Để chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế cao thì cần phải có con giống tốt, muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản có một vai trò đặc biệt quan trọng bởi vì ngoài việc chọn đư
Đặ t v ấn đề
Hiện nay, ngành chăn nuôi ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong việc phát triển kinh tế hộgia đình và kinh tế trang trại cũng như nền kinh tế cả nước Các sản phẩm chăn nuôi ngày càng nhiều và đa dạng nhờ việc áp dụng những thành tựu khoa học kĩ thuật tiên tiến vào chăn nuôi Những sản phẩm chăn nuôi có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu tiêu dùng Chăn nuôi lợn là ngành cung cấp thịt chủ yếu và đóng vai trò quan trọng ở Việt Nam, phù hợp với thị hiếu người dân Theo Tổng Cục Thống kê năm 2018, đàn lợn trong năm tiếp tục tăng trưởng tốt cả về đầu con và sản lượng, so với kế hoạch 2018 đề ra, ước tính trong năm 2018 đạt trên 3,81 triệu tấn, tăng 2,2% so với năm 2017 (kế hoạch năm 2018 là 3,77 triệu tấn, tăng 1% so với năm 2017)
Cụ thể về chăn nuôi lợn, đề án đặt mục tiêu nâng sản lượng thịt lợn xuất chuồng từ 3.48 triệu tấn hiện nay lên từ 4,7 đến 5 triệu tấn - chiếm 60% tỷ trọng sản lượng thịt cảnước vào năm 2020 Đểđạt được các chỉtiêu đó nhà nước cần có những chính sách khuyến khích để phát triển ngành chăn nuôi lợn Để chăn nuôi lợn đạt hiệu quả kinh tế cao thì cần phải có con giống tốt, muốn có giống lợn tốt thì chăn nuôi lợn nái sinh sản có một vai trò đặc biệt quan trọng bởi vì ngoài việc chọn được giống lợn có khả năng sinh trưởng nhanh, tỷ lệ thịt nạc cao, tiêu tốn thức ăn thấp thì việc nuôi dưỡng, chăm sóc và quản lý dịch bệnh cho lợn nái và lợn con theo mẹ là rất quan trọng Nếu nuôi dưỡng, chăm sóc, quản lý lợn nái và lợn con không đúng kỹ thuật thì chất lượng đàn con sẽkém, do đó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của lợn con ởgiai đoạn sau và hiệu quảchăn nuôi sẽ thấp
Trong quá trình nuôi dưỡng, chăm sóc lợn nái nuôi con và lợn con theo mẹsau khi đẻ còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại, đặc biệt là những bệnh dịch thường xuyên xảy ra ở lợn nái nuôi con sau khi đẻ và lợn con theo mẹ
Xuất phát từtình hình đó, để góp phần nâng cao hiệu quả nuôi lợn trong điều kiện chăn nuôi hiện nay, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Th ự c hi ệ n quy trình chăm sóc, nuôi dưỡ ng, phòng tr ị b ệ nh cho l ợ n nái sinh s ả n và l ợ n con theo m ẹ t ạ i trang tr ạ i Ngô Th ị H ồ ng G ấ m, huy ện Lương Sơn, t ỉ nh Hòa Bình ’’
M ụ c tiêu và yêu c ầ u c ủa chuyên đề
M ụ c tiêu
- Thực hiện được quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng, trị bệnh trên đàn lợn nái nuôi con tại cơ sở.
- Rèn luyện tay nghề nâng cao hiểu biết kinh nghiệm thực tế.
- Góp phần giúp cơ sở nâng cao năng suất, chất lượng chăn nuôi
- Đánh giá được tình hình chăn nuôi tại cơ sở
- Xác định được quy trình nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng, trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trại có hiệu quả cao.
Yêu c ầ u
- Đáp ứng nhu cầu thực tiễn, nâng cao năng suất đàn lợn giống, góp phần vào sự phát triển kinh tế
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản và lợn con theo mẹ tại trang trại Ngô Thị Hồng Gấm, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Xác định được tình hình mắc bệnh, áp dụng và đánh giá hiệu quả điều trị bệnh ở lợn nái và lợn con
Điề u ki ện cơ sở th ự c t ậ p
Điề u ki ệ n t ự nhiên, cơ sở v ậ t ch ấ t c ủa cơ sở th ự c t ậ p
Trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm nằm trên địa phận thôn Dẻ Cau, xã Hợp Thanh, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình Trang trại là trại lợn gia công của Công ty Chăn nuôi CP Việt Nam, hoạt động theo phương thức chủ trại xây dựng cơ sở vật chất, thuê công nhân, công ty cung cấp giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại do bà Ngô Thị Hồng Gấm làm chủ trại, cán bộ kỹ thuật của Công ty cổ phần Chăn nuôi CP Việt Nam chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trang trại
Trang trại có tổng diện tích 6 ha, trong đó khu chăn nuôi cùng khu nhà ở, các công trình phụ khác và đất trồng cây xanh, cây ăn quả, ao hồ chiếm diện tích 3 ha Diện tích còn lại là đồi núi
Khu chăn nuôi chia làm hai khu riêng biệt gồm chăn nuôi lợn và chăn nuôi gà Trong đó, khu chăn nuôi lợn chuyên chăn nuôi lợn nái sinh sản với các giống sản xuất chính như: lợn nái lai giữa 2 dòng giống Landrace với Yorshire
Hiện nay, trại có hơn 1275 con lợn nái, 160 nái hậu bị, 21 con đực giống, 33254 con lợn cai sữa Trại chia làm hai khu là khu điều hành và khu sản xuất Khu điều hành gồm nơi ăn, ở của công nhân và nơi làm việc của quản lý trại Khu sản xuất gồm 3 chuồng đẻ (1A, 1B; 2A, 2B; 3A, 3B), 2 chuồng bầu (bầu 1 - chứa cả đực giống, , bầu 2, 1 chuồng cách ly), kho cám, kho thuốc, nhà điều hành, nhà sát trùng Trại luôn thực hiện tốt các quy trình
4 chăm sóc, ứng dụng tốt các quy trình nuôi lợn theo kỹ thuật cao từ khâu chọn giống đến kỹ thuật chăn nuôi Trại được chia làm nhiều phân khu chuồng trại liên hoàn nhau để nuôi lợn theo từng giai đoạn riêng và áp dụng chế độ nuôi dưỡng phù hợp với từng loại lợn Thức ăn cho lợn ở mỗi giai đoạn dinh dưỡng cũng phải khác nhau Lợn được nuôi trong chuồng kín có hệ thống cảm biến nhiệt độ, hệ thống quạt gió, hệ thống điều hòa, hệ thống dàn mát tự động và sưởi ấm đủ yêu cầu về nhiệt độ Trang trại có 2 kỹ thuật chính, 1 cấp dưỡng, 1 quản lý, 17 công nhân, 1 kỹ thuật cơ khí, 1 bảo vệ, 2 trưởng chuồng và 5 sinh viên thực tập
Mỗi con lợn có một thẻ nái riêng về việc phối tinh, đẻ, xuất chuồng, cai sữa đều chính xác đến từng ngày Để phòng tránh dịch bệnh, khu chuồng nuôi được quản lý nghiêm ngặt Từ nhân viên trong trại cho đến khách, muốn vào chuồng lợn đều phải thay quần áo, đeo khẩu trang, ủng chuyên dùng và phải đi qua hệ thống sát trùng Xung quanh trang trại được trồng cây xanh, cây ăn quả, đào những hồ sinh học tạo môi trường thông thoáng cho lợn sinh trưởng Nguồn nước thải rửa chuồng trại, xả gầm được xử lý qua hệ thống thoát nước ngầm Mô hình chăn nuôi của trại Ngô Thị Hồng Gấm, không chỉđem lại hiệu quả kinh tế cao, mà còn là mô hình phát triển bền vững, hiện đại Đây cũng là nơi rất tốt cho sinh viên đến thực tập, trải nghiệm nâng cao tay nghề.
Điề u ki ệ n khí h ậ u
Về điều kiện tự nhiên và các yếu tố khí hậu của huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình có thểkhái quát như sau:
Lương Sơn là một huyện vùng thấpbán sơn địa của tỉnh Hoà Bình, có địa hình phổ biến là núi thấp và đồng bằng Độ cao trung bình của toàn huyện so vớimực nước biểnlà 251 mét, có địa thế nghiêng đều theo chiều từ tây bắc xuông đông nam, là nơi tiếp giáp giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng và miền núi tây bắc Bắc Bộ Đặc điểm nổi bật của địa hình nơi đây là có những
5 dãy núi thấp chạy dài xen kẽ các khối núi đá vôi với những hang động Có nhiều khe suối, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo đan xen tạo nên cảnh sắc thơ mộng.
Khí hậu Lương Sơn mang đặc trưng khí hậu của vùng nhiệt đới gió mùa Mùa đông bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 3, mùa hè bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 Lượng mưa trung bình là 1.769mm Do có nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau nên huyện có thể phát triển cây trồng, vật nuôi phong phú, đa dạng theo hướng tập đoàn.
