1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận nghiên cứu hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc mông xã lũng táo, huyện đồng văn, tỉnh hà giang trong bối cảnh biến đổi khí hậu

90 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 1,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Phần 1: MỞ ĐẦU (11)
    • 1.1. Sự cần thiết thực hiện nội dung đề tài (11)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài (12)
      • 1.2.1. Mục tiêu chung (12)
      • 1.2.2 Mục tiêu cụ thể (12)
    • 1.3. Ý nghĩa của đề tài (13)
      • 1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứ khóa học (13)
      • 1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn (13)
  • Phần 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU (14)
    • 2.1. Cơ sở lý luận (14)
      • 2.1.1. Một số vấn đề cơ bảng về BĐKH (14)
        • 2.1.1.1. Khái niệm khí hậu, thời tiết và BĐKH (14)
        • 2.1.1.2. Nguyên nhân BĐKH (15)
        • 2.1.1.3. Biểu hiện của BĐKH (16)
        • 2.1.1.4. T ác động của BĐKH (17)
      • 2.1.2. Một số vấn đề cơ bản về sinh kế (21)
        • 2.1.2.1. K hái niệm sinh kế (21)
        • 2.1.2.2. Các nguồn vốn sinh kế (21)
      • 2.1.3. T ác động của BĐKH đến sinh kế (23)
        • 2.1.3.1. Đến sản xuất nông lâm ngư nghiệp (23)
        • 2.1.3.2. Tác động đến công nghiệp và xây dựng (25)
        • 2.1.3.3. Tác động đến giao thông vận tải (25)
        • 2.1.3.4. Tác động đến văn hóa, thể thao, du lịch và thương mại (26)
        • 2.1.3.5. Tác động đến sức khỏe con người (26)
      • 2.1.4. Một số vấn đề cơ bản về đồng bào dân tộc Mông trên địa bàn (27)
        • 2.1.4.1. Khái niệm về dân tộc và dân tộc Mông (0)
    • 2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài (29)
      • 2.2.1. Biểu hiệu và tác động của BĐKH đến sinh kế trên thế giới (29)
      • 2.2.2. Biểu hiện và tác động của BĐKH tới sinh kế tại Việt Nam (32)
  • Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU . 26 3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (36)
    • 3.1.1. Đối tượng nghiên cứu (36)
    • 3.1.2. Phạm vi nghiên cứu (36)
    • 3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu (36)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (36)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (36)
      • 3.4.1. Phương pháp thu thập thông tin số liệu (36)
        • 3.4.1.1. Thu thập số liệu thứ cấp (36)
        • 3.4.1.2. Thu thập số liệu sơ cấp (37)
        • 3.4.1.3. Phương pháp điều tra chọn mẫu (37)
      • 3.4.2. Phương pháp và tổng hợp số liệu (38)
      • 3.4.3. Phương pháp thống kê mô tả (39)
  • Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (40)
    • 4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (40)
      • 4.1.1. Điều kiện tự nhiên (40)
        • 4.1.1.1. Vi trí địa lí (40)
        • 4.1.1.2. Địa hình (40)
        • 4.1.1.3. Điều kiện khí hậu, thời tiết và thủy văn (40)
        • 4.1.1.4. Tài nguyên (42)
      • 4.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (44)
        • 4.1.2.1. Điều kiện kinh tế (44)
        • 4.1.2.2. Điều kiện xã hội (47)
    • 4.2. Thống kê diễn biến của BĐKH trên địa bàn xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang (50)
      • 4.2.1. Biến thiên nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa xã Lũng Táo giai đoạn 2008 - (50)
      • 4.2.2. Thiệt hại của người dân do các yếu tố ảnh hưởng (53)
    • 4.3. Hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc Mông trong bối cảnh BĐKH trên địan bàn xã Lũng Táo (54)
      • 4.3.1. Nguồn lực sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số (54)
        • 4.3.1.1. Nguồn lục con người của hộ cần điều tra (0)
        • 4.3.1.2. Nguồn lực đất đai (58)
        • 4.3.1.3. Phương tiện sản xuất (59)
        • 4.3.1.4. Phương tiện sinh hoạt (60)
      • 4.3.2. Các hoạt động sinh kế của hộ điều tra (62)
      • 4.3.3. Thu nhập từ các hoạt động sinh kế của hộ (64)
      • 4.3.4. Ảnh hưởng của thời tiết đến hoạt động sản xuất của hộ điều tra (66)
        • 4.3.4.1. Nguồn tiếp cận thông tin thời tiết của các hộ điều tra (66)
        • 4.3.4.2. Mức độ ảnh hưởng của thời tiết đến hoạt động sinh kế của hộ (67)
        • 4.3.4.3. Các yếu tố gây nguy hại đến hoạt động sinh kế của hộ (69)
      • 4.3.5. Những khả băng thay đổi trong hoạt động sinh kế khi phải đối mặt với BĐKH (72)
    • 4.4. Một số giải pháp ứng phó, thích nghi với BĐKH (73)
      • 4.4.1. Giải pháp về nguồn nhân lực (0)
      • 4.4.3. Giải pháp về kỹ thuật (0)
      • 4.4.4. G iải pháp về vốn. .................................. Error! Bookmark not defined. 4.4.5. Giải pháp về việc làm (0)
      • 4.4.6. Giải pháp về giáo dục và truyền thông (0)
  • Phần 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (78)
    • 5.1. Kết luận (78)
      • 5.2.1. Đối với Chính quyền và đoàn thể địa phương (79)
      • 5.2.2. Đối với người dân địa phương (80)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (81)

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Được sự đồng ý và tạo điều kiện của Ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sau một thời gian thực tậ

TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Cơ sở lý luận

2.1.1 Một số vấn đề cơ bảng về BĐKH

2.1.1.1 Khái niệm khí hậu, thời tiết và BĐKH.

Trong thực tế có nhiều khái niệm về khí hậu, thời tiết và biến đổi khí hậu (BĐKH), nhưng khái niệm được quan tâm và hay sử dụng nhất là cách hiểu sau: khí hậu là đặc trưng trung bình và xu hướng lặp lại của thời tiết ở một khu vực trong một thời gian dài; thời tiết là trạng thái khí quyển ở một địa điểm tại một thời điểm ngắn hạn; biến đổi khí hậu là sự thay đổi dài hạn ở mẫu hình khí hậu do tác động của yếu tố tự nhiên và con người, trong đó phát thải khí nhà kính, biến đổi đất đai và sử dụng tài nguyên tác động đáng kể; nhận thức đúng về sự khác biệt giữa khí hậu, thời tiết và BĐKH giúp đánh giá rủi ro và thiết kế các biện pháp ứng phó, từ dự báo dài hạn, quản lý nước, nông nghiệp đến đô thị và du lịch, đồng thời nâng cao ý thức cộng đồng về an toàn và phát triển bền vững trước các hiện tượng thời tiết cực đoan.

Khái niệm khí hậu là trạng thái trung bình của thời tiết tại một khu vực nhất định, được ước lượng dựa trên chuỗi dữ liệu dài ít nhất 30 năm Khí hậu có thể được phân tích ở nhiều quy mô từ tỉnh, quốc gia đến châu lục và toàn cầu, nhằm nhận diện các đặc trưng thời tiết dài hạn và xu hướng biến đổi trong nhiệt độ, lượng mưa và các yếu tố khí hậu khác.

Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một thời điểm cụ thể, được xác định bởi tổ hợp các yếu tố như nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, gió và mưa Các hiện tượng thời tiết như nắng, mưa, gió, mây và sự nóng lạnh thường biến đổi nhanh theo ngày, theo tháng và theo năm Thời tiết có thể được dự báo ở nhiều mức độ, từ hàng ngày, hàng giờ cho đến dự báo kéo dài một tuần tới.

