1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận nghiên cứu sinh trưởng loài cây gừng núi đá (zingiber purpureum roscoe) trên các giá thể đất tại mô hình khoa lâm nghiệp trường đại học nông lâm thái nguyên

51 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 51
Dung lượng 911,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

L ỜI CAM ĐOAN Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp:“Nghiên cứu sinh trưởng loài cây g ừng núi đá trên giá thể đất Zingiber purpureum Roscoe tại mô hình khoa Lâm Nghi ệp Trường Đại Học N

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

H ệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm Nghi ệp

Khóa h ọc : 2015-2019

Thái Nguyên - 2019

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

PH ẠM TRỌNG HIỆP

NGHIÊN C ỨU SINH TRƯỞNG LOÀI CÂY GỪNG NÚI ĐÁ

(Zingiber purpureum Roscoe) TRÊN CÁC GIÁ THỂ ĐẤT

T ẠI MÔ HÌNH KHOA LÂM NGHIỆP ĐẠI HỌC NÔNG LÂM –

THÁI NGUYÊN

H ệ đào tạo : Chính quy

Chuyên ngành : Lâm Nghi ệp

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Em xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp:“Nghiên cứu sinh trưởng loài

cây g ừng núi đá trên giá thể đất (Zingiber purpureum Roscoe) tại mô hình khoa Lâm Nghi ệp Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên” là công trình

nghiên cứu khoa học của bản thân em, công trình được thực hiện dưới sự hướng dẫn của Ths Phạm Đức Chính Những phần sử dụng tài liệu tham khảo trong khóa luận đã được nêu rõ trong phần tài liệu tham khảo Các số liệu và

kết quả nghiên cứu là quá trình điều tra trên thực địa hoàn toàn trung thực, chưa công bố trên các tài liệu, nếu có gì sai em xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Thái Nguyên, ngày 31 tháng 05 năm 2019

Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên

để sửa chữa sai sót sau khi Hội đồng chấm yêu cầu

(Ký, h ọ và tên)

Trang 4

L ỜI CẢM ƠN

Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc đối với các thầy

cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt là các thầy cô trong khoa Lâm nghiệp của trường đã tạo điều kiện, quan tâm giúp đỡ cho em trong quá trình thực hiện đề tài khóa luận

Em xin bày tỏ biết ơn sâu sắc tới Ths Phạm Đức Chính là người đã trực tiếp hướng dẫn thực hiện và giúp đỡ em hoàn thành đề tài khóa luận này

Em cũng gửi lời cảm ơn tới gia đình, người thân và bạn bè đã luôn ở bên cạnh động viên, khích lệ em trong suốt quá trình học tập và thời gian em thực hiện khóa luận tốt nghiệp này

Trong quá trình thực tập, cũng như trong quá trình làm bài báo cáo thực tập, khó tránh khỏi sai sót, rất mong các thầy, cô bỏ qua Đồng thời do trình độ lý luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn còn hạn chế nên bài khóa luận tốt nghiệp không thể tránh khỏi những thiếu sót, em rất mong nhận được

ý kiến đóng góp của thầy, cô để chuyên đề được hoàn thiện hơn Em xin chân thành cảm ơn

Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày 31 tháng 05 năm 2019

Sinh viên

Phạm Trọng Hiệp

Trang 5

Bảng 4.4: Sinh trưởng về chiều cao của loài cây gừng núi đá trong 30

Bảng 4.5.Bảng tổng hợp kết quả sinh trưởng chiều cao ở lần đo thứ 3 của loài cây gừng núi đá 32

Bảng 4.6: Khả năng ra lá của loài cây gùng núi đá trong các công thức 33

Trang 6

DANH M ỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Ảnh được chụp tại mô hình khoa Lâm Nghiệp 19 Hình 4.1 Kết quả đường kính của loài cây gừng núi đá trong các công thức 27 Hình 4.2: Thu thập số liệu tại mô hình 28 Hình 4.3 Kết quả chiều cao của loài gừng núi đá trong các công thức 30 Hình 4.4: Kết quả khả năng ra lá của loài cây gừng núi đá trong các công thức 33

Trang 8

M ỤC LỤC

L ỜI CAM ĐOAN i

L ỜI CẢM ƠN ii

DANH M ỤC CÁC BẢNG iii

DANH M ỤC CÁC HÌNH iv

DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT v

PH ẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề: 1

1.2 Mục tiêu nhiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 2

1.3.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học 2

1.3.2.Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3

PH ẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 4

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu 4

2.2 Tình hình nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ trong và ngoài nước 5

2.2.1 Tình hình nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ trên thế giới 5

2.2.2 Tình hình nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ trong nước 12

2.2.2 Các nghiên cứu về cây gừng núi đá 13

2.3 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam 13

2.3.1 Tình hình nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam 13

2.3.2 Các nghiên cứu về cây gùng núi đá 15

2.4.Khái quát một số đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu 16

2.5 Khái quát một số đặc điểm của cây gừng núi đá (Zingiber purpureum Roscoe) 19

2.5.1 Đặc điểm nhận biết cây gừng núi 19

2.5.2 Đặc điểm sinh học và sinh thái 20

2.5.3 Phân bố 20

2.5.4 Công dụng 20

Trang 9

PH ẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU 21

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 21

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 21

3.3 Nội dung nghiên cứu 21

3.4 Phương pháp nghiên cứu 21

3.4.1 Phương pháp luận 21

3.4.2.Quá trình thu thập mẫu nghiên cứu và bố trí thí nghiệm 22

3.4.3 Phương pháp nghiên cứu 24

Ph Ần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26

4.1 Đánh giá sinh trưởng loài cây gừng núi đá 26

4.1.1 Tỷ lệ sống 26

4.1.2 Sinh trưởng đường kính của cây gừng núi đá trong các công thức 26

4.1.3 Sinh trưởng chiều cao của loài cây gừng núi đá trong các công thức 29

4.1.4 Động thái ra lá của loài cây gùng núi đá trong các công thức 32

PHẦN 5 KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 35

5.1 Kết luận 35

5.1.1 Về tỷ lệ sống 35

5.1.2 Về đường kính 35

5.1.3.Về chiều cao 35

5.1.3.Về lá 36

5.2.Tồn Tại 36

5.3.Kiến Nghị 36

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 37

Trang 10

PH ẦN 1

M Ở ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm trở lại đây có rất nhiều các đề tài được các nhà khoa

học nghiên cứu cây lâm sản ngoài gỗ, nhóm cây được xếp vào nhóm cây dược

liệu chữa được rất nhiều bệnh, trong dân gian có rất nhiều các bài thuốc được bài chế lưu truyền cho đến ngày nay , không chỉ trong nước mà còn trên thế giới có rất nhiều bài đánh giá nghiên cứu chi tiết về loài này, nổi bật như một

số loài cây như, gừng núi đá, nghệ đen, địa liền, sa nhân…

Trong đó gừng núi đá (Zingiber purpureum Roscoe) là một trong

những cây thuộc nhóm cây lâm sản ngoài gỗ phân bố chủ yếu ở một số tỉnh vùng núi phía Bắc như một số tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn Gừng núi

đá có mùi thơm đặc trưng, dùng làm gia vị và dược liệu Những năm gần đây,

gừng núi đá mọc trong tự nhiên bị người dân khai thác ồ ạt nên ngày càng khan hiếm và có nguy cơ biến mất, do đó cần phải bảo tồn và nhân giống

gừng núi đá

Để bảo tồn và nhân giống gừng quý, những năm gần đây đã được quan tâm nghiên cứu và nhân giống Cây gừng núi đá trồng tự nhiên có chiều cao khoảng 1 m, do số chồi nằm ở củ không nhiều nên cây thường ít ra hoa.Họ

Gừng(ingiberaceae)là một họ của thảo mộc sống lâu năm với các thân rễ bò ngang hay tạo củ,bao gồm 47 chi và khoảng trên 1.000 loài Nhiều loài là các

loại cây cảnh, cây gia vị hay cây thuốc quan trọng Các thành viên quan trọng

nhất của họ này bao gồm gừng, nghệ, riềng, đậu khấu và sa nhân Các loài trong họ này là thực vật tự dưỡng hay biểu sinh Thân rễ lớn, thường phân nhánh, chứa nhiều chất dự trữ Lá có bẹ dài ôm lấy nhau làm thành thân giả,

cuống ngắn và phiến lớn, giữa cuống và bẹ có phần phụ gọi là lưỡi bẹ, thân lá thường có mùi thơm Gừng núi là loại mọc dại gặp nhiều trong rừng thứ sinh,

có hoa màu trắng, cánh môi màu vàng nhạt, thân rễ vị đắng và cay , được

Trang 11

dùng làm thuốc[6] Việc thực hiện đề tài “Nghiên cứu và đánh giá sinh trưởng

của cây một số loài cây lâm sản ngoài gỗ, cây Gừng núi đá trên các giá thể đất

tại mô hình khoa Lâm Nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”nhằm

đánh giá mức độ sinh trưởng của các loài cây họ gừng (zingiberaceae) nhân

rộng mô hình đánh giá sinh trưởng các loài cây Họ gừng (zingiberaceae) theo

mô hình trên các giá thể đất mô hình khoa Lâm Nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

Việc trồng cây gừng núi đá là một trong những giải pháp giúp góp phần cho việc bảo tồn và phát triển bền vững nguồn LSNG vừa tạo sinh kế lâu dài cho người dân và góp phần xóa đói giảm nghèo nâng cao mức thu nhập, ổn định đời sống cho đồng bào các dân tộc ở các xã vùng sâu, vùng xa “Nghiên

cứu sinh trưởng loài cây gừng núi đá (Zingiber purpureum Roscoe) trên các

giá thể đất tại mô hình khoa Lâm Nghiệp trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên” nhằm đánh giá mức sinh trưởng nào tốt nhất trong các giá thể từ đó

áp dụng mở rộng các mô hình lớn giới thiệu sâu rộng cho người dân giúp học

tập trồng theo để tăng năng suất giá trị kinh tế cao là cây mũi nhọn cho người dân ở một số tỉnh miền núi

1.2 M ục tiêu nhiên cứu

- Đánh giá được tình hình sinh trưởng của mô hình trồng cây gừng núi đá

tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

- Đề xuất được một số biện pháp nhằm phát triển mô hình trồng cây bản địa trong mô hình

- Đề tài góp phần tạo ra cảnh quan đẹp cho mô hình khoa Lâm Nghiệp 1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học

- Củng cố kiến thức đã học, hệ thống lại kiến thức đã học, bổ sung kiến

thức chuyên môn và vận dụng vào thực tế sản xuất

Trang 12

- Cung cấp thông tin về sinh trưởng và phát triển của các loài LSNG tại

mô hình khoa Lâm Nghiệp

- Việc nghiên cứu đề tài là cơ sở để đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh phù hợp để phát triển mô hình khoa Lâm Nghiệp tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên

1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất

- Qua những đánh giá cụ thể về sinh trưởng của một số loài cây lâm sản ngoài gỗ chúng ta có thể tìm ra được các giải pháp cụ thể nhằm hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến ngành Lâm nghiệp và phát triển các loài cây này

- Bảo vệ được các loài cây LSNG, các loài nguy cấp, loài có giá trị kinh

tế, giá trị khoa học cao

- Làm cơ sở tài liệu cho những đề tài và nghiên cứu có liên quan

Trang 13

PH ẦN 2 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học của vấn đề nghiên cứu

Các loài thực vật mọc hoang dã được con người sử dụng phục vụ cuộc

sống Nhưng hiện nay những tài nguyên thiên nhiên đó đang trở lên rất khan

hiếm, chính vì vậy việc tìm kiếm ngoài tự nhiên ngày thêm khó khăn và hiện nay đặt ra thách thức cho những người không biết quý trọng và bảo tồn nguồn tài nguyên đó… Hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta đa dạng sinh học đang bị khai thác từng ngày từng giờ làm cho số lượng loài không ngừng suy

giảm, bên cạnh đó là các loài đã và đang bị đe dọa nghiêm trọng và có nguy

cơ bị tuyệt chủng.Vấn đề cấp thiết đặt ra hiện nay là đòi hỏi chúng ta phải hành động ngay trên phạm vi toàn cầu Như chúng ta đã biết việc trồng rừng, thâm canh rừng lấy gỗ, trồng rừng phòng hộ, trồng rừng đặc dụng, trồng rừng đối với các loài cây lâm sản ngoài gỗ… đã được tiến hành từ lâu với nhiều phương thức trồng khác nhau nhưng cho đến nay việc trồng cây cảnh, cây đặc sản, cây dược liệu và nhất là các loài cây dược liệu quý, trồng cây để bảo tồn tránh tuyệt chủng thì mới bắt đầu được quan tâm nghiên cứu và thử nghiệm vào những năm gần đây Đặc biệt là các loài cây thuốc sử dụng làm dược liệu

Hiện nay nhiều loài cây dược liệu đang trong tình trạng suy giảm, bị đe dọa nghiêm trọng trước sự khai thác quá mức của con người, cho nên việc nghiên

cứu các đặc tính sinh học, cách gây trồng loài cây này là rất cần thiết, nhằm tránh khỏi sự suy giảm, mất đi nguồn gen quý hiếm này

Trong những năm gần đây có rất nhiều đề tài nghiên cứu về cây gừng núi đá, nhân giống trồng ở một số tỉnh vùng núi phía Bắc, nhằm cải thiện đời

sống kinh tế có các hộ dân, mở rộng các vùng phục vụ cho các đề tài nghiên

cứu, cây gừng núi đá có rất nhiều công dụng trong đời sống dùng làm thuốc

chữa đau bụng,dùng làm gia vị

Trang 14

2 2 Tình hình nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ trên thế giới

Cây gừng núi đá là loài mới, chưa được nghiên cứu nhiều Tài liệu hạn chế, không tìm được các nghiên cứu trên thế giới, bởi vậy phần tổng quan tài

liệu tình hình nghiên cứu trên thế giới còn chưa được tác giả tham khảo nhiều.[1]

Trên thế giới, nhiều nước đã sử dụng nguồn Lâm Sản Ngoài Gỗ để làm thuốc, nhiều nước đã có nhiều đề tài nghiên cứu về thuốc và họ cũng đã sử

dụng nhiều nguồn tài nguyên này xuất khẩu làm dược liệu và thu được nguồn ngoại tệ đáng kể Đặc biệt là Trung Quốc, có thể khẳng định đây là quốc gia

đi đầu trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh Vào thế kỷ XVI, Lý Thời Trân đưa ra “Bản thảo cương mục” sau đó năm 1955 cuốn bản thảo này được

in ấn lại Nội dung cuốn sách đã đưa đến cho con người cách sử dụng các loại cây cỏ để chữa bệnh Năm 1954 tác giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành công công trình “Dược dụng thực vật cấp sinh lý học” cuốn sách này giới thiệu tới người đọc cách sử dụng từng loại cây thuốc, tác dụng sinh lý, hóa sinh của chúng, công dụng và cách phối họp các loại cây thuốc theo từng địa phương như “Giang Tô tỉnh tực vật dược tài chí”, “Giang Tô trung dược danh

thực đồ thảo” “Quảng Tây trung dược trí” [12]

Trên thế giới, tính đến nay số loài thực vật được sử dụng vào mục đích chữa bệnh lên đến khoảng 35.000 – 70.000 loài Trong đó, Trung Quốc ước tính có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.500 – 8.000 loài, Indonesia có khoảng 7.500, Malaysia có khoảng 2.000 loài ,Nepan có hơn 700 loài, Srilanka có khoảng 550 – 700 loài, Hàn Quốc có khoảng 1.000 loài thực vật

có thể được sử dụng trong y học truyền thống Trong những năm gần đây, nước Mỹ - một nước có nền công nghiệp hiện đại, rất quan tâm đến nguồn tài nguyên cây thuốc phục vụ cho công tác chữa bệnh, họ đã thực hiện những chương trình sàng lọc các hợp chất tự nhiên từ thực vật nói chung và thực vật

Trang 15

làm thuốc nói riêng Đồng thời, nước này còn đầu tư lớn vào việc nghiên cứu dược thảo, đào tạo chuyên gia và thành lập trung tâm quốc gia nghiên cứu bổ sung và chọn lọc thuốc của Mỹ [13]