Trên địa bàn huyện Lương Sơn có những danh lam thắng cảnh, di chỉ khảo cổhàng năm có thể thu hút một lượng đáng kể khách du lịch như hang
Trầm, hang Rổng, hang Tằm, hang Trâu, mái đá Diềm, núi Vua Bà
Cơ cấ u t ổ ch ứ c c ủ a tr ạ i
Trại gồm có 30 người trong đó có :
+ 2 kỹsư chính của công ty
+ 2 tổtrưởng (1 chuồng bầu, 1 chuồng đẻ)
Thu ậ n l ợi và khó khăn củ a tr ạ i
+ Trại được xây dựng cách xa khu dân cư, không làm ảnh hưởng đến người dân xung quanh
+ Đội ngũ quản lý, cán bộ kỹ thuật, công nhân của trại có năng lực, năng động, nhiệt tình và có trách nhiệm trong công việc
+ Trại được xây dựng theo mô hình công nghiệp, trang thiết bị hiện đại, do đó rất phù hợp với điều kiện chăn nuôi lợn công nghiệp hiện nay
+ Trại nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết diễn biến phức tạp nên khâu phòng trừ bệnh gặp nhiều khó khăn
+ Dịch bệnh diễn biến phức tạp nên chi phí dành cho phòng và chữa bệnh cao.
Đối tượ ng và các k ế t qu ả s ả n xu ấ t c ủ a trang tr ạ i
Trang trại chuyên nuôi lợn sinh sản, cung cấp giống lợn lai giữa Landrace - Yorkshire, lợn sau khi sinh 21 - 23 ngày thì được xuất chuồng
2.1.5.2 Kết quả sản xuất của cơ sở trong những năm gần đây
Trang trại chăn nuôi của bà Ngô Thị Hồng Gấm là một trong những trang trại có quy mô công nghiệp, với số vốn đầu tư lớn, áp dụng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất, trại luôn đạt kết quả sản xuất cao Dưới đây là một số chỉ tiêu mà trại đã đạt được trong 3 năm gần đây:
Bảng 2.1: Kết quả sản xuất của trại
Số lứa đẻ/nái/năm (con) 2,24 2,3 2,37
Lợn con chết và loại sau sinh (%) 7,7 8,2 6,8
Số lợn con cai sữa (con) 29520 20275 33254
(Nguồn: Cán bộ kỹ thuật trại)
Qua bảng trên ta có thể thấy, kết quả sản xuất của trại tăng lên theo từng năm: số lợn đực giống từ năm 2016 là 19 con, tới năm 2018 tăng lên 21 con Số lợn nái hậu bị từ năm 2016 là 137 nái, tới năm 2018 tăng lên 160 nái
Số lợn nái sinh sản năm 2016 là 1153 nái, tới năm 2018 tăng lên 1275 nái Tỷ lệ phối đậu thai từ 85,63% (năm 2016) tăng lên 89,60% (năm 2018) Số lợn con cai sữa tăng lên, năm 2016 là 29520 con, năm 2018 đã đạt 33254 con Để đạt được những kết quả như trên, ngoài việc áp dụng khoa học kỹ thuật, đầu tư trang thiết bị cơ sở vật chất, đội ngũ nhân viên có tay nghề cao…, trang trại đã tuân thủ nghiêm ngặt các yêu cầu về vệ sinh thú y, với phương châm “phòng dịch hơn dập dịch” Trang trại chăn nuôi của bà Ngô
Thị Hồng Gấm là một điển hình về mô hình chăn nuôi gia công theo hướng công nghiệp hóa hiện nay.
Cơ sở tài li ệu liên quan đến chuyên đề
Nh ữ ng hi ể u bi ế t v ề quá trình chăm sóc và nuôi dưỡ ng l ợ n nái sinh s ả n
* Quy trình chăm sóc lợn nái
- Chăm sóc lợn nái mang thai:
Lợn nái chửa được nuôi chủ yếu ở chuồng mang thai 1 và 2 Hàng ngày chúng tôi vào kiểm tra lợn để phát hiện lợn phối không đạt, lợn nái bị sảy thai, lợn mang thai giả, vệ sinh, dọn phân không để cho lợn nằm đè lên phân, lấy thức ăn cho lợn ăn, rửa máng, phun thuốc sát trùng hàng ngày, xịt gầm, cuối giờ chiều phải chở phân ra khu xử lý phân Lợn nái chửa được ăn loại thức ăn 566SF, 567SF với khẩu phần ăn phân theo tuần chửa, thể trạng, lứa đẻ như sau:
8 Đối với nái chửa từ tuần 1 đến tuần chửa 12 ăn thức ăn 566 với tiêu chuẩn 1,5 - 2 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày Đối với nái chửa từ tuần 13 đến tuần chửa 14 ăn thức ăn 566 với tiêu chuẩn 2,2 - 3 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày Đối với nái chửa từ tuần 15 trở đi ăn thức ăn 567SF với tiêu chuẩn 3,5 -
4 kg/con/ngày, cho ăn 1 lần trong ngày
Chú ý: lợn gầy và bụng lợn đểđiều chỉnh thức ăn cho phù hợp
- Chăm sóc lợn nái đẻ:
Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng đẻtrước ngày đẻ dự kiến 7 - 10 ngày Trước khi chuyển lợn lên chuồng đẻ, chuồng phải được dọn dẹp và rửa sạch sẽ Lợn chuyển lên phải được ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu mỗi ô chuồng Thức ăn của lợn chờ đẻ được cho ăn với tiêu chuẩn ăn 3 kg/ngày, chia làm 2 bữa sáng, chiều
Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 3 ngày, giảm tiêu chuẩn ăn xuống 0,5 kg/con/bữa
Khi lợn nái đẻ được 2 ngày tăng dần lượng thức ăn từ 0,5 – 4 kg/con/ngày chia làm hai bữa sáng, chiều mỗi bữa tăng lên 0,5 kg Đối với nái nuôi con quá gầy hoặc nuôi nhiều con có thể cho ăn tăng lượng thức ăn lên 6 kg/con/ngày
2.2.1.2 Quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái nuôi con
Lượng thức ăn cho lợn nái nuôi con cũng đóng vai trò quan trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến sinh trưởng và khả năng điều tiết sữa của lợn mẹ, chính vì vậy ta cần phải có một khẩu phần ăn hợp lý và đầy đủ dinh dưỡng cho lợn mẹ
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [7], trong quá trình nuôi con, lợn nái được cho ăn như sau:
- Đối với lợn nái ngoại:
+ Ngày cắn ổ đẻ: cho lợn nái ăn ít thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh (0,5 kg) hoặc không cho ăn, nhưng cho uống nước tự do.
+ Sau ngày đẻ thứ 1, 2 và 3 cho ăn thức ăn hỗn hợp với lượng thức ăn từ
+ Ngày nuôi con thứ 4 đến ngày thứ 7: cho ăn 4 kg thức ăn hỗn hợp/nái/ngày.
+ Từ ngày thứ 8 đến cai sữa cho ăn theo công thức:
Lượng thức ăn/nái/ngày = 2 kg + (số con x 0,35 kg/con)
+ Số bữa ăn trên ngày: 2 (sáng và chiều)
+ Nếu lợn mẹ gầy thì cho ăn thêm 0,5 kg, lợn mẹ béo thì giảm 0,5 kg thức ăn/ngày
+ Ngoài ra cho lợn nái ăn từ 1 - 2 kg rau xanh/ngày sau bữa ăn tinh (nếu có rau xanh)
+ Một ngày trước ngày cai sữa lượng thức ăn của lợn mẹ giảm đi 20 - 30% + Ngày cai sữa cho lợn mẹ nhịn ăn, hạn chế uống nước.
Sữa mẹ là nguồn dinh dưỡng chủ yếu không thể thay thế được trong những giai đoạn đầu tiên sau khi sinh của lợn con, sản lượng của sữa mẹ và khối lượng của lợn con khi cai sữa liên quan mật thiết đến nhau, nếu lợn mẹ có sản lượng sữa cao thì khối lượng lợn con khi cai sữa cao và ngược lại
Tiết sữa của lợn nái trong quá trình nuôi con là một quá trình sinh lý phức tạp, do có những đặc điểm khác với gia súc khác là bầu vú của lợn nái không có bể sữa nên lợn nái không dự trữ sữa trong bầu vú, do vậy lợn mẹ không tiết sữa tùy tiện được và lợn con không phải lúc nào cũng bú được sữa mẹ.
Lợn con dùng mõm thúc vào vú lợn mẹ, thời gian thúc vú của lợn con có thể từ 5 - 7 phút, sau đó nằm im hoàn toàn và bú Sữa tiết ra rõ nhất là lúc lợn mẹ kêu ịt ịt, lợn con mút chặt đầu vú, hai chân trước đạp thẳng vào bầu vú, nằm yên theo sự tiết sữa của lợn mẹ Do thời gian tiết sữa của lợn mẹ rất ngắn chỉ khoảng 25 - 30 giây, nên một ngày lợn con phải bú nhiều lần mới đủ so với nhu cầu Trong những ngày đầu sau khi sinh lợn con bú từ 20 - 25 lần trên ngày, mỗi lần lượng sữa tiết ra 25 - 35 gam/con
Lượng sữa của lợn nái tiết ra cao dần từ lúc mới đẻ, cao nhất lúc 21 ngày sau khi đẻ, sau đó giảm dần.
