Tuy nhiên, trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục tại Làng trẻ em SOS Hà Nội, bên cạnh những kết quả đạt được thì Làng trẻ em SOS Hà Nội vẫn còn một số những hạn chế trong công
Trang 1HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ THÙY
QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
CỦA LÀNG TRẺ EM SOS HÀ NỘI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
HÀ NỘI - 2018
Trang 2HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ THÙY
QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG
CỦA LÀNG TRẺ EM SOS HÀ NỘI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY
Chuyên ngành: Quản lý xã hội
Mã số: 8 31 02 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Nguyễn Vũ Tiến
HÀ NỘI - 2018
Trang 3Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày…… tháng… năm 20…
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực Những kết luận trong Luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào khác
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Nguyễn Thị Thùy
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý xã hội với
Đề tài: “Quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS Hà Nội, thành phố
Hà Nội hiện nay“ tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và những người thân
Lời đầu tiên tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS, TS Nguyễn
Vũ Tiến, người đã trực tiếp hướng dẫn, tận tình chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận văn này
Xin được gửi lời cảm ơn chân thành đến Ban giám đốc Học viện Báo chí và Tuyên truyền, các giảng viên khoa Nhà nước và Pháp luật cũng như các phòng, ban
đã giúp đỡ, tạo điều kiện tốt nhất để tôi học tập và hoàn thành khóa đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Quản lý xã hội tại Học viện
Trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên và các cháu nhỏ đang sinh sống tại Làng trẻ em SOS Thành phố Hà Nội đã tạo điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè thân thiết và đồng nghiệp đã luôn quan tâm, động viên, chia sẻ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu
và hoàn thành khóa luận
Do kinh nghiệm thực tế chưa nhiều, thời gian nghiên cứu còn hạn chế nên không tránh khỏi những thiếu sót trong nội dung luận văn Vì vậy rất mong muốn nhận được sự chỉ dẫn và góp ý chân thành của các nhà khoa học, các thầy cô và những độc giả quân tâm
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 03 năm 2018
Nguyễn Thị Thùy
Trang 6MỞ ĐẦU 1 Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA LÀNG TRẺ EM SOS 9
1.1 Cơ sở lí luận về quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS 91.2 Một số văn bản pháp lý liên quan đến quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS 31
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA LÀNG TRẺ EM SOS HÀ NỘI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI HIỆN NAY 36
2.1 Khái quát về Làng Trẻ em SOS Hà Nội và tình hình trẻ em mồ côi tại Làng trẻ em SOS Hà Nội hiện nay 362.2 Kết quả, hạn chế trong quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS Hà Nội, Thành phố Hà Nội hiện nay và bài học kinh nghiệm 44
Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ XÃ HỘI ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA LÀNG TRẺ EM SOS HÀ NỘI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI THỜI GIAN TỚI 64
3.1 Yêu cầu khách quan cần tăng cường quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS Hà Nội, Thành phố Hà Nội thời gian tới 643.2 Giải pháp tăng cường quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS Hà Nội, Thành phố Hà Nội thời gian tới 68
KẾT LUẬN 82 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu, lãnh tụ thiên tài, đã nói
“Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây – Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” Thấm nhuần lời dạy của Bác, Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã không ngừng chăm lo cho thế hệ tương lai của đất nước Sự quan tâm này được thể hiện ở việc nước ta là nước đầu tiên ở Châu Á và nước thứ hai trên Thế giới ký phê chuẩn Công ước Quốc tế về quyền trẻ em vào ngày 20 tháng
2 năm 1990 Luật trẻ em và hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em của nước ta ngày càng được hoàn thiện Nhiều mô hình, đề
án và chương trình hành động nhằm giúp đỡ nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em mồ côi được ra đời Đó là các trung tâm bảo trợ xã hội, các mái
ấm tình thương, các Làng trẻ em SOS trên toàn quốc Trong các mô hình đó,
mô hình chăm sóc gia đình thay thế của tổ chức Làng trẻ em SOS là một mô hình lí tưởng hoạt động dựa trên bốn nguyên tắc sư phạm là bà mẹ, anh chị
em, gia đình và cộng đồng Làng Mô hình này thể hiện ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc giúp trẻ mồ côi tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản nhằm giảm bớt những nỗi đau mà các em gặp phải
Làng trẻ em SOS Hà Nội là một trong những địa chỉ đã từng giúp đỡ nhiều mảnh đời bất hạnh, mang lại niềm vui cho các em, tạo dựng một cộng đồng tốt đem lại mái ấm cho tất cả những em nhỏ gặp thiệt thòi trong cuộc sống Tuy nhiên, trong quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục tại Làng trẻ em SOS Hà Nội, bên cạnh những kết quả đạt được thì Làng trẻ em SOS
Hà Nội vẫn còn một số những hạn chế trong công tác quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, định hướng nghề nghiệp, kêu gọi tài trợ và đánh giá quá trình trưởng thành của các em Đứng trước những yêu cầu của đổi mới, việc nghiên cứu cũng như phải làm rõ các giải pháp tăng cường quản lý xã hội đối
Trang 8với hoạt động của Làng trẻ em SOS Hà Nội, Thành phố Hà Nội thời gian tới
là hết sức cần thiết Trong thời gian qua đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt và trẻ em mồ côi, tuy nhiên, chưa có nghiên cứu đề cập một cách toàn diện về quản lý xã hội đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế Với một mong muốn nâng cao hiệu quả quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS Hà Nội, để Làng trẻ em SOS Hà Nội thực
sự là “Mái ấm yêu thương cho mọi trẻ em“ nên tôi quyết định chọn đề tài:
“Quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS Hà Nội, Thành phố Hà Nội hiện nay” làm luận văn thạc sỹ ngành Chính trị học, chuyên
ngành Quản lý xã hội
Đề tài này được xây dựng dựa trên những nền tảng triết lý vững chắc
và thể hiện những ưu, nhược điểm riêng biệt của mình trong bối cảnh kinh tế, văn hóa, xã hội Việt Nam Thông qua đề tài này, chúng ta có một cái nhìn tổng quan, biện chứng về chiến lược phát triển mô hình chăm sóc thay thế hiệu quả cho trẻ em trong tương lai
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt là đối tượng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Trong phạm vi nghiên cứu
là trẻ em mồ côi trong các cơ sở nuôi dưỡng tôi lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, báo cáo, bài viết tiêu biểu
- Các công trình nghiên cứu, bài viết liên quan đến trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi như:
+ Bài viết “Mô hình nhà xã hội chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn cấp xã – Nền tảng triết lý và những bài học rút ra” của tác giả Nguyễn Thu Trang, Bộ môn Công tác xã hội, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội tại Hội thảo về Đổi mới công tác xã hội trong điều
Trang 9kiện kinh tế thị trường đã chỉ ra rằng, mô hình Nhà xã hội dựa vào cộng đồng
là một mô hình mới và qua thời gian thử nghiệm, nó thể hiện những điểm ưu việt hơn hẳn so với mô hình chăm sóc tập trung trong các trung tâm bảo trợ
xã hội truyền thống Sự ưu việt của nó thể hiện qua những nền tảng triết lý sâu sắc và toàn diện cũng như qua sự kế thừa kinh nghiệm thế giới Đồng thời, qua quá trình ứng dụng trong bối cảnh Việt Nam, chúng ta cũng nhận thấy những bài học quan trọng để điều chỉnh và mở rộng mô hình theo hướng tích cực hơn [47]
+ Bài viết “Cần bổ sung thêm chính sách đối với một số nhóm trẻ em
có hoàn cảnh khó khăn” của Tạp chí Lao động xã hội Bài viết cho thấy, trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện để thực hiện quyền cơ bản và hoà nhập với gia đình, cộng đồng Vì vậy cần bổ sung thêm các chính sách về trẻ em nhóm đó là đa dạng hóa các hình thức chăm sóc và nhóm trẻ em thuộc đối tượng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt
+Bài viết “Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác truyền thông về việc tham gia thúc đẩy quyền trẻ em” của tác giả Hải Hà – Cục bảo vệ, chăm sóc trẻ em - Bộ Lao động, thương binh và xã hội Cùng với việc phát triển kinh tế, trong những năm qua, Đảng, Nhà nước và toàn xã hội ngày càng quan tâm đến công tác bảo vệ và chăm sóc trẻ em, bước đầu tạo cho trẻ có điều kiện được thực hiện đầy đủ các quyền của mình cũng như tạo môi trường sống an toàn, phát triển hài hòa của trẻ Tuy nhiên trên thực tế, quyền tham gia của trẻ
em chưa được nhận thức và thực hiện một cách đầy đủ, nguyên nhân chủ yếu
là do đội ngũ làm công tác tuyên truyền còn thiếu và yếu; cách thức tuyên truyền chưa đồng bộ, tính hệ thống chưa cao, nội dung còn nghèo nàn, chưa phong phú, biện pháp truyền thông đơn điệu.Việc tuyên truyền, giáo dục chưa đến được với cộng đồng, từng gia đình và từng trẻ em Bài viết đưa ra một số
Trang 10giải pháp cần chú trọng để tăng cường công tác truyền thông nhằm vận động
xã hội cùng hưởng ứng việc tham gia thúc đẩy quyền trẻ em đó là cần nâng cao nhận thức, chuyển đổi hành vi và tăng cường vận động xã hội; Tăng cường chất lượng thông tin trên các phương tiện truyền thông; Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ truyền thông; Định hình và phát triển của các biện pháp và dịch vụ tư vấn và Vậnđộng xã hội (theo ông Nguyễn Hải Hữu – Cục trưởng Cục Bảo vệ chăm sóc trẻ em) [17]
+ Nghiên cứu “Chăm sóc và bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn: cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý dân sự ở Việt Nam hiện nay” năm
2008, của tác giả Dương Hải Yến đã phân tích các quy định của pháp luật về bảo vệ chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt để đưa ra giải pháp hoàn thiện
và nâng cao hiệu quả hoạt động bảo vệ chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt trong thực tiễn
+ Trong tài liệu Xây dựng môi trường bảo vệ trẻ em: Đánh giá pháp
luật và chính sách bảo vệ trẻ em, đặc biệt là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam của Vụ Pháp chế, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội (2011), đã
tập trung đề cập đến các văn bản pháp luật đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, so sánh với các chuẩn mực quốc tế, trên cơ sở đó kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đối với trẻ em có hoàn cảnh
đặc biệt, đảm bảo từng bước hài hòa với chuẩn mực và pháp luật quốc tế
+ Năm 2011 tác giả Nguyễn Thị Bích Hằng đã có bài Đánh giá tình
hình chăm sóc trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi tại Việt Nam trong thời gian qua Bài viết đã đưa ra các số liệu về thực trạng chăm sóc trẻ em mồ côi, trẻ
em bị bỏ rơi tại Việt Nam và các chính sách hỗ trợ cho trẻ em mồ côi và những định hướng cụ thể cho hoạt động chăm sóc trẻ em mồ côi ở nước ta hiện nay Đây là những số liệu để các nhà quản lý xem xét để có thể hoàn thiện hơn cơ chế chăm sóc trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi
Trang 11+ Nghiên cứu “Tình hình trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và các dự báo đến năm 2020” năm 2014, của tác giả Lê Thu Hà Đã phản ánh thực trạng có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn ở Việt Nam đang cần rất nhiều hỗ trợ để hạn chế gia tăng số lượng của nhóm này trong giai đoạn mới
- Các công trình nghiên cứu liên quan đến quản lý đối với các hoạt động của Làng trẻ em SOS như:
+ Luận văn thạc sỹ: Tổ chức và hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em
mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS Hà Nội của tác giả Nguyễn Duy Sinh năm 2016 – Giám đốc Làng trẻ em SOS Hà Nội đã phân tích rõ những vấn đề
lý luận và thực tiễn về tổ chứcchăm sóc nuôi dưỡng trẻ em mồ côi đồng thời đưa ra được những giải pháp thiết thực nâng cao hiệu quả công tác tổ chức và chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em tại Làng trẻ em SOS Hà Nội
+ Luận văn Thạc sỹ: Quản lý Nhà nước về công tác chăm sóc, bảo vệ, giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt – Nghiên cứu tại hệ thống Làng trẻ em SOS Việt Nam của tác giả Vũ Thị Thu Dung năm 2016.Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và thực tiễn về quản lý nhà nước đối với công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt; từ đó phân tích đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với công tác chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt ở Việt Nam trong thời gian qua tại tại hệ thống Làng trẻ em SOS Việt Nam nhằm đề xuất định hướng và giải pháp tăng cường công tác quản lý Nhà nước về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại hệ thống Làng trẻ em SOS Việt Nam trong thời gian tới
+ Luận văn Thạc sỹ: Công tác xã hội nhóm đối với trẻ mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS Hà Nội hiện nay của tác giả Nguyễn Quang Hưng năm
2017 – Phó Giám đốc Làng trẻ em SOS Hà Nội Bằng việc áp dụng phương pháp công tác xã hội nhóm, vận dụng những kiến thức, kỹ năng trong tiến trình trợ giúp nhóm trẻ em mồ côi giải quyết vấn đề của nhóm (nâng cao tính
Trang 12cố kết nhóm) và nâng cao năng lực của mỗi thành viên trong nhóm (sự tự tin
và kỹ năng sống) hướng đến giải quyết vấn đề của nhóm thân chủ giúp các cháu tự tin và trưởng thành hơn trong cuộc sống
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung làm rõ cơ sở lý luận, phân tích đánh giá thực trạng nhằm đề xuất các giải pháp tăng cường quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS Hà Nội, Thành phố Hà Nội hiện nay
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích trên đề tài có các nhiệm vụ sau:
Một là, hệ thống hóa, phân tích làm rõ cơ sở lý luận của quản lý xã hội
đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý xã hội đối với hoạt động
của Làng Trẻ em SOS Hà Nội, Thành phố Hà Nội hiện nay
Ba là, Phân tích yêu cầu khách quan và đề xuất các giải pháp tăng
cường quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng Trẻ em SOS Hà Nội, Thành phố Hà Nội thời gian tới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS Hà Nội, Thành phố Hà Nội hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành trong phạm vi Làng trẻ em SOS Hà Nội
- Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành từ năm 2011 đến nay
- Giới hạn nội dung nghiên cứu: phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn đi sâu nghiên cứu về quản lý xã hội đối với các hoạt động của Làng trẻ em SOS Hà
Nội, Thành phố Hà Nội hiện nay
Trang 135 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, những quan điểm, đường lối của Đảng;
chính sách, pháp luật của Nhà nước về quản lý xã hội và giáo dục trẻ em
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học mác –xít Bên cạnh đó, kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp lôgic và lịch sử, lý luận với thực tiễn, tổng hợp, phân tích, phương pháp quan sát, so sánh
6 Đóng góp mới về khoa học của đề tài
- Hệ thống hóa được cơ sở lí luận và thực tiễn quản lý xã hội đối với các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS Hà Nội Kết quả của đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà lãnh đạo đối với quản lý nhà nước, quản lý xã hội, chăm sóc và giáo dục trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
- Có thể sử dụng các giải pháp của luận văn để tiếp tục hoàn thiện quản
lý nhà nước, quản lý xã hội đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ
em có hoàn cảnh đặc biệt tại các Làng trẻ em SOS trên toàn quốc
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
7 1 Ý nghĩa lý luận
Đây là công trình có ý nghĩa trong việc đi sâu vào công tác quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS Hà Nội, Thành phố Hà Nội hiện nay Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần hệ thống hóa được cơ sở lí luận và thực tiễn quản lý xã hội đối với các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi từ thực tiễn Làng trẻ em SOS Hà Nội
Trang 147.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Luận văn góp thêm những thông tin có giá trị giúp các nhà lãnh đạo, các cơ quan ban, ngành, đoàn thể, các tổ chức xã hội, các nhà hảo tâm có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục
trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt tại các Làng trẻ em SOS trên toàn quốc
Trên cơ sở đó có những đóng góp tích cực vào việc thực hiện tốt chính sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, nâng cao hiệu lực, hiệu quả về công tác quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS Hà Nội, Thành phố Hà Nội hiện nay
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 06 tiết
Trang 151.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm trẻ em, trẻ em mồ côi, nhóm trẻ mồ côi
Khái niệm “Trẻ em” hiện nay chưa có sự thống nhất giữa các cơ quan,
tổ chức trong nước và ngoài nước:
Theo quan điểm của một số tổ chức quốc tế trực thuộc Liên hiệp quốc như Quỹ Dân số (UNFPA), Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa (UNESCO) xác định trẻ em là người dưới 15 tuổi
Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em của Liên hiệp quốc công bố năm
1989 xác định “Trong phạm vi công ước này, trẻ em có nghĩa là dưới 18 tuổi,
trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [28, tr 28]
Tại Việt Nam, Luật Trẻ em số 102/2016/QH13 quy định “Trẻ em là
người dưới 16 tuổi” [34, tr 01]
Trong phạm vi của đề tài, tác giả vận dụng khái niệm Trẻ em theo Luật Trẻ em số 102/2016/QH13 Cụ thể, trong phạm vi nghiên cứu trẻ em là những
em có hoàn cảnh mồ côi dưới 16 tuổi tại Làng trẻ em SOS Hà Nội
Hiện nay ở nước ta tỉ lệ trẻ mồ côi ngày càng gia tăng Khi nói đến khái niệm trẻ mồ côi đã có nhiều ngành, nhiều đề tài nghiên cứu khoa học đưa ra những cách hiểu khác nhau về trẻ mồ côi
Theo Công ước Quốc tế về Quyền trẻ em, việc xếp trẻ em mồ côi, không nơi nương tựa, bị bỏ vào một nhóm vì đặc điểm của nhóm trẻ này không có bố mẹ hoặc vì một lí do nào đó không được sống cùng bố mẹ: “Trẻ
Trang 16em tạm thời hoặc hoàn toàn không được sống trong môi trường gia đình hoặc
lý do ảnh hưởng đến lợi ích của một cá nhân không được quyền tiếp tục sông trong môi trường gia đình sẽ có quyền nhặn được sự trợ giúp và bảo vệ đặc biệt của nhà nước” [28, Tr 3]
Luật Trẻ em 2016 quy định trẻ em mồ côi được hiểu là những trẻ em có hoàn cảnh như sau: Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ không có người chăm sóc; Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ được nuôi dưỡng trong cơ sở trợ giúp xã hội; Trẻ
em mồ côi cả cha và mẹ sống với người thân; Trẻ em mồ côi cả cha và mẹ được nhận chăm sóc thay thế bởi cá nhân, gia đình không phải người thân thích, trừ trường hợp được nhận làm con nuôi [34, tr 05]
Theo Luật Nuôi con nuôi ban hành năm 2010 thì: Trẻ em mồ côi là trẻ
em mà cả cha mẹ đẻ đã chết hoặc một trong hai người đã chết và người kia không xác định được
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi xác định, trẻ em mồ côi
là những em dưới 16 tuổi và có hoàn cảnh: cả cha lẫn mẹ đã chết, hoặc cha hoặc mẹ đã chết; cả cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đã mất tích theo quy định của Pháp luật Dân sự (gồm có cha, mẹ đẻ; cha, mẹ nuôi hợp pháp)
1.1.1.2 Khái niệm Làng trẻ em SOS
Làng trẻ em SOS là một tổ chức mang tính chất toàn cầu gồm có những thành viên là tổ chức các làng trẻ em SOS Cơ chế hoạt động gồm có: Đại hội đồng, Các cơ quan điều hành, một ban thư ký và Viện Hermanm Gmeiner Ban thư ký có trụ sở tại Innsbruck nước Áo: có trách nhiệm phối hợp và hỗ trợ công việc với các làng trẻ em SOS trên 132 quốc gia và vùng lãnh thổ
Có thể nói ý niệm của làng trẻ SOS là ý nghĩa giáo dục và trợ giúp trẻ
bơ vơ đặt trên nền tảng của đời sống gia đình Nền giáo dục bắt buộc của làng trẻ phải giống nền giáo dục áp dụng trong gia đình Nếu chăm sóc trẻ bơ vơ theo kiểu tập trung, nặng về tính chất trợ giúp xã hội thì việc đặt trẻ trên nền
Trang 17tảng giáo dục gia đình theo ý niệm của làng trẻ SOS mang đầy đủ 2 tính chất: trước hết là giáo dục sau là trợ giúp xã hội
Ở Việt Nam, theo quy chế tổ chức Làng trẻ em SOS Việt Nam: Làng trẻ
em SOS (LTESOS) được xây dựng và hoạt động động để thực hiện việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi bất hạnh thuộc các dân tộc, thành phần xã hội và tôn giáo khác nhau nhằm giúp các em tự lập cuộc sống, hòa nhập xã hội và tạo cho các em một tương lai tốt đẹp
1.1.1.3 Khái niệm quản lý xã hội
Theo PGS TS Phạm Ngọc Thanh: “Quản lý là một loại hoạt động thực tiễn của con người, trong đó tác động lên các đối tượng bằng những công cụ
và phương pháp khác nhau, thông qua quy trình quản lý nhất định nhằm thực hiện một cách hiệu quả nhất các mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến động của môi trường”
Xã hội ngày càng tiến bộ nền kinh tế ngày càng phát triển, khoa học kỹ thuật càng hiện đại thì hoạt động quản lý và vai trò của nhà quản lý càng trở nên quan trọng để đảm bảo phối hợp một cách có hiệu quả những nỗ lực cá nhân nhằm thực hiện những mục tiêu đề ra
Theo PGS.TS Nguyễn Vũ Tiến đã đưa ra quan điểm về quản lý xã hội:
“Quản lý xã hội là một sự tác động liên tục có tổ chức, cỏ chủ đích của chủ thể quản lý xã hội lên xã hội và khách thể có liên quan nhằm duy trì và phát triển xã hội theo các đặc trưng và các mục tiêu mà chủ thể quản lý đặt ra phù hợp với xu thể phát triển khách quan của lịch sử”
Theo Mác, quản lý xã hội là chức năng đặc biệt được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao động Nó có tầm quan trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua hoạt động của con người và thông qua quản lý (con người điều khiển con người)
Như vậy, quản lý xã hội là một yếu tố không thể thiếu trong đời sống
xã hội Xã hội phát triển càng cao thì vai trò của quản lý xã hội ngày càng lớn
và nội dung càng đa dạng, phức tạp
Trang 18Những chủ thể của quản lý xã hội ở Việt Nam bao gồm:
Đảng Cộng Sản Việt Nam: với tư các là một lực lượng chính trị, lãnh đạo các quá trình phát triển xã hội, do đó là chủ thể chủ yếu và quan trọng nhất trong quản lý xã hội ở nước ta Đảng vạch ra đường lối phát triển xã hội, đặt ra mục tiêu cho mỗi giai đoạn phát triển và đề ra phương pháp thực hiện các mục tiêu đó, tạo ra và bảo đảm sự phối hợp các cố gắng của từng chủ thể quản lý xã hội thành một cố gắng chung thống nhất
Nhà nước, từ bản chất của nó, là một chủ thể quản lý xã hội có vai trò
to lớn nhất và quan trọng nhất Nhà nước là chủ thể trực tiếp và toàn diện của quản lý xã hội Bằng hệ thống cơ quan nhà nước và đội ngũ công chức, nhà nước thực hiện trên thực tế đường lối chiến lược các mục tiêu và phương hướng phát triển xã hội của Đảng
Các đoàn thể quần chúng: là những tổ chức được thành lập trên nguyên tắc tự nguyện và đại biểu cho lợi ích của một nhóm người có cùng nghề nghiệp, lứa tuổi hay giới tính Vai trò chủ thể quản lý xã hội của các đoàn thể quần chúng được thực hiện thông qua các cơ quan đại diện của nó
từ cơ sở đến trung ương Bởi vậy không gian tác động quản lý của nó bao trùm toàn xã hội Vì vậy các đoàn thể quần chúng có sự khác biệt so với các cộng đồng nhỏ, tham gia quản lý xã hội được mạnh mẽ và tích cực hơn
Các cộng đồng xã hội nhỏ: những cộng đồng này là chủ thể quản lý xã hội, khi nó thực hiện sự tự quản lý trong nội bộ của cộng đồng Có cộng đồng hình thành theo dấu hiệu huyết thống (quan hệ họ hàng thân thuộc), theo dấu hiệu lãnh thổ (khu phố, khu tập thể, ngõ xóm), các tập thể người lao động (các
tổ, đội lao động, cán bộ công nhân viên trong một công ty, xí nghiệp ) Các cộng đồng nhỏ có nguồn gốc, độ bền vững và khả năng cố kết nội bộ khác nhau, do đó tính chất, quy mô và sự tự quản lý cũng khác nhau
Trang 19Từng con người - thành viên của xã hội Muốn lao động có kết quả - tức là lao động do con người tiến hành phải thoả mãn được nhu cầu của mình - mỗi con người phải biết tự tổ chức, điều chỉnh hành vi cho phù hợp các quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội Con người tự quản lý lấy bản thân mình
Khách thể của quản lý xã hội: Những biểu hiện cơ bản nhất, chủ yếu nhất của các hiện tượng xã hội, đời sống xã hội, các nhóm xã hội tác động qua lại với nhau nhằm thực hiện lợi ích chung hoặc riêng - là con người, các tổ chức, các cộng đồng lãnh thổ, các nhóm giai cấp xã hội các hoạt động và hành vi của con người đều là khách thể quản lý xã hội Toàn bộ các hiện tượng xã hội ấy chính là quá trình tái sản xuất ra các giá trị vật chất và tinh thần, các điều kiện xã hội phục vụ cuộc sống con người
1.1.1.4 Quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS
Quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS là những tác động có ý thức của các chủ thể xã hội (Đảng, Nhà nước, các tổ chức Đoàn thể, từng cá nhân ) vào làng trẻ nhằm nâng cao, cải thiện đời sống mọi mặt của bộ phận trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ mồ côi trong Làng trẻ
em SOS nói riêng và xã hội nói chung
Đảng và Nhà nước luôn tích cực xây dựng và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp lý về bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Ngày 12/08/1991, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã chính thức thông qua Luật Bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em (có hiệu lực từ ngày 16/08/1991) Ngày 15/06/2004, Quốc hội thông qua Luật Bảo vệ, chăm sóc
và giáo dục trẻ em sửa đổi nhằm từng bước điều chỉnh cho phù hợp hơn trong thực tiễn Ngày 05 tháng 4 năm 2016, Quốc hội khóa XIII tiếp tục thông qua Luật Trẻ em (có hiệu lực từ ngày 01/6/2017) Trong đó, Luật quy định cụ thể: “Nghiêm cấm các hành vi mẹ bỏ rơi con, người giám hộ bỏ rơi
Trang 20trẻ em được mình giám hộ”; Để thực hiện được biện pháp có gia đình thay thế, có nguồn nuôi dưỡng: “Nhà nước khuyến khích gia đình cá nhân nuôi con nuôi; cơ quan tổ chức, cá nhân nhận đỡ đầu, nhận chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi”
Hiện thực hóa quan điểm, chủ chương của Đảng, nhiều chương trình,
đề án chính sách, kế hoạch hành động được ban hành nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho trẻ trong đó có nhóm trẻ em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị
bỏ rơi Chương trình hành động quốc gia vì trẻ em giai đoạn 2012 - 2020 (Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định 1555/QĐ-TTg ngày 17 tháng
10 năm 2012), bên cạnh các mục tiêu đối với trẻ em nói chung thì các mục tiêu đối với trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em mồ côi cũng được quy định
cụ thể: Tăng tỷ lệ trẻ em mồ côi không nơi nương tựa được chăm sóc bằng mọi hình thức từ 70% lên 80% vào năm 2015 và 85% vào năm 2020; 85% trẻ
em có hoàn cảnh khó khăn được hỗ trợ, chăm sóc vào năm 2020
Chương trình quốc gia bảo vệ trẻ em giai đoạn 2011 - 2015 (Thủ tướng chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 267/QĐ-TTg ngày 22/02/2011) đã triển khai Dự án xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp trẻ có hoàn cảnh đặc biệt dựa vào cộng đồng Đối với trẻ em mồ côi, mục tiêu của dự án: 90% trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em mồ côi không có nơi nương tựa được chăm sóc
Ngày 26 tháng 04 năm 2013, chính phủ ban hành Đề án chăm sóc trẻ
em mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em nhiễm HIV/AIDS, trẻ em là nạn nhân của chất độc hóa học, trẻ em khuyết tật nặng và trẻ em bị ảnh hưởng bởi thiên tai, thảm họa giai đoạn 2013 - 2020 (Quyết định số: 647/QĐ-TTg) Đề án nhằm huy động sự tham gia của xã hội, nhất là gia đình, cộng đồng, trong việc chăm sóc trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn được nhận sự trợ giúp và được cung cấp các dịch vụ xã hội phù hợp; tiếp tục thí điểm mô hình gia đình, cá nhân nhận nuôi có thời hạn đối với trẻ em
Trang 21có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn; mô hình dạy nghề gắn với tạo việc làm cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, nâng cấp cơ sở vật chất và trang thiết
bị cho các cơ sở bảo trợ xã hội và nhà xã hội để đủ điều kiện chăm sóc trẻ em
có hoàn cảnh đặc biệt
Điều 66 của Luật Trẻ em quy định: Ủy ban nhân dân sẽ hỗ trợ đưa trẻ
mồ côi nghèo và trẻ bị bỏ rơi vào các gia đình thay thế hoặc các cơ sở cứu trợ trẻ em của nhà nước hoặc ngoài nhà nước Nhà nước khuyến khích gia đình
và cá nhân nhận nuôi dưỡng trẻ em khó khăn, khuyến khích các cơ quan tổ chức và cá nhân tài trợ cho trẻ mồ côi nghèo và trẻ bị bỏ rơi cũng như việc chăm sóc các em này Nhà nước có trách nhiệm thông qua các chính sách hỗ trợ các gia đình, cá nhân, các cơ sở cứu trợ trẻ em không phải của nhà nước trong công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ mồ côi nghèo và trẻ bị bỏ rơi
Ngày 29/10/2013, Chính phủ ban hành Nghị định số 144/2013/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính về bảo trợ, cứu trợ xã hội và bảo vệ, chăm sóc trẻ em Khoản 2, Điều 22 quy định: phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:
a) Bỏ hoặc không chăm sóc, nuôi dưỡng con sau khi sinh
b) Cha, mẹ, người giám hộ không thực hiện nghĩa vụ nuôi dưỡng, cắt đứt quan hệ tình cảm và vật chất với trẻ em, trừ trường hợp cho trẻ em làm con nuôi hoặc bị buộc phải cách ly trẻ em theo quy định của pháp luật
b) Cha, mẹ, người giám hộ cố ý bỏ rơi trẻ em ở nơi công cộng hoặc ép buộc trẻ em không sống cùng gia đình, bỏ mặc trẻ em tự sinh sống, không quan tâm chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ em, để trẻ em này rơi vào hoàn cảnh đặc biệt
Ngày 25 tháng 03 năm 2010 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án
số 32/2010/QĐ - TTg về phát triển nghề Công tác xã hội giai đoạn 2010-2020 với mục tiêu phát triển công tác xã hội trở thành một nghề ở Việt Nam Nâng
Trang 22cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán
bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác
xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến Trong
đó đề án cũng rất quan tâm đến các trung tâm công tác xã hội và đối tượng trẻ
em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi
Ngày 21 tháng 10 năm 2013, Nghị định số 136/2013/NĐ-CP của chính phủ qui định về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội hưởng trợ cấp quy định cụ thể mức trợ cấp tối thiểu cho từng đối tượng cụ thể trong các trường hợp cụ thể, ví dụ: đối tượng sống tại cộng đồng do xã, phường quản lý, đối tượng sống trong các nhà xã hội tại cộng đồng do xã, phường quản lý, cũng như đối tượng sống trong cơ sở bảo trợ xã hội
1.1.2 Đặc điểm, nguyên tắc, nội dung và phương pháp quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS
1.1.2.1 Đặc điểm quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS
Quản lý xã hội đối với Làng trẻ em SOS có những đặc điểm sau:
Một là; Quản lý xã hội đối với các hoạt động của Làng trẻ em SOS vừa
mang tính nhà nước và vừa mang tính xã hội
Ngày 22/12/1987, Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội cùng Làng trẻ em SOS Quốc tế ký Hiệp định thành lập và phát triển Làng trẻ em SOS tại Việt Nam Theo đó, Làng trẻ em SOS Quốc tế tài trợ không hoàn lại kinh phí xây dựng các Làng trẻ em SOS và các dự án đi kèm tại Việt Nam để nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi theo mô hình gia đình thay thế với 4 nguyên tắc của tổ chức Làng trẻ em SOS là Bà mẹ, anh –chị - em, ngôi nhà và cộng đồng làng Đến nay, hệ thống Làng trẻ đã phát triển tại 17 tỉnh thành cùng với việc thành lập các Lưu xá thanh niên, trường Phổ thông dân lập HermannGmeiner, trường Mẫu giáo, trường Trung cấp
Trang 23nghề, xưởng thực hành kỹ năng nghề Tất cả các hoạt động của các Làng trẻ
em đều do Sở Lao động Thương binh và Xã hội các tỉnh thành phối hợp cùng
tổ chức SOS Việt Nam quản lý và chỉ đạo các hoạt động Bên cạnh đó, hoạt động quản lý xã hội ở Làng trẻ em SOS còn được thực hiện bởi các chủ thể như: Chính quyền, tổ chức Đảng, Mặt trận tổ quốc, Đoàn Thanh niên Tuy cơ cấu chủ thể đa dạng với mức độ tham gia quản lý cũng như nội dung quản lý của các chủ thể có sự khác nhau nhưng giữa các chủ thể luôn có mối liên hệ với nhau, tác động qua lại lẫn nhau và bổ sung cho nhau, tạo thành sức mạnh tổng hợp đem lại trật tự quản lý mà chủ thể mong muốn
Hai là: Quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS là quản
lý đối tượng trẻ em mồ côi, trẻ bị mất sự chăm sóc nuôi dạy của cha mẹ Phối hợp với tổ chức SOS Quốc tế, SOS Việt Nam khôi phục lại cuộc sống yên ấm
và đảm bảo tương lai cho các trẻ mồ côi, trẻ bị mất sự chăm sóc nuôi dạy của cha mẹ, chăm lo cho các em trở thành người tốt, có ích cho xã hội, có khả năng tự lập cuộc sống bằng chính lao động của bản thân
Ba là: Quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS có nhiều
nội dung như: Quản lý tiếp nhận đối tượng; quản lý chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý giáo dục, quản lý định hướng nghề nghiệp, quản lý đối với hoạt động tái hòa nhập cộng đồng; quản lý đối vớicác hoạt động từ thiện, kêu gọi tài trợ
Bốn là: Quản lý xã hội đối với các hoạt động của Làng trẻ em SOS do
nhiều chủ thể tiến hành như: Chính quyền, tổ chức Đảng, tổ chức Công Đoàn, cộng đồng làng, gia đình SOS
Khách thể của quản lý xã hội đối với Làng trẻ em SOS là các hoạt động trong cộng đồng làng, các gia đình SOS, nhóm trẻ SOS, trẻ SOS Các hoạt động
ấy tác động qua lại lẫn nhau giúp tạo ra một môi trường sống tốt nhất cho trẻ
Năm là: Quản lý xã hội đối với các hoạt động của Làng trẻ em SOS là
một dạng quản lý trực tiếp Các hành vi quản lý của chủ thể tác động trực tiếp
Trang 24đến đối tượng quản lý không phải thông qua khâu trung gian nào, nghĩa là tất
cả các quyết định quản lý và hành vi quản lý của chủ thể đều tác động trực tiếp lên khách thể quản lý Đồng thời, chủ thể phải trực tiếp quản lý những hoạt động cụ thể, những sự việc, sự kiện diễn ra hàng ngày trong đời sống của các em như vấn đề ăn uống, học tập, sinh hoạt, vui chơi, hướng nghiệp hoặc các vấn đề khai sinh, hộ khẩu, chứng minh thư của các cháu trong Làng
1.1.2.2 Nguyên tắc quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS
Để đảm bảo quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS có hiệu lực và đạt hiệu quả, cần tuân thủ các nguyên tắc cơ bản sau:
Một là: Nguyên tắc tập trung dân chủ trong quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS
Đảm bảo nguyên tắc tập trung dân chủ trong hoạt động quản lý Về
thực tiễn, một mặt, chúng ta cần phải xây dựng các cơ chế, chính sách để tạo điều kiện và khuyến khích các cá nhân, cơ quan,tổ chức, đoàn thể tích cực tham gia vào các hoạt động quản lý, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em tại Làng trẻ
em SOS Hà Nội Mặt khác, kết hợp lãnh đạo, quản lý tập trung với tinh thần tích cực, sáng tạo để điều tiết các hoạt động chung của Làng, nêu cao vai trò của Thủ trưởng cơ quan, Ban Giám đốc Làng, tổ nghiệp vụ và đặc biệt là vai trò của các bà mẹ trong công tác chăm sóc và nuôi dưỡng Dân chủ phải gắn liền với kỷ luật và sự tự giác, thường xuyên kiểm tra, giám sát các hoạt động quản lý, chăm sóc và thường xuyên phát động các phong trào thi đua để nêu cao năng lực quản lý và hiệu quả chăm sóc nuôi dưỡng tại Làng trẻ em SOS
Hai là: Nguyên tắc công khai trong quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS
Đây là nguyên tắc liên hệ ngược trong quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS, thường xuyên thông báo rộng rãi cho đối tượng quản lý biết về các hoạt động của chủ thể quản lý nhằm lôi kéo đối tượng
Trang 25quản lý vào quá trình quản lý, nâng cao tính tích cực của họ, thực hiện sự tác động của các hoạt động tại Làng trẻ em SOS tới Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội, các hội đoàn thể
Ba là: Nguyên tắc hợp pháp trong quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS
Quản lý hoạt động của Làng trẻ em SOS trên cơ sở các quy định pháp luật Hiện nay, Làng trẻ em SOS quản lý các hoạt động căn cứ các Nghị định, Thông tư hướng dẫn của Chính phủ; các văn bản chỉ đạo của các bộ, ngành liên quan; các văn bản quản lý của tổ chức SOS Việt Nam, các văn bản chỉ đạo của chính quyền địa phương, quy chế hoạt động của Làng
Bốn là: Nguyên tắc hệ thống trong quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS
Đảm bảo tính thống nhất trong quản lý, nhưng có sự phân công, phân cấp hợp lý, phối hợp chặt chẽ giữa Trung ương, địa phương và tổ chức SOS Quốc tế: Hiện nay, Làng trẻ em SOS Việt Nam chịu sự quản lý trực tiếp của
Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội, trong đó Làng trẻ em SOS Hà Nội chịu sự quản lý trực tiếp của Làng trẻ em SOS Việt Nam, Sở Lao động – Thương Binh và Xã hội thành phố Hà Nội và các ban ngành liên quan
1.1.2.3 Nội dung quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS Một là: Quản lý xã hội đối với công tác tiếp nhận trẻ
Làng trẻ em SOS thực hiện chế độ tiếp nhận trẻ theo điều 46,47 Luật Hôn nhân và Gia đình đối với những trẻ chưa thành niên mà cha mẹ đã chết, hoặc còn sống nhưng không còn điều kiện để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi, chăm sóc giáo dục đứa con Làng trẻ em SOS phối hợp với các cơ quan hữu quan khảo sát, tiếp nhận trẻ từ các quận huyện, thành phố, các cơ sở
y tế, bệnh viện trong địa phương theo đúng các tiêu chuẩn và thể lệ do SOS Quốc tế và SOS Việt Nam quy định
Trang 26Hai là: Quản lý xã hội đối với hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng
Nhà nước tạo ra môi trường pháp lý, hành chính thuận lợi để bảo vệ quyền trẻ em và tạo điều kiện cho các em được tái hòa nhập cộng đồng, để phát triển bình thường như những trẻ em bình thường khác, các em được bảo
vệ chống lại sự xâm hại về thể chất hay tinh thần, kể cả việc bóc lột và lạm dụng trẻ em Nhà nước bảo vệ các em không phải bị bóc lột về kinh tế, không phải làm những việc tổn hại đến sức khỏe, phúc lợi của các em
Làng trẻ em SOS thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ mồ côi, trẻ bị bỏ rơi không nơi nượng tựa, tạo dựng một gia đình mới ổn định lâu dài cho trẻ em đã mất đi sự chăm sóc của cha mẹ, cũng như mất đi nguồn nuôi dưỡng, nhằm mang lại mái ấm yêu thương, một tuổi thơ hạnh phúc, được lớn lên trong tình yêu thương, bù lại cho các cháu những gì đã bị mất là chỗ dựa lâu dài và chuẩn bị những điều kiện tốt nhất để khi trưởng thành các em dễ dàng hòa nhập xã hội trở thành công dân có ích, có trách nhiệm
Mô hình chăm sóc trẻ trong gia đình SOS được xây dựng theo 4 nguyên tắc giáo dục chính yếu là : Bà mẹ, anh- chị -em, mái ấm gia đình và cộng đồng làng Khi trẻ vào Làng, trẻ được dành cơ hội để lớn lên trong môi trường gia đình an toàn, được che chở và chăm sóc, đồng thời thiết lập các mối quan hệ bền vững Một bà mẹ SOS xây dựng một gia đình yêu thương, nơi đó trẻ học được những giá trị đạo đức và chia sẻ trách nhiệm Bà mẹ SOS dẫn dắt gia đình theo những tiêu chuẩn chuyên môn về chăm sóc trẻ và nhận được sự hỗ trợ cần thiết từ Ban Giám đốc làng và các nhân viên giáo dục, nhằm đảm bảo mọi nhu cầu tối thiếu của trẻ được đáp ứng cũng như các quyền của trẻ được tôn trọng nhằm giúp trẻ phát triển và bộc lộ những năng lực về thể chất, trí tuệ và tinh thần
Chăm sóc thể chất: Các cháu được sắp xếp ở trong các gia đình, trong gia đình có một bà mẹ đóng vai trò là người mẹ của các con Mỗi phòng đề được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất: tủ, giường, bàn ghế, quạt…
Trang 27Các em được quan tâm chu đáo về ăn uống, đảm bảo về vệ sinh an toàn thực phẩm và chế độ dinh dưỡng cho các em học tập, sinh hoạt Quần áo, tư trang của các em được mua sắm phù hợp với nguyện vọng và kinh phí của làng cấp cho từng em Công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho trẻ được Làng hết sức chú trọng (theo dõi thường xuyên và khám sức khỏe định kỳ) Tất cả trẻ đều được cấp thẻ bảo hiểm y tế, được tiêm chủng theo định kỳ
Chăm sóc đời sống tinh thần: Làng trẻ em SOS Hà Nội luôn tạo ra những sân chơi đầy ắp tiếng cười, ở đó có sự ấm áp của bàn tay mẹ, sự đoàn kết của các anh (chị) em trong nhà, sự quan tâm chăm sóc chu đáo của các cô, các chú, các dì với mục đích xây dựng trong trẻ những ký ức đẹp, để từ đó trẻ
có những động lực vươn lên trong học tập cũng như trong cuộc sống Các hoạt động phục vụ đời sống tinh thần cho trẻ gồm: Dàn hợp sướng kì diệu, học vẽ, học kĩ năng sống, câu lạc bộ giới tính, hoạt động bóng đá, giao lưu với các tổ chức ngoài cộng đồng
Ngoài ra, quá trình phát triển của trẻ được hỗ trợ một cách tích cực với các phương thức:
Trẻ được tham gia tích cực vào cuộc sống và những quyết định của gia đình SOS cụ thể như giao tiếp, hợp tác, hiểu biết lẫn nhau, xử lý những xung đột, hòa giải và lập quyết định
Trẻ được phát triển về mặt tình cảm và xã hội như cung cấp đầy đủ thông tin về gia đình, tiểu sử bản thân tùy theo sự trưởng thành của trẻ Từ đó, trẻ hiểu biết sâu sắc về bản thân và nguồn gốc của mình
Trẻ được phát triển về đạo đức và tinh thần, giúp trẻ hiểu biết về các giá trị văn hóa, đạo đức và tôn giáo Thông qua các hoạt động giao tiếp hàng ngày với mọi người trong gia đình, bạn bè, cộng đồng xã hội, trẻ phát triển các giá trị và niềm tin trong cuộc sống
Trang 28Mỗi gia đình SOS là một bộ phận của cộng đồng dân cư, trẻ em được tham gia vào các hoạt động của cộng đồng dân cư và các dịch vụ chung như y
tế, giáo dục và các dịch vụ khác
Bên cạnh đó, Làng trẻ em SOS còn nhận được sự hỗ trợ chuyên môn của Làng trẻ em SOS Việt Nam, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố, phòng Lao động – Thương binh và Xã hội quận, huyện, chính quyền địa phương, các phòng, ban liên quan và các tổ chức xã hội, đoàn thể
Mô hình chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em tại Làng trẻ em SOS phù hợp với Công ước của Liên hợp Quốc tế về Quyền trẻ em và Nghị định 136 của Chính phủ
Ngoài ra, các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các ban ngành, đoàn thể, các cá nhân vẫn luôn chung tay cùng với Ban Giám đốc các Làng trẻ em SOS trong việc chăm sóc, nuôi dạy các cháu như dịch vụ y tế, giáo dục, vui chơi giải trí, phụ đạo ngoài giờ, học kỹ năng sống, thành lập các câu lạc bộ về giới tính, tìm hiểu pháp luật, yêu âm nhạc, thể thao, bóng đá, sức khỏe sinh sản vị thành niên v.v
Ba là: Quản lý xã hội đối với hoạt động giáo dục
Ngoài hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, Làng trẻ em SOS đặc biệt quan tâm tới hoạt động giáo dục Trong tổ chức Làng trẻ em SOS có trường mẫu giáo và trường phổ thông Hermann Gmeiner đây là các dự án hỗ trợ đi kèm được Làng trẻ em SOS Quốc tế đầu tư xây cạnh các Làng trẻ em SOS Trong đó:
Trường mẫu giáo được xây dựng bên trong Làng trẻ em SOS với mục đích tạo điều kiện cho trẻ của Làng trẻ em SOS dễ dàng hòa nhập với trẻ của cộng đồng Trường mẫu giáo SOS là dự án phi lợi nhuận, góp phần hỗ trợ phát triển cộng đồng Các trường mẫu giáo trang bị tốt về cơ sở vật chất, đáp ứng nhu cầu dạy và học Đội ngũ giáo viên được tuyển chọn tốt, cán bộ giáo viên yêu nghề, mến trẻ, có tinh thần trách nhiệm cao, tích cực đổi mới phương
Trang 29pháp dạy học Nhà trường là môi trường an toàn cho các bé học tập và vui chơi, số lượng học sinh luôn được duy trì theo đúng quy định của ngành giáo dục để đảm bảo tốt chất lượng chăm sóc và nuôi dưỡng
Trường phổ thông Hermann Gmeiner được đầu tư xây cạnh Làng trẻ em SOS Trường có đủ 3 cấp học: Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông Số học sinh trong Làng trẻ chiếm khoảng 15% tổng số học sinh toàn trường, số còn lại đến tờ cộng đồng dân cư xung quanh trường, nhằm giúp cho các em trong Làng trẻ được hòa nhập với bạn bè mọi lứa tuổi, giúp các em luôn
tự tin trong học tập, phấn đấu và rèn luyện Trường phổ thông Hermann Gmeiner có đội ngũ giáo viên đạt chuẩn và vượt chuẩn với chất lượng cao, có
tổ chức bán trú cho học sinh và luôn được các cấp quản lý, các ngành, đoàn thể của địa phương quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi hoạt động Nhà trường cũng luôn cố gắng nỗ lực để xây dựng vị trí của mình trong ngành giáo dục đào tào của địa phương, tạo uy tín cho phụ huynh và học sinh
Ngoài ra, tại Làng còn có các câu lạc bộ gia sư, học thêm do các tình nguyện viên là giáo viên, sinh viên vào dạy thêm cho các cháu Các câu lạc bộ truyền thống, pháp luật được phát huy hiệu quả
Các tổ chức xã hội tài trợ mở các lớp tiếng anh dài hạn, phòng vi tính tại làng, tại các gia đình có kết nối mạng để các cháu học trực tuyến v.v
Bốn là; Quản lý xã hội đối với hoạt động định hướng nghề nghiệp
Hoạt động định hướng nghề nghiệp luôn là vấn đề được quan tâm đặc biệt trong hệ thống Làng trẻ em SOS Việt Nam Vì vậy, hệ thống Làng trẻ em SOS có một trường trung cấp nghề Hermann Gmeiner Việt trì và xưởng dạy thực hành kỹ năng nghề tại Làng trẻ em SOS Bến Tre, Đà Nẵng và Nha Trang
Sau khi tốt nghiệp tại đây, trẻ em SOS nhanh chóng có công việc ổn định sau tháng đầu tiên Một số em ra nghề đã tự mở xưởng nghề và làm chủ các doanh nghiệp
Trang 30Bên cạnh đó, Làng trẻ em SOS còn thành lập Hội đồng giáo dục để tư vấn, định hướng cho các em theo các ngành nghề sở thích hoặc các ngành nghề khác để đảm bảo khi tốt nghiệp ra trường các em tự tìm được công việc ổn định hoặc được các cá nhân, các tổ chức xã hội giúp đỡ, tạo công ăn việc làm
Ngoài ra các tổ chức xã hội cũng chung tay giúp đỡ đào tạo các cháu với các ngành nghề phù hợp với thực tế cuộc sống cũng như khả năng của các cháu như: Trung tâm dạy nghề nhân đạo KoTo, trung tâm dạy nghề Street, trường Trung cấp nghề Hoa Sữa, các trung tâm dạy nghề tóc, Spa, thẩm mỹ
Các trường trung cấp nghề, Cao đẳng nghề thuộc sự quản lý của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thành phố cũng sẵn sàng tiếp nhận học sinh của làng theo học tại trường
Năm là; Quản lý xã hội đối với các hoạt động tái hòa nhập cộng đồng
Khi các em đã có công việc ổn định và đảm bảo nhu cầu sinh hoạt của bản thân thì Làng trẻ em SOS sẽ cho các em trở về với gia đình và hòa nhập với cuộc sống xã hội
Sáu là; Quản lý xã hội đối với các hoạt động từ thiện, kêu gọi tài trợ
Toàn bộ kinh phí cho đầu tư, xây dựng, nâng cấp, sửa chữa, mua sắm
cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện và kinh phí hoạt động thường xuyên cho các Làng trẻ đều do Làng trẻ em SOS Quốc tế tài trợ Những năm gần đây, Làng trẻ em SOS Việt Nam có thêm nguồn kinh phí hỗ trợ trong nước
* Kinh phí tài trợ của Tổ chức Làng trẻ em SOS Quốc tế
Kể từ ngày ký Hiệp định giữa Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội
và Làng trẻ em SOS Quốc tế đến nay Làng trẻ em SOS Quốc tế đã tài trợ cho Việt Nam gần 120 triệu USD Số kinh phí này bao gồm 25% chi cho đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, sắm trang thiết bị,đồ dung,dụng cụ,phương tiện ban đầu và 75% chi cho hoạt động thường xuyên,bảo trì,bảo dưỡng,thay thế phương tiện và cơ sở vật chất.Kinh phí Làng trẻ em SOS
Trang 31Quốc tế tài trợ cho Làng trẻ em SOS Việt Nam năm sau tăng hơn năm trước, năm 2011 là 5,9 triệu Đô la Mỹ, năm 2015 là 7,5 triệu Đô la Mỹ và năm 2016 là 8,2 triệu Đô la Mỹ
Cơ cấu kinh phí do Làng trẻ em SOS Quốc tế tài trợ cho Việt Nam bao gồm: 32,33% tự những người đỡ đầu thường xuyên cho Làng trẻ em SOS và trẻ; 59,3 % từ nguồn quỹ Hermenn Gmeiner của Đức; 2,57% từ Hội giúp đỡ trẻ em Việt Nam tại Pháp; 2,47% từ Hiệp hội quảng bá và hỗ trợ Pháp; 1,60% từ Hiệp hội quảng bá và hỗ trợ Na Uy; 1,43% từ các Hiệp hội quảng
bá và hỗ trợ Thụy Sỹ; 0,28% từ các hiệp hội quảng bá và hỗ trợ khác và nguồn của các doanh nghiệp nước ngoài tài trợ cho Việt Nam thông qua sự vận động của Làng trẻ em Quốc tế
* Nguồn kinh phí trong nước
Kinh phí hỗ trợ từ ngân sách Trung ương:
Từ năm 2010, Bộ lao động – Thương binh và Xã hội bắt đầu hỗ trợ kinh phí cho Làng trẻ em SOS Việt Nam để cùng với nguồn tài trợ của Làng trẻ em SOS Quốc tế triển khai thực hiện “Chương trình tăng cường gia đình nhằm ngăn chặn tình trạng trẻ em bị bỏ rơi” Tính đến năm 2017, tổng số kinh phí Bộ Lao động – Thương Binh và Xã hội đã hỗ trợ là 18 tỷ đồng Hiện nay, mỗi năm Bộ Lao động – Thương
Kinh phí hỗ trợ tờ Ngân sách các tỉnh, Thành phố:
Đến nay, hầu hết các tỉnh thành phố đã hỗ trợ kinh phí cho hoạt động của các đơn vị thuộc Làng trẻ em SOS Việt Nam Năm 2016 là 18,5 tỷ đồng Trong đó kinh phí hỗ trợ nuôi dưỡng, chăm sóc các cháu tại Làng trẻ em SOS
là 98 %, kinh phí hỗ trợ các trường bao gồm (trường mẫu giáo, trường phổ thông dân lập Hermann Gmeiner, trường nghề) là 2% Bên cạch hỗ trợ kinh phí cho chi thường xuyên và cấp thẻ bảo hiểm y tế, nhiều địa phương còn hỗ trợ kinh phí cho xây dựng cơ bản
Trang 32Kinh phí Vận động quyên góp
Công tác truyền thông và phát triển quỹ trong nước được khởi động từ năm 2011 Tuy nhiên trong những năm đầu công tác truyền thông và gây quỹ chưa được đẩy mạnh nên kinh phí thu được còn rất khiêm tốn Đến năm 2016,
bộ máy nhân sự của bộ phận truyền thông và phát triển quỹ được hoàn thiện,
kể từ đó công tác quyên góp trong nước bắt đầu được thúc đẩy Người dân trong nước biết rõ hơn về mô hình nuôi dưỡng Làng trẻ em SOS, nhờ đó các hoạt động quyên góp trong nước đang mang lại kết quả tốt hơn Tính đến ngày 30/6/2017, đã có 1.247 người trong nước nhận đỡ đầu và đóng góp kinh phí hàng tháng cho nuôi dưỡng 807 Năm 2016, Làng trẻ em SOS Việt Nam
đã vận động quyên góp được 3,9 tỷ đồng cho hoạt động nuôi dưỡng trẻ Ngoài ra, các doanh nghiệp lớn trong nước cũng thường xuyên tài trợ kinh phí cho các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em
1.1.2.4 Phương pháp quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ
em SOS
Một là; Phương pháp hành chính
Phương pháp hành chính là phương pháp tác động dựa trên cơ sở quyền lực của nhà nước, biểu hiện mối quan hệ giữa quyền uy và phục tùng Phương pháp hành chính thể hiện tính chất quyền lực nhà nước của hoạt động quản lý,
là phương pháp cần thiết để đảm bảo cho hoạt động quản lý có hiệu quả, bảo đảm kỷ luật, kỷ cương của xã hội
Phương pháp hành chính trong quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS thể hiện như sau:
Trong Làng trẻ em SOS, Giám đốc làng, các bà mẹ SOS và phụ trách thanh niên là những nhân viên chính Họ được sự hỗ trợ từ các bà dì và những nhân viên hành chính chịu trách nhiệm về sự phát triển của trẻ
Giám đốc Làng có hai trợ lý giúp việc, một chịu trách nhiệm chính về lĩnh vực phát triển của trẻ và một chịu trách nhiệm về lĩnh vực hành chính
Trang 33Giám đốc Làng điều hành và hỗ trợ các bà mẹ SOS, phụ trách thanh niên và các nhân viên dưới quyền trực tiếp, chịu trách nhiệm về chất lượng chăm sóc trẻ Trong quá trình quản lý, Giám đốc Làng đưa ra các quyết định quản lý có tính bắt buộc chung, trong đó quy định cách thức xử sự chung cho toàn làng; quy định trách nhiệm, quyền hạn của các Trợ lý Giám đốc, nhân viên giáo dục, các bà mẹ SOS, bà dì
Hai là; Phương pháp tâm lý, giáo dục
Đặc thù của Làng trẻ em SOS là tiếp nhận, chăm sóc nuôi dưỡng trẻ
em mồ côi, trẻ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn không nơi nương tựa vì vậy phương pháp quản lý chủ đạo đó là phương pháp giáo dục, động viên, thuyết phục
Đối với cán bộ, nhân viên: Giám đốc Làng làm việc cùng với nhân viên, sử dụng mô hình tham gia quản lý và tinh thần đồng nghiệp, thường xuyên hỗ trợ sự phát triển của nhân viên dưới quyền, động viên, khích lệ, xây dựng sự tự chủ, sáng tạo và tinh thần trách nhiệm cao trong các nhân viên Đồng thời, xây dựng một môi trường tin tưởng cởi mở để họ có thể cống hiến tốt nhất cho nghề nghiệp gắn liền với công tác xã hội của bản thân
Đối với các bà mẹ SOS: Bà mẹ SOS giữ vai trò rất trọng yếu trong nội dung hoạt động của làng, trong sự lớn khôn của trẻ, trong thực hiện các mục tiêu của làng trẻ vì vậy tiêu chuẩn khi chọn các bà mẹ SOS họ phải là những người không có ràng buộc về gia đình, tự nguyện sống trọn đời chăm lo cho trẻ được giao phó, được những người thân thích tán thành và ủng hộ việc trở thành
bà mẹ SOS Chính vì vậy, trong công tác quản lý, chủ thể quản lý phải thường xuyên động viên, thuyết phục, hướng dẫn, đồng hành cùng các bà mẹ trong quá trình chăm sóc, giáo dục con tại các gia đình Tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng nhất, dù các bà mẹ đã không sinh ra những đứa trẻ, nhưng khi vào làng trẻ em SOS họ đã đón nhận tình cảm ấy một cách trọn vẹn
Trang 34Đối với trẻ trong làng trẻ em SOS: Các em là những đứa trẻ với rất nhiều hoàn cảnh khác nhau, các em thực sự có nhu cầu sống trong một gia đình để được yêu thương và che chở, các em được nhận vào làng trẻ em SOS, mỗi em có một sự hiểu biết nhất định, phong tục tập quán khác nhau, khả năng nhận thức và hoàn cảnh sống khác nhau Chính vì vậy, khi vào làng chủ thể quản lý mà ở đây là Ban Giám đốc làng trẻ, các nhân viên giáo dục, các bà mẹ, bà dì phải thường xuyên động viên, khuyến khích, tìm hiểu
về tâm lý của từng trẻ trên cơ sở đó có phương pháp giáo dục, chăm sóc thích hợp và hiệu quả nhất
Có thể nói, phương pháp tâm lý, giáo dục, động viên là cách thức tác động của chủ thể quản lý đến nhận thức, tình cảm của con người nhằm hình thành ở họ ý thức tự giác chấp hành các yêu cầu, đòi hỏi của quá trình quản
lý, trên cơ sở đó làm thay đổi các hành vi của họ
Phương pháp giáo dục, động viên có ý nghĩa to lớn trong quản lý xã hội đối với các hoạt động của Làng trẻ em SOS vì đối tượng quản lý ở đây là các cháu có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, trẻ mồ côi nên giáo dục và thuyết phục
sẽ giúp các cháu dễ hòa nhập với cuộc sống trong Làng trẻ, tự tin tham gia các hoạt động và hòa nhập cộng đồng
Ba là; Phương pháp kinh tế
Phương pháp kinh tế là tổng thể các cách thức mà chủ thể quản lý sử dụng để tác động vào các đối tượng quản lý thông qua lợi ích kinh tế Nội dung cơ bản của phương pháp kinh tế đối với các hoạt động tại Làng trẻ em SOS là chủ thể quản lý sử dụng các đòn bẩy kinh tế như thưởng, phạt, chế
độ trách nhiệm, kêu gọi tài trợ nâng cao chất lượng cuộc sống để thúc đẩy các hoạt động, cũng như công tác quản lý tại Làng trẻ đạt hiệu quả cao hơn
và lợi ích của chủ thể quản lý và khách thể quản lý luôn được giải quyết một cách hài hòa
Trang 351.1.3 Vai trò quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS
Một là, nâng cao nhận thức của người dân, các cấp chính quyền và toàn
xã hội về chăm sóc, nuôi dưỡng và bảo vệ trẻ em Tạo sự chuyển biến mạnh
mẽ về nhận thức và hành động của các gia đình, các cấp, các ngành và các thành viên trong xã hội trong việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em thông qua truyền thông định hướng dư luận xã hội và xây dựng các chuẩn mực, đạo đức, giá trị
xã hội phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Hai là, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự chỉ đạo điều hành của các cấp chính quyền trong việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em thông qua xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản chỉ đạo, điều hành; phê duyệt kế hoạch, chương trình, bố trí nguồn các nguồn lực Nâng cao hơn nữa trách nhiệm của người đứng đầu các địa phương, cán bộ, đảng viên, lãnh đạo cấp ủy, chính quyền trong việc bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Ba là, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách thúc đẩy xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em Vận động và tạo điều kiện cho các đoàn thể, tổ chức xã hội, tổ chức phi chính phủ, tổ chức quốc tế tham gia bảo vệ, chăm sóc trẻ em Ngoài nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước, cần tăng cường huy động các nguồn lực từ cộng đồng, các tổ chức quốc tế cho công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Bốn là, từng bước mở rộng chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội nhằm tạo cơ hội cho mọi trẻ em đều được bảo vệ, chăm sóc, giáo dục dưới các hình thức khác nhau, ưu tiên nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và
có nguy cơ rơi vào hoàn cảnh đặc biệt; củng cố và phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ, chăm sóc trẻ em; xây dựng môi trường sống an toàn, thân thiện cho trẻ em; nâng cao mức trợ cấp xã hội và mở rộng đối tượng thụ hưởng đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, tạo cơ hội để trẻ em phục hồi và hòa nhập cộng đồng
Trang 36Năm là, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em hàng năm, giữa kỳ và cuối kỳ; phát hiện, xử lý kịp thời các hành vi vi phạm quyền trẻ em
Sáu là, tăng cường hợp tác quốc tế nhằm tranh thủ nguồn lực, kinh nghiệm về bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Bảy là, nâng cao vai trò của Nhà nước và trách nhiệm của xã hội trong
tổ chức cung ứng dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em Nhà nước có nhiệm vụ xác lập khung khổ pháp lý về bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói chung, xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nói riêng Trên cơ sở quan điểm, đường lối về bảo vệ, chăm sóc trẻ em, Nhà nước có trách nhiệm thể chế hóa quyền và trách nhiệm tham gia cung ứng dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em của các cá nhân, tổ chức, cộng đồng xã hội cũng như quyền được thụ hưởng các dịch vụ đó của mỗi người dân Bên cạnh đó, Nhà nước có nhiệm vụ đầu tư chủ yếu các nguồn lực con người, tài chính, đất đai cho công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ
em Mặc dù xã hội hóa công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em nhằm huy động tối
đa các nguồn lực trong nhân dân, nhưng trong mọi trường hợp nguồn đầu tư của nhà nước vẫn là nguồn đầu tư quan trọng, chủ yếu nhất, đặc biệt đối với các vùng sâu, vùng xa, ở cấp cơ sở - nơi mà các nhà đầu tư tư nhân khó có tiềm lực sức mạnh, khó tìm kiếm lợi ích, lợi nhuận; nơi người nghèo không
đủ sức mua dịch vụ bảo vệ, chăm sóc trẻ em Mặt khác, Nhà nước có nhiệm
vụ tạo lập cơ chế, chính sách đào tạo công chức, viên chức, cán bộ, cộng tác viên, tình nguyện viên bảo vệ, chăm sóc trẻ em Nhà nước là trung tâm tập hợp, huy động xã hội hóa bảo vệ, chăm sóc trẻ em; tạo lập môi trường phát triển, cạnh tranh lành mạnh trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em Nhà nước cần thực hiện tốt vai trò giám sát, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm luật pháp trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Trang 37Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy đảng, sự phối hợp giữa chính quyền với các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội và gia đình trong cộng đồng có ý nghĩa quyết định trong việc thực hiện các chủ trương, chính sách, các chương trình mục tiêu cho trẻ em ở địa phương nói chung và làng trẻ em SOS nói riêng Đặc biệt, hàng năm duy trì và phát triển
"Tháng hành động vì trẻ em" ngày càng thiết thực hơn bằng các công trình phúc lợi cho trẻ em, những hành động cụ thể giúp trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt đã trở thành nét truyền thống, thu hút được sự quan tâm của các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính quyền, các đảng viên và các gia đình thông qua hình thức tiếp xúc với trẻ em, lắng nghe ý kiến của các em, qua đó hiểu thêm nhu cầu và nguyện vọng của trẻ em Sự đóng góp công sức, nguồn lực của từng cơ
sở, địa phương đã góp phần tích cực thúc đẩy hiệu quả công tác quản lý xã hội đối với Làng trẻ em SOS
1.2 Một số văn bản pháp lý liên quan đến quản lý xã hội đối với hoạt động của Làng trẻ em SOS
1.2.1 Công ước về Quyền trẻ em
Công ước Liên Hiệp Quốc về quyền trẻ em là một Công ước Quốc tế quy định các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa của trẻ em Các quốc gia phê chuẩn công ước này chịu ràng buộc của các quy định công ước này theo luật quốc tế Cơ quan giám sát thi hành công ước này là Ủy ban quyền trẻ em Liên Hiệp Quốc bao gồm các thành viên từ các quốc gia trên khắp thế giới Mỗi năm một lần, Ủy ban này đệ trình bày một bản báo cáo cho Ủy ban thứ 3 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, và cũng nghe Chủ tịch Ủy ban công ước này báo cáo, và Đại hội đồng ra một nghị quyết về quyền trẻ em
Các quốc gia đã phê chuẩn công ước này phải báo báo trước Ủy ban về quyền trẻ em Liên Hiệp Quốc theo định kỳ để ủy ban này kiểm tra quá trình tiến triển trong việc thực thi công ước và tình trạng quyền trẻ em ở quốc gia đó
Trang 38Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và nước thứ 2 trên thế giới phê chuẩn công ước của Liên Hiệp quốc về Quyền trẻ em vào ngày 20 tháng 2 năm 1990 Điểm chính của Công ước Quốc tế về Quyền Trẻ em 1989 yêu cầu: “Các quốc gia thành viên phải bảo đảm cho trẻ em có đủ khả năng hình thành quan điểm riêng của mình, được quyền tự do phát biểu những quan điểm đó về mọi vấn đề tác động đến trẻ em, và những quan điểm của trẻ em phải được coi trọng một cách thích đáng, tương ứng với độ tuổi và mức độ trưởng thành của trẻ em”
Trong văn bản gốc có đến 54 mục trong một ngôn ngữ rất phức tạp và chắc chắn không dễ hiểu với trẻ UNICEF, tổ chức về quyền trẻ em của Liên Hiệp Quốc, tóm lược văn bản 20 trang này trong mười quyền cơ bản:
- Quyền được đối xử bình đẳng và bảo vệ chống lại sự kỳ thị phân biệt tôn giáo, nguồn gốc và bình đẳng giới;
- Quyền có tên gọi và quốc tịch;
- Quyền về sức khỏe và y tế;
- Quyền được giáo dục và đào tạo;
- Quyền giải trí, vui chơi và tiêu khiển;
- Quyền tự tìm hiểu thông tin, quyền phát biểu, quyền được lắng nghe
- Quyền có một gia đình, được sự chăm sóc của cha mẹ và có một chỗ trú ngụ an toàn;
- Quyền được chăm sóc cho trẻ em khuyết tật
Trang 39Trong thực tế điều này có nghĩa rằng trẻ em có quyền được sống trong một môi trường an toàn mà không bị phân biệt đối xử Trẻ em có quyền tiếp cận nước, thức ăn, được chăm sóc y tế, giáo dục và có tiếng nói trong các quyết định có ảnh hưởng đến hạnh phúc, phúc lợi của trẻ
1.2.2 Khung pháp lí cơ bản liên quan đến việc tổ chức và hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em ở Việt Nam
Luật pháp tổng thể và cơ bản nhất liên quan đến phúc lợi cho trẻ em ở Việt Nam là Luật Trẻ em (2016) Luật này được xây dựng phù hợp với các điều khoản của Công ước Qua luật này, Việt Nam cũng thể hiện được cam kết của mình với việc tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế
Một số chính sách hiện hành có liên quan trực tiếp tới chăm sóc các đối tượng tại các cơ sở bảo trợ xã hội như Chính sách trợ giúp xã hội (Nghị định 136/2013/NĐ-CP) quy định chính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội Quyết định 647/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt
đề án Chăm sóc trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn dựa vào cộng đồng…Đặc biệt Nghị định số 103/2017/NĐ-CP của Chính phủ quy định về thành lập, tổ chức, hoạt động, giải thể và quản lý các cơ sở trợ giúp xã hội
Những văn bản này đã xác định quy mô và cách thức cung cấp dịch vụ tại các cơ sở chăm sóc Tuy nhiên, những văn bản này còn mang tính chính sách, mong muốn nhiều hơn Để thực hiện nó rất cần những hướng dẫn mang tính thực hành Các tiêu chuẩn chăm sóc, cung cấp hướng dẫn cách hiểu, triển khai chính sách pháp lý và không mâu thuẫn với chính sách hiện hành
1.2.3 Cơ sở pháp lí liên quan đến việc tổ chức và hoạt động chăm sóc nuôi dưỡng trẻ em tại địa bàn Hà Nội
Ngày 16/11/2011, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội ban hành Quyết định 34/2011/QĐ-UBND quy định mức trợ cấp xã hội hàng tháng cho các đối tượng bảo trợ xã hội sống tại cộng đồng do xã, phường, thị trấn
Trang 40quản lý Theo đó, mức chuẩn trợ cấp cho các đối tượng bảo trợ xã hội là 350.000 đồng/tháng đối với hệ số 1.0 Đối với nhóm trẻ em mồ côi cả cha
và mẹ, trẻ em bị bỏ rơi, mất nguồn nuôi dưỡng; Trẻ em mồ côi cha hoặc mẹ nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha mất tích hoặc không đủ năng lực, khả năng để nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật; Trẻ em có cha và mẹ, hoặc cha hoặc mẹ đang trong thời gian chấp hành hình phạt tù tại trại giam, không còn người nuôi dưỡng hệ số áp dụng là 2.0
Đối với chính sách hỗ trợ giáo dục cho trẻ mồ côi không nơi nương tựa, trẻ em bị bỏ rơi, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội quy định: Trường hợp mồ côi cả cha và mẹ; mồ côi cha hoặc mẹ (nhưng người còn lại là mẹ hoặc cha bị mất tích hoặc không đủ khả năng nuôi dưỡng theo quy định của pháp luật hiện hành); bị bỏ rơi, bị mất nguồn nuôi dưỡng và không có người thân thích
để nương tựa thì được miễn 100% học phí và được cấp một lần 120.000 đồng/năm/học sinh để mua sách vở, đồ dùng học tập
Với mục tiêu tạo dựng môi trường sống an toàn, lành mạnh để tất cả trẻ
em đều được bảo vệ, trong đó ưu tiên nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt và nhóm trẻ em có nguy cơ cao rơi vào hoàn cảnh đặc biệt Ngày 10/4/2013, Ủy ban nhân dân Thành phố Hà Nội đã ban hành Kế hoạch số 59/KH-UBND về việc thực hiện Chương trình Quốc gia Bảo vệ Trẻ em trên địa bàn Thành phố
Hà Nội 2013 Kế hoạch đề ra nhiệm vụ cụ thể trong năm 2013, bao gồm: Truyền thông, giáo dục, vận động xã hội; Nâng cao năng lực cho đội ngũ cán
bộ, cộng tác viên, tình nguyện viên tham gia công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em; Xây dựng và phát triển hệ thống cung cấp dịch vụ bảo vệ trẻ em; Xây dựng và nhân rộng các mô hình trợ giúp trẻ em có hoàn cảnh dựa vào cộng đồng; Nâng cao năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ, chăm sóc trẻ em
Từ góc độ hiến pháp, luật pháp đến các chương trình, đề án, chính sách,
kế hoạch hành động được ban hành đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt của Đảng