Với mong muốn góp một phần nhỏ bé trong việc nghiên cứu, tăng cường và phát triển các chương trình truyền hình dành cho người khuyết tật nói chung và người khiếm thính nói riêng, nhằm nâ
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN HƯƠNG MAI
SỬ DỤNG NGÔN NGỮ KÝ HIỆU DÀNH CHO NGƯỜI KHIẾM THÍNH TRÊN TRUYỀN HÌNH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
(Khảo sát chương trình: “Bản tin O2” - O2TV, “Bản tin thời sự”
và “Dạy ngôn ngữ ký hiệu trên truyền hình” - Kênh VTV2,
Đài truyền hình Việt Nam, từ năm 2009 - 2014)
Ngành: Báo chí học
Mã số: 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Nguyễn Ngọc Oanh
HÀ NỘI - 2016
Trang 2XÁC NHẬN LUẬN VĂN ĐÃ ĐƢỢC SỬA CHỮA
Luận văn đã được sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày …… tháng 03 năm 2016
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS, TS Nguyễn Ngọc Oanh Các số liệu và kết luận trong luận văn chưa từng công bố trong bất kì một công trình nào trước đây Nếu sai, tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Tác giả
Nguyễn Hương Mai
Trang 4Với mong muốn góp một phần nhỏ bé trong việc nghiên cứu, tăng cường và phát triển các chương trình truyền hình dành cho người khuyết tật nói chung và người khiếm thính nói riêng, nhằm nâng cao đời sống văn hóa của bộ phận dân số này, tôi đã lựa chọn đề tài nghiên cứu “Sử dụng ngôn ngữ
ký hiệu dành cho người khiếm thính trên truyền hình tại Việt Nam hiện nay” (Khảo sát chương trình: “Bản tin O2” - O2TV, “Bản tin thời sự” và “Dạy ngôn ngữ kí hiệu trên truyền hình” - Kênh VTV2, Đài truyền hình Việt Nam,
từ năm 2009 - 2014)
Để thực hiện đề tài này, tôi đã nhận được sự động viên, giúp đỡ chân tình và nghiêm khắc, khoa học và hiệu quả từ PGS, TS Nguyễn Ngọc Oanh, từ các cá nhân, tổ chức và các bạn đồng nghiệp Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin được gửi lời cảm ơn PGS, TS Nguyễn Ngọc Oanh - người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và động viên tôi trong quá trình thực hiện luận văn Tôi cũng mong muốn được gửi lời cảm ơn tới Khoa Phát thanh - Truyền hình, Khoa Ngoại ngữ, Phòng Đào tạo sau Đại học và các phòng, ban của Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi cũng như các học viên Báo chí K19 hoàn thành khóa học Cao học năm 2014 - 2015
Do hiểu biết còn hạn hẹp và thời gian có hạn nên việc có thiếu sót trong luận văn là điều khó tránh khỏi, tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của thầy cô và các học viên lớp Cao học K19 để có thể có một nghiên cứu hoàn thiện hơn
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGÔN NGỮ, NGÔN NGỮ KÍ HIỆU TRÊN TRUYỀN HÌNH 12
1.1 Các khái niệm cơ bản 12
1.2 Đặc điểm ngôn ngữ ký hiệu trên truyền hình: 28
1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu dành cho người khiếm thính trên truyền hình tại Việt Nam hiện nay 34
1.4 Những nhân tố tác động đến việc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu dành cho người khiếm thính trên truyền hình tại Việt Nam hiện nay 37
Chương 2: TÌNH HÌNH SỬ DỤNG NGÔN NGỮ KÝ HIỆU TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TẠI VIỆT NAM 43
2.1 Khái quát về các chương trình truyền hình khảo sát 43
2.2 Công chúng tiếp nhận ngôn ngữ ký hiệu 56
2.3 Cách thức sử dụng ngôn ngữ ký hiệu 60
2.4 Mức độ sử dụng ngôn ngữ ký hiệu 66
2.5 Hiệu quả sử dụng ngôn ngữ ký hiệu 70
2.6 Nguyên nhân của thành công và những hạn chế tồn đọng 74
Chương 3: GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG SỬ DỤNG NGÔN NGỮ KÝ HIỆU TRONG CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH TẠI VIỆT NAM 80
3.1 Các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các chương trình sẵn có 80
3.2 Đề xuất xây dựng và tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình chuyên biệt dành cho người khiếm thính 85
3.3 Đề xuất xây dựng một kênh truyền hình chuyên biệt dành cho khuyết tật 90
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 101
Trang 6truyền hình sử dụng ngôn ngữ ký hiệu tại Việt Nam 58Bảng 2.2 Tỉ lệ người khiếm thính theo dõi các chương trình truyền hình
hiện nay dành riêng cho họ 69Bảng 2.3 Đánh giá về cách thức truyền đạt của các chương trình truyền
hình hiện nay dành cho người khiếm thính 70Bảng 2.4 Tỉ lệ người biết về các chương trình truyền hình hiện nay
dành riêng cho người khiếm thính 71Bảng 3.1 Các dạng chương trình truyền hình người khiếm thính thường xem 81
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1 Cùng một từ nhưng mỗi quốc gia lại có một ký hiệu khác nhau 30Hình 1.2 Hệ thống chữ cái bằng ngón tay 31Hình 1.3 Cách diễn đạt bằng ngôn ngữ ký hiệu 33Hình 2.1 MC Hoàng Lan, một trong hai MC của chương trình “Nhật ký
O2” - O2TV 47Hình 2.2 Một buổi ghi hình của “Bản tin thời sự” lúc 22h00 51Hình 2.3 Chương trình “Dạy ngôn ngữ ký hiệu trên truyền hình” phát
sóng lúc 23h thứ 5 và phát lại và 9h sáng chủ nhật hàng tuần 53Hình 2.4 Lí do nhiều người khiếm thính chưa từng theo dõi chương
trình có sử dụng ngôn ngữ ký hiệu 73Hình 2.5 Mục đích xem chương trình của người khiếm thính 73
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người và trong các Công ước quốc tế về quyền con người năm 1966, Liên Hợp Quốc đã thống nhất
tuyên bố rằng: Mọi người đều có các quyền và tự do mà các công ước bảo vệ, không có sự phân biệt dưới bất kỳ hình thức nào Theo đó, các quyền và tự do
cơ bản của con người có tính phổ quát, nằm trong một chỉnh thể thống nhất, phụ thuộc lẫn nhau và liên quan lẫn nhau, và rằng cần bảo đảm cho người khuyết tật được hưởng đầy đủ các quyền này mà không có sự phân biệt nào
Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị (1966), thừa nhận rằng:
Sự khuyết tật là một khái niệm luôn tiến triển và sự khuyết tật xuất phát từ sự tương tác giữa người có khuyết tật với những rào cản về môi trường và thái
độ, những rào cản này phương hại đến sự tham gia đầy đủ và hữu hiệu của
họ vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác Thừa nhận tầm quan trọng của các nguyên tắc và định hướng chính sách, được ghi nhận tại Chương trình hành động thế giới về người khuyết tật và các Quy tắc tiêu chuẩn về bình đẳng hóa cơ hội cho người khuyết tật trong tác động đối với việc khuyến khích, xây dựng và đánh giá chính sách, kế hoạch, chương trình hành động ở các cấp quốc gia, khu vực và quốc tế nhằm mục đích tăng cường bình đẳng hóa cơ hội cho người khuyết tật Bên cạnh đó, công ước này cũng
“nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đưa các vấn đề về người khuyết tật trở thành một bộ phận của các chiến lược phát triển bền vững liên quan Đồng thời thừa nhận rằng phân biệt đối xử chống lại bất kỳ người nào trên cơ sở sự khuyết tật là vi phạm phẩm giá vốn có của con người”
Ngày 13/12/2006, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã thông qua Công ước
về quyền của Người khuyết tật và Chính phủ Việt Nam là thành viên thứ 118 tham gia ký Công ước này vào tháng 10/2007 Tại khoản 1, điều 4 về nghĩa vụ
Trang 8chung của các quốc gia thành viên nêu rõ, các quốc gia thành viên cần cam kết bảo đảm và thúc đẩy việc biến các quyền và tự do cơ bản của con người thành hiện thực đối với mọi người khuyết tật mà không có bất kỳ sự phân biệt đối xử
nào trên cơ sở sự khuyết tật Đặc biệt, trong đó nhấn mạnh việc: “Cung cấp thông tin dễ tiếp cận cho người khuyết tật về phương tiện, thiết bị hỗ trợ di chuyển và các công nghệ trợ giúp, trong đó có các công nghệ mới, cũng như mọi hình thức dịch vụ hoặc cơ sở vật chất trợ giúp khác”
Tại Việt Nam, theo số liệu chưa đầy đủ của Tổng cục Thống kê, Việt Nam có khoảng 6,7 triệu người khuyết tật, trong đó có những dạng khuyết tật như: khuyết tật vận động, nghe nói (thính giác), nhìn (thị giác), khuyết tật thần kinh, tâm thần, khuyết tật trí tuệ và một số khuyết tật khác Có nhiều nguyên nhân gây ra khuyết tật như: khuyết tật mắc phải khi phát triển (từ chu
kỳ sinh, bệnh, tổn thất, thương tích do bạo hành, tai nạn, chiến tranh hay thông qua lão hóa) hay khuyết tật bẩm sinh (do di truyền, nhiễm sắc thể, bất thường bẩm sinh…)
Lên tới con số hơn 1 triệu, lượng người khiếm thính tại Việt Nam chiếm tới 6,3% dân số Cũng trong số hơn 1 triệu người khiếm thính ở Việt Nam hiện nay, có khoảng 400 nghìn người khiếm thính trong độ tuổi học đường Hằng năm, có khoảng 20 nghìn trẻ khiếm thính đến độ tuổi đi học Mặc dù các phương tiện kỹ thuật ngày càng phát triển, hiện đại và phổ thông hóa giúp người khiếm thính có cơ hội học nói, giao tiếp bằng lời, song "ngôn ngữ ký hiệu" vẫn giữ vị trí vô cùng quan trọng và là thứ ngôn ngữ "mẹ đẻ" của người câm điếc
Có thể nói, thông tin có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống mỗi
cá nhân cũng như sự phát triển của quốc gia Trong Hiến pháp 2013, tại điều
25, chương II về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nêu
rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội
Trang 9họp, lập hội, biểu tình Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”
Điều đó cho thấy, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiền quyền tiếp cận thông tin, trong đó có thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng
Hiện nay, trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ, trước sự đa dạng hóa của nhiều nhóm công chúng, nhiều tờ báo, tạp chí, nhiều kênh phát thanh, truyền hình chuyên biệt đã được ra đời Trong đó có các chương trình truyền hình sử dụng ngôn ngữ ký hiệu dành cho người khuyết tật nói chung và khiếm thính nói riêng Dù còn nhiều khó khăn, vất vả trong việc truyền tải thông tin đến với nhóm đối tượng khán giả này nhưng sự ra đời và phát triển của các chương trình truyền hình sử dụng ngôn ngữ ký hiệu đã trở thành điểm sáng trong truyền thông Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung
Với mong muốn thực hiện đúng Công ước Quốc tế về người khuyết tật, đồng thời thể hiện sự tôn trọng và bảo vệ quyền tiếp nhận thông tin của người khuyết tật, tôi đã nghiên cứu, tìm hiểu và quyết định chọn Đề tài này Nghiên
cứu vấn đề “Sử dụng ngôn ngữ ký hiệu dành cho người khiếm thính trên truyền hình tại Việt Nam hiện nay” là một dịp quan trọng để các cơ quan ban
ngành có thể hiểu thêm tình hình thực tế, khả năng, nhu cầu, nguyện vọng của người khuyết tật nói chung và người khiếm thính nói riêng, đồng thời, nắm bắt những thông tin, kinh nghiệm trong việc bổ sung, xây dựng và thực hiện chính sách dành cho người khuyết tật tại Việt Nam thông qua các chương trình truyền hình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan tới đề tài
Thực tế cho thấy, trước sự phát triển nhanh chóng của báo chí hiện đại tại Việt Nam hiện nay, trước nhu cầu ngày càng cao của khán giả xem truyền hình, đã và đang có rất nhiều tờ báo, tạp chí, chương trình phát thanh, truyền hình hướng tới nhiều đối tượng khán giả khác nhau Nhiều
Trang 10chương trình, thậm chí là nhiều kênh truyền hình chuyên biệt dành cho các đối tượng chuyên biệt đã được ra đời Một số kênh truyền hình chuyên biệt được biết đến như: Kênh VTV4 – Đài Truyền hình Việt Nam (Kênh truyền hình đối ngoại của Đài Truyền hình Việt Nam), kênh VTV5 – Đài Truyền hình Việt Nam (Kênh truyền hình tiếng dân tộc thiểu số, có phụ đề tiếng Việt), kênh VTV6 – Đài Truyền hình Việt Nam (Kênh truyền hình dành cho thanh - thiếu niên - nhi đồng), kênh Truyền hình Quốc phòng Việt Nam (Cơ quan ngôn luận của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, tiếng nói của lực lượng vũ trang và nhân dân Việt Nam), kênh truyền hình Công an Nhân dân - An ninh TV…
Bên cạnh các chương trình, các kênh truyền hình chuyên biệt, tại Việt Nam cũng đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, nhiều luận văn, luận
án về cộng đồng người khiếm thính nói chung như:
- Phạm Thị Cơi (1988) Quá trình hình thành ngôn ngữ nói ở người điếc Việt Nam, Luận án Phó tiến sĩ khoa học Ngữ văn, Viện Ngôn ngữ học: Xuất
phát từ thành tựu nghiên cứu và dạy hoc ngôn ngữ kí hiệu trên thế giới, từ đặc điểm tâm sinh lý của người khiếm thính, nghiên cứu đã phân tích và làm rõ quá trình hình thành ngôn ngữ nói ở người điếc Việt Nam
- Cao Thị Xuân Mỹ (2004 – 2005): Xây dựng Từ điển ký hiệu giao tiếp cho người khiếm thính, đề tài khoa học cấp cơ sở: Nghiên cứu đã phân tích kĩ
lưỡng cách xây dựng ngôn ngữ kí hiệu của các nước trên thế giới để so sánh đối chiếu với hệ thống ký hiệu giao tiếp của người khiếm thính Việt Nam nhằm tìm ra những quy luật hình thành các ký hiệu, xây dựng quy luật chuẩn trong giao tiếp giữa người khiếm thính với nhau, giữa người khiếm thính với người bình thường Trên cơ sở các quy luật chuẩn sẽ xây dựng hệ thống ký hiệu cơ bản, bảo đảm được "cái gốc" để vùng miền nào cũng có thể hiểu ý nghĩa của ký hiệu mới khi giao tiếp
Trang 11- Cao Thị Xuân Mỹ (2006-2008), Mở rộng nội dung Từ điển ký hiệu
giao tiếp của người khiếm thính, Đề tài khoa học cấp Bộ: ứng dụng công nghệ
thông tin nhằm trợ giúp vốn từ giao tiếp bằng ký hiệu cho người khiếm thính
và phục vụ công tác đào tạo sinh viên ngành giáo dục đặc biệt
- Nhóm nghiên cứu: Vương Hồng Tâm, Ngô Thị Kim Thoa, Đỗ Long
Giang, Nguyễn Thị Thu Hiền (2008) Nghiên cứu cách biểu đạt ngôn ngữ của người điếc Việt Nam: Bằng các phương pháp nghiên cứu như lí luận, phương
pháp tổng kết kinh nghiệm, phương pháp điều tra, khảo sát, thống kê, nghiên cứu đã đi sâu vào các cách thức biểu đạt ngôn ngữ ký hiệu của người điếc, trên cơ sở đó định hướng về phương pháp dạy ngôn ngữ kí hiệu và cách thức giao tiếp bằng ngôn ngữ kí hiệu với trẻ điếc hiệu quả hơn Đồng thời, xác định đặc điểm của ngôn ngữ ký hiệu là một hệ thống những cử chỉ được sử dụng theo quy ước thông qua bàn tay, nét mặt, điệu bộ để biểu đạt một ý nghĩa nào đó (hay để biểu thị một sự vật, hiện tượng, hành động, tính chất ), xác định đặc tính của ngôn ngữ kí hiệu…
- Vương Hồng Tâm (2009) Sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp
để phát triển nhận thức của trẻ khiếm thính tiểu học trong lớp học hoà nhập,
Luận án Tiến sĩ Giáo dục học: Đi sâu vào nghiên cứu thực trạng sử dụng các phương tiện giao tiếp để phát triển nhận thức của trẻ khiếm thính tiểu học trong lớp học hòa nhập Đồng thời đưa ra một số biện pháp sử dụng kết hợp các phương tiện giao tiếp để phát triển nhận thức của trẻ khiếm thính tiểu học trong lớp học hòa nhập và thực nghiệm sư phạm
- Lê Thị Thủy (2009), Những vấn đề cơ bản của ngôn ngữ cử chỉ, Luận
văn Thạc sĩ Ngôn ngữ học, Trường Đại học sư phạm, thành phố Hồ Chí Minh: Luận văn vận dụng lí thuyết của kí hiệu học để giải thích về mặt kí hiệu của cử chỉ và lí thuyết tâm lý học giao tiếp làm rõ nội dung biểu hiện của con người trong mỗi cử chỉ Về mặt thực tiễn: Trong xu thế hội nhập thế giới
Trang 12và sự giao lưu văn hóa toàn cầu, mỗi người hiểu thêm về ngôn ngữ cử chỉ không những giao tiếp thành công hơn mà còn hòa nhập với cuộc sống xung quanh Kết qủa khảo sát đã xác lập được một hệ thống những cử chỉ phổ biến trong giao tiếp hàng ngày của người Việt khá phong phú, chân thực cho những ai muốn tìm hiểu thêm về đề tài ngôn ngữ cử chỉ
- Cao Thị Xuân Mỹ (2010-2013), Tìm hiểu quy luật diễn đạt bằng ngôn
ngữ ký hiệu của người Khiếm thính Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bộ: Nghiên cứu đã chỉ ra 5 yếu tố cấu thành kí hiệu giao tiếp trong ngôn ngữ
kí hiệu và phân tích: Mặc dù chưa có hệ thống ngôn ngữ kí hiệu thống nhất trong cả nước, song ngôn ngữ kí hiệu Việt Nam cũng đảm bảo các yếu tố cấu thành đó Qua nhiều dẫn chứng cụ thể, nghiên cứu đã phân tích, làm rõ để có cái nhìn sâu hơn về ngôn ngữ kí hiệu Việt Nam, đồng thời tạo cơ sở giúp cho việc học tập, tiếp cận ngôn ngữ kí hiệu được dễ dàng hơn
- Đỗ Thị Hiên và nhóm nghiên cứu (2012), Ngôn ngữ kí hiệu của cộng đồng người khiếm thính Việt Nam: Thực trạng và giải pháp, Báo cáo tổng hợp
đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ: Với những luận điểm, luận cứ vững chắc, nghiên cứu của Đỗ Thị Hiên và đồng sự đã chỉ ra những hạn chế của ngươi khiếm thính khi khả năng nghe bị suy giảm, dẫn đến khả năng giao tiếp bằng lời ở cộng đồng Nghiên cứu cũng phân tích những điểm khác biệt trong ngữ pháp của ngôn ngữ kí hiệu và tiếng Việt chứng tỏ ngôn ngữ kí hiệu Việt Nam
là một ngôn ngữ đích thực độc lập với tiếng Việt
Bên cạnh các nghiên cứu khoa học trên, còn nhiều nghiên cứu, luận văn, luận án nghiên cứu tới đề tài ngôn ngữ kí hiệu như:
- Khảo sát thực trạng sử dụng ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ của người điếc Việt Nam Chủ nhiệm Đỗ Văn Ba, 1997
- Ký hiệu ngôn ngữ cử chỉ điệu bộ của người điếc Việt Nam Chủ nhiệm Đỗ Văn Ba, 1997
Trang 13- Hình thành thống nhất hệ thống ký hiệu cử chỉ điệu bộ cơ bản cho người điếc Việt Nam Chủ nhiệm Đỗ Văn Ba Cơ quan chủ trì: Viện KH Giáo dục Việt Nam, 1997
- Giáo dục nghệ thuật để phát triển tư duy cho trẻ em câm điếc Chủ Nhiệm: Ths Lê Anh Cường Cơ quan chủ trì: Viện nghiên cứu giáo dục – Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
- Nội dung, chương trình, kế hoạch đào tạo giáo viên dạy hòa nhập cho trẻ khuyết tật Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học giáo dục, 1995
- Khảo sát thực trạng đội ngũ giáo viên dạy hòa nhập trẻ khuyết tật trong các trường tiểu học Cơ quan chủ trì: Viện Khoa học giáo dục, 1995
- Xây dựng mô hình giáo dục trẻ có tật Chủ nhiệm PTS Trịnh Đức Duy, 1990
…
Đối với các chương trình truyền hình, từ năm 2009 đã bắt đầu xuất hiện một chương trình truyền hình sử dụng ngôn ngữ ký hiệu nhằm mở rộng đối tượng xem truyền hình, hướng tới một lượng lớn những người khuyết tật nói chung và người khiếm thính nói riêng Chương trình đã được nghiên cứu, tìm hiểu và tổ chức sản xuất mang tính chất thường kỳ trong thời gian phát sóng
Đó là chương trình “Bản tin O2” được phát sóng trên kênh O2TV ra đời năm
2009 Đến năm 2011, chương trình “Bản tin thời sự” phát sóng lúc 22h00 trên kênh VTV2 - Đài Truyền hình Việt Nam cũng hướng tới nhóm khán giả này khi mở rộng sản xuất, phối hợp sử dụng ngôn ngữ ký hiệu trong chương trình
Và tới năm 2012, kênh VTV2 - Đài Truyền hình Việt Nam tiếp tục cho ra đời một chương trình truyền hình mới lạ có tên “Dạy ngôn ngữ ký hiệu trên truyền hình” Chương trình hướng tới nhóm khán giả là những người khuyết tật và những người yêu thích ngôn ngữ ký hiệu Tuy nhiên, sau một thời gian dài tìm hiểu, nghiên cứu, tôi nhận thấy: đa số các nghiên cứu, chương trình đều chưa có hoặc có nhưng chỉ một phần rất nhỏ tìm hiểu, nghiên cứu về cách thức hay hiệu quả truyền thông cho người khiếm thính
Trang 14Đề tài luận văn “Sử dụng ngôn ngữ ký hiệu dành cho người khiếm thính trên truyền hình tại Việt Nam hiện nay” có thể nói là một trong số ít ỏi
những đề tài nghiên cứu mới mẻ, thiết thực về vấn đề này, tính tới thời điểm hiện tại Nghiên cứu không chỉ có ý nghĩa lý luận, mà hi vọng còn có đóng góp thiết thực về thực tiễn cho những người sản xuất chương trình truyền hình
ở Việt Nam hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận báo chí, luận văn phân tích, đánh giá thực trạng sử dụng ngôn ngữ ký hiệu dành cho người khiếm thính trên truyền hình tại Việt Nam hiện nay Từ đó, đề xuất các giải pháp chủ yếu để nâng cao chất lượng, hiệu quả của các chương trình truyền hình sử dụng ngôn ngữ kí hiệu dành cho người khiếm thính tại Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về ngôn ngữ, ngôn ngữ kí hiệu trên truyền hình
- Tình hình sử dụng ngôn ngữ kí hiệu trong các chương trình truyền hình tại Việt Nam
- Giải pháp, kiến nghị nâng cao chất lượng sử dụng ngôn ngữ kí hiệu trên truyền hình tại Việt Nam
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc sử dụng ngôn ngữ kí hiệu dành cho người khiếm thính trên truyền hình tại Việt Nam hiện nay
4.2 Đối tượng khảo sát
- Các chương trình truyền hình sử dụng ngôn ngữ kí hiệu tại Việt Nam
- Đối tượng người khiếm thính – khán giả của chương trình, những người trực tiếp tiếp nhận thông tin thông qua ngôn ngữ kí hiệu
Trang 154.3 Đối tượng điều tra
Thực trạng việc sử dụng ngôn ngữ kí hiệu dành cho người khiếm thính trên truyền hình tại Việt Nam hiện nay Thành công, hạn chế và nguyên nhân
4.4 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu và nghiên cứu một số chương trình sử dụng ngôn ngữ ký hiệu dành cho người khuyết tật tại Việt Nam như: Nhật ký O2 - O2TV, bản tin thời sự 22h00 và dạy ngôn ngữ ký hiệu trên truyền hình, kênh VTV2 - Đài Truyền hình Việt Nam, từ năm 2009 - 2014
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, ngoài việc vận dụng lý luận về phương pháp nghiên cứu, phương pháp phân tích, luận văn còn sử dụng các phương pháp
cụ thể như sau:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thông qua việc tìm kiếm, tập hợp
tài liệu từ nhiều nguồn khác nhau trên sách, báo, internet, các công trình nghiên cứu khoa học, các tài liệu phục vụ hội thảo về ngôn ngữ ký hiệu để xem xét, phân tích các thông tin trong tài liệu Trên cơ sở đó kế thừa những giá trị vốn có nhằm rút ra những dữ liệu để so sánh, đối chiếu
- Phương pháp phân tích nội dung: Dùng để đánh giá những kết quả
nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Được thực hiện với một số khán giả
xem truyền hình tại 3 tỉnh, thành phố, gồm: Hà Nội, Thái Bình, Hải Phòng
Trang 16Các khán giả đều là người khiếm thính ở các độ tuổi khác nhau, qua đó tìm ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân chưa đạt được hiệu quả cao của các chương trình truyền hình sử dụng ngôn ngữ kí hiệu tại Việt Nam
- Phương pháp điều tra định lượng bằng bảng anket: Tác giả luận văn
tiến hành điều tra 180 khán giả là người khiếm thính tại 3 tỉnh, thành phố, gồm: Hà Nội, Thái Bình, Hải Phòng Lập bảng hỏi về các vấn đề xoay quanh nội dung, chất lượng, sự phù hợp của các chương trình cũng như cách thức thực hiện chương trình, nhằm mục đích thu thập các thông tin phục vụ cho quá trình nghiên cứu luận văn này
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở các nguồn tư liệu đã có
và kết quả điều tra xã hội học, đánh giá về chất lượng các chương trình sử dụng ngôn ngữ ký hiệu trên truyền hình hiện nay, từ đó tìm ra các ưu điểm, các hạn chế còn tồn tại để đạt đến cuối cùng là đưa ra đề xuất, ý kiến nhăm nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình sử dụng ngôn ngữ kí hiệu tại Việt Nam, đồng thời tăng cường xây dựng các chương trình truyền hình chuyên biệt dành cho người khiếm thính nói riêng và những người khuyết tật tại Việt Nam nói chung
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
6.1 Về mặt lý luận
Thông qua nghiên cứu, khảo cứu, luận văn cung cấp một số vấn đề lý luận cơ bản về ngôn ngữ, ngôn ngữ học, ký hiệu, ngôn ngữ ký hiệu, người khiếm thính, chương trình truyền hình
Luận văn khẳng định tính ưu việt cũng như hạn chế của việc sử dụng ngôn ngữ kí hiệu trên truyền hình tại Việt Nam và làm rõ hiệu quả hoạt động phối hợp tuyên truyền của các cơ quan báo chí tới một số lượng lớn đối tượng khán giả là người khiếm thính tại Việt Nam
Trang 176.2 Về mặt thực tiễn
Luận văn góp phần làm rõ nội dung nhận thức về vấn đề sử dụng ngôn ngữ kí hiệu dành cho người khiếm thính trên truyền hình tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Luận văn đánh giá khách quan thực trạng, khẳng định những đóng góp
và đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu của việc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu trên truyền hình tại Việt Nam hiện nay
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho công tác giảng dạy, các cơ quan báo chí và những người quan tâm đến nội dung, số liệu của luận văn
7 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được bố cục thành 3 chương, gồm:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về ngôn ngữ, ngôn ngữ kí hiệu trên truyền hình
Chương 2: Tình hình sử dụng ngôn ngữ ký hiệu trong các chương trình truyền hình tại Việt Nam
Chương 3: Giải pháp, kiến nghị nâng cao chất lượng các chương trình truyền hình sử dụng ngôn ngữ kí hiệu tại Việt Nam
Trang 18Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ
NGÔN NGỮ, NGÔN NGỮ KÍ HIỆU TRÊN TRUYỀN HÌNH
1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1 Ngôn ngữ
Từ xa xưa, ngôn ngữ đã xuất hiện một cách đa dạng và sinh động Mỗi ngôn ngữ cụ thể lại có một nguồn gốc trực tiếp hoặc gián tiếp với những chiều hướng biến động, phát triển không hề giống nhau Cuộc sống của con người phụ thuộc rất nhiều vào việc sử dụng ngôn ngữ nhanh chóng và hiệu quả Thế
nhưng, ngôn ngữ là gì vẫn là một câu hỏi có nhiều câu trả lời khác nhau
Trước kia, các giả thuyết về nguồn gốc của ngôn ngữ đã được đưa ra với thuyết tượng thanh, thuyết về tiếng kêu động vật, thuyết về tiếng kêu trong phối hợp lao động, thuyết cảm than bộc lộ tâm lí tình cảm, thuyết quy ước xã hội…
Với sự ra đời của triết học duy vật biện chứng, vấn đề nguồn gốc của ngôn ngữ được xem xét và phân tích một cách toàn diện hơn, khoa học hơn và hợp lý hơn Con người là chủ thể sáng tạo và sử dụng ngôn ngữ, vì vậy việc tìm hiểu về sự ra đời của ngôn ngữ đã được gắn liền với nghiên cứu nguồn gốc của con người, cả trong quá trình phát sinh giống nòi lẫn quá trình phát sinh và phát triển của mỗi cá thể Và các kết quả nghiên cứu về triết học, sinh vật học, khảo cổ học, sinh lý học thần kinh và cả ngôn ngữ học đã kết luận rằng: Lao động đã làm phát sinh, phát triển loài người và làm phát sinh ngôn ngữ trong quá trình đó
Cũng cần phải phân biệt rõ ngôn ngữ với tư cách là phương tiện giao tiếp và phát triển tư duy của con người với những hiện tượng khác cũng được gọi là ngôn ngữ Chẳng hạn như người ta thường nói tới “ngôn ngữ hội họa”,
“ngôn ngữ điện ảnh”, “ngôn ngữ âm nhạc”, “ngôn ngữ toán học”… Trong
Trang 19những trường hợp này, ngôn ngữ được hiểu là một phương tiện diễn tả truyền đạt nào đó Đối với âm nhạc, ngôn ngữ là âm thanh với những giai điệu, tiết tấu khác nhau Đối với hội họa, ngôn ngữ là màu sắc và đường nét với những sắc độ và quan hệ khác nhau Đối với toán học, ngôn ngữ lại được hiểu là hệ thống những kí hiệu biểu đạt những những quan hệ trừu tượng
Có thể nói, ngôn ngữ có thể được tiếp cận từ nhiều phía xuất phát từ nhiều quan điểm, khuynh hướng khác nhau, khai thác theo những mức độ rộng, hẹp, nông, sâu khác nhau Ngay cả những cách giải thích gần gũi và trực quan nhất, như xem ngôn ngữ là những bảng từ trong từ điển, là những chuỗi
âm thanh, là các sách ngữ pháp hoặc những chữ cái thì cũng chỉ vạch ra những biểu hiện, những khía cạnh khác nhau của ngôn ngữ
Hiện nay, chưa có một ngôn ngữ chung cho tất cả mọi người trên trái đất, mà chỉ có những ngôn ngữ riêng, cụ thể của mỗi dân tộc, mỗi cộng đồng người
Theo bản điều tra báo cáo mới nhất của UNESCO Liên Hiệp Quốc trong năm 2014, thì trên thế giới có 2.700 thứ tiếng Còn theo thống kê của nhà ngôn ngữ học Michael Krauss thuộc Đại học Alaska Fairbanks (Hoa Kỳ) thì từ xa xưa nhân loại có đến 15.000 ngôn ngữ khác nhau nhưng theo thời gian, dần dần chỉ còn tồn tại khoảng 6.000 ngôn ngữ, và cho đến ngày nay thì thế giới chỉ còn từ 2.000 – 3.000 ngôn ngữ khác nhau Nhưng trong các thứ tiếng phong phú này, thì có trên 1.400 thứ tiếng hoặc không được công nhận
là thứ tiếng độc lập, hoặc sắp bị tiêu vong Có khoảng 20 thứ tiếng hầu như ngày nay không còn ai biết nói nữa 3/4 các thứ tiếng trên thế giới còn chưa
có chữ viết Chỉ có khoảng 500 thứ tiếng đã được người ta nghiên cứu tương đối đầy đủ
Nói về khái niệm của ngôn ngữ, qua tài liệu của các nhà nghiên cứu,
trước hết, phải nhận thấy ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội đặc biệt
Trang 20Bản chất xã hội của ngôn ngữ thể hiện ở chỗ:
Thứ nhất, ngôn ngữ phục vụ xã hội với tư cách là phương tiện giao tiếp giữa mọi người, phương tiện trao đổi ý kiến trong xã hội, phương tiện
giúp cho người ta hiểu biết lẫn nhau, cùng nhau tổ chức công tác chung trên mọi lĩnh vực hoạt động của con người Ngôn ngữ thể hiện ý thức xã hội, có khả năng hình thành và sử dụng văn hóa Sự phát triển của ngôn ngữ gắn liền với sự tồn tại và sự phát triển chung của xã hội
Thứ hai, ngôn ngữ được hiểu là một hệ thống tín hiệu âm thanh
Theo cách hiểu thông thường, người ta có thể sử dụng từ ngôn ngữ để chỉ một hệ thống kí hiệu bất kì dùng để diễn đạt, thông báo một nội dung nào
đó Thí dụ: Ngôn ngữ điện ảnh là toàn bộ những phương tiện nghệ thuật được các nhà làm phim sử dụng để phản ánh hiện thực; ngôn ngữ hội họa là toàn bộ những đường nét, màu sắc, hình khối mà họa sĩ sử dụng để phản ánh thế giới; ngôn ngữ của loài ong là toàn bộ những "vũ điệu" mà loài ong sử dụng để báo cho nhau về nơi chốn có hoa và lượng hoa
Ðôi khi người ta còn dùng từ ngôn ngữ để chỉ đặc điểm khái quát trong việc sử dụng ngôn ngữ của một tác giả, một tầng lớp hay một lứa tuổi hoặc một phong cách ngôn ngữ cụ thể Thí dụ: Ngôn ngữ Nguyễn Du, ngôn ngữ trẻ
em, ngôn ngữ báo chí Tuy nhiên, theo cách hiểu phổ biến và chủ yếu nhất: Ngôn ngữ là hệ thống kí hiệu bao gồm hệ thống những âm, những từ và những quy tắc kết hợp các từ mà những người trong cùng một cộng đồng sử dụng làm phương tiện để giao tiếp với nhau
Riêng với Ferdinand de Saussure (1857-1913) thì ngôn ngữ được hiểu
như một thuật ngữ ngôn ngữ học Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương xuất
bản năm 1916 của Saussure đã quan niệm hoạt động ngôn ngữ gồm hai mặt:
mặt ngôn ngữ và mặt lời nói Theo ông, ngôn ngữ là một hợp thể gồm những quy ước tất yếu được tập thể xã hội chấp nhận Ðó là một kho tàng được
Trang 21thực tiễn nói năng của những người thuộc cùng một cộng đồng ngôn ngữ lưu lại, một hệ thống tín hiệu, một hệ thống ngữ pháp tồn tại dưới dạng tiềm năng trong mỗi bộ óc, hay, nói cho đúng hơn trong các bộ óc của một tập thể
(Ferdinand de Saussure, 1916)
Nói một cách tổng quan, theo cách hiểu thông thường, phổ biến nhất, ta
có thể sử dụng khái niệm ngôn ngữ để chỉ một hệ thống tín hiệu giao tiếp bằng
âm thanh mà một cộng đồng dân tộc nào đó sử dụng Theo cách hiểu duy danh
và khoa học, người ta có thể tách ngôn ngữ thành hai mặt gắn bó khăng khít:
Mặt ngôn hay mặt lời nói là sản phẩm của cá nhân, và mặt ngữ hay mặt ngôn
ngữ là sản phẩm của tập thể, là phần trừu tượng tồn tại ở dạng tiềm năng trong
óc của một cộng đồng dân tộc Nó là một hệ thống kí hiệu đặc biệt, có bản chất
xã hội đặc biệt, là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người và là công cụ của tư duy Và dựa vào các đặc trưng quan trọng của ngôn ngữ loài người, có thể chấp nhận một định nghĩa về ngôn ngữ như sau:
“Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu âm thanh đặc biệt, là phương tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của các thành viên trong một cộng đồng người; ngôn ngữ đồng thời cũng là phương tiện phát triển tư duy, truyền đạt truyền thống văn hóa, lịch sử từ thế hệ này sang thế hệ khác” (Nguyễn Thiện
Giáp – Giáo trình ngôn ngữ học,Nxb ĐHQG, trang 28)
Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt và quan trọng bậc nhất của loài người, phương tiện tư duy và công cụ giao tiếp xã hội Ngôn ngữ bao gồm ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Trong thời đại hiện nay, nó là công cụ quan trọng nhất của sự trao đổi văn hoá giữa các dân tộc Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của xã hội và là công cụ tư duy của con người Ngôn ngữ học có khía cạnh tâm lý học, ngôn ngữ có vai trò nhiều nhân tố: xã hội, tâm lý, dân tộc Ngôn ngữ học tâm lý nghiên cứu những mối quan hệ qua lại giữa nhân cách với cấu trúc chức năng của ngôn ngữ Về một khía
Trang 22cạnh khác, giữa nhân cách với ngôn ngữ như yếu tố cấu thành hình thành thế giới của con người Qua nghiên cứu ngôn ngữ tâm lý học sẽ thấy được đặc
điểm tâm lý của một cộng đồng bản ngữ, và qua đó sẽ thấy được “trong ngữ nghĩa của mỗi ngôn ngữ tự nhiên đều hàm chứa một cách nhìn thế giới của mỗi cộng đồng bản ngữ đó đối với sự vật hiện tượng xung quanh họ”
Nghiên cứu về “Sự hình thành và phát triển của ngôn ngữ học”, trong cuốn “Dẫn luận ngôn ngữ học” của NXB Giáo dục năm 1998, Giáo sư, Tiến
sĩ Nguyễn Thiện Giáp cho rằng “Ngôn ngữ là người bạn đồng hành không thể thiếu của con người Vì vậy, con người luôn luôn quan tâm đến ngôn ngữ
và xây dựng cả một khoa học về nó Đó là ngôn ngữ học” (Giáo sư, Tiến sĩ
Nguyễn Thiện Giáp, NXB Giáo dục năm 1998)
Theo nghiên cứu của GS.TS Nguyễn Thiện Giáp, khuynh hướng mạnh nhất trong ngôn ngữ học đầu thế kỉ XX là chủ nghĩa cấu trúc Nó xuất phát trực tiếp từ học thuyết của F de Saussure được trình bày trong "Giáo trình ngôn ngữ học đại cương" của ông Nhiệm vụ hàng đầu của ngôn ngữ học là nghiên cứu "các mối quan hệ" giữa các yếu yố ngôn ngữ Ngôn ngữ học cấu trúc phân biệt rạch ròi "ngôn ngữ" và "lời nói", "đồng đại" và "lịch đại" Nhiều phương pháp nghiên cứu mới và độc đáo đã được áp dụng như: phép
Trang 23đối lập, phép phân bố, phép chuyển hoá, phép phân tích thành tố trực tiếp, phép thay thế v.v Thậm chí, ngôn ngữ học cấu trúc vận dụng cả các phương pháp của các các khoa học chính xác khác
Hiện nay, ngôn ngữ học lại xuất hiện các khuynh hướng mới, đó là: nhân chủng - ngôn ngữ học, tâm lí - ngôn ngữ học và ngôn ngữ học khu vực Nếu
“Nhân chủng - ngôn ngữ học” coi ngôn ngữ là một bộ phận quan trọng trong sinh hoạt văn hoá và tinh thần của dân tộc, các tác động rõ rệt đến thế giới quan
và tư cách con người Nó đặt vấn đề nghiên cứu mối quan hệ và ảnh hưởng lẫn nhau giữa ngôn ngữ và tâm lí, ngôn ngữ và văn hoá, ngôn ngữ và lịch sử dân tộc Thì “Tâm lí - ngôn ngữ học” là khoa học về các quy luật tâm lí và ngôn ngữ của việc tạo thành lời nói từ những yếu tố ngôn ngữ và của việc hiểu kết cấu ngôn ngữ của lời nói, tức là hiểu các yếu tố tạo thành lời nói Có thể xem nó là khoa học nằm ở ranh giới của ngôn ngữ học, tâm lí học và lí thuyết thông tin
Trong khi đó, “ngôn ngữ học khu vực” gắn liền với tên tuổi của Gilenron, M Bactôlơ và G Bôngphăngtê Nó chú ý tới vai trò của các điều kiện không gian, địa lí trong lịch sử các ngôn ngữ và trong việc nghiên cứu ngôn ngữ Nó nghiên cứu sự phân bố các sự kiện ngôn ngữ giống nhau, các vạch đường đồng ngữ tuyến Các nhà bác học theo khuynh hướng này đặc biệt chú ý đến các quá trình ảnh hưởng qua lại phức tạp của các ngôn ngữ được sử dụng đồng thời tại một địa phương
Ý kiến về thời gian ra đời của ngôn ngữ học với tư cách là một khoa học tự lập, có đối tượng riêng, phương pháp riêng, cho đến nay vẫn chưa thống nhất
Có người cho rằng ngôn ngữ học ra đời từ thế kỉ 19 cùng với sự xuất hiện của khuynh hướng so sánh - lịch sử Người khác lại cho rằng ngôn ngữ học chỉ thực sự được hình thành từ cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, cùng với sự xuất hiện của Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của Ferdinand de Saussure
Trang 24Nếu chọn Giáo trình ngôn ngữ học đại cương của Saussure làm mốc hình thành của khoa học ngôn ngữ, ta có thể phân quá trình phát triển của ngôn ngữ học ra làm hai giai đoạn:
- Giai đoạn 1: Trước thế kỉ 20 - Thời kì chuẩn bị cho sự ra đời của ngôn ngữ học
- Giai đoạn 2: Từ thế kỉ 20 trở đi - Thời kì ra đời và phát triển của ngôn ngữ học
Theo nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học thì ngôn ngữ học đại cương được giới thiệu vào Việt Nam từ khoảng đầu những năm 70 của thế kỉ XX, bắt đầu với Giáo trình Ngôn ngữ học đại cương của F.de Saussure (bản dịch, in lần đầu năm 1973) và sau đó là các công trình của Ju Stepanov (Những cơ sở Ngôn ngữ học đại cương, 1984), V.Rozdextvenski (Những bài giảng Ngôn ngữ học đại cương, 1997), J Lyons (Nhập môn Ngôn ngữ học lí thuyết, 1997), V.B Kasevich (Những yếu tố cơ sở của Ngôn ngữ học đại cương, 1998), v.v
Bên cạnh các giáo trình của các nhà ngôn ngữ học quốc tế thì một số bài giảng, giáo trình Ngôn ngữ học đại cương do các nhà ngôn ngữ học Việt Nam
biên soạn cũng đã được xuất bản, trong đó đáng chú ý là bộ giáo trình Đại cương ngôn ngữ học (tập 1, tập 2) của Đỗ Hữu Châu và Bùi Minh Toán (1991)
và “Các bài giảng về Ngôn ngữ học đại cương” của Nguyễn Lai (2002)
Vậy ký hiệu là gì? Theo Ch.W Morris (1901 – 1979) thì : „„Semiosis
(một thuật ngữ của ký hiệu học) là quá trình kiến tạo ký hiệu gồm bốn yếu tố hợp thành Đó là: Đối tượng – Người diễn giải – Sự diễn giải – Phương tiện
ký hiệu‟‟ (Ch.S Peirce.- Cơ sở logic của lý luận ký hiệu SPb., 2000)
Trang 25Ông cho rằng: „„Semiosis là mọi quá trình mà ở đó có một cái gì hoạt
động như một ký hiệu, là mọi quá trình kiến tạo ý nghĩa ký hiệu Nó là con đường phát triển đơn tuyến nào đó của đối tượng mà ở đây tên gọi của đối tượng làm nảy sinh các phạm trù ngữ nghĩa‟‟
Nhưng trước Ch W Moris thì Charles.S.Peirce (1839 – 1914) đã sử
dụng khái niệm Semiosis để xác định tương quan ba mặt như là đặc điểm bản
chất của một quan hệ ký hiệu sơ đẳng: „„Đối tượng – Ký hiệu – Sự diễn giải‟‟ Theo Peirce, chừng nào chưa được giải thích như một ký hiệu, thì ký hiệu chưa hoạt động như một ký hiệu Phải được diễn giải thì ký hiệu mới trở thành ký hiệu Sự diễn giải chính là một ký hiệu mới xuất hiện trong ý thức của người sử dụng ký hiệu, nó là sự phiên dịch, thuyết minh, giới thuyết mối quan hệ ký hiệu - đối tượng trong ký hiệu nối tiếp theo sau Ví như một phản ứng cụ thể của con người trước một ký hiệu được tiếp nhận, hoặc sự giải thích
ý nghĩa của từ này nhờ sự hỗ trợ của các từ khác Đó là cái được „„sinh ra bởi
ký hiệu trong ý thức người diễn giải‟‟
Diễn giải là ý nghĩa đầu tiên, xuất hiện khi ta tiếp nhận một ký hiệu khả hữu, tiềm tại Với ý nghĩa như thế, diễn giải là một hình thức thể hiện khác nối kết ký hiệu với một ký hiệu khác chứ không phải nối kết ký hiệu với đối tượng Vì mỗi ký hiệu có thể sinh ra một diễn giải, cho nên sự diễn giải là quá trình không có hồi kết
Peirce lý luận : Nếu cho rằng có một sự diễn giải sau chót, hết sức phức tạp có thể vắt kiệt nghĩa của một đối tượng cụ thể, thì sự diễn giải ấy chỉ có thể là chính đối tượng hiện lên trong ý thức của chúng ta chứ không thể là một cái gì khác Nhưng một đối tượng như thế, cũng hệt như một ký hiệu như thế - giống như những thứ đồng nhất với nhau về phương diện vật lý – không thể có, không
thể tồn tại Cho nên sự diễn giải là bất tận Semiosis là quá trình giải thích ký
hiệu đầy năng động, là phương thức hoạt động khả hữu duy nhất của nó
Trang 26Có thể nói, quan niệm của Peirce về Semiosis thể hiện bản chất của mối
quan hệ giữa ký hiệu và thế giới bên ngoài, đúng là vẫn tồn tại một đối tượng diễn giải, nhưng đối tượng ấy xa vời, không thể tri nhận bằng cảm giác, bởi dường như lúc nào nó cũng „„trốn‟‟ đằng sau lớp ký hiệu trung gian đầy biến đổi Cho nên, chỉ có thể nhận thức đối tượng qua việc nghiên cứu các ký hiệu
đã sinh ra nó
Theo thời gian, sự ra đời của các loại hình nghệ thuật, báo chí nói chung đều gắn liền với ký hiệu Đó có thể là ký hiệu trìu tượng, ký hiệu liên tưởng, ký hiệu bao hàm hoặc ký hiệu có địa chỉ… để truyền tải các thông tin Theo tác giả Trần Bảo Khánh trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình” (NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, 2003) thì: “Đối với các loại hình báo chí, khi gắn liền với một loại ký hiệu thông tin đều có biểu hiện riêng biệt Ở báo
in là những con chữ, ở phát thanh là những âm thanh (bao gồm cả tiếng động
và âm nhạc) Còn ở truyền hình, với khả năng chuyển tải thông tin dưới dạng hình ảnh chuyển động có lồng âm thanh Đây là ký hiệu thông tin trực tiếp và
có địa chỉ Nó mang tính trực quan sinh động, đơn nhất, không thể nhầm lẫn
Trong cuộc sống muôn màu, muôn vẻ, người ta có thể nhận thấy các dấu hiệu như: Thấy mây đen vần vũ kéo về, người ta biết trời sắp mưa; thấy khói ở nơi nào đó, người ta biết nơi đó đang có lửa; thấy nét mặt bạn xanh xao, người ta biết bạn đang yếu hoăc mệt… Ta có thể nói: Mây là dấu hiệu của mưa; khói là dấu hiệu của lửa; nét mặt xanh xao là dấu hiệu của yếu mệt… Như vậy, dấu hiệu
là một mảnh của hiện thực đang tồn tại mà con người có thể tri giác được Nó tồn tại khách quan và ngoài chủ đích của con người
Nhưng ký hiệu (hay tín hiệu) thì lại khác Từ các công trình nghiên cứu
trên, có thể khái quát về khái niệm ký hiệu (tín hiệu) như sau: Con người có thể nhận biết được một hiện tượng, một thông tin không cần qua một dấu hiệu nào của nó mà nhờ sự thông báo của người khác, người ta gọi cái mà con người cố ý đặt ra để thông tin là ký hiệu (hay tín hiệu)
Trang 27Ký hiệu có các đặc điểm sau:
+ Ký hiệu phải có mặt vật chất, người ta có thể nghe được, nhìn thấy được, sờ mó được… có như vậy tín hiệu mới có thể trở thành phương tiện giao tiếp giữa người này với người khác
+ Ký hiệu phải gợi ra hoặc biểu thị cho một cái gì khác với chính nó Hay nói khác đi phải có một ý nghĩa nào đó Ví dụ: Tiếng chuông hoặc tiếng trống trường biểu thị hiệu lệnh ra, vào, tạm nghỉ hoặc kết thúc giờ học; đèn xanh biểu thị hiệu lệnh tiếp tục chạy, đèn đỏ biểu thị hiệu lệnh dừng lại
+ Ký hiệu phải được các chủ thể tiếp nhận và lý giải được Muốn thế, mối quan hệ giữa vỏ vật chất của ký hiệu (hay cái biểu hiện) và nội dung của
ký hiệu (cái được biểu hiện) phải dựa trên sự quy ước có ý thức của con người hoặc xã hội
+ Ký hiệu bao giờ cũng phải nằm trong một hệ thống nhất định và có những điểm khác biệt với các yếu tố khác cùng hệ thống Nó sẽ không còn là
ký hiệu khi tách rời khỏi hệ thống
Chẳng hạn: Người khiếm thính có thể giao tiếp và tiếp nhận thông tin qua hệ thống ký hiệu chuyên biệt như cử chỉ, điệu bộ, nét mặt…thay cho lời nói Người khiếm thính có ký hiệu tay rất độc đáo để diễn đạt điều họ muốn thông tin như: Nếu là số 1,2,3,4,5 thì giơ 1 hoặc 2,3,4,5 ngón tay Nếu là số 6 thì chụm ngón út và ngón cái lại và chỉ giơ 3 ngón tay còn lại Nếu là số 7 thì chụm ngón cái và ngón áp út lại rồi giơ 3 ngón tay còn lại Nếu là số 10 thì chỉ giơ một ngón cái và nắm các ngón tay khác lại Đặc biệt, người khiếm thính có ngôn ngữ ký hiệu riêng (còn gọi là thủ ngữ) bao gồm ngôn ngữ ước, hiệu Đó là bảng chữ cái và chữ số để có thể giao tiếp Điều thú vị là bảng chữ cái, chữ số riêng đó hoàn toàn là bằng ký hiệu tay
1.1.4 Ngôn ngữ ký hiệu
Ngôn ngữ là một công cụ giao tiếp hữu dụng nhất của con người Có ngôn ngữ, con người có thể nghe, nói, đọc, viết để giao tiếp, chia sẻ cảm xúc,
Trang 28khám phá thế giới Người khiếm thính do khả năng nghe bị suy giảm, khả năng phát âm hạn chế nên gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề giao tiếp Để đáp ứng nhu cầu này, cộng đồng những người khiếm thính đã sử dụng riêng
một thứ ngôn ngữ của mình: Ngôn ngữ ký hiệu
Từ những năm 2000, Việt Nam bắt đầu triển khai những nỗ lực của mình nhằm hoàn thiện và hệ thống hóa ngôn ngữ ký hiệu Việt Nam Các câu lạc bộ, nhóm học tập bắt đầu hình thành và phát triển Một số tài liệu khá công phu xuất hiện như: Bộ 3 tập Ký hiệu cho người điếc Việt Nam, Từ điển ngôn ngữ ký hiệu Việt Nam…
Theo các nghiên cứu về ngôn ngữ kí hiệu ở Việt Nam, có thể thấy ngôn
ngữ ký hiệu được hiểu một cách tổng quan như sau: Ngôn ngữ ký hiệu hay ngôn ngữ dấu hiệu, thủ ngữ là ngôn ngữ chủ yếu được cộng đồng người câm điếc sử dụng nhằm chuyển tải thông tin qua cử chỉ, điệu bộ của cơ thể và nét mặt thay cho lời nói
Cũng như ngôn ngữ nói, ngôn ngữ ký hiệu của từng quốc gia, thậm chí
là từng khu vực trong một quốc gia rất khác nhau Điều đó là do mỗi quốc gia, khu vực có lịch sử, văn hóa, tập quán khác nhau nên ký hiệu để biểu thị sự vật hiện tượng cũng khác nhau Chẳng hạn, cùng chỉ tính từ màu hồng thì ở Hà Nội, người ta xoa vào má (má hồng), còn tại Thành phố Hồ Chí Minh lại chỉ vào môi (môi hồng) Điều tương tự cũng diễn ra khi có sự khác biệt lớn hơn trên tầm quốc gia, dẫn tới sự khác biệt của hệ thống từ vựng và ngữ pháp ngôn ngữ ký hiệu giữa các nước Tuy nhiên, ký hiệu tất cả mọi nơi trên thế giới đều có những điểm tương đồng nhất định
Ví dụ: Ký hiệu „uống nước‟ thì nước nào cũng làm như nhau là giả bộ cầm cốc uống nước, ký hiệu „lái ô tô‟ thì giả bộ cầm vô lăng ô tô quay quay, v.v
Mỗi người (dù bình thường hay câm điếc) đều có sẵn 30% kiến thức ngôn ngữ ký hiệu Do ngôn ngữ ký hiệu phát triển hơn trong cộng đồng người khiếm
Trang 29thính, nên những người thuộc cộng đồng này của hai nước khác nhau có thể giao tiếp với nhau tốt hơn hai người bình thường mà không biết ngoại ngữ
Việc học ngôn ngữ ký hiệu ở các quốc gia phát triển như Anh, Pháp, Nhật Bản rất thuận lợi do tài liệu học rất phổ biến trên mạng Tại Việt Nam hiện nay,
có khoảng hơn 3.000.000 người khiếm thính và ngôn ngữ giao tiếp chính của họ
là ngôn ngữ ký hiệu Việc học ngôn ngữ ký hiệu tại Việt Nam cũng thuận lợi hơn do một số nhóm, câu lạc bộ đã hình thành và tiến hành giảng dạy
Hiện tại miền Bắc có 9 câu lạc bộ điếc, gồm: Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Nguyên, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa và Vĩnh Phúc cùng các nhóm người điếc tại các tỉnh khác như Nam Định, Bắc Ninh, Bắc Giang, Nghệ An
Miền Trung có: Khánh Hòa, Lâm Đồng, Huế, Quảng Nam, Đà Nẵng Miền Nam có các Câu lạc bộ điếc tại: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp, Cần Thơ, Bình Thuận
Theo TS Cao Thị Xuân Mỹ, Khoa Giáo dục đặc biệt, Trường Đại học
Sư phạm TP Hồ Chí Minh thì "Chúng ta đang "thả nổi" ngôn ngữ kí hiệu, không định hướng, không hỗ trợ người khiếm thính trong việc hình thành ngữ pháp để có được những quy luật cơ bản, giúp các ký hiệu giao tiếp đó trở thành một hệ thống ngôn ngữ kí hiệu thật sự Cho đến hiện tại, việc dạy ngôn ngữ kí hiệu chỉ dừng ở việc cung cấp các ký hiệu"
Cũng theo TS Cao Thị Xuân Mỹ, có rất nhiều phương ngữ ký hiệu khác nhau tại Việt Nam, được chia theo từng khu vực, trong đó có ba phương ngữ ký hiệu được sử dụng chính là Hà Nội, Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh
Trên thực tế, ngôn ngữ ký hiệu chính là cuộc sống vì nó bắt nguồn từ cuộc sống Dù có hay không nhận thức ra, nhưng chúng ta vẫn đã và đang sử dụng ngôn ngữ ký hiệu rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày Khoa học đã chứng minh chúng ta truyền tải ngôn ngữ 70% thông qua các biện pháp không
Trang 30lời, tức là cử chỉ, điệu bộ, nét mặt… Một biện pháp đơn giản để nhận ra tầm quan trọng của ngôn ngữ không lời là bạn hãy thử nói chuyện mà nhắm mắt
và hoàn toàn không cử động thân thể Chỉ 30 phút thôi, bạn sẽ ngạc nhiên nhận thấy hiệu quả câu chuyện rất thấp Chúng ta sẽ hoàn toàn mất phương hướng và khả năng phán đoán nếu không có các cử chỉ, điệu bộ, nét mắt của người đối thoại "hướng dẫn", cũng như nếu không dùng tay chân thì hiệu quả truyền đạt cũng giảm hẳn
1.1.5 Người khiếm thính
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 2 và Điều 3, Luật Người khuyết tật năm 2010 thì người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật, trong
đó có dạng tật nghe, nói (câm, điếc), khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn
Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau:
- Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày
- Người khuyết tật nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày
- Người khuyết tật nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định nêu trên
Theo quy định này thì người khiếm thính được xác định là người khuyết tật bị khiếm khuyết, giảm chức năng nghe Trong y khoa, khiếm thính
là tình trạng mất hoặc giảm thính lực ở nhiều mức độ, từ nhẹ đến điếc đặc ở một hoặc 2 tai Bình thường, trẻ em có thể nghe được âm thanh trong khoảng 0-25 decibel Khiếm thính là khi bé không nghe được ở ngưỡng này
Tại Việt Nam, theo số liệu chưa đầy đủ của Tổng cục Thống kê, Việt Nam có khoảng 6,7 triệu người khuyết tật, trong đó có những dạng khuyết tật
Trang 31như: khuyết tật vận động, nghe nói (thính giác), nhìn (thị giác), khuyết tật thần kinh, tâm thần, khuyết tật trí tuệ và một số khuyết tật khác Có nhiều nguyên nhân gây ra khuyết tật như: khuyết tật mắc phải khi phát triển (từ chu
kỳ sinh, bệnh, tổn thất, thương tích do bạo hành, tai nạn, chiến tranh hay thông qua lão hóa) hay khuyết tật bẩm sinh (do di truyền, nhiễm sắc thể, bất thường bẩm sinh…)
Lên tới con số hơn 1 triệu, lượng người khiếm thính tại Việt Nam chiếm tới 6,3% dân số Cũng trong số hơn 1 triệu người khiếm thính ở Việt Nam hiện nay, có khoảng 400 nghìn người khiếm thính trong độ tuổi học đường Hằng năm, có khoảng 20 nghìn trẻ khiếm thính đến độ tuổi đi học Mặc dù các phương tiện kỹ thuật ngày càng phát triển, hiện đại và phổ thông hóa giúp người khiếm thính có cơ hội học nói, giao tiếp bằng lời, song "ngôn ngữ ký hiệu" vẫn giữ vị trí vô cùng quan trọng và là thứ ngôn ngữ "mẹ đẻ" của người câm điếc
Xã hội ngày càng phát triển, nhu cầu về thông tin, học tập của người khiếm thính ngày càng cao Việc nghiên cứu, thống nhất và phổ biến ngôn ngữ ký hiệu cho người khiếm thính ở Việt Nam đang là nhu cầu khách quan, bức thiết, cần được quan tâm, đầu tư nghiêm túc về chương trình và chính sách hỗ trợ
Việc hỗ trợ người khiếm thính trong học tập và học nghề trong đời sống hiện nay sẽ mang lại cho đời sống của người khiếm thính trở nên sống động hơn Những vấn đề liên quan đến học tập và học nghề của người khiếm thính được thúc đẩy ở nhiều tỉnh thành ở Việt Nam với các lớp hướng nghiệp và dạy nghề cho người khuyết tật gắn liền quá trình phục hồi chức năng, dạy văn hóa tại các
cơ sở giáo dục, nuôi dưỡng, điều dưỡng xã hội cũng trở nên đa dạng hơn
Thời gian qua đã có nhiều Trung tâm bảo trợ - dạy nghề, các câu lạc bộ được thành lập hỗ trợ cho người khiếm thính Tuy nhiên, nhìn nhận việc mở rộng
cơ hội việc làm cho người khuyết tật vẫn còn nhiều khó khăn, với các nguyên
Trang 32nhân về trình độ học vấn, chưa có tay nghề hoặc có nhưng không phù hợp, khó khăn trong di chuyển, giao tiếp… là những vấn đề cần có biện pháp tháo gỡ
Theo bà Phan Thị Bích Diệp - Phó Chủ tịch Hội Người khuyết tật Hà Nội, qua khảo sát thực tế tại quận Thanh Xuân và Thanh Trì (Hà Nội), đa số người khiếm thính và người thân của họ có nhu cầu học và sử dụng ngôn ngữ
ký hiệu nhưng phương thức tiếp cận loại hình ngôn ngữ này còn nhiều hạn chế
Có thể thấy, việc phổ biến ngôn ngữ ký hiệu trong cộng đồng là hết sức cần thiết nhằm xóa bỏ rào cản về giao tiếp cho người khiếm thính và người thân đồng thời tăng khả năng hòa nhập cộng đồng cho đối tượng này Tại Việt Nam hiện nay, mặc dù đã có nhiều văn bản chính sách quan tâm đến quyền và
hỗ trợ giáo dục cho người khuyết tật nói chung và người khiếm thính nói riêng nhưng vẫn còn tồn tại một số hạn chế và bất cập
1.1.6 Chương trình truyền hình
Tác giả Dương Xuân Sơn trong giáo trình “Báo chí truyền hình” đã đưa
ra hai cách hiểu về chương trình truyền hình như sau:
Theo cách hiểu thứ nhất, chương trình truyền hình là một tác phẩm truyền hình hoàn chỉnh, là sự liên kết, sắp xếp bố trí hợp lý các tin bài, tư liệu, hình ảnh, âm thanh trong một thời gian nhất định, được mở đầu bằng lời giới thiệu, nhạc hiệu, kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả Thuật ngữ chương trình trong truyền hình được hiểu gồm các
chương trình như: Chương trình “Thời sự”, “Vì an ninh Tổ quốc”, chương trình “Kinh tế”, “Văn hóa”, “Quân đội”…
Cách hiểu thứ hai, chương trình truyền hình là một cách gọi chung cho một kênh truyền hình, bao gồm tất cả các tác phẩm chứa trong đó Chương trình
theo cách hiểu truyền thông như thế là một thế giới vô tận trong bản chất vốn có của nó, như cách gọi chương trình của kênh VTV, chương trình của đài HTV…
Trang 33Còn theo tác giả Trần Bảo Khánh trong cuốn “Sản xuất chương trình truyền hình”(NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội năm 2003) thì: “Chương trình truyền hình là sản phẩm truyền hình, là kết quả hoạt động của truyền hình, trong
đó bao hàm cả quá trình sáng tạo ra nó từ nhiều công đoạn khác nhau, tồn tại ở nhiều mức độ khác nhau Quá trình tạo dựng kế hoạch và sắp đặt tác phẩm, chuyên mục, mục được gọi là chương trình” [Sđd, Tr31] và cũng theo tác giả Trần Bảo Khánh: “Chương trình truyền hình là kết quả hoạt động, là sản phẩm của tập thể bao gồm các bộ phận kỹ thuật – tài chính – nội dung” [Sđd, Tr31]
Tác giả cũng khẳng định: “Mối liên hệ qua lại giữa màn ảnh nhỏ và công chúng là cơ sở để xây dựng các chương trình truyền hình” và “Mỗi chương trình truyền hình dù phục vụ cho đối tượng chuyên biệt hay đông đảo công chúng thì cũng phải trả lời được các câu hỏi:
- Cái gì? ( Nội dung)
- Như thế nào? (Thể loại, hình thức thể hiện)
- Cho ai? (Toàn thể công chúng hay đối tượng chuyên biệt)
- Khi nào? (Thời gian phù hợp hay bắt buộc)…” [Sđd, Tr 33-34]
Tác giả Trần Bảo Khánh cũng cho rằng: “Không có sự thống nhất hoàn toàn các chương trình phát sóng trong điều kiện nhiều kênh cùng phát sóng, cũng như không có và không bao giờ có sự nhất trí hoàn toàn và sở thích của con người, thậm chí trong cùng một gia đình Do vậy, các chương trình phải
có tác động lẫn nhau Nhưng lại phải trù tính đến điều kiện và sở thích của từng nhóm trong cơ cấu công chúng để tạo ra sự lựa chọn chung dẫn tới việc thỏa mãn nhu cầu thông tin của họ…” [Sđd, Tr 34]
Trong cách thức nghiên cứu đề tài của luận văn này, chương trình truyền hình ở đây được hiểu theo nghĩa thứ nhất như trong giáo trình “Báo chí
truyền hình” mà tác giả Dương Xuân Sơn đã đưa ra: Chương trình truyền hình là một sản phẩm hoàn thiện
Trang 34Đối với mỗi loại hình báo chí, mỗi tác phẩm báo chí khác nhau sẽ có các bước sáng tạo tác phẩm và cách thức sáng tạo khác nhau
Trong cuốn “Truyền thông đại chúng” của tác giả Tạ Ngọc Tấn đã chỉ
ra các quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí riêng biệt cho mỗi loại hình như báo in, phát thanh và truyền hình
Do đặc trưng của loại hình báo chí truyền hình sử dụng các thiết bị kỹ thuật ghi và phát hình ảnh, âm thanh sống động của cuộc sống thực, đặc biệt, báo chí truyền hình là một tác phẩm hoàn thiện, nên cách thức sáng tạo của một tác phẩm truyền hình nói chung và một tác phẩm truyền hình có sử dụng ngôn ngữ ký hiệu nói riêng là cách thức tổng quan nhất
1.2 Đặc điểm ngôn ngữ ký hiệu trên truyền hình:
Hai đặc điểm quan trọng nhất của ngôn ngữ ký hiệu là: Tính giản lược và có điểm nhấn Bên cạnh đó, ngôn ngữ kí hiệu cũng có một số đặc điểm về từ vựng, ngữ âm, ngữ pháp và ngôn ngữ viết
1.2.1 Tính giản lược và có điểm nhấn
Do tính giản lược và có điểm nhấn nên cấu trúc ngữ pháp ngôn ngữ ký hiệu nhiều khi không thống nhất, cùng một câu có thể sắp xếp nhiều cách khác nhau, thường thì điểm nhấn được đưa lên đầu câu để gây hiệu quả chú ý
Ví dụ: Bình thường người ta sẽ nói: “Hôm qua, tôi gặp lại người bạn thân ở công viên” Trong câu này, điểm nhấn là “gặp” và “bạn thân”, còn ngôn ngữ kí hiệu sẽ sắp xếp theo thứ tự: “Bạn thân gặp ở công viên hôm qua”
Trên thực tế, ngôn ngữ ký hiệu chính là cuộc sống vì nó bắt nguồn từ cuộc sống Dù có hay không nhận thức ra, nhưng chúng ta vẫn đã và đang sử dụng ngôn ngữ ký hiệu rất nhiều trong cuộc sống hàng ngày
Khoa học đã chứng minh chúng ta truyền tải ngôn ngữ 70% thông qua các biện pháp không lời, tức là cử chỉ, điệu bộ, nét mặt… Một biện pháp đơn giản để nhận ra tầm quan trọng của ngôn ngữ không lời là bạn hãy thử nói
Trang 35chuyện mà nhắm mắt và hoàn toàn không cử động thân thể Chỉ 30 phút thôi, bạn sẽ ngạc nhiên nhận thấy hiệu quả câu chuyện rất thấp Chúng ta sẽ hoàn toàn mất phương hướng và khả năng phán đoán nếu không có các cử chỉ, điệu
bộ, nét mắt của người đối thoại "hướng dẫn", cũng như nếu không dùng tay chân thì hiệu quả truyền đạt cũng giảm hẳn
Trong “Nghiên cứu cách biểu đạt ngôn ngữ của người điếc Việt Nam”, nhóm nghiên cứu: ThS Vương Hồng Tâm, ThS Ngô Thị Kim Thoa, CN Đỗ Long Giang, CN Nguyễn Thị Thu Hiền qua tìm hiểu nhiều công trình nghiên cứu cho thấy, người điếc có khả năng tư duy, nó được hình thành trong quá trình tìm hiểu thế giới xung quanh thông qua cảm giác và tri giác, đặc biệt là thị giác Thể hiện tư duy của con người là một chức năng cơ bản của ngôn ngữ Người điếc, không có tiếng nói thì họ có khả năng thể hiện suy nghĩ, ý tưởng… của mình bằng con đường nào và nguyên tắc nào? Đây là vấn đề mà
đề tài tập trung nghiên cứu và đưa ra những kết luận ban đầu về cách biểu đạt ngôn ngữ ký hiệu của người điếc Trên cơ sở đó hình thành qui luật ngữ pháp ngôn ngữ ký hiệu của người điếc Việt Nam ” (ThS Vương Hồng Tâm, ThS Ngô Thị Kim Thoa, CN Đỗ Long Giang, CN Nguyễn Thị Thu Hiền, Nghiên cứu mã số: V2007 – 19, tháng 5/2007 – tháng 5/2008)
Trang 36Ví dụ như một từ “mẹ” nhưng ở mỗi nước lại có một ký hiệu khác nhau
Tây Ban Nha
Tại Thái Lan
Hình 1.1 Cùng một từ nhưng mỗi quốc gia lại có một ký hiệu khác nhau
Tại Việt Nam, ngôn ngữ ký hiệu thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 58% từ vựng Cốt lõi cơ bản của nó giống với ngôn ngữ ký hiệu Hà Nội và 54% giống với ngôn ngữ ký hiệu Hải Phòng Những tỉ lệ này cho thấy ngôn ngữ ký hiệu thành phố Hồ Chí Minh, ngôn ngữ ký hiệu Hà Nội và ngôn ngữ
ký hiệu Hải Phòng không phải là những phương ngữ khác của cùng một ngôn ngữ Bởi vì những phương ngữ của cùng một ngôn ngữ thường được mong đợi là phải chia sẻ từ khoảng 80% trở lên tỉ lệ cùng nguồn gốc với nhau về từ vựng cốt lõi cơ bản Theo Chi hội Điếc Hà Nội, những tỉ lệ này xác định rằng
3 ngôn ngữ ký hiệu quan trọng ở Việt Nam có thể được sắp xếp gần như là những ngôn ngữ có mối quan hệ thuộc cùng một họ ngôn ngữ Những ngôn ngữ có liên quan trong cùng một họ ngôn ngữ có thể được mong đợi chia sẻ
từ 36% đến 79% từ vựng cơ bản (ngôn ngữ ký hiệu của Mỹ và Pháp, những ngôn ngữ được xem là có liên quan trong cùng một họ ngôn ngữ chia sẻ khoảng từ 61% từ vựng cơ bản Ngôn ngữ ký hiệu của Mỹ và Anh không có quan hệ gần nhau vì không chung một họ ngôn ngữ giống nhau, chúng chỉ có 31% cùng nguồn gốc trong từ vựng cơ bản)
Trang 37Hiện nay, ngôn ngữ ký hiệu của người điếc câm Việt Nam đang có khoảng 1.600 từ Việc thiếu từ ngữ khiến các câu trong ngôn ngữ ký hiệu thường là rất ngắn, rất hạn chế sử dụng các tính từ ghép khó hiểu
Ví dụ: Câu 5 chữ: “Mẹ đã đi chợ chưa?” khi chuyển thành ngôn ngữ ký hiệu thì chỉ cần chuyển thành 3 chữ “Mẹ” (nếu người đang được hỏi là Mẹ thì không cần chữ này), “chợ” và “chưa?” Nếu truyền đạt đủ 5 chữ đầy đủ như câu trên thì người điếc câm lại không hiểu” Trong vốn từ của người khiếm thính chủ yếu là động từ, các tính từ chỉ có một cấp độ ví dụ: Vui chứ không
có vui vẻ hay phấn khích không có các liên từ như: và, thì, là, mà,
Bên cạnh đó, cách cấu tạo từ ngữ trong ngôn ngữ ký hiệu chủ yếu là lắp ghép đơn thuần
Ví dụ:
Ký hiệu hoa hồng = hoa + hồng (xoa má như trong má hồng)
Ký hiệu hoa sữa= hoa + sữa (như ký hiệu uống sữa)
Hình 1.2 Hệ thống chữ cái bằng ngón tay
Trang 38Trong hệ thống ngôn ngữ cử chỉ ở Việt Nam hiện nay, chỉ có một số từ rất đơn giản về giới như "con trai", "con gái", còn hầu hết những từ dùng để chỉ các cơ quan sinh dục, từ nói về thay đổi sinh lý trong cơ thể, quá trình thụ thai đều không có
1.2.3 Về ngữ âm
Đọc khẩu hình là một quá trình tâm lý phức tạp của người điếc để tri giác tiếng nói theo sự vận động cấu âm thấy được của bộ máy phát âm và những động tác điệu bộ kèm theo ngôn ngữ của chúng ta Đây là phương thức duy nhất có thể có để người câm điếc tri giác tiếng nói, là hình thức đặc thù của ngôn ngữ ký hiệu Khó khăn của quá trình đọc hình miệng là ở chỗ không phải tất cả mọi âm vị của ngôn ngữ chúng ta đều dễ dàng nhìn thấy khi phát
âm Một số âm tương đối dễ nhìn thấy như: a,o, u, b, m; một số âm khác khó hơn hoặc hoàn toàn không nhận thấy được như: g, kh, t, đ, n…
Bằng thính giác chúng ta phân biệt được 42 âm vị trong ngôn ngữ của chúng ta Mỗi âm vị đều có những dấu hiệu đặc trưng: phương thức và vị trí hình thành âm hữu thanh hay vô thanh, âm cứng hay mềm Tai của chúng ta
có khả năng nhận biết và phân biệt tất cả những sắc thái âm thanh rất nhỏ.Về mặt này cơ quan thị giác kém hoàn hảo và ít thích ứng hơn Nhưng với người khiếm thính, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, bằng thị giác người điếc có thể phân biệt được khoảng 12 nhóm khác nhau theo âm lượng, theo mức độ nhìn biết các âm hay đôi khi như người ta gọi “những hình tượng miệng”
Những nhóm này phân bố trong bảng theo mức độ tăng dần sự khó khăn khi đọc Mỗi nhóm đều có hình tượng thị giác của cấu âm tiêu biểu, chỉ riêng đối với nó.Tuy nhiên một vài nhóm bao gồm những âm mà những hình tượng tạo âm của chúng gần nhau như: b, m, p, g, k…
Nét mặt cử chỉ điệu bộ là phương tiện hỗ trợ cho việc đọc hình miệng Những điệu bộ và những thể hiện ở nét mặt phù hợp với nội dung lời văn làm cho việc đọc được dễ dàng và ngược lại
Trang 391.2.4 Về ngữ pháp
Cũng như ngôn ngữ lời nói, ngôn ngữ kí hiệu là một ngôn ngữ thực sự,
có ngữ pháp và cấu trúc riêng Mọi người sử dụng ngôn ngữ kí hiệu để đặt câu hỏi hoàn chỉnh, mô tả sự vật xung quanh, thảo luận về các mối quan hệ, nêu các ý kiến và bày tỏ niềm tin Mọi người sử dụng ngôn ngữ kí hiệu để nói
về những tác động của các sự vật, để nói về quá khứ cũng như tương lai Sử dụng ngôn ngữ kí hiệu hoàn chỉnh, mọi người có thể trao đổi mọi điều cũng như những người nghe sử dụng ngôn ngữ nói Điểm khác biệt giữa ngôn ngữ
kí hiệu và ngôn ngữ lời nói ở các địa phương có thể là trật tự của các kí hiệu trong câu kí hiệu thường khác trật tự từ trong ngôn ngữ nói
Do tính giản lược và có điểm nhấn nên cấu trúc ngữ pháp ngôn ngữ ký hiệu nhiều khi không thống nhất Cùng một câu có thể sắp xếp nhiều cách khác nhau và thường thì điểm nhấn đuợc đưa lên đầu câu để gây hiệu quả chú ý
Ví dụ: Bình thường ta nói: “Hôm qua, tôi gặp lại người bạn thân ở công viên” Đối với người khiếm thính, trong câu này, điểm nhấn là từ “gặp” và từ
“Bạn thân” Người khiếm thính sẽ nói theo thứ tự: “Bạn thân gặp ở công viên hôm qua”
Hay với câu hỏi: “Bạn tên là gì?” chúng ta có thể thấy ngôn ngữ kí hiệu Việt Nam diễn đạt như sau:
Hình 1.3 Cách diễn đạt bằng ngôn ngữ ký hiệu
Trang 401.2.5 Về ngôn ngữ viết
Ngôn ngữ viết đối với người khiếm thính sẽ chỉ xuất hiện trong một số
cá nhân không phải là câm điếc bẩm sinh Điều đó có nghĩa là họ được đến trường và được học hành
Ở người bình thường, việc tiếp thu ngôn ngữ nói thuờng đi trước việc tiếp thu ngôn ngữ viết, còn ở người câm điếc quá trình này thường diễn ra song song, đôi khi những kỹ năng ngôn ngữ viết tiếp thu nhanh hơn ngôn ngữ nói Vì ngôn ngữ viết mặc dù khó nhưng chúng lại có một số ưu thế hơn so với ngôn ngữ nói, vì nó không đòi hỏi phải nghe mà tiếp nhận nhờ quan sát bằng mắt
1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng ngôn ngữ ký hiệu dành cho người khiếm thính trên truyền hình tại Việt Nam hiện nay
Có thể nói, thông tin có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống mỗi cá nhân cũng như sự phát triển của quốc gia
Trong Hiến pháp 2013, tại điều 25, chương II về quyền con người,
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định” Điều đó cho thấy, Đảng và
Nhà nước ta luôn xác định mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiền quyền tiếp cận thông tin, trong đó có thông tin từ các phương tiện truyền thông đại chúng
Thực tiễn hoạt động báo chí, truyền thông ở nước ta hiện nay rất phong phú, đa dạng Đi theo sự phát triển nhiều loại hình thông tin đại chúng, ngôn ngữ báo chí, truyền thông cũng tách dần ra theo từng ngành riêng, trong đó truyền hình được đánh giá là một trong những thể loại báo chí có ưu thế nổi trội bởi nó sử dụng tất cả các dạng thức ngôn ngữ mà báo
in, báo nói (phát thanh), mạng Internet và các phương thức tuyên truyền