Tính cấp thiết của đề tài Trong nền báo chí Việt Nam, báo mạng điện tử tuy ra đời sau những loại hình báo chí khác nhưng đã nhanh chóng phát triển về số lượng, chất lượng và ngày càng k
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Phạm Thị Thanh Tịnh
HÀ NỘI - 2017
Trang 3luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày 19/8/2017 CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 4Tôi xin cam đoan nội dung, kết quả nghiên cứu trong luận văn này là quá trình lao động khoa học nghiêm túc của bản thân và chưa từng công bố trên bất kỳ phương tiện truyền thông nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Ngọc Huyền
Trang 5Tôi xin trân trọng cảm ơn TS.Phạm Thị Thanh Tịnh đã nhiệt tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin trân trọng cám ơn các thầy, cô ở Khoa Phát Thanh – Truyền hình, Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý giá và phương pháp nghiên cứu khoa học bổ ích
Nhân đây, tôi xin gửi lời cám ơn đến Phòng Đào tạo Sau đại học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, các thầy, cô phụ trách công tác giáo vụ
đã giúp đỡ, tạo điều kiện để chúng tôi hoàn thành khóa học đúng tiến độ và chất lượng
Xin cảm ơn các anh, chị tại báo điện tử Giáo dục Việt Nam đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Hà Nội, tháng 6 năm 2017
Tác giả luận văn Nguyễn Thị Ngọc Huyền
Trang 6Đại học, Cao đẳng ĐH, CĐ
Trang 7MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THÔNG TIN ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TRÊN BÁO CHÍ 11
1.1 Một số khái niệm liên quan 111.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới giáo dục 301.3 Thực tiễn về vấn đề đổi mới giáo dục ở nước ta từ năm 2014 đến nay 35 1.4 Yêu cầu đối với thông tin về đổi mới giáo dục trên báo chí…… …….42
Chương 2: THỰC TRẠNG THÔNG TIN VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ GIÁO DỤC VIỆT NAM 49
2.1 Giới thiệu báo điện tử Giáo dục Việt Nam 49 2.1.1 Sơ lược về báo điện tử Giáo dục Việt Nam……… … 49 2.1.2 Cơ sở để báo điện tử Giáo dục Việt Nam đưa tin về đổi mới giáo dục.54 2.2.Khảo sát thông tin về đổi mới giáo dục trên báo Giáo dục Việt Nam 55 2.2.1 Tần suất thông tin về đổi mới giáo dục trên báo Giáo dục Việt Nam 55 2.2.2 Nội dung thông tin về đổi mới giáo dục trên báo Giáo dục Việt Nam 57 2.2.3 Hình thức thể hiện thông tin về đổi mới giáo dục trên báo Giáo dục Việt Nam 752.2.4 Đánh giá chung 96
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN VỀ ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ GIÁO DỤC VIỆT NAM 105
3.1 Những vấn đề đặt ra 105
Trang 8KẾT LUẬN 130 TÀI LIỆU THAM KHẢO 132 PHỤ LỤC 136
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền báo chí Việt Nam, báo mạng điện tử tuy ra đời sau những loại hình báo chí khác nhưng đã nhanh chóng phát triển về số lượng, chất lượng và ngày càng khẳng định được vị trí của mình trong đời sống báo chí, đời sống xã hội của đất nước Từ cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, mạng Internet
ra đời và tác động mạnh mẽ tới mọi mặt của đời sống con người,báo chí cũng không ngoại lệ Hệ quả tất yếu là một sản phẩm kết hợp giữa báo chí – Internet: báo mạng điện tử ra đời, đã và đang làm thay dổi không nhỏ boojo mặt của báo chí thế giới Báo mạng điện tử ra đời và phát triển, giúp đẩy nhanh tốc độ cập nhật thông tin một cách liên tục, với mọi hình thức đến với công chúng Với ưu thế vượt trội là sự tích hợp đa phương tiện, báo mạng điện tử đã đem lại nhiều thông tin hữu ích, thiết thực cho cuộc sống của con người trong thời buổi hội nhập, mở cửa như hiện nay Sự phát triển của báo mạng là sự phát triển của ngành công nghệ thông tin trong xã hội hiện đại, và dịch vụ internet tạo nên một mạng thông tin báo chí điện tử sôi động có sức thu hút hàng triệu lượt người truy cập Ở bất kỳ đâu, chúng ta cũng có thể sử dụng máy tính, laptop hay điện thoại di động có kết nối internet để thỏa sức tìm kiếm các thông tin trên các trang báo mạng, trong tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… vì vậy bất kỳ thông tin nào được đăng tải trên báo mạng điện tử cũng sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của dời sống nhân dân
Báo chí Việt Nam trong thời gian gần đây đặc biệt quan tâm tới vấn đề thông tin về đổi mới giáo dục Giáo dục là lĩnh vực ảnh hưởng rất lớn tới sự nghiệp “trồng người” cũng như sự phát triển của đất nước Đảng và Nhà Nước ta luôn luôn quan tâm đến sự nghiệp chăm sóc và phát huy yếu tố con
Trang 10người Điều đó xuất phát từ nhận thức sâu sắc những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của yếu tố con người, chủ thể của tất cả những sáng tạo, những nguồn của cải vật chất và văn hóa, những nền văn minh của các quốc gia Xây dựng và phát triển con người có trí tuệ cao, cường tráng về thể chất, phong phú về tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực đồng thời cũng là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội Để đạt được điều đó, giáo dục - đào tạo có vai trò quyết định Loài người đang bước sang thế kỉ XXI, thế kỉ mà trí tuệ đóng vai trò quyết định Vì vậy hơn bao giờ hết các quốc gia đang dành nguồn nhân lực tối đa cho phát triển, nâng cao chất lượng của giáo dục quốc dân
Nhận thức vai trò của giáo dục - đào tạo, Nghị quyết của Hội nghị ban Chấp hành Trung ương lần thứ 2 (khóa VIII) đã khẳng định: "Thực sự coi giáo dục - đào tạo là quốc sách hàng đầu Nhận thức sâu sắc giáo dục - đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế
và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục - đào tạo là đầu tư phát triển." (Nghị quyết Trung ương 2, khóa VIII, trang 29 - 30)
Trong thời gian qua, giáo dục Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu, kết quả, góp phần quan trọng vào thắng lợi của công cuộc xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, giáo dục đã bộc lộ những yếu kém, bất cập, trong đó có những vấn đề gây bức xúc xã hội kéo dài, chưa đáp ứng được yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế Những đổi mới giáo dục trong thời gian qua thiếu đồng bộ, còn chắp vá; nhiều chính sách, cơ chế, giải pháp về giáo dục đã từng có hiệu quả, nay trở nên không còn phù hợp với giai đoạn phát triển mới của đất nước, cần được điều chỉnh, bổ sung
Trước thực tế trên, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã xác định: "Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục theo hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế" và "phát triển
Trang 11nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân"
Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục là một công việc hết sức trọng đại Chính bởi vậy, đổi mới giáo dục là một trong những đề tài thu hút nhiều sự quan tâm của công chúng và cũng đã gây ra nhiều tranh cãi trong suốt những năm gần đây Do đó không ít các tờ báo đã khai thác, tìm hiểu, đăng tải thông tin khá kỹ lưỡng về nội dung này, cung cấp cho độc giả mọi thông tin về từng bước phát triển, thực hiện đổi mới giáo dục Trong đó có tờ báo không thể không nhắc đến là báo điện tử Giáo dục Việt Nam Tuy nhiên, các thông tin
về đổi mới giáo dục trên báo Giáo dục Việt Nam vừa có những ưu điểm vừa
có những hạn chế nhất định Báo Giáo dục Việt Nam đã góp phần tuyên truyền, quán triệt sâu rộng các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các định hướng và nhiệm vụ chủ yếu của ngành về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Báo Giáo dục Việt Nam đã góp phần mở rộng tầm nhìn cho công chúng, cung cấp thông tin nhằm giúp công chúng nắm được tiến trình đổi mới giáo dục ở nước ta; thống nhất về nhận thức, tạo sự đồng thuận và huy động
