1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khoá luận thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh cho lợn nái sinh sản tại trang trại công ty cổ phần mạnh lĩnh, thành phố phúc yên, tỉnh vĩnh phúc

60 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 678,08 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả thực hiện các biện pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh.. Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm kho

Trang 1

DƯƠNG VĂN ĐÔ

Tên đề tài :

Thái Nguyên, n ăm 2019

Trang 2

DƯƠNG VĂN ĐÔ

Tên đề tài :

Gi ảng viên hướng dẫn: TS Dương Thị Hồng Duyên

Thái Nguyên, n ăm 2019

Trang 3

Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn cô giáo TS Dương Thị Hồng Duyên

đã chỉ bảo và trực tiếp hướng dẫn em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới bác Hoàng Văn Viện - chủ trại, cán

bộ kỹ thuật và các công nhân viên tại trại đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành

đề tài trong suốt quá trình thực tập tại cơ sở

Xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè và người thân đã động viên, cổ

vũ tôi và tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành tốt quá trình thực tập để hoàn thành đề tài này

Tôi xin chúc các thầy giáo, cô giáo luôn luôn mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt trong cuộc sống, có nhiều thành công trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học

Trong quá trình viết khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong sự giúp đỡ, đóng góp ý kiến của các thầy cô để bài khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn

Tôi xin chân thành c ảm ơn!

Sinh viên

Dương Văn Đô

Trang 4

DANH M ỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trại trong 6 tháng 36

Bảng 4.2 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại 37

Bảng 4.3 Tình hình sinh sản của đàn lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại 39

Bảng 4.4 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 40

Bảng 4.5 Kết quả tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn nái của trại 42

Bảng 4.6 Kết quả theo dõi tình hình mắc bệnh trên đàn lợn nái của trại 43

Bảng 4.7 Kết quả điều trị bệnh trên đàn lợn nái sinh sản tại trại 44

Bảng 4.8 Một số chỉ tiêu sinh lý sinh sản của lợn nái sau điều trị 46

Trang 6

M ỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG ii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iii

MỤC LỤC iv

Ph ần 1: MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài 2

1.2.1 Mục đích 2

1.2.2 Yêu cầu 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài Error! Bookmark not defined 1.3.1 Ý nghĩa khoa học Error! Bookmark not defined 1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn Error! Bookmark not defined Ph ần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3

2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 3

2.1.2 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 5

2.2 Tổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong, ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề 10

2.2.1 Những hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi 10

2.2.2 Những hiểu biết về những bệnh gặp tại cơ sở 13

2.2.3 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 24

2.2.4 Những hiểu biết về quy trình nuôi dưỡng và chăm sóc lợn nái đẻ và lợn nái nuôi con 27

Ph ần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH 31

3.1 Đối tượng 31

Trang 7

3.2 Địa điểm và thời gian 31

3.3 Nội dung thực hiện 31

3.4 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp thực hiện 31

3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 31

3.4.2 Phương pháp thực hiện 32

Ph ần 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 36

4.1 Tình hình chăn nuôi lợn nái tại trang trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh trong 6 tháng 36

4.2 Kết quả thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng trên đàn lợn nái nuôi tại trang trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh 37

4.2.1 Số lượng lợn nái trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng tại trại 37

4.2.2 Tình hình sản xuất của đàn lợn nái nuôi tại trại 39

4.3 Kết quả thực hiện các biện pháp phòng và trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trang trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh 40

4.3.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh trên đàn lợn nái tại trại 40 4.3.2 Kết quả tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn nái của trại 41

4.3.3 Kết quả chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn nái sinh sản nuôi tại trại 42 4.4 Một số chỉ tiêu sinh lý của đàn lợn nái sinh sản sau điều trị 45

Ph ần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 47

5.1 Kết luận 47

5.2 Đề nghị 47

TÀI LI ỆU THAM KHẢO 48

Trang 8

Ph ần 1

M Ở ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Trong những năm gần đây kinh tế Việt Nam đang phát triển rất mạnh

mẽ, chất lượng và nhu cầu cuộc sống tăng lên không ngừng, kéo theo nhu cầu

về số lượng và chất lượng thịt cũng tăng cao Để đáp ứng nhu cầu đó, ngành chăn nuôi đang phát triển mạnh mẽ, sản phẩm của ngành không ngừng phục

vụ nhu cầu trong nước mà còn mở rộng xuất khẩu

Trước đây, năng suất chăn nuôi còn thấp là do người chăn nuôi chỉ quen với tập quán chăn nuôi lợn nội và tận dụng các phụ phẩm trong nông nghiệp

để nuôi Hiện nay năng suất chăn nuôi lợn tăng lên gấp nhiều lần là do người chăn nuôi đã biết nuôi lợn ngoại theo phương thức chăn nuôi công nghiệp Để lợn ngoại đạt hiệu quả kinh tế cao, bên cạnh yếu tố về thức ăn, chuồng trại, kỹ thuật chăn nuôi… thì yếu tố đầu tiên cần đảm bảo là có đàn giống tốt Điều này phụ thuộc rất lớn vào năng suất sinh sản của đàn lợn nái Theo tính toán của các nhà kinh tế, năng suất của lợn nái được tính bằng số lợn con sinh ra,

số lợn con còn sống đến lúc cai sữa, thời gian tái sản xuất của lợn nái nhất là

do không thụ thai

Để đạt được hiệu quả kinh tế cao cần phải có quy trình chăn nuôi phù hợp với từng giống vật nuôi, từng thời điểm và từng giai đoạn cụ thể khác nhau Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của ban chủ nhiệm khoa chăn nuôi thú y cùng giảng viên hướng dẫn và cơ sở thực tập, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng và phòng trị bệnh

cho l ợn nái sinh sản tại trang trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh, thành phố Phúc Yên, t ỉnh Vĩnh Phúc”

Trang 9

1.2 M ục đích và yêu cầu của đề tài

- Xác định được một số thuốc có hiệu lực và độ an toàn cao trong điều trị bệnh sinh sản ở đàn lợn nái (bệnh viêm tử cung, viêm vú, bại liệt,…), để phòng, hạn chế mầm bệnh

