1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan niệm duy vật về lịch sử trong tác phẩm hệ tư tưởng đức của c mác – ph ăngghen

85 50 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 85
Dung lượng 853,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trong thực tiễn, các công trình nghiên cứu đối với: Quan niệm duy vật về lịch sử trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức được rất nhiều nhà khoa học n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

HỒ CHÍ MINH

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

HOÀNG TUẤN ANH

QUAN NIỆM DUY VẬT VỀ LỊCH SỬ TRONG TÁC PHẨM

HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC CỦA C.MÁC VÀ PH.ĂNGGHEN

Ngành: Triết học

Mã số : 60 22 03 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ NHƯ HUẾ

HÀ NỘI - 2016

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Như Huế Tài liệu và số liệu trích dẫn trong luận văn là hoàn toàn trung thực và đáng tin cậy Kết quả của luận văn không trùng lặp với những công trình đã được công

bố trước đây

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

HOÀNG TUẤN ANH

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: BỐI CẢNH LỊCH SỬ CHO SỰ RA ĐỜI VÀ KẾT CẤU TÁC PHẨM “HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC” CỦA C MÁC – PH.ĂNGGHEN TRONG TÁC PHẨM HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC 7

1.1 Bối cảnh lịch sử ra đời tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” của C.Mác – Ph.Ăngghen 7

1.2 Kết cấu tác phẩm 19

1.3 Khái quát nội dung chủ yếu của tác phẩm Hệ tư tưởng Đức 20

Chương 2: HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC – NHỮNG QUAN NIỆM DUY VẬT LỊCH SỬ CƠ BẢN VÀ GIÁ TRỊ CỦA TÁC PHẨM 24

2.1 Những nội dung cơ bản về duy vật lịch sử trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức 24

2.2 Giá trị và ý nghĩa của tác phẩm Hệ tư tưởng Đức 58

KẾT LUẬN 75

TÀI LIỆU THAM KHẢO 77

TÓM TẮT LUẬN VĂN 81

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Khi nghiên cứu triết học Mác – Lênin chúng ta không thể không tìm hiểu, nghiên cứu các tác phẩm kinh điển Trước đây, Ph.Ăngghen đã từng nhắc nhở những người mác xít trẻ phải đọc tác phẩm gốc của Mác, không được dựa vào các tài liệu không phải là nguyên gốc Không đọc được “bản gốc” mà phải đọc qua “bản dịch” của “bản dịch” đó là một hạn chế cần phải khắc phục Tuy nhiên, không ít người nghiên cứu học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, nhưng lại không trực tiếp đọc chính những tác phẩm kinh điển (dù chỉ

là bản dịch), mà chủ yếu là qua những tài liệu giới thiệu, giải thích của người khác Tất nhiên, những tài liệu này cũng có những giá trị nhất định nhưng nếu chỉ dừng lại ở mức độ đó, thì khó có thể nắm được “tinh thần đích thực” của các nhà kinh điển

"Hệ tư tưởng Đức" là sự phát triển những tư tưởng cơ bản của các tác

phẩm "Bản thảo kinh tế - triết học năm 1844", "Luận cương về Phoi - ơ - bắc" (1845) v.v Trong bản thảo này, lần đầu tiên, một quan điểm tổng quát, một phát minh vĩ đại của C.Mác ra đời - nhận thức duy vật về lịch sử (chủ nghĩa duy vật lịch sử) - đó là cơ sở triết học trực tiếp của học thuyết về chủ nghĩa cộng sản khoa học Đây là tác phẩm đánh dấu bước tiến mới của các ông trong việc phát triển chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử

và chủ nghĩa cộng sản khoa học Tuy không được xuất bản, nhưng trong quá trình sáng tạo đó, chủ nghĩa Mác đã chín muồi trong chất của thế giới quan tổng thể mới Mọi hoạt động lý luận và thực tiễn về sau của các nhà sáng lập

ra thế giới quan đó đều dựa trên thành tựu vĩ đại này Chính vì ý nghĩa quan trọng như vậy nên cần nghiên cứu các tác phẩm kinh điển, trong đó có tác

phẩm “Hệ tư tưởng Đức” là rất cần thiết

Trang 5

Như vậy, việc nghiên cứu tác phẩm Hệ tư tưởng Đức góp phần khẳng định

giá trị và sức sống của triết học Mác – Lênin nói riêng và chủ nghĩa Mác – Lênin nói chung.Với những lý do trên tôi chọn nghiên cứu “Quan niệm duy vật về lịch

sử trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức của C.Mác – Ph.Ăngghen” làm luận văn thạc

sĩ triết học

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong thực tiễn, các công trình nghiên cứu đối với: Quan niệm duy vật

về lịch sử trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức được rất nhiều nhà khoa học

nghiên cứu, nhiều học giả tìm hiểu, phân tích trên nhiều bình diện khác nhau, trong đó phải kể đến mốt số bài viết và công trình tiêu biểu như:

Bài viết của tác giả Lê Thị Thanh Hà (Viện kinh điển mác xít, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh): “Một số vấn đề Triết học về con

người trong Hệ tư tưởng Đức” đã nêu lên quan điểm của C.Mác và

Ph.Ăngghen về con người Các ông cho rằng, cần phải bắt đầu từ những con người hiện thực, cụ thể hoạt động sản xuất là điều kiện nền tảng cho sự tồn tại, phát triển của con người Với tính cách một thực thể sinh học xã hội, có ý thức và năng lực sáng tạo, con người vừa là chủ thể, vừa là đối tượng của quá trình phát triển lịch sử

Tác giả Nguyễn Quang Hưng trong bài viết: “Hệ tư tưởng Đức trong

sự tiến triển quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về tôn giáo” Đã đề cập và

làm rõ lịch sử của “Hệ tư tưởng Đức” trong sự tiến triển quan niệm của

C.Mác và Ph.Ăngghen về tôn giáo, trước hết tác giả đã chỉ ra và phân tích bối cảnh lịch sử hình thành quan niệm của các ông về tôn giáo Tiếp đó, tác giả đã

luận giải những luận điểm chủ yếu của các ông về tôn giáo trong “Hệ tư

tưởng Đức” để qua đó, khẳng định đây là tác phẩm đánh dấu bước đột phá

trong quan niệm của các ông về tôn giáo khi coi tôn giáo là một hình thái ý thức xã hội bị chi phối bởi cơ sở kinh tế, xã hội, mang tính lịch sử cụ thể

Trang 6

Bài viết: “Hệ tư tưởng Đức - Tác phẩm đánh dấu sự ra đời một thế

giới quan mới, một quan niệm mới duy vật về lịch sử” của tác giả Đặng Hữu Toàn đăng trên tạp chí triết học số 1 (176) – 2006 trong đó chỉ ra rằng: Tác

phẩm Hệ tư tưởng Đức đã trình bày một cách tương đối hoàn chỉnh, có hệ

thống, để trên cơ sở đó xây dựng một quan niệm mới duy vật biện chứng về thế giới và về lịch sử nhân loại Khẳng định rằng cái làm nên giá trị trường

tồn, sức sống bền vững và ý nghĩa lịch sử lớn lao của Hệ tư tưởng Đức chính

là thế giới quan duy vật biện chứng và quan niệm duy vật về lịch sử

Bài viết: “Quan niệm duy vật về lịch sử với tư cách là một hệ thống lý

luận khoa học trong Hệ tư tưởng Đức” của tác giả Phạm Văn Chung đăng trên

tạp chí triết học số 3(178) – 2006 thì khẳng định quan điểm duy vật lịch sử

mà C.Mác – Ph.Ăngghen đưa ra trong hệ tư tưởng Đức là hệ thống lý luận khoa học Tác giả phân tích quá trình hình thành phương pháp tư duy hệ thống ở các ông, làm rõ tiến trình xây dựng và phát triển quan niệm này của C.Mác và Ph.Ăng ghen về xã hội về lịch sử nhân loại với tư cách một hệ thống, một chỉnh thể không ngừng vận động phát triển, chứng minh tính hệ

thống mà các ông đã xây dựng trong quan niệm duy vật về lịch sử

Bài viết: “Về một số nguyên lý cơ bản của học thuyết chủ nghĩa cộng

sản khoa học trong Hệ tư tưởng Đức” của tác giả Trần Ngọc Linh đăng trên

tạp chí triết học số 9(184) – 2006 đã chỉ ra rằng Học thuyết về chủ nghĩa cộng

sản khoa học được C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày trong Hệ tư tưởng Đức là

hệ quả trực tiếp của chủ nghĩa duy vật lịch sử do hai ông phát hiện và xây dựng Qua đó khẳng định vai trò quyết định của sản xuất vật chất trong đời sống xã hội, chỉ ra mối qua hệ biện chứng giữa Lực lượng sản xuất và Quan

hệ sản xuất, Tồn tại xã hội và ý thức xã hội… Bên cạnh đó còn luận chứng về tính tất yếu triệt để của cách mạng vô sản, về vai trò và sứ mệnh lịch sử toàn

Trang 7

thế giới của giai cấp vô sản, luận giải về vấn đề xóa bỏ sở hữu tư nhân về tư

liệu sản xuất

Bài viết: “Xuất phát điểm nghiên cứu của C.Mác – Ph.Ăngghen trong

Hệ tư tưởng Đức” của tác giả Lương Mỹ Vân đăng trên tạp chí triết học số 6 (181) – 2006 đã phân tích và đánh giá các quan điểm, lý luận của C.Mác – Ph.Ăngghen trong tác phẩm Khẳng định trong tác phẩm này khi đề xuất quan niệm duy vật về lịch sử C.Mác và Ph.Ăngghen đã xuất phát từ con người, cá nhân hiện thực với tất cả những quan hệ, liên hệ phong phú và phức tạp của

họ trong đời sống xã hội với hoạt động lao động sản xuất họ và coi đó là xuất phát điểm nghiên cứu, với xuất phát điểm đó các ông đã luận giải khoa học về đời sống xã hội của con người, về lịch sử nhân loại và xây dựng nên quan niệm duy vật lịch sử đồng thời phê phán chỉ ra những hạn chế duy tâm, tư biện trong quan niệm của các nhà triết học Đức hiện đại như Phoi - ơ - bắc, Bau ơ…

Nhìn chung, các công trình trên đã đề cập đến một trong những nội

dung triết học trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, song việc nghiên cứu

những nội dung duy vật về lịch sử một cách có hệ thống để từ đó rút ra ý nghĩa của tác phẩm đối với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa và xây dựng ý thức xã hội, đời sống tinh thần lành mạnh,

tiến bộ vẫn là việc làm có ý nghĩa và cần thiết

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 8

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, luận văn cần thực hiện nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu hoàn cảnh lịch sử, mục đích và kết cấu của tác phẩm

- Phân tích những nội dung triết học duy vật về lịch sử trong tác phẩm

- Khẳng định giá trị và ý nghĩa của tác phẩm đối với lịch sử tư tưởng triết học của nhân loại và ý nghĩa đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu các quan niệm duy vật về lịch sử của triết học Mác – Lênin

trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nghiên cứu các quan niệm duy vật lịch sử về con người, về sản xuất vật chất, lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, tồn tại xã hội và ý thức xã hội

trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng

Hồ Chí Minh, đặc biệt là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật

lịch sử

Luận văn cũng dựa trên các tài liệu về triết học Mác - Lênin, tác phẩm kinh điển, đồng thời có kế thừa và sử dụng một số các kết quả nghiên cứu khoa học của các tác giả đã nghiên cứu và được công bố trên sách, báo, tạp chí có liên quan đến đề tài

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp trong quá trình nghiên cứu khoa học, chủ yếu là phương pháp lịch sử và lôgíc, so sánh, phân tích, tổng hợp

Trang 9

6 Đóng góp mới của luận văn

- Hệ thống những quan niệm duy vật về lịch sử của C.Mác và

Ph.Ănghen trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

- Khẳng định giá trị và ý nghĩa của những quan niệm duy vật về lịch sử

trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức đối với lịch sử tư tưởng triết học của nhân

loại vàý nghĩa đối với công cuộc đổi mới ở Việt Nam hiện nay

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về mặt lý luận: Đề tài góp phần làm sâu sắc hơn chủ nghĩa duy vật lịch

sử trong triết học Mác – Lênin

Về mặt thực tiễn: Kết quả của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham

khảo trong nghiên cứu, học tập triết học, tác phẩm kinh điển cho sinh viên và

những người quan tâm đến vấn đề này

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, kết cấu luận văn gồm

2 chương và 5 tiết

Trang 10

Chương 1 BỐI CẢNH LỊCH SỬ CHO SỰ RA ĐỜI VÀ KẾT CẤU

TÁC PHẨM “HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC”

CỦA C.MÁC – PH.ĂNGGHEN

1.1 Bối cảnh lịch sử ra đời tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” của C.Mác – Ph.Ăngghen

1.1.1 Điều kiện kinh tế - chính trị

Về kinh tế, từ những năm 1830 đến những năm 1846, nhiều nước

phương Tây đang chứa đựng các yếu tố tư bản hoặc đã tiến hành xong cách mạng tư sản và đang trên con đường phát triển kinh tế Như ở nước Anh – khi

đó đang giữ vị trí nền kinh tế lớn nhất thế giới: tốc độ phát triển công nghiệp tăng nhanh chóng, tỉ lệ sử dụng máy móc vào quá trình sản xuất ngày càng gia tăng, “ngành luyện kim và cơ khí phát triển rất nhanh nhằm đáp ứng nhu cầu trang bị kĩ thuật toàn bộ nền công nghiệp Đồng thời, đường sắt tăng lên nhanh chóng” [44, tr.106] Sự phát triển này một mặt đã thúc đẩy nền kinh tế trong nước cũng như tăng cường sự hợp tác kinh tế giữa các trung tâm công nghiệp khác trên thế giới nhưng mặt khác khi kinh tế nước Anh lâm vào khủng hoảng năm 1837 thì nó cũng kéo theo hiệu ứng ảnh hưởng dây chuyền đến những nước khác trong châu Âu

Tại Pháp – khi đó đang là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sự phát triển của kinh tế tư bản diễn ra mạnh mẽ, biểu hiện: “số lượng máy hơi nước được

sử dụng tăng lên nhanh chóng: năm 1820 – 65 cái, năm 1830 – 616 cái Sản lượng các ngành công nghiệp nặng cũng tiến bộ rõ rệt: than năm 1832 là 225 nghìn tấn, đến 1846 lên 586 nghìn tấn; sắt và thép năm 1832 là 148 nghìn tấn

và đến 1846 là 373 nghìn tấn Việc xây dựng đường sắt được đẩy mạnh: từ năm 1831 – 1841 dài 38 – 573 km” [44, tr.107]

Trang 11

Tại Mỹ, tuy có sự khác biệt kinh tế giữa ba vùng trong nước: Ở miền Đông Bắc, kinh tế tư bản phát triển mạnh, miền Tây kinh tế trại chủ lại phát triển trong khi ở miền Nam lại thịnh hành chế độ đồn điền dựa trên việc bóc lột sức lao động của nô lệ da đen nhưng do đã tiến hành cuộc chiến tranh giành độc lập từ giữa thế kỉ XVIII, hơn nữa lại nằm tách biệt tại một châu lục, nên có điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế Biểu hiện: “Cuộc cách mạng công nghiệp bắt đầu tiến hành đầu thế kỉ XIX từ ngành dệt rồi lan sang các ngành luyện kinh, công nghiệp nặng và đường sắt Trong khoảng 1830 –

1837, lượng gang tăng 51%, than tăng 266% Việc phát hiện ra mỏ vàng ở Caliphoocnia càng thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa đó” [44, tr.107]

Tại những nước khác của Châu Âu, tuy chưa tiến hành cách mạng tư sản, nhưng nhân tố tư bản chủ nghĩa cũng đã nảy sinh trong nền kinh tế các nước này Ví như nước Ý, quan hệ sản xuất phong kiến còn chiếm địa vị thống trị, đất nước bị chia cắt, một bộ phận đất nước bị rơi vào tay đế quốc Áo Cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp: “Chỉ có ở miền Bắc, nhất là Lôngbacđia và Piêmông xuất hiện những công xưởng dệt vải Đến những năm 40, việc sử dụng máy móc mới bắt đầu được tiến hành” [44, tr.108] Tại nước Áo, những yếu tố tư bản chủ nghĩa xuất hiện từ sớm nhưng lại phát triển rất chậm

Về chính trị, tuy kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển giúp nâng cao năng

suất lao động; nhiều trung tâm công thương nghiệp, thành phố ra đời; giao thông, thông tin liên lạc ngày càng hiện đại, nhưng không phải tất cả các tầng lớp nhân dân được hưởng lợi từ thành quả đó, nhất là giai cấp công nhân Trong thời kì đấu tranh chống chế độ phong khiến, họ cùng giai cấp tư sản đứng lên làm cách mạng, nhưng rồi mọi thành quả lại bị giai cấp tư sản chiếm đoạt Đến thời kì chủ nghĩa tư bản phát triển, họ lại trở thành đối tượng bị bóc lột Như ở Anh: “ngày lao động kéo dài tới 16 – 18 giờ Số công nhân lớn tuổi chỉ chiếm chừng 30%, còn lại là những công nhân chưa đến tuổi trưởng

Trang 12

thành Tiền lương của công nhân, phụ nữ và trẻ em rẻ mạt hơn lương đàn ông Trong hai mươi năm 1815 – 1835, tiền lương thực tế giảm sút ba lần Điều kiện ăn ở vệ sinh rất thấp kém” [44, tr.111]

Xuất phát từ thực tế đó, tại châu Âu nhiều phong trao đấu tranh của công nhân đã nổ ra Năm 1831, công nhân dệt ở thành phố Lyon (Pháp) đã đứng lên khởi nghĩa với khẩu hiệu “Sống có việc làm hay chết trong chiến đấu” [44, tr.114] Sau nhiều trận kịch chiến trên đường phố, họ đã làm chủ được thành phố Lyon trong 3 ngày Tuy nhiên do trình độ tổ chức còn kém, phương hướng hoạt động chưa rõ ràng, nên sau đó bị quân đội chính phủ đàn

áp nhanh chóng Nhưng phong trào không chịu khất phục, đến năm 1834, cuộc khởi nghĩa lần hai diễn ra với khẩu hiệu “Cộng hòa hay là chết” [44, tr.114] Tuy cả hai cuộc khởi nghĩa đều thất bại, nhưng đã đánh dấu sự lớn mạnh của giai cấp công nhân Pháp, lần đầu tiên giai cấp công nhân bước lên

vũ đài chính trị với tư cách là một giai cấp độc lập, chống lại kẻ thù là giai cấp tư sản bằng phương thức bạo lực Cuộc khởi nghĩa cũng đã truyền cảm hứng cho lực lượng công nhân ở các trung tâm công nghiệp khác của châu Âu trong những năm 30 – 40 của thế kỉ XIX Đỉnh điểm của nó là phong trào Hiến chương của công nhân Anh

Lãnh đạo phong trào Hiến chương này là Hội công nhân London được thành lập năm 1836 với những lãnh tụ là: William Lovett (1800 – 1877), Henry Hetherington (1792 – 1849), Henry Vincent (1813 – 1878) Tháng 5/1838, Hội công bố bản Hiến chương với các nội dung: hàng năm bầu cử quốc hội, trả lương cho nghị viện, xóa bỏ mọi hình thức thuế đối với điều kiện ứng cử nghị viện, bỏ phiếu kín, phân chia khu vực bầu cử bình đẳng, thực hiện quyền phổ thông đầu phiếu (đối với nam là 21 tuổi trở lên) Từ đây, nhiều cuộc đại mít tinh quy tụ lượng lớn người tham gia để thảo luận hiến chương

Trang 13

Cuộc đại mít tinh lần thứ nhất diễn ra vào 5/1839, “bản kiến nghị mang 1.125.000 chữ kí được đệ trình lên nghị viện Công nhân chủ trương đấu tranh bằng hòa bình nếu có thể được, bằng bạo lực nếu không còn cách nào khác” [44, tr.117] Vì nghị viện đã bác bỏ kiến nghị, nên phong trào đã chuyển sang đấu tranh bằng bạo lực Ngày 15 tháng 6 năm 1839 một cuộc khởi nghĩa nổ ra tại Birmingham nhưng sau đó bị đàn áp Sau đó Hội công nhân London kêu gọi tổng bãi công toàn quốc vào ngày 12 tháng 8 song do một bộ phận lãnh đạo trong Hội chủ trương chỉ đấu tranh hòa bình, nên dẫn đến phong trào đấu tranh bị giảm sút

Đến năm 1842, thời điểm kinh tế Anh đang trong giai đoạn khủng hoảng, đời sống nhân nhân quá khổ cực, có tới hơn một triệu người lâm vào thất nghiệp Vì thế, phong trào Hiến chương lại nổ ra vào ngày 2 tháng 5 năm 1842: “một bản kiến nghị mới được đệ trình lên nghị viện với 3.315.752 chữ

kí Kiến nghị đề cập tới những vấn đề xã hội, vạch trần chế độ chính trị ở Anh

là “một bên thì độc đoán, còn bên kia là nô lệ nhục nhã”, nêu lên tình trạng khốn cùng trong đời sống công nhân Kiến nghị đòi thủ tiêu ách áp bức của Anh đối với Ailen vì công nhân đã thấy được mối liên hệ bóc lột của giai cấp

tư sản đối với nhân dân Anh và Ailen” [44, tr.117] Nghị viện lại một lần nữa bác bỏ kiến nghị, nên dẫn đến phong trào bãi công bắt đầu từ các xưởng dệt ở thành phố Manchester lan ra các thành phố khác và dần mang tính bãi công toàn quốc Tuy sau đó bị chính phủ đàn áp, nhưng phong trào cũng buộc nghị viện phải thông qua luật rút thời gian lao động của công nhân xuống còn 10 giờ/ngày

Trong khi tình hình thế giới đang diễn biến rất sôi động với sự phát triển kinh tế của chủ nghĩa tư bản, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, thì tại Đức lại hàm chứa những đặc điểm sau:

Trang 14

Về kinh tế Đức, một số yếu tố của kinh tế tư bản chủ nghĩa đã hình thành Quan hệ sản xuất tư bản phát triển mạnh mẽ ở vùng sông Rhine và Westphalia (do ảnh hưởng của cách mạng tư sản Pháp nên nhân dân ở đây

đã được giải phóng phần nào khỏi chế độ phong kiến): “có nhiều nguyên liệu hơn cả Beclin, thủ đô của Phổ Nó trở thành một trung tâm công thương nghiệp của nước Đức, tập trung 1/3 sản xuất cơ khí và vải hoa của cả nước.” [44, tr.108] Sự tiến bộ kĩ thuật thể hiện rõ rệt trong ngành vận tải: đường sắt được xây dựng vào năm 1831 và đến năm 1840, hệ thống đường sắt đã kết nối các thành phố lớn Tuy nhiên, xét trên toàn cục diện nước Đức, do quan

hệ sản xuất phong kiến vẫn thống trị, vì thế nền kinh tế Đức vẫn phát triển rất trì trệ

Về chính trị Đức, giai cấp công nhân ngày càng lớn mạnh về cả số lượng lẫn ý thức Thống kê cho thấy năm 1800 có khoảng 85.000 công nhân, nhưng đến năm 1830 đã lên đến 450.000 và đến những năm 1846 đã lên đến hơn 800.000 người, trong đó có khoảng 180.000 là phụ nữ và 100.000 là trẻ

em Đa số công nhân phải làm việc trong các công trường thủ công hay trong những xưởng sản xuất nhỏ nửa thủ công Môi trường làm việc như vậy đã hạn chế ý thức giai cấp và trình độ chính trị tư tưởng của công nhân Mặt khác, do chịu sự kiểm soát chặt chẽ của nhà nước phong kiến nên những nhà cách mạng đều buộc phải hoạt động ở nước ngoài Phải mãi đến năm 1836, giai cấp công nhân Đức mới thành lập được tổ chức mang tên “Đồng minh những người chính nghĩa”

Trước tình thế đời sống vô cùng khổ cực, lại vừa chịu sự bóc lột của cả giai cấp tư sản lẫn giai cấp phong kiến, nên nhiều cuộc đấu tranh đã nổ ra, tiêu biểu nhất là cuộc khởi nghĩa của thợ dệt Schlesien năm 1844: “Mùa hè năm đó, công nhân nhiều xưởng và công trường thủ công dệt ở vùng Schlesien đấu tranh đòi tăng lương, phá hủy nhà cửa của bọn tư sản Chính

Trang 15

quyền địa phương kéo quân lính đến đàn áp và đập tan cuộc khởi nghĩa Tuy thất bại, sự kiện Schlesien chứng tỏ rằng giai cấp công nhân ở Đức cũng như

ở Anh và Pháp đã bước đầu tiến hành đấu tranh cho quyền lợi giai cấp của mình Cuộc khởi nghĩa Schlesien được sự đồng tình của công nhân các quốc gia Đức, Tiệp và nhiều nơi khác Nó có tác dụng góp phần vào việc làm thức tỉnh đoàn kết giai cấp công nhân Đức” [44, tr.118]

Như vậy, cùng với sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, lịch sử Châu Âu nói chung và nước Đức nói riêng đã xuất hiện những mầm mống cho việc hình thành một xã hội mới, một xã hội mà ở đó giai cấp công nhân và nhân dân lao động sẽ là những người làm chủ xã hội Tuy nhiên, điều này chỉ có thể xảy ra khi mà giai cấp công nhân và quần chúng nhân dân lao động có được một hệ tư tưởng cách mạng và khoa học soi đường, chỉ lối Đòi hỏi bức thiết lúc này là phải có được một hệ tư tưởng chân chính, cách mạng và khoa học, góp phần dẫn dắt giai cấp công nhân trong cuộc đấu tranh lật đổ chế độ tư bản chủ nghĩa thiết lập một xã hội mới, xã hội không có tình trạng người bóc lột người, xã hội do giai cấp công nhân và nhân

dân lao động là người làm chủ Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức của C.Mác và

Ph.Ăngghen ra đời đã đáp ứng những đòi hỏi bức thiết đó của lịch sử

1.1.2 Điều kiện tư tưởng, văn hóa – xã hội

Tại châu Âu, trước thực tiễn của chủ nghĩa tư bản cùng phong trào công nhân đã dẫn đến sự hình thành các học thuyết kinh tế chính trị xã hội Đầu tiên phải kể đến, học thuyết về chủ nghĩa xã hội không tưởng tại Anh và Pháp, trước tình trạng cực khổ của quần chúng nhân dân, nhiều nhà tư tưởng

đã nhận thức được mặt trái của xã hội tư bản Họ nêu lên những tư tưởng về xây dựng một cuộc sống mới không còn bóc lột Một số đại biểu nổi bật của chủ nghĩa này là:

Trang 16

Robert Owen (1771 – 1858) nhận định chế độ tư hữu và lao động làm

thuê là nguồn gốc của sự nghèo khổ Thông qua các tác phẩm “Quan điểm

mới về xã hội hay tiểu luận về nguồn gốc của sự hình thành đặc tính nhân loại” (1814), “Thế giới đạo đức mới” (1844) có thể thấy “Ông chủ trương

xây dựng những công xã, trong đó tài sản là của chung, xóa bỏ sự nghèo khổ, lao động trở thành nghĩa vụ và hạnh phúc của mọi người Ông nhìn thấy ba trở lực lớn để xây dựng xã hội mới là chế độ tư hữu, tôn giáo và hôn nhân tư sản Ông chủ trương đi theo con đường thuyết phục hòa bình, phản đối bạo lực cách mạng, không dựa vào lực lượng giai cấp công nhân” [44, tr.113] R Owen đã cho xây dựng thí nghiệm xã hội mới tại Scotland với một số nội dung như: bãi bỏ chế độ phạt tiền, đặt ra chế độ tiền thưởng, xây dựng nhà trông trẻ miễn phí cho công nhân, thời gian lao động đến 10 giờ/ngày, Tuy các đại biểu của chủ nghĩa xã hội không tưởng đã nhận thấy một số yếu tố trong khiếm khuyết của chủ nghĩa tư bản, nhưng lại không tìm ra được con đường giải phóng thực sự khoa học Vì thế các học thuyết sớm chấp nhận sự đào thải của lịch sử

Charles Fourier (1772 – 1837) nhận định sự phát triển của lịch sử xã hội loài người trải qua 4 giai đoạn: mông muội, dã man, gia trưởng và văn minh Văn minh là giai đoạn của chủ nghĩa tư bản, là giai đoạn mà “sự nghèo khổ sinh ra từ chính bản thân sự thừa thãi” [44, tr.112], là xã hội mà quyền lợi chỉ thuộc về số ít người xuất thân trong gia đình thương nhân Ngoài ra, do sớm tiếp cận với công việc buôn bán, nên ông nhận ra những hành vi xảo quyệt trong công việc này Học thuyết của ông vạch trần những mánh lới trục lợi của thương nhân, bộ mặt thật của những lời lẽ hứa hẹn viển vông của giai cấp tư sản Từ đây, ông chủ trương xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn: Trong xã hội đó gồm nhiều công xã, các công xã lại gồm nhiều thành phần

Trang 17

sản xuất kết hợp giữa nông nghiệp và công nghiệp; không có ai ăn bám, lao động vừa là nhu cầu, vừa là nghĩa vụ, vừa là niềm vui của tất cả mọi người

Ngoài ra, trong thời kì này còn có trào lưu xã hội chủ nghĩa tiểu tư sản với các đại biểu:

Étienne Cabet (1788 – 1856) là một triết gia người Pháp Tác phẩm

“Chuyến du lịch và khám phá của Chúa William Caris ở Icaria” (1840) đã

cho bộc lộ những những tư tưởng của ông về một xã hội lý tưởng, nơi mà mọi người có quyền lao động và bình đẳng, không còn nạn bóc lột; nền kinh tế nơi đây được trang bị máy móc và phương tiện kĩ thuật hiện đại Để đạt được mục tiêu đó, ông chủ trương đấu tranh bằng biện pháp hòa bình, tin vào sự điều hòa giai cấp giữa người giàu và người ngèo sẽ làm ổn định xã hội, chưa thấy được vai trò lịch sử và sứ mệnh của giai cấp công nhân

Pierre-Joseph Proudhon (1809 – 1865) là một nhà xã hội học, kinh tế

học, nhà văn với các tác phẩm “Sở hữu là gì” (1840), “Cảnh báo về quyền sở

hữu” (1842) Ông chủ trương cải thiện xã hội tư bản bằng cách duy trì chế độ

tư hữu, chỉ cần loại bỏ những nhân tố xấu xa khác Ông còn chủ trương thành lập ngân hàng nhân dân chuyên dùng để cho người dân vay vốn mà không lấy lãi để giúp họ có được tư liệu sản xuất và trở thành thợ thủ công; thành lập ngân hàng trao đổi để cho mọi người có thể tiêu thụ sản phẩm của mình được công bằng mà không liên quan tới chế độ sở hữu tư bản chủ nghĩa Ông lên án mọi hình thức nhà nước, chủ trương theo con đường chủ nghĩa vô chính phủ

Louis Blanc (1811 – 1882) là một chính khách, nhà sử học, nhà báo

người Tây Ban Nha với các tác phẩm “Tổ chức lao động” (1839), “Lịch sử

mười năm” (1840) Ông lên án chế độ tư bản song lại không nhận ra nhà nước

tư sản chính là công cụ thống trị và bóc lột những người lao động, không nhận thấy được bản chất của cuộc đấu tranh giai cấp Ông chủ trương đấu

Trang 18

tranh bằng con đường hòa bình thông qua tuyển cử, thành lập các hội sản xuất với sự giúp đỡ của nhà nước tư sản

Những trào lưu tư tưởng này tuy còn bộc lộ nhiều nhược điểm như chưa nhận thấy được bản chất thực sự của nhà nước tư sản, chế độ tư bản; chưa nhận ra vai trò quan trọng, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân; song

đã thể hiện bước tiến bộ không nhỏ trong tư tưởng chính trị thời bấy giờ, cho thấy khát khao xây dựng một xã hội mới công bằng, dân chủ và tốt đẹp hơn

Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức được soạn thảo khoảng năm 1845 – 1846,

nhằm nêu bật lý luận giải phóng giai cấp vô sản, thế giới quan triết học của chủ nghĩa Mác như sự đối lập với hệ tư tưởng tư sản và tiểu tư sản trên mọi phương diện Ở giai đoạn này có thể thấy, sau cuộc cách mạng tư sản đầu tiên, chủ nghĩa tư bản tiếp tục vận động theo hướng đi lên, nhưng tính chất đối kháng của sự phát triển ngày cảng trở lên gay gắt Trong khi Anh và Pháp đang vững bước trên con đường phát triển tư bản chủ nghĩa thì theo C.Mác và Ph.Ăngghen “tại Đức lúc đó thiếu hẳn một cột mốc dẫn đường, mặc dù không

ít học thuyết tự xưng là đại diện chân chính cho tinh thần Đức (Phái Hê ghen trẻ, chủ nghĩa xã hội chân chính…)” [26, tr13]

Và có thể thấy đối lập với những học thuyết tư tưởng về việc phê phán

xã hội đương thời, tìm hướng đi cho xã hội tương lai thì tại Đức lại tồn tại các trào lưu tư tưởng sau:

Phái Hê ghen trẻ được thành lập sau khi nhà triết học Hê ghen (1770 – 1831) từ trần Gồm các đại biểu: Ludwig Feuerbach (1804 – 1872), Max Stirner (1806 – 1856), David Strauss (1808 – 1874), Bruno Bauer (1809 – 1882), Carl Nauwerck (1810 – 1891) Đây là trường phái đối lập với phái

“Hegel già” gồm các đại biểu như: Karl Daub (1765 – 1836), Carl Goschel (1781 – 1861), Georg Gabler (1786 – 1853) Họ tự xưng là “những nhà triết học cách mạng Đức hiện đại với những “lời lẽ khoa trương” về khát vọng giải

Trang 19

thoát (khỏi chủ nghĩa giáo điều)” [32, tr.30] Họ chủ trương phê phán tôn giáo

và tự nhận vượt lên trên hệ thống triết học của Hê ghen Cụ thể:

Ludwig Feuerbach với các tác phẩm “Suy nghĩ về cái chết và sự bất

tử” (1830), “Bản chất của Kito giáo” (1841), “Nguyên tắc Triết học của tương lai” (1843), “Luận cương sơ bộ về cải cách Triết học” (1843),

Thông qua các tác phẩm, ông phê phán triết học của Hegel với những nội dung như: duy tâm trong việc giải quyết vấn đề giữa vật chất và tinh thần, giữa thế giới và con người, coi toàn bộ thế giới chỉ là sự thể hiện của ý niệm tuyệt đối: “Triết học Hê ghen là chỗ ẩn náu cuối cùng, chỗ dựa hợp lý cuối cùng của thần học Mối quan hệ thực sự giữa tư duy và tồn tại như sau: tồn tại - chủ nghĩa, tư duy - vị ngữ” [50, tr.459] Ông còn phê phán người thầy của mình khi coi con người là một thực thể nào đó thần bí, như một lực lượng siêu nhiên sáng tạo ra thực tiễn Ông phủ nhận phương pháp biện chứng của

Hê ghen

Từ đây L Feuerbach nêu lên những tư tưởng của mình về con người và tôn giáo Với vấn đề con người, ông quan niệm con người là sản phẩm của tự nhiên Con người có mối quan hệ chặt chẽ với tự nhiên: “Có thể tách con người khỏi giới tự nhiên không? Không.” [50, tr.461] Bản chất con người là tổng thể các ham muốn, nhu cầu, khả năng, khát vọng, tưởng tưởng Ông cho rằng môi trường, hoàn cảnh sống có tác động rất lớn tới ý thức, tư duy mỗi người Với vấn đề tôn giáo, ông quan niệm tôn giáo hình thành khách quan do tâm lý và bản chất của loài người: “Người ta ai cũng sợ chết, cần có niềm tin

và an ủi Bản chất của thần học, do vậy, chứa đựng trong nhân bản học, là sản phẩm của sự tưởng tượng phong phú ở con người Tôn giáo thể hiện sự yếu mềm, bất lực của con người đối với những điều kiện xã hội Tôn giáo thực chất chỉ là sự thể hiện bản chất của con người dưới hình thức thần bí.” [50, tr.463] Tuy phê phán kịch liệt tôn giáo như vậy, song đối tượng tôn giáo mà

Trang 20

ông phê phán chỉ là đạo Kito, còn ông vẫn nêu lên rằng trong đời sống con người không thể thiếu được tôn giáo bởi ông cho rằng chỉ có tôn giáo, tín ngưỡng dù chứa nhiều giả dối, huyền hoặc nhưng chỉ có nó mới đem lại được sự an ủi, niềm vui trước những bất hạnh, khổ đau trong cuộc sống của con người

Max Stirner với các tác phẩm “Những nguyên lý sai lầm của giáo dục” (1842), “Nghệ thuật và Tôn giáo” (1842), “Ego và cái tôi của nó” (1845)

Ông đã phê phán chế độ độc tài và chủ nghĩa cá nhân trong xã hội Đức lúc bấy giờ Ông đưa ra quan điểm về sự tồn tại của con người Coi con người là một thực thể sáng tạo, vượt ra ngoài ngôn ngữ và hiện thực Ông cho rằng các

tổ chức xã hội, nhà nước chỉ là những ảo tưởng Ông phủ nhận cách mạng xã hội và cho rằng cách mạng xã hội chỉ hình thành lên một nhà nước mới không khác gì với nhà nước cũ

David Strauss với các tác phẩm “Cuộc đời của Giêsu” (1833), “Giáo

điều Kito” (1840) Trong những tác phẩm này, ông đã phủ nhận những quan

điểm của Giáo hội về Jesus, cho rằng những phép màu nhiệm của Chúa chỉ là

sự thêm thắt của giáo hội và cộng đồng tín đồ Kito mang tính chất thần thoại

và không có bằng chứng lịch sử Ông còn đưa ra quan điểm bác bỏ tính chất đồng trinh của Đức mẹ Maria, cho rằng cần phải công nhận Giuse là cha đích thực của Jesus Ông công khai tự nhận không chịu ảnh hưởng của Hê ghen

Bruno Bauer với các tác phẩm “Đánh giá lại sự mặc khải” (1838),

“Tiến sĩ Hengstenberg” (1839), “Phê phán những câu chuyện trong Tin mừng Gioan” (1840), “Nhà nước Kito giáo và thời đại chúng ta” (1841)

Thông qua các tác phẩm, ông nêu lên tư tưởng về các sự kiện được đề cập trong Kinh thánh chỉ là thuần túy văn chương tưởng tượng, không có tài liệu lịch sử chứng minh Ngoài ra, “ông còn cố gắng dung hòa tư tưởng “tự ý

Trang 21

thức” của triết học Hê ghen với các tiêu chí thuần phát, không vấy bẩn của

“loài”, con người” [32, tr.32]

Ngoài ra, bối cảnh văn hóa tư tưởng Đức thời kì này còn hình thành trào lưu tư tưởng “xã hội chủ nghĩa chân chính” với các đại biểu L Steiner, T Ũnkurt, Grund với việc lấy tiền đề lý luận là I Kant, Hê ghen, sau đó kết hợp với triết học và chủ nghĩa xã hội không tưởng Anh, Pháp để hình thành nên luồng tư tưởng không phải phục vụ cho giai cấp công nhân, mà lại hướng về tầng lớp tiểu tư sản

Tóm lại, trước bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của thế giới khi đó đã diễn biến hết sức sôi động, sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa, phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân, các học thuyết chính trị

xã hội gắn với thực tiễn Lúc này, tại Đức, các yếu tố của kinh tế tư bản chủ nghĩa còn yếu ớt đối lập với số lượng công nhân gia tăng, nhân dân vừa chịu

sự bóc lột của giai cấp tư sản, vừa chịu sự chèn ép của giai cấp phong kiến

Từ thực tiễn đó, các nhà tư tưởng Đức mới chỉ hình thành một số quan điểm phê phán lại hệ thống triết học cũ (phê phán Hê ghen), phản kháng lại tôn giáo (tập trung vào Kito giáo) Song thực chất các quan điểm tự nhận cách mạng này không vượt ra được: đa phần các đại biểu thuộc phái Hê ghen trẻ tự nhận là vượt lên hệ thống của Hê ghen, nhưng không tạo được khác biệt; phê phán tôn giáo Kito nhưng không phê phán tôn giáo nói chung, mơ ước xây dựng một tôn giáo mới; đề xướng xây dựng một “chủ nghĩa xã hội chân chính” nhưng thực chất chỉ là dựa trên triết học của I.Kant, Hê ghen cộng với

sự vay mượn một số tư tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng Anh, Pháp rồi chiết trung với thực tiễn Đức Chính từ điều kiện tư tưởng như vậy đã đặt

ra nhu cầu cần có một lý luận phê phán triệt để hệ thống triết học đã lỗi thời; gắn chặt với thực tế, mang tính cách mạng giúp soi sáng đường đi cho giai

Trang 22

cấp công nhân Đức nói riêng, nhân dân Đức nói chung và “Hệ tư tưởng Đức”

đã ra đời để đáp ứng qui luật tất yếu khách quan đó

1.2 Kết cấu tác phẩm

Tác phẩm Hệ tư tưởng Đức được chia thành hai tập Tập I Phê phán

triết học Đức hiện đại qua các đại biểu của nó là Phoi – ơ – bắc, Bau – ơ và Stiêcnơ Tập II Phê phán chủ nghĩa xã hội Đức thông qua những nhà tiên tri khác nhau của nó

Tập I Phê phán triết học Đức hiện đại qua các đại biểu của nó

là Phoi – ơ – bắc, Bau – ơ và Stiêcnơ

Tập I Gồm “Lời tựa” và các mục sau:

I- Phoi – ơ – bắc, sự đối lập giữa quan điểm duy vật và quan điểm duy tâm

A Hệ tư tưởng nói chung và hệ tư tưởng Đức nói riêng (1 Lịch sử; 2 Về sự sản xuất ra ý thức)

B Cơ sở thực tế của hệ tư tưởng (1 Sự giao tiếp và sức sản xuất; 2 Quan hệ của nhà nước và của pháp quyền với sở hữu; 3 Những công

cụ sản xuất tư nhiên và những công cụ sản xuất do nền văn minh tạo ra và các hình thức sở hữu.)

C Chủ nghĩa cộng sản – Sự sản xuất ra bản thân hình thức giao tiếp I.Hội nghị tôn giáo Laipxich

II.Thánh Brunô (1 “Chiến dịch chống Phoi – ơ –bắc; 2 Những suy nghĩ của thánh Brunô về cuộc đấu tranh giữa Phoi – ơ – bắc và Stiếcnơ; 3 Thánh Brunô chống những tác giả của “Gia đình thần thánh”; Vĩnh biệt ông

“M.hetsxơ)

III.Thánh Ma xơ (1 Kẻ duy nhất và sở hữu của nó; 2 Bình luận có tính chất biện hộ)

Trang 23

Bế mạc hội nghị tôn giáo Lapxich

Tập II Phê phán chủ nghĩa xã hội Đức qua các nhà tiên tri khác nhau của nó

Tập II gồm các mục:

“Chủ nghĩa xã hội chân chính”

I “Rheinishe jahrbucher” hay là triết học của: “chủ nghĩa xã hội chân chính”

I.V Các Grun “Phong trào xã hội ở Pháp và Bỉ” (Đácmatstat, 1845) hay thuật biên soạn lịch sử của “chủ nghĩa xã hội chân chính”

1.3 Khái quát nội dung chủ yếu của tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

“Hệ tư tưởng Đức” là công trình có hệ thống đầu tiên về chủ nghĩa duy

vật lịch sử (quan niệm duy vật về lịch sử) Tập một có lời tựa và ba chương mục Chương một có tiêu đề là: Phoi – ơ – bắc, sự đối lập giữa quan điểm duy

vật và quan điểm duy tâm – là chương quan trọng trong tác phẩm Hệ tư tưởng

Đức Sau khi phê phán hệ tư tưởng Đức đương thời, phân tích những hạn chế

chủ yếu mà Phoi – ơ – bắc đã mắc phải đó là đối lập “triết học tự nhiên” (duy vật) và “triết học lịch sử” (duy tâm), xây dựng học thuyết nhân bản trừu tượng thể hiện quan niệm về tình yêu con người “ nói chung”, “loài” nói chung, lý

Trang 24

giải con người một cách trừu tượng, phi lịch sử C.Mác và Ph.Ăngghen cũng phê phán tính chất nửa vời của sự cải tổ triết học, cũng như tính chất dung hòa trong thái độ đối với trật tự xã hội – chính trị đương thời Bên cạnh đó các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác cũng phê phán phái Hê ghen già trong việc tách biệt tư tưởng triết học khỏi hiện thực xã hội Đức C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày tổng quát quan niệm duy vật về lịch sử, về sự sản xuất ra ý thức, về cơ sở thực tế của hệ tư tưởng Đức, quan hệ của nhà nước và pháp quyền với sở hữu

Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen đã phân tích chi tiết

những đặc điểm của triết học Phoi – ơ – bắc, đặc biệt là sự liên quan của hệ thống triết học đó với chủ nghĩa cộng sản Do vậy cũng ở phần này hai ông đã trình bày quan điểm của mình về chủ nghĩa cộng sản

Các phần còn lại trong tập một và tập hai của tác phẩm, C.Mác và Ph.Ăngghen thông qua việc phân tích những yếu tố duy tâm về lịch sử về chính trị trong kinh cựu ước, tân ước và hội nghị Laip xich; Phê phán triết học duy tâm “ tư duy thuần túy” của chủ nghĩa xã hội Đức thông qua những nhà tiên tri khác nhau của nó, đặc biệt là phê phán chủ nghĩa xã hội chân chính Đức “Chủ nghĩa xã hội chân chính” là trào lưu của giai cấp tiểu tư sản đang được phổ biến rộng rãi ở Đức lúc bấy giờ, phản ánh tâm trạng của giai cấp tư sản Đức trước sự lớn mạnh của chủ nghĩa tư bản và các cuộc đấu tranh giai cấp, cho rằng nước Đức có khả năng phát triển lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chủ nghĩa tư bản; tuyên truyền chủ nghĩa phi giai cấp; phủ nhận đấu tranh chính trị, xa rời cuộc đấu tranh giai cấp và phong trào công nhân đấu tranh vì

tự do và dân chủ ở nước Đức đương thời

Cũng có thể thấy thông qua tác phẩm Hệ tư tưởng Đức thì đã hình thành những khái niệm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử như: Phương

thức sản xuất, quan hệ sản xuất (trong tác phẩm dùng “hình thức giao tiếp”),

Trang 25

cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng, ý thức xã hội, hệ tư tưởng, chế độ xã hội, đồng thời đem đối lập quan niệm duy vật về lịch sử với quan niệm duy

tâm về lịch sử

Tiểu kết chương 1

Được trình bày dưới hình thức bút chiến, Hệ tư tưởng Đức đã đi sâu

phân tích làm sáng tỏ bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của nước Đức đương thời Bằng những luận cứ khoa học, C.Mác và Ph.Ăngghen thấy rằng cùng với sự phát triển của kinh tế tư bản chủ nghĩa thì phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ Ở nước Đức lúc này cũng vậy, đối lập với sự phát triển nhanh chóng cả về số lượng

và chất lượng của giai cấp công nhân - những người vừa chịu sự bóc lột của giai cấp tư sản, vừa chịu sự chèn ép của giai cấp phong kiến thì xã hội Đức lại cho thấy sự què quặt của một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa yếu ớt, thiếu sức cạnh tranh

Việc các nhà tư tưởng Đức thời bấy giờ hình thành một số quan điểm phê phán lại hệ thống triết học cũ (phê phán Hêghen), phản kháng lại tôn giáo (tập trung vào Kito giáo) có một ý nghĩa nhất định Nhưng về thực chất thì các quan điểm, tư tưởng này lại không vượt ra được hệ thống triết học của Hêghen Đa phần các đại biểu thuộc phái Hêghen trẻ tự nhận là vượt lên hệ thống của Hêghen, nhưng không tạo được khác biệt; phê phán tôn giáo Kito nhưng không phê phán tôn giáo nói chung, mơ ước xây dựng một tôn giáo mới; đề xướng xây dựng một “chủ nghĩa xã hội chân chính” nhưng thực chất chỉ là dựa trên triết học của I.Kant, Hêghen cộng với sự vay mượn một số tư tưởng của chủ nghĩa xã hội không tưởng Anh, Pháp rồi chiết trung với thực tiễn Đức

Bức tranh phức tạp của sinh hoạt tư tưởng Đức những năm 40 của thế

kỷ XIX như thế đã đặt ra nhu cầu cần có một lý luận phê phán triệt để hệ

Trang 26

thống triết học đã lỗi thời; gắn chặt với thực tế, mang tính cách mạng giúp soi đường cho giai cấp công nhân Đức nói riêng, nhân dân Đức nói chung, góp phần khẳng định cho sự thay thế tất yếu hệ tư tưởng đang thống trị đời sống kinh tế - xã hội Đức hồi bấy giờ bằng một hệ tư tưởng khoa học và cách

mạng Do vậy, tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức” đã ra đời và đáp ứng quy luật tất

yếu khách quan đó

Trang 27

Chương 2

HỆ TƯ TƯỞNG ĐỨC – NHỮNG QUAN NIỆM DUY VẬT LỊCH SỬ

CƠ BẢN VÀ GIÁ TRỊ CỦA TÁC PHẨM

2.1 Những nội dung cơ bản về duy vật lịch sử trong tác phẩm Hệ

tư tưởng Đức

2.1.1 Quan niệm về “con người” trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

Con người là một trong những vấn đề có tính chất nền tảng trong quan

niệm duy vật về lịch sử Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, khi phân tích con

người với tư cách là chủ thể hoạt động, C.Mác và Ph.Ăngghen đã làm cho lý luận mác xít về con người từng được đề cập đến trong những bài viết và tác phẩm trước đó có được những nội dung súc tích và sống động

Trên cơ sở phê phán những quan điểm duy tâm trong hệ tư tưởng Đức đương thời, C.Mác và Ph.Ăngghen đã luận chứng một cách duy vật trong các phần viết về “Lịch sử”, về “Sản xuất ra ý thức”, về “Cơ sở thực tế của hệ tư tưởng”, … Đề rồi với cách thức luận giải đó C.Mác và Ph.Ăngghen đã đặt cơ

sở, tiền đề cho việc xem xét lĩnh vực ý thức xã hội, lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội

Có thể thấy ngay trong phần đầu tác phẩm, C.Mác và Ph.Ăngghen đã

đề cập tới tiền đề nghiên cứu lịch sử, và sai lầm của các nhà tư tưởng Đức đều bắt nguồn từ đây “Với người Đức hoàn toàn không có tiền đề gì cả, chúng ta buộc phải bắt đầu bằng việc xác định tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền đề của mọi lịch sử, đó là người ta có khả năng sống đã rồi mới có thề “làm ra lịch sử” [26, tr.40] Gần như cùng chung mục đích các nhà tư tưởng Đức thời kỳ này đều qui lịch sử về lịch sử tinh thần, về

ý niệm, và theo các ông: “Người ta lấy sự thống trị của tôn giáo làm tiền đề” Với các nhà triết học Đức lúc này thì hệ thống triết học của Hê ghen được coi

là khuôn mẫu và điểm xuất phát Mỗi người trong các nhà tư tưởng Đức đều

Trang 28

tách riêng một mặt nào đó của triết học Hê ghen để phân tích, nhưng họ lại không thể vượt qua Hê ghen

Trong vấn đề con người C.Mác và Ph.Ăngghen: “ Hoàn toàn trái ngược với triết học Đức là triết học từ trên trời đi xuống đất, ở đây chúng ta từ dưới đất đi lên trời, tức là chúng ta không xuất phát từ những điều mà con người nói, tưởng tưởng, hình dung, chúng ta cũng không xuất phát từ những con người chỉ tồn tại trong lời nói, trong ý nghĩ, trong tưởng tượng, trong biểu tượng của người khác, để từ đó mà đi tới con người bằng xương bằng thịt, không, chúng ta xuất phát từ những con người đang hành động, hiện thực và chính là cùng xuất phát từ quá trình đời sống hiện thực của họ” [26, tr.37 -38]

và “có thể phân biệt con người với súc vật, bằng ý thức , bằng tôn giáo, nói chung bằng bất cứ cái gì cũng được Bản thân con người bắt đầu bằng sự tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình - đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định Sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt của mình, như thế con người đã gián tiếp sản xuất ra chính đời sống vật chất của mình” [26, tr29]

Nhưng với các nhà tư tưởng Đức thời kỳ này lại khác, thánh Maxơ thông qua lịch sử cuộc đời con người và những giai đoạn phát triển khác nhau

từ ấu thơ đến thanh niên, người lớn lại cho rằng mỗi giai đoạn của đời người chỉ là những sự tự phát hiện của cá nhân và những sự tự phát hiện này luôn được quy thành một quan hệ nhất định của ý thức Với Stiêcnơ thì ông lại khăng khăng khẳng định: “bất cứ ở đâu, khái niệm cũng phải giữ vai trò quyết định, khái niệm phải điều tiết cuộc sống, khái niệm phải thống trị Đó là thế giới tôn giáo mà Hê ghen đã trình bày một cách có hệ thống” [26, tr251] Điều này đưa đến quan niệm sai lầm của ông khi cho rằng để biến đổi thực tiễn chỉ cần biến đổi ý thức và các khái niệm của ý thức cá nhân mà thôi

Trang 29

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen vấn đề là ở chỗ hoạt động sản xuất vật chất là biểu hiện căn bản tính xã hội của con người Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, xác lập quan hệ xã hội Bời vậy, lao động là yếu tố quyết định hình thành và phát triển ngôn ngữ và tư duy; xác lập các quan hệ xã hội Lao động cũng là yếu tố quyết định hình thành bản chất xã hội của con người, đồng thời hình thành nhân cách cá nhân trong cộng đồng xã hội

Do vậy, với C.Mác và Ph.Ăngghen thì các quan điểm của Stiếcnơ và của thánh Maxơ đều mang tính tư biện, “chỉ là sự kết hợp, dung hòa và phủ nhận trong giải quyết sự đối lập triết học giữa “chủ nghĩa duy thực” và “chủ nghĩa duy tâm” đã bỏ qua các yếu tố thời đại, lịch sử, dân tộc, giai cấp…”[26, tr.164 - 165]

Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài của giới hữu sinh Song, điều quan trọng hơn cả là, con người luôn luôn là chủ thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn tác động vào tự nhiên, cải biến

tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình.Với cách tiếp cận khoa học như vậy C.Mác và Ph.Ăngghen đã vạch trần bản chất Cơ đốc giáo thông qua việc phê phán sự thần thánh hóa của thánh Xăngxô Trong

“Cựu ước”, Xăngxô đem “Con người” làm thành chủ thể tích cực trong toàn

bộ lịch sử từ trước tới nay, trong “Tân ước” ông tiếp tục mở rộng sự thống trị của “Con người” với toàn bộ thế giới vật thể và tinh thần hiện đang tồn tại, và vào cả những đặc tính của những cá nhân hiện đang tồn tại Tất cả đều thuộc

về con người và do đó thế giới được biến thành “thế giới con người”[26, tr.398 - 399]

Trang 30

C.Mác và Ph.Ăngghen cũng đã chỉ ra sai lầm của Phoi – ơ – bắc trong phần đầu của tác phẩm, “đành rằng so với các nhà duy vật “thuần túy” thì Phoi - ơ - bắc có ưu điểm lớn là ông thấy rằng con người cũng là một “đối tượng” của cảm giác”; nhưng với Phoi – ơ – bắc “con người và chỉ đóng khung ở chỗ thừa nhận con người hiện thực, cá thể, bằng xương, bằng thịt” trong tình cảm thôi, nghĩa là ông không biết đến những “quan hệ con người”, giữa “người với người” nào khác [26, tr.64]

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen thì Phoi – ơ – bắc đã “không phê phán những điều kiện sinh hoạt hiện tại Như vậy là Phoi – ơ – bắc không bao giờ hiểu được rằng thế giới cảm giác được là tổng số những hoạt động sống và cảm giác được của những cá nhân họp thành thế giới ấy, vì vậy nghĩa là ông lại rơi vào chủ nghĩa duy tâm đúng ở chỗ mà người duy vật cộng sản chủ nghĩa nhìn thấy cả sự tất yếu lẫn điều kiện của một sự cải tạo cả nền công nghiệp lẫn cơ cấu xã hội” [26, tr.64-65]

Nói đúng như C.Mác và Ph.Ăngghen thì “khi Phoi – ơ – bắc là nhà duy vật thì ông không đề cập đến lịch sử; còn khi ông xem xét lịch sử thì ông không phải là nhà duy vật Ở Phoi – ơ – bắc, lịch sử và chủ nghĩa duy tâm hoàn toàn tách rời nhau” [26, tr.65] Theo các ông, chủ nghĩa duy vật nhân bản Phoi – ơ – bắc chỉ là sự triển khai tiếp tục các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật thế kỉ XVII – XVIII – chủ nghĩa duy vật mới chỉ nhìn ngắm giới tự nhiên trong dạng thuần khiết của nó, chứ chưa vạch ra được sự tác động có tích cực, tính thực tiễn của con người vào thế giới cảm giác được

Ngoài ra, việc Phoi – ơ – bắc cố gắng khắc phục chủ nghĩa giáo điều qua hình ảnh “con người cỗ máy” và khắc phục hình ảnh con người hiện thức,

cụ thể bằng xương bằng thịt, biết tư duy, xác cảm nhưng không xem xét con người trong mối quan hệ xã hội nhất định của họ, trong những điều kiện làm cho họ trở thành con người đúng nghĩa

Trang 31

C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ được những hạn chế của triết học Phoi – ơ – bắc trong vấn đề con người đó là nhà triết học chỉ nói đến “con người trừu tượng” mà không nói đến con người thực tiễn lịch sử”, xem xét con người trong lý luận mà không xem xét con người trong mối quan hệ nhất định của họ, trong những điều kiện sinh hoạt vật chất nhất định, những điều kiện làm cho họ trở thành con người đang tồn tại và hành động thực sự

C.Mác và Ph.Ăngghen cũng thấy rằng việc Phoi – ơ – bắc phê phán Hêghen vì đã giải thích duy tâm bản chất của con người, coi toàn bộ thế giới tinh thần bao gồm tư tưởng, tình cảm, khát vọng của con người như một thực thể bị chia cắt khỏi quá trình tâm sinh lý là hoàn toàn đúng đắn Tuy nhiên, ở đây theo hai ông Phoi – o – bắc đã mắc phải sai lầm khi tuyệt đối hóa mặt sinh học ở con người, chia cắt con người khỏi các quan hệ xã hội hiện thực Phoi – ơ – bắc đã không nhìn thấy công lao của Hệ ghen là ở chỗ, chính Hêghen là người đầu tiên đặt vấn đề xem xét cơ chế hoạt động của đời sống tinh thần của con người

Khi bắt tay nghiên cứu bản chất của con người, C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng nhiệm vụ đầu tiên là phải thay thế con người trừu tượng bằng con người cụ thể.Theo các ông không thể có con người trừu tượng, thoát ly mọi điều kiện, hoàn cảnh lịch sử xã hội Con người luôn luôn cụ thể, xác định, sống trong những điều kiện lịch sử cụ thể nhất định, một thời đại nhất định Trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo

ra những giá trị vật chất và tinh thần để tồn tại và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ Ở con người, mặt tự nhiên tồn tại trong sự thống nhất với mặt xã hội; ngay cả việc thực hiện những nhu cầu sinh vật ở con người cũng đã mang tính xã hội

Không có thế giới tự nhiên, không có lịch sử xã hội thì không tồn tại con người Bởi vậy, con người là sản phẩm của lịch sử, của sự tiến hóa lâu dài

Trang 32

của giới hữu sinh Song, điều quan trọng hơn cả, con người luôn luôn là chủ thể của lịch sử - xã hội Như vây, với tư cách là thực thể xã hội, con người hoạt động thực tiễn tác động vào tự nhiên, cải biến giới tự nhiên, đồng thời thúc đẩy sự vận động phát triển của lịch sử xã hội Trong quá trình cải biến tự nhiên, con người cũng làm ra lịch sử của mình Con người là sản phẩm của lịch sử, đồng thời là chủ thể sáng tạo ra lịch sử của chính bản thân mình

Trong Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra “lịch sử chẳng

qua là sự tiếp nối của những thế hệ riêng rẽ trong đó mỗi thế hệ đều khai thác những vật liệu, những tư bản, những lực lượng sản xuất do tất cả những thế hệ trước để lại; do đó, mỗi thế hệ một mặt tiếp tục cái hoạt động được truyền lại trong những hoàn cảnh đã hoàn toàn thay đổi, và mặt khác, lại biến đổi những hoàn cảnh cũ bằng một hoạt động hoàn toàn thay đổi; những sự kiện đó, người ta đã xuyên tạc chúng bằng tư biện khiến cho dường như lịch sử sau là mục đích của lịch sử trước” [26, tr.65] Cũng chính vì thế trong tác phẩm hai ông tiếp tục phê phán quan điểm của Stiếcnơ cũng như các nhà tư tưởng Đức bấy giờ khi biến “lịch sử trở thành lịch sử đơn thuần của những tư tưởng có sẵn, thành lịch sử của tinh thần và bóng ma, còn lịch sử hiện thực, kinh nghiệm, cơ sở của cái lịch sử bóng ma ấy thì người ta không chỉ lợi dụng để đem lại một thể xác cho những bóng ma ấy…” [26, tr.168]

Có thể thấy khi luận giải những vấn đề lịch sử xã hội loài người thì C.Mác

và Ph.Ăngghen đã tập trung phân tích vào những nội dung chính như sau:

Một là: Con người hiện thực là tiền đề của toàn bộ lịch sử nhân loại Hai là: Vai trò của sản xuất vật chất và quy luật khách quan của sự phát triển xã hội – luận chứng cho vai trò của con người

Ở nội dung thứ nhất: Con người hiện thực là tiền đề của toàn bộ lịch sử nhân loại

Trang 33

Trong tác phẩm, khi đề cập đến vấn đề này hai ông tập trung phân tích phê phán những quan điểm duy tâm của phái Hê ghen trẻ và những niệm trừu tượng về con người của Phoi- ơ bắc, C.Mác và Ph.Ăngghen trình bày quan niệm về con người hiện thực, đây thực sự là sự tiếp nối tinh thần duy vật về

con người trong tác phẩm Bản thảo kinh tế - triết học

Cách đặt vấn đề của hai ông ở đây là “con người chính là tiền đề đầu tiên của lịch sử” “Tiền đề đầu tiên của toàn bộ lịch sử nhân loại thì dĩ nhiên

là sự tồn tại của những cá nhân sống” [26, tr.29] Nhưng con người ở đây không phải là con người chung chung trừu tượng mà là cá nhân hiện thực, là hoạt động của họ và những điều kiện sinh hoạt vật chất của họ và trên luận điểm khoa học gần như mang tính cách mạng của mình, hai ông đồng thời khẳng định “tiền đề đầu tiên của mọi sự tồn tại của con người, và do đó là tiền

đề của mọi lịch sử, đó là: người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể

“làm ra lịch sử” [ 26, tr.40]

Do vậy, theo C.Mác và Ph.Ăngghen chính trong điều kiện lịch sử đó, bằng hoạt động thực tiễn của mình, con người tạo ra những giá trị vật chất và tinh thần đề tồn tại, và phát triển cả thể lực và tư duy trí tuệ Chỉ trong toàn bộ các mối quan hệ xã hội đó (như quan hệ giai cấp, dân tộc, thời đại; quan hệ chính trị, kinh tế, xã hội…) con người mới bộc lộ toàn bộ bản chất xã hội của mình

Cũng ở đây khi coi con người là tiền đề của lịch sử, C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định đó không phải là con người chung chung trừu tượng phi lịch sử, phi giai cấp mà là con người trong liên hệ hiện thực với người khác Cá nhân nếu xét tách rời xã hội là một sự trừu tượng hóa Vì vậy, giống như trong “Luận cương Phoi – ơ – bắc”, C.Mác khẳng định: “Bản chất con người không phải cái trừu tượng vốn có của một cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa của các mối quan hệ xã hội” [26, tr.11]

Trang 34

Với nội dung thứ hai khi phân tích và khẳng định vai trò của sản xuất vật chất và quy luật khách quan của sự phát triển xã hội, luận chứng cho các vấn đề về con người C.Mác và Ph.Ăngghen đã không từ bỏ lập trường của mình mà tiếp tục đi sâu phân tích khi chỉ ra con người là tiền đề đầu tiên của lịch sử nhưng con người muốn sống, muốn tồn tại thì phải thỏa mãn các nhu cầu về ăn, mặc, ở… “Như vậy hành vi lịch sử đầu tiên là sản xuất ra những tư liệu để thỏa mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất” [26, tr.40] Chính việc thỏa mãn những nhu cầu ấy làm xuất hiện thêm các nhu cầu khác, các hoạt động chính trị tôn giáo, đạo đức, nhà nước… của con người Và không gì chặt chẽ hơn khi C.Mác và Ph.Ăngghen lập luận việc tái sản xuất con người; việc sinh con đẻ cái cũng góp phần tham dự ngay từ đầu vào quá trình lịch sử vĩ đại này

Với việc coi: “ … hành vi lịch sử đầu tiên là sản xuất ra những tư liệu

để thỏa mãn những nhu cầu ấy, việc sản xuất ra bản thân đời sống vật chất” [26, tr.40], đã đưa đến nhận định đúng đắn của C.Mác và Ph.Ăngghen khi chỉ

ra phương thức sản xuất chính là yếu tố quyết định toàn bộ đời sống xã hội, còn những mặt cơ bản của hoạt động xã hội thì thể hiện ra như là những hình thức khác nhau của sản xuất vật chất

2.1.2 Quan niệm về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức

“Trong tác phẩm Hệ tư tưởng Đức C.Mác và Ph.Ăngghen đã hình thành những khái niệm cơ bản của chủ nghĩa duy vật lịch sử như phương thức

sản xuất, quan hệ sản xuất (trong tác phẩm này dùng “hình thức giao tiếp”),

cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng, ý thức xã hội, hệ tư tưởng, chế độ xã hội

[32, tr.23]

Trong phần đầu của tác phẩm ta thấy ngay từ đầu hai ông đã khẳng định con người hiện thực với tư cách là sản phẩm của lịch sử, là nhân tố chủ

Trang 35

thể làm nên lịch sử và luôn gắn với quá trình sản xuất vật chất C.Mác và Ph.Ăngghen cũng chỉ ra rằng sản xuất vật chất là hoạt động đặc trưng, là phương thức tồn tại đặc trưng của loài người Thông qua hoạt động lao động sản xuất, con người sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần, phục vụ đời sống của mình Do vậy, lịch sử nhân loại trước hết là lịch sử sản xuất vật chất và sản xuất vật chất chính là cơ sở hình thành các quan hệ xã hội

Đề cập đến vai trò của sản xuất vật chất như là hoạt động nền tảng làm phát sinh, phát triển các quan hệ sản xuất, hai ông lập luận: “sự sản xuất ra đời sống – ra đời sống của bản thân mình bằng lao động, cũng như ra đời sống của người khác bằng việc sinh con đẻ cái – biểu hiện ngay ra là một quan hệ song trùng: Một mặt là quan hệ tự nhiên, mặt khác là quan hệ xã hội, quan hệ xã hội với ý nghĩa đó là sự hợp tác của nhiều cá nhân, không kể là trong những điều kiện nào, theo cách thức nào và nhằm mục đích gì”[26, tr.42]

Phương diện quan hệ của con người với tự nhiên thể hiện sức sản xuất của xã hội là lực lượng sản xuất, phương diện quan hệ của con người với nhau tạo thành những giao tiếp vật chất hay hình thức giao tiếp Lực lượng sản xuất

và hình thức giao tiếp thống nhất với nhau trong một phương thức sản xuất Theo cách lý giải của hai ông thì trong mối quan hệ song trùng này vai trò quyết định thuộc về “phương thức hoạt động hợp tác”, lực lượng sản xuất của

xã hội, bởi lẽ tổng thể những lực lượng sản xuất mà con người đã đạt được, quyết định trạng thái xã hội

Lực lượng sản xuất là nhân tố cơ bản, tất yếu tạo thành nội dung vật chất của quá trình sản xuất Không một quá trình sản xuất nào có thể diễn ra nếu thiếu một trong hai nhân tố là lao động và tư liệu sản xuất Lao động là hoạt động có ý thức của con người tác động vào một vật nào đó để cải biến nó thành cái có ích Lao động của con người khác hẳn bất cứ loài vật nào khác,

nó xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài người Cái mà lao động tác động

Trang 36

vào đó gọi là “đối tượng lao động” Tuy nhiên trong lực lượng sản xuất của xã hội thì công cụ lao động trong hệ thống các tư liệu lao động là yếu tố năng động nhất, chính nó quyết định năng suất của lao động và trình độ phát triển của một xã hội Như C.Mác nói: “Một thời đại này khác với một thời đại kia không phải ở chỗ người ta sản xuất cái gì mà sản xuất bằng cách nào, bằng cái gì” Người ta đánh giá một thời đại không phải chỉ căn cứ vào sản phẩm mà thời đại đó tạo ra mà căn cứ vào những công cụ mà thời đại đó sử dụng

C.Mác và Ph.Ăngghen nhận định để tiến hành sản xuất con người chẳng những phải liên hệ với tự nhiên mà còn phải quan hệ với nhau để trao đổi hoạt động và kết quả lao động, do đó sản xuất bao giờ cũng mang bản chất xã hội C.Mác viết: “Trong sản xuất người ta không chỉ quan hệ với tự nhiên Người ta không thể sản xuất được nếu không kết hợp với nhau theo một cách nào đó để hoạt động chung và để trao đổi hoạt động với nhau Muốn sản xuất được, người ta phải có những mối liên hệ và quan hệ nhất định với nhau; và quan hệ của họ với giới tự nhiên, tức là việc sản xuất” [24,tr.552]

Như vậy, trong sự sản xuất ra đời sống xã hội của mình, con người ta,

dù muốn hay không cũng buộc phải duy trì và thực hiện những quan hệ nhất định với nhau Những quan hệ này mang tính tất yếu và không phụ thuộc vào

ý muốn của ai cả Đó chính là quan hệ sản xuất – hay quan hệ giao tiếp (Quan

hệ này bao gồm: 1 Các quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất; 2 Các quan

hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất; 3 Các quan hệ trong phân phối sản phẩm lao động) C.Mác và Ph.Ăngghen cũng cho rằng hình thức giao tiếp – quan hệ sản xuất với tư cách là hình thức của hoạt động sản xuất vật chất bao giờ cũng là cơ sở vật chất của các hoạt động khác trong đó có hoạt động tinh thần “Hình thức cơ bản của hoạt động ấy đương nhiên là hình thức vật chất, cái hình thức vật chất mà mọi hoạt động khác: tinh thần, chính trị, tôn giáo.v.v…đều phụ thuộc vào đó” [26, tr.103]

Trang 37

C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng một phương thức sản xuất nhất định thì luôn gắn với một giai đoạn xã hội nhất định Nhưng “ở Đức, người ta không thể viết được một lịch sử như vậy, vì để làm việc đó thì người Đức không những thiếu năng lực hiểu biết và thiếu tài liệu mà còn thiếu cả “sự xác thực của cảm giác” [26, tr.42] Do vậy, theo hai ông ngay từ đầu “mối liên hệ vật chất giữa người với người, mối liên hệ này bị quy định bởi những nhu cầu

và phương thức sản xuất và cũng lâu đời như bản thân loài người” [26, tr.43]

Cách hiểu ở đây được hai ông chỉ ra là “ Phương thức mà con người sản xuất ra những tư liệu sinh hoạt cần thiết cho mình, phụ thuộc trước hết vào tính chất của chính những tư liệu sinh hoạt mà con người thấy sẵn có và phải tái sản xuất ra” [26, tr.30] Tuy nhiên cần phải nhớ “không nên nghiên cứu phương thức sản xuất ấy đơn thuần theo khía cạnh là sự tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của cá nhân.” [26, tr.30] Mà phải hiểu “nó là một phương thức hoạt động nhất định của những cá nhân ấy, một hình thức nhất định của hoạt

động sống của họ, một phương thức sinh sống nhất định của họ” [26, tr.30]

Cho đến nay, qua nghiên cứu tác phẩm Hệ tư tưởng Đức ta thấy: Khi

phân tích quá trình giao tiếp, sự phát triển của sản xuất, tác động của nó đến phân công lao động xã hội và phân hóa xã hội, C.Mác và Ph.Ăng ghen đã tìm hiểu rất kỹ các hình thức sở hữu tồn tại trong lịch sử Hai ông chỉ ra tương ứng với những giai đoạn khác nhau của phân công lao động là những hình thức sở hữu tư liệu sản xuất khác nhau tương ứng với nó

Qua tác phẩm Hệ tư tưởng Đức, C.Mác và Ph.Ăng ghen phân tích:

“Sở hữu bộ lạc, phù hợp với giai đoạn thấp của sản xuất khi sự phân công lao động kém phát triển, con người sống chủ yếu bằng nghề săn bắt, đánh cá một phần canh tác đất đai” [32, tr.25] Trong giai đoạn này “sự phân công lao động là rất ít phát triển và hạn chế ở chỗ mở rộng hơn nữa sự phân công lao động hình thành một cách tư nhiên trong gia đình” [26, tr.31] sự

Trang 38

phân công lao động diễn ra tự nhiên trong gia đình thị tộc và sở hữu là sở hữu tập thể “Gia đình theo chế độ phụ quyền Người đàn ông trở thành ông chủ trong “chế độ nô lệ tiềm tàng” [32, tr.25]

Hình thức sở hữu tiếp theo đó là sở hữu nhà nước thời cổ đại hay còn gọi là sở hữu công xã “Hình thức này tập trung ở các thành bang, với quan hệ

sở hữu thống trị là chế độ nô lệ” [32, tr.25] Hình thức này là kết quả của việc tập hợp bằng hiệp ước hay bằng chinh phục nhiều bộ lạc, nó là kết quả của sự tiến bộ của lực lượng sản xuất, sự gia tăng dân số và nhu cầu mở rộng giao lưu Hình thức này là sự kết hợp cả chế độ nô lệ, gia trưởng.Sở hữu tư nhân

về bất động sản vẫn được duy trì, phát triển nhưng dưới hình thức phụ thuộc vào sở hữu công xã

Hình thức sở hữu thứ ba là sở hữu phong kiến hay sở hữu đẳng cấp Điểm xuất phát của hình thức này là chế độ chiếm hữu ruộng đất Chế độ phong kiến với toàn bộ cơ cấu xã hội của nó cho thấy sự kém phát triển của lực lượng sản xuất cũng như phân công lao động “Trong thời kỳ chế độ phong kiến phồn vinh, sự phân công lao động cũng không tiến triển được mấy” [26, tr.35] Tuy nhiên có thể thấy cùng với sự tiến bộ của sản xuất thì tất yếu đem đến sự tan rã của các hình thức công xã và các hình thức phường hội, đồng thời cũng làm nảy sinh những quan hệ sản xuất tư bản, sở hữu dần trở thành quan hệ kinh tế thống trị, chi phối toàn bộ các lĩnh vực đời sống khác, đem lại thắng lợi của hình thức sở hữu tư sản

Hình thức sở hữu thứ tư là sở hữu tư bản chủ nghĩa Trong Hệ tư tưởng

Đức C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra ưu thế của hình thức sở hữu này với các

hình thức sở hữu khác trước đó, các ông tập trung nghiên cứu hình thức sở hữu này gắn liền với sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản “xã hội

tư sản đã đưa đến sự đơn giản hóa các quan hệ xã hội, đập tan những rào cản của các quan hệ phong kiến đối với thị trường, mở rộng khả năng cho hoạt

Trang 39

động tự do của con người “Nhà nước hiện đại, tức là sự thống trị của giai cấp

tư sản, được dựng trên tự do của lao động” [32, tr.25]

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, khi phân tích xã hội tư bản thì hình thức giao tiếp tư bản chủ nghĩa được hình thành trong lòng xã hội phong kiến Nhưng cùng với sự phát triển của lực lượng sản mà trực tiếp là của người lao động và sự phân công lao động đã dẫn đến sự phân chia lao động vật chất với lao động tinh thần, điều này dẫn đến sự đối lập giữa thương nghiệp và công nghiệp, sự đối lập giữa các thành thị Sự phát triển của thương nghiệp sinh ra

tư bản lưu thông khác với tư bản tự nhiên, phường hội Các thành thị được chuyên môn hóa sản xuất làm nảy sinh các công trường thủ công, quan hệ hàng tiền thay thế cho quan hệ gia trưởng giữa thợ cả và thợ bạn Máy móc xuất hiện làm nảy sinh thị trường thế giới Công nghiệp lớn ra đời sinh ra tư bản hiện đại tạo ra ở khắp nơi những quan hệ giống nhau đó là sự đối lập giữa

tư sản và vô sản Hai ông lý giải rằng trong xã hội tư bản chủ nghĩa thì: “Mâu

thuẫn cố hữu trong xã hội có giai cấp đối kháng - mâu thuẫn giữa tình chất xã

hội của nền sản xuất và sự chiếm hữu tư nhân đối với tư liệu sản xuất - chẳng

những chưa được giải quyết, mà còn trở nên gay gắt” [32, tr.26] Vì vậy, để giải quyết mâu thuẫn này thì phải “cải tạo lại”, tức là phải tiến tới xóa bỏ tư hữu tư nhân về tư liệu sản xuất thiết lập chế độ công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu Điều này dẫn đến hình thức sở hữu tiếp theo

Hình thức sở hữu tiếp theo là hình thức sở hữu cộng sản C.Mác và Ph.Ăngghen đã không chỉ dừng lại với sự phân tích các hình thức sở hữu đã

và đang tồn tại, trong quá trình phân tích hình thức tư sản các ông đã tìm cách luận chứng và dự báo về hình thức tương lai, tức là hình thức cộng sản “Chủ nghĩa cộng sản – sự sản xuất ra bản thân hình thức giao tiếp” [32, tr.149] Hai ông chỉ rõ: “việc thiết lập chủ nghĩa cộng sản, về thực chất, là có tính chất kinh tế; nó là sự sáng tạo vật chất ra những điều kiện cho sự liên hợp ấy” [32,

Trang 40

tr.27] Theo cách hiểu của hai ông thì “chỉ đến hình thức sở hữu cộng sản thì

cá nhân con người, người lao động, mới không còn bị hạn chế bởi công cụ sản xuất hạn chế và sự giao tiếp hạn chế (ngụ ý quan hệ sản xuất hạn chế 32, tr.27] Theo đó thì “trong xã hội cộng sản, trong đó không ai bị hạn chế trong phạm vi hoạt động độc chuyên, mà mỗi người đều có thể tự hoàn thiện mình trong bất kỳ lĩnh vực nào thích …” [26, tr.47] Hai ông còn đi đến luận điểm

“đối với chúng ta, chủ nghĩa cộng sản không phải là trạng thái cần phải sáng

tạo ra, không phải một lý tưởng mà hiện thực phải khuôn theo Chúng ta gọi chủ nghĩa cộng sản là một phong trào hiện thực,…” [26, tr.51]

Trên đây có thể thấy từ sự phân tích và luận chứng của C.Mác và Ph.Ăngghen đối với các hình thức sở hữu các ông đã làm sáng tỏ và lập luận một cách chính xác quy luật cơ bản chi phối sự phát triển xã hội, đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Trong quy luật này thì lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất biểu hiện ra như hai phạm trù không bao giờ tồn tại cô lập, tách rời Quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất kết hợp với nhau để tạo thành phương thức sản xuất Phương thức sản xuất của một thời đại là tổng thể những lực lượng sản xuất của thời đại đó và những quan hệ sản xuất tiêu biểu tương ứng với các lực lượng sản xuất đó và tiêu biểu cho sự phát triển của thời đại đó

Thông thường ở mỗi thời đại, mỗi xã hội, có thể có nhiều trình độ khác nhau của lực lượng sản xuất và cũng tồn tại nhiều quan hệ sản xuất khác nhau Quan hệ sản xuất chỉ có thể mở đường cho lực lượng sản xuất phát triển khi mà nó được hoàn thiện tất cả về nội dung của nó, nhằm giải quyết kịp thời những mâu thuẫn giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất

Theo C.Mác và Ph.Ăngghen thì sự phát triển của xã hội loài người có nguyên nhân sâu xa là mâu thuẫn giữa lực lượng sản xuất và quan hệ giao tiếp

“Tất cả mọi xung đột trong lịch sử đều bắt nguồn từ mâu thuẫn giữa những

Ngày đăng: 24/11/2021, 13:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Như An (2003), Bồi dưỡng nhân tài trong chiến lược con người nhằm xây dựng đất nước,kỷ yếu hội thảo khoa học Đại học Sư phạm Hà Nội, Nxb Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng nhân tài trong chiến lược con người nhằm xây dựng đất nước
Tác giả: Nguyễn Như An
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2003
2. Hoàng Quốc Bảo (2006), “Đổi mới công tác quản lý cán bộ, đảng viên, khắc phục sự suy thoái tư tưởng chính trị”, Tạp chí Báo chí tuyên truyền ,(4), tr.25 - 29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới công tác quản lý cán bộ, đảng viên, khắc phục sự suy thoái tư tưởng chính trị”, "Tạp chí Báo chí tuyên truyền
Tác giả: Hoàng Quốc Bảo
Năm: 2006
4. Bộ giáo dục và đào tạo (2008), Giáo trình triết học, Nxb Chính trị - Hành chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2008
5. Bộ giáo dục và đào tạo (2011), Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
6. Nguyễn Đình Cấp (2008), Tác phẩm kinh điển của C.Mác và Ph.Ăngghen về triết học, Đề tài cấp cơ sở Học viện Báo chí và Tuyên Truyền, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm kinh điển của C.Mác và Ph.Ăngghen về triết học
Tác giả: Nguyễn Đình Cấp
Năm: 2008
7. Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch (2003), Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I. Lênin, Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề triết học trong tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăngghen, V.I. Lênin
Tác giả: Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
8. Phạm Văn Chung (2006): “Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách hệ thống lí luận khoa học trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, Tạp chí Triết học, (3), tr 10- 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nghĩa duy vật lịch sử với tư cách hệ thống lí luận khoa học trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, " Tạp chí Triết học
Tác giả: Phạm Văn Chung
Năm: 2006
9. Nguyễn Hữu Dũng (2007), Tình hình thanh niên tham gia chuyển dịch cơ cấu lao động kinh tế nông nghiệp, kỷ yếu hội thảo khoa học Viện khoa học và Lao động xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thanh niên tham gia chuyển dịch cơ cấu lao động kinh tế nông nghiệp
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 2007
10. Phạm Văn Dũng (2006), Định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp
Tác giả: Phạm Văn Dũng
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2006
11. Dương Tự Đam (2008), Thanh niên với việc làm hướng nghiệp và phát triển tài năng, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thanh niên với việc làm hướng nghiệp và phát triển tài năng
Tác giả: Dương Tự Đam
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2008
13. Đảng cộng sản Việt Nam (2004), Nghị quyết của Bộ chính trị về một số định hướng trong công tác tư tưởng hiện nay, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết của Bộ chính trị về một số định hướng trong công tác tư tưởng hiện nay
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
14. Đảng cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
15. Đảng cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2011
16. Đảng cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung Ương Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII
Tác giả: Đảng cộng sản Việt Nam
Năm: 2016
17. Hội đồng lí luận trung ương (2008), Những vấn đề lí luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình hiện nay. Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lí luận và thực tiễn mới đặt ra trong tình hình hiện nay
Tác giả: Hội đồng lí luận trung ương
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
18. Nguyễn Văn Huyên (2006) “Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”, Tạp chí cộng sản, (4), tr.14 -18 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta”, "Tạp chí cộng sản
19. Khoa Triết học Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn - Đại học Quốc gia Hà Nội (2007 ), Giới thiệu kinh điển triết học Mác – Lênin, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giới thiệu kinh điển triết học Mác – Lênin
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
20. Khoa Triết học Đại học Khoa Học Xã Hội và Nhân Văn - Đại học Quốc gia Hà Nội (2007 ), Giáo trình chủ nghĩa duy vật lịch sử, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chủ nghĩa duy vật lịch sử
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
21. V.I.Lênin. (1980), Toàn tập, tập 23, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 1980
22. V.I.Lênin. (1980), Toàn tập, tập 43, Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập
Tác giả: V.I.Lênin
Nhà XB: Nxb chính trị Quốc gia
Năm: 1980

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w