Do vậy, để bảo tồn một số loài cây LSNG có giá trị làm dược liệu, hương liệu tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu và đánh giá sinh trưởng loài cây Nghệ đen curcumazedoaria thuộc nh
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
VÀNG NG ỌC HỮU
“NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG LOÀI CÂY NGHỆ ĐEN
THÁI NGUYÊN”
H ệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghi ệp Khoa : Lâm nghi ệp Khoá h ọc : 2015 - 2019
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
VÀNG NG ỌC HỮU
“NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG LOÀI CÂY NGHỆ ĐEN
THÁI NGUYÊN”
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
H ệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Lâm nghi ệp
Khoa : Lâm nghi ệp Khoá h ọc : 2015 - 2019
Gi ảng viên hướng dẫn :TS Nguyễn Tuấn Hùng
Thái Nguyên, năm 2019
Trang 3i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là đề tài nghiên cứu của riêng tôi, những số liệu và kết quả trong khóa luận tốt nghiệp này là hoàn toàn trung thực, chưa hề được sử dụng
để bảo vệ một học vị nào
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đều đã được cảm ơn Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Thái nguyên, ngày 1 0 tháng 5 năm 2019
Xác nh ận của GVHD Người viết cam đoan
Đồng ý cho bảo vệ kết quả
trước hội đồng khoa học
Vàng Ng ọc Hữu
Giáo viên chấm phản biện xác nhận sinh viên
đã sửa chữa sai sót sau khi hội đồng chấm yêu cầu!
(Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 4ii
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này trước tiên tôi xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Lâm nghiệp, cảm ơn các thầy cô giáo đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
Tôi đặc biệt xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn tận tình, sự quan tâm sâu sắc của thầy giáo TS Nguyễn Tuấn Hùng đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập để tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Cuối cùng tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới gia đình, bạn bè và những người thân đã quan tâm giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập
Trong quá trình nghiên cứu do có những chủ quan và khách quan nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu xót và hạn chế Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các sinh viên để tôi hoàn thành khóa luận được tốt hơn
Tôi xin chân thành c ảm ơn!
Thái Nguyên , Ngày 10 tháng 5 năm 2019
Sinh viên
Vàng Ng ọc Hữu
Trang 5iii
DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 2.1 Cây Nghệ đen 23
Hình 4.1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ sống của cây Nghệ đen 36
Hình 4.2 Biểu đồ thể hiện sinh trưởng chiều cao cây Nghệ đen 38
Hình 4.3 Biểu đồ thể hiện sinh trưởng đường kính gốc cây Nghệ đen 40
Hình 4.4 Biểu đồ thể hiện động thái ra lá cây Nghệ đen 42
Hình 4.5 Biểu đồ thể hiện chiều dài củ của cây Nghệ đen 43
Hình 4.6 Biểu đồ thể hiện chất lượng cây Nghệ đen 43
Trang 6iv
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Kết quả phân tích mẫu đất 26
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí các công thức thí nghiệm 30
Bảng 4.1a Tỷ lệ sống của cây Nghệ đen 34
Bảng 4.1b Phân tích phương sai một nhân tố đối với tỷ lệ sống cây Nghệ đen
35
Bảng 4.2a Kết quả sinh trưởng chiều cao cây Nghệ đen 36
Bảng 4.2b Phân tích phương sai một nhân tố đối với chiều cao cây Nghệ đen
37
Bảng 4.3a Kết quả sinh trưởng đường kính gốc cây Nghệ đen 38 Bảng 4.3b Phân tích phương sai một nhân tố đối với đường kính gốc cây
Nghệ đen 39
Bảng 4.4a Kết quả sinh trưởng lá cây Nghệ đen 40
Bảng 4.4b Phân tích phương sai một nhân tố đối với sinh trưởng lá cây Nghệ
đen 41
Bảng 4.5 Đánh giá sinh trưởng chiều dài củ và chất lượngcây Nghệ đen 42
Trang 7v
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC HÌNH ẢNH iii
DANH MỤC BẢNG BIỂU iv
MỤC LỤC v
Ph ần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nhiên cứu 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất 3
Ph ần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
2.1 Khái quát về lâm sản ngoài gỗ 4
2.1.1 Một số định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ 4
2.1.2 Phân loại lâm sản ngoài gỗ 6
2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu LSNG trong và ngoài nước 10
2.2.1 Tình hình trên thế giới 10
2.2.2 Tình hình nghiên cứu LSNG ở Việt Nam 13
2.3 Khái quát một số đặc điểm của cây Nghệ đen 22
2.3.1 Đặc điểm nhận biết 22
2.3.2 Đặc tính sinh học và sinh thái 23
2.4 Tổng quan cơ sở thực tập 25
Ph ần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 28
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 28
3.3 Nội dung nghiên cứu 28
Trang 8vi
3.3.1 Đánh giá sinh trưởng của loài cây Nghệ đen (curcumazedoaria) khi sử dụng
các công thức bón phân khác nhau 28
3.3.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển cây Nghệ đen (curcumazedoaria) 28 3.4 Phương pháp 29
3.4.1 Phương pháp luận 29
3.4.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 30
3.4.3 Phương pháp thu thập số liệu 30
3.4.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu 31
3.5 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 32
3.5.1 Phương thức trồng 32
3.5.2 Phương pháp chăm sóc 33
Ph ần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 34
4.1 Đánh giá tỷ lệ sống cây Nghệ đen 34
4.2 Đánh giá sinh trưởng chiều cao cây Nghệ đen 36
4.3 Đánh giá sinh trưởng đường kính gốc cây Nghệ đen 38
4.4 Đánh giá sinh trưởng lá cây Nghệ đen 40
4.5 Đánh giá sinh trưởng củ và chất lượng cây Nghệ đen 42
4.6 Đề xuất một số giải pháp phát triển loài Nghệ đen 44
Ph ần 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Kiến nghị 47
DANH M ỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 91
Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Lâm sản ngoài gỗ bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất rừng và cây ở rừng Nhiều loại lâm sản ngoài gỗ được sử dụng cho sản xuất và đời sống của người dân Hàng trăm nghìn tấn tre nứa được sử dụng trong ngành chế biến bột và giấy, hàng chục nghìn tấn cây thuốc được sử dụng mỗi năm… Lâm sản ngoài gỗ còn là mặt hàng xuất khẩu có giá trị, giá trị xuất khẩu lâm sản ngoài gỗ năm 2008 gần
400 triệu USD, bằng gần 20% tổng giá trị xuất khẩu đồ gỗ Khai thác, chế
biến lâm sản ngoài gỗ đã thu hút hàng trăm nghìn lao động, chủ yếu là ở nông thôn, miền núi góp phần đáng kể vào xoá đói, giảm nghèo ở các địa phương
có rừng và đất rừng Thường vào những vụ nông nhàn, giáp hạt người dân hay vào rừng thu hái lâm sản để kiếm tiền mua lương thực và hàng tiêu dùng
và trang trải chi phí thuốc men, học hành cho con trẻ Ngoài ra lâm sản ngoài
gỗ còn là nguồn cung cấp thực phẩm hàng ngày cho hộ gia đình: măng, rau
rừng… Do đó phát triển sản xuất lâm sản ngoài gỗ là góp phần xoá đói,
giảm nghèo vùng dân tộc, miền núi và bảo vệ phát triển bền vững nguồn tài nguyên rừng, cải thiện đời sống cho người dân góp phần phát triển nền kinh tế đất nước
Theo các nhà khoa học thì cứ sau 20 phút trên phạm vi toàn cầu lại có thêm
1 loài động vật hoặc thực vật bị tuyệt chủng Trong vòng 50 năm gần đây, tốc độ tuyệt chủng của các loài sinh vật đã tăng lên 40 lần so với thời kỳ cách mạng công nghiệp, và hành tinh của chúng ta đang có nguy cơ bước vào giai đoạn tuyệt chủng hàng loạt lần thứ 6 (5 lần trước vào các kỷ Permi, Cambri, Triat, Creta, Tertiari) Việt Nam được xem là trung tâm đa dạng sinh học của vùng nhiệt đới châu Á, mặc dù có nguồn tài nguyên sinh vật rất đa dạng và phong phú,
Trang 102 nhưng nguy cơ tuyệt chủng của một số loài rất cao LSNG là nguồn tài nguyên sinh vật có thể tái tạo thông qua quá trình tái sinh tự nhiên, nhưng quá trình tái sinh phục hồi không đáp ứng kịp nhu cầu sử dụng của con người và cũng đang
có nguy cơ bị tuyệt chủng hàng loạt
Do vậy, để bảo tồn một số loài cây LSNG có giá trị làm dược liệu,
hương liệu tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu và đánh giá sinh trưởng loài cây Nghệ đen (curcumazedoaria) thuộc nhóm lâm sản ngoài gỗ
t ại mô hình khoa Lâm nghiệp Đại học Nông lâm Thái Nguyên” là hết sức
cần thiết
1.2 Mục tiêu nhiên cứu
- Đánh giá được tình hình sinh trưởng của loài cây Họ gừng (zingiberaceae) Nghệ đen (curcumazedoaria) trồng trong mô hình thư viện
ngoài trời tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
- Đề xuất được một số biện pháp nhằm phát triển cây bản địa trong mô hình khuôn viên ngoài trời tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
- Củng cố kiến thức đã học, hệ thống lại kiến thức đã học, tìm tòi ham
học hỏi hơn vốn hiểu biết của bản thân được mở rộng có điều kiện để tiếp cận
với các đề tài ở quy mô nhỏ, cùng với sự hướng dẫn, hỗ trợ tận tình của giảng viên, sinh viên sẽ bắt đầu định hình được cách thức, quy trình để thực hiện
một công trình nghiên cứu khoa học chất lượng, hiệu quả hoạt động nghiên
cứu khoa học còn góp phần phát huy tính năng động, sáng tạo; khả năng tư duy độc lập, tự học hỏi của sinh viên Bổ sung kiến thức chuyên môn và vận
dụng vào thực tế sản xuất
- Cung cấp thông tin về sinh trưởng và phát triển các loài Nghệ đen
(curcumazedoaria) tại mô hình khoa Lâm nghiệp Ngoài ra, đây còn là nơi
Trang 113
phục vụ cho việc giáo dục về bảo tồn đa dạng sinh học cho tất cả mọi người, đặc biệt là các sinh viên trong khoa Lâm nghiệp nói riêng và sinh viên trường
ĐH Thái Nguyên nói chung
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất
- Qua những đánh giá cụ thể về sinh trưởng của Nghệ đen
(curcumazedoaria) chúng ta có thể tìm ra được các giải pháp cụ thể nhằm hạn
chế ảnh hưởng tiêu cực và phát triển các loài cây
- Áp dụng kiến thức chuyên môn trong việc chọn giống, trồng và chăm sóc cây Giúp cây có khả năng sinh trưởng và phát triển tốt nhất
- Bên cạnh đó việc học tập của các sinh viên đặc biệt là sinh viên khoa Lâm nghiệp rất cần những địa điểm để thực hành nghiên cứu sau những giờ
học, để giúp sinh viên có thể nắm chắc được những kiến thức lý thuyết trên lớp
- Tiết kiệm được kinh phí cho việc nghiên cứu khoa học và thực hành
của sinh viên trong trường nói chung và sinh viên khoa Lâm nghiệp nói riêng
Trang 124
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Khái quát v ề lâm sản ngoài gỗ
2.1.1 M ột số định nghĩa về lâm sản ngoài gỗ
Từ xưa đến nay đã có nhiều tên gọi khác nhau về lâm sản ngoài gỗ được sử dụng rộng rãi như: lâm sản phụ, lâm sản phi gỗ, sản phẩm không phải
là nguồn tài nguyên giầu có của đất nước Nó có vị trí quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, trong đời sống nhân dân, quốc phòng và xuất khẩu…” (Bộ Lâm nghiệp – Kế hoạch phát triển Đặc sản rừng, 1981-1990)[1]
Theo định nghĩa đó Đặc sản rừng là một bộ phận của tài nguyên rừng nhưng chỉ tính đến những sản phẩm có công dụng hoặc giá trị đặc biệt và ngoài các loài thực vật dưới tán rừng còn bao gồm các loài cây cho gỗ đặc
hữu hoặc được coi là đặc hữu của Việt Nam, như Pơ mu, Hoàng đàn, Kim giao… , như vậy thuật ngữ đặc sản cũng mang ý nghĩa kinh tế, vì không tính đến những sản phẩm không có hoặc chưa biết giá trị Vì thế, danh mục những đặc sản rừng trong từng thời điểm cũng tập trung sự chú ý vào một số sản
phẩm nhất định
Trang 135
Ngày nay, trong Lâm nghiệp thuật ngữ lâm sản ngoài gỗ được dùng
phổ biến, chính thức thay cho thuật ngữ lâm sản phụ (minor forest product/ secondary forest product) Định nghĩa của thuật ngữ này được thông qua trong hội nghị tư vấn lâm nghiệp Châu Á-Thái Bình Dương tại Băng Cốc, 5-8-1991: “Lâm sản ngoài gỗ (Non-wood forest product) bao gồm những sản
phẩm tái tạo được ngoài gỗ, củi và than gỗ Lâm sản ngoài gỗ được lấy từ
rừng, đất rừng hoặc từ những cây thân gỗ” Do đó, không được coi là LSNG
những sản phẩm như cát, đá, nước, dịch vụ du lịch sinh thái
Lâm sản ngoài gỗ bao gồm “tất cả các sản phảm sinh vật (trừ gỗ tròn công nghiệp, gỗ làm dăm, gỗ làm bột giấy) có thể lấy ra từ hệ sinh thái tự nhiên, rừng trồng được dùng trong gia đình, mua bán hoặc có ý nghĩa tôn giáo, văn hóa hoặc xã hội” Việc sử dụng hệ sinh thái cho mục đích giải trí,
bảo tồn thiên nhiên, quản lý vùng đệm… thuộc về lĩnh vực dịch vụ của rừng”
Thực vật rừng gồm tất cả các loài cây, loài cỏ dây leo bậc cao và bậc
thấp phân bố trong rừng Những loài cây không cho gỗ hoặc ngoài gỗ còn cho các sản phẩm quý khác như nhựa Thông, quả Hồi, vỏ Quế hoặc sợi Song mây
là thực vật đặc sản rừng” (Lê Mộng Chân, Vũ Dũng, 1992)[4]
LSNG là tất cả những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật không kể gỗ cũng như những dịch vụ có được từ rừng và đất rừng Dịch vụ trong định nghĩa này như là những hoạt động từ du lịch sinh thái, làm dây leo, thu gom
nhựa và các hoạt động liên quan đến thu hái và chế biến những sản phẩm này
Trang 146
LSNG bao gồm các nguyên liệu có nguồn gốc sinh vật, không phải là
gỗ, được khai thác từ rừng để phục vụ con người Chúng bao gồm thực phẩm , thuốc, gai vị, tinh dầu, nhựa, nhựa mủ, tanin, thuốc nhuộm, cây cảnh, động
vật hoang dã (còn sống hay sản phẩm của chúng), củi và các nguyên liệu thô
như tre, nứa, song, mây, gỗ nhỏ và sợi
LSNG là các sản phẩm nguồn gốc sinh vật, loại trừ gỗ lớn, có ở rừng, ở đất rừng và các cây bên ngoài rừng
Theo Trần Ngọc Hải (2000): Lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật
liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng (hiểu theo nghĩa rộng gồm rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người Bao gồm các loài thực
vật, động vật dùng làm thực phẩm, làm dược liệu, tinh dầu, nhựa sáp, nhựa dính, nhựa mủ, cao su, tanin, màu nhuộm, chất béo, cây cảnh, nguyên liệu giấy,
sợi…
Theo Vũ Tiến Hinh và Phạm Văn Điển (2003): Lâm sản ngoài gỗ bao
gồm tất cả các sản phẩm có nguồn gốc sinh học và các dịch vụ thu được từ
rừng hoặc từ bất kỳ vùng đất nào có kiểu sử dụng đất tương tự, loại trừ gỗ lớn
ở tất cả các hình thái của nó
Theo các định nghĩa như đã nêu ở trên, LSNG là một phần tài nguyên rừng Như vậy, đi tìm chỉ một định nghĩa cho LSNG là không thể Định nghĩa này có thể thay đổi phụ thuộc vào điều kiện kinh tế, xã hội, vào quan điểm sử dụng, phát triển tài nguyên và nhu cầu khác Các loại sản phẩm ngoài gỗ sẽ ngày càng được tăng lên do sự tìm tòi, phát hiện giá trị của chúng để phục vụ cuộc sống cho con
người, chúng gồm các sản phẩm qua chế biến hoặc không cần qua chế biến
2.1.2 Phân lo ại lâm sản ngoài gỗ
Hiện nay, có rất nhiều loại LSNG được điều tra, phát hiện, khai thác và
sử dụng Đối tượng và mục tiêu sử dụng, nghiên cứu LSNG cũng rất đa dạng
Trang 157
(người dân, thương nhân, nhà quản lý, nhà nghiên cứu ) Chính vì vậy, việc phân loại cũng rất nhiều quan điểm khác nhau
Dưới đây sẽ trình bày một số phương pháp phân loại LSNG đang được
sử dụng phổ biến hiện nay:
Phân loại LSNG theo hệ thống sinh giới: Theo phân loại kinh điển, sinh
giới được chia là hai giới chính: Động vật và thực vật Giới động vật và giới thực vật, tuy rất phong phú và đa dạng nhưng đều có thể sắp xếp một cách khách quan vào hệ thống các bậc phân loại từ lớn đến nhỏ: Giới\Ngành\Lớp\Bộ\Họ\Chi\Loài Ưu điểm của cách phân loại này là thấy được mối quan hệ thân thuộc giữa các loài và nhóm loài cùng sự tiến hóa của chúng Phương pháp phân loại này chú ý nhiều đến đặc điểm sinh học của loài Nhược điểm là đòi hỏi người sử dụng phải có những hiểu biết nhất định về
phân loại động, thực vật (Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên, 2000) [3]
Phân loại LSNG theo nhóm giá trị sử dụng: Là cách phân loại mà các
LSNG khác nhau không kể nguồn gốc trong hệ thống sinh giới, nơi phân bố…
có cùng giá trị sử dụng thì được xếp trong cùng một nhóm Ví dụ: Một hệ thống phân loại LSNG thực vật theo nhóm công dụng như sau:
Nhóm cây cho lương thực, thực phẩm;
Nhóm cây cho sợi
Nhóm cây cho ta-nanh
Nhóm cây cho màu nhuộm
Nhóm cây làm dược liệu
Nhóm cây cho nhựa, sáp, sơn
Nhóm cây dùng làm vật liệu nhẹ và thủ công mỹ nghệ
Nhóm cây làm cảnh, cho bóng mát
Ưu điểm của phương pháp phân loại này là đơn giản, dễ áp dụng và sử dụng nhiều kiến thức bản địa của người dân, nên người dân dễ nhớ, đồng thời
Trang 16Hệ thống phân loại khác lại dựa vào các sản phẩm LSNG, như hệ thống
phân loại đã thông qua trong Hội nghị LSNG Thái Lan, tháng 11/1991 (Bài giảng Lâm sản ngoài gỗ, 2002 Dự án LSNG, Hà Nội) Trong hệ thống này
lâm sản ngoài gỗ được chia làm 6 nhóm:
Nhóm 1: Các sản phẩm có sợi: tre nứa, song mây, lá và thân có sợi
và các loại cỏ
Nhóm 2: Sản phẩn làm thực phẩm: các sản phẩm nguồn gốc thực vật: thân, chồi, rễ, củ, lá, hoa, quả, quả hạch, gia vị, hạt có dầu và có nấm Các sản phẩm nguồn gốc động vật: mật ong, thịt động vật rừng, cá, trai ốc, tổ chim ăn được, trứng và côn trùng
Trang 179 Bốn năm sau, chuyên gia về lâm sản ngoài gỗ của FAO,
C.Chandrasekharan (FAO, 1995) đã đề xuất hệ thống phân loại lâm sản ngoài
Theo danh mục này đặc sản rừng được chia làm 2 nhóm lớn: Hệ cây rừng và Hệ động vật rừng Mỗi nhóm lớn lại chia nhiều nhóm phụ sau:
* Hệ động vật rừng:
Bao gồm các nhóm động vật rừng cho da, lông, sừng, xương, ngà, thịt,
xạ, mật; cho dược liệu như: voi, hổ, báo, trâu rừng, bò rừng, hươu, nai, rắn,
Trang 1810
trăn, kỳ đà, tắc kè, khỉ, nhím, vượn, ong rừng, các loài chim quý, các nhóm động vật rừng có đặc dụng khác
Mặc dù còn vài điểm chưa hợp lý, tuy nhiên có hệ thống phân loại lâm
sản ngoài gỗ trên là một mốc quan trọng, đánh giá sự tiến bộ về nhận thức, sự
hiểu biết về lâm sản ngoài gỗ của Việt Nam
2.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu LSNG trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình trên th ế giới
Ngay từ những năm 1950 các nhà khoa học nghiên cứu về cây thuốc của Liên Xô đã có các nghiên cứu về cây thuốc trên quy mô rộng lớn Năm 1952 các tác giả A.l Ermakov, Arasimovich, đã nghiên cứu thành công công trình
“Phương pháp nghiên cứu hoá sinh – sinh lý cây thuốc” Công trình này là cơ
sở cho việc sử dụng và chế biến cây thuốc đạt hiệu quả tối ưu nhất, tận dụng tối
đa công dụng của các loài cây thuốc Các tác giả A.F.Hammermen, M.D Choupinxkaia và A.A Yatsenko đã đưa ra được giá trị của từng loài cây thuốc (cả về giá trị dược liệu và giá trị kinh tế) trong tập sách “Giá trị cây thuốc” Năm 1972 tác giả N G Kovalena đã công bố rộng rãi trên cả nước Liên Xô (cũ) việc sử dụng cây thuốc vừa mang lại lợi ích cao vừa không gây hại cho sức khoẻ của con người Qua cuốn sách “Chữa bệnh bằng cây thuốc” tác giả Kovalena đã giúp người đọc tìm được loại cây thuốc và chữa đúng bệnh với
liều lượng đã được định sẵn (Trần Thị Lan, 2005) [15]
Năm 1954 tác giả Từ Quốc Hân đã nghiên cứu thành công công trình
“Dược dụng thực vật cấp sinh lý học” Cuốn sách này giới thiệu tới người đọc cách sử dụng từng loại cây thuốc, tác dụng sinh lý, sinh hoá của chúng, công
dụng, cách phối hợp các loài cây thuốc treo từng địa phương như “Giang Tô
tỉnh thực vật dược tài chí”, “Giang Tô trung dược danh thực đồ khảo”,
“Quảng Tây trung dược trí” (Trần Hồng Hạnh, 1996) [14]
Trang 1911
Năm 1968, một số nhà nghiên cứu cây thuốc tại Vân Nam, Trung Quốc
đã xuất bản cuốn sách “Kỹ thuật gây trồng cây thuốc ở Trung Quốc” (Phan Văn Thắng, 2002) [12]
Mendelsohn, 1989 đã căn cứ vào giá trị sử dụng của lâm sản ngoài gỗ
để phân thành 5 nhóm: Các sản phẩm thực vật ăn được, keo dán và nhựa, thuốc nhuộm và ta nanh, cây cho sợi, cây làm thuốc Ông cũng căn cứ vào thị trường tiêu thụ để phân lâm sản ngoài gỗ thành 3 nhóm: Nhóm bán trên thị trường, nhóm bán ở địa phương và nhóm sử dụng trực tiếp bởi người thu
hoạch Nhóm thứ ba thường chiếm tỷ trọng rất cao nhưng lại chưa tính được giá trị Theo Mendelsohn chính điều này đã làm cho lâm sản ngoài gỗ trước
đây bị lu mờ và ít được chú ý đến (Phan Văn Thắng, 2002) [12]
Năm 1992, J.H de Beer - một chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của tổ chức Nông lương thế giới - khi nghiên cứu về vai trò và thị trường của lâm sản ngoài
gỗ đã nhận thấy giá trị to lớn của thảo quả đối với việc tăng thu nhập cho người dân sống trong khu vực vùng núi nơi có phân bố thảo quả nhằm xoá đói giảm nghèo, đồng thời là yếu tố thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội vùng núi và bảo
tồn phát triển tài nguyên rừng Về nhu cầu thị trường của thảo quả là rất lớn, chỉ tính riêng ở Lào, hàng năm xuất khẩu khoảng 400 tấn sang Trung Quốc và Thái Lan Đây là công trình nghiên cứu tổng kết về vai trò thảo quả đối với con người, xã hội cũng như tình hình sản xuất buôn bán và dự báo thị trường, tiềm
năng phát triển của thảo quả (Phan Văn Thắng, 2002) [12]
Theo Falconer, 1993, hầu hết mọi người đều thừa nhận lâm sản ngoài
gỗ như một yếu tố quan trọng cho phát triển kinh tế xã hội miền núi Ở Ghana, lâm sản ngoài gỗ có vai trò cung cấp thực phẩm, thuốc chữa bệnh, vật
liệu xây dựng, đồng thời cũng chiếm gần 90% nguồn thu nhập của các hộ
gia đình (Phan Văn Thắng, 2002) [12]
Trang 2012 Năm 1996, Tiền Tín Trung, một nhà nghiên cứu về cây thuốc dân tộc
tại Viện Vệ sinh dịch tễ công cộng Trung Quốc biên soạn cuốn sách “Bản
thảo bức tranh màu Trung Quốc” Cuốn sách đã mô tả tới hơn 1000 loài cây thuốc ở Trung Quốc, một trong số đó là thảo quả Nội dung đề cập là: Tên khoa học, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học cơ bản, công dụng và thành phần hoá học của thảo quả (Phan Văn Thắng, 2002) [12]
Năm 1999, trong cuốn “Tài nguyên thực vật của Đông Nam Á” L.S de Padua, N Bunyapraphatsara và R.H.M.J Lemmens đã tổng kết các nghiên
cứu về các cây thuộc chi Amomum trong đó có thảo quả Ở đây tác giả đề cập đến đặc điểm phân loại của thảo quả, công dụng, phân bố, một số đặc điểm sinh vật học và sinh thái học của thảo quả Tác giả cũng trình bày kỹ thuật nhân giống, trồng, chăm sóc bảo vệ, thu hái, chế biến, tình hình sản xuất và buôn bán thảo quả trên thế giới (Phan Văn Thắng, 2002) [12]
Nhiều nước trên thế giới như Brazil, Colombia, Equado, Bolivia, Thái Lan, Inđonesia, Malaysia, Ấn Độ, Trung Quốc đã và đang nghiên cứu các sản
phẩm lâm sản ngoài gỗ, trong đó có các loại rau, quả rừng mang lại nhiều dinh dưỡng, nhằm nâng cao đời sống của người dân bản địa và bảo vệ đa dạng sinh
học của các hệ sinh thái rừng địa phương (Everlyn Mathias, 2001) [17]
Để thuận tiện cho việc nghiên cứu C Chandrasekhanran (1995) - một chuyên gia lâm sản ngoài gỗ của FAO, đã chia lâm sản ngoài gỗ thành 4 nhóm chính như sau:
A Cây sống và các bộ phận của cây
Trang 2113
nghiên cứu đa dạng lâm sản ngoài gỗ trong phạm vi một bản ở Thakek, Khammouan, Lào người ta đã thống kê được 306 loài lâm sản ngoài gỗ trong
đó có 223 loài làm thức ăn (Phan Văn Thắng, 2002) [24]
Theo ước tính của Quỹ thiên nhiên thế giới (WWF) có khoảng 70.000 loài trong số 250.000 loài cây được sử dụng vào mục đích chữa bệnh trên toàn thế giới Nguồn tài nguyên cây thuốc này là kho tàng vô cùng quý giá của các dân tộc hiện đang khai thác và sử dụng để chăm sóc sức khoẻ, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc của các nền văn hoá Theo báo cáo của Tổ
35.000-chức Y tế Thế giới (WHO) ngày nay có khoảng 80% dân số các nước đang phát triển có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu phụ thuộc vào nguồn dược
liệu hoặc qua các chất chiết xuất từ dược liệu (Nguyễn Văn Tập, 2006) [11]
2.2.2 Tình hình nghiên c ứu LSNG ở Việt Nam
Vào những năm 1960 đến những năm 1980, một số nhà khoa học khi nghiên cứu về cây thuốc ở nước ta đề cập đến thảo quả Do thảo quả là cây
“truyền thống”, có đặc thù riêng khác với một số loài lâm sản ngoài gỗ là có
phạm vi phân bố hẹp, chúng được trồng chủ yếu dưới tán rừng ở các tỉnh phía
Bắc như Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang nên các nhà khoa học ít quan tâm Các công trình nghiên cứu liên quan còn tản mạn (Phan Văn Thắng, 2002) [12]
Sau năm 1975, Vàng đắng (Coscinium fenestrum) nguồn nguyên liệu
cho berberin coi là có vùng phân bố rộng, có trữ lượng lớn Song chỉ sau hơn chục năm khai thác loài Vàng Đắng đã trở nên rất hiếm và ở tình trạng
sẽ nguy cấp (V) trong sách đỏ Việt Nam Ba Kích (Morinda offcinalis) là
một cây thốc có tác dụng tăng cường khả năng sinh dục ở nam giới, chữa
thấp khớp và một số bệnh khác đã bị khai thác mỗi năm vài chục tấn liên
tục nên đã cạn kiệt (Viện Dược Liệu, 2002) [16]
Nghiên cứu của Giáo sư Đỗ Tất Lợi (1975) đã cho rằng: thảo quả là loài cây thuốc được trồng ở nước ta vào khoảng năm 1990 Trong thảo quả có
Trang 2214 khoảng 1-1,5% tinh dầu màu vàng nhạt, mùi thơm, ngọt, vị nóng cay dễ chịu
có tác dụng chữa các bệnh đường ruột Đây là một công trình nghiên cứu
khẳng định công dụng của thảo quả ở nước ta Tuy nội dung nghiên cứu về
thảo quả của công trình còn ít, nhưng nó đã phần nào mở ra một triển vọng cho việc sản xuất và sử dụng thảo quả trong y học ở nước ta
Năm 1982, Giáo sư Đoàn Thị Nhu công bố kết quả nghiên cứu của mình về “Bảo vệ, khai thác nguồn tài nguyên cây thuốc thiên nhiên và phát triển trồng cây thuốc trên rừng ở Việt Nam” Trong đó tác giả kết luận: thảo
quả là cây dược liệu quý và thích nghi tốt ở điều kiện dưới tán rừng, tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có nghiên Tiến Bân và cs (1994) Các nhà nghiên cứu
đã thống kê được 113 loài thực vật rừng làm thực phẩm, gia vị có ở Việt Nam
và tìm hiểu giá trị dinh dưỡng, phân biệt rau ăn được và rau độc, đặc điểm nơi
sống, cách thu hái, chế biến, thành phần dinh dưỡng Đây là một đề tài khoa
học của nhiều thế hệ các nhà nghiên cứu đã điều tra, khảo sát, tìm hiểu, trong
một thời gian dài đầy công phu và tỉ mỉ trên nhiều vùng sinh thái khác nhau (Nguy ễn Tiến Bân, 1994) [8]
Theo Lê Trần Đức, 1997, Sa nhân là cây thuốc quý trong y học cổ truyền phương đông, cứu nào về kỹ thuật gây trồng thảo quả dưới tán rừng (Phan Văn Thắng, 2002) [12]
Theo kết quả điều tra của Viện Dược liệu Bộ Y tế năm 1985, nước ta
có 1863 loài cây thuốc thuộc 236 họ thực vật Theo giáo sư Võ Văn Chi trong
cuốn “Từ điển cây thuốc” số loài cây thuốc ở Việt Nam là trên 3000 loài Trên 3/4 cây trong số này là những cây mọc tự nhiên, phần lớn sinh sống ở
rừng Kết quả điều tra sơ bộ ban đầu ở rừng một số tỉnh miền bắc cho thấy tỷ
lệ cây làm thuốc thường chiếm tỷ lệ rất cao (Viện Dược Liệu, 2002) [16]
Nguyễn thuộc chi Sa Nhân (Amomum Roxb), họ Gừng (Zingiberaceae)
Trên thế giới chi Amomum roxb có khoảng 250 loài phân bố chủ yếu ở vùng
Trang 2315
nhiệt đới núi cao ở Ấn Độ có 48 loài, Malaysia có 18 loài, Trung Quốc có 24 loài Ở nước ta, Sa nhân phân bố ở hầu hết các tỉnh vùng núi Bắc và Trung Bộ
có khoảng 30 loài trong đó có gần 30 loài mang tên Sa nhân, trong đó 23 loài
đã được xác định chắc chắn Ở Viện dược liệu và trường Đại Học Dược hiện
có 12 mẫu vật chưa đủ tài liệu định tên loài đều mang tên Sa Nhân (theo Nguyễn Tập) Ở Việt Nam, Sa nhân đã được biết đến từ rất lâu đời là vị thuốc cổ truyền trong y học dân tộc Bước đầu đã thống kê được trên 60 đơn thuốc có vị Sa Nhân dùng trong các trường hợp ăn không tiêu, kiết lỵ, đau dạ dày, phong tê thấp, sốt rét, đau răng, phù thũng,…Ngoài ra Sa nhân còn dùng trong sản xuất hương liệu để sản xuất xà phòng, nước gội đầu Các tác giả đã nghiên cứu đặc điểm sinh thái học, vòng đời tái sinh, cấu tạo, nơi phân bố, kỹ thuật, thời gian gây trồng, thu hoạch của sa nhân
Năm 1999, khi nghiên cứu ở Vườn quốc gia Ba Vì, Nguyễn Văn Sản và
cs, đưa ra kết luận: LSNG là nguồn thu nhập quan trọng đối với cuộc sống
của người dân nông thôn Tác giả cho rằng một trong những nguyên nhân mất
rừng, làm suy thoái đa dạng sinh học có nguồn gốc từ đời sống khó khăn của người dân, lâm sản ngoài gỗ bị sử dụng không hợp lý, cạn kiệt Một trong
những giải pháp có hiệu quả để giải quyết vấn đề đời sống khó khăn của người dân mà vẫn bảo tồn và phát triển rừng bền vững ở nước ta là phát triển tài nguyên LSNG
Nguyễn Ngọc Bình và cs (2000), với cuốn sách “Trồng cây nông nghi ệp, dược liệu và đặc sản dưói tán rừng” Tác giả đã giới thiệu giá trị kinh
tế, đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, kỹ thuật gây trồng 28 loài lâm sản ngoài gỗ như: Ba kích, sa nhân, thảo quả, trám trắng, mây nếp,…
Trước yêu cầu bảo tồn và trồng thêm Ba kích để làm thuốc, từ năm
1994 đến 2002, Viện Dược liệu đã phối hợp với một số hộ nông dân ở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xây dựng thành công một số mô hình trồng cây Ba
Trang 2416 kích Trong đó có mô hình Ba kích trồng xen ở vườn gia đình và vườn trang
trại, mô hình trồng Ba kích ở đồi và đất nương rấy cũ Bước đầu các mô hình
này đã đem lại những hiệu quả đáng kể (Nguyễn Chiều, Nguyễn Tập, 2006) [7]
Năm 2001, Vũ Văn Dũng và cs đã đề xuất cách phân loại mới, theo các tác
giả, lâm sản ngoài gỗ được chia ra làm 6 nhóm chính bao gồm: Sản phẩm có sợi,
sản phẩm dùng làm thực phẩm, các sản phẩm thuốc và mỹ phẩm, các sản phẩm chiết xuất, động vật và các sản phẩm động vật khác làm thực phẩm, làm thuốc, các sản phẩm khác gồm cây cảnh, lá để gói thức ăn và hàng hoá, nhìn chung, mỗi cách phân loại đều có những tồn tại nhất định, nhưng chúng đều có ý nghĩa trong nghiên cứu về sự đa dạng, phong phú của LSNG, về tiềm năng phát triển ngành LSNG ở Việt Nam
Năm 2001, trong quá trình thực hiện dự án “Sử dụng bền vững lâm sản ngoài gỗ” tại vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ và vùng đệm Vườn
quốc gia Ba Bể các nhà nghiên cứu kết luận rằng: phát triển lâm sản ngoài gỗ
là một trong những hướng đi đem lại hiệu quả kinh tế cao, đáp ứng mục tiêu nâng cao chất lượng sống cho người dân, từ đó xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội trong khu vực (Phan Văn Thắng, 2002) [12]
Trong công trình nghiên cứu “Giá trị và sử dụng lâm sản ngoài gỗ ở 2 tỉnh Cao Bằng, Bắc Kạn” của Phan Văn Thắng và cs (2001) cho thấy giá trị sử dụng của lâm sản ngoài gỗ đối với người dân rất lớn, 90% số hộ dân sống dựa vào rừng
Sản phẩm khai thác chủ yếu hiện nay là gỗ và lâm sản ngoài gỗ như măng, tre, trúc, hồi, giẻ, và cây dược liệu Thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ trong mỗi hộ gia đình đứng thứ 2 trong cơ cấu thu nhập của hộ gia đình và chiếm trung bình khoảng 22% tổng thu nhập kinh tế
Tìm hiểu việc sử dụng thực vật rừng làm thuốc, rau của nhân dân các xóm
Bản Cám, Nà Nặm thuộc Vườn quốc gia Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn, La Quang Độ (2001) Tác giả đã xác định được tên, giá trị sử dụng, đặc điểm sinh thái, nơi
Trang 25cần có chính sách và kỹ thuật hỗ trợ để người dân có thể phát triển lâu dài loại
hàng hoá này (Phùng T ửu Bôi, 2005) [13]
Kiến thức bản địa về kinh doanh tre lấy măng ở vùng Đông Bắc Việt Nam, Nguyễn Danh Minh và cs (2005) Để khai thác tiềm năng sẵn có về tre, kết
hợp kinh nghiệm địa phương về kinh doanh tre lấy măng với khoa học hiện địa, góp phần thúc đẩy kinh doanh măng tre ở Việt Nam, đề tài nghiên cứu kiến thức
bản địa kinh doanh tre lấy măng ở vùng Đông Bắc Việt Nam được thực hiện từ năm 2004 Mục tiêu của đề tài nhằm xác định những loài tre có thể kinh doanh
lấy măng; tổng kết kinh nghiệm địa phương và đề xuất mô hình kỹ thuật để kinh doanh tre lấy măng hiệu quả và bền vững (Nguyễn Thị Thoa) [9]
Khi nghiên cứu các biện pháp phát triển bền vững nguồn tài nguyên
thực vật phi gỗ tại Vườn quốc gia Hoàng Liên, Ninh Khắc Bản (2003) đã
thống kê được 29 loài cây dùng làm thuốc và cây cho tinh dầu Trong đó tác
giả đã lựa chọn được một số loài cây triển vọng để đưa vào phát triển: Thảo
quả, Thiên niên kiện, Xuyên khung,
Theo Ninh Khắc Bản (2003), khi điều tra về nguồn thực vật phi gỗ tại Hương Sơn – Hà Tĩnh bước đầu đã xác định được khoảng 300 loài cây có thể
Trang 2618
sử dụng để làm thuốc Tuy nhiên trong quá trình điều tra thấy có khoảng 25 loài cây được sử dụng làm thuốc chữa bệnh như: Hà thủ ô, Thiên niên kiện,
Thạch xương bồ, Ngũ gia bì, Sa nhân
Nghiên cứu một số bài thuốc, cây thuốc dân gian của cộng đồng dân tộc thiểu số tại buôn Đrăng Phốk - Vùng lõi VQG Yok Đôn - Huyện Buôn Đôn –
Tỉnh Dak Lak, Nguyễn Văn Thành và cs, 2004 Nghiên cứu đã chỉ ra từ cộng
đồng các bài thuốc, cây thuốc dân gian dùng để trị các loại bệnh thường gặp trong cuộc sống từ đó lựa chọn các bài thuốc, cây thuốc hay, quan trọng để bảo
tồn và phát triển nhân rộng dựa trên cơ sở sự lựa chọn có sự tham gia của người dân Đề tài đã ghi nhận được 46 bài thuốc với tổng cộng 69 loài cây làm thuốc
mà người dân tại cộng đồng đã sử dụng để điều trị từ các bệnh thông thường đến các bệnh có thể gọi là nan y và đã sắp xếp thành 9 nhóm các bài thuốc theo nhóm bệnh
Đề xuất về bảo tồn và phát triển nguồn cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo, Ngô Quý Công và cs trong 2 năm 2004-2005 nhóm nghiên cứu đã tiến hành điều tra việc khai thác, sử dụng cây thuốc nam tại vùng đệm của Vườn quốc gia, nghiên cứu kỹ thuật nhân giống, gây trồng một số loài cây thuốc quý nhằm bảo
tồn và phát triển cho mục đích gây trồng thương mại
Cũng trong thời gian này tác giả Nguyễn Tập và cộng sự (2005) đã điều tra đánh giá hiện trạng và tiềm năng về y học cổ truyền trong cộng đồng các dân
tộc tỉnh Bắc Kạn, kết quả đã thu thập được nhiều cây thuốc, bài thuốc các thầy lang trong cộng đồng thường sử dụng, nhằm kế thừa và quảng bá rộng rãi những trí thức bản địa này của địa phương Những vấn đề đặt ra là làm thế nào để duy trì, bảo tồn và khai thác được vốn kinh nghiệm quý báu này
Nguyễn Hoàng Nghĩa và cộng sự (2006) đã nghiên cứu 6 loài tre quả
thịt (tre Quả thịt Lộc Bắc, Trường Sơn, Pà Cồ, Cúc Phương, Dẹ Yên Bái, Kon
Trang 2719
Hà Nừng) Tác giả đã tiến hành điều tra, khảo sát, nghiên cứu đặc điểm sinh thái, cấu tạo, giải phẫu hoa, quả Kết quả của nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho giám định loài và ghép chi để tạo ra các giống tre cho măng có năng suất, chất lượng cao
Kiến thức bản địa của người dân trong việc khai thác sử dụng các loài lâm
sản ngoài gỗ làm thực phẩm, gia vị tại xã Thần Sa -Võ Nhai, Nguyễn Thị Thoa
và cộng sự (2006) [9] Tác giả đã xác định được 16 loài lâm sản ngoài gỗ thường xuyên được sử dụng làm rau ăn, gia vị, tìm hiểu kinh nghiệm của người dân xã trong việc sử dụng các loài làm thực phẩm, gia vị và đề xuất giải pháp bảo vệ, phát triển các loài này
Năm 2006 nhóm tác giả thuộc Trung tâm nghiên cứu Lâm đặc sản -
Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phối hợp với Viện Dược liệu đã tổ
chức điều tra nguồn tài nguyên cây thuốc tại xã Đồng Lâm, huyện Hoàng Bồ,
tỉnh Quảng Ninh và đã ghi nhận được 288 loài thuộc 233 chi, 107 họ và 6 ngành thực vật Tất cả đều là những cây thuốc mọc hoang dại trong các quần
xã rừng thứ sinh và đồi cây bụi Trong đó có 8 loài được coi là mới (chưa có tên trong danh lục cây thuốc Việt Nam) (Nguyễn Văn Tập, 2006) [10]
Lê Thị Diên và cộng sự (2006) [11] đã thử nghiệm gây trồng một số loài cây thuốc nam dưới tán rừng tự nhiên tại thôn Hà An Các cây thuốc nam được gây trồng có tỷ lệ sống cao, sức sinh trưởng tốt, hứa hẹn sẽ đóng góp đáng kể vào nguồn thu nhập cho các hộ gia đình tham gia gây trồng [5]
Trần Ngọc Hải và cộng sự (2002), đã đánh giá vai trò kinh tế của LSNG
ở 2 thôn người Dao tại xã Ba Vì Tác giả cho rằng LSNG, đặc biệt là nhóm tre bương và cây dược liệu đóng vai trò quan trọng trong kinh tế hộ gia đình
Thực trạng khai thác sử dụng và tiềm năng gây trồng cây thuốc tại Vườn quốc gia Tam Đảo và vùng đệm, 2008, Đỗ Hoàng Sơn và cộng sự Qua
Trang 2820
điều tra họ thống kê được tại Vườn quốc Gia Tam Đảo và vùng đệm có 459 loài cây thuốc thuộc 346 chi và 119 họ trong 4 ngành thực vật là: Equisetophyta, Polypodiophyta, Pinophyta và Magnoliophyta Người dân thuộc vùng đệm ở đây chủ yếu là người Dao và Sán Dìu sử dụng cây thuốc
để chữa 16 nhóm bệnh khác nhau Trong đó trên 90% số loài được sử dụng thu hái trong rừng tự nhiên Mỗi năm có khoảng hơn 700 tấn thuốc tươi từ Vườn quốc gia Tam đảo được thu hái để buôn bán Nguồn tài nguyên cây thuốc ở đây đang bị suy giảm khoảng 40% so với 5 năm trước đây Trên cơ sở các nghiên cứu tác giả đã đề xuất 26 loài cây thuốc cần được ưu tiên và đưa vào bảo tồn
Từ nhiều năm qua, Viện Dược liệu đã thu thập hơn 500 loài cây thuốc đem về trồng, nhân giống ở các vườn cây thuốc 65 loài có nguy cơ cao đã được trồng ở Trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Sa Pa (Lào Cai), Vườn trạm nghiên cứu trồng cây thuốc Tam Đảo (Vĩnh Phúc), Vườn Trung tâm nghiên
cứu trồng và chế biến thuốc Hà Nội (Thanh Trì), Vườn trung tâm nghiên cứu dược liệu Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa) và vườn bảo tồn cây thuốc vùng cao Phó Bảng (Đồng Văn - Hà Giang) Các vườn thuốc này có đủ điều kiện giống như điều kiện sống tự nhiên của chúng và lý lịch thu thập, ngày trồng, tình hình sinh trưởng phát triển, ra hoa - quả được ghi lại để đánh giá khả năng
bảo tồn (Lê Văn Giỏi, 2006) [6]
Vừa qua Viện Dược liệu và Bộ môn Dược liệu - Trường Đại học Dược Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu định tính và định lượng một số nhóm
chất trong cây Chè đắng mọc tại Cao Bằng Kết quả nghiên cứu cho thấy trong lá Chè đắng có 5 nhóm chất: Saponin tổng, flavonoid tổng, polysaccharid tổng, carotenoid và các a-xít hữu cơ Đây là những nhóm chất
Trang 2921
có nhiều tác dụng sinh học quan trọng và từ lâu đã thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu (Dẫn theo Nguyễn Thị Thoa, 2006) [9]
Dược thảo trong rừng mưa nhiệt đới, Phạm Minh Toại và cs, 2005, tác
giả chỉ ra: với mức độ mất rừng như hiện nay thì hệ thực vật và động vật giàu
có ở vùng nhiệt đới, bao gồm cả các loài dược thảo đã biết hoặc đang ở dạng
tiềm năng sẽ bị huỷ diệt và các kiến thức bản địa liên quan cũng ít có cơ hội tồn
tại Việc mất rừng nhiệt đới rõ ràng đang đe doạ sự an toàn của loài người thông qua các tác động cùng tăng lẫn nhau như: trượt lở đất, lũ lụt và hoang
mạc hoá, xói mòn đất và sự lây nhiễm một số bệnh tật Tuy nhiên, sự tuyệt
chủng của những loài dược thảo và sự mất đi của những thầy thuốc nam giỏi ở địa phương (thầy lang) còn là một nguy cơ lớn hơn nhiều đối với sức khoẻ con người ở cả các nước đang phát triển và các nước phát triển
Một số vấn đề bảo tồn cây thuốc mọc tự nhiên ở rừng, Nguyễn Văn
Tập, 2005 Trong nguồn lâm sản ngoài gỗ ở Việt Nam, cây thuốc chiếm một
vị trí quan trọng về thành phần loài cũng như về giá trị sử dụng và kinh tế Theo kết quả điều tra cơ bản của Viện Dược liệu (Bộ Y tế) đến năm 2004 đã phát hiện được ở nước ta có 3.948 loài thuộc 1.572 chi và 307 họ thực vật (kể
cả rêu và nấm) có công dụng làm thuốc Trong số đó, trên 90% tổng số loài là cây thuốc mọc tự nhiên, chủ yếu trong các quần hệ rừng Rừng cũng là nơi tập
hợp hầu hết cây thuốc quý có giá trị sử dụng và kinh tế cao
Ngoài ra cũng có nhiều cá nhân nghiên cứu về chủ đề liên quan đến LSNG nhưng hầu hết các nghiên cứu này tập trung vào các loại tre trúc như:
Thử nghiệm nhân giống Luồng của trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, nghiên cứu nhân giống và gây trồng các loài tre trúc lấy măng của Phân Viện Khoa học Lâm nghiệp miền Nam; nghiên cứu nhân giống tre Lồ Ô và Luồng
của khoa Lâm nghiệp trường Đại học Nông Lâm Huế; một số tác giả khác đã
Trang 30Nh ận xét: Các kết quả nghiên cứu đã phác thảo một bức tranh về lâm
sản ngoài gỗ với số lượng khổng lồ các giống loài Chúng có dạng sống, đặc điểm sinh thái và giá trị sử dụng vô cùng đa dạng Tính phong phú của lâm
sản ngoài gỗ có ý nghĩa lớn trong giai đoạn hiện nay Nó không phải là sản
phẩm “phụ” mà là một trong những sản phẩm chính của rừng, có ý nghĩa đến quá trình phát triển kinh tế xã hội miền núi và góp phần bảo tồn và phát triển
rừng Gần đây, những phát hiện mới về tiềm năng của lâm sản ngoài gỗ như
khả năng phục hồi nhanh, cho thu hoạch sớm với năng suất kinh tế cao và ổn định, có khả năng kinh doanh liên tục, phù hợp với quy mô hộ gia đình và đặc
biệt là việc khai thác chúng gần như không tổn hại đến rừng đã thúc đẩy nhiều nhà khoa học tham gia vào nghiên cứu phát triển lâm sản ngoài gỗ
2.3 Khái quát m ột số đặc điểm của cây Nghệ đen
Kế thừa các tài liệu nghiên cứu đã có và quy trình kỹ thuật trồng rừng của Viện Khoa học Lâm nghiệp cho thấy một số đặc điểm sinh thái học cơ bản của Nghệ đen như sau:
2.3.1 Đặc điểm nhận biết
Trang 3123
Hình 2.1 Cây Nghệ đen
2.3 2 Đặc tính sinh học và sinh thái
Nghệ đen có chứa 82,6% tinh bột, 1đến 1,5% tinh giàu Củ nghệ đen chứa nhiều tinh giàu,vị đắng, tính cay mùi vị hăng, tính ấm nghệ đen chứa đặc tính kháng khuẩn cao, có thể ngăn ngừa sự phát triển của virus gây hại đối với dạ dày và virus gây ung thư Tinh dầu trong nghệ đen giúp làm tăng khả năng tiết mật nhưng lại không làm tăng nồng độ axit trong dạ dày, giúp ổn định dạ dày rất tốt
Nghệ đen có tính ấm giúp điều trị các bệnh lý khiến cơ thể bị lạnh từ bên trong như ho, cảm lạnh; điều hòa và lưu thông khí huyết, giúp giảm đau bụng kinh, điều trị kinh nguyệt không đều, máu đông,
Nghệ đen là cây ưu khí hậu ôn hòa, nhiệt độ thích hợp cho sinh trưởng
đồng bằng, hoặc đất thịt nhẹ ở trung du miền núi đều thích hợp để trồng cây nghệ đen Cây mọc hoang ở vùng núi ven suối và được trồng ở nhiều nơi Là cây bản địa của Ấn độ và Indonesia
Trang 3224
2.3.2.2 Giá trị
ngon và béo Đem phơi và nghiền ra, nghệ là thành phần của bột cà ri Nghệ
dưới dạng nước ép trong một thời gian dài) Trong y học phương Đông, dân
xông lên tim, người ta dùng nghệ đốt tồn tính, tán bột cho uống 8 g mỗi ngày
gram nghệ giã nát, hòa với đồng tiện vắt lấy nước cốt uống
đen trị mụn trứng cá, ngăn ngừa quá trình lão hóa da và giúp giảm mờ sẹo thâm nhanh chóng