Nhận thấy sự nguy cấp của sự đa dạng các loài thực vật trên thế giới, trong đoa có cả những loài lâm sản ngoài gỗ, cùng với đó là trách nhiệm phải

bảo tồn những loài cây quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng cao đồng thời

có thể kết hợp tham quan giải trí và lồng ghép giáo dục về thiên nhiên thay đổi nhận thức và là cơ sở cho con người học tập, nghiên cứu, thư giãn nên trên thế giới con người đã xây dựng các vườn thực vật chuyển vị để góp phần

bảo vệ nguồn gen của các loài thực vật Hiện nay có khoảng 1800 vườn bách

thảo tại 150 nước thuộc phần lớn tại các vùng có khí hậu ôn hòa Trong đó có

400 vườn ở Châu Âu, 200 ở Bắc Mỹ, 150 ở Nga, và một số càng ngày càng tăng lên ở Đông Á Những vườn này lôi cuốn mỗi năm khoảng 150 triệu du khách.Trong quá khứ, các vườn bách thảo trao đổi các cây cối qua việc ấn hành danh sách các hạt giống Đó là một phương tiện để trao đổi không những các thực vật mà cả các thông tin giữa các vườn bách thảo với nhau Ở Châu

Âu, từ năm 1492 đã có vườn bách thảo Arboretum von Trsteno gần Dubrovnik Tổng diện tích của Arboretum là 28 hecta Trong suốt 5 thế kỷ tồn

tại, các yếu tố của thời kỳ Phục Hưng Baroque và Romanticism có thể được nhìn thấy trong kiến trúc cảnh quan Trên một số bậc thang bên cạnh cây trồng ở Địa Trung Hải như ô liu, cây sung hoặc cây có múi cũng có rất nhiều cây cọ, cây bạch đàn, cây laurel, cây xương rồng và các cây kỳ lạ khác[14]

Bộ sưu tập của vườn bao gồm 30.000 loài thực vật sống khác nhau.Vườn thực vật Na Aina Kai, Mỹ khoảng 240 loài Và còn vườn thực vật đại học Hokkaido rộng hơn 13 hecta trồng khoảng 4000 loại thực vật được

mở cửa vào cuối thế kỷ 19 Bên cạnh đó là rất nhiều vườn thực vật nổi tiếng, lưu giữ nhiều loài thực vật trên thế giới như: Vườn Butchart, British Columbia, Canada, Villa D’este, Italy, Villa Eprhussa de Rothchild,

Trang 16

Pháp…xây dựng với mục đích bảo vệ các loài thực vật quý hiếm lồng ghép thăm quan giải trí cho con người Ở Đức vườn bách thảo đầu tiên được thành

lập ở Leipzig (1580), Jena (1586), Heidelberg (1593), Gießen (1609) hay Freiburg (1620), thường thuộc về phân khoa Y học là vườn dược thảo Vườn bách thảo Kiel là vườn bách thảo đầu tiên theo nghĩa hiện nay Nó được hình thành bởi Johann Daniel Major vào năm 1669 tại Christian-Albrechts-Universität zu Kiel Ở Bồ Đào Nha vườn bách thảo đầu tiên do bá tước Grafen von Pombal thuộc Universität Coimbra xây vào năm 1772[17]

Tại Châu Á, có vô vàn các vườn thực vật lớn nhỏ của các nước như: Trung Quốc có 152 vườn thực vật điển hình như là Vườn Thực Vật Bắc Kinh

- Khu vườn được thành lập năm 1953 và hiện nay có diện tích 564.000 m2 Chúng bao gồm 6.000 loài thực vật, bao gồm 2.000 loại cây và bụi rậm, 1.620 loài thực vật nhiệt đới và cận nhiệt đới và 500 loài hoa Bộ sưu tập này bao

gồm một số loài quý hiếm, ngoài ra còn có Vườn thực vật Nam Trung Quốc

là một phần của Học viện Khoa học Trung Quốc, trước đây gọi là Viện Nông Lâm nghiệp, Đại học Sun Yat-Sen, được thành lập vào năm 1929, Vườn Bách thảo Nhiệt đới Xishuangbanna của Học viện Khoa học Trung Quốc được thành lập năm 1959 Vườn thực vật Kadoorie và Vườn Bách thảo Kadoorie và Vườn Bách thảo trải dài trên 148 hecta đất và nằm trên sườn núi phía bắc và chân núi của ngọn núi cao nhất ở Hồng Kông - Tai Mo Shan, Vườn thực vật

Vũ Hán, Nghiên cứu vườn thực vật theo định hướng này là một phần của Học

viện Khoa học Trung Quốc và được thành lập vào năm 1956 và mở cửa cho công chúng vào năm 1958 Hơn 10.000 loài thực vật và các giống và có 16 vườn đặc sản Vườn hoa quả hoang dã, Vườn thực vật quý hiếm và Vườn cây thuốc là một trong những vườn lớn nhất Trung Quốc và Vườn Thực vật Xiamen - nằm trên núi Wanshi ở phía đông nam của đảo Hạ Môn Còn được

gọi là Vườn Thực Vật Wanshi có diện tích 4,93 km2 và chứa hơn 6.300 loại cây cảnh nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới cộng thêm 10 vườn độc đáo dành riêng

Trang 17

nhỏ hơn Ấn độ có 131 vườn thực vật nổi tiếng như Vườn thực vật nhiệt đới Jawaharlal Nehru và Viện nghiên cứu, Trivandrum, Kerala 121 ha ở độ cao

100 m trên mực nước biển Bảo tồn số lượng lớn nhất các bộ sưu tập cây trồng nhiệt đới tại các vườn thực vật ở châu Á, vườn thực vật Acharya Jagadish Chandra Bose được thành lập năm 1786, mục đích của vườn bách

thảo hoàng gia là thu thập các cây bản địa và giới thiệu làm cho cây trồng được phục hồi lại từ các nước khác Các vườn cũng là một nguồn cung cấp cây trồng quan trọng cho Kew và các vườn khác của châu Âu Vườn bách

thảo Jhansi, Jhansi, Uttar Pradesh, Vườn Bách thảo Saharanpur, Saharanpur, Uttar Pradesh, Vườn thực vật Lloyd's, Darjeeling, Tây Bengal được thành lập vào năm 1878 như là một phụ tùng xa xôi của Vườn thực vật Calcutta Tại Indonesia có 5 vườn thực vật nổi trội đó là Vườn Bách thảo Bali.Nhật bản có

64 vườn thực vật đặc biệt phải kể đến đó là Vườn thực vật, Trường đại học Khoa học, Đại học Tokyo Đại học Tokyo Botanical Gardens, Hakusan, Bunkyo-kuTokyo, Nhật Bản Lào có Vườn thực vật Pha Tad Ke xây dựng vào năm 2008 và mở cửa vào năm 2015 Đến với Malaysia phải kể đến Rimba Ilmu Rimba Ilmu là một khu vườn thực vật nhiệt đới, được thành lập tại khuôn viên trường Đại học Malaya ở Kuala Lumpur, Malaysia.Rimba IlmuInstitute of Biological Sciences, Đại học Malaya, Kuala Lumpur, Malaysia.Singapore có 2 vườn không thể không nhắc đến Singapore Botanic Gardens nằm ở trung tâm thành phố và được thành lập vào năm 1859.Với

diện tích gần 74 hecta, khu vườn là nơi nghiên cứu và bảo tồn hơn 30.000 loài

thực vật Khu vườn này nổi tiếng trên thế giới với Vườn lan Quốc gia, nơi trưng bày hoa lan nhiệt đới lớn nhất thế giới với hơn 1.000 loài phong lan và 2.000 loại lan lai tạo Nam Triều Tiên có 54 vườn những cái tên thường được

nhắc đến như Vườn Bách Thảo Namsan có trụ sở tại Seoul nó chiếm một khu

vực 59 m2, có tổng cộng 117.132 cây từ 269 loài trên có 13 khu vườn theo

chủ đề Oedo - một vườn thực vật ven biển được xây dựng năm 1969 bởi Lee

Trang 18

Chang Ho và vợ ông, trong công viên biển quốc gia được gọi là Vườn Quốc gia Hallyeo Haesang Vườn Sinh thái Eco Yanggu - khai trương năm 2004.Chiếm 189.141 người.Đặt tại chân núi Daeamsan Đây là khu vườn sinh thái cực bắc của Hàn Quốc và được phát triển như là một trung tâm khôi

phục hệ sinh thái Nam và Bắc Triều Tiên Bao gồm hơn 400 thực vật quý

hiếm bao gồm các loài thực vật bản địa Hàn Quốc và được bảo vệ bởi Bộ Môi trường Hàn Quốc.Vườn thực vật Yeomiji mở cửa năm 1989 bao gồm 112000 m2, có vườn trong nhà và ngoài trời Theo chủ đề trong các khu Một số vườn

tạo ra các phong cách được tạo ra ở các nước khác trong quá khứ Tiếp đó là Sri Lanka có các vườn thực vật nổi tiếng như Vườn Bách Thảo Hoàng Gia Sri Lanka, Peradeniya, Kandy có 147 mẫu vật nằm ở độ cao 460 mét so với mực nước biển, bao gồm hơn 4.000 loài thực vật và nổi tiếng với bộ sưu tập hoa phong lan, ngoài ra còn có Vườn Bách thảo Hakgala, Vườn Bách thảo Henarathgoda và Vườn Bách thảo Mirijjawila Đài loan có 5 vườn nổi trội kể đến là Vườn Bách thảo Đài Loan, Đài Loan năm 1896, một vườn ươm chính

thức với diện tích dưới 5 ha đã được thành lập gần Xiaonanmen ở phía tây nam thành phố Đài Bắc Điều này đánh dấu sự ra đời của Vườn thực vật Đài

Bắc và Thái Lan có 12 vườn thực vật gồm có vườn thực vật Queen Sirikit là vườn thực vật quan trọng nhất và lâu đời nhất ở Thái Lan và là trung tâm nghiên cứu khoa học chính Dành riêng cho việc bảo tồn hệ thực vật Thái Lan Vườn Bách Thảo Queen Sirikit, trước đây gọi là Vườn Bách Thảo Mae

Sa Nằm cách Pattaya 20km về phía Nam tại Thái Lan vườn thực vật Nong Nooch rộng khoảng 2,4 km2 đã sưu tập khoảng 20.000 loại cây nhiệt đới khác nhau đặc biệt tại Nong Nooch có hơn 670 loài hoa lan Tất cả những vườn

thực vật kể trên hiện tại ngoài mang nhiệm vụ là nơi bảo vệ được các nguồn gen quý của các loài cây mà còn có thể trở thành nơi thăm quan giải trí và tạo

ra một địa điểm hùng vĩ của các đất nước đó

Trang 19

Bảo tồn có khai thác sẽ cũng cung cấp những sản phẩm cần thiết cho một

bộ phận của xã hội một cách bền vững (Mendelsohn, 1992) Nghiên cứu của Mendelsohn (1992) đã chỉ rõ vai trò của thực vật LSNG, theo ông: thực vật LSNG quan trọng cho bảo tồn bởi việc khai thác chúng có thể luôn được thực

hiện với sự tổn hại ít nhất đến rừng Thực vật LSNG quan trọng cho tính bền

vững vì trong quá trình khai thác chúng vẫn đảm bảo cho rừng ở trạng thái tự nhiên Thực vật LSNG quan trọng trong đời sống bởi nó có thể cung cấp nhieuf dạng sản phẩm như thực vật ăn được, nhựa, sợi, cây làm thuốc, và ngoài sử

dụng trực tiếp người thu hái có thể đem bán, trao đổi (một trong các yếu tố không thể thiếu của xã hội) Do đó, ông khẳng định rừng như là một nhà máy quan trọng của xã hội và thực vật LSNG là một trong những sản phẩm quan

trọng của nhà máy này

Trong hội nghị các chuyên gia LSNG của các nước vùng Châu Á, Thái Bình Dương họp tại Bangkok, Thái Lan từ ngày 5-8/11/1991 đã thông qua định nghĩa về LSNG như sau:

Lâm sản ngoài gỗ (Non-wood forest products) bao gồm tất cả các sản phẩm cụ thể, có thể tái tạo, ngoài gỗ, củi và than.Lâm sản ngoài gỗ được khai thác từ rừng, đất rừng hoặc từ cây thân gỗ

Gần đây, J.H.De Beer (1996), tác giả của nhiều tài liệu lâm sản ngoài gỗ, trong đó có tài liệu “Phân tích ngành lâm sản ngoài gỗ Việt Nam” tháng 7/2000

là một ấn phẩm của dự án “Sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ”, đã đưa ra định nghĩa về lâm sản ngài gỗ như sau:

Lâm sản ngoài gỗ (Non-timber forest products) bao gồm các nguyên liệu

có nguồn gốc sinh vật, không phải là gỗ, được khai thác từ rừng để phục vụ con người Chúng bao gồm thực phẩm, thuốc, gia vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, ta nanh, thuốc nhuộm, cây cảnh, động vật hoang dã (động vật sống hay các sản

phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô như tre nứa, mây song, gỗ nhỏ và

sợi.[11]

Trang 20

Hội nghị do FAO (Tổ chức Lương nông thế giới) tổ chức vào tháng 6 năm 1999 đã đưa ra định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ như sau:

Lâm sản ngoài gỗ bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác

gỗ được khai thác từ rừng, đất có rừng và các cây thân gỗ

Việc nghiên cứu về LSNG đã và đang là vấn đề được quan tâm chú ý ở nhiều nước trên thế giới, nhất là ở những nước có rừng nhiệt đới Có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu về LSNG từ rất sớm, như các công trình nghiên cứu của H De Beer Jenne và cộng sự (1989) về giá trị kinh tế lâm sản ngoài gỗ ở Đông Nam Á: tập trung vào Indonesia, Malaysia và Thái Lan;Virgilio de La Cruz và cộng sự (1989) Small-scale harvesting operations

of wood and non -wood forest products involving rural people (hoạt động khai thác quy mô nhỏ của gỗ và lâm sản ngoài gỗ liên quan đến nguời nông dân); Nepstad và cộng sự (1992); Ekwugha và cộng sự (2014) Prospects of Non-Timber Forest Products (Ntfps) On Poverty Alleviation Among Rural Women

in Imo State, Nigeria (triển vọng về lâm sản ngoài gỗ về xóa đói giảm nghèo ở

phụ nữa nông thôn ở bang Imo, Nigeria ).[15]

Nghiên cứu về phân loại và bảo tồn LSNG Công trình Ngiên cứu về tre trúc của Munro (1868) dược coi là một trong những nghiên cứu về tre trúc đàu tiên (dãn theo Đỗ Văn Bản, 2005) Trong công tác này tác giả đã khái quát

được một cách tổng quan vê họ phụ tre trúc trên thế giới

Khi nghiên cứu về các loài tre trúc Gamble (1896) đã đè cập tương đối chi tiết về phân bố, hình thái và một đạc điểm sih thái cảu 151 loài tre trúc (dẫn theo (Đỗ Văn Bản,2005) có ở các nước Ấn Độ, Pakistan, Miến

Điện, Malay sia và Indonesia

T Haig, M.A Hubermen và U Aung Din de F.A.D (1963) với công trình Rừng tre nứa đã nghien cứu mọt số đặc điểm sinh thái của tre trúc nứa

Ấn Độ, Pakistan lien quan đến thổ nhưỡng, khí hậu và một số biện pháp xử

lý lâm học tái sinh khai thác

Trang 21

Nhìn chung các nghien cứu phân loại hiện nay mới chỉ tập chung chủ

yếu vào các loài LSNG có diện tích phân bố lớn với số lượng tre trúc, các nghiên cứu về xong, mây và một số cây thuốc, cây lấy nhựa…[2]

2.2.2 Tình hình nghiên cứu lâm sản ngoài gỗ trong nước

Cây gừng núi đá được xếp vào nhóm giống cây thực phẩm quý hiếm

cần được bảo tồn theo Quyết định 80/2005/QĐ- BNN của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn từ năm 2005

Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn cùng Viện Di truyền nông nghiệp đã tiến hành điều tra tình hình sẩn xuất gừng đá tại Liêm Thủy và Xuân Dương huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn, đánh giá chọn lọc các giá thể gừng

đá trên đồn ruộng, nhân giống thành công giống gừng đá Bắc Kạn băng phương pháp In vitro phân tích các thành phần chính của giống gừng đá Bắc

Kạn nhằm đánh giá giá trị nguồn gen của giống tại vùng nghiên cứu Mô hình trồng 500m² diện tích gừng tại núi đá trong đó 200m² trồng từ củ của địa phương và 300m² trồng từ cây nuôi cấy bằng phương pháp In vitro cho thấy cây sinh trưởng phát triển tốt Chiều cao cây trồng từ nuôi cấy mô đạt 15 -18

cm, được 8-10 lá và đã đẻ 3-5 nhánh Gừng trồng từ củ của địa phương cây

sinh trưởng phát triển tốt mỗi khóm từ 6-10 nhánh.[9]

Các nghiên cứu trên thế giới đã có những phân tích về các vấn đề liên quan đến rau rừng như: mối quan hệ giữa khía cạnh văn hoá và sinh học về chế độ ăn của người, sức khoẻ của một số cộng đồng dân tộc, nghiên cứu về giá trị kinh tế của một số loại rau rừng với đời sống của người dân Một số nghiên cứu còn chỉ rõ và đặc tính của loài, đặc điểm sinh học, các phần có thể

ăn được, thời gian thu hái và sinh cảnh của rau rừng Ngoài ra, một số nghiên

cứu còn đi sâu về nghiên cứu khả năng phát triển và khai thác bền vững các loài rau rừng nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, nâng cao đời sống góp phần xoá

đói giảm nghèo

Trang 22

Đỗ Hoàn Sơn (2012) “Nghiên cứu giải pháp cho phát triển các loài cây Lâm sản ngoài gỗ phục vụ nhu cầu sinh kế và thu nhập của người dân vùng đệm Vườn quốc gia Tam Đảo

Tại Việt Nam có rất nhiều công trình nghiên cứu về bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên thực vật, rất nhiều nghiên cứu tập trung vào đối tượng

là các loài cây thuốc và lâm sản phi gỗ khác.Tuy nhiên, lại có rất ít nghiên

cứu về bảo tồn và phát triển bền vững các loài LSNG Vì vậy, một đề tài nghiên cứu về các giải pháp cho phát triển các loài cây Lâm sản ngoài gỗ

phục vụ nhu cầu sinh kế và thu nhập của người dân vùng đệm VQG Tam Đảo là rất cần thiết và cấp bách hiện nay.[5]

2.2.2 Các nghiên c ứu về cây gừng núi đá

Trên thế giới, tình hình nghiên cứu LSNG từ lâu đã được chú trọng, một trong số đó là dược liệu Nghiên cứu về cây thuốc có nhiều thành công và quy

mô rộng phải kể đến Trung Quốc Có thể khẳng định Trung Quốc là quốc gia

đi đầu trong việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh

Ở Việt Nam, tiềm năng về nguồn tài nguyên này lớn nhưng chưa được quan tâm nên diện tích và sản lượng ngày càng giảm, chủ yếu khai thác, khoanh nuôi tự nhiên.[15]

2.3 Tình hình nghiên c ứu tại Việt Nam

2.3.1 Tình hình nghiên c ứu lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam

LSNG từ xưa đến nay vẫn giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống hàng ngày của các gia đình dân cư vùng trung du và miền núi nước ta Gần đây, nhờ việc buôn bán qua biên giới những sản phẩm này được đánh giá cao hơn Nhưng thật đáng tiếc là chúng ta còn rất nhiều các hạn chế một trong những hạn chế đó là về mặt cách thức khai thác và sử dụng của người dân bản địa đối với nguồn tài nguyên phong phú này

Theo Vũ Tiến Hinh và Phạm Văn Điển (2003) “Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được từ

Trang 23

rừng hoặc bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ lớn ở tất cả các hình thái của nó”

Theo Trần Ngọc Hải (2000): Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng ( hiểu theo nghĩa rộng hơn gồm rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người Bao gồm các loài thực vật, động vật dùng làm thực phẩm, lầm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa mủ, cao su, tanin, màu nhuộm, chất béo, cây cảnh, nguyên vật liệu giấy, sợi [10]

*Nghiên cứu về phân loại lâm sản ngoài gỗ

Đỗ Tất Lợi (1977) trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”- tái bản lần thứ 3 có sửa đổi và bổ sung đã mô tả nhiều loài cây LSNG làm thuốc, trong đó có nhiều bài thuốc hay từ những loài LSNG này

Theo Vũ Văn Dũng và Lê Viết Lâm (2005) thì Việt Nam có trên 140 loài của 29 chi và có thể còn tìm thấy các loài mới, trong đó có rất nhiều loài

có giá trị và kinh tế cao cũng như có giá trị trong việc nghiên cứu Cũng cùng năm 2005, Nguyễn Hoàng Nghĩa đã rà soát các kết quả nghiên cứu về phân loại tre trúc ở Việt Nam kết hợp với một số nghiên cứu, khảo sát ở thực đã đưa ra danh sách của 216 loài thuộc 25 chi tre trúc phân bố tự nhiên ở Việt Nam.[4]

Triệu Văn Hùng cùng các tác giả (2007) đã mô tả hình thái, phân bố, công dụng, kỹ thuật gây trồng, thu hoạch, chế biến và bảo quản của 299 loài LSNG Trong đó phân thành 6 nhóm: nhóm cây có sợi (35 loài tre nứa, 2 loài mây và 8 loài khác); nhóm cây làm thực phẩm (40 loài cây ăn được, 12 loài nấm); nhóm cây thuốc (76 loài); nhóm cây cho dầu nhựa (60 loài); nhóm tanin, thuốc nhuộm (19 loài); nhóm cây bóng mát (23 loài cây hoa, 13 loài cây cảnh, 11 loài cây cảnh và cây bóng mát thân gỗ)

Ngiên cứu khoa học “Xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng cây thảo quả (Amomum aromaticum Roxb.) ở các tỉnh miền núi phía Bắc” do tác giả Lê

Trang 24

Văn Thành (2004) – Phòng nghiên cứu tài nguyên thực vật rừng thực hiện nhằm điều tra đánh giá lại thực trạng gây trồng Thảo quả ở Lào Cai và khảo sát tình hình gây trồng ở một số tỉnh lân cận, từ đó tập hợp kinh nghiệm gây trồng thực tế trong nhân dân kết hợp với điều tra nghiên cứu ngoài thực địa, cùng các chuyên gia và các tài liệu khoa học tiến hành xây dựng bản hướng

dẫn kỹ thuật phục vụ cho việc gây trồng phát triển cây thảo quả

Phan Văn Thắng và cộng sự (2000) khi nghiên cứu đánh giá vai trò của LSNG ở tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn cho rằng LSNG ở đây có vai trò rất quan

trọng, chúng là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình, chiếm trung bình 20 – 30% tổng thu nhập kinh tế của hộ/năm.[7]

2.3.2 Các nghiên c ứu về cây gùng núi đá

Tiến sĩ Đỗ Tuấn Khiêm- Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Bắc

Kạn biết, nghiên cứu nhân giống gừng đá có tính chất đặc sản khu vực, không chỉ bảo tồn phát triển nguồn gen gừng bản địa mà còn có thể khai thác

tiềm năng của chúng phục vụ công tác chọn tạo giống gừng mới trong tương lai và phát triển kinh tế Cây gừng đá đã được xếp vào nhóm giống cây thực phẩm quý hiếm cần được bảo tồn theo Quyết định 80/2005/QĐ- BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn từ năm 2005 Giá bán 01 kg gừng đá

hiện tại từ 500.000 - 800.000đ là cơ sở để tin rằng đây là một tiềm năng phát triển kinh tế rất khả thi

Qua 01 năm triển khai, dự án đã hoàn thành điều tra, khảo sát tình hình sản xuất giống gừng đá tại xã Liêm Thủy và Xuân Dương; đánh giá, chọn lọc các cá thể gừng đá trên đồng ruộng, nhân giống thành công giống gừng đá

Bắc Kạn bằng phương pháp Invitro, phân tích các thành phần chính của giống gừng đá Bắc Kạn nhằm đánh giá giá trị nguồn gen của giống tại vùng nghiên cứu Mô hình trồng 500m2 diện tích gừng tại núi đá trong đó 200m2 trồng từ

củ của địa phương và 300m2 trồng từ cây nuôi cấy bằng phương pháp Invitro cho thấy cây sinh trưởng phát triển tốt Chiều cao cây trồng từ cây nuôi cấy

Trang 25

mô đạt 15 - 18 cm, được 8 - 10 lá và đã đẻ 3 - 5 nhánh Gừng trồng từ củ của

địa phương cây sinh trưởng phát triển tốt, mỗi khóm từ 6 - 10 nhánh

Theo đánh giá của dự án, hiện tại nhu cầu về sản xuất gừng đá làm dược liệu và thực phẩm rất cao, cung không đủ cầu.Giống được triển khai không những phục vụ nhu cầu cho riêng Bắc Kạn mà còn cho các vùng miền núi có điều kiện sinh thái tương tự Về lâu dài, với tiềm năng cũng như sự chủ động về nguồn giống thì tính toán xây dựng thị trường tiêu thụ để đưa cây gừng đá trở thành đặc sản mang lại giá trị kinh tế cao là điều cần thiết và hết

Nhóm đất phù sa chiếm tỷ lệ ít, là nhóm đất ở địa hình bằng, được bồi đắp bởi sản phẩm phù sa của dòng chảy của các suối và do thời tiết, thời gian được chia thành Đất phù sa không được bồi tụ hàng năm trung tính ít chua, thành phần cơ giới chủ yếu là thịt trung bình đất phù sa ít được bồi hàng năm trung tính ít chua, thành phần cơ giới cát pha thịt nhẹ

Nhóm đất xám bạc màu: phát triển trên đất phù sa cổ có sản phẩm Feralitic trên nền cơ giới nặng, đây là đất bạc màu có thành phần cơ giới nhẹ,

dễ bị xói mòn, rửa trôi

Nhóm đất Feralit: Phân bố chủ yếu ở địa hình đồi núi, được phát triển trên phù sa cổ, dăm cuội kết và cát kết, loại đất này diện tích khá lớn

Đất khu vực mô hình khoa Lâm Nghiệp là đất dốc tụ pha cát lẫn với đá nhỏ, đất có màu xám đen, hàm lượng dinh dưỡng trong đất thấp do đã sử dụng nhiều năm Đất feralit, nguồn gốc của đất xuất phát từ đá sa thạch, độ

Ngày đăng: 24/11/2021, 14:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w