Tỷ lệ mắc các bệnh sinh sản của đàn lợn nái tại trại .... Kết quả điều trị các bệnh sinh sản của lợn nái tại trại .... Muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản có một vai trò
Trang 1HOÀNG TH Ị NHỊP
Tên chuyên đề:
TH ỰC HIỆN QUY TRÌNH PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH S ẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI TẢU CÔNG TY TNHH MTV CHĂN NUÔI HÒA PHÁT, XÃ LONG SƠN, HUYỆN SƠN ĐỘNG,
T ỈNH BẮC GIANG
H ệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa h ọc: 2015 – 2019
Thái Nguyên - năm 2019
Trang 2HOÀNG TH Ị NHỊP
Tên chuyên đề:
TH ỰC HIỆN QUY TRÌNH PHÒNG VÀ ĐIỀU TRỊ BỆNH CHO LỢN NÁI SINH S ẢN VÀ LỢN CON THEO MẸ TẠI TRẠI TẢU CÔNG TY TNHH MTV CHĂN NUÔI HÒA PHÁT, XÃ LONG SƠN, HUYỆN SƠN ĐỘNG,
T ỈNH BẮC GIANG
H ệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Thú y
L ớp: Thú y- K47- N03 Khoa: Chăn nuôi Thú y Khóa h ọc: 2015 – 2019
Gi ảng viên hướng dẫn: TS Trần Văn Thăng
Thái Nguyên - năm 2019
Trang 3L ỜI CẢM ƠN
Lý thuyết, kiến thức trên sách vở chưa đủ để sinh viên khi tốt nghiệp ra trường có thể đi làm trong các công ty, nhà máy hay các trang trại, mà những
kiến thức đó cần được vận dụng vào chính thực tiễn trong đời sống, sản xuất của
xã hội Xuất phát từ lý do đó mà Ban Giám hiệu nhà trường, cùng các thầy cô trong khoa CNTY đã tạo điều kiện cho sinh viên khoa CNTY nói chung và bản thân em nói riêng được tham gia học tập và rèn luyện kĩ năng tay nghề tại cơ sở
thực tập
Sau 6 tháng được học hỏi và tham gia vào công việc sản xuất tại cơ sở,
em đã hoàn thành xong bài khóa luận tốt nghiệp, kết quả em đạt được là nhờ
sự giúp đỡ, hướng dẫn tận tình của thầy cô Nhân dịp này em xin gửi lời cảm
ơn chân thành tới Lãnh đạo nhà trường, thầy cô trong khoa CNTY và đặc biệt
là thầy giáo hướng dẫn TS Trần Văn Thăng đã tạo điều kiện và tận tình
giúp đỡ em hoàn thành tốt bài khóa luận tốt nghiệp này Em cũng xin được gửi
lời cảm ơn đến anh Nguyễn Văn Hải là trại trưởng cơ sở thực tập, các anh chị kỹ
sư trại và các cô chú công nhân trong trại đã tạo điều kiện và giúp đỡ hướng dẫn trong thời gian em tham gia học hỏi và rèn luyện kĩ năng nghề tại trại
Em xin kính chúc quý thầy cô có thật nhiều sức khỏe, đạt được nhiều thành tích cao trong công tác giảng dạy và nghiên cứu khoa học
Khóa luận tốt nghiệp của em không thể tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong quý thầy cô xem xét, góp ý và bổ sung, để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Sinh viên Hoàng Th ị Nhịp
Trang 4DANH M ỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Kết quả sản xuất kinh doanh của trại trong 3 năm 2017 – 2019 6
Bảng 2.2 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung 9
Bảng 3.1 Lịch phun thuốc sát trùng của trại 28
Bảng 3.2 Lịch tiêm phòng vaccine và thuốc cho đàn lợn tại trại 29
Bảng 4.1 Kết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 42 Bảng 4.2 Kết quả phòng bệnh bằng tiêm vaccine 43
Bảng 4.3 Tỷ lệ mắc các bệnh sinh sản của đàn lợn nái tại trại 44
Bảng 4.4 Tỷ lệ mắc bệnh của đàn lợn con tại trại 45
Bảng 4.5 Kết quả điều trị các bệnh sinh sản của lợn nái tại trại 46
Bảng 4.6 Kết quả điều trị các bệnh ở lợn con tại trại 47
Bảng 4.7 Kết quả thực hiện các công tác khác tại trại 48
Trang 6M ỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 M ục đích của chuyên đề 2
1.2.2 Yêu c ầu của chuyên đề 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Điều kiện tự nhiên của trang trại 3
2.1.2 C ở sở vật chất và hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại 4
2.2 Tổng quan tài liệu về những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước 6
2.2.1 Nh ững bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản 6
2.2.2 Những bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ 19
2.2.3 Tình hình nghiên c ứu trong và ngoài nước 22
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đối tượng thực hiện 26
3.2 Địa điểm và thời gian thực tập 26
3.3 Nội dung tiến hành 26
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 26
3.4.1 Các ch ỉ tiêu theo dõi 26
3.4.2 P hương pháp thực hiện 26
3.4.3 Phương pháp xử lý số liệu 32
Trang 7Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái sinh sản 33
4.1.1 Đối với lợn nái chửa 33
4.1.2 Đối với nái đẻ 34
4.1.3 Chăm sóc và nuôi dưỡng lợn con theo mẹ 38
4.2 Kết quả thực hiện quy trình vệ sinh, phòng bệnh cho đàn lợn tại trại 41
4.2.1 K ết quả phòng bệnh bằng phương pháp vệ sinh, sát trùng tại trại 41
4.2.2 K ết quả phòng bệnh bằng tiêm vaccine 42
4.3 Tình hình mắc bệnh của đàn lợn nái và lợn con tại trại 44
4.3.1 Tỷ lệ mắc các bệnh sinh sản của đàn lợn nái 44
4.3.2 T ỷ lệ mắc một số bệnh ở lợn con 45
4.4 Kết quả điều trị bệnh cho lợn nái và lợn con tại trại 46
4.4.1 K ết quả điều trị các bệnh sinh sản ở lợn nái 46
4.4.2 Kết quả điều trị các bệnh ở lợn con theo mẹ 47
4.5 Kết quả thực hiện các công tác khác tại trại 48
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Đề nghị 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 52
Trang 8sản phẩm ngoài thịt như da, mỡ… cho ngành công nghiệp chế biến
Trong những năm gần đây, nhờ việc áp dụng các thành tựu khoa học –