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiết sữa của lợn nái như giống, cá thể, tuổi và lứa đẻ, số con đẻ ra/lứa, nuôi dưỡng và chăm sóc
Kỹ thuật nuôi dưỡng lợn con theo mẹ
* Quy trình chăm sóc đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa
Ngay sau khi đẻ ra lợn được tiến hành cắt rốn, bấm nanh
Lợn con 2 - 3 ngày tuổi được cắt số tai, cắt đuôi và tiêm chế phẩm fe - dextran
- b12 10%, cho uống thuốc phòng phân trắng lợn con và tiêu chảy
Lợn con 3 - 4 ngày tuổi cho lợn con uống thuốc phòng cầu trùng
Lợn con 4 - 5 ngày tuổi tiến hành thiến lợn đực
Lợn con được từ 4 - 6 ngày tuổi tập cho ăn bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh 550SF
Lợn con được 10 - 14 ngày tuổi tiêm vắc xin mycoplasma
Lợn con được 16 - 18 ngày tuổi tiêm phòng vắc xin dịch tả
Lợn con được 21 - 26 ngày tuổi tiến hành cai sữa cho lợn con
Lợn con đẻ ra cần được bú sữa đầu càng sớm càng tốt Thời gian tiết sữa đầu của lợn mẹ là 1 tuần kể từ khi đẻ nhưng có ý nghĩa lớn nhất đối với cả đàn là trong 24 giờ đầu Sau khoảng 2 giờ, nếu lợn mẹ đẻ xong thì nên cho những con đẻ trước bú trước.
Sữa đầu có hàm lượng các chất dinh dưỡng rất cao Hàm lượng protein trong sữa đầu gấp 2 lần so với sữa thường, vitamin A gấp 5 - 6 lần, vitamin C gấp 2,5 lần, vitamin B1 và sắt gấp 2,5 lần Đặc biệt trong sữa đầu có hàm lượng globulin mà sữa thường không có Ngoài ra, Mg ++ trong sữa đầu có tác dụng tẩy các chất cặn bã trong quá trình tiêu hóa ở thời kỳ phát triển thai, để hấp thu chất dinh dưỡng mới, nếu không nhận được Mg ++ thì lợn con sẽ bị rối loạn tiêu hóa, gây ỉa chảy tỷ với lệ chết cao.
2.2.2.2 Bổ sung sắt cho lợn con
Nên tiêm chế phẩm củasắt cho lợn con trong 3 - 4 ngày đầu sau khi sinh Việc tiêm sắt thường cùng làm với thao tác khác để tiết kiệm công lao động Nếu cai sữa lợn con ở lúc 3 tuần tuổi, tiêm 1 lần 100 mg chế phẩm sắt là đủ Nếu cai sữa sau 3 tuần tuổi, nên tiêm 200 mg sắt chia làm 2 lần, lần 1 tiêm lúc
3 ngày tuổi, lần 2 tiêm lúc 10 - 13 ngày tuổi Trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm tiến hành cai sữa cho lợn con lúc 21 ngày tuổi nên chúng tôi bổ sung chế phẩm sắt fe+b12 một lần.
Triệu chứng điển hình của thiếu sắt là thiếu máu, hàm lượng hemoglobin giảm Khi thiếu sắt, da lợn con có màu trắng xanh, đôi khi lợn con bị ỉa chảy, ỉa phân trắng, lợn con chậm lớn có khi tử vong.
2.2.2.3 Tập cho lợn con ăn sớm
Mục đích của việc cho lợn con ăn sớm là để bổ sung thức ăn sớm cho lợn con Lợn con ăn được thức ăn có rất nhiều tác dụng: đảm bảo cho lợn con sinh trưởng phát triển bình thường, không hoặc ít bị stress, không bị thiếu hụt dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển nhanh của lợn con sau 3 tuần tuổi và khi cai sữa, giảm tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ
Thúc đẩy bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh và sớm hoàn thiện hơn Khi bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì kích thích vào tế bào vách dạ dày tiết ra HCl ở dạng tự do sớm hơn và tăng cường phản xạ tiết dịch vị.
Giảm tỷ lệ hao hụt của lợn nái Nếu không bổ sung thức ăn sớm cho lợn con thì tỷ lệ hao hụt của lợn nái cao, nhất là đối với lợn nái được nuôi kém, có khi tỷ lệ hao hụt lên tới 30%, sẽ làm giảm số lứa đẻ trong một năm (tỷ lệ hao hụt trung bình của lợn nái là 15%).
Nâng cao được khối lượng cai sữa lợn con, qua nghiên cứu cho thấy rằng khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng tới 57% của thức ăn bổ sung, trong khi đó chịu ảnh hưởng của sữa mẹ khoảng 38% và khối lượng sơ sinh là 5% Qua nhiều thí nghiệm và thực tế chứng minh rằng những lợn con được tập ăn sớm thì tăng khối lượng nhanh hơn, tỷ lệ mắc bệnh ít hơn Giúp cho lợn con làm quen với thức ăn và sớm biết ăn tốt để tạo điều kiện cho việc cai sữa sớm hơn Hạn chế tình trạng nhiễm ký sinh trùng và vi khuẩn do lợn con hay gặm nhấm nền chuồng, thành chuồng Thường sau 6 - 10 ngày tuổi lợn con mọc thêm răng nên hay ngứa lợi, nên có thức ăn nhấm nháp cả ngày đỡ ngứa lợi thì lợn con bớt gặm lung tung.
Lợn cai sữa sớm lúc 21 ngày tuổi thì phải tập cho lợn con ăn từ lúc 5 ngày tuổi, tốt nhất là nên sử dụng loại thức ăn hoàn chỉnh sản xuất dành riêng cho lợn con tập ăn đến 8 kg Thức ăn tập ăn sớm cho lợn con thường ép thành dạng mảnh như cốm, thơm ngon, vệ sinh sạch sẽ.
Nh ữ ng hi ể u bi ế t v ề phòng, tr ị b ệ nh cho v ậ t nuôi
Như ta đã biết ‘‘Phòng bệnh hơn chữa bệnh’’‚ nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Các biện pháp phòng bệnh tổng hợp được đưa lên hàng đầu, xoay quanh các yếu tố môi trường, mầm bệnh, vật chủ Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp nhiều biện pháp khác nhau.
- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:
Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2005) [8] bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, hoặc không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã được đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh tật trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lan truyền các tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn
-Vệ sinh chuồngtrại và thiết bị chăn nuôi
Chuồng trại phải đảm bảo phù hợp với từng đối tượng vật nuôi, thoáng mát mùa hè, ấm áp mùa đông, đảm bảo cách ly với môi trường xung quanh
Tẩy uế chuồng trại sau mỗi lứa nuôi bằng phương pháp: Rửa sạch, để khô sau đó phun sát trùng bằng các loại thuốc sát trùng và trống chuồng ít nhất 15 ngày với vật nuôi thương phẩm, 30 ngày đối với vật nuôi sinh sản Với những chuồng nuôi lưu cữu hoặc chuồng nuôi có vật nuôi bị bệnh truyền nhiễm, cần
14 phải vệ sinh tổng thể và triệt để: Sau khi đưa hết vật nuôi ra khỏi chuồng, xử lý theo hướng dẫn của thú y, cần phun sát trùng kỹ (pha dung dịch sát trùng và phun theo hướng dẫn khi chống dịch) toàn bộ chuồng nuôi từ mái, các dụng cụ và môi trường xung quanh, để khô và dọn, rửa Các chất thải rắn trong chăn nuôi cần thu gom để đốt hoặc ủ sinh học; chất thải lỏng, nước rửa chuồng cần thu gom để xử lý, không thải trực tiếp ra môi trường Cần phun sát trùng 1 - 2 lần/tuần trong suốt thời gian trống chuồng, ít nhất trong 30 ngày Các thiết bị, dụng cụchăn nuôi cần rửa sạch, phơi khô, sát trùng và đưa vào kho bảo quản Vệ sinh và phun sát trùng xung quanh chuồng nuôi Lịch sát trùng được trình bày qua bảng 2.2:
Bảng 2.2: Lịch phun thuốc sát trùng của trại
Chuồng bầu Chuồng đẻ Chuồng cách ly
Thứ 2 Quét hoặc rắc vôi hành lang
Phun sát trùng + rắc vôi Phun sát trùng Phun sát trùng toàn bộ khu vực
Thứ 3 Phun sát trùng Quét hành lang
Quét hoặc rắc vôi đường đi
Thứ 4 Xả vôi xút gầm Phun sát trùng Rắc vôi
Thứ 5 Phun ghẻ Phun sát trùng
Quét vôi đường liên chuồng
Thứ 6 Phun sát trùng Phun sát trùng
+ rắc vôi Phun sát trùng Phun sát trùng
Thứ 7 Vệ sinh tổng chuồng
Chủ nhật Phun sát trùng Phun sát trùng
(Nguồn: Phòng kỹ thuật công ty CP Việt Nam)
Quy trình tiêm phòng, phòng bệnh cho đàn lợn nái của trại được thực hiện tích cực, thường xuyên và bắt buộc Quy trình này được thực hiện rõ qua bảng 2.3:
Bảng 2.3: Lịch phòng vaccine của trại lợn nái
Tuổi Vaccine Phòng bệnh Liều
Sau khi nhập về 1 tuần
PRRS Tai xanh 2 Tiêm bắp
Sau khi nhập về 2 tuần Farrowsure Khô thai + doramectin 2 Tiêm bắp
Sau khi nhập về 3 tuần
Coglapets Dịch tả 2 Tiêm bắp
Sau khi nhập về 4 tuần
Sau khi nhập về 5 tuần
PRRS Tai xanh 2 Tiêm bắp
Sau khi nhập về 6 tuần
Coglapets Dịch tả 2 Tiêm bắp
Tháng 2, 6 Coglapets Dịch tả 2 Tiêm bắp
Bengonia Giả dại 2 Tiêm bắp
PRRS Tai xanh 2 Tiêm bắp
(Nguồn: Phòng Kỹ Thuật công ty CP Việt Nam)
16 Định kỳhàng năm vào tháng 4; 8; 12 tiêm phòng bệnh tổng đàn vắc xin giả dại begonia vào bắp 2 ml/con Đối với lợn đực:
- Lợn đực hậu bị mới nhập về: 3 tuần tiêm phòng vắc xin dịch tả colapets, 4 tuần tiêm phòng vắc xin lở mồm long móng aftopor, vắc xin giả dại begonia
- Lợn đực khai thác tiêm phòng vào tháng 5, tháng 11 vắc xin dịch tả colapets Tháng 4; 8; 12 tiêm phòng vắc xin lở mồm long móng aftopor, vắc xin giả dại begonia
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [5] nguyên tắc để điều trị bệnh là:
+ Toàn diện: phải phối hợp nhiều biện pháp như hộ lý, dinh dưỡng, dùng thuốc.
+ Điều trị sớm trên cơ sở chẩn đoán đúng bệnh để dễ lành bệnh và hạn chế lây lan.
+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp chữa triệu chứng.
+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền
+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa.
+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa.
Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [5] các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:
+ Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu, phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của bệnh
+ Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc đã mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố)
+ Dùng kháng sinh: Kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng, do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo những nguyên tắc sau đây:
- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn.
- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng.
- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh.
- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh để làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tăng tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc.
- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, nước sinh lý…
Nh ữ ng hi ể u bi ế t v ề nh ữ ng b ệnh thườ ng g ặp trên đàn lợ n nái sinh s ả n và
s ả n và l ợ n con theo m ẹ t ại cơ sở
Cổ tử cung, mép âm hộ bị rách khi đẻ gây nhiễm trùng kế phát khi viêm Do thao tác kỹ thuật lúc đỡ đẻ không vệ sinh gây sây sát niêm mạc tử cung Do vệ sinh nề chuồng kém, kế phát do sót nhau
Sau khi đẻ 1-10 ngày, nái ăn ít, sốt cao 40-41 0 C (sốt theo quy luật lên xuống: sáng sốt nhẹ 39-39,5 0 C, chiều sốt cao), thường sốt vào buổi chiều lúc 3-5 giờ, âm hộ chảy nước đục màu trắng, mùi hôi tanh
Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn tới khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con
- Phòng bệnh: Vệ sinh chuồng nái đẻ 1 tuần trước đẻ, rắc vối bột hoặc nước vôi 20% sau rửa sạch bằng nước thường Tắm cho lợn nái trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú Vệ sinh tay và dụng cụ đỡ đẻ Sau khi đẻ thụt rửa bằng dung dịch thuốc tím hoặc muối sinh lý
- Trần Minh Châu (1996) [2] cho biết, khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn Mycoplasma, các cầu khuẩn, vi khuẩn đường ruột xâm nhập gây viêm vú
+ Do kế phát từ một số bệnh: Sót nhau, viêm tử cung, bại liệt sau đẻ, viêm bàng quang… khi lợn nái bị những bệnh này vi khuẩn theo máu về tuyến vú cư trú tại đây và gây bệnh.
+ Lợn nái tốt sữa, lợn con bú không hết hoặc lợn nái cho con bú một hàng vú, hàng vú còn lại căng sữa Lợn con bú làm xây xát bầu vú hoặc lợn con bị bệnh không bú, sữa xuống nhiều bầu vú căng dễ dẫn đến viêm
+ Do quá trình chăm sóc nuôi dưỡng kém, chất độn chuồng và ổ đẻ bẩn, sau khi đẻ bầu vú không được vệ sinh sạch, hàng ngày không vệ sinh bầu vú, thời tiết quá ẩm kéo dài, nhiệt độ thay đổi đột ngột dẫn đến viêm.
Vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy hơi nóng và cứng, ấn vào lợn nái thấy phản ứng đau Lợn giảm ăn hoặc bỏ ăn, nằm một trỗ, sốt từ 40,5°C - 42°C Sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp bầu vú xuống sàn, ít cho con bú
Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ
Do đẻ nhều lứa hoặc nhiều con trên một lứa nen tử cung co bóp yếu không đẩy thai và nhau ra ngoài được Do viêm niêm mạc tử cung trước lúc đẻ làm dính nhau với tử cung Nhau chưa ra hết người đỡ đã kéo dứt còn lại một ít sót lại trong tử cung
Sau khi đẻ 4 - 5 giờ không thấy nhau ra hoặc không hết là bị sót nhau
Lợn nái rặn nhiều, đôi khi bỏ ăn, sốt cao liên tục 40 - 41 0 C trong vòng 1 - 2 ngày, lợn mẹ cắn con, không cho con bú, niêm dịch chảy ra màu đục, lẫn máu
Hitamox: 1ml/1 kg TT, tiêm bắp trong 3-4 ngày
Oxytoxin: 2ml/ con tiêm bắm trong 3-4 ngày
- Do thời tiết khí hậu: các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể (Đoàn Thị Kim Dung, 2004) [3]
- Lợn con bị nhiễm khuẩn: Theo Phạm Sỹ Lăng (2009) [6], bệnh tiêu chảy ở lợn có nguyên nhân do vi khuẩn E.coli, Salmonella
- Lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung.
- Lợn mẹ ăn không đúng khẩu phần.
- Sàn chuồng có phân lợn lỏng, màu vàng hoặc màu trắng.
- Trong chuồng có hiện tượng lợn nôn ra sữa.
- Người lợn con bị bẩn do dính phân.
- Vú lợn mẹ dính phân lợn con.
Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, cuống rốn, vết thương khi cắt đuôi, bấm nanh, các vết thương trên da, đầu gối khi chà sát trên nền chuồng, qua vết thiến (Nagy và cs., 2005) [10]
Lợn con đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi, khớp chân sưng lên vào ngày 7 - 15 sau khi sinh nhưng tử vong thường xảy ra lúc 2 - 5 tuần tuổi
Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân Lợn ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy đỏ, sưng, sờ nắn vào có phản xạđau (Nguyễn Ánh Tuyết, 2015) [12]
T ổ ng quan các nghiên c ứu trong và ngoài nướ c
Các nghiên c ứu trong nướ c
Ở Việt Nam một số nhà khoa học thú y đã có những nghiên cứu tổng kết về bệnh sinh sản trên đàn lợn nái Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái, nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của lợn
22 nái mà còn có thể làm cho nái mất khả năng sinh sản, chậm sinh hay làm giảm khả năng sống sót của lợn con
Theo tác giả Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], khi gia súc bị bệnh viêm tử cung ở thể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng các chất sát trùng với thể tích lớn, vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co bóp yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm cho bệnh nặng thêm Các tác giả đề nghị nên dùng oxytoxin kết hợp PGF2α hoặc kết hợp với kháng sinh điều trị toàn thân và cục bộ.
Tình hình nghiên c ứu ngoài nướ c
Hiện nay, ngành chăn nuôi lợn trên thế giới đang rất phát triển, các nước không ngừng đầu tư cải tạo chất lượng đàn giống và áp dụng các biện pháp khoa học kỹ thuật tiên tiến nhằm nâng cao năng suất chăn nuôi Tuy nhiên, vấn đề hạn chế bệnh sinh sản là một vấn đề tất yếu cần phải giải quyết, đặc biệt là bệnh viêm đường sinh dục Đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bệnh viêm đường sinh dục và đã đưa ra các kết luận giúp cho người chăn nuôi lợn nái sinh sản hạn chế được bệnh này Tuy vậy, tỷ lệ mắc bệnh viêm đường sinh dục trên đàn lợn nái sinh sản vẫn rất cao
Theo Bilkei (1994) [1], viêm tử cung thường sảy ra trong lúc sinh do nhiễm vi khuẩn E.coli gây dung huyết và các vi khuẩn gram dương Theo Urban và cs (1983) [11], Bilkei (1994) [1], các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung có nguồn gốc từ nước tiểu, các tác giả đã phân lập vi khuẩn từ mẫu nước tiểu lợn nái sắp sinh thường có chứa các vi khuẩn E.coli,
Staphylococcus aureus, Streptococcus spp Tuy nhiên, các nghiên cứu của các tác giả khác lại ghi nhận các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung là các vi khuẩn cơ hội thuộc nhóm vi sinh vật hiếu khí có mặt ở nền chuồng, lúc lợn nái sinh cổ tử cung mở, vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượ ng nghiên c ứ u
- Lợn nái và lợn con theo mẹ (từ sơ sinh đến 21 ngày tuổi) nuôi tại trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Các bệnh ở lợn nái và lợn con theo mẹ.
Địa điể m và th ờ i gian ti ế n hành
- Địa điểm: Trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm - Lương Sơn – Hòa Bình
- Thời gian: Từ ngày 18/05/2018 đến ngày 25/11/2018
N ộ i dung th ự c hi ệ n
- Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho đàn lợn nái, lợn con nuôi tại trại
- Theo dõi tình hình đẻ, số lượng và khối lượng lợn con của lợn nái.
- Phòng bệnh cho đàn lợn.
- Chẩn đoán bệnh cho đàn lợn.
- Điều trị bệnh cho đàn lợn.
Các ch ỉ tiêu theo dõi và phương pháp thự c hi ệ n
Các ch ỉ tiêu theo dõi
- Khối lượng công việc vệ sinh, sát trùng chuồng trại
- Sốlượng lợn nái được chẩn đoán và điều trị bệnh
- Sốlượng lợn con được chẩn đoán và điều trị bệnh
- Tỷ lệ mắc bệnh (%) = Tổng số con mắc bệnh x100%
Tổng số con theo dõi
- Tỷ lệ khỏi bệnh (%) = Tổng số con khỏi bệnh x100%
Tổng số con điều trị
Phương pháp thự c hi ệ n
3.4.2.1 Phương pháp thực hiện công tác chăm sóc, nuôi dưỡng đàn lợn
-Thực hiện chăn nuôi theo dúng quy trình chăn nuôi của công ty C.P áp dụng tại trại Ngô Thị Hồng Gấm
- Kiểm tra số lượng đàn con bằng cách đếm tất cả các con sinh ra ở ổ đó, 21 ngày tuổi, cai sữa.
- Cân lợn con ở các thời điểm sơ sinh, 21 ngày tuổi, cai sữa (cân vào buổi sáng, trước khi ăn, dùng 1 loại cân, 1 người cân).
3.4.2.2 Phương pháp thực hiện công tác thú y
- Thực hiện vệ sinh phòng bệnh và sử dụng các chế phẩm / thuốc / vắc xin theo đúng quy định
Bảng 3.1 Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn con
Chế phẩm thuốc/ vắc xin
B12 Thiếu máu 2 Tiêm bắp 1 - 3 ngày tuổi
Toltrazuril Cầu trùng 1 Cho uống 3 - 5 ngày tuổi
Mycoplasma Suyễn 1 Tiêm bắp 2 tuần tuổi
Circo Hội chứng còi cọc 1 Tiêm bắp 2 tuần tuổi
3.4.3 Phương pháp xác đị nh các ch ỉ tiêu
Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%) = S ố l ợ n còn s ống đế n cs x 100
Số lợn con sơ sinh ố ợn con sơ sinh
- Khối lượng trung bình lợn con:
Khối lượng trung bình lợn con sơ sinh (g) Khối lượng trung bình lợn con cai sữa (g) - Hiệu lực điều trị của thuốc:
Phương pháp xử lý s ố li ệ u
Số liệu thu thập được xử lý theo phương pháp thống kê sinh vật học của Nguyễn Văn Thiện (2008) [9] và trên phần mềm Excel
- Tính số mẫu trung bình (n ≥ 30):
- Tính độ lệch tiêu chuẩn: s = ±√∑x 2 − (∑x)n 2 n − 1
- Sai số của số trung bình: m x̅ = ± s
𝑋̅: Số trung bình cộng s: Độ lệch tiêu chuẩn
𝑥 1 , 𝑥 2 … 𝑥 𝑛 : Giá trị của các biến số m x̅ : Sai số của trung bình n: Dung lượng mẫu
Tổng khối lượng từng con sơ sinh
Số lợn con sơ sinh (con)
Tổng khối lượng từng con cai sữa
Số lợn con cai sữa (con)
Số lợn điều trị ố ợn con sơ sinh
Công tác chăm sóc nuôi dưỡng đàn lợ n
Công tác chăn nuôi
* Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Trong quá trình thực tập tại trang trại, chúng tôi đã tham gia chăm sóc nái đẻ, đỡ đẻ, chăm sóc cho lợn con theo mẹ đến cai sữa Thực hiện quy trình chăm sóc nái chờđẻ, nái đẻ, đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa như sau:
Lợn nái chửa được chuyển lên chuồng đẻ trước ngày đẻ dự kiến 7 - 10 ngày Trước khi chuyển lợn lên chuồng đẻ, chuồng phải được dọn dẹp, sát trùng và cọ rửa sạch sẽ Lợn chuyển lên phải được ghi đầy đủ thông tin lên bảng ở đầu mỗi ô chuồng Thức ăn của lợn chờ đẻđược cho ăn với tiêu chuẩn ăn 3 kg/ngày, chia làm 2 bữa sáng, chiều
Lợn nái chửa trước ngày đẻ dự kiến 3 ngày giảm lượng thức ăn xuống còn 2,5 kg/ngày, chia làm 2 bữa sáng chiều
Trước ngày đẻ dự kiến 1 ngày tiêu chuẩn khẩu phần ăn giảm xuống còn 1,5kg/ ngày, chia làm 2 bữa sáng và chiều
Khi lợn nái đẻđược 2 ngày tăng dần lượng thức ăn từ 0,5 - 1 kg/con/ngày chia làm hai bữa sáng, chiều Đối với nái nuôi con quá gầy hoặc nuôi nhiều con có thể tăng lượng thức ăn lên 2 kg/con/ngày.
- Đối với đàn lợn con theo mẹ đến khi cai sữa:
+ Ngay sau khi đẻ ra được vài tiếng lợn được tiến hành cắt rốn + Đối với những con còi yếu vắt sữa đầu cho bú
+ Sau khi đẻ 1 ngày tiến hành ghép lợn con đẻ cùng ngày để đạt được độ đồng đều về số lượng các đàn, thể trạng trong một bầy
+ Lợn con 1 - 3 ngày tuổi được mài nanh, bấm số tai, cắt đuôi và tiêm sắt, tiêm kháng sinh, cho uống thuốc phòng phân trắng lợn con và tiêu chảy
+ Lợn con 3 - 5 ngày tuổi cho lợn con uống thuốc phòng cầu trùng + Cho lợn còi uống sữa birth right
+ Lợn con 4 - 5 ngày tuổi tiến hành thiến lợn đực
+ Lợn con được từ 4 - 5 ngày tuổi tập cho ăn bằng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh 550 SF
+ Lợn con được 10 - 18 ngày tuổi tiêm phòng mycoplasma, circo
+ Lợn con được 21 ngày tuổi tiến hành cai sữa cho lợn con
Thường xuyên theo dõi đàn lợn để điều chỉnh lượng thức ăn hợp lý, đảm bảo lợn nái nuôi con tốt, không quá béo, không quá gầy Đối với những lợn nái béo thì giảm khẩu phần 0,2 - 0,5 kg/ngày, còn lợn quá gầy thì tăng thêm 0,2 - 0,5 kg/ ngày, tùy vào thực tế Đối với lợn con theo mẹ tiến hành đặt máng tập ăn càng sớm càng tốt, để đảm bảo nhu cầu sinh trưởng của lợn con, kích thích cho bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển, hạn chế hao hụt lợn mẹ Chúng tôi tiến hành tập ăn cho lợn con từ lúc 4 - 5 ngày tuổi, sử dụng thức ăn dễ tiêu hóa, giàu chất dinh dưỡng, mùi thơm ngon tương tự sữa, cho ăn làm nhiều lần trong ngày, mỗi lần cho ít thức ăn để thức ăn lúc nào cũng được thơm ngon, kích thích lợn con ăn nhiều
Hàng ngày, chúng tôi tham gia vệ sinh chuồng trại, vệ sinh cho lợn, tham gia đỡđẻ, chăm sóc lợn nái đẻ, lợn nái nuôi con
Sau khi cai sữa, lợn mẹ được đưa về chuồng bầu nuôi dưỡng, chờ phối cho lứa sau Chúng tôi cùng tham gia thực hiện cọ rửa sạch sẽ, phun sát trùng, dội vôi chuồng và gầm sàn, để trống chuồng ít nhất 3 ngày sau đó mới đưa lợn chờ đẻ sang Lợn đưa lên đẻ phải cùng tuần phối và được sắp xếp theo sơ
28 đồ cuốn chiếu từ dưới lên trên, để thuận lợi trong việc đỡ đẻ và chăm sóc quản lý lợn con sơ sinh.
Dựa vào ngày đẻ dự kiến ghi trên thẻ nái mà chúng tôi chuẩn bị dụng cụđỡđẻ, bao gồm: panh kẹp, kéo, bông, khăn lau, khay đỡđẻ, thảm lót, bóng úm, bột rắc lợn con (mistran), cồn sát trùng, thuốc kích thích phải được chuẩn bị đầy đủ để ở trong chuồng đẻ và phải được sát trùng kỹ lưỡng Nếu mùa đông thì dựa theo ngày đẻ dự kiến, lợn nái nào sắp đến ngày đẻ thì tiến hành lau mình, phần vú, phần mông cho sạch sẽ Dùng nước sạch pha sát trùng loãng Còn nếu là mùa hè thì tiến hành tắm rửa cho lợn nái và sau đó giữ vệ sinh sạch sẽ cho lợn Lợn nái trong giai đoạn chờ đẻ giảm dần lượng thức ăn, cho uống nước tự do
Thường xuyên theo dõi nhiệt độ trong chuồng nuôi mà có biện pháp điều chỉnh quạt thông gió và thắp bóng đèn trong lồng úm lợn con sao cho phù hợp
* Trực và đỡđẻ: Đây là công việc có ý nghĩa rất quan trọng để đảm bảo tỷ lệ sống của lợn con và kịp thời can thiệp, hỗ trợ lợn mẹ trong trường hợp bất thường Công tác trực, đỡđẻ dựa vào việc theo dõi ngày đẻ dự kiến và quan sát những biểu hiện của lợn nái Trước đẻ 3 - 5 ngày vú lợn bắt đầu cương cứng Trước đẻ 1 - 2 ngày bộ phận sinh dục ngoài dãn lỏng, hai bên gốc đuôi lõm xuống gọi là hiện tượng sụt mông, vắt vú thấy có sữa chảy ra, lợn mẹ đi tìm chỗ nằm, âm hộ chảy nước nhờn, lợn sắp đẻ Cần phải theo dõi và đỡ đẻ kịp thời Trước lúc lợn nái đẻ chúng tôi tiến hành vệ sinh bằng cách lau sạch vú, mông, chân bằng nước pha thuốc sát trùng nhẹ Lau sạch sàn chuồng, chuẩn bị thảm lót và bóng đèn đầy đủ
Lợn bắt đầu đẻ là lúc toàn thân co bóp, lúc này áp lực bên trong tăng cao đẩy thai ra ngoài Thời gian đẻ kéo dài 1 - 6 giờ, nếu quá 6 giờ mà thai
29 chưa ra thì cần xem xét để có biện pháp tác động kịp thời Cũng có trường hợp cả màng thai và lợn con cùng ra một lúc thì nhanh chóng xé bọc tránh lợn con chết ngạt Nếu lợn có hiện tượng ngạt thì hô hấp, vỗ nhẹ vào lưng, cong gập thân lợn để kịp thời cứu
Một tay cầm chắc mình lợn con, một tay vuốt dịch nhờn ở miệng, mũi trước để lợn con thở được, sau đó vuốt thân và hai chân sau Rồi mới dùng khăn bằng vải xô lau sạch cơ thể Thao tác nhẹ nhàng, khéo léo để lợn con không kêu nhiều và không bị đau Sau đó cho lợn con vào ô úm đã chuẩn bị đểđược bú sữa đầu càng sớm càng tốt Trường hợp lợn mẹ khó đẻ sau 15 - 20 phút phải có biện pháp can thiệp Sau khi lợn mẹ đẻ xong cần vệ sinh sạch sẽ bầu vú, cơ quan sinh dục và cho lợn con vào bú sữa đầu Trong khi lợn con bú mẹ cần chú ý quan sát đểtránh trường hợp lợn mẹ đè con Sau khi lợn con đẻ ra được 3- 4 tiếng tiến hành cắt rốn để tránh bị viêm rốn Người đỡ đẻ cần cắt móng tay, rửa sạch tay trước khi đỡ đẻ
* Thao tác làm nanh, tai và tiêm chế phẩm của sắt cho lợn con:
Lợn con sau khi bú mẹ sức khỏe tốt hơn, cứng cáp hơn sẽ được tiến hành mài nanh, bấm số tai, cắt đuôi, tiêm kháng sinh và tiêm chế phẩm của sắt Thường thì chế phẩm của sắt sẽ được tiêm vào 3 ngày tuổi sau khi lợn con sinh với liều lượng 2 ml/con, nhưng để tránh gây stress cho lợn con và tiện cho các thao tác kỹ thuật thì trại thực hiện các công việc đó cùng một lúc Chế phẩm của sắt sẽ được tiêm bổ sung lần 2 vào 7 - 10 ngày tuổi nếu thấy cần thiết Số tai của lợn con sẽ được bấm theo mã số của trại là 46 và số tuần mà lợn con được sinh ra
- Thiến lợn đực: Đối với lợn đực nuôi thịt ta cần thiến càng sớm càng tốt Thông thường trong chăn nuôi lợn nái sinh sản người ta thường thiến lợn
30 vào 7 - 10 ngày tuổi Nhưng thực tế trại thực hiện thiến lợn đực vào ngày thứ
Trước khi thiến lợn đực cần chuẩn bị dụng cụ thiến đầy đủ gồm: Dao thiến, cồn sát trùng, panh kẹp, bông gòn, khăn vải sạch, thuốc kháng sinh, xi lanh tiêm
Thao tác: Đầu tiên là tiêm cho lợn con 1ml/con kháng sinh amlistin Sau đó người thiến ngồi ghế cao, sau dùng một tay kẹp hai chân sau cho đầu của lợn con hướng xuống dưới và sao cho dịch hoàn nổi rõ, tay còn lại cầm dao rạch hai vết đứt vào chính giữa của mỗi bên dịch hoàn Dùng panh kẹp dịch hoàn ra ngoài rồi giật dịch hoàn ra, dùng cồn bôi vào vị trí thiến
* Quy trình xuất bán lợn
Tình hình đẻ , s ố lượ ng và kh ối lượ ng l ợ n con c ủ a l ợ n nái
4.1.2.1 Tình hình đẻ của đàn lợn nái tại trại
Trong điều kiện tự nhiên loài lợn thường tự sinh sản, hay nói cách khác là lợn mẹ tự đẻ và lợn con đi tìm vú mẹ bú theo bản năng, tự rụng rốn… Còn trong chăn nuôi, con người thuần dưỡng, chăm sóc và có những biện pháp tác động nhằm đảm bảo lợn mẹ đẻ an toàn, lợn con có tỷ lệ sống cao Do đó, tình hình đẻ của đàn lợn nái là chỉ tiêu quan trọng cần theo dõi để có biện pháp tác
31 động, điều chỉnh kịp thời nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất cho người chăn nuôi Chúng tôi theo dõi tình hình đẻ của 58 lợn nái lai giữa Landrace x Yorshire tại trại lợn và thu được kết quảdưới đây:
Bảng 4.1: Tình hình đẻ của đàn lợn nái
Số lợn theo dõi Đẻ bình thường Đẻ khó can thiệp bằng kích tố Đẻ khó can thiệp bằng tay
Qua việc theo dõi tình hình đẻ của 58 lợn nái tại trại lợn Ngô Thị Hồng
Lứa 1- 2 số con theo dõi 14, tỷ lệ lợn đẻ thường 78,57%, tỷ lệ lợn đẻ khó can thiệp bằng kích tố 14,28%, tỷ lệ lợn khó đẻ can thiệp bằng tay 7,14%
Lứa 3 – 5 số con theo dõi 36, tỷ lệ lợn đẻ thường 91,66%, tỷ lệ lợn đẻ khó can thiệp bằng kích tố 8,33%, tỷ lệ lợn khó đẻ can thiệp bằng tay 0%
Lứa ≥ 6 số con theo dõi 8, tỷ lệ lợn đẻ thường 62,5%, tỷ lệ lợn đẻ khó can thiệp bằng kích tố 25%, tỷ lệ lợn khó đẻ can thiệp bằng tay 12,5%
Nhìn chung, lợn đẻ bình thường có 49/58 con, chiếm tỷ lệ 84,48%, lợn đẻ khó can thiệp bằng kích tố là 7/58 con chiếm tỷ lệ là 12,06%, số lợn đẻ khó can thiệp bằng tay là 2/58 con chiếm tỷ lệ là 3,45% Như vậy thì tình hình đẻ của đàn lợn ở trại lợn Ngô Thị Hồng Gấm là tương đối tốt, tuy nhiên cần
32 hạn chế hơn nữa những trường hợp lợn nái đẻ khó phải can thiệp bằng tay và kích tố
4.1.2.2 Sốlượng lợn con của đàn lợn nái
Số con sơ sinh/ ổ là chỉ tiêu kinh tế rất quan trọng Nó phụ thuộc vào khả năng đẻ nhiều hay ít của con giống, trình độ kỹ thuật của người thụ tinh nhân tạo và điều kiện chăm sóc lợn nái chửa Trong vòng 24 giờ sau khi sinh ra, những lợn con không đạt khối lượng sơ sinh trung bình của giống, không phát dục hoàn toàn, dị dạng, thì sẽ loại thải, hoặc lợn mẹ đè chết con do lợn con mới sinh ra chưa nhanh nhẹn
Số lợn con cai sữa/ lứa là chỉ tiêu quan trọng, quyết định năng xuất trong chăn nuôi lợn nái Nó phụ thuộc vào kỹ thuật chăn nuôi lợn con bú sữa, khả năng tiết sữa, khả năng nuôi con của lợn mẹ và khả năng hạn chế các yếu tố gây bệnh cho lợn con Tỷ lệ nuôi sống càng cao thì càng tốt, đảm bảo người chăn nuôi có lãi.
Qua quá trình theo dõi các chỉ tiêu về số lượng lợn con của 58 lợn lai giữa Landrace x Yorshire (CP909), chúng tôi thu được kết quả thể hiện ở bảng 4.2:
Bảng 4.2: Một số chỉ tiêu số lượng lợn concủa đàn lợn nái
Số con còn sống đến 21 ngày (cai sữa) 12,00 0,79
Qua bảng 4.2 cho thấy: Lợn CP909 nuôi tại trại có số con đẻ ra trên một lứa là 13,20 con Số con sống đến 21 ngày ở lợn là 12,00 con Trại Ngô
Thị Hồng Gấm tiến hành cai sữa lợn con vào 21 ngày tuổi nên số con sống đến cai sữa và số con sống đến 21 ngày là như nhau
Trong quá trình nuôi dưỡng từ sau khi đẻ đến 21 ngày, ở đàn lợn số lượng lợn con đều giảm đi đáng kể Có nhiều nguyên nhân là do lợn mẹ đè chết, do loại thải, một số lợn con nhiễm trùng hay mắc bệnh dẫn đến chết Vì vậy trong quá trình nuôi dưỡng cần chú trọng số lượng nhân công trong dãy chuồng đang đẻ để giảm tỷ lệ chết do lợn mẹ đè Trong quá trình đỡđẻ, thiến, mổ hecni phải đảm bảo sát trùng đúng kỹ thuật Tuân thủ đúng yêu cầu như trên thì chúng ta có thể hạn chếđược tỷ lệ lợn con chết, đảm bảo tỷ lệ lợn con xuất bán nhiều, mang lại hiệu quả kinh tếcao cho người chăn nuôi.
4.1.2.3 Khối lượng lợn con của các loại lợn nái Để đánh giá chất lượng lợn con, chúng tôi tiến hành cân khối lượng lợn con của 5 đàn lợn CP84 Các chỉ tiêu về chất lượng lợn con được chúng tôi theo dõi và thể hiện qua bảng 4.3
Bảng 4.3: Một số chỉ tiêu khối lượng lợn con Đơn vị: kg
Khối lượng sơ sinh/ con 1,63 0,09
Khối lượng 21 ngày (cai sữa)/ con 6,03 0,11
Khối lượng 21 ngày (cai sữa)/ ổ 69,40 5,37
Qua bảng 4.3 chúng tôi nhận thấy:
- Khối lượng sơ sinh/ con của lợn CP84 là 1,63 kg Khối lượng sơ sinh/ ổở lợn CP84 là 20,36 kg
- Khối lượng 21 ngày/ con của lợn CP84 đạt là 6,03 kg Khối lượng
21 ngày/ ổ của lợn CP84 là 69,40 kg
Nhận thấy khối lượng 21 ngày/ con của đàn lợn tương đối cao Vì trại tiến hành cai sữa cho lợn con vào 21 ngày tuổi nên các chỉ tiêu của lợn ở giai đoạn cai sữa sẽ giống các chỉ tiêu của lợn lúc 21 ngày tuổi.
Công tác thú y
K ế t qu ả phòng b ệ nh cho l ợ n
Trong suốt thời gian thực tập chúng tôi và công nhân chăn nuôi đã thực hiện nghiêm túc quy trình vệ sinh, sát trùng người và dụng cụchăn nuôi đúng quy cách Hàng ngày tham gia quét dọn, phun sát trùng chuồng nuôi và khu vực xung quanh, khơi thông cống rãnh thoát nước, tích cực diệt ruồi muỗi, diệt chuột, định kỳ thay nước sát trùng, rắc vôi bột xung quanh chuồng, đường đi và khu vực xung quanh trang trại, thường xuyên phun thuốc sát trùng chuồng nuôi Nhờ tuân thủ nghiêm ngặt khâu sát trùng nên trại lợn nái Ngô Thị Hồng Gấm hạn chế được dịch bệnh
Thực hiện phương châm “phòng bệnh hơn chữa bệnh”, trại lợn nái Ngô
Thị Hồng Gấm có quy trình tiêm phòng vắc xin rất cụ thể và thực hiện đúng quy trình Đối với lợn hậu bị tiêm vắc xin khô thai, vắc xin tai xanh Đối với lợn con tiêm vắc xin mycoplasma, circo, chế phẩm sắt Fe + B12, ngoài ra còn cho lợn con uống amoxicol và toltrazuril phòng bệnh tiêu chảy và bệnh cầu trùng Trong quá trình thực tập chúng tôi đã học hỏi và cùng tham gia với các kỹ sư, tổ trưởng của trại thực hiện các biện pháp phòng bệnh trên
Kết quả phòng bệnh cho đàn lợn được thể hiện qua bảng 4.4:
Bảng 4.4:Kết quả phòng bệnh cho đàn lợncon theo mẹ tại trại
Tên bệnh Số lợn thực hiện (con)
Số lợn an toàn (con) Tỷ lệ (%)
Qua kết quả bảng 4.4: ta có thể thấy được kết quả tổng quát về việc phòng bệnh cho đàn lợn con tại trại bằng thuốc và vắc xin Lợn con sau 2 - 3 ngày tuổi được tiêm chế phẩm sắt Fe + B12 để phòng thiếu sắt, thuốc phòng trị cầu trùng và nâng cao sức đề kháng cho lợn con, 100% lợn con sau khi sinh sẽ được tiêm Trong 6 tháng thực tập, chúng tôi đã tiêm chế phẩm Nova - Fe + B12 cho 1258 lợn con được 3 ngày tuổi (đạt an toàn 100%), nhỏ thuốc phòng trị bệnh cầu trùng cho 3452 lợn con (an toàn 100%), nhỏ thuốc phòng trị tiêu chảy 3452 lợn con (an toàn 100%).
Công tác ch ẩn đoán bệnh cho đàn lợ n
Chúng tôi đã tham gia chẩn đoán một số bệnh thường gặp ở lợn nái và lợn con theo mẹ, cụ thể như sau:
Bệnh xảy ra ở những thời gian khác nhau, nhưng thường nhiều nhất vào thời gian sau đẻ 1 - 3 ngày và sau khi phối giống
Sau khi đẻ 1 - 2 ngày nái ít ăn, sốt cao, thường sốt vào buổi chiều lúc
15 - 17 giờ, ở âm hộ chảy nước đục mùi hôi tanh
+ Điều trị cục bộ: bơm rửa tử cung ngày 1 - 2 lần, mỗi lần 2 - 4 lít nước sôi để nguội pha với thuốc tím 9% hoặc nước muối (1 g thuốc tím trong 1 lít nước, 9 g muối trong 1 lít nước)
+ Điều trị toàn thân: Tiêm thuốc kháng sinh: vetrimoxin (tiêm 1 ml/8 kg thể trọng)
Thuốc hạ sốt: anagin C (15 ml/nái) Điều trị trong 1 - 3 ngày
+ Lúc đầu lợn mẹ đi lại khó khăn, về sau không đứng lên được mà nằm bẹp 1 chỗ
+ Bệnh thường kế phát với 1 số bệnh ở hệ tiêu hóa, hô hấp như: chướng bụngđầy hơi, viêm phế quản cấp.
+ Nếu bệnh kéo dài, con vật dễ bị loét từng mảng da phía tiếp xúc với nền chuồng.
+ Tăng cường thức ăn có bổ sung nguyên tố vi lượng nhất là Canxi và Photpho
+ Dùng các loại dầu nóng xoa bóp mạnh 2 chân cho lợn mẹ.
+ Tiêm gluconat canxi, kết hợp với vitamin B1, strychnin.
- Triệu chứng: Bệnh xảy ra sau khi đẻ 4 - 5 giờ cho đến 7 - 10 ngày, có con đến một tháng Viêm vú thường xuất hiện ở một vài vú nhưng đôi khi
37 cũng lan ra toàn bộ các vú, vú có màu hồng, sưng đỏ, sờ vào thấy hơi nóng, hơi cứng, ấn vào lợn nái có phản ứng đau
Lợn nái giảm ăn, nếu bị nặng thì bỏ ăn, nằm một chỗ, sốt cao 40,5 0 C -
42 0 C kéo dài trong suốt thời gian viêm Sản lượng sữa giảm, lợn nái thường nằm úp đầu vú xuống sàn, ít cho con bú
Vắt sữa ở những vú bị viêm thấy sữa loãng, trong sữa có cặn hoặc cục sữa vón lại, xuất hiện các cục casein màu vàng, xanh lợn cợn có mủ đôi khi có máu
Lợn con thiếu sữa kêu la, chạy vòng quanh mẹ đòi bú, lợn con ỉa chảy, xù lông, gầy nhanh, tỷ lệ chết cao từ 30 đến 100%
Cục bộ: phong bế giảm đau bầu vú bằng cách chườm nước đá lạnh để giảm sưng, giảm đau, hoặc phong bế đầu vú bằng novocain 0,25 - 0,5 %, mỗi ngày vắt cạn vú viêm 4 - 5 lần tránh lây lan sang vú khác
Tiêm quanh vùng bầu vú bị viêm bằng Nor 100 1 ml/10 kgTT
Tiêm analgin: 1 ml/10 kgTT/1 lần/ ngày
Tiêm vetrimoxin LA: 1 ml/10 kgTT/1 lần/2 ngày
- Triệu chứng: Lợn nái sau khi đẻ 4 - 5 giờ không thấy nhau ra hoặc không hết là bị sót nhau Biểu hiện của bệnh là lợn nái rặn nhiều, đôi khi bỏ ăn, sốt cao liên tục 40 - 41 o C trong vòng 1 - 2 ngày, cắn con, không cho con bú, niêm dịch chảy ra có màu đục, lẫn máu
Cục bộ: Bơm rửa tử cung bằng dung dịch thuốc tím 1 phần nghìn, ngày rửa 1 - 2 lần, mỗi lần 2 - 4 lít nước, liên tục 3 - 4 ngày
Tiêm oxytoxin cạnh âm hộ 2 ml/con/lần
Tiêm analgin: 1 ml/10 kgTT/1 lần/ ngày
Tiêm vetrimoxin LA: 1ml/10 kgTT/1 lần/ 2 ngày
- Triệu chứng: Lợn con đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi, khớp chân sưng lên vào ngày 7 - 15 sau khi sinh nhưng tử vong thường xảy ra lúc 2 - 5 tuần tuổi Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân
Lợn ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy đỏ, sưng, sờ nắn vào có phản xạ đau
Phác đồ: Tiêm vetrimoxin 1 ml/10 kgTT/1 lần/2 ngày
Hoặc tiêm pendistrep L.A 1 ml/10 kg TT/1 ngày/1 lần Điều trị liên tục trong 3 - 5 ngày
4.2.2.2.2 Bệnh phân trắng lợn con
Là bệnh lợn con trong trại lợn hay mắc, thường mắc bệnh vào thời gian
3 - 21 ngày tuổi, đặc biệt từ sau một tuần lợn con mắc nặng nhất
- Nguyên nhân: có nhiều nguyên nhân gây ra bệnh phân trắng lợn con như: + Do khẩu phần của lợn mẹ tăng đột ngột hoặc trong khẩu phần của lợn mẹ không đủdinh dưỡng, hay thức ăn không đảm bảo vệ sinh
+ Do thời tiết thay đổi đột ngột, vệ sinh chuồng trại kém, để nước đọng lại trên nền chuồng…
+ Do lợn mẹ mắc một số bệnh như: viêm vú, viêm tử cung, hay máng ăn lợn mẹ vệ sinh kém dẫn đến lợn mẹ tiêu chảy, làm ảnh hưởng đến chất lượng sữa, làm lợn con bú dễ mắc bệnh
Lợn con phân lỏng màu vàng, trắng xám sau đó màu xanh, mùi rất hôi tanh Lợn con ỉa nhiều lần, phân bết dính ở hậu môn, lợn con mắc bệnh gầy
39 sút rất nhanh, ăn kém, lông xù, đi lại không vững, niêm mạc miệng nhợt nhạt, về sau dẫn đến chết Bệnh thường kéo dài 3 - 7 ngày
Tiêm: NOR 100: 1 ml/8 - 10 kg thể trọng, hoặc ceftiofur: 1 ml/con Tiêm dưới da gốc tai Điều trị trong 3 - 5 ngày liên tục
- Lứa tuổi bị bệnh: thường xảy ra ở lợn con theo mẹ từ 3 - 5 ngày tuổi, thỉnh thoảng cũng gặp trên lợn choai
- Nguyên nhân: do 1 loại ký sinh trùng nhỏ có tên Isospora suis, ký sinh trùng này sống nhân lên nhờ tế bào vật chủ, chủ yếu là tế bào đường ruột
- Triệu chứng, bệnh tích: Trong giai đoạn đầu triệu chứng chính là tiêu chảy Ở giai đoạn sau phân trởnên đặc hơn và màu vàng kem hoặc trắng kem, hoặc trong phân có lẫn máu khi bệnh trở nên nghiêm trọng hơn Cầu trùng tác động gây tổn thương trên thành ruột non làm lợn con tiêu chảy dẫn đến mất nước Tỷ lệ chết do cầu trùng rất thấp nhưng nếu có sự lây nhiễm kế phát của vi khuẩn thì tỷ lệ chết sẽ tăng cao Khi lợn con bị nhiễm cầu trùng thì lợn con còi cọc và phát triển không đồng đều
Nhỏ toltrazuril 5%, liều lượng: 1 ml/con, số ngày sử dụng: 1 ngày.
- Triệu chứng: Lợn con còi cọc chậm lớn, lông xù, khi thở hóp bụng lại Bình thường nghỉngơi lợn không ho, chỉ khi xua quấy rầy lợn mới ho (ho vào lúc sáng sớm hay chiều tối), nhiệt độ cơ thể bình thường hay tăng nhẹ
Hitamox LA: 1 ml/con Tiêm bắp ngày/lần ADE - B.Complex: 0,5 ml/10 kgTT Tiêm bắp ngày/lần.Điều trị liên tục trong 3 - 5 ngày
Qua bảng 4.5 chúng tôi nhận thấy:
+ Đối với bệnh lợn nái: Trong 58 con chăm sóc và nuôi dưỡng có 4 con mắc bệnh viêm tử cung, 1 con mắc bệnh bại liệt, 1 con mắc bệnh viêm vú và bệnh sót nhau có 2 con Tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung tại trại cao nhất chiếm 6,89% Sau đó là bệnh sót nhau với tỷ lệ 3,45%, bệnh viêm vú và sót nhau thấp nhất với tỷ lệ là 1,72%
+ Đối với bệnh lợn con: Do sức đề kháng kém nên tỷ lệ mắc các bệnh trên đàn lợn con khá cao Theo dõi 719 con có 200 con mắc bệnh phân trắng lợn con chiếm tỷ lệ 27,82%, 105 con mắc bệnh viêm phổi chiếm tỷ lệ 14,60%, 26 con mắc bệnh cầu trùng chiếm tỷ lệ 3,62% và 4 con mắc bệnh phân viêm khớp chiếm tỷ lệ 0,55% Nhìn chung tỷ lệ lợn nái và lợn con mắc bệnh ở trang trại là không cao nhưng cũng gây tổn thất cho trang trại
Bảng 4.5:Thống kê tình hình mắc bệnh của đàn lợn
Tên loại lợn Tên bệnh
Số lợn theo dõi (con)
Số lợn mắc bệnh (con)
K ế t qu ả điề u tr ị b ệnh cho đàn lợ n
Sau khi phát hiện lợn bị bệnh, chúng tôi đã kịp thời tiến hành điều trị
Kết quảđiều trị bệnh cho đàn lợn được thể hiện ở bảng 4.6
Bảng 4.6:Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn
Tên loại lợn Tên bệnh Số lợn điều trị (con)
Số lợn khỏi bệnh (con)
+ Đối với bệnh lợn nái: Trong 4 lợn mắc bệnh viêm tử cung mà chúng tôi điều trị có 4 con khỏi bệnh, chiếm tỷ lệ100% Điều trị 1 con mắc bệnh bại liệt kết quả chỉ đạt 0,00% Điều trị 1 con mắc bệnh viêm vú có 1 con khỏi bệnh, đạt 100% Bệnh sót nhau điều trị 2 con có 2 con khỏi bệnh, đạt 100% Sau khi được điều trị kết quả khỏi bệnh ở lợn nái đạt tỷ lệ khá cao Riêng con bại liệt sau một thời gian điều trịđã không bình phục và được loại thải
+ Đối với bệnh lợn con: Bệnh phân trắng lợn con điều trị 200 con có
189 con khỏi bệnh, đạt tỷ lệ 94.50% Điều trị 26 con mắc bệnh cầu trùng có
25 con khỏi bệnh, đạt 96,15% Điều trị 105 con mắc bệnh viêm phổi có 98 con khỏi bệnh, đạt 93,33% Điều trị 4 con mắc viêm khớp có 2 con khỏi bệnh,
42 đạt 50,00% Sau khi điều trị kết quả khỏi bệnh ở lợn con đạt tỷ lệ tương đối cao: từ 50% - 94,50%.