Những khuyến cáo từ kết quả của đề tài có thể giúp cho người chăn nuôi lợn tránh được những thiệt hại do bệnh gây ra

1.2.2 Yêu c ầu

- Đánh giá được tình hình sản xuất của trại trong 6 tháng thực tập trại

- Thực hiện được quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng, phòng và trị bệnh trên đàn lợn nái nuôi tại trang trại công ty cổ phần Mạnh Lĩnh

- Theo dõi, chẩn đoán điều trị hiệu quả, kịp thời các bệnh ở lợn nái ngoại sinh sản

Trang 10

Ph ần 2

T ỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

2.1.1 V ị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

- Vị trí địa lý: Trại lợn của công ty cổ phần Mạnh Lĩnh do ông Hoàng Văn Viện làm chủ trại, nằm trên địa bàn xã Cao Minh thuộc thành phố Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, là nơi có vị trí địa lý rất thuận lợi: gần với thủ đô Hà Nội, các khu công nghiệp của Hà Nội, sân bay quốc tế Nội Bài, có thị trường rộng lớn để cung cấp và tiêu thụ hàng hóa Đây là một trong những trại có quy mô lớn Trại có tổng diện tích khoảng hơn 3 ha, trong đó diện tích hơn 1,5 ha là khu chăn nuôi tập trung cùng các công trình phụ cận và còn lại là diện tích nhà ở, khu trồng cây xanh và ao hồ xung quanh

- Điều kiện địa hình, đất đai: Địa hình thành phố Phúc Yên đa dạng, có

cả nông thôn và đô thị, có vùng đồi rừng, bán sơn địa, vùng đồng bằng, có hồ Đại Lải diện tích 525 ha bước đầu đã định hình là khu du lịch; ngoài ra còn có các đầm hồ khác như đầm Láng, đầm Rượu, sông Cà Lồ, có thể phát triển các loại hình du lịch vui chơi giải trí, du lịch thắng cảnh, du lịch sinh thái, kết hợp với nuôi trồng thuỷ sản

- Giao thông vận tải: Có đường giao thông thuận tiện: quốc lộ 2, quốc lộ

23, đường sắt Hà Nội – Lào Cai, tương lai gần có đường cao tốc xuyên Á đi cảng Cái Lân Quảng Ninh và Côn Minh Trung Quốc, đi qua các tỉnh lân cận thuận lợi cho việc vận chuyển thức ăn, thuốc thú y, tiêu thụ sản phẩm cũng như chuyển giao khoa học kỹ thuật

- Khí hậu: Thành phố Phúc Yên nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ bình quân năm là 23°C, có nét đặc trưng nóng ẩm, mưa nhiều

về mùa Hè, hanh khô và lạnh kéo dài về mùa Đông Khí hậu tương đối thuận lợi cho phát triển nông nghiệp đa dạng

Trang 11

Nhiệt độ không khí có các đặc trưng sau:

- Cực đại trung bình năm là 20,5°C

- Cực đại tuyệt đối 41,6°C

- Cực tiểu tuyệt đối 3,1°C

Độ ẩm không khí tương đối trung bình năm là 83%, độ ẩm cực tiểu tuyệt đối là 16%

Hướng gió chủ đạo về mùa Đông là Đông – Bắc, về mùa Hè là Đông – Nam, vận tốc gió trung bình năm là 2,4 m/s Vận tốc gió cực đại có thể xảy ra theo chu kỳ thời gian 5 năm là 25 m/s; 10 năm là 32 m/s, 20 năm là 32 m/s

- Kinh tế - xã hội: Thành phố Phúc Yên có nhiều tiềm năng, lợi thế để thu hút đầu tư phát triển kinh tế xã hội Kinh tế trên địa bàn luôn đạt mức tăng trưởng cao, 5 năm gần đây bình quân tăng 23,05%/năm, trong đó, công nghiệp tăng 21,78%; dịch vụ tăng 25,57%; nông nghiệp tăng 5,37%/năm Tốc

độ tăng trưởng kinh tế của thành phố luôn cao hơn mức bình quân chung của tỉnh Cơ cấu kinh tế của thành phố trong những năm vừa qua chuyển biến theo hướng tích cực, có sự chuyển dịch phù hợp với xu thế chung của toàn tỉnh, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nông nghiệp Năm 2016, Thương mại - Dịch vụ: 7,44%; Công nghiệp - xây dựng: 92,23%; Nông, lâm nghiệp: 0,51%; Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng và thương mại - dịch vụ - du lịch trong cơ cấu kinh tế là 99,51% Tổng thu ngân sách các thành phần kinh tế trên địa bàn chiếm trên 2/3 tổng thu Ngân sách của tỉnh Vĩnh Phúc Thành phố Phúc Yên luôn xứng đáng là vùng trọng điểm kinh tế, là đầu tàu kinh tế của Vĩnh Phúc

Về chăn nuôi, công tác tiêm phòng dịch bệnh các đàn gia súc, gia cầm được thức hiện tốt

Trang 12

2.1.2 Điều kiện cơ sở nơi thực tập

Cơ cấu tổ chức trại gồm:

+ 1 chủ trại kiêm giám đốc của công ty

+ 1 kĩ sư chính kiêm trưởng trại

Trang trại có tổng diện tích là hơn 3 ha, nằm trên địa bàn thành phố Phúc Yên có địa hình chủ yếu là đồi núi Để đảm bảo công tác phát triển sản xuất chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân, trại được trang bị đầy đủ

Trang 13

đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn Chuồng nuôi xây dựng đảm bảo đủ cho 290 nái cơ bản bao gồm:

+ 1 chuồng có chửa 1: chuồng gồm 2 dãy, mỗi dãy có các ô để nuôi và chăm sóc nái trong thời gian mang thai, được sắp xếp theo các kỳ mang thai khác nhau Riêng có 2 ô được thiết kế nhốt lợn đực giống, có 2 ô thử, ép lợn + 1 chuồng có chửa 2 (nửa nái đẻ, nửa bầu): chuồng có 2 dãy, mỗi dãy

có 40 ô nhốt lợn bầu chờ đẻ và 12 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ

+ 1 chuồng đẻ: gồm 2 dãy, mỗi dãy có 25 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ

+ 1 chuồng cai sữa: Gồm 2 dãy, mỗi dãy gồm 12 ô chuồng, mỗi ô có thể nuôi 30 - 40 lợn cai sữa

+ 1 chuồng thịt 1: Gồm 2 dãy, mỗi dãy có 5 ô chuồng, mỗi ô có thể nuôi được 90 - 100 con

+ 1 chuồng thịt 2: gồm 2 dãy, mỗi dãy có 5 ô chuồng, mỗi ô có thể nuôi được 70 - 80 con

- Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối chuồng được thiết kế quạt hút gió, máy xả cám tự động

từ các bồn chứa cám, có hệ thống điện chiếu sáng và hồng ngoại để sưởi ấm,

úm lợn con bảo đảm thoáng mát về mùa Hè, ấm áp về mùa Đông bằng cách điều chỉnh hệ thống quạt, giàn mát và bóng đèn sưởi ấm trong chuồng Mỗi chuồng được lắp đặt hệ thống nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hàng ngày, cuối chuồng có hệ thống thoát phân và nước thải Bên cạnh chuồng đực có xây dựng phòng pha chế tinh, với đầy đủ dụng cụ và thiết bị như: kinh hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy hàn ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, panh, kéo, Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các chậu sát trùng để trước cửa ra vào chuồng Nhìn chung khu vực nuôi được xây dựng khá hợp lý, thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, đuổi lợn giữa các chuồng

Trang 14

Ngay tại cổng vào khu chăn nuôi có xây dựng 1 hệ thống phun sát trùng các loại phương tiện và dụng cụ vận chuyển lợn ra vào trại, có 2 phòng tắm sát trùng cho cán bộ kỹ thuật và công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, 1 kho thuốc, 1 kho cám

Một số thiết bị khác cũng được trang bị đầy đủ: tủ lạnh bảo quản vắc xin,

tủ thuốc để bảo quản và dữ trữ thuốc của trại, xe chở cám, máy nén khí phun sát trùng di động

* Công tác chăn nuôi

Nhiệm vụ chính của trại là sản xuất con giống, lợn thịt và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật Trại mới được xây dựng và đưa vào sản xuất được hơn 4 năm nên khả năng sản xuất của trại chưa được đánh giá cụ thể Nái đẻ

ổn định từ những lứa đầu tiên, lợn con theo mẹ được nuôi đến 21 ngày tuổi,

chậm nhất là 28 ngày tuổi thì tiến hành cai sữa và lợn đạt trên 20 kg chuyển sang các chồng nuôi lợn thịt Theo đánh giá của công ty cổ phần GreenFeed Việt Nam thì năng suất của trại vào loại khá

Trong trại có 4 con lợn đực giống, trong đó 2 đã có thể khai thác tinh, 2 con non mới nhập về Các lợn đực giống này được nuôi nhằm mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác từ giống lợn đực Duroc Lợn nái được phối lặp lại 2 lần

Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được Công ty Cổ phần GreenFeed Việt Nam cung cấp cho từng đối tượng lợn của trại

* Công tác vệ sinh thú y của trại: Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trang trại luôn được thực hiện nghiêm ngặt, với sự giám sát chặt chẽ của kỹ thuật viên Công ty Cổ phần GreenFeed

- Công tác vệ sinh:

Chuồng trại được xây dựng thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, xung quanh các chuồng nuôi được trồng cây xanh nhằm tạo sự thoáng mát tự

Trang 15

nhiên Hằng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong trại được quét dọn, phun thuốc khử trùng tiêu độc, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định Công nhân, kỹ sư, khách tham quan trước khi vào khu chăn nuôi đều phải sát trùng tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo bảo hộ lao động

- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng trại

Quy trình phòng bệnh bằng vắc-xin luôn được trang trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng, từ lợn nái, lợn hậu bị, lợn đực và lợn con Lợn được tiêm vắc-xin ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắcxin cho đàn lợn luôn đạt 100%

- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trại luôn được kỹ thuật viên phát hiện sớm, cách ly, điều trị ngay ở giai đoạn đầu, vì vậy hiệu quả điều trị thường cao (80 - 90%) trong một thời gian ngắn, không gây thiệt hại nhiều cho trang trại

Trang 16

Chủ trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân Đội ngũ cán bộ kỹ thuật có chuyên môn vững vàng, đội ngũ công nhân rất nhiệt tình, năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc Do

đó đã mang lại hiệu quả chăn nuôi cao cho trang trại

Từ đầu năm 2019 giá lợn có xu hướng giảm mạnh Có thời điểm giá lợn hơi xuống tới mức thấp là 30.000 đồng/ kg không những giá lợn hơi giảm mà giá lợn giống cũng giảm từ hơn 1.200.000 đồng/ con khoảng 10kg xuống còn 700.000 đồng/ con vẫn không có người mua Khiến người chăn nuôi gặp vô vàn khó khăn trong việc tái đàn cũng như mở rộng quy mô sản xuất

Trên thị trường hiện nay giá thịt lợn giảm sâu không chỉ làm ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng, mà còn gây không ít khó khăn đối với thịt lợn của các trang trại chăn nuôi theo tiêu chuẩn vì chất lượng thịt tốt hơn so với chất lượng thịt bán ngoài chợ nên giá thành đắt hơn Tuy nhiên vì lợi nhuận nhiều trang trại thu gom lợn từ dân sau đó dán mác thịt lợn sạch và bán ra thị trường với giá rẻ hơn

Trang 17

2.2 T ổng quan tài liệu và những kết quả nghiên cứu trong, ngoài nước có liên quan đến nội dung của chuyên đề

2.2.1 Nh ững hiểu biết về phòng, trị bệnh cho vật nuôi

Với phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh”, nên khâu phòng bệnh được đặt lên hàng đầu, nếu phòng bệnh tốt thì có thể hạn chế hoặc ngăn chặn được bệnh xảy ra Do vậy, việc phòng bệnh cũng như trị bệnh phải kết hợp với nhiều biện pháp khác nhau

- Phòng bệnh bằng vệ sinh và chăm sóc nuôi dưỡng tốt:

Theo Nguyễn Ngọc Phụng (2005) [22], bệnh xuất hiện trong một đàn lợn thường do nguyên nhân phức tạp, có thể là bệnh truyền nhiễm, không truyền nhiễm hoặc có sự kết hợp cả hai Có rất nhiều biện pháp đã đưa ra áp dụng nhằm kiểm soát các khả năng xảy ra bệnh trên đàn lợn Phần lớn các biện pháp này đều nhằm làm giảm khả năng lây truyền tác nhân gây bệnh và nâng cao sức đề kháng của đàn lợn

Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [21], trong chăn nuôi việc đảm bảo đúng quy trình kỹ thuật là điều rất cần thiết, chăm sóc nuôi dưỡng tốt sẽ tạo ra những gia súc khoẻ mạnh, có khả năng chống đỡ bệnh tật tốt và ngược lại Ô chuồng lợn nái phải được vê ̣sinh tiêu độc trước khi vào đẻ Nhiệt độ phải phù hợp, đối với lợn mẹ nhiệt độ thích hợp dao động từ 15 - 24oC, nhiệt độ lợn con theo mẹ dao động từ 21 - 31oC Việc giữ gìn chuồng trại sạch sẽ kín, ấm

áp vào mùa Đông và đầu Xuân là rất quan trọng Nên dùng các thiết bị sưởi điện hoặc đèn hồng ngoại trong những ngày thời tiết lạnh ẩm để đề phòng bệnh lợn con phân trắng mang lại hiệu quả cao trong chăn nuôi Từ 3 - 5 ngày trước dự kiến đẻ, ô chuồng lợn nái đã được cọ rửa sạch, phun khử trùng bằng hóa chất như crezin 5% hoặc bằng loại hóa chất khác nhằm tiêu độc khử trùng chuồng lợn nái trước khi đẻ

Trang 18

- Phòng bệnh bằng vắc xin là biện pháp phòng bệnh chủ động có hiệu quả nhất

Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [9], vắc-xin là một chế phẩm sinh học mà trong đó chứa chính mầm bệnh cần phòng cho một bệnh nào đó (mầm bệnh này có thể là vi khuẩn, virus, độc tố hay vật liệu di truyền như ARN, ADN…) đã được làm giảm độc lực hay vô hoạt bằng các tác nhân vật lý, hóa học, sinh học hay phương pháp sinh học phân tử (vắc xin thế hệ mới - vắc xin công nghệ gen) Lúc đó chúng không còn khả năng gây bệnh cho đối tượng sử dụng, nhưng khi đưa vào cơ thể động vật nó sẽ gây ra đáp ứng miễn dịch làm cho động vật có miễn dịch chống lại sự xâm nhiễm gây bệnh của mầm bệnh tương ứng

Khi đưa vắc xin vào cơ thể vật nuôi, chưa có kháng thể chống bệnh ngay

mà phải sau 7 - 21 ngày (tùy theo từng loại vắc-xin) mới có miễn dịch

+ Diệt căn bệnh là chủ yếu kết hợp với chữa triệu chứng

+ Tiêu diệt mầm bệnh phải đi đôi với tăng cường sức đề kháng của cơ thể, làm cho cơ thể tự nó chống lại mầm bệnh thì bệnh mới chóng khỏi, ít bị tái phát và biến chứng, miễn dịch mới lâu bền

+ Phải có quan điểm khi chữa bệnh, chỉ nên chữa những gia súc có thể chữa lành mà không giảm sức kéo và sản phẩm Nếu chữa kéo dài, tốn kém vượt quá giá trị gia súc thì không nên chữa

Trang 19

+ Những bệnh rất nguy hiểm cho người mà không có thuốc chữa thì không nên chữa

Theo Nguyễn Bá Hiên và Huỳnh Thị Mỹ Lệ (2012) [9] cho biết các biện pháp chữa bệnh truyền nhiễm là:

+ Hộ lý: cho gia súc ốm nghỉ ngơi, nhốt riêng ở chuồng có điều kiện vệ sinh tốt (thoáng mát, sạch sẽ, yên tĩnh) Theo dõi thân nhiệt, nhịp tim, hô hấp, phân, nước tiểu Phát hiện sớm những biến chuyển của bệnh để kịp thời đối phó Cho gia súc ăn, uống thức ăn tốt và thích hợp với tính chất của đối tượng bệnh

+ Dùng kháng huyết thanh: chủ yếu dùng chữa bệnh đặc hiệu vì vậy thường được dùng trong ổ dịch, chữa cho gia súc mắc bệnh Chữa bệnh bằng kháng huyết thanh là đưa vào cơ thể những kháng thể chuẩn bị sẵn, có tác dụng trung hòa mầm bệnh hoặc độc tố của chúng (huyết thanh kháng độc tố) + Dùng hóa dược: phần lớn hóa dược được dùng để chữa triệu chứng, một số hóa dược dùng để chữa nguyên nhân vì có tác dụng đặc hiệu đến mầm bệnh Dùng hóa dược chữa bệnh phải tác động mạnh và sớm, vì nhiều loài vi khuẩn có thể thích ứng với liều lượng nhỏ Chúng có thể chống lại thuốc và tính chất quen thuốc được di truyền cho thế hệ sau Khi cần, có thể phối hợp nhiều loại hóa dược để tăng hiệu quả điều trị, vì nếu một loại thuốc chưa có tác dụng đến mầm bệnh thì có loại thuốc khác tác dụng tốt hơn

+ Dùng kháng sinh: kháng sinh là những thuốc đặc hiệu có tác dụng ngăn cản sự sinh sản của vi khuẩn hoặc tiêu diệt vi khuẩn Tuy nhiên sử dụng kháng sinh có thể gây nhiều tai biến do thuốc có tính độc, do phản ứng dị ứng,

do một lúc tiêu diệt nhiều vi khuẩn làm giải phóng một lượng lớn độc tố, làm giảm phản ứng miễn dịch của cơ thể Việc dùng kháng sinh bừa bãi còn gây nên hiện tượng kháng thuốc, làm giảm thấp tác dụng chữa bệnh của kháng sinh Vì vậy, khi dùng thuốc cần theo nguyên tắc sau đây:

Trang 20

- Phải chẩn đoán đúng bệnh để dùng đúng thuốc, dùng sai thuốc sẽ chữa không khỏi bệnh mà làm cho việc chẩn đoán bệnh về sau gặp khó khăn

- Chọn loại kháng sinh có tác dụng tốt nhất đối với mầm bệnh đã xác định Dùng liều cao ngay từ đầu, những lần sau có thể giảm liều lượng

- Không nên vội vàng thay đổi kháng sinh mà phải chờ một thời gian để phát huy tác dụng của kháng sinh

- Phải dùng phối hợp nhiều loại kháng sinh đẻ làm giảm liều lượng và độc tính của từng loại, làm diện tác động đến vi khuẩn rộng hơn, tác dụng điều trị và hạn chế hiện tượng vi khuẩn kháng thuốc

- Phải tăng cường sức đề kháng của cơ thể gia súc như nuôi dưỡng tốt, dùng thêm vitamin, tiêm nước sinh lý…

2.2.2 Nh ững hiểu biết về những bệnh gặp tại cơ sở

* Nguyên nhân bệnh viêm tử cung

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6], viêm tử cung là một quá trình bệnh lý thường xảy ra ở gia súc cái sau sinh sản Quá trình viêm phá hủy các

tế bào tổ chức của các lớp hay các tầng tử cung gây rối loạn sinh sản ở gia súc cái làm ảnh hưởng lớn, thậm chí làm mất khả năng sinh sản ở gia súc cái Theo Urban và cs (1983) [34], các vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung có nguồn gốc từ nước tiểu, các tác giả đã phân lập vi khuẩn từ mẫu nước tiểu lợn nái sắp sinh thường chứa các vi khuẩn E coli, Staphylococcus aureus,

vi khuẩn gây nhiễm trùng tử cung là các vi khuẩn cơ hội thuộc nhóm vi sinh vật hiếu khí có mặt ở nền chuồng, lúc lợn nái sinh cổ tử cung mở, vi khuẩn xâm nhập và gây bệnh

Theo tác giả Nguyễn Xuân Bình (2000) [2]; Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [12], Lê Minh và cs (2017) [15], bệnh viêm tử cung ở lợn nái thường do các nguyên nhân sau:

Trang 21

+ Cơ quan sinh dục lợn nái phát triển không bình thường gây khó đẻ hoặc lợn nái khó đẻ do thai quá to, thai ra ngược, thai phát triển không bình thường, + Phối giống quá sớm đối với lợn đẻ lứa đầu hoặc lợn nái già mang nhiều thai Khi đẻ tử cung co bóp yếu, do lứa đẻ trước đã bị viêm tử cung làm cho niêm mạc tử cung biến đổi nên nhau thai không ra gây sát nhau, thối rữa tạo điều kiện cho sự phát triển của vi khuẩn

+ Trong quá trình có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, tinh bột, protein và ít vận động cơ thể nên cơ thể béo dẫn đến khó đẻ Hoặc do thiếu dinh dưỡng lợn nái sẽ ốm yếu, sức đề kháng giảm nên không chống lại

vi trùng xâm nhập cũng gây viêm

+ Do dụng cụ thụ tinh nhân tạo cứng, gây xây sát sẽ tạo ra các ổ viêm nhiễm trong âm đạo hoặc tử cung hoặc do tinh dịch bị nhiễm khuẩn Những thao tác đỡ đẻ không đúng kỹ thuật, đưa dụng cụ vào cổ tử cung không an toàn, không đảm bảo vệ sinh

+ Kế phát từ các bệnh khác như bệnh viêm âm đạo, tiền đình, bàng quang hoặc các bệnh truyền nhiễm: sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao thường gây ra các bệnh viêm tử cung

+ Bệnh còn xảy ra khi chăm sóc, nuôi dưỡng, quản lý kém hoặc do thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột, thời tiết quá nóng, quá lạnh, ẩm ướt kéo dài Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Minh (2014) [16], yếu tố thời tiết, khí hậu, ảnh hưởng rõ rệt đến tỷ lệ mắc hội chứng viêm tử cung: mùa

hạ có tỷ lệ nhiễm cao nhất 53,37%, mùa Đông 46,05%, mùa Thu 43,70% Theo Đoàn Thị Kim Dung và Lê Thị Tài (2002) [5], nguyên nhân gây viêm tử cung là do vi khuẩn tụ cầu vàng (Staphylococcus aureus), liên cầu dung huyết (Streptococcus hemolitycus) và các loại Proteus vulgaris,

Theo Nguyễn Văn Thanh (2014) [24], tỷ lệ lợn nái mắc viêm tử cung tương đối cao, bệnh thường tập trung ở lợn nái đẻ lứa đầu hoặc đã đẻ nhiều lứa

Trang 22

Khảo sát tình hình viêm nhiễm đường sinh dục lợn nái sau khi sinh và hiệu quả điều trị của một số loại kháng sinh trên 143 lợn nái sau khi sinh đã phát hiện 106 con tiết dịch nghi viêm đường sinh dục, chiếm tỷ lệ 74,13% (Trần Ngọc Bích và cs, 2016) [1]

* Triệu chứng:

Sản dịch của lợn nái bình thường kéo dài trong vòng 4 - 5 ngày, cá biệt tới 6 - 7 ngày, sản dịch có màu sắc hơi đỏ do lẫn máu, sau chuyển dần sang vàng hay trắng và trong Trong trường hợp viêm thì sản dịch có màu đen hôi thối, mùi tanh rất khó chịu

Theo tác giả Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6]: khi gia súc bị bệnh viêm

tử cung ở thể viêm cơ, viêm tương mạc thì không nên tiến hành thụt rửa bằng các chất sát trùng với thể tích lớn Vì khi bị tổn thương nặng, cơ tử cung co bóp yếu, các chất bẩn không được đẩy ra ngoài, lưu trong đó làm cho bệnh nặng thêm Các tác giả đề nghị nên dùng oxytoxin kết hợp PGF2α hoặc kết hợp với kháng sinh điều trị toàn thân và cục bộ

Bệnh viêm tử cung ở lợn nái được chia làm hai thể:

+ Thể cấp tính: Con vật sốt 41 – 42°C trong vài ngày đầu âm môn sưng tấy đỏ, dịch xuất tiết từ trong âm đạo chảy ra trắng đục đôi khi có máu lờ nhờ + Thể mãn tính: Không sốt, âm môn không sưng đỏ nhưng vẫn có dịch nhầy trắng đục chảy ra từng đợt từ vài ngày đến 1 tuần Lợn nái thường thụ tinh không có kết quả hoặc khi đã có thai sẽ bị tiêu thai vì quá trình viêm nhiễm niêm mạc âm đạo tử cung lan sang thai làm chết thai

* Hậu quả của viêm tử cung:

Tử cung là một trong những bộ phận quan trọng nhất trong cơ quan sinh dục của lợn nái, nếu tử cung xảy ra bất kỳ quá trình bệnh lý nào thì đều ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản của lợn mẹ và sự sinh trưởng, phát triển của lợn con

Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [6]; Trần Thị Dân (2004) [3], khi lợn nái bị viêm tử cung sẽ dẫn tới một số hậu quả chính sau:

Trang 23

- Khi lợn bị viêm tử cung dễ dẫn tới sảy thai

- Lợn mẹ bị viêm tử cung bào thai cũng phát triển kém hoặc chết lưu

- Sau khi sinh con lượng sữa giảm hoặc mất hẳn sữa nên lợn con trong giai đoạn theo mẹ thường bị tiêu chảy

- Lợn nái bị viêm tử cung mãn tính sẽ không có khả năng động dục trở lại

- Tỷ lệ phối giống không đạt tăng lên ở đàn lợn nái viêm tử cung sau khi sinh đẻ

Nguyễn Văn Thanh và cs (2013) [23] cho rằng: bệnh viêm tử cung, viêm

vú là nguyên nhân chính gây ra mất sữa ở lợn nái nuôi con, làm lợn nái đau đớn, giảm sút cân nhanh

* Chẩn đoán lâm sàng bệnh viêm tử cung

Xuất phát từ quan điểm lâm sàng thì bệnh viêm tử cung thường biểu hiện vào lúc đẻ và thời kỳ tiền động đực, vì đây là thời gian cổ tử cung mở nên dịch viêm có thể chảy ra ngoài Số lượng mủ không ổn định, từ vài ml cho tới 200ml hoặc hơn nữa Tính chất mủ cũng khác nhau, từ dạng dung dịch màu trắng loãng cho tới màu xám hoặc vàng, đặc như kem, có thể màu máu cá Người ta thấy rằng thời kỳ sau sinh đẻ hay xuất hiện viêm tử cung cấp tính, viêm tử cung mãn tính thường gặp trong thời kỳ cho sữa Hiện tượng chảy mủ

ở âm hộ có thể cho phép nghi viêm nội mạc tử cung

Tuy nhiên, cần phải đánh giá chính xác tính chất của mủ, đôi khi có những mảnh trắng giống như mủ đọng lại ở âm hộ nhưng lại có thể là chất kết tinh của nước tiểu từ trong bàng quang chảy ra Các chất đọng ở âm hộ lợn nái còn có thể là do viêm bàng quang có mủ gây ra

Khi lợn nái mang thai, cổ tử cung sẽ đóng rất chặt vì vậy nếu có mủ chảy

ra thì có thể là do viêm bàng quang Nếu mủ chảy ra ở thời kỳ động đực thì có thể bị nhầm lẫn

Như vậy, việc kiểm tra mủ chảy ra ở âm hộ chỉ có tính chất tương đối Với một trại có biểu hiện mủ chảy ra ở âm hộ, ngoài việc kiểm tra mủ nên kết

Trang 24

hợp xét nghiệm nước tiểu và kiểm tra cơ quan tiết niệu sinh dục Mặt khác, nên kết hợp với đặc điểm sinh lý sinh dục của lợn nái để chẩn đoán cho chính xác Mỗi thể viêm khác nhau biểu biện triệu chứng khác nhau và có mức độ ảnh hưởng khác nhau tới khả năng sinh sản của lợn nái Để hạn chế tối thiểu hậu quả do viêm tử cung gây ra cần phải chẩn đoán chính xác mỗi thể viêm từ

đó đưa ra phác đồ điều trị tối ưu nhằm đạt được hiệu quả điều trị cao nhất, thời gian điều trị ngắn nhất, chi phí điều trị thấp nhất

* Phòng bệnh:

Theo Gardner (1990) [30], Smith (1995) [31], Taylor (1995) [32], tăng cường vệ sinh chuồng trại, vệ sinh thân thể lợn nái là yếu tố quan trọng trong việc phòng ngừa nhiễm trùng sau khi sinh

Theo Nguyễn Tài Năng và cs (2016) [19], vệ sinh chuồng trại sạch sẽ một tuần trước khi lợn đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20% sau đó rửa sạch bằng nước thường, tắm cho lợn trước khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục

* Điều trị

Bơm rửa tử cung ngày 1 - 2 lần, mỗi lần 2 - 4 lít nước đun sôi để nguội pha cồn iod 10%

Trang 25

Tiêm oxytocin 2ml/ con/ ngày, amoxicillin 20ml/ con/ ngày

Tiêm thuốc trợ sức: B - complex, vitamin ADE

Theo Nguyễn Văn Điền (2015) [7], đối với lợn nái viêm nhẹ, điều trị bằng cách đặt viên thuốc kháng sinh oxytetracyclin vào âm đạo từ 5 - 7 ngày Tiêm amoxicillin 15% 3 lần liên tiếp, mỗi lần cách nhau 48 giờ Đây là dạng viêm có kết quả điều trị khỏi bệnh cao

2.2.2.2 Bệnh viêm vú

* Nguyên nhân gây bệnh viêm vú

+ Khi nghiên cứu về mô học và vi khuẩn học từ mẫu mô vú bị viêm cho thấy, vi khuẩn chính gây viêm vú là Staphylococcus spp và Arcanobacterium

+ Khi lợn nái đẻ nếu nuôi không đúng cách, chuồng bẩn thì các vi khuẩn,

+ Thức ăn không phù hợp cho lợn nái, không giảm khẩu phần ăn cho lợn nái trước khi đẻ một tuần làm cho lượng sữa tiết ra quá nhiều gây tắc sữa Sau vài ngày đẻ mà lợn con không bú hết, sữa lưu là môi trường tốt cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm như: E coli, Streptoccocus, Staphylococus, Klebsiella, (Duy Hùng, 2011) [35]

+ Lợn con mới đẻ có răng nanh mà không bấm khi bú làm xây sát vú mẹ tạo điều kiện cho vi trùng xâm nhập tạo ra các ổ viêm nhiễm bầu vú

+ Chỉ cho lợn con bú một hàng vú, hàng còn lại căng quá nên viêm + Do thời tiết thay đổi đột ngột, lạnh quá hoặc nóng quá hay thức ăn khó tiêu cũng ảnh hưởng đến cảm nhiễm vi trùng

* Triệu chứng

Theo White (2013) [33], biểu hiện rõ tại vú viêm với các đặc điểm: Vú căng cứng, nóng đỏ, có biểu hiện đau khi sờ nắn, không xuống sữa, nếu vắt mạnh sữa chảy ra có nhiều con lẫn máu, sau 1 - 2 ngày thấy có mủ, lợn mẹ giảm ăn hay bỏ ăn, sốt cao 40 - 41,5oC Tùy số lượng vú bị viêm mà lợn nái

Trang 26

có biểu hiện khác nhau Nếu do nhiễm trùng trực tiếp vào bầu vú, thì đa số trường hợp chỉ một vài bầu vú bị viêm Tuy vậy, lợn nái cũng lười cho con

bú, lợn con thiếu sữa nên liên tục đòi bú, kêu rít, đồng thời do bú sữa bị viêm, gây nhiễm trùng đường ruột, lợn con bị tiêu chảy, thiếu máu

* Hậu quả của bệnh viêm vú

Khi lợn nái bị viêm vú sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sữa, từ đó

sẽ ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng phát triển của lợn con theo mẹ

Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [14]: Bệnh viêm tử cung và viêm vú là hai nguyên nhân trực tiếp gây ra sự giảm và mất sữa ở lợn nái nuôi con

* Điều trị:

Theo Trekaxova và cs (1983) [27] cho biết: Chữa bệnh viêm vú cho lợn nái hướng vào việc đưa ra các phương pháp chữa kết hợp Dùng novocain phong bế phối hợp với điều trị bằng kháng sinh cho kết quả tốt Để phong bế thần kinh tuyến sữa, tác giả đã dùng dung dịch novocain 0,5% liều từ 30 - 40

ml cho mỗi túi vú Thuốc tiêm vào mỗi thuỳ vú bệnh, sâu 88 - 10 cm Dung dịch novocain còn được bổ sung 100 - 200 ngàn đơn vị penicillin hay kháng sinh khác Đồng thời, lợn nái còn được tiêm bắp cùng một loại kháng sinh trong novocain này, từ 400 - 600 đơn vị, mỗi ngày 2 - 3 lần

Các loại kháng sinh thường dùng: Acimoxyl, pen-strep, ampicillin, gentamycin, norfloxacin, và có thể dùng corticoide để giảm viêm kết hợp với vitamin Ngoài ra trong trường hợp nái đẻ bị viêm nặng chúng ta có thể chườm cát nóng kết hợp xoa bóp bầu vú

* Nguyên nhân

- Đẻ khó do nguyên nhân cơ thể mẹ: Khi chăm sóc, nuôi dưỡng không tốt, thức ăn không đầy đủ, chất dinh dưỡng thiếu so với nhu cầu của lợn mang thai dẫn đến cơ thể mẹ suy nhược, sức khỏe kém

Trang 27

Lợn ăn quá nhiều tinh bột, protein dẫn đến béo cũng gây ra đẻ khó Lợn quá gầy cũng dẫn đến đẻ khó

Do cấu tạo tổ chức các phần mềm như: Cổ tử cung, âm đạo giãn nở không bình thường có chỗ giãn quá mạnh, chỗ lại không giãn nên việc đẩy con ra ngoài gặp khó khăn

Khung xoang chậu bị biến dạng, khớp bán động háng phát triển không bình thường, vôi hóa cột sống hay xoang chậu hẹp Trong quá trình đẻ độ giãn

nở kém, thai bị mắc trước cửa xoang chậu không ra được

Ở thời gian có thai kỳ cuối, thai quá to, lợn nái vận động mạnh, chèn ép

tử cung làm tử cung bị xoắn vặn lại, tư thế tử cung thay đổi, đường sinh dục trở nên không bình thường cũng gây đẻ khó

Do rối loạn hormone tuyến sinh dục cái: Kích tố nhau thai Relaxin lúc đẻ tiết ra ít nên không làm mất lớp canxi ở bán động háng, không giãn dây chằng

xương chậu (không sụt mông) hoặc Prostagladin tiết ít không đủ gây co bóp

tử cung nên không tống thai ra ngoài được

- Đẻ khó do nguyên nhân bào thai

Chiều hướng, tư thế của thai lúc đẻ không bình thường Theo Nguyễn Huy Hoàng (1996) [10]: các trường hợp lợn con nằm không đúng tư thế Bốn chân lợn con hướng về xương sống lợn mẹ, lợn con nằm đưa vai ra trước, lợn con đầu ngước ra sau lưng, lợn con đầu quẹo sang một bên, lợn con đưa đầu

và bốn chân ra một lượt, lợn con mõm ra trước, hai chân trước co xuống bụng, lợn con đầu cúp xuống ngực

Chế độ dinh dưỡng không phù hợp hoặc do quá ít thai, làm thai quá to không phù hợp với kích thước của xương chậu và đường sinh dục của lợn mẹ Thai bị dị hình hay quái thai

* Triệu chứng

Lợn nái đến ngàyđẻ, nước ối vỡ ra, trong nước ối có lẫn phân su nhưng không thấy thai ra Lợn nái có biểu hiện rặn nhiều lần, rặn mạnh, thậm chí lợn

Trang 28

nái còn rặn căng bụng, cong lưng, chân đạp vào thành chuồng để rặn nhưng thai vẫn không ra Do thời gian rặn đẻ mạnh và kéo dài mà thai vẫn không ra làm cho lợn nái mệt mỏi Nếu để lâu có thể dẫn đến hiện tượng thai bị ngạt

mà chết Khi đưa tay vào đường sinh dục thấy khung xoang chậu hẹp, thai to hoặc ở tư thế không bình thường nằm kẹt ở trước cửa xoang chậu

Do lợn nái rặn đẻ mạnh và kéo dài làm lợn nái mệt mỏi, kéo dài thời gian

đẻ, sức co bóp của tử cung giảm, gây ra hiện tượng sót nhau, sót con dẫn đến viêm đường sinh dục

Lợn bị nhiễm một số bệnh: Viêm tử cung, viêm vú, sảy thai truyền nhiễm,… khi đó, niêm mạc sẽ có những vết sẹo gây cản trở cho quá trình thụ thai, thai làm tổ,… dẫn đến xảy thai, tiêu thai, đẻ non ở những lần sinh sản tiếp theo, thậm chí là vô sinh

* Cách can thiệp

Xác định nguyên nhân đẻ khó để đề ra biện pháp can thiệp thích hợp

- Do khô đường sinh dục: Dùng vaseline, nước xà phòng ấm đặc bôi trơn

âm đạo

- Do hẹp âm môn: Giải phẫu mở rộng âm môn lôi thai ra

- Do rặn đẻ yếu: Tiêm VTM B1, VTM C, cafein trợ sức, đồng thời tiêm oxytoxin kích thích co bóp

- Do vị trí, tư thế thai không thuận: Dùng tay đẩy thai vào trong, xoay thai đúng tư thế từ từ lôi thai ra theo nhịp rặn của lợn nái

Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo

Trang 29

Trong quá trình sinh đẻ, niêm mạc âm môn, tiền đình và âm đạo bị xây xát, tổn thương do bào thai hay do can thiệp các trường hợp đẻ khó Do trong quá trình đỡ đẻ thao tác kỹ thuật không đúng, dụng cụ đỡ đẻ không vô trùng gây tổn thương các bộ phận sinh dục bên ngoài Ngoài ra, bệnh có thể kế phát

từ hiện tượng sảy thai, thai thối rữa trong tử cung hoặc từ bệnh sát nhau

Lúc đầu niêm mạc bộ phận bị viêm xung huyết nhẹ, có nhiều dịch thẩm xuất Kiểm tra âm đạo bằng mỏ vịt, con vật không có phản xạ đau, không có triệu chứng toàn thân Con vật rặn vặt, đi đái rắt Nhiều dịch viêm lẫn tổ chức hoại tử màu trắng chảy ra ngoài

- Nguyên nhân: Bệnh thường xuất hiện do giảm canxi huyết mất nhiều khi nái tập chung vào sữa, mà khi thành phần sữa chứa nhiều canxi thai quá

to, tư thế chiều hướng của thai không bình thường hoặc do quá trình thủ thuật kéo dài làm cho lợn nái bị tổn thương các dây thần kinh

Một phần do điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc kém dẫn đến lợn mẹ gầy yếu, gây bại liệt

- Triệu chứng: Ban đầu lợn nái không có triệu chứng toàn thân, không thấy vết thương cục bộ nhưng đi lại khó khăn hay nằm bẹp một chỗ Nếu bệnh kéo dài thì lợn mẹ không đứng dậy được rất có thể bị loét da do tiếp xúc với nền chuồng, nếu kéo dài 3 - 4 tuần lợn gầy dần rồi chết

- Hậu quả: Làm cho lợn nái đi lại khó khăn hoặc mất đi khả năng vận động, nếu bệnh kéo dài có thể loét từng mảng da do tiếp xúc lâu với nền chuồng Lợn sẽ lâu động dục hoặc không động dục trở lại và có khả năng gây chết lợn

- Chẩn đoán: Dựa vào triệu chứng lâm sàng để chuẩn đoán bệnh như: Lợn nái đi lại khó khăn, nằm bẹp một chỗ

Trang 30

2.2.2.5 B ệnh sót nhau

Lợn nái bị viêm niêm mạc tử cung nên sau khi đẻ nhau không ra hết, can thiệp vội vàng, thô bạo, không đúng kỹ thuật nên nhau bị đứt và sót lại Lợn nái quá già, đẻ nhiều đuối sức, tử cung co bóp kém không đẩy được nhau ra

* Nguyên nhân:

Theo Trịnh Đình Thâu và cs (2010) [25], sau khi để tử cung co bóp yếu trong thời gian mang thai nhất là giai đoạn cuối con vật không được vận động thỏa đáng Trong thức ăn thiếu các khoáng chất, nhất là canxi và phospho Hoặc tử cung bị sa liệt, con vật quá gầy yếu hoặc quá béo, chửa quá nhiều thai, thai quá to, khó đẻ, nước ối quá nhiều làm tử cung giãn nở quá mức Do viêm niêm mạc tử cung trước lúc đẻ làm dính nhau với tử cung hoặc nhau chưa ra hết thì người đỡ đẻ đã kéo đứt còn lại một ít sót lại trong tử cung Do lợn con còn sót lại ở trạng thái nằm sai vị trí làm tắc đường ra của nhau

- Triệu chứng: Sau khi đẻ 4 - 5 giờ không thấy nhau ra hoặc ra không hết

là bị sót nhau Lợn nái rặn nhiều, đôi khi bỏ ăn, sốt cao liên tục 40 – 41°C trong vòng 1 - 2 ngày, lợn mẹ cắn con, không để cho con bú, niêm dịch chảy

ra màu đục, lẫn máu

- Điều trị: Can thiệp kịp thời ngay khi nái có biểu hiện bệnh, không để quá muộn sẽ gây ra viêm tử cung, can thiệp đúng kỹ thuật, không quá mạnh tay, tránh gây tổn thương Tiêm oxytoxin để kích thích co bóp tử cung cho nhau còn sót lại đẩy ra ngoài hết Sau khi nhau thai ra dùng nước muối sinh lý 0,9% để rửa tử cung trong ba ngày liên tục (Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh, 2010) [25]

Tìm hiểu nguyên nhân lợn triệu chứng và kinh nghiệm chăm sóc ta phân lập viêm phổi của lợn do đâu và nguyên nhân gì, kiểm tra lại hệ thống thức

ăn, các vận hành: Quạt, giàn mát, nhiệt độ, vệ sinh, độ đồng đều nhằm đưa

ra biện pháp điều trị đúng bệnh, đúng thuốc, khắc phục kịp thời, tránh tình

Ngày đăng: 24/11/2021, 13:57

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm