Tình hình thực hiện các biện pháp kỹ thuật sản xuất bưởi Quế Dương và một số công việc khác trong thời gian thực tập tại trang trại .... Cây ăn quả có múi nói chung và một số giống bưởi
Tính c ấ p thi ế t
Cây ăn quả đang trở thành một ngành kinh tế mạnh ở Việt Nam, đóng vai trò thiết yếu trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng hiệu quả kinh tế và cải thiện môi trường sinh thái, đặc biệt tại các tỉnh trung du miền núi phía Bắc Các cây ăn quả có múi nói chung và các giống bưởi đặc sản ở mỗi vùng miền hiện nay không chỉ là nguồn nông sản mà còn là nghề kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Cây bưởi có tên khoa học Citrus grandis L Osbeck, thuộc chi Citrus, nhóm cam quýt và họ Rutaceae Bưởi được trồng khắp các tỉnh thành trên cả nước và đã hình thành những vùng quả đặc sản cho từng vùng sinh thái khác nhau, như bưởi Đoan Hùng ở Phú Thọ, bưởi Diễn ở Từ Liêm – Hà Nội, bưởi Quế Dương ở Hoài Đức – Hà Nội và bưởi Phúc Trạch ở Hương Khê – Hà Tĩnh.
Ở Việt Nam, cây ăn quả có múi đang trở thành một trong những cây ăn quả chủ lực và được trồng từ Bắc vào Nam với bộ giống đa dạng Điển hình cho sự phong phú này là các loại bưởi nổi tiếng ở từng vùng: bưởi Thanh Trà ở Hà Tĩnh, bưởi Năm Roi ở Vĩnh Long và bưởi Da Xanh ở Bến Tre Sự phân bổ địa lý và chất lượng của các giống có múi giúp ngành nông sản miền Bắc, miền Trung và miền Nam phát triển mạnh, đồng thời đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước và tiềm năng xuất khẩu.
Hải Dương là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng có tiềm năng phát triển nhiều loại cây ăn quả Năm 2017, toàn tỉnh có năm loại cây ăn quả được đưa vào sản xuất hàng hóa và chứng nhận GAP gồm vải, ổi, na, cam và bưởi với diện tích 442 ha, tăng 115 ha so với năm trước; cây bưởi đang được sản xuất theo quy trình VietGAP với diện tích 39,7 ha Mô hình VietGAP giúp người nông dân có thu nhập 225 triệu đồng/ha/năm trước khi trừ chi phí, lãi 190 triệu đồng/ha/năm, góp phần làm giàu cho nhiều gia đình (nguồn: m.baohaiduong.vn).
Bưởi Quế Dương là một trong những giống bưởi đặc sản ở Việt Nam có tiềm năng đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người trồng và thị trường Đây là giống bưởi chín sớm, có thể thu hoạch từ rằm tháng tám âm lịch, sớm hơn bưởi Diễn khoảng 2–3 tháng, giúp cây có thời gian phục hồi để ra hoa, cho quả vào đầu năm sau và ít bị già cỗi theo thời gian (theo bài viết trên nongnghiep.vn).
Trong những năm gần đây, cây bưởi Quế Dương được trồng phổ biến ở nhiều tỉnh miền Bắc, đặc biệt là Hải Dương, nhờ đất đai và khí hậu thuận lợi mang lại cơ hội tạo công ăn việc làm và tăng thu nhập cho người dân Nhờ sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, các ngành và các chính sách hỗ trợ hệ thống thủy lợi được đầu tư nên sản xuất nông nghiệp đã thuận lợi hơn và người dân có thể yên tâm mở rộng các loại cây trồng phù hợp mang lại hiệu quả kinh tế, nâng cao tổng sản phẩm trong sản xuất Tuy nhiên, so với tiềm năng địa phương, sản xuất và kinh doanh cây bưởi Quế Dương còn bộc lộ nhiều tồn tại và yếu kém: diện tích trồng chưa được mở rộng nhiều, năng suất chưa đạt cao Phương thức sản xuất của người dân mang tính nhỏ lẻ, thủ công, dựa nhiều vào kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau Hợp tác trong khâu tiêu thụ còn lỏng lẻo, thiếu sự liên kết; người dân đầu tư dàn trải thiếu định hướng nên chi phí đầu tư cao Việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật chưa hiệu quả, dẫn đến chất lượng sản phẩm chưa đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá tình hình sản xuất và kết quả áp dụng kỹ thuật tiến bộ trong sản xuất bưởi Quế
D ương tại trang trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái S ơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương”
M ụ c tiêu
Đánh giá được hiện trạng sản xuất, kinh doanh bưởi Quế Dương tại trang trại Bùi Huy Hạnh Đánh giá được kết quả, thuận lợi, khó khăn, trong áp dụng kỹ thuật của sản xuất bưởi Quế Dương tại trang trại
Tìm ra bài học kinh nghiệm trong nâng cao kiến thức và kỹnăng nghề nghiệp
Đặc điể m và yêu c ầu sinh thái, dinh dưỡ ng c ủa bưở i Qu ế Dương
Đặc điể m hình thái c ủa bưở i Qu ế Dương
Bưởi Quế Dương còn có tên gọi là bưởi Ta (hoặc bưởi Tháp Thượng)
Giống bưởi đường Quế Dương có khả năng sinh trưởng khoẻ, cho năng suất, chất lượng tốt đạt hiệu quả kinh tế cao
Nghiên cứu của Vũ Mạnh Hải và các cộng sự (2015) về đặc điểm hình thái của cây bưởi Quế Dương trồng tại xã Cát Quế, Hoài Đức, thành phố Hà Nội cho thấy các cây dưới 10 tuổi có chiều cao từ 5–9 m, đường kính gốc từ 20–25 cm và đường kính tán từ 4–7 m Kết quả này cung cấp thông tin tham chiếu hữu ích cho công tác quản lý giống, chăm sóc và quy hoạch sản xuất bưởi Quế Dương ở khu vực thủ đô.
- 6 thân chính, dạng tán dù Cây trồng bằng hạt chỉ có một thân chính, tán hình trụ thẳng đứng
Tuổi thọ của cây bưởi có thể lên tới 50 năm, nhưng hiện nay do chăm sóc chưa tốt và bị tác động từ các vườn trồng chuyên canh mang tính hàng hóa, nhiều cây bị giảm tuổi thọ khi bị ép buộc đẩy mạnh ra hoa trái vụ bằng các biện pháp như xiết nước, phun thuốc và bón hóa chất để tăng nhanh số đợt hoa trái, nhằm thu lợi cao; những biện pháp chăm sóc không bền vững này đang khiến cây bưởi suy kiệt và tuổi thọ giảm đi đáng kể Tuy nhiên ở xã Cát Quế vẫn có một số cây trên 40 năm tuổi nhưng vẫn phát triển tốt, cho năng suất cao và ổn định.
Lá bưởi thuộc loại lá đơn, dạng phiến, có bộ lá to, xanh thẫm và mỏng hơn lá bưởi Diễn; eo lá to, phiến lá thường cong lên ở giữa và mép lá vênh như vỏ đỗ, kích thước trung bình 11,1 cm dài và 5,4 cm rộng Số lượng lá trên cây quyết định năng suất và sản lượng bưởi, vì vậy đặc điểm hình thái, kích thước và màu sắc lá rất quan trọng để cây quang hợp tối ưu và tạo năng suất cao Mỗi năm cây có 3 đợt lộc chính: lộc xuân, lộc hè và lộc thu.
Hoa bưởi Quế Dương thuộc loại hoa chùm gồm 6–8 hoa mỗi chùm, mỗi hoa có 5 cánh và khoảng 30 nhị Cây ra hoa vào đầu tháng 2 đến đầu tháng 3 dương lịch Thời gian nở hoa là yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng đậu quả của cây bưởi.
QuếDương tại các tỉnh miền núi phía Bắc, vì khu vực này chịu ảnh hưởng nặng của gió mùa Đông Bắc và mưa Xuân.
Quả bưởi Quế Dương có dạng hình cầu dẹt, vỏ vàng khi chín và chứa túi tinh dầu nhỏ; quả khá to, trung bình từ 1,2–1,5 kg, có quả nặng tới 5 kg Múi quả ngọt nhiều nước, không vị the đắng, vỏ mỏng và dễ tách, 13–17 múi/quả, màu vàng nhạt, tỉ lệ phần ăn được đạt 68,5–76,5% Múi bưởi đều, dài trung bình 9–10 cm, dày từ 3–4 cm Tôm bưởi lúc mới thu hoạch tương đối ráo và mọng nước, nhưng để lâu sẽ hơi nhão Bưởi Quế Dương có vị ngọt vừa phải.
(11 - 12 độ đường) Quả có 115 hạt/quả.
Yêu c ầu sinh thái, dinh dưỡ ng c ủa bưở i Qu ế Dươn g
Yêu cầu về nhiệt độ
Cây có múi nói chung, bưởi nói riêng có thể trồng ở vùng nhiệt độ từ 12
Nhiệt độ ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ hoạt động sống của cây cũng như năng suất và chất lượng quả; nhiệt độ tối ưu cho sự sinh trưởng nằm trong khoảng 23–29°C, với tham khảo là 39°C Cây ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ xuống dưới 12,5°C hoặc vượt quá 40°C Nhiệt độ được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến toàn diện hoạt động của cây và kết quả thu hoạch (Vũ Mạnh Hải và cộng sự, 2000; Vũ Công Hậu, 1996)[1],[3].
Nhiệt độ tối ưu cho sinh trưởng các đợt lộc trong mùa xuân là 12–20°C, mùa hè 25–30°C, và hoạt động của hệ rễ đạt hiệu quả ở 17–30°C; trong thời kỳ phân bố mầm hoa, nhiệt độ nên thấp hơn 25°C trong ít nhất hai tuần hoặc có thể áp dụng hạn nhân tạo ở vùng nhiệt đới nóng Ngưỡng nhiệt độ tối thiểu cho nở hoa là khoảng 9,4°C; khi nhiệt độ thấp hơn 20°C sẽ kéo dài thời gian nở hoa, còn ở mức 25–30°C quá trình nở hoa sẽ diễn ra nhanh hơn (Trần Thế Tục và cộng sự, 1996)[7].
Nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển của quả nằm trong khoảng 14–40°C, với mức tối ưu quanh 32°C Trong khoảng 29–35°C, quả tích lũy đường tốt nhất và vỏ quả đạt màu sắc đẹp nhất, giúp nâng cao chất lượng trái cây.
* Yêu cầu về ánh sáng
Bưởi là cây ưa sáng nhưng vẫn cần chế độ ánh sáng hợp lý để sinh trưởng và cho quả ổn định Ánh sáng thích hợp cho bưởi là ánh sáng tán xạ với cường độ 10.000–15.000 lux, tương đương khoảng 0,6 cal/cm², thường gặp ở 8h sáng và 16–17h trong những ngày quang đãng của mùa hè Tuy nhiên, chiếu sáng trực xạ kết hợp với nhiệt độ cao sẽ làm giảm khả năng quang hợp và khiến lá khô héo, rụng do bốc hơi nước mạnh; ngược lại, trời âm u thiếu sáng, đặc biệt trong thời kỳ ra hoa và đậu quả, có thể khiến hoa quả non rụng hàng loạt và nếu độ ẩm không khí cao sẽ tạo điều kiện cho sâu bệnh phát triển Vì vậy để trồng bưởi hiệu quả cần các biện pháp kỹ thuật điều chỉnh chế độ chiếu sáng như trồng với mật độ hợp lý, cắt tỉa cành và trồng cây che bóng.
Yêu cầu vềđất đai, dinh dưỡng
Theo Trần Thế Tục (1995) và một số tác giả, cây bưởi có thể trồng trên nhiều loại đất như đất thịt nặng ở đồng bằng, đất phù sa châu thổ, đất đồi núi, đất phù sa cổ, đất thịt nhẹ, đất cát pha và đất bạc màu; tuy nhiên trồng bưởi trên đất nghèo dinh dưỡng đòi hỏi thâm canh cao để đạt hiệu quả kinh tế tốt hơn Cây bưởi có thể trồng được ở pH từ 4 đến 8, nhưng thích hợp nhất là từ 5,5–6, tầng canh tác nên trên 1 m Giống bưởi Quế Dương thích hợp với đất thịt cát pha hoặc đất giàu phù sa Cây có khả năng chịu úng khá cao nhưng đất vẫn cần tơi xốp và thoáng khí Để phát triển tốt, cây cần được cung cấp đầy đủ và cân đối các nguyên tố dinh dưỡng đa lượng N, P, K cũng như các nguyên tố vi lượng Cu, Mg, B.
Yêu cầu vềẩm độvà lượng mưa
Bưởi là cây ưa ẩm nhưng không chịu úng ngập vì rễ của bưởi thuộc loại rễ nấm (hút dinh dưỡng qua hệ nấm cộng sinh); khi đất ngập nước thiếu oxi, rễ hoạt động kém và ngập lâu có thể thối rễ, làm rụng lá và quả non Tuy nhiên giống bưởi Quế Dương có khả năng chịu úng khá tốt Lượng nước tưới cho bưởi thay đổi nhiều phụ thuộc vào điều kiện khí hậu, loại đất và tuổi cây.
Nhìn chung vùng trồng bưởi cần có lượng mưa trung bình năm từ 1.600
- 1.800mm và phân bốđều đểđáp ứng yêu cầu sinh trưởng, phát triển của bưởi, đặc biệt là các thời kỳ bưởi cần nhiều nước như: Thời kỳ bật mầm, phân hoá mầm hoa, ra hoa và phát triển quả Trong thời kỳ này lượng mưa phải đủ để duy trì ẩm độđất đạt từ 60 - 70% độẩm bão hoà Độ ẩm không khí thích hợp là 75 - 80% Ở thời kỳ nở hoa cần độ ẩm không khí thấp 70 - 75% Thời kỳ quả phát triển ẩm độ cao vừa phải quả sẽ phát triển nhanh, phẩm chất tốt, sản lượng cao và mã quả đẹp Độ ẩm không khí quá cao, nắng to ở thời kỳ tháng 8 - 9 hay gây hiện tượng nứt rụng quả Ẩm độ đất và ẩm độ không khí có ảnh hưởng đến khả năng phân hoá mầm hoa và tỷ lệ đậu quả của cam quýt Nếu đủ ẩm trong mùa hè và hạn nhẹ từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau hoa quả sẽ nhiều Tháng 3 - 4 khô hạn có khả năng giảm sốlượng quả trên cây.
Tình hình sản xuất và tiêu thụ bưởi ở trên thế giới và tại Việt Nam
Tình hình sản xuất và tiêu thụ bưởi ở trên thế giới
Trên thế giới sản xuất khoảng 8 - 9 triệu tấn bưởi cả 2 loại bưởi chùm (Citrus paradisi) và bưởi (Citrus grandis), trong đó chủ yếu là bưởi chùm (chiếm 6,5 - 6,8 triệu tấn) còn lại bưởi chiếm một lượng khá khiêm tốn khoảng (1,5 - 2,2 triệu tấn) (FAO, 2019)[13] Sản xuất bưởi chùm chủ yếu tập trung ở các nước châu Mỹ, châu Âu dùng cho chế biến nước quả Bưởi chủ yếu được sản xuất ở các nước thuộc châu Á, tập trung nhiều ở một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ, Argentina, Thái Lan, Mỹ, Bangladesh, được sử dụng để ăn tươi là chủ yếu
Tính đến năm 2017, diện tích trồng cây bưởi đạt 348.212 ha, năng suất đạt 260,277 tạ/ha, sản lượng đạt 9.063.143 tấn Trong vòng 05 năm từ 2013 -
2017 diện tích, năng suất, sản lượng bưởi trên thế giới có sự thay đổi Năm
2013 diện tích bưởi trên thế giới là 320.906, từ năm 2014 - 2016 diện tích tăng lên từ 319.311 ha lên đến 361.032 ha, năm 2017 diện tích giảm xuống còn 348.212 ha Năng suất bưởi trên thế giới giảm từ 264,617 tạ/ha năm 2013 xuống còn 248,428 tạ/ha năm 2016, đến năm 2017 sản lượng tăng lên đạt 260,277 tạ/ha Sản lượng bưởi có xu hướng tăng, năm 2013 đạt 8.491.714 tấn, đến năm
2017 sản lượng bưởi đạt 9.063.143 tấn (FAOSTAT, 2019)[13]
Bảng 2.1 Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng bưởi trên thế giới giai đoạn 2013 - 2017
Năm Diện tích (ha) Năng suất
(tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Hiện nay, ba vùng trồng bưởi chính trên thế giới là châu Á, châu Mỹ và châu Phi, với châu Á là vùng trồng lớn nhất Theo số liệu FAO năm 2017, sản lượng bưởi ở châu Á đạt 6,594 triệu tấn, chiếm 72,8% tổng sản lượng bưởi toàn cầu, tiếp theo là châu Mỹ với 17,3% và châu Phi với 8,8%.
Châu Á được xem như cái nôi của cam quýt và cây bưởi, đồng thời là khu vực sản xuất bưởi lớn nhất trên thế giới Theo FAO, năm 2019 diện tích trồng bưởi ở châu Á đã được ghi nhận ở mức rất cao, cho thấy vai trò quan trọng của châu lục này trong sản xuất bưởi toàn cầu.
Trong năm 2017, diện tích trồng bưởi đạt 211.797 ha, năng suất 311,366 tạ/ha và sản lượng 6.594.638 tấn Dù một số nước châu Á như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan và Việt Nam có sản lượng bưởi cao, hạn chế về trình độ canh tác khiến năng suất và chất lượng các giống bưởi ở khu vực này vẫn ở mức thấp so với các vùng trồng bưởi khác trên thế giới Công tác chọn tạo giống và kỹ thuật canh tác ở khu vực này còn nhiều hạn chế so với các vùng trồng bưởi hàng đầu thế giới, ngoại trừ Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan.
Bảng 2.2 Diện tích, năng suất và sản lượng bưởi mườinước trồng bưởi nhiều nhất thế giới năm 2017
TT Nước Diện tích (ha) Năng suất
Trung Quốc có diện tích trồng bưởi đạt 90.917 ha vào năm 2017, với năng suất 51,24 tấn/ha và sản lượng lên tới 4.658.672 tấn quả, xếp thứ cao nhất thế giới theo FAO 2019; bưởi được trồng nhiều ở các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, Tứ Xuyên, Hồ Nam, Chiết Giang, Phúc Kiến và Đài Loan.
Một số giống bưởi nổi tiếng như Văn Đán, Sa Điền và Quan Khê được Bộ Nông nghiệp Trung Quốc công nhận là hàng nông nghiệp chất lượng cao Năm 2008, riêng bưởi Sa Điền đạt diện tích 30.000 ha và sản lượng 750.000 tấn, trong khi ở Phúc Kiến, bưởi Quan Khê đạt diện tích 40.000 ha và sản lượng 20.000 tấn.
Mỹ đứng thứ hai thế giới về sản lượng bưởi quả, phần lớn là bưởi chùm, và nước này chú trọng phát triển giống cam quýt nói chung cũng như giống bưởi nói riêng, với bộ giống bưởi cho quả không hạt phong phú (bất dục đực, bất dục cái, thể tam bội…) Năm 2017, sản lượng bưởi của Mỹ đạt khoảng 633.210 tấn và đây là một trong những nước xuất khẩu bưởi lớn trên thế giới (FAO, 2019) Ấn Độ trồng bưởi và bưởi chùm trên quy mô thương mại ở một số vùng; bưởi chùm được dùng phổ biến cho bữa sáng ở nhiều nước, với Punjab là vùng khô hạn lý tưởng cho loại quả này, và bưởi có thể trồng được ở vùng có lượng mưa lớn, phát triển tốt ở Konkan.
Vào năm 2005, Ấn Độ sản xuất được 148.000 tấn bưởi và bưởi chùm Đến năm 2012, sản lượng bưởi quả đạt 322.500 tấn và xếp thứ ba về sản xuất bưởi quả ở các nước châu Á Năm 2017, sản lượng bưởi đạt 352.000 tấn, theo FAO (2019).
Bưởi Thái Lan được trồng nhiều ở các tỉnh miền Trung, một phần miền Bắc và miền Đông, với các giống nổi tiếng như Cao Phuang và Cao Phan Năm 1987, Thái Lan trồng 1.500 ha bưởi cho sản lượng 76.275 tấn, cho thấy quy mô phát triển và giá trị kinh tế của ngành trồng bưởi nước này.
Theo Trần Thế Tục (1995)[5], xuất khẩu bưởi Thái Lan ước đạt khoảng 28 triệu USD Đến năm 2007, diện tích trồng bưởi ở Thái Lan là khoảng 34.354 ha và sản lượng khoảng 197.716 tấn, bao gồm cả bưởi chùm Đến năm 2017, diện tích trồng bưởi còn khoảng 25.350 ha và sản lượng đạt 236.510 tấn, theo FAO (2019)[13].
Về tình hình tiêu thụ
Nhật Bản vẫn là thị trường lớn cho bưởi tươi nhập khẩu Trong giai đoạn 2004/2005, Florida (Mỹ) đã xuất sang Nhật 4.755.972 thùng bưởi tươi (khoảng 80.851 tấn); năm 2005/2006 con số này tăng lên khoảng 6–7 triệu thùng (102–119 nghìn tấn) và đến 2006/2007 đạt 8 triệu thùng (khoảng 136 nghìn tấn) Nam Phi cũng cung cấp bưởi cho Nhật với khoảng 6 triệu thùng (96.721 tấn) trong năm 2004/2005, tăng gần 1,55 triệu thùng so với 2003/2004 Các số liệu này cho thấy Nhật Bản là điểm đến quan trọng của bưởi tươi từ nguồn cung lớn.
Ở Nga, khoảng 12% người dân coi quả có múi là loại trái cây ưa thích Quýt và cam là hai loại quả phổ biến nhất, còn bưởi được xem là loại quả có múi quý hiếm Năm 2004, Nga nhập khẩu bưởi đạt 4 nghìn tấn, trong khi các năm trước đó ghi nhận 32 nghìn tấn (2003), 33 nghìn tấn (2002) và 22 nghìn tấn (2001).
Trong 9 tháng đầu năm 2005, Nga nhập khẩu 30 nghìn tấn bưởi, đưa nước này vào vị trí thứ ba trên thế giới về nhập khẩu bưởi, sau Nhật Bản (288 nghìn tấn) và Canada (51 nghìn tấn), với tổng lượng bưởi nhập khẩu toàn cầu là 464 nghìn tấn Các nước cung cấp bưởi chủ yếu cho Nga gồm Thổ Nhĩ Kỳ, Israel, Nam Phi và Argentina (Nguyễn Hữu Thọ, 2015)[4].
Tình hình s ả n xu ấ t và tiêu th ụ bưở i t ạ i Vi ệ t Nam
Tình hình sản xuất bưởi tại Việt Nam được thể hiện trong bảng 2.3
Bảng 2.3 Diễn biến diện tích, năng suất và sản lượng bưởi tại Việt Nam giai đoạn 2013 - 2017 Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Diện tích trồng bưởi ở nước ta ngày càng tăng, từ 37.733 ha năm 2013 lên 46.791 ha năm 2017 Năng suất bưởi dao động nhưng không ảnh hưởng lớn đến sản lượng; sản lượng bưởi liên tục tăng từ 439.062 tấn năm 2013 lên 568.352 tấn năm 2017 Nhóm cây ăn quả có múi nói chung và cây bưởi nói riêng được xem là một trong bốn loại cây ăn quả chủ lực mang lại năng suất, sản lượng cao và hiệu quả kinh tế lớn Việt Nam trồng nhiều loại bưởi như Đoan Hùng, Diễn, Da xanh, Phúc Trạch, Năm Roi, Quế Dương ở khắp các vùng miền, nhưng bưởi Da Xanh có giá trị kinh tế cao nhất, được trồng chủ yếu ở miền Nam và đang được thị trường ưa chuộng.
Theo các tác giả Vũ Mạnh Hải và các cộng sự (2000)[1] Nước ta có 3 vùng trồng cây có múi chủ yếu là:
Đồng bằng sông Cửu Long là vùng dẫn đầu cả nước về cây có múi với diện tích 74.400 ha chiếm 54% tổng diện tích và sản lượng 880.800 tấn mỗi năm, tương đương 65% sản lượng cây có múi cả nước Nơi đây còn nổi tiếng với các giống có múi đặc sản được người tiêu dùng ưa chuộng và có giá cao, như bưởi Da Xanh ở Bến Tre; bưởi Năm Roi ở Vĩnh Long và Hậu Giang; quýt Hồng ở Đồng Tháp; quýt Đường ở Trà Vinh; cam Sành và bưởi Lông Cò Cò ở Tiền Giang.
- Vùng Bắc Trung bộ: theo thống kê của Cục Trồng trọt (Bộ
Theo số liệu của NN&PTNT năm 2016, toàn vùng bưởi có diện tích 54,7 nghìn ha, năng suất 116,8 tạ/ha và sản lượng 474,5 nghìn tấn Trong vùng này nổi lên hai vùng bưởi đặc sản là bưởi Thanh Trà ở Huế và bưởi Phúc Trạch ở Hương Khê Nhờ những ưu thế nổi bật, diện tích trồng bưởi Phúc Trạch đang được mở rộng, góp phần tăng quy mô và giá trị cho chuỗi sản phẩm bưởi của địa phương.
Vùng Trung du và Miền núi phía Bắc có diện tích cây có múi lớn nhất khu vực, được trồng chủ yếu trên đất ven sông, ven suối như sông Hồng, sông Lô, sông Gâm và sông Chảy Tổng diện tích cây có múi của vùng này ước đạt 43.500 ha, chiếm 60% diện tích cây có múi của các tỉnh phía Bắc (72.600 ha) và 27,6% diện tích cây có múi cả nước (157.400 ha), theo số liệu từ baomoi.com.
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2013 nước ta có 56,6 nghìn ha cây có múi và sản lượng đạt 708,6 nghìn tấn Đến năm 2018, diện tích cây có múi cả nước được mở rộng lên 157,4 nghìn ha, và sản lượng cam, quýt, bưởi đạt 1.697,9 nghìn tấn Trong những năm gần đây diện tích cây có múi ngày càng được mở rộng.
Theo thống kê của Cục Trồng trọt (Bộ NN&PTNT), cam, bưởi, quýt nằm trong top 15 loại cây trồng có diện tích lớn nhất (trên 100.000ha) và sản lượng lớn nhất (trên 100.000 tấn/năm) cùng với chuối, xoài, vải, nhãn, thanh long, dứa, sầu riêng, chôm chôm, mít, chanh và ổi Năm 2017, đã tăng thêm 22.000 ha cây ăn quả có múi so với năm 2016, trong đó, diện tích cam hiện tại là 90.000 ha, tăng 10.000 ha; diện tích bưởi tăng 13.000 ha so với năm 2016 (https://baomoi.com)[14]
Theo Viện Nghiên cứu Cây ăn quả miền Nam, chỉ riêng bưởi Năm Roi ở Đồng bằng sông Cửu Long diện tích đã khoảng trên 10.000 ha, sản lượng đạt 60.000 tấn/năm, phân bố chính ở tỉnh Vĩnh Long với diện tích 4,5 nghìn ha cho sản lượng 31,3 nghìn tấn, chiếm 48,6% về diện tích và 54,3% về sản lượng Năm Roi của cả nước, trong đó tập trung ở huyện Bình Minh: 3,4 nghìn ha với sản lượng gần 30 nghìn tấn Tiếp theo là tỉnh Hậu Giang: 1,3 nghìn ha Giống bưởi Da Xanh mới chọn lọc cách đây khoảng chục năm nhưng diện tích trồng giống bưởi này ở Bến Tre đã có 1.544 ha (Hoàng Văn Việt, 2014)[8]
Trước đây bưởi ở Việt Nam chủ yếu sử dụng ăn tươi và sản xuất bưởi của nước ta chỉ đủ để cung cấp cho thị trường trong nước Vài năm gần đây đã có một số công ty, như Hoàng Gia, Đông Nam đã đầu tư sản xuất, áp dụng các biện pháp quản lý chất lượng theo GAP, đăng ký thương hiệu một số giống bưởi ngon, như Năm Roi, Da Xanh, Phúc Trạch, với mục đích xuất khẩu ra thị trường nước ngoài Bưởi Năm Roi ở đồng bằng sông Cửu Long được nhiều khách nước ngoài ưa chuộng Hội Làm vườn huyện Vĩnh Cửu (Đồng Nai) đã ký hợp đồng xuất khẩu trên 40.000 quả bưởi đặc sản Tân Triều sang thị trường Singapore với giá 18.000 đồng/kg (khoảng 220.000 đồng/chục) Riêng 2007, bán được trên 100.000 trái bưởi và 25.000 lít rượu bưởi Toàn huyện hiện có gần 2.000 hộ trồng bưởi với tổng diện tích khoảng 700 ha, tập trung chủ yếu tại hai xã Tân Bình, Bình Lợi(Hoàng Văn Việt, 2014)[8] Hiện nay mặt hàng bưởi
Da Xanh là đặc sản của tỉnh Bến Tre, đã được xuất khẩu sang 50 thị trường khác nhau trên thế giới.
Trồng bưởi Diễn mang lại giá trị kinh tế cao với hiệu quả đầu tư vượt trội, được tính là gấp 4-5 lần so với trồng lúa Nhờ năng suất ổn định và thị trường tiêu thụ quả bưởi rộng mở, giá trị thu nhập trên 1 sào bưởi ngày càng được ghi nhận là cao, giúp người nông dân có nguồn thu nhập ổn định và bền vững.
Với diện tích khoảng 360 m², thu nhập từ trồng bưởi có thể vượt trên 10 triệu đồng Đối với bưởi Đoan Hùng, các hộ trồng khoảng 30 cây bưởi mỗi năm thường thu được 15-20 triệu đồng Trong khi đó, với giống bưởi Năm Roi và Da Xanh, thu nhập có thể lên tới 120-150 triệu đồng trên mỗi ha đất trồng.
Trong những năm gần đây, giá trị xuất khẩu cây có múi của Việt Nam đã tăng lên đáng kể; năm 2011 đạt 1.156.000 USD và đến năm 2012 lên 2.702.000 USD Mức tăng mạnh nhất tập trung ở mặt hàng quả bưởi, chiếm gần 50% giá trị xuất khẩu quả của cả nước và đạt 1.291.000 USD năm 2012 Những con số này cho thấy không chỉ thị trường thế giới có nhu cầu với quả bưởi Việt Nam, mà ngành sản xuất bưởi cũng đã mở rộng về diện tích, năng suất và sản lượng trong những năm vừa qua (Nguyễn Hữu Thọ).
Những thuận lợi và khó khăn trong sản xuất và tiêu thụ bưởi tại Việt
Trồng cây ăn quả có lịch sử phát triển lâu đời, phản ánh sự khéo léo và kiên nhẫn của người nông dân qua nhiều thế hệ Người nông dân cần cù, thông minh đã tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý giá từ quá trình sản xuất thực tế và từ các vùng chuyên canh khác nhau Những bài học từ thực tế canh tác và từ các vùng chuyên canh góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và tính ổn định của cây ăn quả trong nông nghiệp ngày nay.
-Kế thừa và tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật trong trong nghề trồng cây ăn quả ở các lĩnh vực: Chọn tạo giống, sử dụng phân bón, chất điều hoà sinh trưởng, áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác và bảo vệ thực vật,…
Khí hậu bất lợi, đặc biệt là nóng ẩm cao, tạo điều kiện cho sự phát triển của nhiều loại sâu bệnh hại và làm tăng áp lực lên cây trồng Những tác động này gây hại đến quá trình sinh trưởng và phát triển, đồng thời làm giảm năng suất và chất lượng của các loại quả.
Địa hình nước ta phức tạp với độ dốc cao: đất vùng cao chiếm 38% quỹ đất nông nghiệp toàn quốc và 58,2% diện tích đổi núi có độ dốc > 20° Lượng mưa lớn gây xói mòn và thoái hoá đất, dẫn đến tuổi thọ của cây ăn quả thấp và nhiệm kỳ kinh tế ngắn.
Sản xuất bưởi hiện nay vẫn mang tính tự phát, chưa có quy hoạch và kế hoạch phát triển cụ thể Chưa tiến hành điều tra khảo sát toàn diện trên phạm vi cả nước và từng vùng sinh thái để định hình và phát triển các giống bưởi phù hợp với đặc thù sinh thái của mỗi vùng Việc này làm lỡ cơ hội hình thành vùng sản xuất chuyên canh mang tính hàng hóa, nâng cao năng suất và giá trị kinh tế cho ngành bưởi nước ta.
Hiện nay phần lớn giống bưởi ở nước ta là giống địa phương đã thoái hóa, dẫn đến năng suất thấp và chất lượng kém Quy trình canh tác chưa hợp lý khiến sâu bệnh xuất hiện nhiều và chi phí sản xuất tăng cao Chính điều này khiến sản phẩm bưởi chưa tạo được khối lượng hàng hóa lớn phục vụ chế biến công nghiệp và xuất khẩu, gây bỏ ngỏ tiềm năng kinh tế của ngành bưởi.
- Thực trạng sản xuất còn nhỏ lẻ, phân tán, chất lượng bưởi không đồng đều, thiếu kiến thức thị trường và khó khăn trong việc tiếp cận những thông tin thị trường cũng như các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ sau thu hoạch yếu kém
Việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật và chuyển giao công nghệ trong trồng trọt cho sản xuất vẫn chưa đạt hiệu quả cao, khiến năng suất và tiềm năng phát triển chưa tối ưu Hoạt động khuyến nông còn yếu, hệ thống quản lý và cung cấp giống cho nhân dân chưa hoàn chỉnh và thiếu đồng bộ, đồng thời chưa được quan tâm đầy đủ để đáp ứng nhu cầu sản xuất.
Ý thức chấp hành các quy định về giống và bảo vệ thực vật của người dân còn hạn chế, dẫn đến sử dụng giống kém chất lượng và dễ bị sâu bệnh trong sản xuất, khiến năng suất và chất lượng quả giảm sút.
Trong những năm gần đây, diện tích cây có múi được mở rộng nhanh chóng, nhưng sản xuất lại diễn ra ồ ạt và thiếu sự quy hoạch hợp lý Điều này gây khó khăn cho việc tiêu thụ trong tương lai và làm tăng nguy cơ lây lan dịch bệnh, nổi bật là bệnh vàng lá greening (HLB) ở cây có múi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất và chất lượng sản phẩm.
Tình hình và k ế t qu ả ứ ng d ụ ng k ỹ thu ậ t ti ế n b ộ trong s ả n xu ấ t kinh doanh bưở i Qu ế Dương tạ i Vi ệ t Nam
Giống bưởi Quế Dương từ xưa vốn được ưa chuộng nhờ quả ngọt, to, múi dày và mọng nước Hiện nay, giống bưởi quý này được người dân xã Cát Quế, huyện Hoài Đức, Hà Nội mở rộng quy mô và đẩy mạnh phát triển theo hướng hàng hóa Năm 2014, cây bưởi Quế Dương được công nhận là nhãn hiệu tập thể, mở ra cơ hội lớn để địa phương phát huy giá trị kinh tế của giống bưởi này và nâng cao thương hiệu bưởi Quế Dương trên thị trường.
Cây bưởi Quế Dương mang lại giá trị kinh tế không nhỏ cho người trồng nhờ khả năng cho thu nhập ổn định và tiềm năng mở rộng thị trường Đối với các cây trồng bằng cành chiết, sau khoảng năm thứ 6–7 sẽ cho năng suất cao, giúp nông dân tối ưu hóa hiệu quả sản xuất và tăng quy mô vườn trồng.
6 kg quả/m² đất phủ tán Ước tính, mỗi sào trồng giống bưởi này có thể cho năng suất từ 1,5 - 2 tấn quả/năm, giá bán trung bình từ 8.000 - 10.000 đồng/kg quả (tương đương) 15 - 20 triệu đồng (https://nongnghiep.vn)[15]
Qua nhiều năm biến đổi khí hậu và thiếu đầu tư chăm sóc, chất lượng quả bưởi đường quý Quế Dương ngày càng giảm Để ứng phó với sự hao hụt này và nguy cơ mất giống quý, năm 1998 tiến sĩ nông nghiệp Nguyễn Khắc Quỳnh cùng cộng sự đã xây dựng dự án bảo tồn giống bưởi đường quý Quế Dương Năm 2013, bưởi đường Quế Dương được Trung tâm Phát triển Cây trồng (Sở NN&PTNT) nghiên cứu và từ đó triển khai tập huấn kỹ thuật sản xuất cho nông dân theo mô hình VietGAP, nhằm nâng cao an toàn và chất lượng sản phẩm Với ưu thế chịu hạn, chịu ngập úng tốt và khả năng chống sâu bệnh cao, cùng việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, vườn bưởi của các hộ ở xã Cát Quế đã cho năng suất cao và nâng thu nhập cho gia đình Anh Nguyễn Duy Hà (Đội 7, thôn Thượng Tháp) cho biết giống bưởi Quế Dương vốn tốt nay được chăm sóc và thâm canh, hệ thống tưới tiêu hợp lý, bón phân đúng thời điểm, sử dụng túi bao quả để ngăn ruồi vàng nên chất lượng quả ngày càng tăng, trung bình mỗi quả nặng 1,2–1,8 kg, múi dày, vị ngọt vừa và có thể ăn ngay mà không đắng như bưởi Diễn Bưởi Quế Dương nay đã đăng ký thương hiệu và trở thành một đặc sản quý, sánh với các giống nổi tiếng như bưởi Diễn, bưởi Da xanh, bưởi Đoan Hùng, sau khi áp dụng mô hình VietGAP của Trung tâm Phát triển Cây trồng.
Ở Hà Nội, chất lượng sản phẩm được kiểm duyệt nghiêm ngặt và đảm bảo an toàn thực phẩm, nhờ đó bưởi Quế Dương được đưa vào hệ thống siêu thị và nhanh chóng trở thành mặt hàng được người tiêu dùng ưa chuộng Quy trình kiểm định chất lượng cũng tăng niềm tin của khách hàng đối với nông sản Việt, mở rộng cơ hội tiếp cận và tiêu thụ cho bưởi Quế Dương và nâng cao vị thế của thương hiệu trên thị trường thành phố.
Việc quảng bá và tiêu thụ sản phẩm ngày càng mở rộng cả trong nước lẫn nước ngoài, đặc biệt với Bưởi đường Quế Dương được đẩy mạnh tham gia các thị trường quốc tế Bưởi Quế Dương hai lần tham dự Hội chợ các mặt hàng nông sản quý của 10 nước châu Á tổ chức tại Trung Quốc vào năm 2013 và 2014 đã tăng cường vị thế của thương hiệu Thương hiệu Bưởi đường Quế Dương được bạn bè quốc tế ghi nhận và coi là một trong những giống bưởi ngon nhất Đông Nam Á Đây là bước đột phá trong chiến lược mở rộng thị trường tiêu thụ, là động lực để người dân vùng đất Cát Quế tiếp tục phát triển loại quả có nguồn gen quý từ vùng sông Đáy.
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN
Địa điể m, th ời gian nơi thự c t ậ p
Địa điểm : Trang trại Bùi Huy Hạnh, xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương
N ộ i dung th ự c hi ệ n
- Đánh giá điều kiện sản xuất, kinh doanh của trang trại Bùi Huy Hạnh
- Đánh giá hiện trạng sản xuất và kinh doanh bưởi và bưởi Quế Dương tại trang trại
- Tình hình thực hiện các biện pháp kỹ thuật sản xuất bưởi Quế Dương và một số công việc khác trong thời gian thực tập tại trang trại
- Những kiến thức và kỹnăng nghề nghiệp đã tiếp thu được và bài học kinh nghiệm trong quá trình thực tập tại trang trại Bùi Huy Hạnh.
Phương pháp thự c hi ệ n
Đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA):
* Thu thập số liệu thứ cấp
Thu thập và phân tích số liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội của xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương nhằm đánh giá tiềm năng và nguồn lực cho phát triển nông nghiệp và trồng bưởi Cân nhắc hiện trạng trồng trọt và quản lý trồng bưởi của xã để nắm rõ các thách thức và cơ hội, từ đó định hình các giải pháp quản lý và phát triển phù hợp Nguồn dữ liệu có sẵn được lưu trữ tại các bộ phận chức năng của chính quyền như UBND xã, HTX sản xuất nông nghiệp, thư viện, sách báo và trên internet, tạo nền tảng dữ liệu tin cậy cho quá trình nghiên cứu và ra quyết định.
* Phỏng vấn trực tiếp công nhân tại trang trại trong quá trình thực tập
Quan sát trực tiếp trên đồng ruộng là phương pháp thiết yếu để nắm bắt thực tế mô hình trồng bưởi tại trang trại và môi trường xung quanh Khi tiến hành quan sát tại hiện trường, người nghiên cứu sẽ theo dõi hệ thống trồng, ghi nhận điều kiện đất đai và khí hậu, chụp ảnh và thu thập thông tin về các hình thức áp dụng khoa học kỹ thuật trong sản xuất bưởi ở trang trại và địa bàn nghiên cứu Những dữ liệu thu được từ thực địa giúp đánh giá hiệu quả của các công nghệ nông nghiệp được áp dụng và từ đó đề xuất giải pháp cải tiến cho mô hình trồng bưởi tại khu vực nghiên cứu.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Điều kiện sản xuất kinh doanh của trang trại Bùi Huy Hạnh
Điều kiện tự nhiên
Huyện Tứ Kỳ nằm ở giữa vùng hạ lưu của sông Thái Bình, phía Đông Bắc giáp huyện Thanh Trà, phía Tây Bắc giáp thành phố Hải Dương, phía Tây giáp huyện Gia Lộc, phía Tây giáp huyện Ninh Giang đều thuộc tỉnh Hải Dương Phía Đông Nam giáp huyện Vĩnh Bảo, phía Đông giáp huyện Tiên Lãng
Xã Tái Sơn có diện tích 3,55 km², dân số năm 1999 là 3298 người, mật độ dân số đạt 929 người/km²
Trang trại nằm tại xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương với tổng diện tích trang trại là 3 ha.
Nằm hoàn toàn ở giữa vùng hạ lưu của hệ thống sông Thái Bình, đất đai của huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương được hình thành nhờ sự bồi đắp của hệ thống sông này Địa hình của xã Tái Sơn huyện Tứ Kỳ tương đối bằng phẳng nhưng bị chia cắt bởi các dòng suối nhỏtạo nên những cánh đồng khác nhau
+) Điều kiện khí hậu thủy văn
Trang trại tại xã Tái Sơn, huyện Tứ Kỳ nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa hè kéo dài từ tháng 4 đến tháng 8 nóng ẩm, mưa nhiều và nhiệt độ trung bình khoảng 25°C, có thể lên tới 37–38°C vào buổi trưa; độ ẩm từ 75–82%, trời nắng gắt và thường xuyên có mưa giông kèm gió lốc Mùa đông kéo dài từ cuối tháng 10 đến tháng 2 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ thấp, độ ẩm không khí thấp và lượng mưa không đáng kể.
Khí hậu mùa xuân ấm áp, mưa phùn kéo dài, trong khi mùa thu ôn hòa, mát mẻ, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và sinh hoạt của người dân Điều kiện khí hậu của xã rất thuận lợi cho phát triển cây trồng và vật nuôi, nhưng đồng thời cũng là môi trường thuận lợi cho sâu bệnh phát sinh và phá hoại, gây những khó khăn đáng kể cho sản xuất nông nghiệp và đời sống của cộng đồng.
Có nhiều suối nhỏ nhưng phân bố không đồng đều, gây khó khăn cho công tác thủy lợi Để đáp ứng nhu cầu nước cho sinh hoạt và phục vụ sản xuất nông nghiệp của người dân, các cơ quan nhà nước đã xây dựng hệ thống kênh và mương dẫn nước, đảm bảo nguồn nước cho mùa khô, từ đó nâng cao năng suất cây trồng và cải thiện đời sống của cộng đồng.
Điều kiện kinh tế xã hội 21 4.2 Hiện trạng sản xuất, kinh doanh bưởi và bưởi Quế Dương tại trang trại 25
Xã Tái Sơn có diện tích tự nhiên 3,55 km², dân số 3298 người, mật độ dân số 929 người/km², và phần lớn dân cư là hộ nông nghiệp Lực lượng lao động trẻ của xã ở độ tuổi thanh niên khá dồi dào, cùng với sự cần cù lao động và nhạy bén trong kinh doanh và sản xuất nông nghiệp Do có diện tích đất sản xuất nông nghiệp cao (212,451 ha), người dân địa phương ngày càng quan tâm đến việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào trồng trọt để nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm.
Huyện Tứ Kỳ nằm trên tuyến đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, tạo liên kết giao thông thuận lợi cho phát triển kinh tế địa phương Xã Tái Sơn đang mở rộng và nâng cấp mạng lưới giao thông với tuyến đường huyện lộ rải nhựa dài 3,6 km chạy qua trung tâm xã Hiện nay 100% các xã trên huyện có đường ô tô đi đến trung tâm, trong khi hệ thống đường vào các thôn xóm chủ yếu là đường bê tông và chỉ có một phần nhỏ là đường đất Những cải thiện này giúp tăng cường lưu thông, vận chuyển hàng hóa và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của Tứ Kỳ và Xã Tái Sơn, đồng thời nâng cao khả năng kết nối với các khu vực lân cận.
Nhìn chung hệ thống giao thông rất thuận lợi cho viên lưu thông hàng hóa.
+) Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật
Trang trại có tổng diện tích 3 ha, trong đó 1 ha dành cho chăn nuôi và 2 ha cho trồng trọt Khu trồng trọt hiện nay trồng nhiều loại cây ăn quả và rau màu, đặc biệt là bưởi Da Xanh, bưởi Diễn và bưởi Quế Dương, cùng một số loại rau màu khác Gần 0,5 ha được dành để xây dựng khu nhà điều hành, nhà ở công nhân, bếp ăn và các công trình phụ nhằm phục vụ hoạt động sản xuất và quản lý trại.
Trang trại được trang bị hệ thống tưới tiêu tự động khắp khu vườn, kèm kho chứa dụng cụ nông nghiệp với bình phun thuốc, máy bơm, máy phát cỏ và các thiết bị sửa chữa máy móc Quanh khu vườn là hàng rào dây thép gai bảo vệ, đường bê tông liền mạch dẫn tới các lô bưởi giúp chăm sóc và thu hoạch thuận tiện Đặc biệt, trang trại có một nhà lều để cất thuốc bảo vệ thực vật phục vụ cho hoạt động trồng trọt, đảm bảo sự sẵn có và quản lý an toàn các vật tư nông nghiệp.
Hệ thống cơ sở hạ tầng được thiết kế tối ưu để hỗ trợ sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện thuận lợi cho quy trình vận hành và tối ưu chi phí Đặc biệt, hệ thống tưới tiêu chủ động giữ vai trò then chốt trong việc cung cấp nước cho cây trồng và vật nuôi, đảm bảo nguồn nước ổn định và giảm thiểu rủi ro khô hạn Nhờ khả năng kiểm soát nước hiệu quả và dễ dàng vận hành, hệ thống này giúp nâng cao năng suất, tăng hiệu quả sản xuất và tăng cường sức cạnh tranh trên thị trường.
Cơ cấu của trang trại được tổ chức như sau:
01 chủ trại: Ông Bùi Huy Hạnh
01 quản lý trại: Ông Bùi Huy Hanh
Hơn 35 công nhân, trong đó có 6 công nhân làm vườn, 27 công nhân và 2 kỹ sư chăn nuôi
Trang trại phân chia đội ngũ công nhân thành các nhóm chức năng như chăn nuôi, trồng trọt và hậu cần Mỗi khâu trong quy trình sản xuất được giao khoán cho từng công nhân, nhằm nâng cao trách nhiệm cá nhân và thúc đẩy sự phát triển và hiệu quả của trang trại.
+) Cách thức kết nối sản xuất với tiêu thụ
Trong suốt thời gian qua để đem lại nguồn thu nhập lớn, trang trại đã có mối liên kết chặt chẽ trên từsản xuất đến tiêu thụsản phẩm Điển hình như liên hệ với các đại lý tiêu thụ sản phẩm cũng như thương lái để tìm hiểu thị trường, ký kết các hợp đồng tiêu thụ sản phẩm Quảng bá thông tin để thu hút được thị trường ở những nơi khác đến thu mua sản phẩm
Để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và kinh doanh, cần có một chiến lược marketing cụ thể và được triển khai đồng bộ Việc liên kết chặt chẽ với các doanh nghiệp ở các vùng khác giúp mở rộng mạng lưới hợp tác và tối ưu hóa hoạt động sản xuất, kinh doanh Mục tiêu cuối cùng là tiến tới xuất khẩu sản phẩm ra nước ngoài, từ đó mở rộng thị trường và tăng trưởng doanh thu trên quy mô toàn cầu.
+) Tình hình sản xuất ngành Trồng trọt
Trang trại sản xuất đa dạng trái cây, gồm bưởi, táo, ổi, chanh và cam Vinh, với trọng tâm là sản xuất bưởi và các giống nổi bật như bưởi Quế Dương, bưởi Diễn và bưởi Da Xanh Bên cạnh đó, trang trại còn trồng một số rau củ quả khác để phục vụ cho nhu cầu ăn uống của công nhân và đảm bảo nguồn thực phẩm tại chỗ.
Bảng 4.1: Diện tích sản xuất của một số cây trồng chính của trang trại trong 3 năm gần đây ĐVT: ha
Trong lĩnh vực sản xuất cây ăn quả, đặc biệt là bưởi, trang trại được thành lập từ năm 2005 nhưng đến ba năm gần đây mới bắt đầu đầu tư trồng và kinh doanh cây ăn quả nên chưa xác định được năng suất và sản lượng Diện tích trồng cây ăn quả của trang trại thay đổi nhiều do được quy hoạch theo từng khu vực và từng loại cây trồng khác nhau.
+) Tình hình sản xuất ngành Chăn nuôi
Sản xuất của trang trại tập trung chủ yếu vào lĩnh vực chăn nuôi Đặc biệt là chăn nuôi lợn sinh sản do Công ty Cổ phần thức ăn chăn nuôi Việt Nam (một chi nhánh của Tập đoàn CP Thái Lan) cung cấp 2 giống lợn LANDRAT -
Giống lợn Yorkshire và Pietrain–Duroc (PITRAIN–DUROC) được cho là ưu việt hơn lợn nái nội Việt Nam: lợn nái nội đẻ 2 lứa mỗi năm, mỗi lứa khoảng 8 con lợn thịt nhiều mỡ, trong khi lợn nái ngoại đẻ 2–3 lứa mỗi năm, mỗi lứa lên tới 11 con, thịt săn chắc và tỉ lệ nạc rất cao Mô hình chăn nuôi tại trang trại được Tập đoàn CP Thái Lan đánh giá cao Với vốn đầu tư gần 20 tỷ đồng qua nhiều năm hoạt động, Trang trại Bùi Huy Hạnh là một trong những trang trại chăn nuôi tư nhân quy mô lớn nhất tỉnh, và ngành sản xuất chủ đạo tại đây mang lại nguồn thu lớn mỗi năm.
Bảng 4.2: Tình hình sản xuất ngành chăn nuôi tại trang trại Bùi Huy Hạnh ĐVT: con
Loại gia súc/gia cầm 2016 2017 2018
(Nguồn: Chủ trang trại Bùi Huy Hạnh)
Qua bảng số liệu cho ta thấy tình hình sản xuất ngành chăn nuôi tại trang trại tương đối ổn định.
Về sản xuất lợn giống trang trại luôn giao động trên 1000 con, cụ thể năm 2016 số lợn nái tham gia sinh sản của trang trại là 1250 con, năm 2017 là
1316 con, năm 2018 là 1350 con Năm 2017 tăng 66 con so với năm 2016, năm
Trong năm 2018, số lượng lợn nái tại trang trại tăng 34 con so với năm 2017 Với nguồn lợn nái lớn được nuôi để xuất chuồng, mỗi năm trang trại cho ra khoảng 20 lứa lợn con, tổng số lợn con xuất ra thị trường khoảng 28.000 đến 30.000 con/năm, mang lại doanh thu trên 2 tỷ đồng.
Trang trại nuôi gà và ngan với quy mô ổn định mỗi năm, duy trì 1000 con gà và 100 con ngan Trang trại chủ yếu cung cấp thức ăn và phục vụ cho công nhân làm việc tại trang trại, đảm bảo dinh dưỡng và điều kiện ăn uống cho người lao động Số lượng gà và ngan được nuôi ở mức cố định qua các năm, không thay đổi, tạo nền tảng cho hoạt động sản xuất liên tục và bền vững.
Chăn nuôi cá tại trang trại hiện có 2 ao nuôi với tổng diện tích 0,5 ha, nuôi các loại cá như trắm đen, trắm cỏ và cá chép Mục tiêu của hoạt động là cung cấp sản phẩm tại chỗ cho công nhân và thị trường trong xã, góp phần tăng thu nhập và thúc đẩy chuỗi cung ứng nông nghiệp địa phương.
Hiện trạng sản xuất, kinh doanh bưởi tại trang trại
Cơ cấu giống bưởi tại trang trại được thể hiện trong bảng 4.3
Bảng 4.3: Cơ cấu các giống bưởi tại trang trại năm 2018
Giống Diện tích (ha) Cơ cấu ( %)
Qua bảng số liệu ta thấy trang trại bao gồm 3 giống bưởi chính bao gồm bưởi QuếDương, bưởi Diễn, bưởi Da Xanh, trong đó diện tích trồng bưởi Diễn là lớn nhất 0,6 ha chiếm 37,5% cao nhất trong cơ cấu các giống bưởi hiện đang được sản xuất tại trang trại Hai giống bưởi còn lại là bưởi Da Xanh và bưởi Quế Dương có diện tích trồng bằng nhau là 0,5 ha chiếm 31,25% trong cơ cấu giống bưởi tại trang trại
Trang trại được thành lập từ năm 2005, ban đầu tập trung vào chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi lợn Về lĩnh vực sản xuất cây ăn quả, trang trại mới bắt đầu triển khai trồng các giống bưởi như bưởi Quế Dương, bưởi Diễn và Da Xanh Đây là giai đoạn đầu nên chỉ có một số cây cho quả và hiện tại sản phẩm chưa đủ để cung cấp cho toàn bộ công nhân của trang trại.
Sau khoảng ba năm trồng, cây bưởi của trang trại đã đạt chiều cao từ 2 đến 2,5 mét nhờ áp dụng các kỹ thuật chăm sóc phù hợp, mật độ trồng hợp lý và nguồn nước tưới tiêu dồi dào Với tình hình hiện tại, trang trại dự kiến có thể đưa sản phẩm ra thị trường trong vòng 1 đến 2 năm tới Tuy nhiên, do địa hình bằng phẳng và hệ thống thoát nước kém nên nhiều khu vực trong vườn bị ngập úng, gây phát sinh bệnh nấm cho cây và một số cây bị thối rễ, làm giảm khả năng sinh trưởng.
Hiện trạng sản xuất, kinh doanh bưởi Quế Dương tại trang trại
Diễn biến diện tích bưởi QuếDương.
Bảng 4.4: Diễn biến diện tích bưởi QuếDương tại trang trại
Qua bảng số liệu ta thấy rằng diện tích bưởi Quế Dương và tổng chi cho sản xuất bưởi từ năm 2016 - 2018 ổn định và không thay đổi Do mới được trồng nên cây bưởi của trang trại vẫn chưa cho thu hoạch nên chưa tính được năng suất và sản lượng Dựa theo tình hình diện tích và tổng chi tiêu cho bưởi Quế Dương ta thấy trang trại có sự đầu tư rất mạnh dạn trong quá trình sản xuất bưởi của trang trại.
Thuận lợi và khó khăn trong sản xuất bưởi Quế Dương tại trang trại
- Đất đai màu mỡ, nguồn nước cho tưới tiêu dồi dào và phong phúthuận lợi cho sản xuất
- Trang trại được xây dựng ở vị trí thuận lợi, xa khu dân cư, thuận tiện đường giao thông.Được đầu tư về cơ sở vật chất kỹ thuật như máy cắt cỏ, bình phun thuốc,… Hệ thống đường làm đồng trong vườn sản xuất được bê tông hóa, thuận lợi cho quá trình vận chuyển và thu hoạch.
- Cây giống phù hợp với điều kiện tự nhiên tại địa bàn
- Chủ trang trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, công nhân nhiệt tình và có tinh thần trách nhiệm cao trong sản xuất.
Điều kiện khí hậu thuận lợi tạo điều kiện cho sự phát sinh và phát triển của các loài sâu bệnh hại trên cây bưởi; sự phức tạp của dịch hại làm tăng chi phí phòng trừ sâu bệnh, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, tốc độ phát triển và chất lượng quả bưởi.
Quy trình sản xuất vẫn mang tính nhỏ lẻ và thủ công, phụ thuộc nhiều vào kinh nghiệm cá nhân và sự học hỏi lẫn nhau thay vì các chuẩn quy trình Đầu tư dàn trải và thiếu định hướng khiến chi phí đầu tư cao và hiệu quả hoạt động không được tối ưu Cần có một định hướng sản xuất đồng bộ và chiến lược đầu tư rõ ràng để giảm chi phí, tăng năng suất và cải thiện khả năng cạnh tranh.
- Trang thiết bị vật tư còn thiếu, cũ, có phần bị hư hỏng, ảnh hưởng đến quá trình sản xuất và chăm sóc bưởi
- Việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật chưa hiệu quả, chăm sóc không đúng kỹ thuật dẫn đến nhiều sâu bệnh ở cây.
Tình hình thực hiện các biện pháp kỹ thuật sản xuất bưởi Quế Dương và một số công việc khác trong thời gian thực tập tại trang trại
Tình hình th ự c hi ệ n các bi ệ n pháp k ỹ thu ậ t trong s ả n xu ất bưở i Qu ế Dương
Giống bưởi Quế Dương hiện nay được trồng tại trang trại theo phương pháp cây chiết, đảm bảo cây khỏe mạnh và cho năng suất ổn định Cây giống được chọn có đường kính thân từ 0,5–0,7 cm, đầy đủ chồi ngọn và bộ rễ dài, đảm bảo khả năng bén rễ và phát triển nhanh sau khi trồng Vì là cây chiết nên sau khi trồng, cây phát triển rất nhanh, tiết kiệm được chi phí phân bón và thuốc BVTV Hiện nay một số cây đã cho quả và dự kiến sau khoảng 5 năm sẽ vào giai đoạn kinh doanh chính thức.
Nhìn chung, đa số cây bưởi Quế Dương sinh trưởng tốt nhưng vẫn còn một số cây cho quả không ngon, cần được thay thế bằng cây có giống và chất lượng quả cao Nhu cầu thị trường về bưởi ngày càng tăng khiến trang trại có xu hướng đầu tư vào kinh doanh giống, mở rộng nguồn cung và nâng cao chất lượng cây giống Trong thời gian thực tập tốt nghiệp, chúng em đã phối hợp với trang trại để ghép bưởi nhằm thay thế những cây không đúng giống hoặc ghép trên gốc bưởi dại, phục vụ công tác nhân giống bưởi và nâng cao hiệu quả sản xuất.
- Thời gian ghép: Tháng 9 - 10, bắt đầu ghép vào lúc trời sáng hoặc chiều mát, tránh ngày mưa và nắng gắt
- Phương pháp ghép: Chúng em sử dụng 2 phương pháp ghép (ghép mắt và ghép nêm)
+ Ghép mắt được sử dụng ghép trên gốc bưởi dại với kỹ thuật như sau:
Gốc ghép là cây bưởi dại, chiều cao cây khoảng 25 - 30 cm, đường kính gốc từ 0,8 - 1 cm
Chọn cành ghép: cành bánh tẻ, giữa tán, có nhiều mầm ngủ, đường kính cành 0,8 - 1,2cm
Vệ sinh gốc ghép trước một tuần, cắt bỏ bớt cành phụ, gai ở đoạn thân cách mặt đất 15 - 20cm
Để ghép theo phương pháp cửa sổ, dùng dao ghép mở một “cửa sổ” trên thân gốc ghép với kích thước miệng ghép 1 x 2 cm, bóc một miếng vỏ trên cành ghép đã mở, đặt mắt ghép vào cửa sổ đã mở của gốc ghép và đóng cửa sổ lại, sau đó quấn kín bằng dây nilon mỏng Sau 15–20 ngày, tháo dây buộc và cắt bỏ miếng vỏ đậy ngoài của gốc ghép; nếu nhựa hàn kín xuất hiện chứng tỏ ghép đã thành công, tiến hành cắt ngọn gốc ghép để tập trung dinh dưỡng nuôi mầm ghép.
+ Ghép nêm: Được sử dụng ghép thay tán những cây bưởi không giống
Vệ sinh cành ghép trước một tuần, cắt bỏ bớt cành phụ, gai ở đoạn thân cách mặt đất 15 - 20cm
Cách ghép cây chuẩn bắt đầu bằng việc dùng kéo cắt cành và cắt ngang gốc ghép cách mặt đất 20–25 cm Chẻ dọc gốc ghép theo chiều từ trên xuống dưới với độ sâu khoảng 2–3 cm, vết chẻ ở giữa gốc hoặc ở một phần vỏ gốc ghép Cắt một đoạn cành ghép có kích thước phù hợp để ghép vào vết chẻ, đảm bảo tiếp xúc tối đa giữa lớp vỏ hai phần để cho quá trình ghép thuận lợi.
Để ghép cây, dùng dao vát 2 bên gốc ghép với 3 mắt ngủ và vết cắt phải phẳng để cành ghép có thể tiếp xúc tốt với gốc ghép; đưa cành ghép vào phần gốc đã chẻ sao cho phần vỏ của gốc ghép được tiếp xúc khít với phần vỏ của cành ghép Dùng dây nilon buộc thật chặt phần ghép giữa gốc ghép và cành ghép, sau đó cuộn lên cả phần cành ghép để giảm sự thoát hơi nước Sau 2–3 tuần, mầm ghép sẽ mọc từ cành ghép và đâm thủng lớp nilong ra ngoài.
Bảng 4.5: Kết quả thực hiện ghép bưởi Quế Dương tại trang trại Bùi Huy
Hình 4.1: Hình ả nh cây sau khi ghép thành công t ạ i trang tr ạ i
Khó khăn: Trong quá trình ghép cây, đặc biệt là ghép mắt do gặp điều kiện thời tiết không thuận lợi mưa, bão nên một số mắt ghép bị thối, hỏng nên tỷ lệ sống của mắt ghép chưa cao Trình độ kỹ thuật ghép chưa cao.
Giải pháp: Để nâng cao tỷ lệ sống của mắt ghép/cành ghép chúng em cần học tập và rèn luyện thêm về kỹ thuật ghép nhiều hơn nữa đểnâng cao trình độ tay nghề cũng như tìm hiểu kỹ tình hình thực tế trước khi ghép đểđạt hiệu quả nhân giống tốt nhất
Trang trại chăn nuôi có nguồn chất thải từ chăn nuôi được sử dụng làm phân bón trong sản xuất nông nghiệp Phân chuồng tươi được bón trực tiếp cho cây trồng, cung cấp dinh dưỡng cho đất và tăng năng suất.
- Bón phân hữu cơ: Phân chuồng tươi được đóng bao sau đó được vận chuyển và để tủdưới gốc bưởi
- Bón phân vô cơ: khi đất ẩm chỉ cần rải phân lên mặt đất theo hình chiếu của tán cách xa gốc 20 - 30cm, sau đó tưới nước để hoà tan phân Khi trời khô hạn cần hoà tan phân trong nước đểtưới hoặc rải phân theo hình chiếu của tán, xới nhẹ đất và tưới nước
+ Cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, để cây phát triển tốt, tránh tình trạng thiếu dinh dưỡng cây sẽ bị rụng trái
+ Tận dụng được chất thải từchăn nuôi phục vụ cho sản xuất
+ Tiết kiệm được chi phí về phân bón
- Khó khăn trong thực hiện:
Việc bón phân chuồng tươi chưa ủ hoai mục cho cây trồng mang lại nhiều tác hại Phân chuồng tươi chứa các dưỡng chất khó tiêu nên cây khó hấp thu, làm giảm hiệu quả cung cấp dinh dưỡng cho cây Trong quá trình phân hủy, phân tươi sẽ sinh ra một số chất có thể gây độc cho rễ và thậm chí làm chết cây Bên cạnh đó, phân còn chứa nhiều nấm bệnh hại dễ gây bệnh cho cây, gây ô nhiễm môi trường và làm chua đất Vì vậy, nên ưu tiên sử dụng phân chuồng đã ủ hoai mục hoặc các biện pháp xử lý phù hợp để đảm bảo an toàn cho cây trồng và môi trường.
+ Hệ thống kênh mương chằng chịt gây khó khăn trong việc vận chuyển phân bón cung cấp cho cây trồng Tốn nhiều thời gian và công sức
Diện tích bưởi Quế Dương của trang trại đang trong giai đoạn năm thứ
3, do được chú ý chăm sóc, cắt tỉa thường xuyên nên tán cây bưởi tương đối thông thoáng
Thực hiện cắt tỉa, tạo tán vào đầu tháng 7 và tháng 11
Kỹ thuật cắt tỉa, tạo tán được áp dụng trong giai đoạn này chủ yếu là tạo cành cấp 3 do cành cấp 1 và cành cấp 2 đã thành hình và tỉa bỏ các cành yếu, cành la, cành vượt, cành bị sâu bệnh, cành mọc lộn xộn trong tán, cành ngắn mùa xuân
Tạo cành cấp 3: Bấm ngọn cành cấp 2 (chiều dài cành cấp 2 là 20-25cm) để tạo cành cấp 3 Cành cấp 3 là những cành tạo quả và mang quảcho năm sau, các cành này phải được khống chế để chúng không giao nhau và sắp xếp điều chỉnh để chúng phân bố đều theo các hướng giúp cây quang hợp tốt, bộ tán khỏe cho năng suất cao
Cắt tỉa, tạo tán giúp cho cho cây có một bộ tán khỏe, thông thoáng tránh được sự phát sinh phá hoại của các loài sâu bệnh hại và tạo điều kiện để quang hợp tốt là tiền đề cho năng suất cao khi cây bước vào giai đoạn kinh doanh
Kỹ thuật cắt tỉa và tạo tán đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao; để hình thành tán cây đẹp và khỏe mạnh, người thực hiện phải có kiến thức và sự hiểu biết nhất định về kỹ thuật cắt tỉa Hiệu quả của hành trình chăm sóc cây phụ thuộc vào việc nắm vững nguyên lý cắt tỉa, lựa chọn đúng nhánh và thời điểm cắt phù hợp với từng loại cây Đầu tư vào đào tạo và rèn luyện kỹ năng cắt tỉa sẽ nâng cao chất lượng chăm sóc, mang lại kết quả thẩm mỹ và sức khỏe cây lâu dài cho dự án làm vườn hoặc chăm sóc cây cảnh.
Hệ thống kênh mương dùng để tưới tiêu của trang trại được quy hoạch xen kẽ giữa các hàng cây, cùng với hệ thống tưới tựđộng luôn đảm bảo lượng nước tưới cho cây trồng ngay cả trong điều kiện thời tiết khô hạn Tuy nhiên trong thời gian thực tập có lượng mưa tương đối cao nên chúng em thường xuyên tiêu nước cho cây, tránh ngập úng
* Làm cỏ, xới xáo và vệsinh vườn cây
Tình hình thực hiện một số công việc trong thời gian tập tại trang trại Bùi
Nhân giống mít nhằm đa dạng hóa nguồn cung cấp cây trồng tại chỗ cho công nhân và hướng tới sản phẩm hàng hóa được cung cấp ra thị trường Trang trại đang đầu tư mở rộng quy mô bằng cách trồng mít xen với ổi hoặc cam để tối ưu hóa hiệu quả canh tác và nâng cao giá trị thu hoạch Để có giống mít chất lượng, chúng tôi hỗ trợ trang trại nhân giống bằng phương pháp ghép, cho cây con khỏe mạnh, quả đồng đều và năng suất ổn định.
Mít là đối tượng khó nhân giống do đặc tính của cây có nhiều nhựa mủ, khiến nhiều công nhân ở trang trại và cả sinh viên ở các khóa trước gặp thất bại khi thực hiện Để nâng cao tỷ lệ thành công trong nhân giống mít, cần hiểu rõ tình hình thực tế, học hỏi qua tài liệu chuyên môn và thầy/cô giảng viên khoa Nông học, từ đó lựa chọn hai phương pháp ghép phù hợp nhất.
+ Hạn chế của phương pháp: Tỷ lệ nhân giống thành công của phương pháp này thấp hơn so với ghép áp
Để ghép hiệu quả, chọn gốc ghép từ hạt được gieo vào bầu và chăm sóc kỹ lưỡng Cây đạt chiều cao 50–60 cm, vỏ gần gốc chuyển màu nâu và đường kính gốc đạt 1–1,5 cm Sau 6–7 tháng kể từ khi gieo hạt, cây đã đủ điều kiện để ghép.
Chọn cành ghép từ cây mẹ khỏe mạnh, có quả sai, to, tròn đều và ít sâu bệnh là yếu tố then chốt để cây ghép phát triển bền vững và cho năng suất ổn định Việc lựa chọn nguồn cành phù hợp giúp hàng năm đạt sản lượng quả cao, đồng thời duy trì chất lượng quả tốt và ổn định.
Xử lý cành lấy mắt ghép: khoanh cành để giảm bớt nhựa, xửlý trước khi ghép khoảng 1 tuần
Chọn thời vụ và thời điểm ghép: từ tháng 9 - 11, vì thời điểm này cây ít nhựa hơn so với những thời điểm khác
Đầu tiên, cắt bỏ ngọn gốc ghép cách vị trí ghép 1–2 cm Trên gốc ghép rạch hai đường song song, rộng khoảng 1,5–2,5 cm và dài 2–3 cm, cách mặt bầu 15–20 cm Cắt một đường ngang bên dưới nối hai đường song song này với nhau, tạo thành hình chữ U.
Chọn mắt ghép có u chắc khoẻ, kích thước tương ứng với vị trí khoảng cách đã mở trên gốc ghép Cắt lấy 1 mắt ghép, cắt vát 2 đầu mắt ghép, đặt mắt ghép lên cửa sổ của gốc ghép rồi ép chặt lại, dùng dây nilong quấn quanh vị trí mắt ghép và gốc ghép, dùng túi nilong chùm qua phần mắt ghép
Sau 20 ngày, mở ra kiểm tra thấy mắt ghép còn tươi thì tiến hành chăm sóc, nếu bị khô héo thì ghép lại
+ Gốc ghép cũng được làm bầu sẵn
+ Chọn cây mẹ khoẻ mạnh, quả to, sai nhiều trái, cho năng suất sản lượng ổn định, ít sâu bệnh
Cành ghép là đoạn cành ở ngọn cây mọc đứng xiên ra ngoài tán, có cùng kích cỡ và độ tuổi với gốc ghép Việc chọn vị trí treo gốc ghép và sửa sang cành ghép là những bước quan trọng để đảm bảo sự đồng bộ và phát triển của cây ghép.
+ Dùng dao sắc cắt vát qua phần vỏ đến phần gỗ của gốc ghép và cành ghép, áp cành ghép và gốc ghép lại với nhau, dùng nilong buộc chặt lại Sau ghép chú ý tưới nước hằng ngày cho cả gốc ghép và cây mẹ
Sau hai tháng ghép, tháo dây buộc, cắt bỏ phần ngọn của gốc ghép và phần ngọn của gốc mẹ; chăm sóc cây con cho đến khi cây phát triển đầy đủ và khỏe mạnh để có thể đem trồng.
Do mít là cây có nhiều nhựa nên trước khi ghép phải dùng vải khô mềm hoặc bông thấm nhẹ cho sạch nhựa ở mắt ghép và cửa sổ gốc ghép
Hình 4.7: Hình ảnh ghép áp mít đượ c th ự c hi ệ n t ạ i trang tr ạ i
Trong quá trình thực hiện chúng em cũng gặp phải thất bại nhưng sau khi tiến hành ghép nhiều lần chúng em rút ra được bài học kinh nghiệm đó là khi tiến hành ghép thao tác ghép cần phải nhanh chóng và chuẩn xác Khi thực hiện như vậy thì tỷ lệ sống của cây sau khi ghép sẽ cao hơn rất nhiều lần
Kỹ thuật ủ phân với chế phẩm Trichoderma
+ Nguyên liệu: gồm phân chuồng tươi (chủ yếu là phân lợn), Supe Lân 2kg, rơm rạ, trấu, lá cây khô, 3 - 4kg chế phẩm Trichoderma
+ Nơi ủ phải khô ráo, có diện tích rộng, nền đất bằng hoặc xi măng (chuồng nuôi cũ không còn dùng đến) Chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ như xẻng, cào, bình tưới, và vật liệu che phủnhư bạt, bao tải, bao nilong để che nắng, giữ nhiệt khi ủ
+ Kỹ thuật ủ: Trước tiên dùng vỏ trấu, bã thực vật trộn đều với chế phẩm Trichoderma Sau đó, cho một lớp phân chuồng (phân lợn) có ẩm độ 40
Độ ẩm của hỗn hợp đạt khoảng 50%; thử bằng cách bốc lên và nắm chặt xem nước rỉ ra là được Tiếp theo rải một lớp chế phẩm Trichoderma, một lớp Super Lân rồi tiếp tục lặp lại cho đến khi đống phân cao đạt 1–1,5 m Dùng bạt phủ kín để che nắng, che mưa Sau 20 ngày, tiến hành đảo trộn từ trên xuống dưới và từ ngoài vào trong cho đều, tấp thành đống ủ tiếp khoảng 25–40 ngày nữa là có thể sử dụng tốt cho cây trồng.
Bón phân hữu cơ: đào rãnh xung quanh cây theo hình chiếu của tán với bề mặt rãnh rộng 30 - 40 cm, sâu 20 - 25 cm, rải phân, lấp đất và tưới nước giữ ẩm Hoặc có thể đào 3 rãnh theo hình vành khăn xung quanh tán để bón, năm sau bón tiếp phần còn lại
Hình 4.8 : Ủ phân bằng chế phẩm tại trang trại Ủ phân bằng chế phẩm Trichoderma có rất nhiều lợi ích so với ủ phân truyền thống đó là diệt sạch được mầm bệnh có trong phân và thời gian ủ ngắn hơn so với ủ truyền thống (chỉ khoảng 1 tháng) Giúp trang trại tận dụng được nguồn chất thải tại chỗ để làm phân bón cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, tăng hiệu quả sử dụng và tiết kiệm được chi phí mua phân bón.