Tuy nhiên, trên báo mạng điện tử, với những bức ảnh, thông tin sự kiện thời sự, yêu cầu sự nhanh chóng và cập nhật nhanh nhất của thông tin, TBDĐ trở nên tối ưu và tiện lợi hơn trong khâ
Trang 1
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LÊ QUANG MINH
SÁNG TẠO TÁC PHẨM BÁO CHÍ CHO BÁO MẠNG
ĐIỆN TỬ BẰNG THIẾT BỊ DI ĐỘNG
(Nghiên cứu trường hợp VnExpress, VietnamPlus
và Tiền phong Online)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Hà Nội – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC
GIA HỒ CHÍ MINH
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LÊ QUANG MINH
SÁNG TẠO TÁC PHẨM BÁO CHÍ CHO BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ
BẰNG THIẾT BỊ DI ĐỘNG
(Nghiên cứu trường hợp VnExpress, VietnamPlus
và Tiền phong Online)
Chuyên ngành: Báo chí
Mã số: 60.32.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ THỊ NHÃ
Hà Nội – 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
Trang 3Luận văn đã được chỉnh sửa theo Khuyến nghị của Hội đồng chấm Luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày tháng 11 năm 2017
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS, TS HÀ HUY PHƢỢNG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, với sự hướng
dẫn tận tình, trách nhiệm của TS Lê Thị Nhã Các số liệu để triển khai luận
văn này được thực hiện với tinh thần trung thực, là kết quả của quá trình lao động nghiêm túc, tích cực, quyết tâm của bản thân Nội dung và số liệu trong luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Hà Nội, ngày 03 tháng 11 năm 2017
Tác giả luận văn
Lê Quang Minh
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin trân trọng cảm ơn TS Lê Thị Nhã, người đã tận tình hướng
dẫn tôi nghiên cứu và thực hiện đề tài “Sáng tạo tác phẩm báo chí cho báo
mạng điện tử bằng thiết bị di động”
Trân trọng cảm ơn Quý Thầy cô giáo khoa Báo chí, Học viện Báo chí
và Tuyên truyền đã mang đến những kiến thức, khai mở, chỉ dẫn cho tôi vững vàng hơn trên con đường khoa học
Trân trọng cám ơn Quý nhà báo, phóng viên đã nhiệt tình cung cấp tư liệu, tham gia trả lời phỏng vấn, đóng góp ý kiến và chia sẻ những kinh nghiệm làm nghề quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này
Trân trọng cám ơn Ban giám hiệu, Ban chủ nhiệm Khoa Báo chí – Truyền thông trường Đại học Khoa học, Đại học Huế đã động viên, hỗ trợ về tinh thần và vật chất, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tác giả luận văn
Lê Quang Minh
Trang 7
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Số lượng PV được khảo sát
Bảng 2.2: Phân loại đối tượng phỏng vấn xét trên thời gian công tác
48
49
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Tỷ lệ người dùng Android và iOS tính đến quý III năm 2016 30
Hình 2.1 Giao diện báo VNE 43
Hình 2.2 Giao diện báo VNP 45
Hình 2.3 Giao diện TPO 47
Hình 2.4 PV Nguyễn Cảnh Huệ cùng đồng nghiệp tác nghiệp tại hành lang UBND phường Trung Đô, TP Vinh, Nghệ An 54
Hình 2.5 PV Nguyễn Dũng (trái) tác nghiệp bằng TBDĐ ngay tại trước cổng điểm thi kỳ thi Tốt nghiệp THPT Quốc gia năm 2017 56
Hình 2.6 Bài báo đăng trên TPO trích dẫn nguồn tin từ mạng xã hội 57
Hình 2.7 Clip được quay bằng TBDĐ của PV Hoàng Táo (VNE tại Quảng Trị) phản ánh tình trạng phá rừng 61
Hình 2.8 Clip “Hàng trăm quái xế đại náo trên quốc lộ” được PV Ngô Phước Tuấn quay bằng TBDĐ 70
Hình 2.9 Giao diện ứng dụng ghi âm cuộc gọi trên TBDĐ 73
Hình 2.10 PV sử dụng TBDĐ để chụp lại văn bản, tài liệu 79
Hình 3.1 Giao diện ứng dụng Imovie 97
Hình 3.2 Giao diện ứng dụng VivaVideo 98
Hình 3.3 PV Lê Ngọc Anh (báo Bóng Đá) thực hiện tường thuật trực tiếp bằng các thiết bị hỗ trợ 99
Biểu đồ 2.1 Mức độ sử dụng TBDĐ trong từng công đoạn nghề nghiệp 52
Biểu đồ 2.2 Mức độ sử dụng TBDĐ trong tác nghiệp báo chí 58
Biểu đồ 2.3 Mục đích sử dụng TBDĐ trong thu thập thông tin đối với từng thể loại báo chí 60
Biểu đồ 2.4 Tần suất sử dụng TBDĐ trong thao tác chụp ảnh của PV báo mạng điện tử 64
Trang 9Biểu đồ 2.5 Tần suất sử dụng TBDĐ trong thao tác quay clip của PV 68
Biểu đồ 2.6 Tần suất sử dụng TBDĐ trong xử lý thông tin, tư liệu 75
Biểu đồ 2.7.Đánh giá thế mạnh của hoạt động tác nghiệp bằng TBDĐ 80
Biểu đồ 2.8 Đánh giá hạn chế của hoạt động tác nghiệp bằng TBDĐ 85
Biểu đồ 3.1 Mức độ cần thiết đối với các phương pháp góp phần hỗ trợ PV nâng cao khả năng tác nghiệp bằng TBDĐ 104
Biểu đồ 3.2 Mức độ cần thiết đối với các khuyến nghị dành cho PV 109
Trang 10MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SÁNG TẠO TÁC PHẨM BÁO CHÍ CHO BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ BẰNG THIẾT BỊ DI ĐỘNG 12
1.1 Tác phẩm báo chí và sáng tạo tác phẩm báo chí cho báo mạng điện tử11 1.2 Thiết bị di động và sử dụng thiết bị di động trong sáng tạo tác phẩm báo chí 25 Tiểu kết chương 1 44
Chương 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SÁNG TẠO TÁC PHẨM BÁO CHÍ CHO BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ BẰNG THIẾT BỊ DI ĐỘNG 45
2.1 Giới thiệu về các báo mạng điện tử trong phạm vi nghiên cứu 45
2.2 Hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí bằng thiết bị di động 50
2.3 Thế mạnh và hạn chế trong hoạt động tác nghiệp sáng tạo tác phẩm báo chí bằng thiết bị di động 82
Tiểu kết chương 2 89
Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG SÁNG TẠO TÁC PHẨM BÁO CHÍ CHO BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ BẰNG THIẾT BỊ DI ĐỘNG 92
3.1 Những vấn đề đặt ra đối với việc cải thiện khả năng tác nghiệp báo chí bằng thiết bị di động 92
3.2 Đề xuất một số phương pháp nâng cao khả năng tác nghiệp báo chí bằng thiết bị di động 99
3.3 Một số khuyến nghị 105
Tiểu kết chương 3 114
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 118
PHỤ LỤC 123
Trang 112020
Điểm ưu việt của TBDĐ trong tiếp cận thông tin - tác phẩm báo chí chính là tính tiện lợi Con người có thể dễ dàng sử dụng TBDĐ truy cập Internet để đọc báo, lướt web mọi lúc mọi nơi Điều đó đồng nghĩa với việc cập nhật thông tin thời sự một cách nhanh chóng đang dần trở thành xu thế và nhu cầu của công chúng Khi một sự kiện xảy ra, công chúng đòi hỏi báo chí phải cung cấp thông tin sớm nhất có thể Thời gian kể từ khi sự kiện xảy ra cho tới khi thông tin đến được tay bạn đọc đang được các tòa soạn nỗ lực đưa
về mức tối thiểu Do đó, kỹ năng, nghiệp vụ sử dụng TBDĐ sáng tạo tác phẩm báo chí đang được những người làm báo chú trọng trau dồi, phát triển
Phóng viên (PV) không những phải đảm bảo tính chính xác, hấp dẫn của thông tin mà còn phải đề cao tính thời sự, nhanh chóng Việc tác nghiệp bằng các thiết bị cồng kềnh với nhiều chức năng, vai trò khác nhau dẫn đến hoạt động tổng hợp, thu thập và xử lý thông tin trong sáng tạo tác phẩm báo chí mất nhiều thời gian hơn PV phải trải qua nhiều công đoạn, từ việc ghi chép vào sổ tay, chụp hình bằng máy ảnh, quay video bằng máy quay, phỏng vấn bằng máy ghi âm cho đến truyền lần lượt từng dữ liệu ở mỗi thiết bị vào
Trang 122
máy vi tính Nếu địa điểm tác nghiệp ở nơi vùng sâu vùng xa, điều kiện khó khăn trong kết nối mạng không dây, PV cần phải cài đặt và kết nối Internet bằng thiết bị truyền phát mạng không dây (còn được gọi là usb 3G) Trong khi đó, trên một TBDĐ, PV hoàn toàn có thể thực hiện nhiều thao tác nghiệp
vụ một cách đơn giản, tiện lợi và nhanh chóng hơn rất nhiều
Trên thực tế, TBDĐ tích hợp ứng dụng đa phương tiện tất nhiên không thể thay thế được máy ảnh, máy quay chuyên nghiệp với hệ thống ống kính phong phú, đa chức năng có khả năng ghi lại hình ảnh trong mọi điều kiện không gian, thời gian, ánh sáng… với chế độ tùy chỉnh cao Tuy nhiên, trên báo mạng điện tử, với những bức ảnh, thông tin sự kiện thời sự, yêu cầu sự nhanh chóng và cập nhật nhanh nhất của thông tin, TBDĐ trở nên tối ưu và tiện lợi hơn trong khâu thu thập thông tin, tư liệu để sáng tạo tác phẩm báo chí
Công nghệ thiết bị ngày càng phát triển mạnh mẽ Hàng năm, những thiết bị mới ra mắt lại được trang bị những tính năng cao cấp hơn, hiện đại hơn trong lĩnh vực đa phương tiện TBDĐ còn có thể thay thế máy vi tính trong việc soạn thảo văn bản, xử lý ảnh, video clip, biên tập âm thanh… Bên cạnh đó, cuộc cách mạng về giá thiết bị cùng với môi trường Internet băng thông rộng thúc đẩy mỗi cá nhân người làm báo phải trang bị và cập nhật nền tảng công nghệ, kỹ năng tiên tiến Hơn nữa, xu thế nhà báo đa phương tiện đang dần thay thế hình thức nhà báo đơn kỹ năng Nhà báo cần thiết phải tích hợp nhiều phương pháp nghiệp vụ, từ chụp hình, quay phim cho đến viết bài chứ không chỉ thuần thục, chuyên về một kỹ năng nhất định Ở các nước phương Tây, bằng một TBDĐ hiện đại, tiên tiến, một PV có thể kiêm nhiệm công việc của cả PV ảnh, PV quay phim và PV viết
Truyền thông xã hội ngày càng trở thành một phần quan trọng trong chiến lược thu thập, sản xuất và phân phối thông tin Trong thời đại bùng nổ và phát
Trang 133
triển của mạng xã hội, tính kết nối, tương thích và đồng bộ cao giữa TBDĐ và mạng xã hội cũng là điểm ưu việt PV có thể đăng tải thông tin đến công chúng hoặc kết nối với tòa soạn thông qua mạng xã hội một cách tiện lợi Với lượng thành viên đông đảo cùng các tính năng thích (like), chia sẻ (share), tác phẩm báo chí trên mạng xã hội sẽ được phát tán theo cấp số nhân Vì vậy, việc đăng tải thông tin trên mạng xã hội là xu thế tất yếu Hiện nay, TBDĐ là công cụ tối ưu
để thực hiện điều đó Ngoài ra, sự bùng nổ các ứng dụng di động hỗ trợ tác nghiệp báo chí như ghi âm cuộc gọi, phỏng vấn trực tiếp, đồng bộ hóa dữ liệu, các phần mềm quay và dựng phim… đòi hỏi các cơ quan báo chí và đặc biệt là
cá nhân mỗi người làm báo cần cập nhật kỹ năng, đổi mới phương pháp tác nghiệp mới có thể đáp ứng được đòi hỏi của độc giả và sự phát triển của công nghệ
TBDĐ đang trở thành công cụ đắc lực cho quá trình tác nghiệp báo chí Tuy nhiên, ở Việt Nam vẫn chưa có tài liệu, nghiên cứu nào về vấn đề này Trước tình hình đó, việc nghiên cứu xem xét thực trạng và đề xuất, kiến nghị các giải pháp nâng cao khả năng tác nghiệp bằng TBDĐ là một yêu cầu cấp bách
hiện nay Chính vì vậy tôi đã lựa chọn đề tài “Sáng tạo tác phẩm báo chí cho
báo mạng điện tử bằng thiết bị di động (Nghiên cứu trường hợp các báo mạng điện tử VnExpress, VietnamPlus và Tiền Phong Online)” làm đề tài
nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ, chuyên ngành Báo chí của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong những năm qua, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu, sách và giáo trình liên quan đến đề tài được công bố Có thể kể đến như:
- Giáo trình Lao động nhà báo của TS Lê Thị Nhã (NXB Lý luận
Chính trị, năm 2016) đề cập một cách hệ thống về lao động nhà báo, đặc biệt
là quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí và lao động nhà báo trong quy trình sản xuất sản phẩm báo chí ở một số loại hình cơ bản: báo in, báo phát thanh, báo
Trang 144
truyền hình, báo mạng điện tử… Đặc biệt, giáo trình đi sâu phân tích những
kỹ năng, nghiệp vụ cơ bản của người làm báo trong quá trình thu thập, kiểm chứng và xử lý thông tin Đây là cơ sở lý luận có tính chất nền tảng, tiên quyết định hướng Luận văn trong nghiên cứu về kỹ năng của người làm báo khi sử dụng TBDĐ để sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử
- Sách “Nhà báo – Bí quyết kỹ năng – nghề nghiệp (Kinh nghiệm nghề
nghiệp của báo chí phương Tây)” do nhóm tác giả Nguyễn Văn Dững, Hoàng
Anh (NXB Lao động, năm 1998) thực hiện dựa theo tác phẩm “Nhà báo và
thông tin” của hai tác giả Vốtxcobôinhicốp và Iyriev (Nga) đề cập một cách tỉ
mỉ, sinh động các kinh nghiệm xử lý thông tin, xử lý văn bản của nhà báo,
PV, từ việc rút tít, đặt đầu đề, mào đầu cho một tác phẩm, các nguyên tắc và dạng thức rút ngắn tin tức, văn bản đến trách nhiệm, tính khách quan của báo chí
- Sách “Sáng tạo tác phẩm báo chí” của tác giả Đức Dũng (NXB Văn hóa
– Thông tin, năm 2002) đề cập đến hệ thống lý luận về khái niệm, đặc điểm, các bước thực hiện sáng tạo tác phẩm báo chí ở từng loại hình cụ thể Đây là tiền đề, nền tảng để luận văn xây dựng hệ thống lý luận về sáng tạo tác phẩm báo chí nói chung và sáng tạo tác phẩm báo chí bằng TBDĐ nói riêng
- Sách “Nhà báo hiện đại” (NXB Trẻ, năm 2007), bản dịch tiếng Việt
từ giáo trình News Reporting and Writing của ban biên soạn The Missouri
Group thuộc Khoa Báo chí, trường Đại học Missouri (Mỹ) đề cập đến xu thế các phương tiện truyền thông trực tuyến đã trở thành những công cụ không thể thiếu của PV thế hệ mới Xu hướng tích hợp báo in, truyền hình và báo trực tuyến chung một tòa soạn đã buộc những người làm báo phải đa năng hơn PV buộc phải thay đổi cách thu thập và xử lý thông tin để hấp dẫn công chúng
Trang 155
- Sách “Sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử” do PGS, TS Nguyễn Thị
Trường Giang làm chủ biên (NXB Chính trị Quốc gia, năm 2014) đề cập một cách hệ thống những đặc trưng và phương pháp sáng tạo các thể loại báo chí trong chuyên ngành báo mạng điện tử Đặc biệt, cuốn sách đi sâu vào việc phân tích, làm rõ những kỹ năng thực hành riêng biệt dành cho từng thể loại
cụ thể trong sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử
- Sách “Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại”
của TS Nguyễn Thành Lợi (NXB Thông tin và Truyền thông, năm 2014) giới thiệu những nét khái quát về các vấn đề như truyền thông xã hội, các lý thuyết truyền thông, hội tụ truyền thông, tòa soạn hội tụ, đồng thời trình bày đặc điểm và những kỹ năng cần thiết đối với “nhà báo đa năng” trong môi trường hội tụ truyền thông Tác giả cũng đề cập đến những kỹ năng cơ bản trong sáng tạo tác phẩm báo chí đa phương tiện, phương thức sử dụng đa phương tiện, thông tin đồ họa cho báo chí hiện đại
- Sách “Hơn cả tin tức – Tương lai của báo chí” do nhóm dịch giả
Dương Hiếu, Kim Phượng, Hiếu Trung (NXB Trẻ, năm 2015) dịch từ cuốn
“Beyond news: The future of journalism” của tác giả Mitchell Stephens
(Columbia University Press, năm 2014) Cuốn sách đề cập đến những xu hướng, mô hình cho tương lai của báo chí, đặc biệt là việc báo chí phải thay đổi như thế nào nhằm phục vụ thời đại và công chúng hiệu quả hơn
- Luận văn Thạc sĩ Báo chí học “Xu hướng phát triển trên báo mạng
điện tử dành cho TBDĐ ở Việt Nam hiện nay” do tác giả Nguyễn Hoàng Lan
Chi, Học viện Báo chí và Tuyên truyền nghiên cứu năm 2014 đề cập đến khái niệm, xu hướng phát triển của TBDĐ cũng như vai trò của việc phát triển báo mạng điện tử dành cho TBDĐ và những tác động đến thói quen đọc báo mạng điện tử của công chúng Luận văn cũng đề xuất một số giải pháp thúc đẩy xu hướng phát triển báo mạng điện tử dành cho TBDĐ ở Việt Nam
Trang 166
- Luận văn Thạc sĩ Báo chí học “Xây dựng phiên bản báo mạng điện tử
dành cho môi trường điện thoại di động” do tác giả Dương Đức Dũng, Học
viện Báo chí và Tuyên truyền nghiên cứu năm 2015 cung cấp những vấn đề lý luận, yêu cầu chung về các yếu tố nội dung thông tin, hình thức thể hiện đối với báo mạng điện tử và báo mạng điện tử dành cho môi trường điện thoại di động Luận văn cũng đề xuất một số khuyến nghị khoa học nhằm nâng cao kỹ năng sản xuất nội dung, tăng cường tính hiệu quả của thông tin trên báo mạng điện tử dành cho điện thoại di động
- Luận văn Thạc sĩ Báo chí học “Kỹ năng tác nghiệp của nhà báo trong
tòa soạn có báo in và báo mạng điện tử ở Tây Nam Bộ hiện nay” do tác giả
Nguyễn Quốc Danh, Học viện Báo chí và Tuyên truyền nghiên cứu năm 2015
đề cập đến kỹ năng tác nghiệp của nhà báo thông qua khảo sát thực trạng về
kỹ năng tác nghiệp của nhà báo tại các tỉnh, thành phố ở Tây Nam Bộ Từ đó, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế nguyên nhân của những hạn chế về kỹ năng tác
nghiệp của người làm báo hiện nay
- Luận văn Thạc sĩ Báo chí và Truyền thông “Vấn đề làm tin cho phiên
bản điện thoại di động ở Việt Nam hiện nay” do tác giả Dương Hồng Hạnh,
trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội nghiên cứu năm 2016 đề cập đến thực trạng, cách thức, phương pháp làm tin đặc thù dành cho phiên bản điện thoại di động Luận văn cũng chỉ ra những ưu, khuyết điểm đồng thời đặt ra một số giải pháp nâng cao năng lực làm tin cho phiên bản điện thoại di động ở Việt Nam hiện nay
- Tập hợp những bài giảng nghiệp vụ của nhà báo Lê Quốc Minh, Tổng biên tập báo điện tử VNP cung cấp những kinh nghiệm, thông tin về xu thế phát triển của báo chí thế giới; kỹ năng làm báo trên điện thoại di động như: chụp ảnh, làm tin ngắn, quay phim…, biên tập trực tiếp trên TBDĐ; kỹ năng
Trang 177
xử lý ảnh, video clip được thực hiện dựa trên việc khai thác các phần mềm xử
lý ảnh, phần mềm quay và xử lý video clip, phần mềm biên tập âm thanh…
- Ngoài ra, trên thế giới có nhiều bài báo nghiên cứu, phân tích xu hướng của báo chí hiện đại, đưa ra nhiều khái niệm mới, như báo chí di động
(mobile journalism), PV di động (mobile reporter, mobile journalist) Đáng chú ý có các tài liệu: “Future of mobile news” của Trung tâm Nghiên cứu Pew (Pew Research Center, 10/2012), “The transition to digital journalism” của Paul Grabowicz (2014), “Digital news report 2015” của Reuters Institute for
the Study of Journalism Các nghiên cứu trên đã đưa ra một số xu hướng của tin tức nói riêng và báo chí nói chung, trong đó nổi bật hơn cả là sự dịch chuyển giữa tác nghiệp báo chí bằng các thiết bị di động thay thế dần các công cụ truyền thống…
Những công trình nghiên cứu, luận văn, bài giảng trên có vai trò quan trọng cho nội dung của luận văn và hướng nghiên cứu của tác giả, đồng thời cung cấp một số thông tin nền tảng về khái niệm, đặc điểm, thuật ngữ của lao động nhà báo nói chung và quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí, cụ thể là hoạt động thu thập thông tin, tư liệu nói riêng; phân tích, đánh giá xu thế tất yếu của truyền thông xã hội, truyền thông đa phương tiện trong việc hình thành nhà báo đa kỹ năng; phương pháp làm báo bằng điện thoại di động
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mục đích của luận văn là khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí cho báo mạng điện tử bằng TBDĐ; tổng kết những thế mạnh, hạn chế và kinh nghiệm từ những PV trực tiếp tác nghiệp; từ
đó đề xuất và đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng tác nghiệp báo chí bằng TBDĐ cho đội ngũ người làm báo ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Trang 18- Trên cơ sở đó, luận văn nêu những giải pháp và đề xuất, khuyến nghị
cụ thể nhằm nâng cao khả năng tác nghiệp báo chí bằng TBDĐ cho đội ngũ người làm báo Việt Nam hiện nay
4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực trạng về khả năng của đội ngũ PV trong việc sử dụng TBDĐ để sáng tạo tác phẩm báo chí cho loại hình báo mạng điện tử
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là:
- Nghiên cứu hoạt động sáng tạo tác phẩm báo chí cho báo mạng điện
tử bằng TBDĐ của PV;
- Nghiên cứu phân tích nội dung để làm rõ hiệu quả, chất lượng của phương pháp tác nghiệp bằng TBDĐ (thông qua nghiên cứu các trường hợp trên các báo mạng điện tử: VNE, VNP và TPO)
Lý do tác giả lựa chọn phạm vi nghiên cứu của đề tài là 03 tờ báo điện
tử kể trên:
- VNE ra đời năm 2001 với tiêu chí là cập nhật nhanh chóng, tốc độ và
hiện là một trong số những báo mạng điện tử dẫn đầu ở Việt Nam về số lượt
Trang 199
truy cập Về mặt nghiệp vụ, đội ngũ PV VNE có kỹ năng, phẩm chất tốt và ngày một trẻ hóa, có khả năng cập nhật và ứng dụng công nghệ vào sáng tạo tác phẩm báo chí Các tác phẩm báo chí đăng tải trên VNE có chất lượng thông tin cao, tính thời sự được đảm bảo, thể hiện qua quy trình tác nghiệp nhanh nhạy, chính xác của PV
- VNP được lựa chọn trong sự so sánh, đối chiếu với VNE để phân tích,
đánh giá những tương đồng và khác biệt về kỹ năng của đội ngũ PV cũng như chất lượng bài vở được thực hiện bằng điện thoại di động thể hiện trên mặt báo Bên cạnh đó, VNP là tờ báo mạng điện tử ứng dụng được nhiều công nghệ hiện đại và có bước đi tiên phong trong việc phát triển báo mạng điện tử
và tăng cường kỹ năng tác nghiệp bằng TBDĐ cho đội ngũ PV của mình
- TPO là phiên bản điện tử của Báo Tiền Phong, cơ quan ngôn luận của
TƯ Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Lựa chọn TPO để có sự nhìn nhận khách quan, cụ thể giữa các báo mạng điện tử chuyên biệt và báo mạng điện tử phiên bản của báo giấy Bên cạnh đó, việc tác giả từng có thời gian là PV ở báo Tiền Phong cũng là một lý do để lựa chọn phạm vi khảo sát này
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Đề tài được nghiên cứu dựa trên các quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về báo chí nói chung và báo mạng điện tử nói riêng, những nguyên tắc hoạt động của báo chí, các quy định về quyền lợi, nghĩa vụ
và trách nhiệm của nhà báo khi lao động nghề nghiệp
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành luận văn, tác giả thực hiện các phương pháp nghiên cứu
cơ bản sau:
Trang 2010
a Phương pháp nghiên cứu tài liệu: dùng để thu thập, kế thừa và tổng
quát trên cơ sở những tư liệu đã có nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài, qua đó hệ thống hóa lý thuyết và xây dựng luận cứ khoa học
b Phương pháp khảo sát bằng bảng hỏi an-két đối với đội ngũ PV trực
tiếp tác nghiệp, từ đó phân tích, đánh giá thực trạng quá trình sử dụng TBDĐ trong sáng tạo tác phẩm báo chí trên báo mạng điện tử
c Phương pháp thống kê, phân tích đối với kỹ năng sử dụng TBDĐ
trong sáng tạo tác phẩm báo chí nhằm đánh giá thực trạng, xu hướng, chỉ ra
ưu khuyết điểm trong việc tác nghiệp báo chí bằng TBDĐ
d Phương pháp phỏng vấn sâu với các đối tượng: chuyên gia, biên tập
viên, PV, các nhà báo có kinh nghiệm trong tác nghiệp báo chí bằng TBDĐ
e Phương pháp phân tích nội dung đối với các tác phẩm báo chí tiêu
biểu trên các báo trong phạm vi khảo sát
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn phân tích, đánh giá thực trạng, xu thế phát triển kỹ năng sáng tạo tác phẩm báo chí bằng TBDĐ; chỉ ra những ưu điểm và hạn chế của loại hình lao động nghiệp vụ đặc thù này; trình bày những kinh nghiệm, xu thế trong lao động sáng tạo tác phẩm báo chí bằng TBDĐ của các nhà báo, chuyên gia có kinh nghiệm Từ đó đưa ra những giải pháp, đề xuất và kiến nghị nhằm nâng cao năng lực, kỹ năng tác nghiệp báo chí bằng TBDĐ
Luận văn phân tích, đánh giá cụ thể về thực trạng, kỹ năng làm báo đa phương tiện bằng TBDĐ cũng như đưa ra những phương pháp, cập nhật công nghệ mới hỗ trợ cho người làm báo một cách bài bản và có hệ thống Kết quả nghiên cứu của đề tài này có thể sử dụng làm nguồn tư liệu phục vụ nhu cầu tham khảo, cập nhật cho các PV, nhà báo, sinh viên báo chí Những giải pháp
đề xuất có thể giúp PV tự nâng cao năng lực nghề nghiệp đồng thời tạo định
Trang 2111
hướng cho các tòa soạn báo chí chú trọng hơn nữa đến yêu cầu chuyên môn, phát triển kỹ năng tác nghiệp báo chí cho PV
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Phụ lục, Luận văn gồm 3 chương, 8 tiết
Trang 2212
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ SÁNG TẠO TÁC PHẨM BÁO CHÍ CHO BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ BẰNG THIẾT BỊ DI ĐỘNG
1.1 Tác phẩm báo chí và sáng tạo tác phẩm báo chí cho báo mạng điện
tử
1.1.1 Tác phẩm báo chí và quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí
1.1.1.1 Tác phẩm báo chí và sáng tạo tác phẩm báo chí
Thuật ngữ tác phẩm là danh từ gọi chung cho mọi tác phẩm: văn học,
báo chí, âm nhạc, hội họa, kiến trúc… Tác phẩm được xem là sản phẩm sáng tạo trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học, được thể hiện bằng bất kỳ phương tiện hay hình thức nào
Bàn về tác phẩm báo chí, các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều quan
niệm khác nhau:
- Theo nhà nghiên cứu H Haas (Cộng hòa Liên bang Đức): “Tác phẩm báo chí là các dạng bài viết phổ biến, thông dụng, với các chức năng khác nhau và có những đặc điểm chung về hình thức, cấu trúc và cả nội dung Tác phẩm báo chí được hình thành và được chứng minh trong lịch sử” [40, tr 5]
- Kurt Tucholsky (Cộng hòa Liên bang Đức) cho rằng: “Tác phẩm báo jchí là sự chắt lọc những điều cơ bản nhất từ những sự kiện xảy ra trong ngày Tuy nhiên, những thứ bày trên mặt báo không phải là cả thế giới” [40, tr 6]
- John Hohenberg (Viện Đại học Columbia) thì nhấn mạnh vai trò chủ thể sáng tạo tác phẩm báo chí là nhà báo và chất liệu để tạo ra tác phẩm báo chí là cuộc sống hiện thực khách quan: “Bổn phận căn bản của anh (của ký giả -người làm ra tác phẩm báo chí) là vạch trần sự phức tạp của đời sống, cố
Trang 23tr 6]
Luật Báo chí năm 2016 giải thích: “Tác phẩm báo chí là đơn vị cấu thành nhỏ nhất của sản phẩm báo chí, có nội dung độc lập và cấu tạo hoàn chỉnh, gồm tin, bài được thể hiện bằng chữ viết, âm thanh hoặc hình ảnh” Tại Nghị định số 51/2002/NĐ-CP ngày 26/04/2002 về Quy định chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Báo chí đã giải thích: “Tác phẩm báo chí là tên gọi chung cho tất cả các thể loại tin, bài, ảnh… đã được đăng, phát trên báo chí” [46, tr 45] Theo Nghị định này, những tác phẩm được gọi là tác phẩm báo chí, trước hết phải là tác phẩm được đăng tải trên báo chí Mỗi tác phẩm báo chí có hình thức tương ứng là một thể loại báo chí cụ thể
Theo tác giả Nguyễn Thị Thoa trong cuốn Giáo trình Tác phẩm báo chí
đại cương, tác phẩm báo chí được xem là sản phẩm tư duy của nhà báo, lấy
hiện thực khách quan là đối tượng nghiên cứu và phản ánh, có hình thức tương ứng với nội dung thông tin, được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng và là một bộ phận cấu thành một sản phẩm báo chí Tác phẩm báo chí, do đó có giá trị sử dụng, có khả năng tạo dư luận xã hội và làm thay đổi hành vi của người tiếp nhận thông tin, được luật pháp bảo hộ bản quyền
và tác giả được trả tiền (nhuận bút) cho tác phẩm của mình [40]
Trang 2414
Theo tác giả Tạ Ngọc Tấn, tác phẩm báo chí là một chỉnh thể, trong đó mối quan hệ hữu cơ giữa nội dung và hình thức là quan hệ bên trong cơ bản của nó Các tác giả đã xem xét tác phẩm báo chí dưới góc độ văn bản học là
“chỉnh thể”, bởi mỗi sự kiện cụ thể trong cuộc sống được chọn làm nội dung của tác phẩm, nhà báo phải lựa chọn cho nội dung ấy một hình thức chuyển tải phù hợp Khi xem xét một tác phẩm báo chí, người ta thường quan tâm đến hai phương diện chủ yếu của nó là nội dung và hình thức Hai phương diện này gắn
bó hữu cơ chi phối lẫn nhau để tạo nên chất lượng chung của tác phẩm báo chí [37]
Nhiều nhà báo cho rằng, tác phẩm báo chí là một bộ phận nhỏ nhất, mang tính đơn lẻ của một sản phẩm báo chí và do nhà báo sáng tạo ra Điều này hoàn toàn đúng khi xem xét tác phẩm báo chí trong mối quan hệ là một
bộ phận cấu thành một sản phẩm báo chí Tuy nhiên, không phải tác phẩm nào được đăng tải trên một sản phẩm báo chí cũng là tác phẩm báo chí, bởi trong một sản phẩm báo chí còn đăng tải cả những loại tác phẩm khác Có nhiều nhà báo không chỉ sáng tạo ra những tác phẩm báo chí, mà còn sáng tác
cả những tác phẩm văn học, nghệ thuật…
Nội dung tác phẩm báo chí là một phạm vi, một bộ phận cuộc sống hiện thực được phản ánh qua sự lựa chọn, nhận thức sáng tạo của nhà báo Những tiêu chí về nội dung có ý nghĩa quyết định trong việc đánh giá chất lượng tác phẩm báo chí Trong tác phẩm báo chí có thể phân biệt các yếu tố nội dung chính sau đây: sự kiện, chi tiết, chính kiến, vấn đề, đề tài và tư tưởng Một tác phẩm báo chí độc đáo, mới mẻ, hoàn chỉnh và được xã hội thừa nhận bao giờ cũng chứa đựng một lượng thông tin có giá trị nhất, đó là lượng thông tin chính xác nhất, trung thực nhất, tin cậy nhất, hấp dẫn nhất, kịp thời nhất, có hiệu quả, hiệu ứng xã hội cao nhất
Trang 25kể trên Để sáng tạo ra tác phẩm ấy, nhà báo lại cần tuân thủ theo một trình tự gọi là quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí [31]
Theo nhận định trên, có thể thấy, sáng tạo tác phẩm báo chí là một hoạt động nghề nghiệp của người làm báo Thông qua hoạt động đó, nhà báo tiến hành các bước để có được một tác phẩm báo chí Trình tự các bước tiến hành cần trải qua để hình thành nên tác phẩm báo chí chính là quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí Trong quy trình này, lao động nghề nghiệp của nhà báo được thực hiện bằng các thao tác nhất định Tuy nhiên, để đảm bảo được yếu
tố về mặt nội dung của tác phẩm, bài báo đó phải thể hiện được sự sáng tạo
Hiện thực là cơ sở, chất liệu để nhà báo phản ánh vào tác phẩm Bên cạnh đó, cách thức thể hiện cũng như nội dung tác phẩm phải có tính mới lạ, hấp dẫn Chính vì vậy, sáng tạo là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của tác phẩm báo chí bởi nó đem lại sự độc đáo và mới lạ trong báo chí Sự sáng tạo thể hiện trên nhiều phương diện: từ cách khai thác vấn đề cho đến cách đưa sự kiện cũng như cách thể hiện tác phẩm
Theo tác giả Trần Quang, sự sáng tạo của nhà báo phải phản ánh được mối quan hệ gần gũi của Đảng với quần chúng, thể hiện qua chức năng tổ chức của báo chí: “Báo không chỉ là người tuyên truyền tập thể, người cổ động tập thể mà còn là người tổ chức tập thể Trong hoạt động sáng tạo của mình, nhà báo phải đạt được sự thống nhất biện chứng giữa ý kiến chủ quan
và sự kiện khách quan” [36, tr 200]
Trang 2616
Bàn về nguồn cảm hứng trong quá trình sáng tạo của nhà báo, tác giả cho rằng: “Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa nguyên tắc tính Đảng, nguyên tắc tính Nhân dân và nguyên tắc tính khoa học sẽ tạo ra nguồn cảm hứng trong quá trình sáng tạo của nhà báo trên cơ sở biểu hiện những lợi ích cơ bản của nhân dân lao động” [36, tr 201]
Nhà báo Hữu Thọ quan niệm: “Mỗi bài báo là một sự sáng tạo cá nhân với đầy trách nhiệm xã hội” Chính vì vậy, năng lực sáng tạo của nhà báo đóng vai trò quan trọng đối với chất lượng tác phẩm “Phương pháp sáng tạo trang bị cho người làm báo những phương tiện để phân tích tình hình thực tế trong hoạt động tuyên truyền, cổ động và tổ chức quần chúng Nhà báo dựa vào đó để xem xét và đánh giá các sự kiện và hiện tượng cụ thể” [36, tr 202]
1.1.1.2 Quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí
Để hình thành một sản phẩm báo chí có sự tham gia của nhiều loại hình lao động khác nhau trong cơ quan báo chí Trong đó, lao động sáng tạo tác phẩm (lao động tác giả) là lao động trung tâm, kết nối các lao động khác trong quy trình sáng tạo sản phẩm báo chí hoàn chỉnh Lao động sáng tạo tác phẩm báo chí là hoạt động phát hiện, tìm kiếm đề tài, thu thập, xử lý thông tin hình thành một tin, bài báo chí [27]
Chính vì lao động sáng tạo tác phẩm báo chí là lao động nghề nghiệp của người làm báo nhằm hình thành một tác phẩm báo chí hoàn chỉnh, do đó quy trình thực hiện phải được xác định một cách cụ thể, rõ ràng Theo TS Lê Thị Nhã, quy trình lao động sáng tạo tác phẩm của nhà báo dù ở loại hình báo chí nào cũng bao gồm các giai đoạn cơ bản sau đây:
- Phát hiện, tìm kiếm đề tài
- Thu thập và kiểm chứng thông tin, tư liệu
- Xử lý thông tin, tư liệu
Trang 27Bên cạnh đó, thu thập thông tin tư liệu là hoạt động nghề nghiệp nhằm tìm kiếm, tích lũy chi tiết, vấn đề, sự kiện để tạo nên chất liệu cho tác phẩm báo chí “Thu thập thông tin tư liệu là hoạt động nghề nghiệp, là thói quen diễn ra thường xuyên, liên tục của PV Không chỉ phục vụ cho việc sáng tạo
ra một tác phẩm đã dự định chủ đề, mà trong cuộc sống hàng ngày, đi bất cứ nơi đâu, gặp mỗi người, mỗi cảnh, mỗi việc PV đều có ý thức thực hiện hoạt động thu thập, tìm kiếm thông tin” [27, tr 90]
Thu thập, khai thác thông tin, tư liệu là lao động vất vả, khó khăn, phức tạp đòi hỏi người PV phải có tri thức, trách nhiệm, đặc biệt là phải có phương pháp tiếp cận, khám phá nguồn tin Các phương pháp quan trọng, phổ biến trong hoạt động thu thập thông tin, tư liệu của PV là: Nghiên cứu văn bản; Quan sát và Phỏng vấn [27]
Lao động xử lý thông tin tư liệu gồm hai khâu chính Một là dự kiến thể loại, hình thành đề cương, kịch bản Hai là thể hiện tác phẩm “Hình thành
đề cương, kịch bản chi tiết cho tác phẩm báo chí là quá trình hệ thống hóa các thông tin, chi tiết; phát triển sự kiện, vấn đề một cách logic, tập trung vào chủ
đề đặt ra theo nguyên tắc: rõ ràng, dễ hiểu và hấp dẫn Đó là công việc phân loại tổ chức thông tin, tư liệu theo mục đích, chủ đề và nội dung tác phẩm mà
PV định thể hiện” [27, tr 118]
Sau khi đã hình thành đề cương, kịch bản, người làm báo phải bắt tay vào khâu thể hiện tác phẩm Ở công đoạn này, nhà báo phải dụng công để sắp xếp, thể hiện các yếu tố, chi tiết, thông tin đã thu thập được theo ý đồ, mục
Trang 2818
đích của mình Phương tiện biểu đạt đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển tải chất liệu mà nhà báo thu thập được thành tác phẩm báo chí
Bàn về quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí, tác giả Đức Dũng trong cuốn
Sáng tạo tác phẩm báo chí nhận định: “Để có thể viết ra được một tác phẩm báo
chí, tác giả thường phải thực hiện một số thao tác cơ bản Trong đó, lựa chọn đề tài phản ánh và lựa chọn cách thể hiện tác phẩm thích hợp là những hoạt động chính để tích lũy chất liệu, hình thành tác phẩm báo chí có giá trị” [3, tr 9, 10]
Trong bài báo Quy trình sáng tạo tác phẩm – đặc trưng và ứng dụng
cho các loại hình sản phẩm báo chí (Tạp chí Lý luận Chính trị và Truyền
thông số tháng 9/2013), PGS, TS Nguyễn Ngọc Oanh nhận định: “Trong quá trình sáng tạo tác phẩm báo chí, nhà báo, dù sáng tạo tác phẩm thuộc loại hình báo chí nào, cũng cần tuân thủ một quy trình chung, bao gồm 6 bước: (1) tìm hiểu và nghiên cứu thực tế; (2) xác định chủ đề - đề tài - tư tưởng chủ đề; (3) thu thập và khai thác thông tin; (4) thể hiện tác phẩm về nội dung và hình thức; (5) duyệt, đăng báo, xuất bản, phát hành, phát sóng và (6) lắng nghe thông tin phản hồi”
Như vậy, có thể thấy, quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí là chuỗi các thao tác nghề nghiệp của người làm báo, từ khâu phát hiện đề tài, thu thập thông tin, thể hiện tác phẩm trên sản phẩm báo chí truyền thông Trong quy trình đó, không thể thiếu hoạt động ghi nhận thông tin phản hồi từ công chúng, dư luận xã hội Đặc biệt, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, người làm báo có thể thu nhận thông tin phản hồi ngay lập tức sau khi tác phẩm được chia sẻ trên mạng xã hội Những ý kiến, góp ý, phản biện… tác phẩm của công chúng có thể là đề tài, chất liệu, ý tưởng để nhà báo tiếp tục khai thác
1.1.2 Sáng tạo tác phẩm báo chí trên báo mạng điện tử
1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm của tác phẩm báo chí trên báo mạng điện tử
Trang 2919
Tại Nghị định số 51/2002/NĐ-CP ngày 26/04/2002 giải thích: “Báo điện tử là tên gọi loại hình báo chí thực hiện trên mạng thông tin máy tính (Internet, Intranet)” [46, tr 45] Luật Báo chí năm 2016 cũng giải thích: “Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử”
Theo PGS, TS Nguyễn Thị Trường Giang trong cuốn Giáo trình Lý
thuyết và Kỹ năng báo mạng điện tử: “Báo mạng điện tử là một loại hình báo
chí được xây dựng dưới hình thức của một trang web, phát hành trên mạng Internet, có ưu thế trong chuyển tải thông tin một cách tức thời, nhanh chóng,
đa phương tiện và tương tác cao” [9, tr 67]
Tác giả Lê Minh Trung trong cuốn Từ điển diễn nghĩa Internet quan
niệm: “Báo điện tử là mạng kết nối các máy tính với nhau chuyển tải thông tin bằng hình thức xa lộ cho phép sự tồn tại của WWW, Email và tất cả những dịch vụ khác” [44, tr 136]
Xem xét báo mạng điện tử dưới góc độ kỹ thuật, tác giả Nguyễn Ngọc Tuấn cho rằng: “Báo mạng điện tử là phương tiện thông tin mang tính toàn cầu chuyển tải thông tin bằng sức mạnh của thời gian với phương tiện là âm thanh, hình ảnh và chữ viết” [45, tr 25]
PGS, TS Tạ Ngọc Tấn cũng đã đưa ra khái niệm về báo mạng điện tử:
“Báo mạng điện tử là một siêu kênh thông tin toàn cầu, cho phép liên kết con người lại bằng kênh thông tin và kết nối nguồn tri thức đã tích lũy của toàn nhân loại trong một mạng lưu thông nhất quán” [38, tr 208]
Các quan niệm vừa nêu trên nhìn nhận báo mạng điện tử ở những khía cạnh khác nhau Đó là dựa vào phương thức, hình thức truyền tải thông tin và chức năng của phương tiện thông tin này Tuy vậy, bốn định nghĩa này cho thấy có điểm thống nhất cơ bản là cùng quan niệm báo mạng điện tử là phương tiện thông tin đại chúng và có những tính chất sau:
Trang 30và phương thức hoạt động của báo điện tử Báo mạng điện tử là một loại hình thông tin đại chúng phản ảnh thông tin trực tuyến bằng ngôn ngữ truyền thông
đa phương tiện thông qua mạng máy tính kết nối toàn cầu và có tính phi định kỳ
Từ những khái niệm, đặc trưng của báo mạng điện tử, chúng tôi đã xác định một số đặc điểm của tác phẩm báo chí trên báo mạng điện tử như sau:
- Chuyển tải thông tin nhanh và tức thời
Báo mạng điện tử là loại hình báo chí có tính thời sự cao Nó là tờ báo cung cấp thông tin sớm nhất, kịp thời nhất đến công chúng Trong khi đó, các loại hình báo chí khác như báo giấy, báo nói và báo hình phải tốn rất nhiều công đoạn như viết, biên tập, lên trang, in ấn, phát hành (báo giấy), sản xuất chương trình, dựng, biên tập, phát sóng (báo nói và báo hình)
- Thông tin không giới hạn không gian và thời gian
Nội dung thông tin trên báo mạng điện tử được chuyển tải trên mạng thông tin toàn cầu Vì thế, khó có thể ngăn cản thông tin về mặt địa lí Thông tin khi đã đưa lên mạng thì bất cứ nơi đâu khi truy cập đều có thể nhận được Diện tích và thời lượng của báo điện tử là vô tận Nội dung thông tin phong phú vừa có tính chất rộng vừa có tính chất sâu của vấn đề phản ánh Thông tin
Trang 3121
trên báo điện tử đáp ứng trực tiếp và đầy đủ nhu cầu thông tin cho công chúng
ở mọi địa điểm và thời gian
Ngoài ra, thông tin trên báo mạng điện tử còn có khả năng lưu giữ cao Khi cần một thông tin nào đó, công chúng có thể dễ dàng tìm thông tin ấy trên báo điện tử mà không phải mất nhiều thời gian
- Mang tính giao tiếp trực tiếp
Do loại hình quy định, báo mạng điện tử là một phương tiện tạo khả năng giao tiếp Quá trình giao tiếp đại chúng có những yếu tố cơ bản như người phát, người nhận thông điệp, kênh, hiệu quả, sự phản hồi Ở đây, người phát là cơ quan báo điện tử gồm các biên tập viên, PV Người nhận là toàn bộ công chúng, những người tham gia vào quá trình truyền thông mà các
cơ quan báo điện tử hướng đến để tạo nên một hiệu quả nào đó
Ở khía cạnh khác, báo mạng điện tử mang tính giao tiếp trực tiếp cao Công chúng có thể được giải đáp thắc mắc một cách trực tiếp thông qua các diễn đàn của báo điện tử Giao tiếp trực tiếp của báo điện tử có thể thu nhận
và lưu trữ một số khối lượng thông tin lớn Nhờ tính giao tiếp trực tiếp mà thông tin trên báo điện tử luôn đa dạng sâu sắc và toàn diện nhờ được nhìn nhận đánh giá phân tích lý giải từ nhiều quan điểm, khía cạnh khác nhau
Tính giao tiếp trực tiếp còn có khả năng phá vỡ tính độc quyền trong thông tin bởi công chúng cũng là người được quyền thông tin Nhờ tính chất này mà thông tin trên báo điện tử luôn nóng hổi thời sự do mỗi ngày có đến hàng ngàn cộng tác viên ở mọi nơi cung cấp thông tin
- Ngôn ngữ chuyển tải thông tin là ngôn ngữ tổng hợp truyền thông đa phương tiện
Báo điện tử chuyển tải thông tin với ngôn ngữ mới, hấp dẫn là ngôn ngữ multimedia Đó là khả năng kết hợp văn bản chữ viết của báo giấy, âm
Trang 3222
thanh của báo nói và hình ảnh của báo hình một cách linh hoạt nhuần nhuyễn làm cho thông tin càng hấp dẫn và có giá trị cao
- Nội dung thông tin mang tính cá nhân hoá
Ngày nay, các phương tiện truyền thông đại chúng đang biến công chúng thành những khách hàng tiêu thụ thông tin bất đắc dĩ Sở dĩ như vậy vì các chương trình, các chuyên mục của các phương tiện này thường được dùng cho đại chúng mà ít chú ý đến tính cá nhân Những chương trình đại chúng này rất khó phân cấp, phân luồng cho từng lứa tuổi, giới hay trình độ của các lớp đối tượng Báo mạng điện tử đã khắc phục trình trạng đó bằng cách thông tin theo chuyên mục và phương pháp cuộn tròn Chính nhờ cách thông tin theo phương pháp này mà công chúng có thể tự lựa chọn bất cứ thông tin nào mà mình cần mà không phải tiếp nhận những thông tin không cần thiết khác
- Sự tổng hợp các loại hình thông tin, dịch vụ và các hoạt động xã hội
Báo mạng điện tử ngoài việc cung cấp thông tin còn có khả năng tổ chức các dịch vụ và các hoạt động xã hội khác như buôn bán, giáo dục, trao đổi thông tin, tri thức, các hoạt động từ thiện, các hoạt động xã hội khác ở tất cả mọi lĩnh vực của đời sống Mục tiêu của báo điện tử là chia sẻ và cung cấp thông tin cho người sử dụng trên nhiều lĩnh vực khác nhau như trao đổi kinh nghiệm, thành tựu khoa học, kết quả nghiên cứu, các hoạt động thương mại, quảng cáo, thông tin cá nhân cho nên báo điện tử là tổng hợp của hoạt động thông tin và dịch vụ
- Tổng hợp nhiều loại thông tin khác nhau
Hàng triệu người trên thế giới có thể trao đổi tri thức với nhau qua báo mạng điện tử Với báo mạng điện tử, biên giới địa chính trị chỉ còn mang ý nghĩa tượng trưng tương đối Bất cứ ở đâu người ta cũng có thể trao đổi kinh nghiệm tri thức, làm việc với nhau qua Internet
- Có tính phi định kỳ
Trang 3323
Báo mạng điện tử không có giới hạn về không gian và thời gian phát hành, không có kỳ hạn phát hành sản phẩm Những thông tin mới, thời sự luôn được cập nhật nhanh chóng và tức thời không giống các loại hình báo chí khác phải chờ đến thời điểm phát hành mới được phát hành Điều đó làm cho thông tin trên báo mạng điện tử liện tục được đổi mới, giúp cho người làm báo có khả năng sáng tạo và cập nhật thông tin nhanh, giúp cho độc giả tiếp cận thông tin nhanh và thời sự hơn các loại hình báo chí khác
- Có tính tương tác cao
Tính tương tác của báo mạng điện tử thể hiện qua việc người đọc báo, xem, nghe có thể truy xuất đồng thời đến nhiều nội dung trong một tờ báo, trong nhiều tờ báo hoặc nhiều nội dung cùng một chủ đề trong chính một tờ báo hoặc nhiều tờ báo khác nhau thông qua các liên kết Người đọc, xem, nghe có thể tham gia vào quá trình làm báo của báo mạng điện tử
- Khả năng lưu trữ thông tin lớn và tìm kiếm thông tin nhanh
Báo mạng điện tử có khả năng lưu trữ thông tin vô tận nhờ vậy khả năng tìm kiếm các thông tin, bài báo rất nhanh chóng và thuận tiện Mỗi tờ báo điện tử đều có các mục tìm kiếm Mục tìm kiếm có nhiều dạng phù hợp với các yêu cầu của người đọc: mục tìm kiếm từ khóa, mục tìm kiếm thời gian
và các liên kết đến các website khác
1.1.2.2 Quy trình sáng tạo tác phẩm báo chí trên báo mạng điện tử
Báo mạng điện tử ra đời muộn hơn các loại hình báo chí khác nên nó kế thừa và phát huy tính tích cực của các loại hình có trước Người ta gọi báo mạng điện tử là loại hình truyền thông đa phương tiện Nó bao gồm một phần của báo in, một phần của phát thanh và một phần của truyền hình Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí mới nhưng tích hợp trong nó là những ưu điểm vượt trội so với các loại hình báo chí truyền thống Trên sản phẩm báo mạng điện tử, có thể tồn tại các loại hình báo chí khác Chính vì sự đa dạng và
Trang 3424
khả năng liên kết, lưu trữ siêu việt của mình, báo mạng điện tử đã làm thay đổi thói quen tiếp cận sản phẩm báo chí của công chúng thông qua việc cho phép mọi người trên thế giới tiếp cận tin tức nhanh chóng không phụ thuộc vào không gian và thời gian
Hiện nay, báo mạng điện tử phần lớn khai thác khả năng chuyển tải thông tin báo in thông qua dạng văn bản được xuất bản trên mạng và công chúng tiếp thu thông qua màn hình máy tính, điện thoại di động Vì vậy, trong quy trình sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử, các bước tiến hành phụ thuộc nhiều vào những yếu tố kỹ thuật như việc thiết kế các giao diện, các phần mềm quản lý và xuất bản thông tin trên mạng Những yếu tố này tác động trực tiếp đến quy trình sáng tạo tác phẩm Theo PGS, TS Nguyễn Ngọc Oanh, các bước cơ bản trong quy trình sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử bao gồm 8 bước sau đây:
Một là, Tìm hiểu và nghiên cứu thực tế
Hai là, Chọn đề tài, chủ đề, tư tưởng chủ đề cho tác phẩm
Ba là, Thu thập thông tin, tổng hợp tư liệu, liên hệ với những người
liên quan để phỏng vấn, ghi âm hoặc tiến hành quay phim tại thực địa, thẩm định thông tin liên quan (sử dụng các phương pháp khai thác và thu thập thông tin báo chí)
Bốn là, Xem lại và xử lý các dữ liệu đã thu thập được (lựa chọn)
Năm là, Chuẩn định dạng các file văn bản, âm thanh, hình ảnh
Sáu là, Lựa chọn hình thức thể hiện tác phẩm hiệu quả nhất có thể và
tiến hành thể hiện tác phẩm (thể loại)
Bảy là, Duyệt và xuất bản (bao gồm duyệt nội dung và kỹ thuật)
Tám là, Lắng nghe thông tin phản hồi qua các kênh khác nhau
Đi sâu phân tích cụ thể về cách thức viết cho báo mạng điện tử, PGS,
TS Nguyễn Thị Trường Giang trong cuốn Sáng tạo tác phẩm báo mạng điện
Trang 3525
tử đã đặt ra những nguyên tắc cơ bản khi thể hiện tác phẩm báo mạng điện tử
“Các bài, tin đăng trên báo mạng điện tử nên viết ngắn gọn, súc tích hướng thẳng đến đối tượng, chủ đề của bài báo Viết dễ hiểu, cụ thể và rõ ràng Tránh cách diễn đạt gián tiếp, lòng vòng… Đưa thông tin quan trọng nhất lên đầu theo nguyên lý hình tháp ngược” [10, tr.11, 12] Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến việc đảm bảo nguyên tắc sử dụng các bài ngắn, đoạn ngắn, câu đơn giản; phần mào đầu phải dẫn dắt, lôi cuốn người đọc đến với toàn bộ
sự kiện; tăng cường thông tin lý giải và định hướng, tạo lập các lớp thông tin qua siêu liên kết
Đề cập về vấn đề kết hợp ngôn ngữ đa phương tiện trong tác phẩm báo mạng điện tử, tác giả nhận định: “Một sản phẩm báo chí đa phương tiện hiện nay bao gồm: văn bản (text), hình ảnh tĩnh và đồ họa (still image, graphic), hình ảnh động (video, animation) và các chương trình tương tác (interactive program) Như vậy, trên báo mạng điện tử hiện nay sử dụng nhiều phương tiện để chuyển tải thông tin và nhà báo phải luôn suy nghĩ đến điều này” [10,
tr 18]
Tác giả đã đặc biệt nhấn mạnh về tư duy của người làm báo trong sáng tạo tác phẩm báo mạng điện tử Chính vì sự tích hợp đa dạng của ảnh, video, audio, đồ họa… trên sản phẩm báo mạng điện tử nên PV phải luôn định hình tư tưởng tác nghiệp đa phương tiện trong quá trình thu thập thông tin
1.2 TBDĐ và sử dụng TBDĐ trong sáng tạo tác phẩm báo chí
1.2.1 Khái niệm, đặc điểm, phân loại TBDĐ
1.2.1.1 Khái niệm
Tác giả Nguyễn Hoàng Lan Chi trong luận văn thạc sỹ Báo chí học với
đề tài “Xu hướng phát triển báo mạng điện tử dành cho TBDĐ ở Việt Nam hiện nay” đã đưa ra khái niệm chung về TBDĐ Tác giả cho rằng: “TBDĐ (hay còn gọi là thiết bị cầm tay) được hiểu là thiết bị có kích thước nhỏ, phù
Trang 3626
hợp để cầm trên tay và có khả năng mang theo bên mình Một thiết bị cầm tay
có thể tích hợp nhiều tiện ích như: nghe gọi, phát nhạc, quay phim, chụp ảnh, gửi và nhận email, truy cập website…” [1, tr 9]
Theo nghiên cứu của luận văn, hiện nay trên trên thế giới xuất hiện một số loại TBDĐ có thể kể đến là: điện thoại di động, máy tính bảng, PDA hay E-Reader Trong cuốn “Báo chí truyền thông – Những vấn đề đương đại”,
TS Nguyễn Trí Nhiệm cũng cho rằng: “Bên cạnh việc truy cập báo mạng điện tử thông qua máy vi tính (desktop, laptop), công chúng cũng có thể truy cập ngay trên các TBDĐ như điện thoại di động, máy tính bảng, e-reader, PDA… Trong đó điện thoại di động và máy tính bảng là hai thiết bị được sử dụng nhiều nhất”
Từ những đánh giá trên, luận văn chia TBDĐ thành:
- Điện thoại di động (ĐTDĐ): là loại điện thoại nhỏ gọn, có thể bỏ túi
và mang theo bên mình mọi lúc mọi nơi, có khả năng truy cập Internet thông qua GPRS, 3G hoặc Wifi (mạng không dây) ĐTDĐ bao gồm ĐTDĐ thông thường và ĐTTM (TBDĐ) ĐTDĐ thông thường chủ yếu chỉ có các chức năng nghe, gọi, nhắn tin
Theo Wikipedia tiếng Việt, ĐTDĐ còn gọi là điện thoại cầm tay, là loại điện thoại kết nối dựa trên sóng điện từ vào mạng viễn thông Nhờ có kết nối sóng, còn gọi là kết nối không dây, mà ĐTDĐ thực hiện trao đổi thông tin khi đang di chuyển Phạm vi di chuyển mà vẫn giữ trao đổi thông suốt phụ thuộc vào vùng phủ sóng của nhà cung cấp dịch vụ, gọi gọn là nhà mạng Nhà cung cấp dịch vụ lắp đặt mạng lưới các trạm thu phát, mỗi trạm đảm bảo kết nối trong phạm vi 8 đến 13 km
Ngày 10 tháng 3 năm 1876 được coi là mốc son đánh dấu sự ra đời của điện thoại Cha đẻ của chiếc điện thoại đầu tiên là Alexander Graham Bell Chiếc máy thô sơ có thể truyền được giọng nói này đã mở ra một kỷ
Trang 3727
nguyên phát triển mới trong lịch sử thông tin liên lạc, thay thế cho điện tín Năm 1967, chiếc điện thoại được coi là “di động” đầu tiên trình làng với tên gọi Carry Phone, rất cồng kềnh cho việc di chuyển vì nó nặng đến 4,5 kg
Điện thoại di động chính thức ra đời vào ngày 3 tháng 4 năm 1973, mang tên Motorola Dyna Tac, phát minh bởi nhà sáng chế John F Mitchell và Martin Cooper Motorola Dyna Tac mang hình dáng gần giống điện thoại di động ngày nay mặc dù vẫn còn khá cồng kềnh (nặng khoảng 1 kg) và không phổ biến Từ đó đến nay, chiếc điện thoại di động phát triển không ngừng phát triển theo hướng nhỏ gọn hơn rất nhiều tổ tiên của nó và ngày càng được tích hợp nhiều chức năng hơn chứ không còn đơn thuần là nghe và gọi
- Máy tính bảng (tablet): thiết bị này có đặc điểm chính của một máy
tính cá nhân nhưng nhỏ, gọn hơn nhiều, có thể bỏ túi và mang theo bên mình mọi lúc, mọi nơi Trong từ điển tiếng anh, Tablet có nghĩa là “bảng viết” - một bề mặt phẳng được sử dụng để viết văn bản Tablet tên tiếng Anh đầy đủ
là Tablet Computer khi được dịch ra tiếng Việt nó có nghĩa là máy tính bảng Tablet được ra mắt vào khoảng những năm 2008-2009 nhằm chỉ những TBDĐ có màn hình cảm ứng từ 7 inch trở lên có chức năng như một chiếc điện thoại cộng với một chiếc máy tính Các định nghĩa về Tablet đều xoay quanh khái niệm về máy tính cá nhân như sau: Tablet cho phép người dùng ghi chép lền màn hình bằng ngón tay hoặc bút nhập liệu Kích cỡ và độ dày của Tablet PC tương tự như một quyển sổ notepad
Cũng như TBDĐ, máy tính bảng được trang bị một màn hình cảm ứng
và được thiết kế để kết nối Internet thông qua mạng Wifi hoặc các gói cước 3G, 4G từ các nhà mạng viễn thông
- Một số TBDĐ khác: PDA (Personal Digital Assitant) là một loại thiết
bị số hỗ trợ cá nhân PDA được xem là các thiết bị cầm tay vốn được thiết kế như một cuốn sổ tay cá nhân và ngày càng tích hợp thêm nhiều chức năng
Trang 3828
Một PDA cơ bản thường có đồng hồ, sổ lịch, sổ địa chỉ, danh sách việc cần làm, sổ ghi nhớ, và máy tính bỏ túi Hiện nay, với sự tích hợp phong phú các tính năng cũng như hệ thống ứng dụng khổng lồ, TBDĐ và máy tính bảng đã khiến cho các thiết bị chỉ hỗ trợ cá nhân trở nên không còn cần thiết Thực tế
là hiện nay đã không còn sản phẩm hỗ trợ cá nhân thuần túy nào tồn tại trên thị trường
- E – Reader là một loại thiết bị đọc sách điện tử cầm tay chuyên dụng Khi đã sở hữu một thiết bị đọc sách chuyên dụng, người sử dụng chỉ cần thực hiện qua vài động tác đơn giản, như kết nối Internet, tìm kiếm tựa sách và tải
về, là lập tức có thể đọc ngay mà không còn mất thời gian tìm mua những
quyển sách thật Đa phần các e-reader có mặt trên thị trường hiện nay đều đã sử
dụng công nghệ hiển thị e-ink thay thế cho công nghệ màn hình LCD thế hệ cũ
1.2.1.2 Đặc điểm của thiết bị di động
Năm 1993, thiết bị không dây đầu tiên - IBM Simon được xem là chiếc TBDĐ đầu tiên trên thế giới đã ra đời tại hội chợ COMDEX diễn ra ở Las Vegas (Mỹ) Mặc dù là một chiếc điện thoại di động, nhưng lại có kích thước tương đương với chiếc máy tính bảng Nexus 7 ngày nay Với trọng lượng lên đến gần 0,6kg, máy được trang bị vi xử lý tốc độ 16MHz, 1MB bộ nhớ RAM cùng 1MB ổ cứng lưu trữ, màn hình cảm ứng rộng 4.5-inch, hỗ trợ viết stylus Tuy nhiên điểm khác biệt đó là màn hình cảm ứng trên Simon chỉ hiển thị đơn sắc và hoạt động trên hệ điều hành là một biến thể của hệ điều hành DOS, có tên gọi ROM-DOS
Về tính năng, Simon cũng có thể thực hiện các cuộc gọi, gửi hay nhận email và thậm chí là gửi hay nhận fax, một điều mà TBDĐ ngày nay chưa làm được Bên cạnh đó, máy còn được trang bị các ứng dụng như sổ địa chỉ, lịch, máy tính, đồng hồ thế giới, nhận diện chữ viết tay lên màn hình cảm ứng Thậm chí, người dùng cũng có thể cài đặt thêm ứng dụng được phát triển từ
Trang 3929
bên thứ 3, giống với TBDĐ ngày nay Trên thực tế, mặc dù khái niệm
“TBDĐ” vào thời điểm Simon ra mắt vẫn chưa xuất hiện, tuy nhiên giới công nghệ vẫn thừa nhận rằng Simon chính là chiếc TBDĐ đầu tiên trên thế giới
Năm 1996, Palm Pilot là thiết bị đầu tiên có thể đồng bộ với hệ điều hành Windows Hai năm sau, Nokia 9110 Communicator đặt nền móng cho TBDĐ với thiết kế bàn phím QWERTY gập cùng nhiều trò chơi mới được cập nhật, do đó đã tạo thói quen giải trí trên chiếc điện thoại cá nhân cho người dùng Bên cạnh đó, máy có 32 bit bộ xử lý Intel 24MHz Những năm
đầu thế kỷ 21, BlackBerry nổi lên với các thiết bị có thể gửi email và cho
phép người dùng lướt Internet Hệ điều hành OS của BlackBerry được người
sử dụng đánh giá là có khả năng nhận và gửi email tiện lợi và tức thời
Tuy nhiên, phải đến năm 2007, ĐTTM “đúng nghĩa” – iPhone ra đời Iphone thế hệ đầu tiên không sử dụng bút cảm ứng dù được trang bị màn hình lớn (3,5 inch) nhưng lại gây ấn tượng nhờ tính năng cảm ứng đa điểm, cho phép người dùng tác động nhiều ngón tay để thao tác trên màn hình Dù thiếu
đi một số tính năng cần thiết như quay video, cắt/dán văn bản hay hoạt động
đa nhiệm nhưng iPhone thế hệ đầu vẫn tạo nên một cuộc cách mạng về trải nghiệm người dùng với giao diện dễ hiểu, dễ thao tác trên một màn hình cảm ứng lớn và có độ nhạy tuyệt vời Sự ra đời của Iphone đã tạo nên cuộc cách mạng công nghệ to lớn nhất trong lịch sử TBDĐ Từ đó đến nay, 7 thế hệ Iphone đã lần lượt xuát hiện với những tính năng ngày càng hiện đại TBDĐ với hệ điều hành mở ngày càng thay đổi cách thức truyền thông và nhu cầu
tiếp nhận thông tin
Từ năm 2007 đến năm 2008, các hệ điều hành được sử dụng nhiều nhất cho ĐTTM là Symbian, Blackberry Nhưng cùng thời điểm này Google cũng
đã giới thiệu Android, một mã nguồn mở hệ thống điều hành ĐTTM chiếm
Trang 40hệ điều hành di động với nhiều tính năng hỗ trợ tiên tiến về điện toán và kết nối dựa trên nền tảng cơ bản của ĐTDĐ thông thường ĐTTM ngày nay bao gồm tất cả chức năng của laptop như duyệt web, kết nối Wifi, các ứng dụng của bên thứ ba trên di động và các phụ kiện đi kèm cho máy Những ĐTTM phổ biến nhất hiện nay dựa trên nền tảng của hệ điều hành Android của Google và iOS của Apple ĐTTM có thể tiến hành đa tác vụ: gửi và nhận email, truy cập Internet… và hoàn toàn có thể thay đổi các TBDĐ truyền thống, thậm chí có thể thay thế xử lý các vấn đề máy tính văn phòng So với điện thoại tiêu chuẩn, ĐTTM thường có màn hình lớn hơn và bộ vi xử lý mạnh mẽ hơn Các ứng dụng được viết cho các nền tảng ĐTTM có thể chạy trên bất kỳ TBDĐ nào tích hợp nền tảng đó
TBDĐ là một loại ĐTDĐ với một hệ điều hành tiên tiến kết hợp tính năng của một hệ điều hành máy tính cá nhân với các tính năng hữu ích khác của thiết bị cầm tay TBDĐ có thể duy trì một thời gian kết nối liền mạch với mạng dữ liệu, đồng thời có thể vô hiệu hóa mạng bất cứ lúc nào Đặc biệt là khả năng đồng bộ hóa dữ liệu với máy tính để bàn, máy tính xách tay và các TBDĐ khác
TBDĐ sở hữu tính năng của một chiếc điện thoại di động, chẳng hạn như khả năng thực hiện và nhận các cuộc gọi thoại và tạo và nhận tin nhắn văn bản, với những tính năng phổ biến của kỹ thuật số cá nhân, chẳng hạn như lên lịch sự kiện, nghe nhạc, chơi game, định vị GPS, máy ảnh và máy quay kỹ thuật số Hầu hết các ĐTTM có thể truy cập Internet và có thể chạy