sự tham gia đánh giá, giám sát và phản biện của toàn xã hội đối với công cuộc đổi mới, phát triển giáo dục Nhưng bên cạnh đó, báo Giáo dục Việt Nam vẫn còn những hạn chế nhất định trong thông tin về đổi mới giáo dục như hình thức thông tin còn kém hấp dẫn, thông tin còn hời hợt, kém chất lượng
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt giữa các tờ báo, các kênh truyền thông như hiện nay, việc nhìn nhận, đánh giá và nâng cao chất lượng thông tin về đổi mới giáo dục là yêu cầu hết sức cần thiết Trong luận văn, tác giả đã khảo sát nội dung và hình thức thông tin về đổi mới giáo dục trên báo Giáo dục Việt Nam Trên cơ sở phân tích những thành công và hạn chế, luận văn sẽ đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin về đổi mới giáo dục trên tờ báo này
Trang 12Chính vì những lý do như trên, tác giả đã chọn đề tài: “Thông tin về đổi
mới giáo dục trên báo điện tử Giáo dục Việt Nam - khảo sát năm 2014” làm
luận văn thạc sĩ
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Đến nay mới chỉ có các công trình nghiên cứu về giáo dục nói chung, hoặc nghiên cứu về đổi mới giáo dục nhưng trong phạm vi nghiên cứu của ngành sư phạm
- Các văn kiện của Đảng, Nhà nước và Chính phủ về đổi mới giáo dục,
như: Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), lần VII (1991), lần thứ VIII (1996), lần thứ IX (2001), lần thứ X (2006), lần thứ XI (2011); Đề án đổi mới giáo dục đại học Việt Nam 2006-2020
Quyết định 150/QĐ-TTg năm 2016 phê duyệt Đề án Truyền thông về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và dạy nghề do Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 21/01/2016 và có hiệu lực từ ngày 21/01/2016 Đề án này bám sát nội dung của Nghị quyết số 44/NQ-CP ngày 09 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ và Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Quyết định nêu rõ cần tiếp tục tuyên truyền nội dung về: 1.Quan điểm chỉ đạo, yêu cầu, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, kết quả, kinh nghiệm của đổi mới căn bản toàn diện giáo dục, đào tạo và dạy nghề trên cả nước; 2 Mô hình, cách thức thực hiện các nhiệm vụ, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các doanh nghiệp, các gia đình trong việc tích cực thực hiện xã hội hóa giáo dục; tham gia tạo các nguồn lực phát triển giáo dục, đào tạo và dạy nghề trong
cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, xã hội học tập và học tập suốt đời; 3 Các nội dung đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, như: Chương trình và phương pháp dạy và học; hình thức và phương pháp tuyển sinh, thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục và đào tạo, giáo dục nghề nghiệp; hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc
Trang 13dân Trong đó, đặc biệt nhấn mạnh cần tuyên truyền qua các cơ quan báo chí: Chú trọng tuyên truyền qua kênh truyền hình quốc gia về giáo dục Xây dựng chuyên mục, chuyên đề, chương trình về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và dạy nghề trên các kênh chương trình quảng bá tại các đài phát thanh, đài truyền hình trung ương và địa phương Mở chuyên trang, chuyên mục, chuyên đề về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo và dạy nghề trên các báo, tạp chí in, báo điện tử
- Các bài viết, kỷ yếu hội thảo:
Hội Khoa học Tâm lý - Giáo dục Việt Nam, Đại học Thái Nguyên
(2012), Kỷ yếu Hội thảo khoa học: "Giải pháp đột phá đổi mới căn bản và
toàn diện nền giáo dục Việt Nam"
Bài viết “Đổi mới tư duy làm báo chí giáo dục để phục vụ tốt hơn sự
nghiệp phát triển giáo dục” của TS Nguyễn Gia Cầu đăng trên Tạp chí giáo
dục 2010, số số 240 (tr.1-2, 5), đã nêu rõ vai trò của giáo dục và báo chí giáo dục trong nền kinh tế thị trường Tác giả làm rõ nững áp lực và khó khăn đối với việc làm báo chí giáo dục Tuy nhiên, hoạt động báo chí giáo dục vẫn phải tuân theo tôn chỉ mục đích, phải tác động tích cực đến quá trình đổi mới giáo dục Tác giả cũng chỉ ra, những năm qua, các bài viết, công trình nghiên cứu dăng tải trên báo chí giáo dục đã cố gắng làm sáng tỏ luận điểm giáo dục, dạy học phát huy tính tự giác của học sinh Tác giả cũng khẳng định trên cơ sở định hướng tuyên truyền đúng dắn, báo chí giáo dục mới góp phần quan trọng tạo sự thống nhất nhận thức, sự đồng thuận trong nhân dân để tháo gỡ những vấn đề mới và khó của giáo dục
- Luận án, luận văn:
Luận văn "Báo Giáo dục và Thời đại với việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học ở nước ta hiện nay" của tác giả Trần Việt Hoa năm 2007
đã bàn về vai trò của báo chí trong công tác tuyên truyền nâng cao chất
Trang 14lượng giáo dục đại học, khảo sát báo Giáo dục và Thời đại, đánh giá vai trò của tờ báo này đối với việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học, đề xuất một
số giải pháp để tờ báo nâng cao hiệu quả tuyên truyền cho chất lượng giáo dục đại học
Luận văn "Báo chí với tuyên truyền chống tiêu cực trong giáo dục" của tác giả Đỗ Thị Việt Oanh, năm 2008, đã bàn về vai trò của báo chí trong công tác tuyên truyền chống tiêu cực trong giáo dục, thực trạng tuyên truyền chống tiêu cực trong giáo dục của báo chí, đồng thời đưa ra các giải pháp nâng cao chất lượng tuyên truyền chống tiêu cực trong giáo dục trên báo chí
Luận văn "Báo in Việt Nam trong công cuộc đổi mới giáo dục hiện nay" của tác giả Văn Phương Hoa, năm 2010, đã khảo sát các bài báo có nội dung liên quan đến đổi mới giáo dục trên 3 tờ báo: báo Giáo dục và Thời đại, Lao động, Tuổi trẻ TP Hồ Chí Minh, trong thời gian từ tháng 1/2008 đến tháng 6/2009, đánh giá và nhận xét về nội dung, hình thức phản ánh các vấn
đề đổi mới giáo dục trên 3 tờ báo này; rút ra những kinh nghiệm, đề xuất những kiến nghị, giải pháp để nâng cao hiệu quả tuyên truyền các vấn đề đổi mới giáo dục trên báo in hiện nay
Luận văn “Kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục đào tạo ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Nguyễn Lương Bằng, năm
2011 bàn về lý luận về sự kết hợp truyền thống và hiện đại trong quá trình đổi mới giáo dục đào tạo ở Việt Nam Những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo con người đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Luận văn “Đổi mới hoạt động kiểm tra - đánh giá kết quả học tập môn vật lý của học sinh dự bị đại học dân tộc với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin” năm 2011 của tác giả Lê Thị Thu Hiền, đã đề xuất một số biện pháp khả
Trang 15thi đổi mới hoạt động kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh dự bị đại học dân tộc với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
Luận văn “Đổi mới chương trình giáo dục thể chất cho sinh viên các trường đại học sư phạm vùng Trung Bắc theo hướng bồi dưỡng nghiệp vụ tổ chức hoạt động thể dục thể thao trường học” năm 2013 của tác giả Lê Trường Sơn Chấn Hải, đã đánh giá thực trạng thực hiện chương trình giáo dục thể chất nội khóa trong các trường đại học, cao đẳng sư phạm nói chung và vùng Trung Bắc nói riêng, đưa ra phương pháp đổi mới chương trình giáo dục thể chất cho sinh viên các trường đại học sư phạm vùng Trung Bắc Việt Nam
Tuy nhiên, đó mới chỉ là các công trình nghiên cứu về đổi mới giáo dục thuộc chuyên ngành sư phạm Tới nay hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu thông tin về đổi mới giáo dục đăng tải trên báo chí Do đó tác giả luận văn gặp không ít khó khăn trong việc tìm kiếm tài liệu
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
– Mục đích
Trên cơ sở tìm hiểu rõ những thông tin về đổi mới giáo dục trên báo điện tử Giáo dục Việt Nam về nội dung và hình thức, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin về đổi mới giáo dục trên báo Giáo dục Việt Nam
– Nhiệm vụ nghiên cứu
Thứ nhất, nhiệm vụ của tác giả trong luận văn này là hệ thống các vấn
đề lý luận về thông tin, thông tin báo chí, báo điện tử, giáo dục, đổi mới giáo dục và thông tin về đổi mới giáo dục; phân tích quan điểm của Đảng,Nhà nước về đổi mới giáo dục; tầm quan trọng của việc đăng tải thông tin về đổi mới giáo dục trên báo chí; thực tiễn vấn đề đổi mới giáo dục ở nước ta từ năm
2014 đến nay
Trang 16Thứ hai, tác giả khảo sát tần suất, nội dung và hình thức trong các
thông tin về đổi mới giáo dục trên báo Giáo dục Việt Nam trong năm 2014 Qua đó, đánh giá những ưu điểm và hạn chế còn tồn tại
Thứ ba, luận văn có nhiệm vụ đưa ra các giải pháp nhằm đẩy mạnh chất
lượng, hiệu quả việc đưa thông tin về đổi mới giáo dục trên báo điện tử Giáo dục Việt Nam, bao gồm những giải pháp chung và giải pháp cụ thể
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
– Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thông tin về đổi mới giáo dục trên báo điện tử Giáo dục Việt Nam
– Phạm vi nghiên cứu
Đề tài thực hiện khảo sát tại báo điện tử Giáo dục Việt Nam
Về thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu trong thời gian trong năm 2014
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
– Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh và trên cơ sở đường lối, Nghị quyết của Đảng ta để khảo sát đánh giá đối tượng
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu liên quan đến thể loại báo mạng điện tử, liên quan đến đổi mới giáo dục nhằm tìm hiểu nguồn gốc vấn
đề, có thêm kiến thức về đổi mới giáo dục, tránh trùng lặp với các bài viết, các công trình nghiên cứu đã có trước đây
Trang 17Phương pháp phân tích được dùng để phân tích nội dung, hình thức các thông tin về đổi mới giáo dục trên báo điện tử Giáo dục Việt Nam, nhận diện các ưu điểm, hạn chế của thông tin về đổi mới giáo dục trên báo điện tử Giáo dục Việt Nam
Phương pháp phỏng vấn sâu các nhóm: Nhóm quản lý báo chí (2 người) nhằm lấy ý kiến của những nhà quản lý xem họ nhìn nhận như thế nào
về thông tin đổi mới giáo dục trên báo chí nói chung và báo Giáo dục Việt Nam nói riêng, định hướng phát triển thông tin này Nhóm phóng viên (3 người) nhằm tìm hiểu quy trình đưa tin về đổi mới giáo dục, những thuận lợi, khó khăn và những kinh nghiệm trong quá trình đưa tin, viết bài Nhóm công chúng (3 người) nhằm lấy ý kiến xem họ nhìn nhận như thế nào về thông tin đổi mới giáo dục trên báo Giáo dục Việt Nam, có hấp dẫn hay không Qua đó gợi mở các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin đổi mới giáo dục trên báo Giáo dục Việt Nam
Ngoài ra, tác giả luận văn còn sử dụng các phương pháp đối chiếu, so sánh, phương pháp thống kê, nhằm có những luận cứ sinh động, rút ra những kết luận mang tính khoa học và có ý nghĩa thực tiễn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
– Ý nghĩa lý luận
Hiện nay, Việt Nam hầu như chưa có công trình nghiên cứu kỹ lưỡng
về đổi mới giáo dục nói chung và thông tin về vấn đề này trên báo chí nói riêng Do đó, về mặt khoa học, luận văn sẽ góp phần vào việc nghiên cứu thực trạng đưa thông tin về đổi mới giáo dục trên báo chí nói chung và tờ báo điện
tử Giáo dục Việt Nam nói riêng
– Ý nghĩa thực tiễn
Trang 18Đề tài cung cấp cái nhìn cụ thể về thực tiễn về việc đăng tải thông tin
về đổi mới giáo dục trên báo chí của nước ta hiện nay, làm rõ vai trò của báo chí trong việc thông tin về đổi mới giáo dục, chỉ ra tầm quan trọng của thông tin về đổi mới giáo dục Chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và rút ra kinh nghiệm
để thực hiện tốt hơn trong thời gian tiếp theo, nhằm nâng cao chất lượng thông tin về đổi mới giáo dục Bên cạnh đó, luận văn giúp các phóng viên, biên tập viên báo mạng điện tử nói chung và báo điện tử Giáo dục Việt Nam nói riêng có thêm nhận thức về thông tin đổi mới giáo dục để có những bài viết chất lượng hơn về đề tài này
Với kết quả nghiên cứu đạt đươc, luận văn có thể là tài liệu tham khảo trong công tác nghiên cứu, học tập về việc đăng tải thông tin đổi mới giáo dục trên báo chí nước ta hiện nay
7 Kết cấu của luận văn
Đề tài bao gồm 3 chương, phần mở đầu và phần kết luận
Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thông tin đổi mới giáo dục trên báo chí
Chương 2: Thực trạng thông tin về đổi mới giáo duc trên báo điện tử Giáo dục Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng thông tin về đổi mới giáo dục trên báo điện tử Giáo dục Việt Nam
Trang 19Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THÔNG
TIN ĐỔI MỚI GIÁO DỤC TRÊN BÁO CHÍ 1.1 Một số khái niệm liên quan
1.1.1 Thông tin
Ngày nay, trong đời sống hàng ngày, ở đâu ta cũng thấy người ta nói tới thông tin: thông tin là nguồn lực của sự phát triển; chúng ta đang sống trong thời đại thông tin; một nền công nghiệp thông tin, một xã hội thông tin đang hình thành,…
Quả thật thông tin là khái niệm cơ bản của khoa học cũng là khái niệm trung tâm của xã hội trong thời đại chúng ta Mọi quan hệ, mọi hoạt động của con người đều dựa trên một hình thức giao lưu thông tin nào đó Mọi tri thức đều bắt nguồn bằng một thông tin về những điều đã diễn ra, về những cái người ta đã biết, đã nói, đã làm Hiểu khái quát, thông tin là lượng tri thức mà người này hoặc đối tượng này muốn chuyển cho người khác hoặc đối tượng khác, là cái mà A nghĩ là B chưa biết và cần biết, B muốn biết và A muốn chuyển Nhưng hiện nay có rất nhiều cách hiểu về thông tin
Theo nghĩa thông thường, thông tin là tất cả các sự kiện, sự việc, ý tưởng, phán đoán làm tăng thêm sự hiểu biết của con người Thông tin hình thành trong quá trình giao tiếp: một người có thể nhận thông tin trực tiếp từ người khác thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, từ các ngân hàng dữ liệu hoặc từ tất cả các hiện tượng quan sát được trong môi trường xung quanh
Theo quan điểm triết học, thông tin là sự phản ánh của tự nhiên và xã hội (thế giới vật chất) bằng ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh…hay nói rộng hơn bằng tất cả các phương tiện tác động lên giác quan của con người Nội dung của thông tin chính là những thuộc tính, tính chất vốn có của sự vật với các sự vật hiện tượng được bộc lộ ra, thể hiện thông qua tác động qua lại của sự vật
Trang 20ấy với sự vật khác Thông tin luôn gắn với quá trình phản ánh Những dấu ấn
để lại chính là những thông tin của hệ thống vật chất này đối với hệ thống vật chất khác Phản ánh của vật chất là phản ánh thông tin, không có thông tin chung chung mà thông tin là thông tin về sự vật này đối với sự vật khác
Thông tin mang lại cho con người sự hiểu biết, nhận thức tốt hơn về những đối tượng trong đời sống xã hội, trong thiên nhiên, giúp cho họ thực hiện hợp lý công việc cần làm để đạt tới mục đích một cách tốt nhất
Bản chất của thông tin nằm trong sự giao lưu của nó Tức là thông tin chỉ có giá trị và ý nghĩa khi nó được truyền đi, phổ biến và được sử dụng Nói cách khác thuộc tính cơ bản của thông tin là giao lưu
Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Hồng Đức, 2008, thì thông tin với nghĩa là động từ là truyền tin cho nhau để biết; và với nghĩa danh từ là điều được truyền đi cho biết, tin truyền đi (ví dụ bài báo có lượng thông tin cao) [15, tr.853] Thông tin giúp làm tăng hiểu biết của con người, là nguồn gốc của nhận thức và là cơ sở của quyết định
Theo cuốn “Thuật ngữ báo chí - truyền thông”, thông tin có tiếng anh là
“Information”, từ nguyên gốc Latinh là “information” có nghĩa là quan niệm, hình ảnh, sự lý giải; “informare” có nghĩa là sự tạo hình thức phản ánh “Từ góc độ nhận thức luận, thông tin là kết quả của sự phản ánh hiện thực khách quan, được biểu hiện bằng các hệ thống ngôn từ, ký hiệu, hình ảnh, Thông tin đồng nghĩa với các hình thái tri thức mới mẻ, có giá trị phát triển sự hiểu biết của con người Từ góc độ khoa học kỹ thuật, thông tin là số liệu, dẫn liệu
mà ta có thể lấy ra phân tích, so sánh, phân loại, giải thích, khái quát, tổ chức lại, từ đó mà rút ra được những ý nghĩa, giá trị nào đó về tính chất, đặc trưng của các sự vật, hiện tượng nào đó cũng như các quy luật tồn tại và vận động của chúng.” (11, tr.185)
Trang 21Theo Philipppe Breton và Serge Proulx trong cuốn sách “Bùng nổ truyền thông - sự ra đời một ý thức hệ mới”, khái niệm thông tin có hai hướng nghĩa: Thứ nhất là, nói về một hành động cụ thể để tạo ra một hình thái, thứ hai là, nói về sự truyền đạt một ý tưởng, một khái niệm hay biểu tượng Hai hướng nghĩa này cùng tồn tại, một nhằm vào sự tạo lập cụ thể, một nhằm vào sự tạo lập kiến thức và truyền đạt Nó thể hiện sự gắn kết của hai lĩnh vực kỹ thuật và kiến thức [22, tr.75]
Như vậy, thông tin được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, đó chính là nội
dung thông tin; Thứ hai, đó là phương tiện thông báo, báo tin
Cách hiểu này phù hợp với khái niệm thông tin nêu trong phần mở đầu
“Chiến lược phát triển thông tin đến năm 2010” ban hành kèm theo Quyết định số 219/2005/QĐ – TTg ngày 9/9/2005 của Thủ tướng Chính phủ:
“Thông tin được coi là một nhu cầu thiết yếu trong đời sống xã hội, là công cụ
để điều hành, quản lý, chỉ đạo của mỗi quốc gia, là phương tiện hữu hiệu để
mở rộng giao lưu hiểu biết giữa các quốc gia, dân tộc, là nguồn cung cấp tri thức mọi mặt cho công chúng và là nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội”
Đặc biệt, Chiến lược phát triển thông tin đã nêu lên một luận điểm quan trọng về vai trò của thông tin trong đời sống xã hội: Sự chênh lệch về trình độ phát triển thông tin giữa các nước là một đặc điểm về quy mô và trình độ phát triển trong thời kỳ cách mạng khoa học và công nghệ Nước nào không vượt qua được những thách thức về thông tin, nước đó mất cơ hội phát triển và có nguy cơ mất khả năng tự chủ Thiếu thông tin, sẽ gặp khó khăn trong việc đưa
ra các quyết định hoặc các quyết định sẽ bị sai lệch, thiếu cơ sở khoa học, không thực tiễn và trở nên kém hiệu quả
Trong đời sống con người, nhu cầu thông tin là một nhu cầu rất cơ bản Nhu cầu đó không ngừng tăng lên cùng với sự gia tăng các mối quan hệ trong
xã hội Thông tin tiềm tàng khắp nơi trong xã hội, đó là thông tin về lao động,
Trang 22đất đai, môi trường, hoạt động kinh tế, xã hội,… trong đó, thông tin báo chí
đã được hình thành
Trong luận văn, khái niệm “thông tin” được hiểu là những tin tức được
thông báo, đăng tải trên báo chí, truyền thông, hướng tới đối tượng là bạn đọc
và người nghe nhìn, cung cấp tin tức về mọi mặt đời sống kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội cho con người
1.1.2 Thông tin báo chí
Trong báo chí học và nghiên cứu truyền thông, thông tin đồng nghĩa với những số liệu, kết luận hàm súc, có một hình thức dường như không cần bình luận, bàn cãi về các sự kiện, hiện tượng, vấn đề xã hội cụ thể “Thông tin báo chí là dạng thông tin xã hội đặc thù, mang tính thời sự, phổ cập và rất quan trọng về phương diện chính trị - xã hội Là sự phản ánh hiện thực, thông tin có nội dung khách quan đồng thời lại mang tính chủ quan.” [11, tr.185]
Đối với báo chí, thông tin trở thành phần tri thức, tư tưởng (do nhà báo sáng tạo, tái tạo từ hiện thực) được chuyển dịch từ nhà báo đến công chúng để cung cấp kiến thức, thay đổi nhận thức và cảm biến hành vi Nói cách khác, thông tin chính là điểm khởi đầu, gốc rễ cơ bản nhất của quá trình truyền thông, quyết định hiệu quả - kết quả so với mục đích ban đầu của người làm
truyền thông
Trong tiến trình phát triển của lịch sử văn hoá nhân loại, báo chí là một hiện tượng xã hội, ra đời do nhu cầu thông tin giao tiếp, giải trí và nhận thức của con người Thông tin là một hiện tượng vốn có của thế giới vật chất Theo các nhà nghiên cứu, lần đầu tiên thông tin được con người chú ý về mặt ý nghĩa xã hội của nó và được đề cập đến trong lý thuyết báo chí vào những năm 20 – 30 của thế kỷ XX Và từ đây, “Thông tin chính là những cái mới khác với những điều đã biết”
Trang 23Thông tin là chức năng sơ khởi của báo chí, theo nghĩa sử dụng phương tiện kỹ thuật để phổ biến kết quả lao động sáng tạo của nhà báo Thực hiện chức năng thông tin, báo chí cung cấp cho công chúng về tất cả các vấn đề, sự kiện của đời sống xã hội, đáp ứng nhu cầu khám phá, tìm hiểu thế giới tự nhiên, xã hội
Trong một thế giới hiện thực chứa đầy lượng thông tin, báo chí có cách riêng của mình để phản ánh hiện thực với mục đích tác động tới nhiều tầng lớp xã hội với những mối quan tâm, sở thích và nhu cầu khác nhau Chính điều đó đã khiến cho báo chí trở thành một hoạt động thông tin đại chúng rộng rãi và năng động nhất mà không một hình thái ý thức xã hội nào có được
Như vậy, thông tin báo chí cũng được hiểu theo hai nghĩa:
Thứ nhất, đó là tri thức, tư tưởng do nhà báo tái tạo và sáng tạo từ hiện thực cuộc sống Tất cả những vấn đề, sự kiện, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội được báo chí phản ánh nhằm phục vụ nhu cầu tìm hiểu, khám phá của con người
Thứ hai, đó là phương tiện, công cụ chuyển tải tác phẩm báo chí tới công chúng
Trong hoạt động báo chí, thông tin là mục đích chủ yếu Thông tin trở thành “cầu nối” giữa báo chí và công chúng Căn cứ việc phân loại theo phương thức thể hiện, người ta chia thông tin báo chí thành các loại hình: Thông tin bằng chủ yếu chữ viết (báo in); thông tin chủ yếu bằng tiếng nói (phát thanh); thông tin chủ yếu bằng hình ảnh (truyền hình); thông tin trên mạng internet (đa phương tiện)
Trong thực tiễn báo chí, thuật ngữ “thông tin” có nhiều dạng khác nhau: có khi chỉ là cái tin vắn, tin ngắn, bài bình luận, phóng sự, phỏng vấn;
có khi là một chương trình phát thanh, truyền hình Ngay cả các tiêu đề, vị trí
Trang 24của tác phẩm trên các cột báo, giọng đọc của phát thanh viên, các cỡ chữ hay cách xếp chữ trên các tờ báo… đều chứa đựng thông tin
Thuật ngữ “Thông tin” trong hoạt động báo chí còn có có cách hiểu rộng hơn, chúng còn được hiểu như một danh từ tập hợp Chúng ta có thể gọi toàn bộ tác phẩm, hay hệ thống những tin tức… là thông tin
Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng và đánh giá cao vai trò của thông tin báo chí Đây không chỉ là phương tiện cung cấp thông tin, cung cấp tri thức, là một trong những công cụ giúp cho công tác chỉ đạo, điều hành đất nước mà còn là nơi để phản hồi những thông tin từ nhân dân đối với đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, góp phần quan trọng thực hiện dân chủ hoá trong đời sống xã hội Thông tin báo chí thực sự
là công cụ cung cấp tri thức, dự báo sự phát triển đồng thời cũng là động lực thúc đẩy sự phát triển Đời sống nhân dân được cải thiện, trình độ dân trí ngày càng được nâng cao nên nhu cầu thông tin của nhân dân đòi hỏi ngày càng cao hơn
1.1.3 Báo mạng điện tử và đặc trưng của báo mạng điện tử
Cuối thế kỉ 20, đầu thế kỉ 21 là thời kì của mạng Internet và báo mạng điện tử Năm 1962, Joseph Carl Robnett Licklider- một nhà khoa học máy tính người Mỹ đã cho ra đời ý tưởng đầu tiên về mạng kết nối các máy tính với nhau
Năm 1969, mạng này được đưa vào hoạt động và là tiền thân của Internet Tháng 10/1993, Khoa báo chí Đại học Florida (Mỹ) tung ra cái mà
họ tự tin là tờ báo điện tử đầu tiên Cũng có tài liệu cho rằng, năm 1992, tờ báo Chicago của Mỹ mới là tờ báo điện tử đầu tiên trên thế giới Năm 1994, phiên bản online của tạp chí Hotwired chạy những banner quảng cáo đầu tiên
và hàng loạt báo khác tại Mỹ ồ ạt mở website Kể từ đây,“cơn sốt vàng” của thời đại thông tin trực tuyến chính thức bắt đầu
Trang 25Ở Việt Nam, thuật ngữ “báo điện tử” đã được sử dụng trong Luật báo chí năm 1999 Theo định nghĩa trong luật này, “báo điện tử là loại hình báo chí được thực hiện trên hệ thống máy tính” Dự thảo Luật Báo chí trình Quốc hội cũng định nghĩa “báo điện tử là loại hình báo chí thực hiện trên mạng Internet”
Báo mạng điện tử có sự tổng hợp của công nghệ đa phương tiện, nghĩa
là không chỉ văn bản, hình ảnh mà cả âm thanh, video và các chương trình tương tác khác Không bị giới hạn bởi khuôn khổ, số trang, không bị phụ thuộc vào khoảng cách địa lý nên báo mạng điện tử có khả năng truyền tải thông tin đi khắp toàn cầu với số lượng không giới hạn
Thông tin từ khi thu nhận đến khi phát hành đều được diễn ra rất nhanh chóng, với những thao tác hết sức đơn giản nên báo mạng điện tử có thể tức thời và phi định kỳ, luôn sống 24h/ngày, 7 ngày/tuần
Báo mạng điện tử chiếm ưu thế tuyệt đối trong việc thiết lập các diễn đàn, các cuộc giao lưu, bàn tròn, phỏng vấn trực tuyến… nhằm tăng mối quan
hệ giữa Toà soạn với độc giả, độc giả với nhau, tạo cơ hội cho độc giả có thể giao lưu, trao đổi với nhân vật mình quan tâm, yêu thích
Báo mạng điện tử là một thư viện đúng nghĩa, người đọc không chỉ xem các tin, bài hiện tại, mà còn đọc được những tin, bài trong quá khứ Tuyệt vời hơn, nó còn cung cấp cho người đọc một công cụ tìm kiếm thông tin khoa học và hiệu quả Với những ưu thế không thể phủ nhận, báo mạng điện tử đang trở thành kênh truyền thông được nhiều người lựa chọn
Tại Việt Nam, tờ báo trực tuyến đầu tiên là tờ tạp chí Quê hương điện
tử ra đời vào năm 1997 Đây là tờ tạp chí của Ủy ban về người Việt Nam ở nước ngoài trực thuộc Bộ Ngoại giao, phát hành số đầu tiên vào ngày
Trang 266/2/1997, chính thức khai trương ngày 3/12/1997 Năm 1998, báo điện tử Vietnamnet ra đời; năm 1999, báo Nhân dân điện tử ra đời…
Mặc dù sinh sau đẻ muộn nhưng báo mạng điện tử đã nhanh chóng khẳng định được vai trò và vị trí của mình trong lòng độc giả, nó không ngừng tăng tốc để bắt kịp báo in, phát thanh và truyền hình với tốc độ tăng tới chóng mặt Bởi vì công chúng ngày càng có xu hướng tiếp cận với nguồn thông tin hiện đại như báo mạng điện tử nhiều hơn Các nhà chuyên môn có thể dễ dự đoán được báo mạng điện tử trong tương lại không xa sẽ là món ăn tinh thần không thể thiếu của độc giả
Chính bởi tính mới, nhanh và hiện đại của mình, báo mạng điện tử đang và sẽ đáp ứng nhu cầu tìm kiếm thông tin ngày càng cao của công chúng, chính nhờ khả năng cạnh tranh thông tin một cách chóng mặt của báo mạng sẽ là ưu thế để nó phát triển xa hơn và không thể thiếu trong tương lai Món ăn “ngon, bổ, rẻ” sẽ không bao giờ bị thực khách từ chối và thực tế tới bây giờ Việt Nam với hàng trăm tờ báo mạng điện tử và trang thông tin điện
tử của các cơ quan báo chí khác nhau đang tạo ra bức tranh hài hòa nhiều màu sắc cho báo mạng điện tử Việt Nam
Đặc trưng của báo mạng điện tử
Nếu như những tờ báo giấy ra đời từ cách đây hàng trăm năm, hay các loại hình báo chí khác xuất hiện cũng đã lâu, khẳng định được chỗ đứng của mình trong toàn bộ đời sống báo chí thế giới; thì báo mạng điện tử, hay còn gọi là báo trực tuyến phải đến tận cuối thế kỉ XX mới ra đời Mặc dù là đứa con sinh sau đẻ muộn của làng báo chí, nhưng có một sự thật không thể chối cãi được, đó là báo mạng điện tử càng ngày càng thể hiện được những ưu thế, những đặc trưng của mình Cụ thể:
Tính đa phương tiện
Trang 27Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí tổng hợp, tích hợp nhiều công nghệ (multimedia) Trên một tờ báo mạng, thậm chí ngay trong một tác phẩm báo mạng có thể tích hợp cả báo viết, báo phát thanh và báo hình
Một sản phẩm báo chí đa phương tiện phải bao gồm những thành phần sau: văn bản, hình ảnh tĩnh và đồ họa, âm thanh, hình ảnh động, các chương trình tương tác Hay nói cách khác, đa phương tiện trên báo mạng điện tử là việc sử dụng nhiều phương tiện( ngôn ngữ văn tự và phi văn tự) để thực hiện
1 sản phẩm báo chí Chính vì vậy khi đọc báo mạng độc giả có thể chủ động xem những tác phẩm mình quan tâm ở bất kì trang nào giống như báo in Đồng thời cũng được trực quan những hình ảnh, video clip, lắng nghe những
âm thanh mà không hề bị phụ thuộc vào các yếu tố thời gian, không gian
Có thể nói đa phương tiện là là 1 trong những ưu điểm vượt trội của báo mạng điện tử so với các loại hình báo chí truyền thông khác Sự tích hợp
đa dạng này giúp cho báo mạng điện tử có được những yếu tố hấp dẫn của các loại hình báo chí khác, vì thế mà trở nên sinh động hơn, hấp dẫn hơn
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì tính đa phương tiện vẫn chưa thực sự được phát huy mạnh mẽ trên các tờ báo điện tử ở Việt Nam Nguyên nhân do: cơ sở hạ tầng,đường truyền và hệ thống máy móc, công nghệ còn nhiều yếu kém; một số lãnh đạo báo mạng điện tử chưa đánh giá hết sức ảnh hưởng, vai trò của tính đa phương tiện nên còn chưa chú ý đầu tư cả về vật chất và con người
Tính tức thời và phi định kì
Báo mạng điện tử đã vượt qua các rào cản mà các loại hình báo chí khác vướng phải, nội dung thông tin không bị giới hạn bởi khuôn khổ của trang báo, thời lượng phát sóng hay thời gian tuyến tính Quy trình sản xuất thông tin đơn giản, dễ dàng nên có thể cập nhật , bổ sung bất kì lúc nào với số lượng bao nhiêu Thông tin trên báo mạng điện tử có thể sống động, nóng hổi
Trang 28đến từng giờ, từng phút, thậm chí là từng giây Có người gọi báo mạng điện
tử là “báo giờ” là vì tính cập nhật tức thời, khả năng cập nhật thông tin của
Tính tương tác cao
Tương tác là sự tác động qua lại, có ảnh hưởng lẫn nhau giữa độc giả
và đội ngũ làm báo Tương tác có vai trò rất quan trọng trong hoạt động truyền thông nói chung và trong hoạt động báo chí nói riêng Tương tác là đặc điểm chính của công nghệ mới, đòi hỏi mô hình đa chiều trong truyền thông
Người đọc có thể chủ động tìm kiếm và lựa chọn thông tin hơn chỉ là đơn thuần nhận thông tin từ nhà báo Ngoài ra độc giả còn tham gia vào quá trình cung cấp thông tin, vì thế khoảng cách giữa nhà báo, tờ báo và người đọc được rút ngắn lại, là động lực thúc đẩy sự phát triển và góp phần nâng cao hiệu quả truyên thông
Quá trình tương tác trên báo mạng điện tử nhanh chóng và thuận tiện hơn nhiều so với các loại hình báo chí khác Ngay sau mỗi tác phẩm báo chí đăng trên trang báo mạng điện tử đều có mục phản hồi, ngoài ra còn có rất nhiều kênh tương tác khác như feedback, vote, email, forum… tiện cho độc
Trang 29giả dễ dàng đóng góp ý kiến của mình Điều này khó thấy trên báo hình, phát thanh hay báo giấy
Tính tương tác của báo mạng điện tử được hiểu ở 3 góc độ sau: tính tương tác có định hướng – là sự định vị trên các văn bản giúp công chúng chủ động và di chuyển dễ dàng trong 1 trang hoặc giữa các trang báo với nhau ; tương tác chức năng – là sự linh hoạt của các đường dẫn cho phép người đọc khả năng tham chiếu tới các nội dung khác; tương tác tùy biến – là tính thông minh ở các công cụ cá nhân, ở các site nội dung chia sẻ và thảo luận
Tính tương tác trên báo mạng điện tử có nhiều ưu điểm như nhận sự phản hồi rấy nhanh qua hệ thống thư điện tử, là chiếc cầu nối thân thiện kết nối tòa soạn với độc giả thông qua thiết lập các cuộc giao lưu trực tuyến, phỏng vấn trực tuyến… ngoài ra báo mạng điện tử còn có lợi thế trong việc thiết lập các diễn đàn nhằm thu hút sự quan tâm, trao đổi , tăng mối quan hệ giữa tòa soạn với độc giả, độc giả với độc giả
Khả năng lưu trữ và tìm kiếm thông tin
Báo mạng điện tử không bị giới hạn bởi số trang, khuôn khổ hay thời lượng, chương trình như các loại hình báo chí khác Thông tin được lưu trữ dưới dạng đĩa từ có dung lượng cực lớn… nên nó thực sự là 1 kho thông tin khổng lồ Đặc biệt thông tin trên báo mạng điện tử còn đảm bảo được các yếu
tố sau:
Thông tin cực kì phong phú, đa dạng cả về số lượng và nội dung; thông tin chính xác, khách quan và được kiểm chứng; thông tin được lưu trữ lâu dài
và có hệ thống nên rất thuận lợi cho người tìm kiếm
Báo mạng điện tử cho phép lưu trữ bài viết theo hệ thống khoa học, với một lượng khổng lồ thông tin lưu trữ Đồng thời với đó là khả năng tìm kiếm
dễ dàng nhờ vào các mục tìm kiếm với các từ khoá được đính kèm trên mỗi trang báo mạng điện tử Có thể xem theo ngày, xem theo bài, hoặc theo chủ
Trang 30đề… Nếu không có điều kiện đọc ngay lúc online, độc giả báo mạng có thể lưu bài viết lại để đọc sau, hoặc là độc giả cũng có thể đọc lại nhiều lần tuỳ thích, mà thao tác hoàn toàn đơn giản Điều này với truyền hình hay phát thanh là vô cùng khó
Tính xã hội hóa cao, khả năng cá thể hóa tốt
Nhờ vào sự phủ sóng của mạng toàn cầu Internet, báo mạng điện tử không có giới hạn về khoảng cách, thêm vào đó là tính tương tác cao, do đó
dễ dàng có thể thấy tính xã hội hoá rất cao ở loại hình báo chí mới mẻ này
Tuy nhiên, báo mạng điện tử lại cũng có khả năng cá thể hoá tốt Điều này thoạt nghe tưởng như mâu thuẫn, nhưng hoàn toàn không phải Tính cá thể hoá được thể hiện ở chỗ người đọc được chủ động lựa chọn tờ báo, trang báo, bài báo theo nhu cầu, đọc bao lâu tùy thích
Ngoài ra, báo mạng điện tử có độ lan toả cao, dễ dàng đính chính, chi phí thấp do chỉ phải post bài một lần duy nhất, đồng thời thông tin lại có giá trị sử dụng cao hơn do được đọc theo nhu cầu của độc giả
Tuy vậy, báo mạng điện tử còn một vài hạn chế, đó là độ tin cậy của thông tin còn thấp, muốn đọc được báo mạng thì độc giả ít nhất cũng phải có máy tính nối mạng, và biết những thao tác sử dụng đơn giản nhất
Các đặc trưng trên cũng là những lợi thế mà báo điện tử Giáo dục Việt Nam có được, nhằm đưa tin hiệu quả hơn về đổi mới giáo dục
1.1.4 Đổi mới giáo dục - Thông tin về đổi mới giáo dục
1.1.4.1 Giáo dục
Trong tiếng Anh, từ “giáo dục” được biết đến với từ “education”, đây
là một từ gốc Latin được ghép bởi hai từ là “Ex” và “Ducere” – “Ex-Ducere”
Có nghĩa là dẫn (“Ducere”) con người vượt ra khỏi (“Ex”) hiện tại của họ để vươn tới những gì hoàn thiện, tốt lành hơn và hạnh phúc hơn
Trang 31Về cơ bản, các giáo trình về giáo dục học ở Việt Nam đều trình bày
“Giáo dục là hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là sự truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người” [1, tr.5] Định nghĩa này nhấn mạnh về sự truyền đạt và lĩnh hội giữa các thế hệ, nhấn mạnh đến yếu tố dạy học, nhưng không đề cập đến mục đích sâu xa hơn, mục đích cuối cùng của việc đó
Giáo dục là sự hoàn thiện của mỗi cá nhân, đây cũng là mục tiêu sâu xa của giáo dục; người giáo dục, hay có thể gọi là thế hệ trước, có nghĩa vụ phải dẫn dắt, chỉ hướng, phải truyền tải lại cho thế hệ sau tất cả những gì có thể để làm cho thế hệ sau trở nên phát triển hơn, hoàn thiện hơn.Với ý nghĩa đó, giáo dục đã ra đời từ khi xã hội loài người mới hình thành, do nhu cầu của xã hội
và trở thành một yếu tố cơ bản để làm phát triển loài người, phát triển xã hội Giáo dục là một hoạt động có ý thức của con người nhằm vào mục đích phát triển con người và phát triển xã hội
Giáo dục là một quá trình dạy và học nhằm chuẩn bị những kiến thức
và kỹ năng cần thiết hoặc làm thay đổi hành vi có hại bằng hành vi có lợi
Giáo dục cũng là quá trình giao tiếp hai chiều qua đó người dạy và người học cùng chia sẻ hiểu biết, kinh nghiệm và cùng học tập lẫn nhau
Giáo dục ban đầu được thực hiện một cách đơn giản, trực tiếp ngay trong lao động và trong cuộc sống, ở mọi lúc, mọi nơi Khi xã hội ngày càng phát triển lên, kinh nghiệm xã hội được đúc kết nhiều hơn, yêu cầu của xã hội đối với con người ngày càng cao hơn, các loại hình hoạt động xã hội ngày càng mở rộng hơn thì giáo dục theo phương hướng trực tiếp không còn phù hợp mà đòi hỏi phải có một phương thức giáo dục khác có hiệu quả hơn Giáo dục gián tiếp theo phương thức nhà trường, được thực hiện một cách chuyên biệt ra đời và ngày càng phát triển đáp ứng ngày càng tốt nhu cầu của xã hội
Do đó, xã hội ngày càng phát triển, giáo dục ngày càng trở nên phức tạp hơn
Trang 32và mang tính chuyên biệt hơn Sự phát triển đó là do yêu cầu tất yếu của xã hội và do những sức mạnh to lớn của giáo dục tạo ra sự phát triển của xã hội Vai trò của giáo dục đối với sự phát triển về mọi mặt của xã hội thì không ai
có thể phủ nhận về nó
Từ khi ra đời, giáo dục đã trở thành một yếu tố cơ bản thúc đẩy sự phát triển thông qua việc thực hiện các chức năng xã hội của nó Đó chính là những tác động tích cực của giáo dục đến các mặt hay các quá trình xã hội và tạo ra sự phát triển cho xã hội Có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm
“giáo dục”:
– Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách dưới ảnh hưởng của tất cả các hoạt động từ bên ngoài, được thực hiện một cách có ý thức của con người trong nhà trường, gia đình và ngoài xã hội Ví dụ: Ảnh hưởng của các hoạt động đa dạng nội khóa, ngoại khóa của nhà trường; ảnh hưởng của lối dạy bảo, nếp sống trong gia đình; ảnh hưởng của sách vở, tạp chí; ảnh hưởng của những tấm lòng nhân từ của người khác;…
– Giáo dục còn được hiểu là hệ thống những tác động có mục đích xác định được tổ chức một cách khoa học (có kế hoạch, có phương pháp, có hệ thống) của các cơ quan giáo dục chuyên biệt (nhà trường) nhằm phát triển toàn diện nhân cách Qua những môn học trên trường, lớp cũng như qua những hoạt động như báo cáo thời sự, biểu diễn văn nghệ, cắm trại, thăm quan,… được tổ chức ngoài giờ lên lớp, sẽ tạo ra những ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành và phát triển nhân cách của người được giáo dục, dưới tác động của giáo viên, của nhà giáo dục
– Giáo dục được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người giáo dục dưới quan hệ của những tác động sư phạm của nhà trường, chỉ liên quan đến các mặt giáo dục như: trí học, đức học, mĩ dục, thể dục, giáo dục lao động
Trang 33– Ngoài ra, giáo dục còn được hiểu là quá trình hình thành và phát triển nhân cách người được giáo dục chỉ liên quan đến giáo dục đạo đức Sự ra đời
và phát triển của giáo dục gắn liền với cự ra đời và phát triển của xã hội Một mặt, giáo dục phục vụ cho sự phát triển xã hội, bởi lẽ, xã hội sẽ không phát triển thêm một bước nào nếu như không có những điều kiện cần thiết cho giáo dục tạo ra Mặt khác, sự phát triển của giáo dục luôn chịu sự quy định của xã hội thông qua những yêu cầu ngày càng cao và những điều kiện ngày càng thuận lợi do sự phát triển xã hội mang lại Chính vì vậy, trình độ phát triển của giáo dục phản ánh những đặc điểm phát triển của xã hội
Trong thời đại ngày nay, nền giáo dục thế giới và của mỗi quốc gia đang không ngừng cái cách đổi mới nhằm thích ứng tốt hơn với những xu thế phát triển mới mẻ, năng động của toàn nhân loại và có khả năng tạo ra được những nguồn lực mới để phát triển nhanh, bền vững
1.1.4.2 Đổi mới giáo dục
Đổi mới là cái vốn có của mọi vận động và phát triển trong tự nhiên, xã hội cũng như trong tư duy Bất kỳ sinh vật nào cũng luôn luôn tự đổi mới để thích nghi với những sự thay đổi của môi trường sống Đổi mới là trào lưu tư tưởng tiến bộ, là xu thế thời đại Những ai không có tư duy đổi mới, hành động đổi mới thường dễ bị sa vào bảo thủ, duy trì những cái đã lỗi thời Đối với xã hội, đổi mới là một phản ứng mang tính tự nhiên của xã hội để bảo đảm sự thích nghi của nó trước những biến đổi môi trường tự nhiên, môi trường quốc tế, để thích ứng với tình thế Đổi mới là quá trình vận động tự nhiên của mọi hiện tượng xã hội
Ngay từ năm 1949, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sử dụng khái niệm “Đổi mới” trong sự vận dụng cụ thể vào Đổi mới đất nước Người viết: “Công cuộc Đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân” Khi nhấn mạnh sự cần thiết phải không ngừng Đổi mới nhận thức để phản ánh đúng tình hình thế giới, tình
Trang 34hình trong nước vốn không ngừng biến đổi, Hồ Chí Minh viết: thế giới ngày ngày Đổi mới, nhân dân ta ngày càng tiến bộ cho nên chúng ta phải tiếp tục học và hành để tiến bộ kịp nhân dân” Đổi mới, theo Hồ Chí Minh, còn là để thắng sức ỳ của thói quen, của tập quán cũ Dù đó là việc khó khăn, nhưng chẳng có việc gì là không thể Đổi mới”
Đổi mới còn là cách để thay đổi một phương thức sống, tạo lập một phương thức sống mới, đáp ứng nhu cầu của sự phát triển
Đổi mới giáo dục là sự nghiệp quan trọng, khó khăn, là tất yếu khách quan Yêu cầu này xuất phát từ thực trạng nền giáo dục Việt Nam
Trong những thập kỷ qua, nền giáo dục Việt Nam có những bước phát triển, có những thành tựu đáng ghi nhận, góp phần quan trọng vào nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực cho công cuộc xây dựng, bảo vệ và đổi mới đất nước Nhưng đồng thời nền giáo dục đang ẩn chứa rất nhiều yếu kém, bất cập,
mà Đại hội IX, X đến Đại hội XI của Đảng vẫn nêu rất đậm nét, đó là:
- Giáo dục-đào tạo còn nhiều hạn chế, yếu kém, bất cập chậm được khắc phục; chất lượng giáo dục còn thấp, quan tâm đến phát triển số lượng nhiều hơn chất lượng; so với yêu cầu phát triển của đất nước còn nhiều nội dung chưa đạt; chưa thực sự là quốc sách hàng đầu
- Nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục còn lạc hậu, chậm đổi mới, chậm hiện đại hóa, chưa gắn chặt với đời sống xã hội và lao động nghề nghiệp; chưa phát huy tính sáng tạo, năng lực thực hành của học sinh, sinh viên
- Chất lượng giáo dục có mặt bị buông lỏng, giảm sút, nhất là giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục mới quan tâm nhiều đến dạy “chữ”, còn dạy
“người” và dạy “nghề” vẫn yếu kém; yếu về giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống, lịch sử dân tộc, tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, kỹ năng sống…
- Hệ thống giáo dục quốc dân không hợp lý, thiếu đồng bộ, chưa liên thông, mất cân đối
Trang 35- Quản lý nhà nước trong giáo dục còn nhiều yếu kém, bất cập, chậm đổi mới, là nguyên nhân chủ yếu của nhiều nguyên nhân khác; cơ chế quản lý giáo dục chậm đổi mới, còn nhiều lúng túng, nhận thức rất khác nhau, nhất là trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; chưa theo kịp sự đổi mới trên các lĩnh vực khác của đất nước
- Đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên còn nhiều bất cập, đạo đức và năng lực của một bộ phận còn thấp
- Chưa nhận thức đầy đủ, đúng đắn về công tác xã hội hóa giáo dục; định hướng liên kết với nước ngoài trong phát triển giáo dục còn nhiều lúng túng, chưa xác định rõ phương châm
- Tư duy giáo dục chậm đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới-phát triển đất nước trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế; khoa học giáo dục chưa được quan tâm đúng mức, chất lượng nghiên cứu khoa học giáo dục còn nhiều bất cập
- Các cơ quan chức năng chậm cụ thể hóa những quan điểm của Đảng thành cơ chế, chính sách của Nhà nước; thiếu nhạy bén trong công tác tham mưu, thiếu những quyết sách đồng bộ và hợp lý ở tầm vĩ mô (có khi chính sách được ban hành rồi nhưng chỉ đạo tổ chức thực hiện không đến nơi đến chốn, kém hiệu quả); một số chính sách về giáo dục còn chủ quan, duy ý chí,
xa thực tế, thiếu sự đồng thuận của xã hội
Những vấn đề, những yếu kém và bất cập nêu trên của giáo dục không thể giải quyết khắc phục được căn bản chỉ bằng các giải pháp cục bộ, đơn lẻ,
bề mặt nhất thời, thiếu chiến lược và tầm nhìn dài hạn, thiếu tính đồng bộ và
hệ thống, chưa đạt tới chiều sâu bản chất của vấn đề Để giải quyết được căn bản những vấn đề đặt ra, những người lãnh đạo - quản lý, những nhà khoa học, những người làm giáo dục phải có cách nhìn toàn diện, đầy đủ, khách
Trang 36quan, như các văn kiện của Đảng đã nêu, sâu hơn, bản chất hơn những gì nêu trên báo chí và những báo cáo tổng kết thành tích
Trong khi đó, sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới luôn đòi hỏi nhiều yếu tố từ phía giáo dục, đặt ra những yêu cầu, những nội dung rất mới, rất cao về nguồn lực con người, với những giá trị xã hội mới, tiêu chí mới về phẩm chất và năng lực của mỗi con người và cả cộng đồng (như năng lực hợp tác, cạnh tranh, đấu tranh trên trường quốc tế; năng lực làm chủ - ứng dụng và sáng tạo khoa học và công nghệ cao; năng lực kết nối cộng đồng; năng lực lập nghiệp; văn hóa lao động, lối sống hiện đại, văn minh và mang đậm bản sắc dân tộc…) Tất cả những giá trị mới nêu trên tất yếu đặt ra những yêu cầu mới
về nhận thức, quan điểm, mục tiêu, cơ chế phát triển giáo dục; về nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục; đòi hỏi phải đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục của đất nước
Đổi mới giáo dục ở nước ta không phải là những sửa đổi, điều chỉnh nhỏ, đơn lẻ, cục bộ, mang tính bề mặt Đây là quá trình đổi mới “đụng” tới tầng sâu bản chất của hệ thống giáo dục, làm thay đổi căn bản về chất của hệ thống giáo dục, để đưa hệ thống giáo dục lên một trình độ mới, hiệu quả hơn, chất lượng hơn
Đảng, Nhà nước ta đã đặt ra yêu cầu đổi mới giáo dục phải là đổi mới căn bản, toàn diện Đổi mới căn bản được hiểu là đổi mới những vấn đề cốt lõi nhất để làm thay đổi và nâng cao về chất của hệ thống giáo dục, nhằm đáp ứng với đòi hỏi của đất nước trong giai đoạn mới, đó là:- Đổi mới tư duy, nhận thức, triết lý về giáo dục, về sứ mạng của giáo dục - Đổi mới quan điểm phát triển giáo dục - Đổi mới mục tiêu giáo dục - Đổi mới và lành mạnh hóa môi trường giáo dục - Đổi mới nội dung và phương thức giáo dục.- Đổi mới cơ chế phát triển giáo dục - Đổi mới động lực - nguồn lực phát triển giáo dục - Đổi mới tổ chức chỉ đạo thực hiện quá trình đổi mới giáo dục
Trang 37Đó là những yếu tố cơ bản cần được nghiên cứu làm rõ cả về cơ sở khoa học và thực tiễn để làm nền tảng cho đổi mới Hệ thống giáo dục Đây là những vấn đề rất quan trọng, chưa được nghiên cứu thấu đáo và có hệ thống, hiện đang còn có nhiều ý kiến khác nhau
Đổi mới toàn diện nền giáo dục được hiểu là đổi mới về tất cả các mặt, các yếu tố cấu thành hệ thống giáo dục và các quá trình giáo dục như: - Đổi mới và hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc gia - Đổi mới ở tất cả các cấp, bậc học, các hình thức giáo dục, đào tạo - Đổi mới đồng bộ về nội dung, chương trình và phương pháp giáo dục, đào tạo.- Đổi mới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục và giáo viên - Đổi mới và nâng cao chế độ đãi ngộ - tôn vinh gắn liền với nâng cao chế độ trách nhiệm xã hội của các nhà giáo.- Đổi mới và nâng cao cấp cơ sở vật chất, kỹ thuật của các cơ sở giáo dục, đào tạo - Đổi mới cơ chế hoạt động của các cơ sở giáo dục, đào tạo - Đổi mới và hoàn thiện cơ chế quản lý giáo dục - Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục và xây dựng xã hội học tập - Hình thành đồng bộ và lành mạnh hóa môi trường giáo dục gồm môi trường nhà trường, môi trường gia đình và môi trường xã hội
Nội dung đổi mới căn bản và nội dung đổi mới toàn diện gắn bó mật thiết với nhau; phải trên cơ sở làm rõ các “nội dung căn bản” để cụ thể hoá cho các “nội dung toàn diện” Bởi vì một nền giáo dục “học một lần cho làm việc cả đời” khác căn bản với nền giáo dục “học cả đời để luôn thích ứng công việc và cuộc sống”, lại càng khác hơn so với nền giáo dục trong xã hội thông tin và nền kinh tế tri thức; nền giáo dục được bao cấp hoàn toàn khác với nền giáo dục trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế
Định hướng cơ bản của quá trình đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục đã được nêu trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng là “chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế” “Ngũ hoá” đó là những
Trang 38yêu cầu cơ bản đặt ra cho quá trình đổi mới nền giáo dục Mỗi “hoá” đó chứa đựng những tiêu chí mới đối với nền giáo dục (ở đây chưa đề cập chi tiết) Nhưng tổng hợp lại sẽ tạo nên một nền giáo dục năng động-hiệu quả-chất lượng, đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới và phù hợp với xu thế của thời đại
1.1.4.3 Thông tin về đổi mới giáo dục
Dựa trên những khái niệm đã nêu ở trên, có thể hiểu: thông tin về đổi
mới giáo dục là những tin tức, tri thức nhằm thay đổi những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện trong lĩnh vực giáo dục Đó là những tin tức về nhận thức, quan điểm, mục tiêu, những yếu kém
và bất cập của giáo dục, nội dung, chương trình và phương pháp đổi mới áp dụng trong ngành giáo dục
Trong phạm vi luận văn, tác giả cũng tìm hiểu, khảo sát nội dung và hình thức thông tin về đổi mới giáo dục trên báo điện tử Giáo dục Việt Nam ở khía cạnh khái niệm này
Trong nhiều năm qua, đổi mới giáo dục đã trở thành đề tài tiêu điểm trên các trang báo, từ truyền hình cho tới phát thanh, báo in và đặc biệt là báo mạng điện tử Vì vai trò to lớn của giáo dục với sự phát triển của đất nước mà các cây bút đều hướng sự quan tâm tới thông tin về đổi mới giáo dục Các tờ báo đưa tin về các chính sách của Đảng, Nhà nước, Bộ Giáo dục và đào tạo, đưa tin về thái độ, phản ứng của học sinh, giáo viên và nhân dân Ngoài ra, không ít tờ báo còn đi sâu vào việc phân tích, bình luận các chính sách, các tiêu cực trong nên giáo dục nói chung và quá trình đổi mới giáo dục nói riêng
1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước về đổi mới giáo dục
Từ xưa, cha ông ta đã khẳng định; “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” và điều đó đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta Phát huy truyền
Trang 39thống đó, Đảng và Nhà nước luôn luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến sự nghiệp giáo dục, đào tạo
Giai đoạn trước đổi mới, Đảng ta chưa ban hành nghị quyết Trung ương có tính chuyên đề về giáo dục và đào tạo Đường lối và các chính sách của Đảng về lĩnh vực này được thể hiện trong các văn kiện của các đại hội Đảng và các nội dung được đưa vào các nghị quyết về các lĩnh vực kinh tế -
xã hội
Để cụ thể hoá thực hiện Nghị quyết Đại hội IV, ngày 11-1-1979 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết số 14-NQ/TW “về cải cách giáo dục” Nghị quyết nêu mục tiêu của cải cách giáo dục lần này là “làm tốt việc chăm sóc và giáo dục thế hệ trẻ ngay từ tuổi ấu thơ cho tới lúc trưởng thành, nhằm tạo cơ sở ban đầu rất quan trọng của con người Việt Nam mới, người lao động làm chủ tập thể và phát triển toàn diện” Đây là nghị quyết đầu tiên về chuyên đề giáo dục sau khi đất nước được thống nhất, có nhiều vấn đề cần cụ thể hoá bằng các chính sách, các đề án để thực hiện, từ xác định mục tiêu cụ thể, sắp xếp lại
cơ cấu hệ thống cho đến vấn đề biên soạn sách giáo khoa thống nhất cho các cấp học bậc học
Nghị quyết Đại hội VI xác định: Giáo dục nhằm mục tiêu hình thành và phát triển toàn diện nhân cách xã hội chủ nghĩa của thế hệ trẻ, đào tạo đội ngũ lao động có kỹ thuật đồng bộ về ngành nghề, phù hợp với yêu cầu phân công lao động của xã hội Sự nghiệp giáo dục, nhất là giáo dục đại học và chuyên nghiệp, trực tiếp góp phần vào việc đổi mới công tác quản lý kinh tế và xã hội
Ngày 14-1-1993, Đảng ta ban hành Nghị quyết số 04-NQ/HNTW, “Về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo”
Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Đảng ta, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã có kỳ họp riêng bàn về một số vấn đề xã hội, trong đó tập trung xem
Trang 40xét sâu rộng vấn đề giáo dục và đào tạo và ra Nghị quyết về tiếp tục đổi mới
sự nghiệp giáo dục và đào tạo Đây là Nghị quyết đáp ứng lòng mong đợi từ lâu của toàn Đảng, toàn dân ta, nhất là đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý giáo dục, học sinh, sinh viên trong cả nước, về việc xác định quan điểm, chủ trương, chính sách, biện pháp tiếp tục phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục Nghị quyết không những chỉ ra những giải pháp cấp bách để xử lý những vấn
đề nóng bỏng đối với công tác giáo dục và đào tạo mà còn định hướng lâu dài cho việc phát triển sự nghiệp này theo cương lĩnh và chiến lược của Đảng ta cho đến sau năm 2000, nhằm chuẩn bị cho nhân dân ta, đặc biệt cho thế hệ trẻ vững bước tiến vào thế kỷ XXI
Đặc biệt, Nghị quyết đã nêu rõ tư tưởng mới hết sức quan trọng: đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển Nhiều năm trước đây, đầu tư cho giáo dục được coi là đầu tư cho phúc lợi xã hội Từ đây, đầu tư cho giáo dục là đầu tư
để phát triển con người, phát triển sản xuất, phát triển xã hội
Tại Đại hội XI, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã kí ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI (Nghị quyết số 29-NQ/TW) với nội dung Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa – hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế
Đảng và Nhà nước xác định mục tiêu của đổi mới lần này là: Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu
Tổ quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả
Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã