1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thông tin về người khuyết tật trên báo mạng điện tử hiện nay (khảo sát vnexpress net, dantri com vn và giadinh net vn)

130 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu những tác động của báo chí trong việc phản ánh các lĩnh vực về NKT đối với công chúng để đưa ra một số định hướng, giải pháp xây dựng chuyên mục cố định, phân công nhóm phóng

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LÊ THU THỦY LINH

THÔNG TIN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT

TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY

(Khảo sát: vnexpress.net, dantri.com.vn và giadinh.net.vn)

Chuyên ngành B o c ọc

Mã số : 60320101

LUẬN V N THẠC S BÁO CHÍ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ THỊ NHÃ

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

Hà Nội, ngày ……tháng … năm 2017

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

Trang 3

nay (Khảo sát: vnexpress.net, dantri.com.vn và giadinh.net.vn)” là công trình

nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của TS.Lê Thị Nhã, giảng viên khoa Báo chí, Học viện Báo chí và tuyên truyền Các tài liệu sử dụng tham khảo, trích dẫn trong luận văn bảo đảm rõ nguồn, trung thực và chính xác Các kết quả nghiên cứu được công bố trong luận văn không trùng lặp với bất

kỳ công trình khoa học nào đã được công bố trong và ngoài nước

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả

Lê T u T ủy Lin

Trang 4

TS.Lê Thị Nhã, người đã tận tình hướng dẫn, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo trong Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, các thầy cô giảng dạy bộ môn đã tận tình dạy dỗ, chỉ bảo, cung cấp nhiều kiến thức bổ ích cho tôi trong suốt thời gian học tập và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này

Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ban biên tập, các phóng viên của các báo dantri.com.vn, vnexpress.net và giadinh.net.vn Đồng thời, trân trọng cảm

ơn Hội bảo trợ người khuyết tật và trẻ mồ côi Việt Nam đã giúp đỡ tôi về tư liệu nghiên cứu để thực hiện đề tài

Cuối cùng, xin được cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên, giúp đỡ và đồng hành cùng tôi trong suốt quá trình học tập và nghiên cứu

Luận văn “Thông tin về người khuyết tật trên báo mạng điện tử hiện nay (Khảo sát: vnexpress.net, dantri.com.vn và giadinh.net.vn)” là công trình

nghiên cứu khoa học của tác giả Mặc dù đã cố gắng nhưng luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Tác giả mong muốn nhận được những ý kiến đóng góp để luận văn hoàn thiện hơn

Trang 5

C ương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN NGƯỜI

KHUYẾT TẬT TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ 12

1.1 Một số khái niệm cơ bản 12

1.2 Tình hình người khuyết tật và các chủ trương của Nhà nước với người khuyết tật 19

1.3 Nguyên tắc hoạt động và tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin về người khuyết tật trên báo chí 22

1.4 Vai trò và đặc điểm của báo mạng điện tử trong việc đăng tải thông tin về người khuyết tật 26

C ương 2: THỰC TRẠNG THÔNG TIN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN BÁO DANTRI.COM.VN, VNEXPRESS.NET VÀ GIADINH.NET.VN 39

2.1 Khái quát về các báo khảo sát 39

2.2 Tần suất thông tin về người khuyết tật trên 3 báo khảo sát 45

2.3 Nội dung thông tin về người khuyết tật trên 3 báo khảo sát 46

2.4 Hình thức thông tin về người khuyết tật trên 3 báo khảo sát 64

2.5 Đánh giá chất lượng thông tin về người khuyết tật trên 3 báo khảo sát 74

C ương 3: MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ KHUYẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ HIỆN NAY 80

3.1 Một số vấn đề đặt ra 80

3.2 Khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin về người khuyết tật trên báo mạng điện tử hiện nay 85

KẾT LUẬN 99

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 100

PHỤ LỤC 107

Trang 6

Bảng 2.1: Tần suất thông tin về người khuyết tật trên 3 báo khảo sát 45 Bảng 2.2: Nội dung thông tin về người khuyết tật trên 3 báo khảo sát 47 Bảng 2.3: Thể loại tác phẩm được sử dụng trong thông tin về người khuyết tật trên

3 báo khảo sát 64

Biểu đồ 2.1: Tỉ lệ các thể loại tin được sử dụng thông tin về người khuyết tật 65 Biểu đổ 2.2: Tỉ lệ ảnh được sử dụng trong tác phẩm thông tin về người khuyết tật

trên 3 báo khảo sát 69

Hìn ản 2.1 Tác phẩm thể loại tin có sử dụng video 66 Hìn ản 2.2 Ảnh sử dụng trong tác phẩm “Chuyện buồn ở xã nông thôn mới -

Bài 2: Gia cảnh “chị Dậu” của người đàn ông tàn tật vẫn phải đóng 13 khoản phí” trên báo dantri.com.vn ngày 20/08/2016 70

Hìn ản 2.3: Ảnh sử dụng trong tác phẩm “Chuyện buồn ở xã nông thôn mới -

Bài 2: Gia cảnh “chị Dậu” của người đàn ông tàn tật vẫn phải đóng 13 khoản phí” trên báo dantri.com.vn ngày 20/08/2016 71

Trang 7

NKT : Người khuyết tật BMĐT : Báo mạng điện tử LĐTBXH : Lao động Thương binh Xã hội CQBC : Cơ quan báo chí

NXB : Nhà xuất bản TP.HCM : Thành phố Hồ Chí Minh ILO : Tổ chức Lao động Thế giới

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 L do c ọn đề tài

Người khuyết tật (NKT) thuộc nhóm người yếu thế trong xã hội, có khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các hoạt động, sinh hoạt hàng ngày Vì thế, họ cần được quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ mọi mặt trong cuộc sống

Hiện nay, theo đánh giá của Liên hợp quốc, ước tính có khoảng 10 - 15% dân số thế giới là NKT

Nước ta là đất nước vừa thoát nghèo, đời sống của người dân còn nhiều khó khăn, cùng với đó là hậu quả của chiến tranh để lại nên số lượng NKT càng tăng cao Số lượng NKT ngày càng có xu hướng gia tăng mạnh

mẽ Năm 2015, theo thống kê của Bộ Lao động Thương binh và xã hội (LĐTBXH), Việt Nam có khoảng 7 triệu NKT (7,8% dân số), tăng khoảng 1,8% so với năm 2003 Tỉ lệ NKT nặng và đặc biệt nặng khoảng 28,9%

BMĐT là loại hình báo chí có tuổi đời khá trẻ Dù sinh sau đẻ muộn nhưng có tốc độ phát triển nhanh gấp nhiều lần các loại hình báo chí đi trước BMĐT phát triển với nhiều lợi thế và ưu điểm vượt trội như khả năng truyền tải thông tin nhanh chóng với số lượng thông tin đồ sộ, không có sự giới hạn lượng thông tin, thời gian phát sóng như các loại hình báo chí khác Đây được coi là phương tiện truyền thông đang có sức lan tỏa rất lớn đối với dư luận xã hội Với ưu thế vượt trội là sự tích hợp đa phương tiện, BMĐT đã đem lại nhiều thông tin hữu ích, thiết thực cho cuộc sống của con người trong thời buổi hội nhập phát triển Truyền thông là một trong những phương pháp nhằm hỗ trợ NKT hòa nhập cộng đồng, góp phần làm thay đổi thái độ, cách nhìn nhận của người bình thường về NKT, đồng thời giúp những NKT có cách nhìn lạc quan hơn về bản thân để tự tin trong cuộc sống Ngoài ra, báo chí là kênh thông tin, truyền thông hiệu quả để NKT biết đến các Chủ trương, Chính sách của Nhà

Trang 9

nước dành cho bản thân họ, các chương trình, dự án liên quan đến hòa nhập cộng đồng cho NKT

BMĐT đã phản ánh thông tin về NKT một cách phong phú, đa chiều Song làm thế nào để những thông tin về NKT được phản ánh trên BMĐT đạt hiệu quả là vấn đề cần được tiếp cận, nghiên cứu một cách khoa học, giúp các nhà truyền thông có nhìn nhận sâu sắc để đưa ra những điểm mạnh, điểm yếu trong công tác thông tin về NKT Từ thông tin trên BMĐT

về NKT, công chúng sẽ hình thành nhận thức, thay đổi thái độ và tiến tới điều chỉnh hành vi phù hợp với NKT

Với tất cả các nội dung nêu trên, việc đưa ra đề tài nghiên cứu “Thông

tin về người khuyết tật trên báo mạng điện tử hiện nay” (Khảo sát: vnexpress.net, dantri.com.vn và giadinh.net.vn) là vô cùng cấp thiết và có ý

nghĩa Qua việc khảo sát và điều tra, phân tích thực tế, tác giả sẽ đánh giá được ưu điểm, hạn chế và những vấn đề còn tồn tại trong thông tin về NKT trên BMĐT, từ đó đưa ra một số khuyến nghị, đề xuất nhằm nâng cao chất lượng thông tin về NKT trên BMĐT hiện nay

2 Tìn ìn ng iên cứu liên quan đến đề tài

Hiện nay, liên quan đến đề tài có rất nhiều các bài báo, hội thảo khoa học, các luận văn, tài liệu liên quan đến đề tài, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong việc tiến hành nghiên cứu Cụ thể là:

2.1 Một số cuốn sách về người khuyết tật và báo mạng điện tử

- Năm 2010, Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) đã xuất bản cuốn sách

“Hướng dẫn truyền thông về người khuyết tật” với nội dung chính nói đến lĩnh

vực “Việc làm bền vững cho người khuyết tật” Trong đó đề cập tới một số tài liệu liên quan đến NKT; NKT tại các nước thực hiện dự án của chương trình hợp tác phát triển ILO - Ailen, định kiến và thực thế, các cơ quan truyền thông

có thể làm gì giúp hòa nhập NKT, ý tưởng cho những bài viết về hòa nhập NKT, thuật ngữ về hòa nhập NKT, một vài điều cần chú ý khi viết bài về NKT, Công

Trang 10

ước và tiêu chuẩn quốc tế về hòa nhập NKT, thông tin tham khảo các trang web, các ấn phẩm

- Cuốn sách: “Công tác xã hội với người khuyết tật” của tác giả Nguyễn

Thị Kim Hoa, NXB Đại học Quốc gia, năm 2014 Cuốn sách gồm các phần chính như: Tổng quan về NKT và công tác xã hội với NKT; Những trải nghiệm khuyết tật; Thực hành công tác xã hội Những năm trở lại đây, các hoạt động liên quan đến NKT là vấn đề được nhiều người quan tâm Tuy nhiên, làm thế nào để NKT có cuộc sống ổn định về vật chất và tinh thần vẫn là vấn đề cần được xã hội quan tâm

- Báo chí đưa tin về người khuyết tật được tác giả Vũ Thị Thu Ngà đề

cập trong cuốn “Vấn đề người khuyết tật qua sự phản ánh của báo chí hiện nay”

NXB Đại học Quốc gia, xuất bản năm 2008 Cuốn sách đã hệ thống hóa những căn cứ khoa học và luật pháp về NKT, chỉ ra vai trò quan trọng của báo chí trong việc góp phần nâng cao nhận thức, thay đổi thái độ, hành vi của xã hội đối với NKT Trên cơ sở khảo sát các báo Thanh Niên, Hà Nội Mới, Nhân đạo và Đời sống, tạp chí Người bảo trợ từ tháng 1/2007 đến tháng 7/2008, nghiên cứu cho thấy rõ thực trạng truyền thông về NKT trên báo chí hiện nay Nghiên cứu những tác động của báo chí trong việc phản ánh các lĩnh vực về NKT đối với công chúng để đưa ra một số định hướng, giải pháp xây dựng chuyên mục cố định, phân công nhóm phóng viên chuyên trách theo dõi, tạo dựng đội ngũ cộng tác viên, hợp tác chặt chẽ với các cơ quan tổ chức bảo trợ, chăm lo NKT nhằm nâng cao chất lượng thông tin phản ánh của báo chí nói chung, BMĐT nói riêng

về lĩnh vực này

- Để phát hiện và can thiệp sớm đối với NKT, năm 2008, Hội Chữ thập

đỏ Việt Nam đã phát hành cuốn “Hướng dẫn phát hiện sớm khuyết tật tại cộng

đồng” cung cấp cho tình nguyện viên Chữ thập đỏ tầm quan trọng của phát hiện

sớm, can thiệp sớm khuyết tật, phục hồi chức năng tại cộng đồng, giới thiệu bộ phiếu điều tra phát hiện sớm khuyết tật tại cộng đồng Cuốn sách gồm 4 phần

Trang 11

Phần 1: Thông tin chung về tình hình khuyết tật tại Việt Nam, thiệt thòi của NKT, khái niệm và phân loại khuyết tật, nguyên nhân khuyết tật, phòng khuyết tật, mục đích, ý nghĩa và vai trò phát hiện sớm, can thiệp sớm khuyết tật, phục hồi chức năng tại cộng đồng Hội Chữ thập đỏ tham gia các hoạt động phát hiện sớm khuyết tật và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng Phần 2: Giới thiệu cách viết phiếu điều tra phát hiện sớm khuyết tật tại cộng đồng Phần 3: Hướng dẫn các bước tiến hành quy trình điều tra phát hiện sớm khuyết tật tại cộng đồng Phần 4: Giới thiệu một số dạng khuyết tật thường gặp trong cộng đồng

- Năm 2013, tài liệu “Hướng dẫn Công tác thông tin, giáo dục, truyền thông nhằm xóa bỏ kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến người khuyết tật”

được Viện Nghiên cứu Dư luận Xã hội - Ban Tuyên giáo Trung ương biên soạn với sự phối hợp của Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giới thiệu với các Bộ, Ban, Ngành liên quan đến NKT Tài liệu được biên soạn trong khuôn khổ Dự án Giảm Kỳ thị với NKT do Quỹ Ford tài trợ Cuốn tài liệu cung cấp các thông tin cơ bản về NKT cũng như sự kỳ thị, phân biệt đối

xử liên quan đến NKT; định hướng các nội dung chính trong công tác thông tin, giáo dục và truyền thông, đưa ra các nguyên tắc chủ chốt đồng thời giới thiệu một số phương pháp và kỹ năng tiến hành hoạt động thông tin, giáo dục, truyền thông nhằm giảm thiểu sự kỳ thị và phân biệt đối xử đến NKT thông qua các phương tiện thông tin đại chúng và các hoạt động giáo dục truyền thông khác Phần phụ lục của tài liệu cung cấp một số những thông tin cơ bản về NKT ở Việt Nam, các thông tin hỗ trợ cho việc xây dựng nội dung hoạt động chống kỳ thị và phân biệt đối xử, tóm tắt các văn bản pháp lý liên quan đến NKT và một số thông tin hữu ích khác

- Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người tàn tật Việt Nam xuất bản

cuốn sách “Bộ công cụ trợ giúp cộng đồng khuyến khích trẻ khuyết tật hòa

nhập” - Dự án “Tạo tác động thuận lợi thông qua phương tiện truyền thông”

năm 2008, dưới sự tài trợ của tổ chức HANDICAP INTERNATIONAL tại Việt

Trang 12

Nam Cuốn sách đưa ra tình hình NKT tại Việt Nam, cung cấp thông tin về các văn bản pháp lý và chính sách liên quan đến trẻ em khuyết tật, các văn bản quốc

tế liên quan đến trẻ khuyết tật, một số gợi ý giúp trẻ khuyết tật và gia đình họ

- “Người khuyết tật ở Việt Nam, kết quả điều tra xã hội học tại Thái Bình, Quảng Nam, Đà Nẵng và Đồng Nai” do Viện nghiên cứu phát triển xã hội

ISDS nghiên cứu và công bố kết quả, được NXB Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2008 và tái bản lần thứ nhất có bổ sung, sửa chữa vào năm 2009 Kết quả nghiên cứu ấy nêu lên những khái niệm cơ bản về NKT, những đặc điểm kinh tế,

xã hội của NKT như trình độ học vấn, việc làm, tình trạng khuyết tật; những khó khăn của NKT trong hoạt động sinh hoạt hàng ngày, trong giáo dục, trong tiếp cận dịch vụ y tế, việc làm, hôn nhân, trong tham gia hoạt động xã hội và tiếp cận thông tin; sự kỳ thị và sự phân biệt đối xử; sự hỗ trợ của Nhà nước cũng như của cộng đồng đối với NKT

- Nhằm giúp người khuyết tật hiểu rõ hơn về quyền lợi của mình, năm

2011, NXB Lao động - xã hội đã phát hành cuốn “Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương” Cuốn sách khái lược các vấn đề quyền của nhóm

người dễ bị tổn thương, tầm quan trọng của việc thừa nhận, nguồn gốc và sự phát triển các quyền trong luật nhân quyền quốc tế; quyền phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật trong luật quốc tế; cơ chế quốc tế giám sát việc thực thi quyền của một số nhóm người dễ bị tổn thương

- Năm 2008, Bộ Y tế xuất bản cuốn “Thể thao, văn hóa và giải trí cho người khuyết tật” được soạn thảo công phu của nhóm tác giả là chuyên gia phục

hồi chức năng và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng của Bộ Y tế, các bệnh viện trực thuộc Trung ương, các trường Đại học Y và Y tế công cộng Cuốn sách bao gồm những kiến thức cơ bản về tầm quan trọng của các hoạt động thể thao, văn hóa, giải trí đối với cuộc sống của NKT và cách thức tổ chức những hoạt động này cho NKT tại cộng đồng

Trang 13

- Sách “Công tác xã hội với người khuyết tật” do Khoa Xã hội học –

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) phối hợp các giảng viên nòng cốt giảng dạy công tác xã hội với NKT của các trường Đại học hiện đang triển khai chương trình đào tạo công tác xã hội tại

Hà Nội để biên soạn với sự tài trợ của các Tổ chức hỗ trợ NKT

- Đỗ Thị Thu Hằng (2015), cuốn Báo chí truyền thông cho các đối tượng chuyên biệt Đề tài cơ sở trọng điểm của Học viện Báo chí và Tuyên

truyền Đây là một nghiên cứu chuyên sâu, làm rõ nhiều vấn đề lý thuyết và chỉ ra các kỹ năng làm báo cho các nhóm đối tượng công chúng chuyên biệt, đồng thời định hướng rèn luyện và hoàn thiện các năng lực, phẩm chất của nhà báo để thực hiện tốt công việc này

- Cuốn “Báo mạng điện tử - những vấn đề cơ bản” của PGS.TS

Nguyễn Thị Trường Giang, NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật, năm 2014 Nội dung cuốn sách nêu rõ quá trình hình thành và phát triển của internet; lịch

sử ra đời và phát triển của BMĐT; mô hình tòa soạn và quy trình sản xuất thông tin của BMĐT; cách viết và trình bày nội dung BMĐT; một số tờ BMĐT ở Việt Nam

- Sách “Sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử” do PGS.TS Nguyễn

Thị Trường Giang làm chủ biên (NXB Chính trị Quốc gia, năm 2014) đề cập những đặc trưng và phương pháp sáng tạo các thể loại báo chí trong chuyên ngành BMĐT Đặc biệt, cuốn sách đi sâu vào việc phân tích, làm rõ những kỹ năng thực hành riêng biệt dành cho từng thể loại cụ thể trong sáng tạo tác phẩm BMĐT

2.2 Một số báo cáo, tổng kết liên quan tới người khuyết tật

- Tổng kết tình hình thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ năm 2005 về thực hiện hỗ trợ NKT giai đoạn 2005 – 2010 do Bộ LĐTBXH xây dựng năm 2009

Trang 14

- Báo cáo kết quả thực hiện Pháp lệnh về người tàn tật và đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2006 – 2010 của Bộ LĐTBXH năm 2008

- Báo cáo thực hiện các Chính sách giúp NKT trong dạy nghề, học nghề (Báo cáo năm 2008 của Cục việc làm – Bộ LĐTBXH)

- Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện các chính sách trợ giúp phụ nữ khuyết tật năm 2008 của Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam

2.3 Một số công trình nghiên cứu, luận văn, bài báo liên quan tới

đề tài

- Luận văn thạc sĩ báo chí học “Báo chí Tây Nam Bộ thông tin về người yếu thế ở địa phương hiện nay (Khảo sát báo Sóc Trăng, Hậu Giang và Vĩnh Long từ tháng 10/2013 đến 12/2014)” của tác giả Nguyễn Thành Nam,

Học viện Báo chí và tuyên truyền, năm 2015 Luận văn khảo sát vấn đề thông tin

về người yếu thế ở địa phương Sóc Trăng, Hậu Giang và Vĩnh Long hiện nay, chỉ ra những ưu điểm cũng như hạn chế trong vấn đề thông tin về người yếu thế trên địa bàn từng tỉnh, từ đó đề xuất khuyến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin về người yếu thế ở địa phương hiện nay

- Bài báo “Báo chí cần thay đổi cách đưa tin về người khuyết tật” của

tác giả Lan Nga đăng ngày 21/11/2012 trên VOV online Bài báo đưa ra, tâm

tư, nguyện vọng và mong muốn của những NKT để nêu lên nội dung báo chí cần thay đổi cách thông tin về NKT hiện nay

- Bài viết “Tạp chí Nieman Report: Đưa tin về người khuyết tật đừng theo kiểu giật gân” do tác giả Phạm Khánh lược dịch được đăng trên trang infonet.vn của Bộ Thông tin và Truyền thông ngày 3/6/2016

- Bài báo “Ứng xử với người khuyết tật” trên vnexpress.net ngày

19/2/2016 của tác giả Phan Tất Đức Bài viết đưa ra quan điểm ứng xử với NKT

từ việc chỉ ra các dẫn chứng về những NKT trên thế giới để cùng xem xét, bình luận về thái độ ứng xử của cộng đồng đối với NKT hiện nay

Trang 15

Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu, khảo sát liên quan đến NKT, các nghiên cứu đưa ra đều đã có những kết quả nhất định, tuy nhiên hầu hết chỉ dừng lại ở một khía cạnh liên quan tới NKT, chứ chưa có công trình khoa học, luận văn hay khóa luận tốt nghiệp nào nghiên cứu chuyên sâu vấn đề thông tin về NKT được BMĐT hiện nay đăng tải như thế nào Đây

là đề tài mới và có giá trị thực tiễn tới nhóm NKT, những tác giả viết về nhóm NKT nói riêng cũng như có giá trị với toàn xã hội

3 Mục đ c và n iệm vụ ng iên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở lý luận, luận văn khảo sát thực trạng thông tin về NKT trên

3 BMĐT là vnexpress.net, dantri.com.vn và giadinh.net.vn nhằm tổng kết ưu điểm, hạn chế, từ đó đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin về người khuyết tật trên BMĐT hiện nay

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đáp ứng được mục đích mà đề tài nghiên cứu đặt ra, cần thiết phải thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Nghiên cứu tổng quan các vấn đề lý luận liên quan đến thông tin về NKT trên BMĐT nhằm hình thành một hệ thống cơ sở lý luận cho đề tài

- Điều tra, phân tích các tác phẩm thông tin về NKT trên 3 tờ báo được chọn khảo sát là vnexpress.net, dantri.com.vn và giadinh.net.vn trong năm

2016 để làm rõ nội dung, hình thức thể hiện, từ đó đánh giá thực trạng thông tin về NKT trên BMĐT hiện nay như thế nào

- Nêu một số vấn đề đặt ra từ đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin về NKT trên BMĐT Việt Nam hiện nay, định hướng dư luận về thái độ đối với nhóm đối tượng khuyết tật trong xã hội

4 Đối tƣợng và p ạm vi ng iên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

- Các tác phẩm thông tin về NKT trên 3 BMĐT khảo sát

Trang 16

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- 3 BMĐT vnexpress.net, dantri.com.vn và giadinh.net.vn

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 1/2016 đến hết tháng 12/2016

5 Cơ sở lý luận và p ƣơng p p ng iên cứu

5.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở quan điểm chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước về bản chất, đặc trưng, vai trò, các nguyên tắc hoạt động của báo chí nói chung, BMĐT nói riêng và của nhóm NKT trong xã hội

Ngoài ra, luận văn cũng được ngiên cứu dựa trên các cơ sở lí luận về

báo chí, truyền thông Điển hình như trong các cuốn “Cơ sở lí luận báo chí”; cuốn “Truyền thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ bản” của PGS.TS Nguyễn

Văn Dững Các cuốn sách góp phần cung cấp thêm cơ sở lý luận, thực tiễn báo chí - truyền thông hiện đại, những kiến thức lý thuyết và kỹ năng truyền thông cơ bản nói chung, truyền thông, vận động xã hội và truyền thông đại chúng nói riêng

5.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình làm luận văn, ngoài phương pháp luận, tác giả còn sử dụng một số các phương pháp cụ thể sau:

- Phương pháp nghiên cứu tư liệu văn bản:

Phương pháp này được sử dụng để tìm hiểu thông tin về NKT và BMĐT để xây dựng hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn cho đề tài

- Phương pháp phân tích nội dung:

Tác giả luận văn thống kê các bài báo có thông tin về NKT trên 3 BMĐT là vnexpress.net, dantri.com.vn và giadinh.net.vn trong năm 2016 Trên cơ sở phương pháp này, tác giả tìm hiểu, phân tích nội dung, hình thức của các bài thông tin về NKT đã thống kê được, từ đó đưa ra nhận xét, đánh giá chung về ưu điểm, hạn chế của việc thông tin về NKT trên BMĐT hiện nay

Trang 17

6 Đóng góp mới về k oa ọc của đề tài

Luận văn chỉ ra hệ thống cơ sở lý luận về thông tin NKT trên BMĐT Từ

đó nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng vấn đề thông tin về NKT trên BMĐT hiện nay nhằm đề xuất một số giải pháp cụ thể nâng cao hiệu quả vấn

đề thông tin về NKT của BMĐT một cách toàn diện

Có cái nhìn mới, từng bước thay đổi nội dung, hình thức thể hiện thông tin về NKT trên BMĐT sao cho phù hợp, thiết thực và hiệu quả hơn; đồng thời khuyến khích sáng tạo những tác phẩm báo chí hay, chất lượng, có tác động lớn tới dư luận nhằm thay đổi nhận thức và thái độ đối với cộng đồng NKT trong xã hội

7 Ý ng ĩa lý luận và gi trị t ực tiễn

dư luận có thái độ cư xử đúng đắn với những đối tượng khuyết tật

7.2 Giá trị thực tiễn

Luận văn đi sâu khảo sát thực trạng thông tin về NKT trên BMĐT hiện nay như thế nào, từ đó tìm ra những vấn đề còn tồn tại để đưa ra các khuyến nghị nhằm khắc phục để báo chí nói chung và BMĐT nói riêng thông tin về NKT một cách đúng đắn và có tính nhân văn sâu sắc

Trang 18

Đề tài nghiên cứu thành công sẽ là một tài liệu tham khảo hữu ích, góp phần vào hệ thống tư liệu khoa học chung của Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và tuyên truyền nói chung cũng như vào thực tiễn chất lượng thông tin về NKT trên BMĐT Việt Nam hiện nay

8 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục các biên bản phỏng vấn sâu, danh mục bảng biểu và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương, 11 tiết Cụ thể như sau:

Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về thông tin người khuyết tật trên báo mạng điện tử

Chương 2: Thực trạng thông tin về người khuyết tật trên báo vnexpress.net, dantri.com.vn và giadinh.net.vn

Chương 3: Một số vấn đề đặt ra và khuyến nghị nâng cao chất lượng thông tin về người khuyết tật trên báo mạng điện tử hiện nay

Trang 19

C ương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THÔNG TIN NGƯỜI KHUYẾT TẬT

TRÊN BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ

1.1 Một số k i niệm cơ bản

1.1.1 Khái niệm người khuyết tật

Theo quan niệm của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), có ba thuật ngữ liên quan đến khuyết tật đó là khiếm khuyết, giảm khả năng và tàn tật

Khiếm khuyết: chỉ tình trạng bị mất hoặc tình trạng bất bình thường một hay các bộ phận cơ thể hoặc chức năng tâm sinh lý Khiếm khuyết có thể

là hậu quả của bệnh tật, tai nạn, các nhân tố môi trường hoặc bẩm sinh

Giảm khả năng: hàm ý nói ở cấp độ cá nhân là tình trạng giảm hoặc mất khả năng hoạt động do khiếm khuyết gây ra; hạn chế hoặc mất chức năng (vận động, nói, nghe, nhìn hoặc giao tiếp)

Tàn tật: hàm ý nói ở cấp độ xã hội là những thiệt thòi mà một người phải chịu do bị khuyết tật Hậu quả của sự tương tác giữa một cá nhân bị khiếm khuyết hoặc giảm khả năng với những rào cản trong môi trường xã hội, văn hoá hoặc vật chất, làm cho cá nhân này không thể tham gia một cách bình đẳng vào cuộc sống cộng đồng chung hoặc hoàn thành một vai trò bình thường

Hiện nay, ở mỗi nước khác nhau lại có những quan điểm khác nhau về NKT do hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, văn hóa xã hội tác động Tuy nhiên, khái niệm về người khuyết tật nhìn chung là giống nhau về bản chất vấn đề Các khái niệm về NKT đều chỉ ra họ là những người bị khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần vì thế gây ra suy giảm đáng kể và lâu dài đến khả năng thực hiện các sinh hoạt thường ngày Đây cũng chính là quan điểm được nhìn nhận dưới góc độ y tế Dưới góc độ này, với mục tiêu là đưa những NKT trở lại với trạng thái bình thường nhưng chính điều đó lại làm cho họ cảm thấy họ là những người không bình thường

Trang 20

Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam, NXB Văn hóa thông tin, năm 1998: Khuyết có nghĩa là thiếu và không đầy đủ; Tật là trạng thái không bình thường ở bộ phận cơ thể do bẩm sinh hoặc hậu quả của tai nạn, bệnh trạng gây nên Như vậy, khuyết tật được quan niệm là bị khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần

Đạo luật về NKT của Hoa Kỳ năm 1990 (ADA- Americans with

Disabilities Act of 1990) cho rằng, NKT là người có sự suy yếu về thể chất hay tinh thần gây ảnh hưởng đáng kể đến một hay nhiều hoạt động quan trọng trong cuộc sống [9]

Pháp lệnh Người tàn tật của Việt Nam ban hành ngày 1/11/1998 quy

định: “Người tàn tật không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn”[78]

Điều 1, Công ước quốc tế về Quyền của Người khuyết tật năm 2007

quy định: “Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giác quan mà khi tương tác với những rào cản khác nhau có thể phương hại đến sự tham gia hữu hiệu và trọn vẹn của họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác trong xã hội”[77]

Ngày 17/6/2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

đã thông qua Luật Người khuyết tật, có hiệu lực từ 1/1/2011, chính thức sử dụng khái niệm “người khuyết tật” thay cho khái niệm “người tàn tật” hiện hành, phù hợp với khái niệm và xu hướng nhìn nhận của thế giới về vấn đề khuyết tật

Điều 2, Chương 1, Luật Người khuyết tật định nghĩa: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”[73] Đây là sự thể hiện quan điểm và nhận

Trang 21

thức của Đảng và Nhà nước ta về NKT, họ cũng được hưởng mọi quyền như người bình thường, họ có thể khiếm khuyết nhưng không phải đã tàn phế, tạo điều kiện cho NKT thể hiện nỗ lực đóng góp của bản thân cho việc thay đổi nhận thức này

Tóm lại, người khuyết tật là những người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn Người khuyết tật bao gồm cả những người bị khuyết tật bẩm sinh, người bị khiếm khuyết

do tai nạn, thương binh, bệnh binh…

1.1.2 Khái niệm thông tin và thông tin về người khuyết tật

Trong tiến trình phát triển của lịch sử văn hóa nhân loại, báo chí ra đời

do nhu cầu thông tin giao tiếp, giải trí và nhận thức của con người Thông tin

là một hiện tượng vốn có của thế giới vật chất Lần đầu tiên thông tin được con người chú ý nghiên cứu về mặt ý nghĩa xã hội của nó và được đề cập đến trong lý thuyết báo chí vào những năm 20 - 30 của thế kỷ XX Theo cách hiểu kinh điển thì thông tin chính là những cái mới khác với những điều đã biết

Như vậy, khái quát lại thông tin báo chí cũng được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, thông tin là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo

từ hiện thực cuộc sống Tất cả những vấn đề, sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội được báo chí phản ánh nhằm phục vụ nhu cầu tìm hiểu, khám phá của con người Thứ hai, thông tin là phương tiện, công cụ chuyển tải tác phẩm báo chí tới công chúng

Ngày nay ai cũng biết con người cần thông tin về nhiều mặt, nhiều lĩnh vực, nhất là thông tin về sự kiện chính trị và kinh tế xã hội Xã hội có dân trí là xã hội có thông tin báo chí phong phú Xã hội hiện đại, dân trí cao, dân chủ tốt thì tất yếu kinh phí chi cho dịch vụ thông tin báo chí phải chiểm tỷ lệ

lớn trong tổng kinh phí của đất nước Thuật ngữ "thông tin" được sử dụng khá

Trang 22

phổ biến Thông tin làm tăng thêm hiểu biết của con người, là nguồn gốc của nhận thức Thông tin về một đối tượng chính là một dữ kiện về đối tượng đó, chúng giúp ta nhận biết và hiểu được đối tượng

Nói tóm lại, thông tin được sử dụng trong luận văn được hiểu là danh

từ, thông tin là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc sống, là sự phản ánh sự vật, sự việc, hiện tượng của thế giới khách quan

và các hoạt động của con người trong đời sống xã hội

Thông tin về người khuyết tật là hoạt động truyền tải thông tin về các vấn đề liên quan tới người khuyết tật, có ảnh hưởng tới bản thân và gia đình

họ như: thông tin về đời sống của người khuyết tật; sự chăm lo, quan tâm giúp

đỡ của các tổ chức, cá nhân tới người khuyết tật; các quy định, chủ trương của Đảng, Nhà nước tới người khuyết tật; các cơ hội giúp người khuyết tật hòa nhập cộng đồng; các sự kiện dành cho người khuyết tật; tới công chúng nói chung và cộng đồng người khuyết tật nói riêng

Thông tin về người khuyết tật không chỉ hướng tới đối tượng là người khuyết tật mà còn hướng tới những đối tượng khác có liên quan, xoay quanh người khuyết tật như gia đình, bạn bè, người thân, người giúp đỡ, hỗ trợ cho các đối tượng khuyết tật, Thông qua việc trao đổi ý tưởng, cảm xúc, ý định, thái

độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh, như ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phương tiện khác như thông qua điện tử, các kênh truyền thông, thông tin liên quan tới người khuyết tật được truyền tải nhằm tăng cường kiến thức, sự hiểu biết, nắm bắt thông tin, thay đổi nhận thức, thái độ của công chúng với người khuyết tật và của những người khuyết tật với chính bản thân họ Từ đó tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với sự phát triển của xã hội

Ngoài việc giúp thay đổi thái độ của mọi người bình thường với người khuyết tật, thông tin về người khuyết tật còn giúp họ nhận ra giá trị của chính

Trang 23

bản thân, tự tin vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng Thông qua truyền thông, người khuyết tật nắm bắt được các chủ trương của Nhà nước, được trang bị thêm các kiến thức của cuộc sống phù hợp với bản thân, từ đó giúp người khuyết tật phát hiện ra năng lực bản thân và phát huy tối đa để có cuộc sống tốt đẹp hơn

Nói tóm lại, thông tin về người khuyết tật là hoạt động truyền tải thông tin về các vấn đề liên quan tới người khuyết tật, có ảnh hưởng tới bản thân và gia đình họ như: thông tin về đời sống của người khuyết tật; sự chăm

lo, quan tâm giúp đỡ của các tổ chức, cá nhân tới người khuyết tật; các quy định, chủ trương của Đảng, Nhà nước tới người khuyết tật; các cơ hội giúp người khuyết tật T hòa nhập cộng đồng; các sự kiện dành cho người khuyết tật; tới công chúng nói chung và cộng đồng người khuyết tật nói riêng

1.1.3 Khái niệm báo mạng điện tử

BMĐT là loại hình báo chí ra đời khá muộn Tuy vậy, nhưng loại hình báo chí này lại phát triển chóng mặt cùng với sự bùng nổ của internet Nó cho phép mọi người trên khắp thế giới tiếp cận tin tức nhanh chóng mà không phụ

thuộc vào không gian, thời gian

BMĐT là loại hình báo chí ra đời từ sự kết hợp của ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông Tuy ra đời muộn hơn các loại hình báo chí còn lại nhưng BMĐT ngày càng chiếm ưu thế về số lượng công chúng và hình thức truyền tải thông tin Hiện nay, đang tồn tại nhiều cách gọi khác nhau với loại hình báo chí này như: Báo điện tử (Electronic Journal), báo trực tuyến (Online Newspaper), báo mạng (Cyber Newspaper), báo chí Internet (Internet Newspaper) và báo mạng điện tử

Báo điện tử là thuật ngữ thông dụng và phổ biến nhất ở nước ta Nó gắn liền với tên gọi của nhiều tờ BMĐT thuộc cơ quan báo in như: Quê hương điện tử, Nhân dân điện tử, Lao động điện tử,… Trong nhiều văn bản pháp quy của Nhà nước cũng sử dụng thuật ngữ báo điện tử Ví dụ tại Điều 6,

Trang 24

Chương 1, Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 có giải thích về các từ ngữ, trong

đó có thuật ngữ báo điện tử như sau: “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết là chủ yếu, hình ảnh, âm thanh được truyền dẫn trên mạng Internet”[79]

Điều 3, Luật Báo chí năm 1989 được sửa đổi và bổ sung tại kỳ họp

thứ 5 quốc hội khóa X, quy định: “ Báo điện tử là loại hình báo chí được thực hiện trên mạng thông tin máy tính”[80]

Tuy nhiên, thuật ngữ báo điện tử có ý nghĩa rất chung chung, không giúp hiểu rõ đặc điểm của loại hình báo chí phát hành trên mạng; tờ báo được sản xuất trong vòng khép kín trên mạng LAN của tòa soạn hay tờ báo được chạy trên môi trường mạng toàn cầu Internet Bên cạnh đó đã có thời gian chúng ta sử dụng cách gọi này để chỉ phát thanh và truyền hình nên nếu sử dụng rất dễ gây ra sự nhầm lẫn

Báo trực tuyến là khái niệm được sử dụng đầu tên tại Mỹ và trở thành cách gọi quốc tế Đây là cách gọi dựa vào đặc trưng nổi trội của loại hình tryền thông này Thuật ngữ “trực tuyến” (online) trong các từ điển tin học được dùng để chỉ trạng thái của một máy tính khi đã kết nối với mạng máy tính và sẵn sàng hoạt động Tuy nhiên, cách gọi báo trực tuyến gắn liền với lĩnh vực tin học nhiều hơn và chưa được Việt hóa

Báo mạng là cách gọi tắt của báo mạng Internet Đây là cách gọi không mang tính khoa học vì nó không rõ nghĩa, không đầy đủ, dễ gây hiểu sai bản chất của thuật ngữ Bởi Internet là mạng của các mạng, dưới nó còn rất nhiều loại mạng Gọi như vậy sẽ không xác định rõ ràng ranh giới giữa khái niệm mạng và mạng Internet

Báo Internet cũng là một thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi Cách gọi này là sự kết hợp tên gọi của internet với một tờ báo: Internet cung cấp không gian với đầy đủ tiện nghi cho một tờ báo hoạt động, lấy các khả năng

ưu việt của Internet làm lợi thế và hoạt động độc lập trên Internet Tuy nhiên

Trang 25

cách gọi này cũng dễ gây nhầm lẫn là tất cả các trang web có mặt trên Internet đều là báo mạng điện tử

Tuy nhiên, trong dự thảo Luật báo chí đang được Bộ Thông tin Truyền thông soạn thảo, dự kiến trình Quốc hội năm 2016 lại định nghĩa “Báo chí điện tử” là loại hình báo chí sử dụng chữ viết là chủ yếu, hình ảnh, âm thanh được truyền dẫn trên môi trường mạng, bao gồm báo điện tử và tạp chí điện tử Khái niệm này đã được cụ thể hóa hơn so với trước đây

Từ định nghĩa trên, có thể hiểu báo điện tử hay báo mạng là loại hình báo chí được xuất bản bởi một tòa soạn báo điện tử và độc giả có thể đọc trên máy tính, điện thoại di động cũng như máy tính bảng… trong điều kiện có kết nối internet

Đến năm 2003, Học viện Báo chí và tuyên truyền đã tổ chức cuộc thảo luận giữa các cán bộ nghiên cứu giảng dạy ngành truyền thông đại chúng và thống nhất tên gọi là BMĐT cho tới nay

PGS.TS Nguyễn Thị Trường Giang trong cuốn Báo mạng điện tử -

Những vấn đề cơ bản, cho rằng: “Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web và phát hành trên mạng internet” [23, tr.53]

Trong cuốn Cơ sở lí luận báo chí, PGS.TS Nguyễn Văn Dững đã định

nghĩa: “Báo mạng điện tử là loại hình báo chí – truyền thông tồn tại và phát triển trên mạng internet toàn cầu” [20, tr.123]

Nói tóm lại, báo mạng điện tử là một loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức của một website và phát hành trên mạng Internet Hay cũng có thể hiểu: Báo mạng điện tử là sản phẩm đặc biệt, được sinh ra từ sự kết hợp của các loại hình báo chí truyền thống Báo mạng điện tử sử dụng yếu tố công nghệ cao như là một yếu tố quyết định Quy trình sản xuất và truyền tải thông tin dựa trên nền tảng mạng Internet toàn cầu

Trang 26

1.2 Tìn ìn người k uyết tật và c c c ủ trương của N à nước với người k uyết tật

1.2.1 Tình hình người khuyết tật hiện nay

 Trên Thế giới

Theo ước tính của tổ chức y tế thế giới WHO và Liên Hợp Quốc, năm

1996, trên thế giới có khoảng 490 triệu NKT ( chiếm khoảng 10% dân số thế giới), trong đó có 140 triệu trẻ em khuyết tật, trên 340 triệu NKT ở các nước đang phát triển và hơn 98% NKT bị lãng quên Riêng khu vực Tây Thái Bình Dương có khoảng 100 triệu NKT, trong đó 75% chưa có phục hồi chức năng

về y tế và xã hội

Tổ chức Lao động thế giới (ILO) ước tính trên thế giới có khoảng 650 triệu NKT Trong đó, ở Châu Âu có khoảng 39 triệu NKT thuộc các dạng tật khác nhau; ở Hoa Kỳ là 54 triệu NKT và khoảng 100 triệu người có mối quan

hệ chặt chẽ với NKT; ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương là khoảng 370 triệu người

Theo thống kê của Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF), số trẻ

em khuyết tật ở Bắc Mỹ khoảng 6 triệu, ở châu Âu khoảng 11 triệu, châu Mỹ Latinh 13 triệu, châu Phi 18 triệu và châu Á là 88 triệu

Ở hầu hết các nước, cứ 10 người thì ít nhất có 1 người bị thiểu năng

về tinh thần, thể hình hoặc giác quan và có ít nhất 25% dân số của mọi quốc gia ít nhiều bị ảnh hưởng bởi sự hiện hữu của vấn đề khuyết tật

Theo Cục thống kê dân số Hoa Kỳ, năm 2004, Mỹ có 32 triệu NKT là người trưởng thành từ 18 tuổi trở lên, chưa kể 5 triệu trẻ em và thiếu niên dưới 18 tuổi Tỷ lệ NKT ở các quốc gia rất khác nhau, nguyên dân là do có khá nhiều tổ chức đánh giá và quan trọng hơn là các tiêu chí đánh giá NKT khác nhau nên kết quả cũng có ảnh hưởng Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng tình hình khuyết tật ở các nước đang phát triển có tỉ lệ cao hơn so với các nước phát triển

Trang 27

em Việt Nam khuyết tật trong độ tuổi 0 - 17 ước có khoảng 1 triệu trẻ em (chiếm 3% tổng số trẻ em trong độ tuổi này)

Theo thống kê năm 2011, ở Việt Nam có khoảng 6,1 triệu NKT, tương đương 7,8% dân số, trong đó hơn 60% số NKT trong độ tuổi lao động Tỷ lệ nam khuyết tật cao hơn nữ do các nguyên nhân như: hậu quả chiến tranh, tai nạn lao động, tai nạn giao thông,

Nguyên nhân gây nên khuyết tật gồm 36% bẩm sinh, 32% do bệnh tật, 26% do hậu quả chiến tranh và 6% do tai nạn lao động Có tới 80% NKT ở thành thị và 70% NKT ở nông thôn sống dựa vào gia đình, người thân và trợ cấp xã hội; 32,5% thuộc diện nghèo, 24% ở nhà tạm bợ Dự báo trong nhiều năm tới số lượng NKT ở Việt Nam chưa giảm do tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam, tai nạn giao thông và tai nạn lao động, hậu quả thiên tai…

Ở Việt Nam, NKT còn gặp rất nhiều khó khăn khi ra xã hội vì chưa có

cơ sở hạ tầng, hệ thống giao thông công cộng dành riêng cho NKT Đây thực

sự là rào cản lớn hạn chế NKT hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực, đóng góp cho xã hội Hơn thế nữa, phần lớn NKT Việt Nam sống ở khu vực nông thôn và tham gia học tập với mức thấp hơn rất nhiều so với người bình thường Gần 37% NKT trưởng thành bị mù chữ Rất ít NKT có công việc ổn định và thu nhập thường xuyên Rất nhiều NKT không được làm việc ở khối việc làm chính thức Nhìn chung, tỷ lệ NKT thất nghiệp cao hơn, khoảng 30% Gần 33% hộ gia đình có thành viên là NKT sống dưới mức nghèo

Trang 28

Ngày 13/12/2006, Đại hội đồng Liên hiệp quốc chính thức thông qua Nghị quyết về Công ước Quốc tế về các quyền của NKT Việt Nam là thành viên thứ 118 tham gia ký Công ước vào ngày 22/10/2007 Từ đó đến nay, Việt Nam đã triển khai nhiều chiến lược hành động ở các cấp độ khác nhau nhằm theo đuổi mục tiêu “Xóa bỏ rào cản để tạo ra một xã hội hòa nhập và tiếp cận cho tất cả - Removing barriers to create an inclusive and accessible society for all”

1.2.2 Chính sách của Nhà nước với người khuyết tật

Chính sách của Nhà nước đối với NKT rất được quan tâm, bởi NKT là một trong những nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội Vì thế, chính sách đối với NKT có thể ảnh hưởng lớn tới đời sống của bản thân

và gia đình họ, đồng thời tạo gánh nặng cho toàn xã hội Quan tâm chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện để NKT không mặc cảm, chủ động, tích cực trong các sinh hoạt xã hội để tự lo liệu cho đời sống, vươn lên đóng góp cho xã hội, gia đình là mục tiêu quan trọng của chính sách quốc gia

Không xem nhẹ người khuyết tật và không chỉ dừng ở việc hỗ trợ về vật chất, NKT cần được trợ giúp về mọi mặt để phát triển như một công dân bình thường, có đầy đủ quyền và nghĩa vụ như mọi người Đảng và Nhà nước

đã ban hành nhiều nhiều văn bản quy phạm pháp luật và chính sách ưu đãi, giúp NKT có cuộc sống ổn định cả về vật chất và tinh thần

Theo khoản 1 Điều 44 Luật Người khuyết tật năm 2010, đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm NKT đặc biệt nặng (trừ trường hợp chăm sóc, nuôi dưỡng NKT trong cơ sở bảo trợ xã hội) và NKT nặng [73]

Theo khoản 2 Điều 44 Luật Người khuyết tật năm 2010, đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng bao gồm: gia đình có NKT đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người đó; người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc NKT đặc biệt nặng; NKT đặc biệt nặng hoặc NKT nặng đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi; NKT đặc biệt nặng hoặc đối tượng khuyết tật nặng là trẻ em [73]

Trang 29

Theo Điều 3 Nghị định 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012, NKT đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày

mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn

Phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật bẩm sinh, khuyết tật do tai nạn thương tích, bệnh tật và nguy cơ khác dẫn đến khuyết tật Bảo trợ xã hội; trợ

giúp NKT trong chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề, việc làm, văn hóa, thể thao, giải trí, tiếp cận công trình công cộng và công nghệ thông tin, tham gia giao thông; ưu tiên thực hiện chính sách bảo trợ xã hội và hỗ trợ NKT là trẻ em, người cao tuổi

Lồng ghép chính sách về người khuyết tật trong chính sách phát triển kinh tế - xã hội Tạo điều kiện để NKT được chỉnh hình, phục hồi chức năng;

khắc phục khó khăn, sống độc lập và hòa nhập cộng đồng

Đào tạo, bồi dưỡng người làm công tác tư vấn, chăm sóc người khuyết tật Bên cạnh đó, khuyến khích các hoạt động trợ giúp NKT, tạo điều kiện để

các tổ chức của NKT, tổ chức vì NKT hoạt động thường xuyên, đều đặn

Khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích, đóng góp trong việc trợ giúp NKT Xử lý nghiêm minh các cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành

vi vi phạm quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan tới các đối tượng khuyết tật

1.3 Nguyên tắc oạt động và tiêu c đ n gi c ất lượng thông tin

về người k uyết tật trên b o c

1.3.1 Nguyên tắc hoạt động của báo chí trong việc đăng tải thông tin

Trang 30

Thông tin về NKT trên báo chí đòi hỏi nhà báo phải thể hiện tính chân thật, khách quan Hàng ngày, hàng giờ, báo chí truyền tải một lượng lớn

thông tin phản ánh về NKT, các vấn đề liên quan tới NKT, qua đó giúp họ hiểu được thực tế cuộc sống đang diễn ra như thế nào Nếu những thông tin báo chí truyền tải tới công chúng, tới NKT một cách chân thực, khách quan sẽ giúp cho công chúng tiếp nhận thông tin về NKT chính xác nhất, hiểu được cộng đồng NKT, thúc đẩy sự phát triển đồng đều của xã hội Ngược lại, nếu thông tin về NKT trên báo chí không chính xác sẽ trở thành tác nhân kìm hãm

sự phát triển của xã hội Vì vậy, thông tin về NKT đòi hỏi mỗi nhà báo cần thông tin một cách chân thực, khách quan, đây là một trong những nguyên tắc

cơ bản hàng đầu của hoạt động báo chí

Khi thông tin về NKT, tính nhân văn của báo chí càng phải được thể hiện nổi bật hơn cả Nó thể hiện ở mục tiêu phục vụ con người, nhất là với

người khuyết tật – đối tượng thuộc nhóm yếu thế đang được xã hội đặc biệt quan tâm Con người là mục tiêu cao nhất của mọi hoạt động trong xã hội, nhằm cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần Định hướng chung của tính nhân đạo, nhân văn của báo chí là tạo điều kiện tốt nhất cho mọi công dân cùng tích cực tham gia vào việc giải quyết các vấn đề xã hội, cho NKT như: Vấn đề việc làm, nhà ở, sức khỏe, giáo dục… Nhà báo phải thể hiện tính nhân đạo, nhân văn trong mỗi tác phẩm báo chí của mình khi viết về NKT

Bên cạnh đó, khi thông tin về NKT, báo chí phản phản ánh tâm tư, tình cảm, suy nghĩ, mong đợi của nhân dân đối với NKT nhằm thể hiện tính dân chủ trong báo chí Thể hiện tính dân chủ, báo chí cần phải có cái nhìn khách quan, hiểu vấn đề một cách sâu rộng để thông tin đúng, trúng, kịp thời, giúp Đảng, Nhà nước có những điều chỉnh chủ trương, chính sách phù hợp với lòng dân, nhất là đối với NKT trong xã hội

Trang 31

1.3.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin về người khuyết tật trên báo chí

Trong hoạt động báo chí, nhận thức về chất lượng thông tin song song với nhận thức về chức năng và đối tượng phản ánh của báo chí Lý luận báo chí truyền thông đã chỉ ra các tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin, đó là tính độc đáo, tính đại chúng và tính hợp thời (đúng lúc) Thông tin về NKT cũng được đánh giá chất lượng dựa trên các tiêu chí cơ bản ấy

Tính độc đáo của thông tin, là cái mới mà công chúng chưa biết Nhưng cái mới không phải là cái duy nhất thể hiện tính độc đáo Cùng với sự đòi hỏi tất yếu của cái mới, có thể tái hiện thông tin cũ đã bị lãng quên, giúp cho công chúng có thêm tư liệu để nhận thức tốt hơn sự kiện mới Tuy nhiên, những thông tin được nhắc lại sẽ vô bổ, thậm chí có hại khi cái mới, cái độc đáo bị chìm đi trong một loạt cái cũ; khi cái cũ không đóng vai trò bổ sung mà lại cản trở việc nhận thức cái mới

Tính đại chúng (dễ hiểu): Để công chúng nhận thức nội dung tác phẩm tương ứng với ý đồ tác giả, đòi hỏi ngôn ngữ của báo chí (cách viết, cách thể hiện ) phải được công chúng nhận thức đầy đủ Nếu không thực hiện được nguyên tắc tính đại chúng của ngôn ngữ sẽ dẫn đến tình trạng là công chúng không hiểu được tác phẩm

Tính hợp thời (đúng lúc): Những tác phẩm báo chí xuất hiện đúng lúc, đáp ứng được nhu cầu của công chúng và sự quan tâm của họ trong thời điểm

đó thì tác phẩm sẽ có giá trị hơn, tạo sự hứng thú, hấp dẫn công chúng Lượng thông tin còn phụ thuộc vào tính thời điểm của nó Trong thời đại ngày nay, lượng thông tin phụ thuộc một cách quyết định vào tính kịp thời, đúng lúc, nhanh nhạy Báo chí làm được những điều trên sẽ làm tăng giá trị của thông tin, nếu thông tin chậm, hiệu quả sẽ ngược lại và lượng của nó sẽ bằng không

Tiêu chí đánh giá tác phẩm báo chí chất lượng cao, được các cơ quan quản lý nhà nước nghiên cứu quy định cụ thể, đó là: “Những tác phẩm mang

Trang 32

lại hiệu quả thiết thực cho toàn xã hội hoặc một vùng miền, địa phương; có nhiều tìm tòi, phát hiện những vấn đề mới nảy sinh trong cuộc sống hàng ngày; có nội dung phù hợp, hấp dẫn người đọc, người nghe, người xem; phù hợp với quan điểm chỉ đạo, tuyên truyền, đường lối, chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước”

Cơ sở lý luận báo chí truyền thông cũng chỉ ra rằng, tác phẩm báo chí

là một chỉnh thể, bao gồm hai yếu tố nội dung và hình thức Hai yếu tố này có mối quan hệ biện chứng, gắn bó hữu cơ, chi phối lẫn nhau tạo nên chất lượng tác phẩm báo chí Tác phẩm báo chí còn được hiểu rộng hơn, đó là cả trang báo, số báo, tờ báo, chuyên mục, chương trình phát thanh, truyền hình Do

đó tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin báo chí phải coi trọng cả hai yếu tố nội dung và hình thức thông tin

Hoạt động báo chí là hoạt động có ý thức và mục đích của con người, bởi vậy yêu cầu về tính hiệu quả báo chí phải được đặt lên hàng đầu Hiệu quả báo chí là việc vận dụng các quy luật, các nguyên tắc, hình thức, phương thức hoạt động báo chí giúp cho nó thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ của mình nhằm đạt mục đích đặt ra Để báo chí hoạt động hiệu quả, trước hết nội dung phải hay, phải súc tích và hình thức thể hiện phải hấp dẫn

- Về nội dung, phải phong phú, mang lại cho công chúng một lượng thông tin mới, phản ánh đúng, kịp thời, đi vào những vấn đề thiết thực nhất của người khuyết tật mà công chúng đang quan tâm hoặc đang cần tìm hiểu thông tin

- Về hình thức, phải thỏa mãn nhu cầu mỹ cảm, tác động sâu sắc đến tình cảm và suy nghĩ của đối tượng Thông tin báo chí phải được chuyển tải bằng các hình thức, phương pháp thể hiện thuyết phục, dễ hiểu Nó không chỉ làm cho công chúng thích thú mà còn khơi gợi được sự suy nghĩ theo hướng đúng và thúc đẩy hành động tích cực của những đối tượng khuyết tật

Trang 33

1.4 Vai trò và đặc điểm của b o mạng điện tử trong việc đăng tải

t ông tin về người k uyết tật

1.4.1 Vai trò của báo mạng điện tử trong việc đăng tải thông tin về người khuyết tật

Báo chí có vai trò quan trọng không chỉ góp phần vào việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức của công chúng đối với vấn đề NKT mà còn nâng cao tri thức, trình độ của toàn xã hội đối với vấn đề này Mặt khác, báo chí còn là cầu nối thông tin hữu hiệu giúp NKT hoà nhập với cộng đồng xã hội

NKT thuộc nhóm những người yếu thế trong xã hội Họ có những khiếm khuyết trên cơ thể về thể chất hoặc tinh thần, rất dễ bị tổn thương vì vậy, họ rất cần được quan tâm, giúp đỡ, hỗ trợ về mọi mặt trong cuộc sống Báo chí hiện nay là phương tiện truyền thông đại chúng phổ biến, nó trở thành phương tiện thông tin, phản ánh sự kiện, sự việc, vấn đề một cách phong phú,

đa dạng những vẫn đảm bảo tính trung thực, khách quan, nhằm giúp NKT tự tin, vượt qua khó khăn, vươn lên trong cuộc sống, hòa nhập với cộng đồng

Trong việc nâng cao nhận thức của toàn xã hội về các đối tượng khuyết tật, báo chí có vai trò vô cùng quan trọng Vai trò đó được biểu hiện ở chỗ báo chí là phương tiện nhằm bảo đảm phổ biến thông tin trên quy mô đại chúng về hệ thống các chính sách, đường lối của Nhà nước về chăm sóc, bảo

vệ NKT Nó đồng thời là diễn đàn cho toàn dân đặc biệt là NKT thể hiện, tập hợp các ý kiến, kinh nghiệm giải quyết các vấn đề chăm sóc, bảo vệ NKT cũng như là phương tiện kêu gọi sự giúp đỡ của toàn xã hội đối với mỗi cá nhân đang gặp khó khăn Với tư cách là tiếng nói của Đảng và Nhà nước, diễn đàn của nhân dân, trong thời gian qua, báo chí đã vào cuộc với những bài viết, tin, ảnh phong phú, hấp dẫn và cập nhật về mọi mặt đời sống của NKT Bên cạnh đó, báo chí cũng đã tổ chức nhiều chương trình hoạt động góp phần giúp

đỡ, cải thiện và nâng cao đáng kể đời sống vật chất và tinh thần cho NKT

Trang 34

Bên cạnh đó, thông tin về NKT đòi hỏi báo chí phải bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NKT Có nghĩa là thông qua báo chí, NKT có thể thoải mái nêu lên ý kiến, nguyện vọng của mình về các vấn đề đang gặp phải trong đời sống xã hội Từ đó, báo chí là kênh thông tin tin cậy để kêu gọi, tập hợp các nhà hảo tâm, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân tham gia từ thiện xã hội, đóng góp bằng nhiều hình thức nhằm giúp NKT ổn định cuộc sống, được thụ hưởng những dịch vụ y tế, giáo dục, văn hóa…

Đối với các đối tượng khuyết tật, cách thức các phương tiện truyền thông đưa tin có thể giúp xã hội nâng cao nhận thức về những thách thức, khó khăn mà những NKT phải đối mặt, những vấn đề xoay quanh chủ đề hòa nhập của NKT, những yếu tố dẫn đến khó khăn và sự kỳ thị với NKT Thời điểm

và tần suất đăng tải tin bài về chủ đề hòa nhập NKT, ngôn từ để nói về NKT

có thể mang lại cái nhìn tích cực, tăng cường sự tôn trọng đối với quyền và nhân phẩm của NKT, thúc đẩy và nâng cao nhận thức về xã hội hòa nhập Việc đưa hình ảnh NKT có nhân phẩm và được tôn trọng lên các phương tiện truyền thông có tác dụng quảng bá cho một xã hội hòa nhập và chấp nhận sự khác biệt giữa các thành viên của xã hội

Thông qua báo chí, nhiều hình ảnh tích cực, tiêu biểu của NKT đã được xây dựng; giúp xã hội nhìn thấy hình ảnh NKT là những người có chuyên môn, năng lực, không chỉ tự giúp mình mà còn đóng góp trở lại cho gia đình, xã hội Qua đó, quảng bá mạnh mẽ thông điệp: NKT có sự hiện diện

và đóng góp ở mọi lĩnh vực của đời sống, mọi cộng đồng, mọi vùng miền…

Báo chí nói chung, BMĐT nói riêng đã tham gia huy động các nguồn lực để giải quyết vấn đề NKT chưa được hoà nhập vào đời sống xã hội, kinh tế, chính trị nói chung, đồng thời giải quyết những khó khăn về tiếp cận đối với các lĩnh vực phát triển như y tế, giáo dục, lương thực, nhà ở, việc làm và đất đai của NKT Bên cạnh đó, báo chí cũng góp phần phổ biến về các dịch vụ hỗ

Trang 35

trợ, các nguồn trợ giúp, mang đến những thông tin cần thiết và vô cùng thiết thực về các chương trình, chính sách của Nhà nước đối với NKT

Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng và đánh giá cao vai trò của báo chí nói chung, BMĐT nói riêng trong việc đăng tải thông tin về NKT Đây không chỉ là phương tiện cung cấp thông tin, cung cấp tri thức, là một trong những công cụ giúp cho công tác chỉ đạo, điều hành đất nước mà còn là nơi

để phản hồi những thông tin từ nhân dân đối với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần quan trọng thực hiện dân chủ hóa trong đời sống xã hội Báo chí thực sự là công cụ cung cấp tri thức,

dự báo sự phát triển, đồng thời cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển Đời sống nhân dân được cải thiện, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao nên nhu cầu thông tin và thông tin về NKT của nhân dân ngày càng cao hơn

Báo chí đang ngày càng phát triển và hoàn thiện hơn, trở thành cầu nối quan trọng giữa thông tin về NKT nói riêng và công chúng Với số lượng ngày càng tăng và chất lượng ngày càng tốt, BMĐT đã tạo niềm tin và tạo thành một nhu cầu cần thiết cho nhân dân Sứ mệnh của báo chí trước hết là

để thỏa mãn nhu cầu thông tin của xã hội Xã hội càng hiện đại, việc phổ biến thông tin trên quy mô đại chúng càng trở nên quan trọng Vì vậy, sự phụ thuộc, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các phương tiện thông tin đại chúng và xã hội càng trở nên chặt chẽ Trong thời đại bùng nổ thông tin ngày nay, vai trò tích cực của báo chí đã thúc đẩy quá trình xã hội hóa các hoạt động giám sát và phản biện xã hội

1.4.2 Đặc điểm của báo mạng điện tử trong việc đăng tải thông tin về người khuyết tật

Có thể mô tả diện mạo của một tờ BMĐT hoàn chỉnh như một cấu trúc mở rộng về không gian cho nhiều đối tượng bạn đọc, dày về thời gian với

sự tích lũy nhiều tầng thông tin Một cơ cấu hai chiều giữa tòa soạn và bạn đọc, một tổ hợp thông tin dịch vụ đa dạng đọc, nghe, nhìn phong phú Bởi vậy

Trang 36

mà loại hình báo chí này có một số đặc điểm cơ bản trong việc thông tin về NKT như sau:

Tính đa phương tiện

BMĐT là một loại hình báo chí tổng hợp, tích hợp nhiều công nghệ (multimedia) Trên một tờ báo mạng, thậm chí ngay trong một tác phẩm báo mạng có thể tích hợp cả báo viết, báo phát thanh và báo hình

Khi đọc BMĐT độc giả có thể chủ động xem những tác phẩm mình quan tâm ở bất kì trang nào giống như báo in Đồng thời cũng được trực quan những hình ảnh, video clip, lắng nghe những âm thanh mà không hề bị phụ thuộc vào các yếu tố thời gian, không gian

Sự tích hợp này giúp cho BMĐT có được những yếu tố hấp dẫn của các loại hình báo chí khác, vì thế mà trở nên sinh động hơn, hấp dẫn hơn Nhờ tính đa phương tiện mà BMĐT có khả năng tích hợp ưu việt của các loại hình báo chí khác như tính văn bản, khả năng lưu trữ dưới dạng văn bản của báo

in, hình ảnh động và âm thanh của truyền hình, âm thanh của phát thanh Nó cũng khắc phục được tính đơn điệu và tính tĩnh của báo in cũng như hạn chế trong trật tự tuyến tính thời gian phát sóng của phát thanh và truyền hình Trên BMĐT công chúng có thể đọc, nghe và xem Các yếu tố đồ họa, video clip, audio, ảnh, về người khuyết tật được sử dụng linh hoạt tạo ra nhiều cổng thông tin để công chúng tiếp cận dễ dàng Chính sự tích hợp này làm cho BMĐT thực sự phong phú, đa dạng, sinh động và hấp dẫn trong cách truyền tải thông tin về người khuyết tật hiện nay

- Văn bản

Mặc dù, những thành phần khác trong tính đa phương tiện có tính hấp dẫn và ưu điểm vượt trội song văn bản vẫn là phần quan trọng, không thể thiếu của 1 tác phẩm BMĐT Nó chiếm một diện tích lớn trong tổng thể BMĐT

Các nhà thiết kế trang BMĐT cũng có công rất lớn trong việc tạo ra nhiều kiểu chữ đẹp mắt, nhiều kích cỡ chữ với những màu sắc nổi bật ấn

Trang 37

tượng… góp phần làm tăng tính hấp dẫn của văn bản Sự đa dạng của kiểu chữ, cỡ chữ cũng như màu sắc vừa tạo ra sự chú ý của người đọc vừa nhằm phân biệt các thành phần trong nội dung của tác phẩm như tít, sa pô, nội dung

- Ảnh

Ảnh bao gồm ảnh tĩnh và ảnh động Ảnh tĩnh bao gồm ảnh chụp và hình họa về người khuyết tật và các vấn đề liên quan đến họ Nó là thành phần được dùng nhiều và đóng vai trò quan trọng trong vào thành công của bài báo Một bức ảnh chụp đúng khoảnh khắc gắn liền với sự việc , sự kiện Ảnh tĩnh trên BMĐT có thể đứng độc lập hoặc kết hợp với văn bản để dẫn tới các phần khác trong bài Nó không chỉ làm tăng tính xác thực của thông tin về những đối tượng khuyết tật mà còn giúp người đọc thư giãn đôi mắt khi đọc những bài báo dài Việc bố trí ảnh xen kẽ một cách hợp lý sẽ làm người đọc không cảm thấy nhàm chán, đơn điệu khi tiếp nhận thông tin về người khuyết tật Số lượng, kích cỡ và cách xắp xếp những bức ảnh tùy thuộc vào từng báo Dưới mỗi bức ảnh nên có phần chú thích để người đọc dễ liên hệ với nội dung bài báo…

Ảnh động trên BMĐT thường được thể hiện qua hai hình thức là slideshow ( trình diễn ảnh) và animation Hình thức trình diễn ảnh gồm nhiều hình ảnh khác nhau được xắp xếp theo một ý đồ nhất định Tùy theo thiết kế của từng trang mà các slide ảnh có tốc độ chuyển ảnh, giao diện khác nhau

Đi kèm mỗi hình ảnh là phần chú thích để làm rõ hơn nội dung hoặc để tạo sự liên kết trong các bức ảnh được trình diễn Hình ảnh động góp phần làm cho bài báo tăng sức hấp dẫn Hiện nay loại ảnh này được sử dụng phổ biến cho quảng cáo dạng bảng, khung trên các BMĐT hiện nay

Thông thường nhất là một tấm ảnh có thông tin bổ sung bằng lời, trong đó, thông tin bằng hình ảnh được chú ý trước, sau đó mới là thông tin bằng chữ Thông tin bằng hình ảnh đóng vai trò chủ yếu Hình ảnh phải diễn

tả sinh động, cụ thể một khía cạnh cơ bản nhất, điển hình nhất của đối tượng

Trang 38

được phản ánh Phần lời chú thích có nhiệm vụ giải thích cho tấm ảnh và bổ sung những thông tin phụ

- Video clip, Audio:

Với video clip có thể là sự kết hợp giữa Hình ảnh và Âm thanh, Lời bình, Text hoặc Ảnh (Video Ảnh – Slideshow)…

Các yêu cầu chung đối với một Video Clip, Audio:

+ Đối tượng phản ánh là những sự kiện, sự việc, con người, vấn đề điển hình, độc đáo, mang tính thời sự, nóng hổi; được nhiều người quan tâm

+ Kết cấu nội dung phải đảm bảo tính logic phát triển của sự kiện, vấn

đề bằng hình ảnh và âm thanh; những đánh giá, bình luận sự kiện phải được phối hợp sử dụng nhịp nhàng

+ Thời lượng càng ngắn gọn càng tốt nhưng vẫn đảm bảo về nội dung

và hình thức thể hiện đầy đủ, chi tiết và hấp dẫn

+ Với video Clip, hình ảnh phải đạt tiêu chuẩn chất lượng về nội dung

và hình thức, mỗi khuôn hình phải có ý nghĩa và đảm bảo tính trung thực về thông tin

- Đồ họa

Cùng với hình ảnh, đồ họa xuất hiện ngày càng nhiều trên BMĐT

đã làm tăng sự đa dạng, sinh động trong việc thể hiện thông tin Đồ họa là những hình vẽ, thiết kế bằng các chương trình phần mềm đồ họa trên máy tính để minh họa, mô tả cho những chi tiết, ý tưởng nào đó Sự kết hợp giữa hình khối và màu sắc trong đồ họa đã tạo ra những hình ảnh không gian có chiều sâu

Thông tin đồ họa thực chất là hình thức diễn đạt thông tin bằng đồ thị, biểu bảng, bản đồ, lược đồ… Nhờ ngôn ngữ tạo hình riêng biệt, thông tin đồ họa còn có khă năng diễn đạt chi tiết, xắp xếp hài hòa có ý đồ về nội dung và hình thức… Thông tin đồ họa giúp người tiếp nhận thông tinnhanh, dễ hiểu,

dễ nhớ Dù trong bài có thể đưa ra các số liệu cụ thể song việc sử dụng đồ họa

Trang 39

sẽ giúp cho độc giả thấy được sự biến thiên của số liệu và dễ dàng hình dung vấn đề mà tác giả bài viết đưa ra

Tính thời sự, cập nhật thông tin tức thời, thường xuyên, liên tục

Nhờ vào sự phát triển của công nghệ, máy vi tính và đặc biệt là vai trò của mạng toàn cầu Internet, các nhà báo trực tuyến có thể dễ dàng xâm nhập

sự kiện, nhanh chóng viết bài về người khuyết tật và gửi về toà soạn thông qua hệ thống thư điện tử Với tốc độ đường truyền nhanh, thậm chí các phóng viên có thể đưa tin cùng lúc với sự kiện đang diễn ra

Không chỉ tức thời, BMĐT còn cho phép phóng viên thường xuyên cập nhật thông tin người khuyết tật Điều này khác với báo giấy hoặc các loại hình báo chí khác ở chỗ nhà báo có thể đăng tải thêm tin tức bất cứ lúc nào

mà không phải chờ đến giờ lên khuôn hay sắp xếp chương trình như ở các loại hình báo chí khác Các sự kiện, thông tin về người khuyết tật được BMĐT đăng tải ngay mà không phải sắp xếp định kì Cứ có sự kiện, có vấn

đề liên quan đến người khuyết tật là thông tin Chính vì thế mà người ta còn cho BMĐT một đặc trưng là tính phi định kì Đặc điểm này giúp cho BMĐT

dễ dàng vượt trội hơn so với các loại hình báo chí khác về tốc độ thông tin, lượng thông tin, đảm bảo tính thời sự và tạo ra sự thuận tiện cho độc giả Nhiều người tìm đến BMĐT để cập nhật thông tin cũng là vì lí do này Đây là một lợi thế vượt trội khác của loại hình BMĐT mà các loại hình báo chí khác

có mà có thể cạnh tranh Nếu báo in bị giới hạn bởi thời gian in, phát hành báo, báo mới hôm nay chỉ có thể đăng tải các tin của ngày hôm qua thì BMĐT có thể cập nhật thông tin ban đầu lên mạng, có thể chỉ là tít và một câu thông báo sự kiện, sau đó liên tục cập nhật các thông tin mới

Đội ngũ làm báo vẫn thường có câu nhận định về vai trò cũng như thế mạnh của các loại hình báo chí trước một sự kiện là “phát thanh đưa tin, truyền hình phản ánh, báo in bình luận” Tuy nhiên đối với các sự kiện lớn được công chúng quan tâm, BMĐT có thể tường thuật trực tiếp sự kiện bằng

Trang 40

hình ảnh, bằng âm thanh kết hợp với chữ viết để độc giả có thể theo dõi thông tin liên tục và đa chiều ngay khi sự kiện đang diễn ra Phát thanh, truyền hình mặc dù cũng có thể đưa thông tin nóng, nhanh chóng, nhưng lại bị lệ thuộc nhiều vào hệ thống máy móc trong khi phóng viên BMĐT có thể tác nghiệp khá linh hoạt, chỉ cần một máy tính kết nối mạng hoặc gọi điện về cho người

ở tòa soạn cập nhật, phát tin bài

Ngày nay, với sự hỗ trợ của phương tiện máy móc, phát thanh, truyền hình có thể làm trực tiếp tại hiện trường, nhưng do hạn chế về thời lượng phát sóng nên tốc độ cập nhật thông tin không thể liên tục được như BMĐT, nơi

mà phóng viên có thể “tiếp tục cập nhật”, bổ sung thông tin trong từng phút Chính khả năng cập nhật thông tin liên tục của BMĐT giúp cho loại hình báo chí này chiếm ưu thế tuyệt đối về tính thời sự của thông tin, đồng thời phá vỡ tính định kỳ vốn là một đặc trưng của báo chí Tuy nhiên, điều này cũng đồng nghĩa với việc áp lực và tốc độ thông tin của phóng viên BMĐT là rất lớn vì

sự cạnh tranh thông tin giữa các báo có khi chỉ được tính bằng ngày

BMĐT có tính tương tác cao

Tính tương tác là một trong những đặc trưng quan trọng của báo chí Khi mà mọi điều kiện của con người được nâng cao, nhu cầu được đáp ứng về thông tin, cũng như sự tương tác với báo chí của độc giả càng được coi trọng

Ở bất kì loại hình báo chí nào, tính chất này cũng được những người làm báo lưu tâm Đối với BMĐT, nhờ có những đặc trưng nổi trội về công nghệ mà dường như tính tương tác có vẻ cao hơn so với các loại hình báo chí còn lại

Không dừng lại ở sự tương tác giữa độc giả với toà soạn, ở BMĐT, chúng ta còn có thể thấy sự tương tác nhiều chiều giữa độc giả với nhà báo, độc giả với độc giả, hay độc giả với nhân vật người khuyết tật trong tác phẩm báo chí, đặc biệt là khi thông tin về người khuyết tật

Ngày đăng: 24/11/2021, 13:56

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w