kỹ thuật vào sản xuất, ngành chăn nuôi lợn ở nước ta đang phát triển ngày càng mạnh mẽ cả về số lượng và chất lượng Phương thức chăn nuôi lợn đã và đang chuyển dịch theo hướng tích cực từ nuôi lợn theo quy mô hộ gia đình,
nhỏ lẻ mang tính tự cung tự cấp sang quy mô trang trại, tập trung Nhờ đó
việc quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng tốt hơn đã tạo ra các sản phẩm đảm bảo
vệ sinh an toàn thực phẩm và có giá trị kinh tế cao hơn Bên cạnh đó, để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của người tiêu dùng về chất lượng thịt, ngoài việc nuôi các giống lợn nội có chất lượng thịt thơm ngon và chịu đựng kham khổ tốt, chúng ta còn nhập nhiều giống lợn ngoại có khả năng sinh trưởng nhanh và tỷ lệ thịt nạc cao để lại tạo với các giống lợn nội và nuôi thuần Do vậy, có rất nhiều trang trại chăn nuôi lợn ngoại với quy mô từ vài trăm đến vài nghìn con lợn nái đã phát triển ở khắp nơi trong cả nước
Muốn chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế cao thì cần phải có con giống tốt
Muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản có một vai trò đặc biệt quan trọng bởi vì ngoài việc chọn được giống lợn có khả năng sinh trưởng nhanh, tỷ lệ
thịt nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp thì việc nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý dịch
bệnh cho lợn nái và lợn con theo mẹ là rất quan trọng Nếu nuôi dưỡng, chăm sóc
lợn nái và lợn con không đúng kỹ thuật thì chất lượng đàn con sẽ kém, do đó ảnh
Trang 9hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn con ở giai đoạn sau và hiệu quả chăn nuôi sẽ thấp
Trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹ sau khi đẻ còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại đặc biệt là những bệnh dịch thường xuyên xảy ra ở lợn nái nuôi con sau khi đẻ và lợn con theo mẹ Khi bệnh dịch xảy
ra đối với lợn mẹ và lợn con trong giai đoạn này đã làm cho chất lượng lợn con cai sữa kém, ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn sau này Vì vậy,
thực hiện quy trình phòng và trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
hiệu quả là cần thiết
Xuất phát từ từ thực tế nêu trên, em tiến hành thực hiện đề tài: “Thực
hi ện quy trình phòng và điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo
m ẹ tại trại Tảu thuộc công ty TNHH MTV Chăn nuôi Hòa Phát, xã Long Sơn, huyện Sơn động, tỉnh Bắc Giang ”
1.2 M ục đích và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 M ục đích của chuyên đề
- Thực hiện quy trình phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
- Đánh giá được tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo
mẹ tại trại Tảu thuộc công ty TNHH MTV Chăn nuôi Hòa Phát, xã Long Sơn, huyện Sơn động, tỉnh Bắc Giang
- Đề xuất được các biện pháp điều trị bệnh hiệu quả cho lợn nái sinh
sản và lợn con theo mẹ
1.2.2 Yêu c ầu của chuyên đề
- Vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn chăn nuôi lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ Đồng thời học tập bổ sung những kiến thức
mới từ thực tiễn sản xuất
- Từ thực tiễn chăn nuôi, đề xuất các biện pháp phòng và điều trị bệnh
có hiệu quả cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại các trang trại
Trang 10Trại chăn nuôi Công ty TNHH MTV Chăn nuôi Hòa Phát Bắc Giang là
trại chăn nuôi lợn tập trung công nghệ an toàn sinh học tại Khu 1 thuộc thôn Điệu và thôn Tảu, xã Long Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang) với tổng
diện tích là 15 ha Khu vực của trại được bao quanh bởi đồi cao, cách khu dân
cư gần nhất khoảng 800 m, cách UBND xã Long Sơn khoảng 3 km về phía Tây Nam Vị trí địa lý của Khu 1 (thôn Điệu và thôn Tảu) như sau:
Phía Đông Nam: Cách đường quốc lộ 279 khoảng 1,5 km
Phía Đông Bắc: Giáp cánh đồng thôn Điệu
Phía Tây Bắc: Giáp rừng trồng sản xuất thôn Điệu
Phía Tây Nam: Giáp rừng trồng sản xuất thôn Tảu
2.1.1.2 Đặc điểm khí hậu
Theo phân vùng của nha khí tượng thuỷ văn thành phố, trại lợn của Công ty TNHH MTV Chăn nuôi Hòa Phát Bắc Giang nằm trong vùng có khí
hậu lục địa vùng núi Mùa xuân và mùa thu là hai mùa chuyển tiếp, khí hậu
ôn hòa; mùa hạ nóng, mưa nhiều; mùa đông lạnh, khô hanh, ít mưa Điển hình
của kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa Do nằm trong khu vực che chắn bởi vòng cung Đông Triều nên ít chịu ảnh hưởng của bão Khí hậu vùng này thích hợp
với nhiều loại cây trồng có giá trị như lúa, rau màu, vải, keo Tuy nhiên, thời tiết khu vực này hay biến động trong năm gây ra những khó khăn đáng kể,
nhất là vào các thời kỳ chuyển tiếp
Trang 112.1.1.3 Điều kiện giao thông
Trại chăn nuôi lợn cách Thị trấn An Châu, huyện Sơn Động khoảng 20
km về phía Nam - Đông Nam Trại nằm gần Quốc lộ 279, tuyến đường liên
tỉnh quan trọng của các tỉnh miền núi phía Bắc, nối Quốc lộ 31 với tỉnh lộ
326, giúp thông thương giữa thị trấn An Châu, huyện Sơn Động và xã Tân Dân, huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh
2.1.2 C ở sở vật chất và hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trại
Trại chăn nuôi được xây dựng tháng 6 năm 2016 và đến nay trại đã
hoạt động sản xuất được 3 năm, hàng năm hoạt động sản xuất của trại đều gia tăng, đời sống của cán bộ công nhân viên được cải thiện Trại chăn nuôi có ban lãnh đạo là những người đam mê, giàu nghị lực và tâm huyết đối với nghề chăn nuôi Đặc biệt trại chăn nuôi đã tuyển dụng và đào tạo được một đội ngũ cán bộ kỹ thuật có chuyên môn, kinh nghiệm, thực tiễn và yêu nghề
H ệ thống chuồng trại
Khu vực sản xuất của trung tâm được đặt trên một khu vực cao, dễ thoát nước và được tách biệt với khu điều hành, khu dân cư xung quanh Xung quanh trại có hàng rào bảo vệ, cổng vào và nơi sản xuất có hố sát trùng
để ngăn ngừa dịch bệnh từ bên ngoài xâm nhập vào
Chuồng nuôi được xây dựng theo hướng Đông Nam đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông và xây dựng theo kiểu mái chuồng xuôi tránh hiện tượng ứ đọng nước Hệ thống chuồng gồm có 3 chuồng đẻ mỗi chuồng có 120 ô chuồng, 4 chuồng cai sữa, mỗi chuồng có 32 ô chuồng, 2 chuồng lợn thịt mỗi chuồng có 32 ô chuồng, 2 chuồng phối, 2 chuồng mang thai và 1 chuồng phát triển hậu bị, mỗi chuồng đều có lối đi ở giữa
Các ô chuồng thường được thiết kế theo kiểu sàn bằng bê tông Các chuồng nuôi đều được lắp đặt điện chiếu sáng, hệ thống dẫn nước tự động,
Trang 12mùa hè có hệ thống làm mát bằng quạt điện và hệ thống dàn mát Mùa đông
có hệ thống bóng đèn hồng ngoại
Tổng diện tích của trang trại là 15 ha, trong đó 5 ha dùng để chăn nuôi, 1,5 ha là ao cá, còn lại là diện tích xây dựng công trình xung quanh trang trại
gồm nhà điều hành và các công trình phụ trợ khác
V ề nhân sự của trại
Trại có 44 cán bộ nhân viên, trong đó lao động gián tiếp có 11 người;
tổng giám đốc công ty 1 người; Kế toán 1 người; làm vườn, nấu ăn,vệ sinh 3
người; Cơ điện 4 người; bảo vệ 2 người; lao động trực tiếp có 33 người; 5 kỹ
sư chăn nuôi; 20 công nhân và 3 sinh viên thực tập
Nhiệm vụ của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến bộ khoa học kĩ thuật Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,46 – 2,47 lứa/năm Số lợn con sơ sinh là 11,25 con/lứa, số con cai sữa là 10,8 con/lứa Trại hoạt động vào mức khá theo đánh giá của Công ty chăn nuôi Hòa Phát Trung bình lợn con theo mẹ được 21 ngày tuổi thì cai sữa và chuyển sang các trại chăn nuôi lợn khác của công ty
Lợn đực giống được nuôi trong trại nhằm mục đích là kích thích động
dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác
từ 2 giống lợn Duroc và Pietrain Lợn nái được phối 3 lần và được luân chuyển giống cũng như con đực
Trang trại chăn nuôi lợn theo quy mô công nghiệp sử dụng thức ăn của
Công ty TNHH thức ăn chăn nuôi Hòa Phát Hưng Yên Khẩu phần ăn cho lợn nái sinh sản được điều chỉnh theo từng giai đoạn hợp lý Để từ đó kiểm soát được thể trạng của lợn nái không quá gầy hay quá béo trong quá trình sinh sản, nhằm nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái Thức ăn cho lợn con tập
Trang 13ăn, lợn cai sữa sử dụng loại thức ăn khác nhau phù hợp sự phát triển của từng giai đoạn
Hiện tại trại có sử dụng các loại thức ăn cho lợn đực, lợn nái và lợn con là:
B06S : Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái mang thai, lợn đực
B07 : Thức ăn hỗn hợp cho lợn nái nuôi con
B01 : Thức ăn hỗn hợp cho lợn con tập ăn
B02S : Thức ăn hỗn hợp cho lợn con sau cai sữa
B05 : Thức ăn hỗn hợp cho lợn hậu bị
Kết quả sản xuất kinh doanh của trại trong 3 năm 2017 – 2019 được trình bày ở bảng 2.1 dưới đây:
B ảng 2.1 Kết quả sản xuất kinh doanh của trại trong 3 năm 2017 – 2019 STT Lo ại lợn Đơn vị Năm
2017
Năm
2018
Năm 2019 (6 tháng đầu năm)
2.2 T ổng quan tài liệu về những kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Nh ững bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản (Nguyễn Văn Thanh, 2003 [14])
a Nguyên nhân
Cơ quan sinh dục ngoài bẩn, do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp Bệnh xảy ra do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng gây xây
Trang 14xát hoặc không sạch đã đưa các vi khuẩn gây nhiễm vào bộ phận sinh dục
Bệnh cũng có thể do can thiệp khi heo đẻ khó và nhiễm trùng từ chuồng trại kém vệ sinh Tỷ lệ mắc bệnh sẽ tăng lên nếu trong khẩu phần thức ăn bị thiếu vitamin A, D, E gây khô niêm mạc, dễ xây xước, nhiễm khuẩn
Ngoài ra còn một số nguyên nhân sau:
Khẩu phần ăn thừa hay thiếu protein trước, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung
Lợn mẹ sử dụng quá nhiều tinh bột dẫn đến quá béo, gây khó đẻ và dẫn đến viêm tử cung
Ngược lại thiếu chất dinh dưỡng lợn mẹ sẽ bị ốm yếu, sức đề kháng
giảm không chống lại mầm bệnh xâm nhập gây viêm tử cung
Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin A gây sưng niêm mạc, sót nhau
+ Chăm sóc quản lý vệ sinh
Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước khi đẻ không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh Do quá trình can thiệp khi lợn
đẻ, thủ thuật đỡ đẻ, thao tác và dụng cụ không đúng kỹ thuật làm tổn thương niêm mạc Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng
đã đưa vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn nái Do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền sang lợn nái
Chăm sóc, quản lý, vệ sinh là khâu rất quan trọng Vệ sinh trang trại,
cơ sở chăn nuôi, vệ sinh cơ thể lợn nái đồng thời quản lý tốt,… sẽ làm
giảm tỷ lệ viêm tử cung ở lợn
Trang 15Thời tiết khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh trong thời gian đẻ dễ làm cho
lợn nái bị viêm tử cung Vì vậy, chúng ta phải tạo tiểu khí hậu phù hợp đối
với lợn nái khi sinh để làm hạn chế viêm tử cung
Lợn nái đẻ những lứa đầu và lợn nái đẻ nhiều lứa thường ít bị viêm tử cung hơn Lợn nái già do sức khỏe kém, hay kế phát một số bệnh, sức rặn đẻ
yếu, thời gian đẻ kéo dài, đẻ khó dễ dẫn đến viêm tử cung
+ Đường xâm nhiễm của mầm bệnh
Mầm bệnh có mặt trong ruột, truyền qua niêm mạc đi vào máu, xâm
nhập vào tử cung, nguyên nhân chính của sự xâm nhập này là do nhu động
của ruột kém
Xâm nhập có thể từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân, nước tiểu
Bệnh nhiễm trùng mãn tính của thận, bàng quang và đường niệu đạo cũng là nguyên nhân gây bệnh
Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của vi sinh vật thường xuyên có mặt trong chuồng lợn Lợi dụng lúc sinh sản, tử cung, âm đạo
tổn thương chứa nhiều sản dịch, vi trùng xâm nhập gây viêm tử cung
+ Viêm nội mạc tử cung: Theo Black (1983) [19] viêm nội mạc tử cung
là viêm lớp niêm mạc tử cung Đây là thể viêm nhẹ nhất trong các thể viêm tử cung Đây cũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái Viêm nội mạc tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viêm tử cung (Phùng Thị Vân, 2004 [17])
+ Viêm cơ tử cung: Đó là quá trình viêm xảy ra ở lớp cơ tử cung, có nghĩa là quá trình viêm đã xuyên qua lớp niêm mạc của tử cung đi vào phá
hủy tầng giữa Đây là thể viêm tương đối nặng
Trang 16+ Viêm tương mạc tử cung: Là quá trình viêm xảy ra ở lớp ngoài cùng,
là thể viêm nặng nhất (Nguyễn Văn Thanh và cs, 2004) [15]
Mức độ viêm tử cung được đánh giá theo tiêu chí ở bảng 2.2 dưới đây:
B ảng 2.2 Một số tiêu chí phân biệt các thể viêm tử cung
Ch ỉ tiêu phân
bi ệt
Th ể viêm Viêm n ội mạc tử
cung (Viêm độ 1)
Viêm cơ tử cung (Viêm độ 2)
Viêm tương
m ạc tử cung (Viêm độ 3)
Dịch
viêm
Màu Trắng, trắng xám Hồng, nâu đỏ Nâu rỉ sắt
Phản ứng đau Đau nhẹ Đau rõ hơn Đau có phản
ứng
Bỏ ăn Bỏ ăn một phần
hoặc hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn Bỏ ăn hoàn toàn
c Chẩn đoán
Dựa vào những triệu chứng lâm sàng để chẩn đoán bệnh, ngoài ra ta
thấy lợn nái có những biểu hiện mất sữa, âm đạo có những dịch tiết không bình thường, âm đạo sẽ thấy những miếng nhau thai sót hoặc thai chết lưu ở
tử cung mùi hôi đặc biệt (Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [9]
Theo Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (2000) [13] khi kiểm tra qua trực tràng có thể cảm nhận thấy một hoặc hai sừng tử cung sưng to, thành
tử cung dày, khi sờ vào phản ứng co lại của sừng tử cung yếu Nếu trong tử cung có tích nước thẩm xuất thì sờ vào thấy có vỗ sóng
Trang 17d Phòng bệnh
Vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ một tuần trước khi đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường hoặc dùng dung dịch Biocid-30 pha với tỷ lệ 1/1000
Khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú, phun sát trùng bằng dung dịch Biocid -30 pha với tỷ lệ 1/1000 lên mình gia súc
Khi đỡ đẻ bằng tay cần có găng tay, tay được sát trùng kỹ bằng rượu,
cồn, bôi trơn vaselin hoặc dầu lạc Sau khi lợn đẻ xong phải bơm rửa bằng nước đun sôi để nguội pha thuốc tím 1/1000 hay nước muối sinh lý 9/1000 hay Biocid - 30 1/2000 Sau đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh penicilin 2 - 3 triệu
IU, tetramycin hay sulfamilamid 2 - 5 g vào tử cung để chống viêm Trước khi cho lợn giao phối cần kiểm tra lợn đực xem có mắc bệnh không, vệ sinh sạch
sẽ bộ phận sinh dục của lợn đực lẫn lợn nái Nếu thụ tinh nhân tạo cần kiểm tra
dụng cụ, vệ sinh sát trùng dụng cụ, kiểm tra phẩm chất tinh dịch,
- Phác đồ 2: Dùng oxytocin 6 ml tiêm dưới da, lugol 200 ml, neomycin
12 mg/kg thể trọng bơm vào tử cung, ampicilline 3-5 g tiêm bắp hay tĩnh
mạch tai ngày 1 lần, liệu trình điều trị 3-5 ngày
Phác đồ 3: Dùng PGF2α (hay các dẫn xuất) tiêm dưới da 2 ml (25 mg) tiêm 1 lần, lugol 200 ml, neomycin 12 mg/kg khối lượng cơ thể, bơm vào tử
Trang 18cung sau đó dùng ampicilline 3-5 g tiêm bắp hay tĩnh mạch tai ngày 1 lần,
liệu trình điều trị 3-5 ngày
Theo Nguyễn Đức Lưu và cs (2000) [10], dùng oxytocin với liều 20-40 UI/con/ngày để tăng co bóp dạ con, tống dịch viêm ra ngoài Sau đó thụt rửa
tử cung bằng han - iodine 5%, tiêm kháng sinh: gentamicin 4% 1 ml/6 kg thể
trọng hoặc lincomycin 10% 1 ml/10 kg thể trọng liên tục trong 3 đến 5 ngày
Khi gia súc sinh đẻ thì thời gian sổ thai kéo dài nhưng thai vẫn không được đẩy ra ngoài Hiện tượng này do nhiều nguyên nhân, điều kiện dẫn đến,
nó được biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau Đẻ khó gây ra nhiều tổn
thất kinh tế trong chăn nuôi Nó không những gây bệnh cho cơ quan sinh dục
dẫn đến hiện tượng vô sinh mà có thể làm cho cả mẹ lẫn con chết Vì vậy,
việc can thiệp các trường hợp đẻ khó là điều vô cùng cần thiết Để quyết định phương pháp can thiệp thích hợp, trước hết cần phải tiến hành chẩn đoán kịp
thời và chính xác
a Nguyên nhân
Lợn nái không được chăm sóc tốt trong suốt quá trình từ hậu bị đến chửa,
đẻ như: Ít vận động, cơ bụng và cơ hoành, cơ liên sườn yếu, xương chậu hẹp
Những trường hợp xương chậu hẹp do bẩm sinh, thai quá to, thời tiết nóng bức, cơ
thể mẹ yếu do ăn uống, chăm sóc nuôi dưỡng kém, lợn chửa hay sốt cao, mắc một
số bệnh truyền nhiễm và đã được điều trị, lợn nái quá già, nội tiết tố mất cân bằng hay nồng độ hormone kích đẻ (oxytocin và prostagladin F2α) quá thấp trong thời gian đẻ, lợn nái bị liệt 1/3 thân sau, nơi đẻ không phù hợp, cách đỡ đẻ không đúng
kỹ thuật (Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [9]
Lợn nái rặn nhiều lần, thời gian lâu mà không đẻ được, cơn co bóp rặn
đẻ thưa dần, lợn nái mệt mỏi, khó chịu, nước ối tiết ra nhiều có lẫn cả máu
Trang 19(màu hồng nhạt), có những trường hợp lợn nái đẻ một con rồi nhưng vẫn khó
đẻ con tiếp sau Khi kiểm tra thấy thai vướng ngay ở khung xương chậu không qua được (Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [9]
Theo dõi chặt chẽ ngày phối giống, ngày đẻ, cơn co thắt, rặn đẻ, nếu
1-2 giờ lợn nái rặn liên tục mà không đẻ được, cơn rặn thưa dần, lợn nái mệt,
uống nước nhiều, nhịp thở, nhịp tim tăng hơn bình thường (Nguyễn Đức Lưu
và Nguyễn Hữu Vũ, 2004) [9]
Theo Nguyễn Huy Hoàng (1996) [7] trước tiên phải rửa bộ phận sinh dục ngoài của lợn nái, lau khô; cắt móng tay, rửa sạch bằng xà phòng hoặc cồn, lau khô, bôi trơn, bôi vào tay thuận từ cùi chỏ trở xuống, chúm các ngón tay lại, ngón út nằm
ở giữa để tránh lọt vào lỗ tiểu gây viêm đường tiểu Khi lợn nái ngưng rặn đẩy tay vào từ từ, khi nào đụng vào lợn con sửa lại cho đúng tư thế Nắm hai răng nanh lợn con kéo ra hoặc nắm hàm dưới má kéo ra theo nhịp rặn của lợn mẹ Trường hợp thò tay vào đụng đuôi lợn con phải cố gắng tìm hai chân sau, kẹp hai chân sau lợn con
giữa các ngón tay của ta rồi kéo ra
Nguyễn Đức Lưu và cs (2004) [11] cho biết: Những trường hợp đã vượt quá thời gian rặn đẻ cho phép, cần phải tiêm oxytocin 20-40-50 IU/nái
Nếu cần có thể tiêm nhắc lại sau 30 phút và tiêm tĩnh mạch là tốt nhất Trong trường hợp không có kết quả cần phải can thiệp bằng tay hoặc phẫu thuật để
lấy thai ra Sau khi can thiệp, phải thụt rửa âm đạo bằng han-Iodine 5% (50
ml pha 2,5 l nước) hay dung dịch Rivanol 0,1% và sau đó đặt viên đặt tử cung han-V.T.C, đặt 2-3 ngày và tiêm một mũi hanoxylin-LA hay hanmolin LA để
chống viêm nhiễm tử cung, âm đạo Có thể tiêm một trong các kháng sinh sau
để chống viêm nhiễm:
Trang 20Ampi-Kaan: 15 mg/kg TT/ngày
Ampicillin: 10 mg/kg TT tiêm bắp ngày 2 lần
Lincomycin: 10%: 1 ml/10 kg TT
Gentamicin: 4%: 1 ml/6-8 kg TT
Tiêm các thuốc bổ, thuốc trợ sức để tăng cường sức đề kháng cho cơ
thể: Vitamin bcomplex, vitamin B1, multivit-forte
Trang 212.2.1.3 Viêm vú
a Nguyên nhân
+ Trần Minh Châu (1996) [2] cho biết, khi lợn nái đẻ nếu nuôi không
đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn
đường ruột xâm nhập gây viêm vú Một trong những nguyên nhân chính gây
ra bệnh viêm vú ở lợn nái là thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm
khẩu phần thức ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày lợn đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu
là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập và gây viêm
+ Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là: Staphylococcus spp và
+ Do kế phát từ một số bệnh: sát nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêm bàng quang Khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh
+ Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn con bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm
+ Do quá trình nuôi dưỡng chăm sóc kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn, sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu
vú, thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm
Bệnh dễ xảy ra ở nái đẻ lứa đầu với các biểu hiện: vú căng cứng, nóng
đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra
có nhiều lợn cợn lẫn máu; sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ
ăn, sốt cao 40 - 41,50C Tùy số lượng vú bị viêm mà lợn nái có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một
Trang 22vài bầu vú bị viêm Tuy vậy, lợn nái cũng lười cho con bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy
c Hậu quả của bệnh viêm vú
+ Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004)[9], bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con
+ Nguyễn Xuân Bình (2005) [1] cũng khẳng định: Mất sữa sau khi đẻ
là do kế phát từ bệnh viêm tử cung và viêm vú Lợn nái bị viêm thường sốt cao liên tục 2 - 3 ngày, nước trong máu và trong mô bào bị giảm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất, nhất là quá trình hấp thu chất dinh dưỡng trong đường tiêu hóa bị giảm dẫn đến mất sữa, khả năng hồi phục chức năng tiết
sữa sẽ bị hạn chế thường xảy ra ở lứa đẻ tiếp theo
Nếu viêm vú nặng dẫn đến huyết nhiễm trùng, huyết nhiễm mủ thì khó
Đây là căn bệnh thường diễn ra ngay sau khi thụ thai hoặc khi đang mang thai Thông thường, sẽ có một số dấu hiệu báo trước bệnh sảy thai ở lợn nái nhưng nếu không chú ý sẽ khó có thể phát hiện được
Trang 23Sảy thai thường xảy ra ở ba giai đoạn:
+ Trong giai đoạn thụ thai đến khi phôi bám chắc được vào thành dạ con + Trong giai đoạn phôi bám vào thành dạ con sau 14 ngày thụ thai đến khi thai được 35 ngày tuổi
+ Giai đoạn trưởng thành của bào thai, sảy thai có thể xảy ra bất kỳ khi nào trong giai đoạn này, sau 14 ngày thụ thai cho đến hết giai đoạn 110 ngày mang thai ở lợn
a Nguyên nhân
+ Nguyên nhân do viêm nhiễm là do lợn mắc bệnh giả dại, virus cúm
lợn, bệnh “tai xanh”, viêm nhiễm Leptospira, viêm nhiễm khuẩn E coli,
+ Sảy thai thường có hình hài hoặc không có hình hài bào thai
+ Ra nhiều dịch, máu ở âm đạo
+ Lợn mẹ bị ốm hoặc cũng có khi bình thường
+ Mắc một số loại bệnh nhất định
+ Tỷ lệ sảy thai thông thường là 2%, tuy nhiên, nếu mắc tai xanh nặng
có thể gây ra tỷ lệ sảy thai là 20%
Trang 24c Chẩn đoán
Ngay sau khi lợn bị sảy thai, mang ngay thai này đi xét nghiệm để tìm
ra nguyên nhân gây viêm nhiễm để xác định là do virus hay do vi khuẩn, đồng
thời tiến hành kiểm tra tiền sử của lợn và nghiên cứu các yếu tố độc hại do môi trường, thức ăn gây ra
Để phòng tránh sảy thai ở lợn nái, việc cung cấp đủ vitamin A, D, E là
hết sức cần thiết, đặc biệt là đối với lợn nái mang thai giai đoạn gần đẻ
- Căn cứ vào mức độ của bệnh mà có thể chia ra như sau:
+ Thể sót nhau hoàn toàn: Toàn bộ hệ thống nhau thai còn dính với niêm mạc tử cung ở cả 2 sừng tử cung
+ Thể sót nhau không hoàn toàn: phía sừng tử cung không chứa thai thì nhau thai con đã tách khỏi niêm mạc tử cung Sừng tử cung bên có thai thì nhau thai còn dính chặt với niêm mạc tử cung mẹ
+ Thể sót nhau từng phần: một phần của màng nhung hay 1 ít núm nhau con còn dính với niêm mạc tử cung, còn đa phần màng thai đã tách khỏi niêm mạc tử cung
Trang 25+ Can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau bị đứt và sót lại trong tử cung
+ Tử cung co bóp kém không đẩy được nhau thai ra được Nguyên nhân làm cho tử cung co bóp kém có thể là:
- Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức
- Trong thời gian có thai lợn mẹ ít vận động, nhất là giai đoạn cuối thai kỳ
- Khẩu phần ăn thiếu khoáng, nhất là Canxi
- Lợn mẹ quá gầy hoặc quá béo
- Quá nhiều bào thai, bào thai quá to, dịch thai quá nhiều dẫn đến cổ tử cung mở quá độ, giảm đàn tính và sự co bóp
- Tất cả những ca đẻ khó → ảnh hưởng đến quá trình co bóp của tử cung
→ giảm sức rặn của con mẹ
Lợn bị sót nhau thường biểu hiện triệu chứng không rõ ràng:
+ Lợn mẹ không yên tĩnh, hơi đau đớn, thỉnh thoảng rặn, thân nhiệt hơi tăng, lợn thích uống nước (nhờ vào kinh nghiệm chăm sóc cũng như theo dõi trong quá trình chăm sóc thực tế mà ta biết được lượng nước lợn uống có nhiều hơn bình thường hay không)
+ Từ cơ quan sinh dục của lợn mẹ luôn thải ra dịch màu nâu
+ Sót nhau hoàn toàn: quan sát kỹ sẽ thấy 1 màng mỏng còn nằm trong
âm đạo hay treo lòng thòng ở mép âm môn
+ Sót nhau không hoàn toàn: nhìn thấy 1 ít nhung mao trên mặt màng nhung của lợn mẹ
+ Sót nhau từng phần: Trải toàn bộ phần nhau thai đã ra ngoài trên nền chuồng sạch kiểm tra cuống rốn Mỗi lợn con tương ứng với 1 cuống rốn và 1
lá nhau, nếu thiếu là bị sót Có trường hợp còn sót một ít những mẫu nhỏ thì
Trang 26sau khi đẻ 1 ngày kiểm tra dịch viêm tử cung chảy ra màu đen và những mảnh nhau thối
d Phòng bệnh
Chăm sóc, nuôi dưỡng lợn nái đúng quy trình kỹ thuật, đáp ứng nhu
cầu chuồng trại, vận động, thức ăn và dinh dưỡng
đ Điều trị
+ Can thiệp kịp thời (ngay khi phát hiện ra lợn mẹ có những dấu hiệu
bệnh, không để quá muộn), đúng kỹ thuật (không quá mạnh tay → tránh
những tổn thương → sót nhau)
+ Tiêm thuốc oxytoxin dưới da để kích thích co bóp tử cung đẩy nhau ra hết + Sau khi nhau ra, dùng nước muối 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục
2.2.2 Nh ững bệnh thường gặp ở lợn con theo mẹ
Phân trắng là biểu hiện lâm sàng của quá trình bệnh lý ở đường tiêu hóa, là hiện tượng con vật đi ỉa nhanh, nhiều lần trong ngày, phân có màu
trắng, nhiều nước do rối loạn chức năng tiêu hóa, ruột tăng cường co bóp và
tiết dịch hoặc chỉ phản ánh đơn thuần sự thay đổi tạm thời của phân gia súc đang thích ứng với những thay đổi trong khẩu phần ăn
Theo Trần Đức Hạnh (2013) [6]: lợn con ở 1 số tỉnh phía bắc mắc bệnh phân trắng và chết với tỷ lệ trung bình là 31,84% và 5,37%, tỷ lệ mắc bệnh và
chết giảm dần theo lứa tuổi, cao nhất ở lợn con giai đoạn từ sơ sinh đến 21 ngày ( 30,97 và 4,93%) và giảm ở giai đoạn sau cai sữa
Theo Nguyễn Chí Dũng (2013) [4] kết luận: Tháng có nhiệt độ thấp và
ẩm độ cao (12,12%) tỷ lệ mắc bệnh cao (26,98 – 38,18%)
a Nguyên nhân
- Do thời tiết khí hậu: Các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ
Trang 27thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể (Đoàn Thị Kim Dung, 2004) [3]
- Lợn con bị nhiễm khuẩn: Bệnh phân trắng ở lợn có nguyên nhân do vi khuẩn E.coli, loại vi khuẩn này thường xuyên có trong đường ruột của lợn con
- Nguyên nhân gây bệnh phân trắng ở lợn con chủ yếu là do vệ sinh chuồng trại kém, thức ăn thiếu dinh dưỡng, chăm sóc quản lý không tốt
- Lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung
- Lợn mẹ ăn không đúng khẩu phần
- Lợn kém bú, rồi bỏ hẳn, ủ rũ, đi đứng siêu vẹo Lợn đi ỉa, da khô nhăn nheo, đầu to bụng hóp, lợn gầy sút rất nhanh, hậu môn thường dính bết phân Niêm mạc mắt nhợt nhạt, 4 chân lạnh, thở nhanh Lợn rặn rất nhiều khi ỉa
- Màu phân lúc đầu trắng sữa sau đó chuyển sang trắng đục, xám vàng
sền sệt hoặc lỏng, đi nhiều lần trong ngày, có mùi tanh, khắm đặc trưng Phân dính nhiều vào đít, vào khoeo
- Da nhăn nheo, lông dựng, mắt trũng, bỏ bú, nằm run rẩy, chết sau 3-5 ngày.
- Dạ dày giãn rộng, đường bề cong lớn bị chảy máu (xuất huyết)
- Dạ dày chứa đầy sữa đông vón không tiêu
- Ruột non chứa đầy hơi, xuất huyết từng đoạn.
- Với bệnh phân trắng lợn con thì yếu tố nhiệt độ rất quan trọng Ngay khi lợn mẹ đẻ ra cần cho lợn con vào ô úm ở nhiệt độ 32-34oC, duy trì nhiệt
độ như vậy trong 2-3 ngày, sau đó giảm dần nhiệt độ đến 25-28oC từ ngày thứ
8 đến khi cai sữa
- Phòng bệnh bằng vệ sinh dinh dưõng: chăm sóc, nuôi dưỡng lợn mẹ,
lợn con tốt Cần chú ý khâu thức ăn cho mẹ phải tốt cả về số lượng và chất
lượng, không nên thay đổi thức ăn của lợn mẹ trong quá trình đang cho lợn con bú sữa Thực hiện tốt 3 khâu: chống lạnh, chống ẩm và chống bẩn;
Trang 28chuồng trại thoáng mát vào mùa hè, ấm vào mùa đông … Tập cho lợn con ăn
sớm với thức ăn có chất lượng cao, tiêm sắt cho lợn con Ngoài ra có thể bổ sung chế phẩm sinh học vào khẩu phần ăn cho lợn từ 18 ngày tuổi trở lên, cứ
2 ngày cho ăn một lần theo hướng dẫn ghi trên bao bì của sản phẩm Cho ăn liên tục sẽ giúp lợn tăng cường khả năng tiêu hóa, tăng sức đề kháng…
- Kháng sinh pha uống :
Octacin 1%: 1 ml/6 - 10 kg TT, số ngày sử dụng: 3 - 5 ngày
Octamix AC, liều lượng: 1 g/10 kg TT, số ngày sử dụng: 3 - 5 ngày
- Phòng bằng vaccine cho cả mẹ và con: Tiêm cho mẹ 1 - 2 tuần trước khi đẻ Tiêm cho lợn con vào ngày tuổi thứ 14
khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi Bệnh này thường gây ra trên lợn con
1 - 6 tuần tuổi Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, cuống rốn, vết thương khi cắt đuôi, bấm nanh, các vết thương trên da, đầu gối khi chà sát trên nền chuồng, qua vết thiến
b Triệu chứng
Lợn con đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi, khớp chân sưng lên vào ngày 7 - 15 sau khi sinh nhưng tử vong thường xảy ra lúc 2 - 5 tuần tuổi Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân Lợn ăn ít, hơi
Trang 29sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy đỏ, sưng, sờ nắn vào có phản xạ đau
Khi rạch ổ khớp viêm thấy trong khớp có mủ đặc, có vết máu và những
chất hoại tử màu trắng
- Vệ sinh chuồng trại sạch sẽ, hạn chế sự lây lan mầm bệnh cho lợn con
- Cần lưu ý khi bấm răng nanh, cắt đuôi cho lợn cần sát trùng dụng cụ; tránh làm lợn bị tổn thương vì các dạng vết thương có thể tạo điều kiện cho
mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể
- Thường xuyên kiểm tra khớp gối, chân, đuôi xem lợn có bị tổn thương không
- Bổ sung thêm vitamin ADE để trợ lực và tăng sức đề kháng
-Tiêm Vetrimoxin LA 1 ml/10 kg TT/lần/ngày kết hợp tiêm Canxi – B12
1 ml/10kg TT/lần/ngày Điều trị liên tục trong 5 ngày
2.2.3 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
- Theo tác giả Phùng Thị Vân (2004) [17], Nguyễn Xuân Bình (2005) [1], ở những nái bị viêm tử cung thường biểu hiện sốt theo quy luật sáng chiều (sáng sốt nhẹ, chiều sốt nặng )
- Theo tác giả Trần Tiến Dũng và cs (2002) [5], khi gia súc bị bệnh viêm
tử cung ở thể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng
Trang 30các chất sát trùng với thể tích lớn Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co bóp
yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm cho bệnh nặng thêm Các tác giả đề nghị nên dùng oxytoxin kết hợp PGF2α hoặc kết hợp với kháng sinh điều trị toàn thân và cục bộ
- Nguyễn Văn Thanh (2003) [14], lợn nái sau khi sinh có chứng viêm
tử cung chiếm tỷ lệ 42,4% Viêm tử cung trên nhóm lợn nái thuần chiếm khoảng 25,48%, trên nhóm lợn nái lai chiếm 50,84% (trong tổng số 1.000 lợn nái khảo sát) Viêm tử cung thường xảy ra cao nhất ở lứa 1 và 2 Tỷ lệ chậm động dục ở nhóm lợn bị viêm tử cung cao hơn nhiều so với nhóm lợn không
bị viêm tử cung
- Theo Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [7], trước khi đẻ cần lau vú, xoa
vú, tắm cho nái Cho con bú mẹ sau 1 giờ đẻ, cắt răng nanh lợn con Tiêm kháng sinh 1,5 - 2 triệu đơn vị với 100 ml nước cất tiêm quanh vú, tiêm liên
tục trong 3 ngày
- Chườm đá lạnh vào bầu vú viêm Tiêm thuốc chống viêm như prednizolon, hydro - cortizone… (Lê Hồng Mận, Bùi Đức Lũng, 2004) [11]
- Theo Trần Minh Châu (1996) [2] điều trị viêm vú, viêm tử cung và
cạn sữa bằng oxytocin và kháng sinh ampicillin 25 mg/kg TT/ngày hoặc tetracylin 30 - 50 mg/kg TT/ngày cho kết quả điều trị tốt
- Ở Việt Nam đã phát hiện bệnh liên cầu khuẩn tại trại Cầu Thị - Hà
Nội (Phạm Sỹ Lăng, 2007) [8]
- Nghiên cứu của Khương Bích Ngọc (1996) [12] cho biết bệnh cầu khuẩn xảy ra ở hầu hết các trại chăn nuôi tập trung trong những năm 70 - 80
đã cho thấy vi khuẩn thuộc nhóm cầu khuẩn bao gồm Staphylococcus aureus,
với các triệu chứng sốt cao, chết đột ngột, khớp chân bị sưng to, liệt chân Kết
Trang 31quả phân lập vi khuẩn đã cho thấy vi khuẩn S.suis chiếm tỷ lệ cao nhất 60%,
tiếp đến là Diplococcus 33% và Staphylococcus aureus 7%
- Theo Trịnh Văn Thịnh (1985) [16], bệnh phân trắng ở lợn con là một
hội chứng hoặc một trạng thái lâm sàng đa dạng, đặc biệt là viêm dạ dày, viêm ruột và gầy sút nhanh Tác nhân gây bệnh chủ yếu là E coli, nhiều loại
trong thời gian bú sữa Ở nước ta lợn con phân trắng là bệnh rất phổ biến, trong các cơ sở chăn nuôi tỷ lệ lợn mắc bệnh từ 20 - 80%, tỷ lệ tử vong cao 60%,
bệnh có quanh năm nhiều nhất là cuối Đông sang Xuân, cuối Xuân sang Hè
2.2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
- Theo Madec (1995) [10], viêm tử cung thường bắt đầu bằng sốt và
chảy dịch viêm vài giờ sau khi đẻ, chảy mủ vài hôm sau và thường kéo dài 48 đến 72 giờ Trong bệnh viêm tử cung thì viêm nội mạc tử cung chiếm tỷ lệ cao Kaminski đã kiểm tra 1.000 lợn nái ở Cộng hòa Liên Bang Đức, kết quả
là 16 % số lợn bị viêm nội mạc tử cung
- Madec khi tiến hành nghiên cứu bệnh sau khi đẻ trên đàn lợn xứ Brơ-
ta nhơ (Pháp) cho thấy, 15 % số lợn nái bị viêm tử cung (Madec,1995) [10]
- Theo Andrew Gresham (2003) [18] điều tra tình hình mắc bệnh sinh
sản tại Vương Quốc Anh thì bệnh sinh sản ở lợn có một căn nguyên không nhiễm trùng và thường liên quan đến yếu tố managemental, dinh dưỡng hay môi trường Tuy nhiên, bệnh Enzootic pneumonia và bệnh sinh sản truyền nhiễm kéo dài có thể gây ra thiệt hại đáng kể Bệnh truyền nhiễm sinh sản của
lợn ở Anh thường là do nhiễm trùng bởi vi khuẩn, virus và đôi khi nấm và động vật nguyên sinh cư trú trong đàn gia súc Thỉnh thoảng, bệnh sinh sản
xảy ra do nhiễm các mầm bệnh như: hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp
(PRRS), Parvovirus và Leptospires (đặc biệt là Leptospira interrogans
Trang 32- Theo Smith và cs (1995) [22] từ các mẫu sữa, dịch âm đạo và sữa của nái mắc hội chứng M.M.A đã phân lập và công bố các loại vi sinh vật sau đây gây nhiễm trùng tử cung và vú, gây nên hội chứng M.M.A: Ecoli,
Staphylococcus aureus, Streptococcus, Klebsiella aergenes, Pseudomonas spp
- Bệnh lợn con phân trắng là hội chứng nhiễm khuẩn đường ruột ở giai đoạn bú sữa Bệnh xảy ra ở các nước trên thế giới, bệnh thường phát và nhiễm
nặng ở các khu đông dân cư, nơi môi trường bị ô nhiễm, thiếu nước sạch, ở các tỉnh miền núi dân trí còn lạc hậu Theo Glawisschning, Bacher (1992) [21], nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con chủ yếu là do vệ sinh chuồng
trại kém, thức ăn thiếu dinh dưỡng, chăm sóc quản lý không tốt
- Nghiên cứu của Smith và Nagy Band Feket Pzs (1996) [23] cho thấy,
sản xuất vaccine E coli phòng bệnh phân trắng cho lợn tốt nhất được phân lập
từ bệnh phẩm của lợn bệnh ở độ tuổi dưới 14 ngày
Trang 33Ph ần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng thực hiện
- Lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ (từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi)
- Các bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
3.2 Địa điểm và thời gian thực tập
- Địa điểm: Trại Tảu của Công ty TNHH MTV Chăn nuôi Hòa Phát, xã
Long Sơn, huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang
- Thời gian: Từ 20/11/2018 đến 20/05/2019
3.3 N ội dung tiến hành
- Thực hiện quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
- Thực hiện công tác chẩn đoán và điều trị các bệnh thường gặp ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
3.4 Các ch ỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện
3.4.1 Các ch ỉ tiêu theo dõi
- Công tác phòng bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
+ Công tác vệ sinh sát trùng chuồng trại
+ Công tác tiêm phòng cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
- Công tác chẩn đoán bệnh ở lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
+ Tình hình mắc bệnh ở lợn nái sinh sản
+ Tình hình mắc bệnh ở lợn con theo mẹ
- Công tác điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ
+ Công tác điều trị bệnh cho lợn nái sinh sản + Công tác điều trị bệnh cho lợn con theo mẹ Công thức tính một số chỉ tiêu theo dõi: