩm Để khả năng cạnh tranh tốt với sản phẩm chăn nuôi bò của các nước trong khu vực ta cần có chương trình và chính sách thống nhất chung cho cả nước
Trang 31về phát triển bò giai đoạn 2017-2020
(3) K ế hoạch phát triển chăn nuôi bò của Bộ NN tới năm 2020
Phát triển chăn nuôi bò là một trong những định hướng chiến lược của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về chuyển đổi cơ cấu kinh tế cây trồng vật nuôi trong nông nghiệp giai đoạn 2017-2020 Theo số liệu chưa đầy đủ, để thực hiện được mục tiêu đưa đàn bò lên 7,84 triệu con vào năm 2010, 10 triệu con năm
2015 và 12,5 triệu con 2020; đưa cơ cấu giống bò lai, bò chất lượng cao lên 32% năm 2010, 40% năm 2015 và 45% năm 2020; tổng sản lượng thịt bò hơi lên 222.000 tấn năm 2010, 310.000 tấn năm 2015 và gần 425.000 tấn năm 2020; sản lượng thịt xẻ lên 101,9 ngàn tấn năm 2010; 144,2 ngàn tấn năm 2015 và 200,5 ngàn tấn năm 2020 Cục Chăn nuôi đã đưa ra các giải pháp thưc hiện: Quy hoạch vùng chăn nuôi bò; thực hiện chiến lược về cải tiến công tác giống bò trong nước; chuyển đổi hợp lý đất canh tác sang đất trồng cỏ thâm canh và các loại cây làm thức ăn xanh cho việc chăn nuôi bò, nhất là giống cỏ mới năng suất cao, chất lượng tốt, đảm bảo diện tích trồng cỏ từ 45.000 ha năm 2016 lên 304.000 ha năm 2010, 430.000 ha năm 2015 và 526.000 ha năm 2020, đáp ứng khoảng 40% nhu cầu ăn thô xanh cho đàn gia súc Đồng thời sử dụng các phụ phẩm nông - công nghiệp cho bò ăn; phổ biến quy trình nuôi vỗ béo bò; thực hiện tốt khâu vệ sinh trong chăn nuôi bò và thú
y để đảm bảo an toàn dịch bệnh; bên cạnh đó đề xuất chính sách về đầu tư, tín dụng cho chiến lược phát triển đàn bò
2.2.2.2 Kết quả phát triển chăn nuôi bò ở Việt Nam
- S ự biến động về số lượng đàn bò qua các năm
Trong những năm qua, chăn nuôi bò của nước ta đã phát triển nhanh về số lượng và chất lượng sản phẩm, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội về thịt bò tươi, bò khô và các sản phẩm được chế biến từ thịt bò Chăn nuôi bò đã có nhiều cơ hội tốt để phát triển số lượng và tốc độ tăng đàn bò theo vùng
Từ năm 2001 đến 2017, đàn bò đã tăng từ 3,8997 triệu con lên 6,7247 triệu con đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 10,35% năm Hiện nay, đã có 15 tỉnh tham gia
dự án phát triển giống bò chất lượng cao Hàng nghìn bò giống cao sản đã được
nhập về nước trong những năm vừa qua nhằm đáp ứng nhu cầu giống phát triển
Trang 32chăn nuôi bò của nhân dân Tỷ lệ đàn bò lai cả nước chiếm trên 26% tổng đàn bò, là đàn bò nền để tiếp tục lai tạo bò chất lượng cao Một số tỉnh đã có các trang trại bò
tư nhân quy mô lớn hàng 100 con như các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Bình Phước, Bình Dương và Lâm Đồng…Đàn bò 8 vùng sinh thái đều tăng trưởng tốt, tất
cả các vùng khác tăng trên 7% Đặc biệt vùng Đồng bằng sông Cửu Long trung bình tăng 30,49%/năm Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ là các vùng có điều kiện tự nhiên phù hợp với phát triển của bò nên trên 38% tổng đàn bò của cả nước được nuôi ở hai vùng này
- Cơ cấu các giống bò và một số chỉ tiêu sản xuất
Gần 70% tổng đàn bò của cả nước là bò Vàng địa phương, số còn lại chủ yếu
là nhóm bò lai Zêbu, đó là kết quả của chương trình Sind hóa trong những năm gần đây Bò Vàng có khối lượng trưởng thành nhỏ, sinh trưởng chậm, khối lượng trung bình con đực là 180-200 kg và bò cái từ 150-160 kg - Bảng 2.5 Bò vàng có tỷ lệ thịt
xẻ thấp khoảng 43-44% so với trọng lượng sống
Bò lai Zê bu được tạo ra bằng sử dụng tinh bò đực Zêbu cho lai với bò cái địa phương Bò lai hướng thịt có tốc độ tăng trọng và sinh trưởng nhanh, có trọng lượng trưởng thành từ 250-290 kg và tỷ lệ thịt xẻ cao giao động từ 49-50%
Bảng 2.2 Một số chỉ tiêu sản xuất của bò vàng và bò lai Zê bu
Các chỉ tiêu Đơn vị vàng Bò Lai Red Sinhi Sahiwal Lai Brahman Lai thuZêbu ần
Trang 33công tác lai tạo nên đã có tỷ lệ bò lai khá cao trong tổng đàn, nhưng ở nhiều nơi tỷ
lệ bò lai vẫn còn thấp, nhất là các tỉnh Bắc Trung Bộ, trong đó có Quảng Bình
Bò Zêbu thuần hiện có ở một số nơi như: Tuyên Quang, Hà Tây, Ninh Bình, Thanh Hoá, Bình Định, Khánh Hoà, Lâm Đồng và Tp HCM, Bò Zêbu thuần dễ thích nghi với điều kiện khí hậu của ta, bò có khối lượng trưởng thành 400-450 kg,
tỷ lệ thịt xẻ 49-50% Bò Zêbu thích hợp với hình thức bán chăn thả và tỷ lệ thụ thai bằng thụ tinh nhân tạo thấp thường dẫn đến kết quả là khoảng cách hai lứa đẻ dài
Từ năm 2002, giống bò cao sản Brahman, Droughtmaster của Australia đã nhập vào nước ta khoảng 3000 con, đang được nuôi tại Tuyên Quang, Công ty bò
sữa Tp HCM, một số địa phương khác như Bà Rịa-Vũng tàu, Thừa Thiên Huế, Bình Dương và Cần Thơ, Lâm Đồng
Hiện tại Việt Nam chỉ có duy nhất một đơn vị làm chức năng nuôi giữ, sản xuất
và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật chăn nuôi bò, đó là công ty Kỹ thuật truyền giống gia súc Lượng tinh chuyên dùng cho bò thấp, chỉ chiếm 2,4% trong tổng lượng tinh tiêu thụ Thực trạng trên cho thấy, trình độ chăn nuôi của hộ ở mức độ thấp, chưa
chú ý đến ứng dụng kỹ thuật tiên tiến vào trong sản xuất
- Năng suất bò của Việt nam
Năng suất bò nước ta thấp là do tăng trưởng chậm, tầm vóc nhỏ, tỷ lệ thịt tinh thấp Bò Vàng địa phương, 24 tháng tuổi chỉ đạt 150kg (con cái) và 175kg (con đực) Tăng trọng bình quân từ sơ sinh đến 24 tháng tuổi chỉ đạt 190-220 gam/ngày
Tỷ lệ thịt tinh cũng rất thấp từ 32-33% Khối lượng sống thấp và tỷ lệ thịt tinh thấp nên sản lượng thịt tinh của một bò chỉ đạt từ 50-60kg
Có thể thấy rõ điều này qua phép so sánh sau: Năm 2017, trên thế giới có 1.357 triệu con bò, một năm sản xuất được 59.852 triệu kg thịt, bình quân sản lượng thịt là cho 1 đầu gia súc là 44,11kg/đầu con; Ở Việt Nam, năm 2017 có 6,7 triệu con
bò, sản lượng thịt 206 triệu kg, bình quân sản lượng thịt hơi cho 1 đầu gia súc là 30,7 kg (bằng 69.6% của thế giới) (Lê Viết Ly, 1995)
Trang 34Bảng 2.3 Năng suất thịt của bò Vàng Việt Nam
(Nguồn: Lê Mạnh Hùng, 1998)
- Các phương thức chăn nuôi bò ở Việt Nam
Chăn nuôi bò quảng canh: Là phương thức chăn nuôi phổ biến cho hầu hết
các hộ chăn nuôi bò của ta Chăn nuôi nói chung và chăn nuôi bò nói riêng của nước ta theo phương thức quảng canh và quy mô chăn nuôi nông hộ là chủ yếu Nước ta có 13 triệu hộ nông dân trong đó khoảng 4 triệu nông hộ nuôi bò với quy
mô bình quân 1,5-1,6 con/hộ với phương thức chăn nuôi quảng canh và tận dụng thức ăn là đồng cỏ tự nhiên, do vậy chất lượng dinh dưỡng trong thức ăn rất nghèo,
Chăn nuôi bò bán thâm canh: Là phương thức chăn nuôi của các trang trại
chăn nuôi bò vừa và nhỏ Phương thức này bò được chăn thả ngoài gò, bãi, ven rừng, ven đê, ven sông và các cánh đồng chờ thời vụ Khi chăn thả về hoặc ban đêm
bò được cung cấp khoảng 50% khẩu phần tại chuồng là cỏ cắt và các phụ phẩm nông nghiệp Giống bò sử dụng trong phương thức chăn nuôi này thường là bò Lai Zêbu hoặc giống bò Zêbu thuần
Chăn nuôi bò thâm canh: Chăn nuôi bò chất lượng cao, thâm canh là một
nghề rất mới mẻ đối với nông dân Việt Nam Chăn nuôi bò thâm canh đòi hỏi dân
Trang 35trí và kinh tế cao Có khoảng 0,5% hộ chăn nuôi có quy mô trang trại lớn trên 100
bò trở lên với phương thức chăn nuôi thâm canh để nuôi bò sinh sản cho sản xuất con giống hoặc vỗ béo bò Phương thức chăn nuôi này chủ yếu là bò lai, bò ngoại chuyên thịt, bò được nuôi trên đồng cỏ thâm canh luân phiên hoặc nuôi nhốt tại chuồng với khẩu phần ăn hoàn chỉnh và chuồng nuôi hiện đại
- V ấn đề thức ăn trong chăn nuôi bò
Thức ăn chủ yếu của bò là cỏ và các nguồn phế phụ phẩm trồng trọt (phần
lớn là rơm) Đồng cỏ, bãi chăn thả tự nhiên ở nước ta ngày càng bị thu hẹp, việc phát triển diện tích cỏ trồng ngày càng được chú trọng, hiện nay tổng diện tích cỏ
trồng có khoảng 27.000 ha Nhiều giống cỏ cho năng suất cao được nhập và trồng thử nghiệm thành công, trong đó có những giống cỏ mới đang được người chăn nuôi quan tâm, như trồng các giống cỏ hỗn hợp hoà thảo, giống cỏ họ đậu của úc và các giống cỏ Supperdan, Sweet Jumbo, Dairy Mix, Beef Mix trồng rất hiệu quả…Tuy nhiên, diện tích trồng cỏ chưa phát triển ở nông hộ, nên việc thiếu thức
ăn, nhất là mùa khô vẫn còn phổ biến Mặc dù vậy, nhiều loại phụ phẩm vẫn chưa được tận dụng để làm thức ăn cho bò Một số vùng vẫn còn tập quán đốt rơm ngay trên ruộng (nhất là ở các tỉnh miền Trung), vừa lãng phí một nguồn phụ phẩm chính cho chăn nuôi bò, vừa góp phần gây ô nhiễm môi trường hoặc sử dụng rơm và các
phụ phẩm khác để ủ gốc cây, làm phân rất lãng phí
Một số hộ dùng cám gạo hoặc cho bò ăn thêm thức ăn tinh, nhưng chỉ dùng khi bò phải cày kéo nhiều, khi đau ốm chứ chưa phải dùng với mục đích chăn nuôi thâm canh Rất ít hộ chăn nuôi biết cách xử lý, chế biến nhằm nâng cao giá trị dinh dưỡng của các nguồn phụ phẩm nông nghiệp để làm thức ăn cho bò Một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc đưa các tiến bộ kỹ thuật về thức ăn và việc chăm sóc, nuôi dưỡng bò của các hộ nông dân còn nhiều hạn chế
- Quy mô chăn nuôi bò
Quy mô nông h ộ: Chăn nuôi bò quy mô nông hộ 1-2 con là phổ biến ở nước
ta để sử dụng sức kéo trong nông nghiệp và tận dụng phế phụ phẩm nông sản và lao động phụ trong gia đình
Quy mô trang tr ại: Trang trại chăn nuôi bò cũng phát triển mạnh, nhất là các
Trang 36tỉnh miền Nam với 4.858 trang trại, chiếm 73,9% tổng số trang trại chăn nuôi bò
của cả nước (6.405 trang trại) Nhiều trang trại chăn nuôi bò có quy mô từ 100 con trở lên được tập trung ở các tỉnh Bình Phước, Bình Thuận, Ninh Thuận và các tỉnh miền Đông Nam bộ Các tiến bộ về giống, thức ăn, chuồng trại, quy trình kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng đàn bò được áp dụng trong chăn nuôi trang trại bò; qua đó góp phần tạo ra bò hàng hoá, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp – nông thôn nhằm tạo việc làm và tăng thu nhập cho người sản xuất đồng thời thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia đầu tư chăn nuôi bò
Trang 37Ph ần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là các mô hình chăn nuôi bò trên địa bàn xã Lương Thông, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng
3.1.2 Ph ạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu bao gồm phạm vi về không gian và thời gian nghiên cứu
- Về không gian: tại xã Lương Thông, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng
- Về thời gian: Thu thập các số liệu và thông tin cần thiết phục vụ cho khóa luận từ các tài liệu đã công bố trong những năm gần đây, các số liệu thống kê của xã
Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2016 – 2018
3.3 N ội dung nghiên cứu của đề tài
- Tìm hiểu một số đặc điểm về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Lương Thông, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng
- Đánh giá thực trạng phát triển chăn nuôi bò tại xã Lương Thông, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng
- Đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển chăn nuôi bò tại xã Lương Thông, huyện Thông Nông, tỉnh Cao Bằng
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4 1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu được lựa chọn dựa trên các thông tin sẵn có về tình hình chăn nuôi bò trên địa bàn xã Lương Thông, do xã có nhiều hộ chăn nuôi bò với
số lượng lớn của huyện Thông Nông nên tác giả đã chọn xã Lương Thông làm địa bàn nghiên cứu
3.4 2 Phương pháp thu thập thông tin
3.4.2.1 Thu th ập thông tin thứ cấp
Thông tin thứ cấp được thu thập từ các báo cáo nghiên cứu có sẵn, các tài liệu, số liệu liên quan đến cơ sở lí luận và thực tiễn về hiệu quả kinh tế, qua các báo
Trang 38cáo tổng kết hàng năm, các số liệu thống kê của xã Lương Thông, tham khảo các khóa luận tốt nghiệp Cụ thể bao gồm:
- Số liệu tình hình điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Lương Thông qua các báo cáo cuối năm năm 2017, 2018
- Số liệu về chăn nuôi bò của xã thu thập từ các báo cáo và tài liệu của ủy ban xã Lương Thông
Đây là những số liệu được công bố, đảm bảo tính chính xác và khách quan của đề tài nghiên cứu Từ đó có những đánh giá ban đầu về tình hình sản xuất,
những thuận lợi - khó khăn trong sản xuất tại địa phương mà người dân gặp phải
3.4.2.2 Thu th ập thông tin sơ cấp
Là những số liệu phục vụ cho nội dung nghiên cứu đề tài, như: Các số liệu về tình hình cơ bản của hộ; kết quả sản xuất trồng trọt, chăn nuôi và sản xuất khác của
hộ; vốn đầu tư của hộ; lao động và sử dụng lao động của hộ; cách tổ chức sản xuất của hộ; tình hình tiêu thụ sản phẩm bò của hộ; các khó khăn vướng mắc của hộ; sự quan tâm của chính quyền địa phương trong hoạt động sản xuất của hộ; các nhận định, đánh giá về tình hình phát triển kinh tế xã hội và phát triển chăn nuôi bò của xã
Các số liệu sơ cấp được thu thập bằng phiếu điều tra, phỏng vấn được xây dựng theo mục đích nghiên cứ'u với các đối tượng thu thập thông tin là 60 hộ gia
đình chăn nuôi bò thuộc 3 xóm: Lũng Rịch, Lũng Kiến và Lũng Rẩy
3.2.3 Phương pháp phân tích số liệu
3.2.3.1 Phương pháp thống kê mô tả
Thống kê mô tả là phương pháp nghiên cứu các hiện tượng kinh tế xã hội bằng việc mô tả thông qua các số liệu thu thập được Phương pháp này sử dụng một
số chỉ tiêu như số tương đối, số tuyệt đối để phân tích tình hình chăn nuôi bò của các hộ dân và một số cơ sở trên địa bàn nghiên cứu đồng thời dùng để so sánh hiệu quả kinh tế giữa các hình thức chăn nuôi khác nhau của các hộ chăn nuôi bò
Số tuyệt đối trong thống kê là chỉ tiêu phản ánh quy mô, khối lượng của các hiện tượng kinh tế xã hội ở một số thời gian và địa điểm cụ thể Số tuyệt đối được chia làm 2 loại là số tuyệt đối thời kỳ và số tuyệt đối thời điểm
Số tương đối trong thống kê là chỉ tiêu phản ánh sự tương quan số lượng
Trang 39trong 2 trị số chỉ tiêu có liên hệ với nhau Có rất nhiều loại số tương đối như số tương đối kế hoạch, số tương đối động thái, số tương đối kết cấu, số tương đối so sánh, trong đề tài chỉ sử dụng hai loại số tương đối là số tương đối kế hoạch và số tương đối so sánh
3 2.3.2 Phương pháp tổng hợp và phân tích
Kết quả và hiệu quả của quá trình sản xuất được tính toán, lượng hóa mối quan hệ qua hệ thống các chỉ tiêu khác nhau như: thu nhập hỗn hợp, giá trị gia tăng, chi phí trung gian, Hệ thống các chỉ tiêu đó được phân tích đánh giá thông qua sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tổ thống kê, thống kê so sánh, cụ thể là:
Phân tích so sánh giữa các xóm nhằm rút ra kết luận của sự khác nhau về thực trạng, các khó khăn cũng như tiềm năng và thuận lợi trong chăn nuôi bò giữa các xóm
Phân tích so sánh giữa các phương thức chăn nuôi để thấy rõ sự khác nhau về qui mô, trình độ, phương thức nuôi, mục đích nuôi, tình hình giải quyết thức ăn và thu nhập từ chăn nuôi bò, giữa các nhóm hộ
Phân tích so sánh giữa các giống bò nuôi để xem xét giống bò nào có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao hơn, phù hợp hơn với đièu kiện của các hộ nuôi bò
và các nhân tố ảnh hưởng đến chăn nuôi bò
2.2.3.3 Phương pháp chuyên gia
Trao đổi với một số cán bộ của Sở NN &PTNT, phòng nông nghiệp các huyện, cán bộ khuyến nông của Trung tâm khuyến nông tỉnh, cán bộ thú y của các
xã vùng nghiên cứu, trao đổi thảo luận với các hộ chăn nuôi bò từ đó góp phần hoàn thiện nội dung nghiên cứu cũng như kiểm chứng kết quả nghiên cứu
3.2.3.4 Phương pháp phân tích SWOT
Là phương pháp này giúp ta có cái nhìn từ nhiều phía để thấy rõ những điểm mạnh, điểm yếu, những nguy cơ và thách thức để có thể đưa ra những quyết định
sáng suốt nhất cho phát triển chăn nuôi bò
- Strengths – Các điểm mạnh (S): Đây là những điểm mạnh để phát triển
chăn nuôi bò của hộ, những yếu tố nội tại của hộ như vốn, lực lượng lao động, kinh nghiệm sản xuất…
Trang 40- Weaknesses – Các điểm yếu (W): Đây là những điểm còn chưa hoàn thiện,
chưa tốt, các yếu tố yếu kém bên trong của hộ trong phát triển chăn nuôi bò như:
thiếu vốn, thiếu kỹ thuật chăn nuôi, thiếu tính năng động…
- Opportunities – Các cơ hội (O): Đây là các yếu tố bên ngoài, là những cơ
hội, yếu tố có lợi, hoặc sẽ đem lại lợi thế cho hộ chăn nuôi bò: Chính sách của Nhà nước, địa phương khuyến khích chăn nuôi bò, nhu cầu thịt bò của người tiêu dùng nhiều…
- Threats – Các mối nguy (T): Đây là những tác động tiêu cực từ bên ngoài
mà hộ có thể phải đối mặt như sự cạnh tranh của sản phẩm chăn nuôi vùng khác, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm cần phải tuân thủ…
3.2.4.1 Chỉ tiêu phân tích tình hình chung về chăn nuôi bò trong toàn xã
Là những chỉ tiêu tổng quát nhằm đánh giá tình hình chung về chăn nuôi bò trong toàn xã, cụ thể là:
- S ố lượng và tốc độ phát triển đàn bò của xã hàng năm: Là tổng số đàn bò
của xã trong những năm gần đây và tốc độ tăng đàn bình quân của đàn bò trong thời
kỳ nghiên cứu Chỉ tiêu này được dùng để đánh giá sự diễn biến và chiều hướng biến thiên về số lượng của đàn bò ở Lương Thông trong một số năm gần đây
- Bi ến động cơ cấu đàn bò của xã: Bao gồm cơ cấu đàn bò theo mục đích chăn
nuôi và cơ cấu đàn bò theo giống Cơ cấu đàn bò theo mục đích chăn nuôi là số lượng bò ở các độ tuổi khác nhau (bò hậu bị, bò trưởng thành, ) và được sử dụng
theo các hướng sản xuất khác nhau (cày kéo, sinh sản, ) Cơ cấu giống là số lượng
bò thuộc các giống khác nhau (bò nội, bò lai, bò ngoại thuần) trong tổng số đàn bò của xã Chỉ tiêu này nhằm đánh giá tình hình phát triển của đàn bò, và đặc biệt là đánh giá những tiến bộ về công tác giống và chương trình Sind hóa đàn bò của xã