- Theo công ước chung của Liên Hợp Quốc về BĐKH: “BĐKH là những ảnh hưởng có hại của BĐKH, là những biến đổi về môi trường vật lý hay sinh học gây ra những ảnh hưởng có hại đáng kể thành phần, khả năng phục hồi, hoặc sinh sản của các HST tự nhiên và được quản lý, hoặc đến hoạt động của các hệ thống kinh tế - xã hội, hoặc đến sức khỏe, hoặc phúc lợi của con người.[15]

Theo Ủy ban liên Chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC), biến đổi khí hậu là những thay đổi theo thời gian của khí hậu, bao gồm cả biến đổi do hoạt động của con người gây ra BĐKH xuất phát từ sự mất cân bằng năng lượng của Trái Đất, được thúc đẩy bởi tăng nồng độ hiệu ứng nhà kính, tăng bụi trong khí quyển, sự biến đổi của thảm phủ và lượng bức xạ mặt trời (IPCC, 2007).

- BĐKH là sự biến đổi của trạng thái khí hậu do các hoạt động trực tiếp hay gián tiếp của con người gây ra sự thay đổi thành phần của khí hậu, khí quyển toàn cầu và nó được thêm vào sự BĐKH tự nhiên quan sát được trong các thời kì có thể so sánh được.[11]

* Nguyên nhân do tự nhiên.

Nguyên nhân tự nhiên gây biến đổi khí hậu bao gồm sự thay đổi cường độ bức xạ của Mặt Trời, sự xuất hiện của các điểm đen trên Mặt Trời (sunspots), hoạt động núi lửa, biến đổi đại dương và sự thay đổi quỹ đạo quay của Trái Đất Những yếu tố này ảnh hưởng lên lượng nhiệt mà Trái Đất nhận được ở các chu kỳ khác nhau, từ ngắn hạn đến dài hạn, từ đó góp phần tạo nên các biến động khí hậu tự nhiên theo thời gian.

- Có thế thấy rằng các nguyên nhận gây ra BĐKH do các yếu tố tự nhiên đóng góp một phần nhỏ vào sự BĐKH và có chu kì kể từ quá khứ đến hiện tại Theo các kết quả nghiên cứu và công bố Uỷ Ban Liên Chính Phủ về BĐKH thì nguyên nhân gây ra BĐKH chủ yếu là do các hoạt động của con người.[16]

* Nguyên nhân do các hoạt động của con người:

Các nghiên cứu chuyên sâu cho thấy nhiệt độ Trái đất đang tăng lên nhanh hơn trong nửa thế kỷ qua, chủ yếu do hoạt động của con người như đốt các nhiên liệu hóa thạch (than đá, dầu mỏ, ) phục vụ cho các hoạt động công nghiệp, giao thông vận tải và thay đổi mục đích sử dụng đất (thay đổi albedo bề mặt đất), bao gồm các tác động trong nông nghiệp và nạn phá rừng Ngoài ra, các chất thải cũng góp phần gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, chất thải được chia làm 3 loại.

Chất thải công nghiệp, chất thải y tế và chất thải sinh hoạt là ba nguồn ô nhiễm môi trường chính cần quản lý và giảm thiểu Chất thải công nghiệp do các nhà máy, xí nghiệp thải ra trong quá trình hoạt động có thể chứa axit, kiềm và hóa chất độc hại, gây ô nhiễm đất và nguồn nước; bụi từ các nhà máy sản xuất xi măng và hoạt động vận tải cũng làm ô nhiễm không khí và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân.

+ Chất thải y tế là các loại chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế do các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, phòng bệnh và nghiên cứu Nếu những chất thải này không được tiêu huỷ sẽ gây nguy hại cho môi trường và sức khoẻ con người

+ Chất thải sinh hoạt bao gồm các loại rác thải do sinh hoạt hàng ngày của con người như túi nilon, vật liệu đóng gói, đồ hộp, thức ăn dư thừa của người và gia súc, xác súc vật chết Đặc biệt các túi nilon có thể tồn tại nhiều năm không phân huỷ, gây ô nhiễm rất lớn cho môi trường

- Các khám phá liên quan đến nguyên nhân gây ra BĐKH do hoạt động của con người như: Sử dụng thái quá nguyên liệu hóa thạch, sử dụng phân bón các loại hóa chất bảo vệ thực vật và sinh hoạt, thuốc trừ sâu, sản phẩm sau thu hoạch, khai thác sử dụng đất, rừng, chăn nuôi gia súc, khai thác và sử dụng tài nguyên nước.[17]

BĐKH là một trong những thách thức lớn nhất đối với nhân loại trong thế kỷ 21 Đã và đang gây ra những biến đổi mạnh mẽ thông qua các hiện tượng thời tiết cực đoan, dị thường điển hình như:

Theo Thông báo quốc gia lần thứ hai của Bộ Tài nguyên và Môi trường, từ năm 1958 đến năm 2007 nhiệt độ trung bình năm ở Việt Nam tăng khoảng 0,5–0,7°C; nhiệt độ trung bình mùa Đông tăng nhanh hơn mùa Hè, và miền Bắc tăng nhanh hơn miền Nam Cụ thể, năm 2007 nhiệt độ trung bình cả năm tại Hà Nội, TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng đều cao hơn mức trung bình của thập kỷ 1931–1940 từ 0,8–1,3°C, và cao hơn thập kỷ 1990–2000 từ 0,4–0,5°C.

Cơ sở thực tiễn của đề tài

2.2.1 Biểu hiệu và tác động của BĐKH đến sinh kế trên thế giới

Biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng, thể hiện rõ qua sự nóng lên của Trái đất, băng tan và nước biển dâng cao Các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lũ, sóng thần, hạn hán và đợt rét kéo dài đang gia tăng về tần suất và cường độ, đi kèm cả những biến động khác như động đất Hệ quả là thiếu lương thực và thực phẩm, cùng sự xuất hiện của hàng loạt dịch bệnh trên người, gia súc và gia cầm.

Biến đổi khí hậu gây ra 10 tác động tiêu cực chính: gia tăng mực nước biển, tan chảy băng ở hai cực, các đợt nóng kỷ lục, bão tố và lũ lụt, khô hạn kéo dài, sự cố thiên tai gia tăng, suy thoái kinh tế, xung đột và chiến tranh, mất đa dạng sinh học và phá hủy hệ sinh thái Những minh chứng cho các vấn đề này được thể hiện qua các biến động khí hậu cực đoan gần đây; thống kê cho thấy trong giai đoạn 1996-2015, Trung Quốc thiệt hại 32,8 tỷ USD do thiên tai, tiếp theo là Ấn Độ với 11,3 tỷ USD.

Trong khi đó, mức thiệt hại của Thái Lan là 7,6 tỷ USD, tương đương 1% GDP, cao hơn nhiều so với Philippines (2,8 tỷ USD), Nhật Bản (2,4 tỷ USD), Bangladesh (2,3 tỷ USD), Việt Nam (2,1 tỷ USD), Indonesia (1,9 tỷ USD), Myanmar (1,4 tỷ USD) và Hàn Quốc (1,1 tỷ USD)

Thiên tai gây hạn hán và lũ lụt, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, khiến các kỳ quan thiên nhiên trở nên kém hấp dẫn và làm hỏng cơ sở hạ tầng do xói lở bờ biển Trận lụt lịch sử năm 2011 tại Bangkok khiến thiệt hại lên tới 46,5 tỷ USD, phá hủy hàng chục nghìn căn nhà và ảnh hưởng tới cuộc sống của khoảng 2,5 triệu người Khoảng 250 triệu người trên thế giới bị ảnh hưởng bởi lũ lụt ở Nam Á, châu Phi và Mexico Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, lũ lụt được dự báo sẽ xảy ra thường xuyên hơn ở nhiều khu vực đồng bằng thấp trũng, trong khi hạn hán nghiêm trọng và sa mạc hóa đang gia tăng ở Nam Âu, Ấn Độ, Pakistan và khu vực cận Sahara ở châu Phi Các nhà khoa học cho biết lượng mưa ở các khu vực này sẽ tiếp tục giảm trong những thập kỷ tới.

2020, sẽ có 75 - 250 triệu dân châu Phi không có nước sử dụng, và sản lượng nông nghiệp của châu lục này cũng sẽ giảm 50%.

Theo các chuyên gia khí tượng thủy văn, trong 50 năm vừa qua tần suất xảy ra các đợt nắng nóng đã tăng lên từ 2-4 lần; dự báo trong 40 năm tới số lượng đợt nắng nóng có thể tăng lên đến 100 lần, kéo theo nhiều thách thức về sức khỏe cộng đồng, nông nghiệp và kinh tế.

Biến đổi khí hậu và sự nóng lên toàn cầu đã khiến mực nước biển dâng cao và băng tan trên diện rộng; trong 100 năm qua mực nước biển đã tăng khoảng 0,31 m Quan sát bằng vệ tinh cho thấy diện tích băng ở Bắc cực, Nam cực, Greenland và một số núi băng ở Trung Quốc đang thu hẹp Sự tan chảy của các lớp băng và sự nóng lên của đại dương, với nước biển sâu tới 3.000 m, đã góp phần làm mực nước biển dâng cao Dự báo đến cuối thế kỷ XXI, nhiệt độ trung bình toàn cầu có thể tăng khoảng 2,0–4,5 °C và mực nước biển toàn cầu tăng từ 0,18–0,59 m Việt Nam là một trong bốn nước chịu ảnh hưởng nặng nề nhất của biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng cao; cùng với hiện tượng băng tan, tình trạng bão lụt đang gia tăng Theo thống kê, chỉ trong vòng 30 năm gần đây, các cơn bão mạnh cấp 4 và 5 đã tăng gấp đôi; các vùng nước ấm làm tăng cường độ của bão và mùa đông trở nên khắc nghiệt hơn Những trận bão lớn gần đây đã xảy ra ở Nhật Bản, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam Nếu nhiệt độ trung bình tăng từ 1,1–6,4 °C, khoảng 30% loài động thực vật có nguy cơ tuyệt chủng vào năm 2050 Nhiều nghiên cứu cho thấy với xác suất lên tới 90% sẽ có ít nhất 3 tỷ người rơi vào tình trạng thiếu lương thực vào năm 2100 do biến đổi khí hậu.

Biến đổi khí hậu kéo theo sự thay đổi của thời tiết, gây tác động trực tiếp đến cây trồng, vật nuôi và sản xuất nông- lâm- ngư nghiệp, công nghiệp xây dựng và nuôi trồng, đánh bắt thủy-hải sản Đáng chú ý là sự xuất hiện của dịch bệnh và sự khan hiếm lương thực, nước ngọt Dự báo cho thấy 1,8 tỷ người trên thế giới sẽ gặp khó khăn khi tiếp cận nước sạch và khoảng 600 triệu người có nguy cơ suy dinh dưỡng do biến đổi khí hậu trong những năm tới.

Theo dự báo của Uỷ ban Liên Quốc gia về BĐKH (IPCC), đến năm

2100 nhiệt độ toàn cầu sẽ tăng thêm từ 1,4 0 C - 5,8 0 C Sự nóng lên của 12 bề mặt Trái đất sẽ làm băng tan ở 2 cực và các vùng núi cao, làm cho mực nước biển dâng lên thêm 900cm, sẽ nhấn chìm một số đảo nhỏ và nhiều vùng đồng bằng ven biển có địa hình thấp BĐKH sẽ tác động nghiêm trọng tới hoạt động sản xuất, đời sống và môi trường trên phạm vi toàn thế giới: Đến năm

2080 sản lượng ngũ cốc có thể giảm 2 - 4% , giá sẽ tăng 13 - 45%, tỉ lệ dân số bị ảnh hưởng của nạn đói chiếm 36 - 50%; mực nước biển dâng cao dẫn đến ngập lụt, gây nhiễm mặn nguồn nước, ảnh hưởng đến nông nghiệp, gây rủi ro lớn đối với ngành công nghiệp và các hệ thống KT- XH trong tương lai.

Trong những năm gần đây, thế giới đã ghi nhận nhiều hậu quả nghiêm trọng từ các cơn bão, hạn hán và lũ lụt, chủ yếu do biến đổi khí hậu và sự ấm lên toàn cầu Dù đã có những dự báo về một Trái đất biến động khí hậu ngày càng bất thường, con người vẫn phải đối mặt với thiệt hại và mất mát lớn Khắp các châu lục đang phải chống chọi với các hiện tượng cực đoan như lũ lụt, hạn hán và nắng nóng gay gắt Đôi khi một khu vực vừa trải qua hạn hán kỷ lục lại đối mặt với thiên tai ở mức độ ngược lại – lũ lụt.

2.2.2 Biểu hiện và tác động của BĐKH tới sinh kế tại Việt Nam Ở Việt Nam, trong thời gian qua, diễn biến của khí hậu cũng có những nét tương đồng với tình hình chung trên thế giới BĐKH tác động tới tất cả các vùng, miền, các lĩnh vực về tài nguyên, môi trường và kinh tế – xã hội, nhưng trong đó tài nguyên nước, ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, y tế và các vùng ven biển sẽ chịu tác động mạnh nhất.

* Tác động của BĐKH tới tài nguyên nước

Việt Nam thuộc nhóm quốc gia thiếu nước, với tổng bình quân đầu người cho nước mặt và nước ngầm trên phạm vi lãnh thổ chỉ khoảng 4.400 m3/người/năm, thấp hơn mức trung bình thế giới là 7.400 m3/người/năm Trong khai thác và sử dụng tài nguyên nước, Việt Nam đang đối mặt với nhiều yếu tố không bền vững, cho thấy cần có các giải pháp quản lý nước hiệu quả để đảm bảo nguồn nước phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và sinh hoạt hàng ngày.

Sự suy thoái tài nguyên nước ngày một tăng về cả số lượng và chất lượng do nhu cầu về nước ngày một lớn, khai thác, sử dụng bừa bãi, thiếu quy hoạch và đặc biệt là sự suy giảm đến mức báo động của rừng đầu nguồn.[23]

* Tác động của BĐKH tới lĩnh vực nông nghiệp

Hiện nay, sản xuất nông nghiệp Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng từ điều kiện thời tiết Sự biến động của nhiệt độ và các hiện tượng thời tiết bất thường tăng lên do biến đổi khí hậu sẽ tác động mạnh đến sản xuất nông nghiệp, nhất là trong hoạt động trồng trọt.

Sự bất thường của chu kì sinh khí hậu nông nghiệp không những dẫn tới sự tăng dịch bệnh, dịch hại, giảm sút năng suất mùa màng, mà còn có thể gây ra các rủi ro nghiêm trọng khác

Trong thời gian qua, ở nhiều địa phương, mùa màng đã bị mất trắng do thiên tai (lũ lụt và hạn hán).[21]

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Bài viết tập trung phân tích các hoạt động sinh kế và các hiện tượng biến đổi khí hậu (BĐKH) ảnh hưởng đến đời sống của đồng bào dân tộc Mông ở xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang Các hoạt động nông nghiệp, chăn nuôi và du lịch sinh thái của người Mông đang chịu áp lực từ biến đổi thời tiết, thiếu nước tưới và sự bất ổn của mùa vụ, dẫn đến giảm thu nhập và tăng rủi ro nghèo đói Những biến động này tác động đến nguồn lực lao động, cơ cấu cây trồng và chu kỳ vụ mùa, làm hạn chế khả năng thích ứng của cộng đồng Bài viết đề xuất các giải pháp như tăng cường hệ thống thủy lợi, ứng dụng kỹ thuật canh tác chịu hạn, đa dạng hóa nguồn thu nhập và bảo tồn vốn sinh thái địa phương nhằm phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào Mông xã Lũng Táo.

Phạm vi nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu các hoạt động sinh kế trong bối cảnh BĐKH của đồng bào dân tộc Mông trên địa bàn xã Lũng Táo.

Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu: Xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.Thời gian nghiên cứu: Từ 20/02/2019 - 20/05/2019.

Nội dung nghiên cứu

- Đặc điểm tự nhiên kinh tế - xã hội của xã Lũng Táo.

- Thống kê diễn biến BĐKH trên địa bàn xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang.

- Thực trạng hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc Mông trong bối cảnh BĐKH tại xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng thích ứng với tình hình BĐKH.

Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin số liệu

3.4.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Thu thập thông tin, số liệu đã được công bố của xã, của huyện, các cơ quan (Bộ NN & PTNT, viện, trường, tổng cục thống kê, ) về điều kiện tự nhiên, KT-XH, văn hóa, môi trường, hoạt động sinh kế, BĐKH và đồng bào dân tộc Mông

3.4.1.2 Thu thập số liệu sơ cấp

Quan sát một cách có hệ thống các sự việc, sự vật, sự kiện với các mối quan hệ và trong một bối cảnh tồn tại của nó Phương pháp quan sát trực tiếp cũng là một trong những cách tốt để kiểm tra chéo những câu trả lời của người dân địa phương Trong quá trình nghiên cứu đề tài em sử dụng phương pháp quan sát trực tiếp thực trạng hạ tầng KT-XH, môi trường, trên địa bàn xã.

* Sử dụng phiếu điều tra, phỏng vấn bằng bảng hỏi:

Phỏng vấn dựa trên bảng hỏi đã được xây dựng sẵn gồm:

Phần 1: Thông tin chung của hộ điều tra bao gồm giới tính, tuổi, trình độ học vấn, nghề nghiệp, phân loại hộ.

Phần 2: Nội dung khảo sát:

- Thông tin về điều kiện sản xuất kinh doanh của hộ

- Các thông tin về hoạt động sinh kế của hộ

- Tác động của BĐKH tới hoạt động sinh kế của hộ

3.4.1.3 Phương pháp điều tra chọn mẫu.

Đề tài được tiến hành nghiên cứu tại xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang, nằm ở vùng miền núi phía Bắc Dân cư ở Lũng Táo chủ yếu là đồng bào dân tộc Mông, với sinh kế chính là sản xuất nông nghiệp; gần đây các hoạt động thương mại và dịch vụ đang được tập trung phát triển tại địa phương.

Trong thời gian gần đây, khu vực ghi nhận nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan như mưa bão, nắng nóng gay gắt, rét đậm, rét hại và hạn hán, với cường độ và tần suất khó có thể dự báo khiến hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân gặp nhiều biến động Những biến động này ảnh hưởng trực tiếp đến cây trồng, vật nuôi và chu kỳ sản xuất, làm tăng rủi ro và khó khăn cho các hộ nông dân, đặc biệt là nhóm hộ nghèo dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp Do đó cần có sự thích ứng và hỗ trợ từ chính sách và cộng đồng để giảm thiểu tác động tiêu cực lên thu nhập và sinh kế của người dân, đồng thời tăng cường công tác cảnh báo, phòng chống và bảo vệ mùa vụ.

Xã Lũng Táo có tổng số thôn là 16 xóm với gần 4 nghìn khẩu Tiến hành chọn 3 xóm: Xóm Tua Ninh, xóm Mò Só Tủng và xóm Lũng Táo, trong

3 xóm này chủ yếu là dân tộc Mông

Xã Lũng Táo là xã có địa hình phức tạp xen kẽ là các thung lũng nhỏ hoạt động sinh kế chủ yếu của người dân nơi đây là trồng ngô là chính, lúa, đậu tương và 1 số buôn bán nhỏ lẻ.

Số mẫu điều tra được tính theo công thức Slowin, độ tin cậy 90%, sai số 10% n=

N:Số lượng tổng thể e: Sai số

Toàn xã có tổng là 735 hộ, trong đó dân tộc Mông có 720 hộ (chiếm

98%), và dân tộc Lô lô có 15 hộ (chiếm 2%) Vậy theo công thức ta có n

Số mẫu tại mỗi xóm cụ thể là: Xóm Tua Ninh 30

3.4.2 Phương pháp và tổng hợp số liệu

Các nguồn số liệu điều tra được thu thập trên địa bàn nghiên cứu làm căn cứ, sau đó được tổng hợp, phân tích và xử lý trên Excel để tạo ra các kết quả có giá trị và dễ diễn giải cho bài viết nghiên cứu.

Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu là một quy trình có hệ thống nhằm thu thập, làm sạch và tổng hợp dữ liệu, sau đó xử lý để biến số liệu thành thông tin có ý nghĩa Kết quả được trình bày trên bảng biểu và đồ thị nhằm hỗ trợ so sánh và diễn giải dễ dàng, từ đó phân tích và đánh giá tình hình thực tiễn một cách khách quan.

3.4.3 Phương pháp thống kê mô tả

Phương pháp này mô tả toàn bộ thực trạng về hoạt động sinh kế của người dân trên địa bàn điều tra trong bối cảnh BĐKH Thông qua đó đánh giá, phân tích và đề ra giải pháp phù hợp để nâng cao hiệu qủa hoạt động sinh kế cho đồng bào dân tộc Mông trên địa bàn.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

Lũng Táo là một xã miền núi biên giới phía Bắc thuộc huyện Đồng Văn, có vị trí địa lý tương đối thuận lợi cho phát triển hàng hóa nông sản và cách trung tâm huyện Đồng Văn 16 km Với vị trí địa lý này, xã có tiềm năng phát triển kinh tế - nông nghiệp và thúc đẩy giao thương các sản phẩm nông sản địa phương.

- Phía Bắc giáp với Trung Quốc và xã Ma Lé, huyện Đồng Văn

- Phía Đông Giáp xã Thài Phìn Tủng, huyện Đồng Văn

- Phía Nam giáp xã Sà Phìn, huyện Đồng Văn

- Phía Tây giáp Trung Quốc

Xã có điều kiện thuận lợi để lưu thông, trao đổi hàng hóa trên thị trường và cũng là nơi lý tưởng cho khách du lịch dừng chân mỗi khi đi tham quan tạo cơ hội cho người dân nơi đây phát triển KT-XH, văn hóa và du lịch.

Lũng Táo là một xã khó khăn thuộc miền núi phía Bắc của huyện Đồng Văn Xã có địa hình đồi núi cao, địa hình bị chia cắt mạnh xen kẽ nhau, cao thấp, không đồng nhất, độ dốc lớn gây khó khăn cho việc canh tác, phát triển sản xuất nông-lâm nghiệp và các ngành kinh tế khác cũng như đời sống sinh hoạt của nhân dân.

4.1.1.3 Điều kiện khí hậu, thời tiết và thủy văn.

* Điều kiện khí hậu và thời tiết.

- Lượng mưa: Theo số liệu báo cáo của trạm khí tượng thủy văn huyện Đồng Văn cho thấy xã Lũng Táo mang nhiều sắc thái của khí hậu ôn đới, được chia thành 2 mùa rõ rệt Mùa mưa thường có gió bão, lốc từ tháng 4 đến tháng 10 chiếm hơn 0,28% lượng mưa của cả năm, thời tiết nắng, mưa nhiều do điạ bàn xã nằm trên cao nguyên đá vôi, khả năng giữ nước kém nên ảnh hưởng đến đời sống, phát triển sản xuất của nhân dân Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau thời tiết rét đậm, lạnh, hanh khô, gió ít, xuất hiện sương muối nhưng ít, hiện tượng sương mù nhiều, lượng mưa ít, có tháng hầu như không mưa tình trạng thiếu nước khá nghiêm trọng Mưa tuyết thi thoảng có năm hay xảy ra vào tháng 01

Khí hậu của xã phù hợp và thuận lợi cho việc phát triển đa dạng cây ăn quả, rau màu và cây công nghiệp, đồng thời tạo điều kiện cho chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi ong lấy mật.

+ Thời gian chiếu sáng trung bình năm khoảng 1.420 - 1.445 giờ

+ Mùa nóng từ tháng 3 đến tháng 10, số giờ nắng chiếu khoảng 920 -

+ Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau số giờ nắng chiếu khoảng

+ Số giờ nắng tháng cao nhất tuyệt đối 248 giờ

+ Số giờ nắng tháng thấp nhất tuyệt đối 42,5 giờ

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm của xã Lũng Táo là 23.1 0 C phân bố khá đồng đều trên địa bàn xã

+ Mùa hè nền nhiệt độ trung bình năm 21,6 0 C

+ Mùa Đông nền nhiệt độ trung bình năm 19,1 0 C

+ Tổng nhiệt trung bình năm 8.345 - 8.480 0 C

+ Tổng nhiệt trung bình mùa nóng 4.945 - 5.000 0 C

+ Tổng nhiệt trung bình mùa lạnh 3.400 - 3 480 0 C

- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình năm là 84%, độ ẩm cao nhất trong năm là 86%, độ ẩm nhỏ nhất trong năm là 78%.

Gió ở các hướng thường chịu ảnh hưởng của địa hình thung lũng, nhìn chung gió yếu với tốc độ trung bình khoảng 1–1,5 m/s, kèm theo mưa phùn và sương mù nhiều nhưng đặc biệt ít sương muối Nét nổi bật của khí hậu Lũng Táo là độ ẩm cao quanh năm và mưa nhiều kéo dài, ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và đời sống.

- Bão: Vào mùa bão thường có mưa lớn đã làm sạt lở đất đá, ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân

Do địa hình đồi núi dốc, lượng mưa lớn và tập trung theo mùa rõ rệt trong năm Vào mùa khô xã vẫn còn nhiều thôn bị thiếu nước nghiêm trọng nhưng vào mùa mưa lại gây sạt lở do địa hình dốc mà rừng bị dân chặt phá quá mức.

Đất đai hình thành từ hai nguồn gốc chính: phong hóa tại chỗ trên đá mẹ và đất bồi tụ do quá trình xói mòn và rửa trôi mang chất liệu từ nơi khác đến vùng đất hiện tại.

Nhóm đất đỏ vàng chiếm tỉ lệ lớn nhất và phát triển tại chỗ, đặc trưng bởi quá trình feralit diễn ra ở vùng nhiệt đới ẩm Do địa hình cao nên quá trình này diễn ra trong điều kiện silicat bị rửa trôi và các hợp chất sắt, nhôm được tích lũy; vỏ phong hóa giàu oxit và hidroxit sắt hình thành các loại đất có màu đỏ vàng Nhóm đất này gồm các loại đất chính sau: đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất (Fs), đất đỏ vàng trên đá macma axit (Fa), đất vàng nhạt trên đá cát (Fq), đất mùn nâu vàng trên đá vôi.

(Fv) Nhóm đất này thích hợp với nhiều loại cây như cây lương thực và màu, cây công nghiệp và cây ăn quả

Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi gồm các loại đất mùn vàng đỏ trên đá sét và biến chất (Hs), đất mùn vàng nhạt trên đá cát (Hq) và đất mùn vàng đỏ trên đá macma axit (Ha); phát triển tại chỗ và thích hợp với hầu hết các loại cây trồng, bao gồm cây lương thực, cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả và cây lâm nghiệp Xã có điều kiện thổ nhưỡng phù hợp, thuận lợi cho phát triển cây lâm nghiệp, nhưng cây trồng hàng năm, đặc biệt là các loại cây lương thực, lại gặp khó khăn hơn Do đó, cần một quy hoạch đầu tư dài hạn để khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên đất đai, đồng thời sử dụng và bảo vệ đất bền vững, đặc biệt là diện tích rừng và đất trồng cây hàng năm.

Tài nguyên đất của xã Lũng Táo năm 2018 được thể hiện qua bảng 4.1:

Bảng 4.1: Diện tích và cơ cấu đất xã Lũng Táo năm 2018

STT Mục đích sử dụng đất Diện tích

Cơ cấu Tổng diện tích đât tự nhiên toàn xã hội 2.085,98 (%) 100

1.3 Đất trồng cây hàng năm khác 272 14,72 1.4 Đất trồng cây lâu năm 65,1 3,52 1.5 Đất trồng rừng phòng hộ 367,9 19,91

II Đất phi nông nghiệp 97,8 4,69

2.2 Đất trụ sở, cơ quan, CTSN 2,01 2,06 2.3 Đất sử dụng vào mục đích công cộng 56,76 58,04 2.4 Đất nghĩa trang, nghĩa địa 1,13 1,15 2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 2,9 2,96

III Đất chưa sử dụng 140,21 6,72

3.1 Đất đồi núi chưa sử dụng 51,23 36,54 3.2 Núi đá không có rừng cây 88,98 63,46 (Nguồn: Ban thống kê xã Lũng Táo)

Trong năm 2018, tổng diện tích đất tự nhiên của xã Lũng Táo là 2.085,97 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 88,59%, đất phi nông nghiệp chiếm 4,69% và đất chưa sử dụng chiếm 6,72% tổng diện tích.

* Tài nguyên rừng: Rừng đang được khôi phục trồng và khoanh nuôi lại Tổng số đất rừng phòng hộ: 367,9ha

Ở địa bàn xã, nguồn nước mặt chủ yếu được khai thác từ nước mưa tự nhiên Nguồn nước mặt khan hiếm và ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất và sinh hoạt của người dân, nhất là vào mùa khô Tình trạng này gây ảnh hưởng rất lớn đến đời sống và sinh hoạt của người dân địa phương.

Địa bàn xã nằm trên vùng núi cao với địa hình chia cắt mạnh, không đồng đều và độ che phủ rừng thấp khiến lượng nước ngầm phụ thuộc vào mùa và khó khai thác Hiện tượng này dẫn đến cạn kiệt nước ngầm, khô hạn kéo dài và thảm thực vật ngày càng suy thoái.

Hiện nay nguồn nước cấp cho xã chủ yếu dựa vào các khe mạch nước nhỏ từ chân núi và các bể chứa do người dân tự xây dựng, khiến chất lượng nước phục vụ cho cộng đồng còn thiếu và chưa ổn định Việc phụ thuộc vào nguồn nước tự nhiên và bể chứa tự xây dẫn đến nhiều hộ dân gặp khó khăn trong tiếp cận nước sạch, ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt hàng ngày Để nâng cao chất lượng nước và đảm bảo cấp nước an toàn cho địa phương, cần đầu tư cải tạo hệ thống cấp nước, áp dụng giải pháp quản lý nước và giám sát chất lượng nước.

4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, kinh tế xã hội và truyền thống lao động cần cù, sáng tạo của nhân dân, kinh tế của xã đã có những bước tiến đáng kể trong những năm gần đây.

Người dân trên địa bàn xã trồng nhiều loại cây trồng đa dạng và phong phú đem lại sản lượng và năng suất cụ thể trong bảng 4.2 dưới đây.

Bảng 4.2: Cơ cấu các loại cây trồng của xã Lũng Táo năm 2016-2018

Chi tiêu Năm 2016 Nă m 2017 Năm 2018

SL (Tấn) CC (%) SL (Tấn) CC (%) SL (Tấn) CC (%) Tổng giá

Các loại rau 690,3 25,46 598,2 22,51 557,64 19,62 Đậu các loại

( lê, mậm, đào, óc chó)

(Nguồn: Ban thống kê xã Lũng Táo)

Thống kê diễn biến của BĐKH trên địa bàn xã Lũng Táo, huyện Đồng Văn, tỉnh Hà Giang

4.2.1 Biến thiên nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa xã Lũng Táo giai đoạn 2008 -2018

Do ảnh hưởng của BĐKH nên nhiệt độ trong từng năm qua có sự thay đổi thất thường được thể hiện ở biểu đồ 4.1 sau: t( 0 C)

(Nguồn: Trạm khí tượng thuỷ văn huyện Đồng văn)

Biểu đồ 4.1: Biến thiên nhiệt độ xã Lũng Táo giai đoạn 2008-2018

Trong những năm gần đây hiện tượng Trái đất nóng lên làm cho nhiệt độ ngày càng tăng, biểu hiện của hiện tượng này có thể thấy ở dạng các đợt nóng và lạnh thường xuyên, có tác động trực tiếp đến đời sống sinh hoạt và hoạt động sinh kế của người dân.

Trong 10 năm qua nhiệt độ của xã có xu hướng tăng từ 23,1 0 C lên

Nhiệt độ trung bình ban đầu là khoảng 23,4°C Tuy nhiên, trong giai đoạn 2008-2013 có sự giảm nhiệt độ khoảng 0,2°C Trong những năm gần đây xuất hiện các đợt lạnh giá vào mùa đông và nắng nóng vào mùa hè kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8 lên tới 37–38°C Sự biến động thất thường của nhiệt độ ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh kế của người dân và hoạt động sản xuất nông nghiệp Khi nhiệt độ ở mức vừa phải kết hợp với lượng ánh sáng dồi dào, quá trình quang hợp và đồng hóa ở cây xanh được đẩy mạnh, giúp cây phát triển và tăng năng suất.

Với nhiệt độ cao, đất đai trở nên khô cằn và nguy cơ cháy rừng tăng lên, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quá trình sinh trưởng của cây trồng và vật nuôi Sự khô hạn và biến đổi điều kiện khí hậu cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự xuất hiện và phát triển của nhiều loại sâu bệnh hại Kết quả là năng suất và sản lượng nông nghiệp giảm xuống, khiến đời sống của đồng bào dân tộc Mông nơi đây ngày càng khó khăn hơn.

* Độ ẩm: Độ ẩm trong 10 năm qua trên địa bàn xã được thể hiện ở biểu đồ 4.2

(Nguồn: Trạm khí tượng thuỷ văn huyệnĐồng văn)

Biểu đồ 4.2: Biến thiênđộ ẩm trung bình xã Lũng Táo giai đoạn 2008-2018

Trong vòng 10 năm trở lại đây, độ ẩm trung bình năm tăng 1%, nhưng biến động theo từng giai đoạn khiến khí hậu vùng trở nên thất thường Cụ thể, từ 2008 đến 2013 độ ẩm tăng 0,4%, từ 2013 đến 2016 giảm 0,2%, và từ 2014 đến 2018 tăng 0,8% Sự biến động này gây nhiều khó khăn cho hoạt động sản xuất và sinh kế của đồng bào Mông tại địa phương, do độ ẩm cao làm nông sản bị mốc, khó bảo quản và làm chậm thời gian ra hoa kết quả của cây trồng Bên cạnh đó, độ ẩm kéo dài là nguyên nhân gây ra dịch bệnh cho cây trồng và vật nuôi, đồng thời ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân với các bệnh hô hấp, mệt mỏi và giảm năng suất lao động.

Lượng mưa của xã trong 10 năm qua được thể hiện qua biểu đồ 4.3 sau:

(Nguồn: Trạm khí tượng thuỷ văn huyện Đồng văn)

Biểu đồ 4.3: Biến thiên lượng mưa trung bình xã Lũng Táo giai đoạn

Biểu đồ 4.3 cho thấy lượng mưa biến động rõ theo từng giai đoạn Cụ thể, giai đoạn 2017-2018 tăng 17 mm so với giai đoạn 2008-2010, và giai đoạn 2014-2016 giảm 5 mm so với cùng giai đoạn 2008-2010 Phần dữ liệu dành cho giai đoạn 2011- được nêu trong biểu đồ nhưng chưa được thể hiện đầy đủ trong đoạn trích này.

2013 tăng 14mm so với giai đoạn 2008-2010

Trong những năm gần đây, mưa lớn thường đi kèm với lũ lụt, sạt lở và rửa trôi đất, khiến đất bạc màu và mất dinh dưỡng, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sinh kế của người dân, đặc biệt là các hộ đồng bào dân tộc thiểu số sống ở vùng núi cao Những tác động này không chỉ làm giảm năng suất nông lương mà còn đe dọa nguồn nước và đời sống hàng ngày của cộng đồng Tuy nhiên, có những thời điểm lượng mưa giảm mạnh dẫn tới hạn hán, thiếu nước sinh hoạt và ảnh hưởng đến sản xuất.

4.2.2 Thiệt hại của người dân do các yếu tố ảnh hưởng

Trong hoạt động sinh kế cũng như trong sản xuất, người dân phải chịu thiệt hại nặng nề do ảnh hưởng của nhiều yếu tố Các thiệt hại đó được thể hiện cụ thể dưới bảng4.5 dưới đây. mm

Bảng 4.5: Tổng hợp thiệt hại của người dân trên địa bàn xã Lũng Táo

STT Danh mục thiệt hại ĐVT 2016 2017 2018

1 Lúa, ngô và hoa màu mất trắng, hư hỏng

2 Nhà bị gió lốc, tốc mái Cái 2 - 3

3 Khối lượng nương rẫy bị sạt lở m 2 - 150 200

4 Gia súc, gia cầm chết Con 4 - -

(Nguồn: Ban thống kê xã Lũng Táo)

Trong 3 năm gần đây tại địa bàn xã Lũng Táo đã phải chịu một số thiệt hại do BĐKH mang lại Năm 2016 xã có 2 cái bị tốc mái do gió bão làm thiệt hại đáng kể, dịch bệnh cũng như cái rét giá lạnh đã làm chết 3 con bò và 1 con trâu làm ảnh hưởng đến kinh tế và hoạt động sản xuất của người dân.

Năm 2017 xã bị thiệt hại mất 1,32ha lúa, ngô và hoa màu bị hư hỏng,

Khoảng 150 m² đất bị sạt lở do mưa bão gây ra Năm 2018, do ảnh hưởng của lũ lụt và sạt lở trong mùa mưa nên diện tích đất này khiến lúa, ngô và các loại hoa màu bị hư hỏng nặng, gây thiệt hại cho người dân.

1,9ha, 200m 2 đất nương rẫy và 3 nhà bị tốc mái do gió lốc, mưa đá.

Hoạt động sinh kế của đồng bào dân tộc Mông trong bối cảnh BĐKH trên địan bàn xã Lũng Táo

4.3.1 Nguồn lực sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số

4.3.1.1 Nguồn lực con người của hộ cần điều tra

* Thông tin chung về chủ hộ điều tra.

Trong mỗi gia đình, chủ hộ thường đóng vai trò quyết định trong việc lựa chọn mô hình sản xuất và các yếu tố khác ảnh hưởng tới đời sống gia đình Thông tin chung về hộ và chủ hộ được điều tra sẽ được thể hiện trong bảng dưới đây, phản ánh các đặc điểm cơ bản của hộ gia đình và vai trò của chủ hộ trong nghiên cứu.

Bảng 4.6: Thông tin chung về hộ và chủ hộ điều tra

Tổng số hộ điều tra Hộ 90 100,00

1.Giới tính của chủ hộ

4 Trình độc học vấn của chủ hộ

Bảng 4.6 cho thấy Trong tổng số 90 hộ điều tra, có 78 chủ hộ là nam

(chiếm 96,67%) Ở các vùng nông thôn trình độ học vấn còn hạn chế người phụ nữ không có tiếng nói trong gia đình cũng như ngoài xã hội do vậy nam giới luôn là trụ cột gia đình, là người có tiếng nói, đóng vai trò quyết định mọi công việc trong tổ chức sản xuất cũng như trong kinh doanh Chỉ có 2 chủ hộ là nữ là những người góa chồng hay chồng đi làm xa chiếm 3,33%.

100% các hộ điều tra đều là dân tộc Mông Nhóm đồng bào dân tộc thiểu số này có các phong tục, tập quán, nét văn hóa đặc trưng riêng sống tập trung trên các vùng núi cao Do địa hình đồi núi đường giao thông đi lại khó khăn nên người dân sống tập trung thành từng cụm cùng nhau sinh sống, làm ăn và học hỏi kinh nghiệm canh tác trong sản xuất để không ngừng nâng cao giá trị sản lượng và thu nhập cho người dân. Đồng bào dân tộc Mông tại địa bàn nghiên cứu sống chủ yếu bằng hoạt động nông nghiệp, do đó nhóm hộ nông nghiệp chiếm 52,22% và hộ kiêm chiếm 42,22% Một số rất ít làm phi nông nghiệp chiếm 5,56% Hoạt động sinh kế chính là làm nông nghiệp nhưng lại phụ thuộc nhiều vào yếu tố thời tiết, khí hậu nên khi gặp những bất lợi của thời tiết như: thiên tai, lũ lụt, sạt lở, sâu bệnh hại, thì năng suất và sản lượng nông sản, vật nuôi sẽ bị ảnh hưởng do người dân chưa đủ khả năng ứng phó, thích nghi với những tác động đó.

Do các hộ chủ yếu sản xuất nông nghiệp và phụ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên nên mức sống ở khu vực này còn thấp; tỉ lệ hộ nghèo và hộ cận nghèo vẫn ở mức cao Mức sống thấp đi kèm với thu nhập bấp bênh và khó tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản, trong khi biến đổi khí hậu và thiên tai làm thu nhập của hộ gia đình dễ bị dao động Để cải thiện đời sống, cần đẩy mạnh phát triển nông nghiệp bền vững, ứng dụng công nghệ vào sản xuất, cải thiện cơ sở hạ tầng nông thôn và tăng cường tiếp cận vốn, giáo dục, y tế cho người dân.

Trong tổng số 90 hộ được điều tra, 42,22% và 36,67% thuộc các nhóm sinh kế khác nhau, trong khi tỉ lệ hộ khá và hộ giàu lần lượt là 14,44% và 6,67% Đa số các hộ giàu và hộ khá có hoạt động sinh kế liên quan đến phi nông nghiệp như kinh doanh hoặc làm cán bộ, công chức có thu nhập ổn định Ngược lại, các hộ nghèo và cận nghèo sống chủ yếu dựa vào lao động nông nghiệp, một phần đi làm thuê hoặc xuất khẩu lao động Do vậy, đời sống và thu nhập của nhóm này không ổn định, đồng thời khả năng tiếp cận thông tin thời tiết, khí hậu và các kỹ thuật sản xuất mới cũng bị hạn chế, khiến năng suất và sản lượng không cao.

Trình độ học vấn của các chủ hộ ở mức thấp, thậm chí nhiều người chưa từng đi học, khiến 31% không biết đọc, biết viết và gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn, làm quen với các hình thức sản xuất mới, nhận thông tin thời tiết và áp dụng KH-KT vào sản xuất.

Chỉ có 8,89% chủ hộ học hết trung học phổ thông và 4,44% chủ hộ học đến cao đẳng, đại học tập trung ở nhóm hộ phi nông nghiệp

* Thông tin về các thành viên trong hộ.

Thông tin về các thành viên trong hộ điều tra thể hiện được qua bảng 4.7 dưới đây.

Bảng 4.7: Thông tin chung về các thành viên của hộ điều tra

Lao động NN Lao động 186 45,5

Lao động PNN Lao động 49 12,25

Không lao động Lao động 165 41,25

Trình độ học vấn của các thành viên

(Tổng hợp số liệu điều tra)

Số lao động nông nghiệp chiếm 45,5% chủ yếu là trồng ngô, lúa và đậu tương, một phần ít làm phi nông nghiệp chiếm 12,25% thường là công nhân viên chức, làm thuê, Tỉ lệ người không lao động cũng chiếm tỷ lệ không nhỏ đây là nhóm trẻ em chưa đến tuổi lao động, còn phụ thuộc vào bố mẹ và một phần khác là những người già yếu quá tuổi lao động, hay mất khả năng lao động chiếm 41,25% Tỷ lệ người không lao động cao sẽ ảnh hưởng đến tài chính và khả năng chi tiêu của hộ

Trình độ học vấn của các thành viên của các hộ điều tra còn thấp Đa số mù chữ (chiếm 31,25%), tiểu học (chiếm 28,25%) và THCS (chiếm 24%), chỉ có 9% là THPT và 1,75% là CĐ-ĐH Với trình độ như vậy sẽ kéo theo nhiều hệ lụy, làm cho điều kiện kinh tế kém phát triển, khả năng tiếp cận các khoa học kỹ thuật, ứng phó với BĐKH cũng hạn chế, đời sống sinh hoạt ở mức thấp, khả năng tìm kiếm việc làm khó.

4.3.1.2 Nguồn lực đất đai. Đất đai của các hộ điều tra được thể hiện qua bảng 4.8 dưới đây

Bảng 4.8: Sử dụng nguồn tài nguyên đất đai của hộ Chỉ tiêu

Hộ NN (nG) Hộ PNN (n=5) Hộ kiêm (n8)

CC (%) Đất thổ cư 27.050 19,18 4.200 43,34 22.700 21,38 Đất nương 25.060 17,77 1.500 15,48 19.320 18,2 Đất ruộng 27.070 19,19 1.170 12,07 14.640 13,79 Đất hoa màu 61.880 43,87 2.820 29,10 49.500 46,63

(Nguồn: Tổng hợp số liệu điều tra)

Hoạt động sinh kế của nhóm hộ này chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, gắn liền với nguồn tài nguyên đất đai và sự phát triển sản xuất để phục vụ đời sống hàng ngày Nhờ đó, nhóm hộ nông nghiệp có tổng diện tích đất nông nghiệp lớn nhất, phản ánh quy mô canh tác và tầm ảnh hưởng của họ trong chuỗi cung ứng nông nghiệp của khu vực.

Trong nhóm hộ nông nghiệp, tổng diện tích đất hoa màu lớn nhất chiếm 43,87%, đất ruộng chiếm 19,19%, đất thổ cư chiếm 19,18% và đất nương chiếm 17,77% Do địa hình đồi núi và nguồn nước ít, việc cày cấy gặp nhiều khó khăn nên hoạt động sinh kế của đồng bào Mông nơi đây chủ yếu dựa vào trồng ngô và một số cây hoa màu khác như rau dậu.

Dù là hộ phi nông nghiệp nhưng vẫn có diện tích đất canh tác, cho thấy sự linh hoạt trong quản lý nguồn lực Trong cơ cấu sử dụng đất, đất thổ cư chiếm tỉ lệ cao nhất với 43,34%, đất hoa màu chiếm 29,10%, phần còn lại là đất nương và ruộng được dùng chủ yếu để cho người khác thuê hoặc một phần nhỏ được dùng để canh tác phục vụ gia đình Cách tận dụng và khai thác nguồn tài nguyên sẵn có này giúp họ tạo thu nhập và đảm bảo sinh kế.

Nhóm hộ kiêm nhiệm vừa tham gia hoạt động nông nghiệp vừa tham gia các hoạt động phi nông nghiệp Theo đó, diện tích đất hoa màu chiếm 46,63%; đất thổ cư chiếm 21,38%; đất nương chiếm 18,2%, còn lại là đất ruộng.

Nông dân vừa duy trì hoạt động canh tác trên diện tích đất sẵn có, vừa cho thuê đất cho người khác để có thêm thu nhập Họ cũng tham gia làm thêm các công việc ngoài nông nghiệp nhằm tăng thu nhập, từ đó giảm tỷ lệ lao động tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp.

Diện tích canh tác của các hộ qua điều tra là khá lớn Tuy nhiên do tập quán canh tác cũng như đặc điểm về vị trí địa hình dẫn tới chất lượng đất còn nghèo, bạc màu khiến năng suất và sản lượng chưa cao.

Nhà ở và phương tiện sản xuất của hộ điều tra được thể hiện qua bảng 4.9 dưới đây

Bảng 4.9: Nhà ở và phương tiện sản xuất của hộ.

Chỉ tiêu Hộ NN (nG) Hộ PNN (n=5) Hộ kiêm (n8)

(Tổng hợp số liệu điều tra)

Hầu hết các hộ điều tra có nhà xây kiên cố đảm bảo cho ăn ở sinh hoạt và sản xuất của người dân trên 80% Còn vài hộ vẫn ở nhà gỗ, tre là những hộ chưa có khả năng xây nhà hay mới dọn ra ở riêng, chưa có cơ hội xây Tập trung ở nhóm hộ nông nghiệp là 4,26% Một số hộ có nhà sàn bằng gỗ kiên cố thuộc nhóm hộ phi nông nghiệp và hộ kiêm Điều này cho thấy, khi sinh sống trong một ngôi nhà vững chắc, kiên cố có thể tránh được ảnh hưởng bởi mưa đá, gió lốc, đảm bảo cho sức khỏe, tinh thần người dân cũng an tâm sản xuất, thực hiện hoạt động sinh kế hiệu quả hơn.

Một số giải pháp ứng phó, thích nghi với BĐKH

4.4.1 Giải pháp về giáo dục và truyền thông

* Nâng cao trình độ cho người dân

- Nâng cao trình độ văn hóa, xóa nạn mù chữ cho người dân, khuyến khích các hộ, phụ huynh học sinh cho con em đi học các trường đại học, cao đẳng, trường nghề, để có thể nâng cao hiểu biết

- Đối với địa phương, các ban ngành, đoàn thể cần mở nhiều hơn nữa các lớp đào tạo, tập huấn về khoa học kỹ thuật phục vụ cho sản xuất và các kiến thức về BĐKH cho người dân để họ có thể áp dụng cũng như ứng phó kịp thời hạn chế được các rủi ro không đáng có

- Mở các lớp tập huấn, đào tạo kỹ thuật và nâng cao tay nghề cho người dân, giúp người dân có thêm kiến thức, sự hiểu biết áp dụng vào trong sản xuất cũng như biết cách ứng phó với BĐKH.Đưa cán bộ hoặc một số người dân tham gia tập huấn tại các diễn đàn do huyện hoặc tỉnh tổ chức liên quan đến BĐKH.

- Tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân trong vấn đề bảo vệ môi trường và đa dạng sinh học.

- Xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục cộng đồng nhằm nâng cao hiểu biết, nhận thức về sức khỏe, môi trường và khả năng thích ứng với các tác động của BĐKH

- Xây dựng và tổ chức thường xuyên các chương trình truyền thông, các khóa đào tạo, tập huấn về ứng dụng KH-KT vào trong các hoạt động sản xuất.

4.4.2 Giải pháp về nguồn nhân lực

Qua điều tra cho thấy trình độ học vấn của các thành viên trong hộ còn ở mức thấp Vì vậy, cần khuyến khích các hộ gia đình tạo điều kiện cho con em được theo học ở các cấp cao hơn, đồng thời khuyến khích các thành viên trong độ tuổi lao động tham gia các lớp tập huấn và các khóa đào tạo nâng cao trình độ nhận thức, nâng cao khả năng ứng phó với các tình huống trong cuộc sống và công việc.

BĐKH trong hoạt động sinh kế Đồng thời, biết cách áp dụng các thành tựu KH-HT vào quá trình sản xuất của hộ

4.4.3 Giải pháp về đất đai

Quy hoạch diện tích canh tác của người dân một cách hợp lý và hiệu quả giúp nâng cao năng suất sản xuất và tối ưu hóa việc sử dụng đất nông nghiệp Đồng thời, việc phân bổ và quản lý diện tích đất đai hợp lý giảm thiểu tình trạng đất manh mún, nhỏ lẻ tốn nhiều thời gian và công sức, từ đó nâng cao hiệu quả lao động và kinh tế cho người nông dân.

- Bổ sung dinh dưỡng cho đất, phục hồi lại chức năng của đất để tăng cường năng suất, sản lượng và chất lượng cây trồng.

- Chóng xói mòn, sạt lở đất, bảo vệ đất, bảo vệ độ ẩm và độ phì nhiêu cho đất

Phủ xanh đất trống đồi trọc là giải pháp hiệu quả để chống xói mòn đất, tăng độ che phủ mặt đất và tận dụng tối đa diện tích đất canh tác Việc trồng sen canh xen giữa cây ngắn ngày và cây dài ngày mang lại sự cân bằng sinh thái, tối ưu hóa khả năng che phủ và giữ nước, từ đó nâng cao năng suất và phát triển nông nghiệp bền vững.

-Đối với những vùng đất dễ bị mất nước, dễ bốc hơi, đất bạc màu cần áp dụng các biện pháp làm đất tối thiểu (không cày xới nhiều)

Chúng ta cần tuyên truyền cho người dân sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu và thuốc BVTV một cách hợp lý, đúng quy định hiện hành để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường Nên ưu tiên dùng phân hữu cơ vi sinh và chọn các loại thuốc BVTV có nguồn gốc rõ ràng, được cấp chứng nhận và có nguồn gốc sinh học đáng tin cậy Việc thực hiện quản lý phân bón và thuốc bảo vệ thực vật theo hướng dẫn, kết hợp với sản phẩm có nguồn gốc sinh học sẽ tăng hiệu quả canh tác, giảm thiểu ô nhiễm đất và nước, đồng thời thúc đẩy nông nghiệp bền vững.

4.4.4 Giải pháp về kỹ thuật

Kĩ thuật là chìa khoá để tăng năng suất và sản lượng Tuy nhiên, việc tiếp cận KH-KT của người dân địa phương còn nhiều hạn chế, vì vậy cán bộ khuyến nông cần sát sao hơn trong quá trình hỗ trợ người dân tiếp nhận những tiến bộ KH-KT Ngoài ra, cần tổ chức nhiều hơn các lớp tập huấn, hội thảo đầu bờ, tham quan mô hình đạt chuẩn.

Giải pháp kỹ thuật hiện đại cho nông nghiệp và ngư nghiệp có thể chuyển đổi sang một mô hình sản xuất và sinh hoạt thích nghi với điều kiện khí hậu, đất đai và sinh thái mới Đẩy mạnh sử dụng các giống cây trồng có khả năng chống chịu và kháng sâu bệnh, ưu tiên các giống ngắn ngày giúp tránh lũ và giảm thiểu thiệt hại Xây dựng hệ thống nhà tránh lũ ở khu vực dễ bị ảnh hưởng, đồng thời tham gia bảo hiểm sản xuất nông nghiệp và ngư nghiệp để giảm thiểu rủi ro trước biến đổi khí hậu Những biện pháp này hướng tới tăng cường tính tự chủ, bền vững và an toàn cho sản xuất và đời sống trong bối cảnh biến đổi khí hậu.

- Chuyển đổi mùa và thời vụ đối với những cây trồng ngắn ngày như lúa, ngô, đậu tương, khuyến cáo làm thành nhiều vụ trong năm để có thể tận dụng hết đất, chống bỏ hóa đất trồng

Đa dạng mùa vụ và giống là yếu tố then chốt cho các loại cây trồng chính, đòi hỏi bố trí phù hợp và mang lại hiệu quả với điều kiện tự nhiên ở từng thời kỳ Cần xác định kế hoạch gieo trồng theo từng giai đoạn sinh trưởng và phát triển của cây, từ khi còn non đến thu hoạch, nhằm tối ưu hóa năng suất và giảm thiểu rủi ro Việc lựa chọn giống phù hợp với vùng miền, mùa vụ và điều kiện môi trường giúp tận dụng tối đa tiềm năng sinh trưởng, nâng cao hiệu quả kinh tế và đảm bảo sự bền vững cho vụ mùa.

+ Khi xây dựng chuồng trai ta cần quan tâm đặc biệt tới việc chống nóng, chống lại, khô hanh trong điều kiện BĐKH, ấm áp vè mùa đông toáng mát về mùa hè Đồng thời nghiên cứu xây dựng hệ thống xử lý phân, nước thải hợp lý hiệu quả, vệ sinh thật tốt

+ Vận động và tuyên truyền người dân khi xảy ra dịch bệnh phải sử lý xác chết động vật theo đúng quy định, không vứt bừa bãi làm ảnh hưởng đến hộ khác, ảnh hưởng đến môi trường xung quanh

+ Xây dựng hầm biogas để xử lý chất thải trong chăn nuôi.

4.4.5 Giải pháp về việc làm

Ngày đăng: 24/11/2021, 14:18

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w