Với “Phaedo”, Plato đã để lại những tư tưởng về lý tưởng mà nhà triết học luôn theo đuổi cùng những phẩm chất mà mỗi nhà triết học cần phải có, sự bất tử của linh hồn, cùng với đó là nê
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS,TS Bùi Thị Thanh Hương
HÀ NỘI – 2016
Trang 2Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
TS Trần Hải Minh
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học PGS.TS Bùi Thị Thanh Hương Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Tác giả luận văn
NGUYỄN HỮU HÙNG
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI, NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA TRIẾT HỌC PLATO VÀ TÁC PHẨM “PHAEDO” 8
1.1 Điều kiện ra đời triết học Plato 8
1.2 Khái quát nội dung cơ bản của triết học Plato 25
1.3 Khái quát về tác phẩm “Phaedo” 33
Chương 2 NỘI DUNG TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC CHỦ YẾU TRONG TÁC PHẨM “PHAEDO” - GIÁ TRỊ VÀ HẠN CHẾ 38
2.1 Những nội dung tư tưởng triết học chủ yếu trong tác phẩm “Phaedo” 38
2.2 Nhận xét về giá trị và hạn chế của tư tưởng triết học chủ yếu trong tác phẩm “Phaedo” 72
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
TÓM TẮT LUẬN VĂN 90
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Thời gian là một trong những cách thức tồn tại của sự vật, hiện tượng trong thế giới Thời gian bao gồm tương lai, hiện tại và lịch sử Tương lai là những điều sắp xảy ra, hiện tại là những việc đang xảy ra trong khi lịch sử là những sự kiện đã xảy ra Trong chuỗi thời gian đó, lịch sử là giai đoạn mà con người hiện tại không thể thể thay đổi được, nhưng không vì thế mà chúng ta coi khoảng thời gian đó là không còn giá trị, ngược lại, nghiên cứu lịch sử giúp cho con người đúc rút ra được những bài học, những kinh nghiệm quý báu và từ đó mới có thể hướng đến tương lai Ôn cố tri tân – đó chính là một trong những cách để con người nhận thức và hành động Triết học cũng không phải ngoại lệ, để phát triển triết học Mác – Lênin phù hợp với điều kiện hoàn cảnh đang biến đổi nhanh chóng và phức tạp hiện nay, một trong những điều quan trọng là cần nghiên cứu lịch sử triết học, tiếp tục khai thác những gia trị tinh thần của quá khứ
Tri thức triết học đã trải qua hơn 2000 năm lịch sử, trải dài từ phương Đông sang phương Tây với vô vàn những nhà triết học lỗi lạc Trong đó thời
kì cổ đại – dù là khoảng thời gian đã cách xa hiện thực ngày nay song hàm chứa nhiều tư tưởng triết học quý giá Thuộc giai đoạn triết học cổ đại, nổi bật lên là triết học Hy Lạp – nơi xuất hiện rất nhiều triết gia uyên bác cùng với những tư tưởng vừa sâu sắc vừa chứa đựng những cơ sở cho rất nhiều những học thuyết, lý luận về sau Để phát triển triết học nói chung, triết học Mác – Lênin nói riêng, thì nhất thiết cần nghiên cứu thời kì triết học này Trong quá trình nghiên cứu tư tưởng của những bậc tiền nhân Hy Lạp để lại, không thể không nghiên cứu tư tưởng triết học của Plato (Platon) – nhà triết học xuất sắc của Hy Lạp cổ đại, người mà theo Hegel (Hê-ghen) là “có ảnh hưởng to lớn
Trang 6đến tiến trình phát triển tư tưởng, nói chung, tới văn hóa tinh thần của nhân loại” [55, tr.185]
Khác với các triết gia đương thời như Thales (Ta-lét), Heraclitus clit), Socrates (Xô-crát), những di sản tư tưởng của Plato còn được giữ gìn
(Hê-ra-tương đối toàn vẹn cho đến ngày nay, có thể kể đến như: “The Republic” (Nền
Cộng Hòa), “Laws” (Luật pháp), “Apology” (Biện hộ), “Symposium”(Bữa tiệc), mỗi tác phẩm đều chứa đựng những tư tưởng mang tính chất nền tảng
và “Phaedo” cũng là một tác phẩm như thế Tác phẩm ra đời trong thời kì chín muồi của triết học Plato Với “Phaedo”, Plato đã để lại những tư tưởng
về lý tưởng mà nhà triết học luôn theo đuổi cùng những phẩm chất mà mỗi nhà triết học cần phải có, sự bất tử của linh hồn, cùng với đó là nêu lên quan điểm của ông về bản chất của quá trình nhận thức của con người, tư tưởng biện chứng và quan niệm về vũ trụ Trong đó những quan điểm về lý tưởng và phẩm chất của triết gia, quan niệm về sự bất tử của linh hồn, tư tưởng biện chứng… vẫn còn những giá trị nhất định và chứa đựng nhiều gợi mở cho xã hội hiện đại, đặc biệt trong vấn đề giáo dục đạo đức, định hướng lối sống Việc tìm hiểu về những vấn đề đó không phải chưa được tiến hành, song đến hiện nay vẫn chưa có một công trình chuyên biệt nào nghiên cứu Vì vậy, tôi
quyết định chọn “Tư tưởng triết học của Plato trong tác phẩm Phaedo”
làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Plato là một nhà triết học lớn thời Hy Lạp cổ đại, vì vậy có nhiều công trình nghiên cứu có liên quan đến ông và một số công trình nghiên cứu về tư tưởng của ông:
Nghiên cứu tư tưởng Plato cùng với các triết gia khác trong lịch sử triết học:
Trang 7+ Thái Ninh (1987), Triết học Hy lạp cổ đại, Nxb Sách giáo khoa Mác
– Lênin: trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày lịch sử triết học Hy Lạp từ khi hình thành đến giai đoạn suy tàn Cùng với các đại biểu nổi bật như Socrates, Aristotle Plato cũng được đề cập đến với các tư tưởng về vũ trụ, nhận thức, nhà nước, thẩm mỹ
+ Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (1998), Lịch sử phép biện chứng -
tập 1- Phép biện chứng cổ đại, dịch giả Đỗ Minh Hợp, hiệu đính Đặng Hữu
Toàn, Nxb Chính trị quốc gia: đề cập đến Plato với tư cách là một đại biểu có những đóng góp nhất định vào kho tàng tư tưởng biện chứng trong lịch sử triết học
+ Lê Tôn Nghiêm (2000), Lịch sử triết học phương Tây, Nxb Thành
phố Hồ Chí Minh: tác giả trình bày quan niệm của Plato về tri thức luận, học thuyết về những lý tưởng hay biện chứng pháp, thiên nhiên hay vật lý học, luân lý và chính trị học
+ Nguyễn Hữu Vui (chủ biên) (2002), Lịch sử triết học, Nxb Chính trị
Quốc gia, Hà Nội: là tác phẩm trình bày hệ thống lịch sử triết học từ phương Đông, đến phương Tây; từ giai đoạn cổ đại cho đến hiện đại Tác giả trình bày những tư tưởng của của Plato theo hệ thống những vấn đề: học thuyết về thế giới, nhận thức luận, logic học, nhân bản học, học thuyết chính trị xã hội và thẩm mỹ học
+ Doãn Chính (chủ biên), Nguyễn Thế Nghĩa (2002), Lịch sử triết học -
tập 1 - Triết học cổ đại, Nxb Khoa học Xã hội: khái lược quan điểm của các
nhà triết học Hy Lạp cổ đại trong đó Plato được đề cập với tư cách là một nhà triết học xuất sắc của thời kỳ này Các tác giả đã tập trung nghiên cứu quan niệm của Plato về học thuyết ý niệm, nhận thức luận, giáo dục, tư tưởng thẩm
mỹ - nghệ thuật, tâm lý học
+ Samuel Enoch Stumpf, Donald C.Abel (2004), Nhập môn triết học
phương Tây, dịch giả Lưu Văn Hy, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh:
Trang 8trình bày theo hệ thống các vấn đề trong lịch sử triết học phương Tây Trong
đó có đề cập đến những tư tưởng của Plato về Ý niệm (dịch giả Lưu Văn Hy
sử dụng thuật ngữ “Mô thể”), vấn đề linh hồn và thể xác, vấn đề bất tử của linh hồn
+ Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Thanh, Nguyễn Anh Tuấn (2006), Đại cương
về Lịch sử Triết học phương Tây, Nxb Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh:
cùng với việc đề cập đến nhiều nhà tư tưởng khác trong lịch sử triết học phương Tây, Plato được đề cập đến từ các vấn đề như: cuộc đời và sự nghiệp, học thuyết linh hồn, học thuyết ý niệm, học thuyết về nhà nước
Ngoài ra còn rất nhiều công trình nghiên cứu khác như: Tống Văn
Chung, Nguyễn Quang Thống (1990), Lịch sử triết học cổ Hy-La, Tập 1, Nxb Đại học tổng hợp Hà Nội; Hà Thúc Minh (1993), Triết học Hy Lạp La Mã,
Nxb Viện khoa học xã hội Thành phố Hồ Chí Minh; Đinh Ngọc Thạch
(1999), Triết học Hy Lạp cổ đại, Nxb Chính trị Quốc gia; Bùi Thanh Quất,
Vũ Tình (2000), Lịch sử Triết học, Nxb Giáo dục; Trần Văn Phòng (2006),
Triết học Hy Lạp cổ đại, Nxb Chính trị Quốc gia; Taranốp, P.S (2012), 106 nhà thông thái, dịch giả Đỗ Minh Hợp, Nxb Chính trị Quốc gia,
Nghiên cứu chuyên biệt về toàn bộ tư tưởng của Plato:
+ Dave Robinson, Judy Groves (2006), Nhập môn Plato, dịch giả Trần
Tiễn Cao Đăng, Nxb Trẻ: trình bày khái quát thân thế, sự nghiệp; những tư
tưởng của Plato trong một số tác phẩm chính (The Republic, Laws, Phaedo),
thể hiện dưới hình thức tranh minh họa Công trình này nhằm phục vụ cho những người nghiên cứu bước đầu muốn tìm hiểu về Plato
+ Benjamin Jowett, M.J.Knight (2008), Plato chuyên khảo, dịch giả
Lưu Văn Hy, Nxb Văn hóa thông tin: trình bày toàn bộ các tác phẩm của Plato Trước mỗi tác phẩm, tác giả đều viết lời giới thiệu về hoàn cảnh của tác phẩm, đồng thời rút ra một số tư tưởng trong mỗi tác phẩm Trong công trình
này, trước khi trình bày tác phẩm “Phaedo”, tác giả có nêu 12 kết luận khái
Trang 9quát được từ tác phẩm Tuy nhiên, các kết luận không theo hệ thống (không theo thứ tự thời gian, không gian hoặc vấn đề), bị trùng nhau (kết luận 1, 3, 6,
7 cùng nói về vấn đề linh hồn bất tử)
Nghiên cứu tư tưởng của Plato trong từng tác phẩm:
Các công trình hiện nay hầu như mới chỉ tập trung vào tác phẩm“The
Republic”- “Nền Cộng hòa”, có thể kể đến:
+ Phạm Bá Điền (2012), Luận văn Thạc sĩ Tư tưởng về giáo dục của
Plato trong tác phẩm “Nền Cộng hòa”, Trường Đại học Khoa học xã hội và
Nhân văn
+ Nguyễn Hoài Thu (2015), Luận văn Thạc sĩ Tư tưởng triết học chính
trị - xã hội trong tác phẩm Cộng hòa của Platon, Học viện Báo chí và Tuyên
truyền
Như vậy tư tưởng của Plato chưa được khai thác hết ở các công trình nghiên cứu đã có Trong luận văn này sẽ chủ yếu khai thác tư tưởng triết học
của Plato trong tác phẩm “Phaedo”, tuy vậy các công trình trên sẽ là những
tài liệu quý giá đối với tác giả để thực hiện luận văn này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những tư tưởng triết học cơ bản của Plato trong tác phẩm
“Phaedo” từ lập trường duy vật biện chứng, trên cơ sở đó chỉ ra những giá trị
và hạn chế của những tư tưởng này
Nhiệm vụ nghiên cứu
Một là, trình bày khái quát về điều kiện ra đời của triết học Plato, cuộc
đời, sự nghiệp của Plato, những tư tưởng triết học cơ bản của ông
phẩm “Phaedo”
Trang 10Ba là, đánh giá giá trị và hạn chế của những tư tưởng triết học chủ yếu
trong tác phẩm “Phaedo” từ lập trường duy vật biện chứng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Tư tưởng triết học của Plato trong tác phẩm “Phaedo”
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với các phương pháp so sánh, phân tích – tổng hợp, lôgic – lịch sử, phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể
6 Cái mới của đề tài
Phân tích, làm rõ những tư tưởng triết học của Plato trong tác phẩm
Trang 11Về mặt thực tiễn
Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên chuyên ngành triết học hay những người quan tâm đến triết học Plato
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chương và 5 tiết
Trang 12Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ ĐIỀU KIỆN RA ĐỜI, NỘI DUNG CƠ BẢN
CỦA TRIẾT HỌC PLATO VÀ TÁC PHẨM “PHAEDO”
1.1 Điều kiện ra đời triết học Plato
1.1.1 Điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội Hy Lạp cổ đại
Tồn tại xã hội của con người quy định ý thức của họ, là một hình thái ý thức xã hội có vai trò quan trọng bậc nhất trong đời sống tinh thần Hy Lạp thời cổ, triết học Hy Lạp cổ đại, trong đó có triết học Plato không thể không chịu sự quy định của những điều kiện kinh tế - chính trị - xã hội Hy Lạp đương thời Triết học cũng là lăng kính phản chiếu rõ nét nhất những điều kiện đó
Xã hội Hy Lạp cổ đại có niên đại khoảng 1000 năm (tính từ khoảng năm 1100 tr CN khi nền văn minh Mycenae sụp đổ cho đến năm 146 tr CN khi bị sát nhập vào đế quốc La Mã) và chia làm 4 giai đoạn: giai đoạn Crete – Mycenae; giai đoạn Homer; giai đoạn thành bang; và giai đoạn Macedonia
Cả 4 giai đoạn này đều gắn với chế độ chiếm hữu nô lệ và sự phát triển khá sôi động của nền kinh tế, các cuộc chiến tranh lớn nhỏ cũng như những sinh hoạt xã hội đa màu sắc
Về kinh tế, đây là thời kì loài người chuyển từ thời đại sử dụng phổ biến
công cụ lao đồng bằng đồng sang sử dụng phổ biến công cụ lao động bằng sắt, làm tăng nhanh năng suất lao động, sản phẩm làm ra ngày càng nhiều đến mức dư thừa
Trong nông nghiệp, chăn nuôi tách ra khỏi trồng trọt Vì điều kiện Hy Lạp không thích hợp để trồng các loại cây lương thực, “tạo ra giá thành 1 kg thóc cao hơn giá thóc nhập từ nước ngoài vào” [24, tr.177], nên người Hy Lạp
Trang 13tập trung trồng nho và oliu – 2 loại cây mà sinh trưởng và phát triển phù hợp đất đai và khí hậu nơi đây
Thủ công nghiệp phát triển sớm, các ngành nghề thủ công nghiệp khá
đa dạng: luyện kim, chế tạo vũ khí, đồ trang sức, đồ gỗ, đồ gốm, sành sứ, nhạc cụ, may mặc, dệt vải: “Hiện tượng các xưởng thủ công sử dụng từ 50 đến 100 nô lệ làm việc đã trở nên phổ biến Đó là chưa kể tới những công trường khai thác mỏ – như ở mỏ bạc Lôriông – đã sử dụng tới sức lao động của hàng nghìn nô lệ” [24, tr.178] Lực lượng sản xuất chính trong các xưởng thủ công là nô lệ Chỉ có một tỉ lệ nhỏ dân tự do làm nghề thủ công và họ thường là những thợ giỏi, lành nghề, chuyên sản xuất những đồ thủ công tinh xảo, đòi hỏi trình độ tay nghề cao như điêu khắc chạm trổ tinh vi, trang trí hoa văn trên các bình gốm, sứ quý và đắt tiền
Thương nghiệp rất phát triển, do điều kiện tự nhiên có nhiều cảng biển,
có những con đường bộ, đường biển sang các nước lân cận ở cả phương Đông
và phương Tây, người Hy Lạp đã tận dụng tốt ưu thế đó để sớm phát triển thương nghiệp, ngay cả ngoại thương Nền kinh tế tự cung tự cấp thời công xã
đã chuyển sang nền kinh tế trao đổi bằng tiền mặt đã khiến trao đổi hàng hóa được tăng cường Các chợ trung tâm mọc lên, nhất là chợ ở Althens, bày bán tất cả những mặt hàng xa xỉ, đắt tiền “Nông dân ở các vùng phụ cận cũng mang tới chợ những sản phẩm của họ để bán, mua Gà, vịt, hoa quả, cá, len
dạ, quần áo, vũ khí, dầu thắp sáng, rượu, đồ gốm… được bày bán la liệt trong các khu riêng biệt được sắp xếp hợp lý ở các chợ” [24, tr.178]
Hoạt động ngoại thương sầm uất với việc tận dụng các cảng biển, Cảng Pirate là một quân cảng và thương cảng, là trung tâm xuất, nhập khẩu quan trọng đồng thời cũng là trung tâm lớn nhất của thế giới cổ đại Từ cảng này, các thương nhân Hy Lạp xuất sang các thành bang lân cận những sản phẩm thế mạnh của họ như dầu oliu, rượu nho, đồ gốm màu có trang trí
Trang 14hoa văn và hình vẽ đẹp, đá cẩm thạch, thiếc, chì, mật ong, vải Cũng tại đây, họ nhập các mặt hàng thiết yếu của hầu hết các nước trong thế giới cổ đại: ngũ cốc từ Biển Đen, Bắc Phi, đảo Sicily; hạt tiêu từ Ấn Độ, chà là và lúa mì của vùng Lưỡng Hà; ngà voi từ châu Phi; gỗ đóng thuyền, dầu, đồng
từ Macedonia; và cả nô lệ
Hoạt động tiền tệ và cho vay phát đạt Đặc biệt ở Athens, hệ thống tiền
tệ có giá trị sử dụng không những ở trong nước mà còn ở các thị trường khác, thậm chí có giá trị đến nỗi các lái buôn người nước ngoài sau khi bán hết hàng, nếu không chở hàng khác từ Athens về thì họ chỉ mang tiền Athens về
“Ở cảng Pirate cũng như những trung tâm thương mại Aten đã xuất hiện tầng lớp người giàu có với những cửa hiệu chuyên đổi tiền, cho vay lãi và thiết lập nên những ngân hàng tư nhân với số vốn tài sản khổng lồ (ví như ngân hàng Padiông luôn có 50 talăng vàng)” [24, tr.179] Các hoạt động kinh tế nhộn nhịp sầm uất này kéo dài từ thế kỉ V đến thế kỉ IV đã thúc đẩy những lĩnh vực khác của đời sống xã hội phát triển tỉ lệ thuận theo
Về chính trị, do chuyển từ hình thái kinh tế - xã hội công xã nguyên
thủy sang hình thái chiếm hữu nô lệ, nên quan hệ xã hội cũ như bộ tộc bộ lạc mất đi thay vào đó là quan hệ giai cấp giữa giai cấp chủ nô và nô lệ Chế độ tư hữu xuất hiện làm xuất hiện mâu thuẫn giữa hai giai cấp này Giai cấp chủ nô
là giai cấp thống trị, bóc lột, còn giai cấp nô lệ là giai cấp bị trị, bị bóc lột Giai cấp nô lệ có số lượng đông đảo Sức lao động của nô lệ được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của đời sống
Nô lệ còn được sử dụng tối đa trong các công việc xây dựng công trình công cộng, khai thác đá, những công việc tạp dịch trong các gia đình chủ nô như chăm sóc vườn gia súc, giữ ngựa, nấu bếp, hầu hạ Trong thương mại, nô
lệ được dùng vào việc chèo thuyền, khuân, bốc dỡ hàng hóa, phục dịch ở các hiệu buôn Khi chiến tranh nổ ra, nô lệ được huy động vào việc chèo thuyền
Trang 15chiến, vận chuyển lương thực, vũ khí Những nô lệ nhanh nhẹn còn được sử dụng để đảm bảo trật tự: “Ở thủ đô Aten, nhà nước đã sử dụng 300 nô lệ người
xứ Xíttơ (vùng Đanuýp) làm cảnh sát Những nô lệ cảnh sát này thực hiện nhiệm vụ của họ một cách mẫn cán, trung thành và cứng rắn” [24, tr.181]
Không chỉ vậy, nô lệ còn được sử dụng theo cách một số người giàu có, mua nô lệ về nhưng không phải để trực tiếp sản xuất hoặc phục dịch mà đem
nô lệ cho tư nhân hoặc nhà nước thuê theo những hợp đồng thỏa thuận Một
số chủ nô khác cho phép nô lệ của họ tự kinh doanh sản xuất, tự tìm kiếm việc làm ở các xưởng thủ công, hầm mỏ, bến tàu, trang trại… theo những kì hạn, sau đó đem nộp cho chủ những khoản tiền đã quy định
Tuy là lực lượng sản xuất chủ yếu trong xã hội, tạo ra của cải vật chất trong xã hội nhưng giai cấp này chỉ được coi là “công cụ biết nói” Họ không được hưởng bất cứ quyền lợi chính trị nào kể cả quyền làm người Họ không được phép có tài sản, không được có gia đình (con cái của nữ nô sinh ra vẫn
là tài sản của chủ nô), không có tên gọi (thường được gọi theo quê quán) Nô
lệ bị khắc dấu trên trán để chủ nô nhận biết nô lệ của mình, phân biệt với nô
lệ của người khác
Nô lệ đã trở thành một món hàng Việc mua bán, trao đổi nô lệ là việc thường ngày, công khai và mang tính thương mại Có những chợ ở Athens chuyên bán nô lệ Người mua xem xét, soi mói từ dáng dấp, cái răng, cái tóc đến những khả năng có thể làm được của nô lệ Giá cả nô lệ không bất định, phụ thuộc vào số tù binh có được sau mỗi cuộc chiến, số lượng người bị bắt trong các vụ cướp biển và vào khả năng, nghề nghiệp của nô lệ Giá sẽ cao nếu nô lệ vốn là thợ thủ công giỏi, vũ nữ, nhạc công… Khi chủ nô bỏ tiền ra mua nô lệ, nô lệ hoàn toàn thuộc về sở hữu của họ, có nghĩa vụ lao động sản xuất và phục dịch Chủ nô có quyền bán, mua, nhượng đổi, thừa kế, cho
Trang 16người khác nô lệ của họ, hành hạ đánh đập, thậm chí có thể giết chết nô lệ của mình bởi những điều này đã được pháp luật cho phép
Một nét thay đổi sâu sắc khác trong chính trị so với xã hội trước là đã
có sự phân chia rõ rệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay, điều này đã tạo điều kiện cho một số người chỉ chuyên tâm lao động trí óc Họ suy ngẫm
về con người, xã hội, thế giới và dần hình thành nên các tư tưởng triết học
Đến khoảng giữa thời kì cổ đại, Hy Lạp được phân chia thành nhiều nước nhỏ Những nhà nước này đều có một thành phố làm trung tâm nên gọi
là những thành bang Hai thành bang tiêu biểu của giai đoạn này là Sparta và Athens Thành bang Sparta thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp Nhà nước nơi đây được giai cấp chủ nô quý tộc duy trì theo hình thức cha truyền con nối
Do đó, Sparta đã xây dựng một thiết chế nhà nước chủ nô quý tộc và thực hiện sự áp bức rất tàn khốc đối với giai cấp nô lệ Thành bang Athens lại là trung tâm kinh tế thương mại, đồng thời là trung tâm văn hóa của không chỉ
Hy Lạp mà là cả thế giới cổ đại khi đó Tại đây chính quyền được thiết lập theo hình thức nhà nước dân chủ chủ nô
Đến giữa thế kỉ V tr CN, ở Hy Lạp hình thành nên hai đồng minh quân
sự đối lập nhau: đồng minh Deloiite do Athens lãnh đạo và đồng minh Peloponnesus do Sparta lãnh đạo Mâu thuẫn về quyền lợi kinh tế và chính trị giữa hai đồng minh này ngày càng sâu sắc Athens kiên quyết ủng hộ, giúp đỡ những xu hướng dân chủ trong các thành bang Hy Lạp, ngược lại Sparta khá bảo thủ với chủ trương duy trì thể chế cộng hòa quý tộc nên đã nổ ra chiến tranh Penoponnesus kéo dài liên tục 27 năm, huy động hầu hết các thành bang
Hy Lạp tham chiếm, cuộc nội chiến này đã tàn phá nền kinh tế và đời sống xã hội của tất cả các thành bang Hy Lạp và nhất là Athens Tận dụng sự suy yếu này, vào thế kỉ II tr CN, vua Philippe II của Macedonia ở phía bắc Hy Lạp đã
Trang 17đem quân xâm lược toàn bộ bán đảo Hy Lạp Đến năm 146 tr CN khi Macedonia suy yếu thì Hy Lạp trở thành một phần lãnh thổ của đế quốc La Mã
Về văn hóa - tư tưởng Hy Lạp, sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế -
chính trị đã kéo theo sự phát triển đa dạng của văn hóa, tư tưởng Hy Lạp Có thể nói, không một nơi nào khác trong thế giới cổ đại để lại một kho tàng văn hóa tư tưởng cho nhân loại lớn đến như vậy
Về nghệ thuật, do chịu ảnh hưởng và tiếp thu nghệ thuật Crete, Ai Cập, Babylon nên người Hy Lạp đã tạo nên nền nghệ thuật hoàn mỹ, đậm tính hiện thực, tính dân tộc Thành bang nào của Hy lạp cũng có những công trình kiến trúc đồ sộ, nguy nga như nhà ở, sân khấu kịch, đền thờ, sân vận động Đáng
kể nhất là đền thờ thần Zeus, đền thờ nữ thần Athena và nhất là đền Parthenon được coi là kiệt tác của kiến trúc đền thờ cổ đại, dài 70 m, ngang 31 m, cao 14 m; toàn bộ ngôi đền bằng đá, được xây trên một nền trụ đá với 3 bậc, xung quanh có 46 cột tròn, trên các tường có những phù điêu lấy đề tài từ truyện thần thoại hay diễn tả cảnh sinh hoạt kinh tế, xã hội của Athens
Nghệ thuật điêu khắc đã đạt thành tựu rực rỡ trong lịch sử điêu khắc thế giới với những nhà điêu khắc nổi tiếng cùng những tác phẩm: tượng “người ném đĩa” của Myron, tượng “thần Hermes” và “thần Venus” của Praxiten, tượng “Nike”… Hội họa của người Hy Lạp cũng có những thành công, sáng tạo với các bức vẽ trên vải, trên tường và trên các đồ gốm, sành, sứ, đặc biệt phát minh ra phép bối cảnh trong hội họa, chú ý đến khoảng cánh xa gần cần thiết của các nhân vật và cảnh trong tranh của Apotos
Một nét đặc sắc trong nghệ thuật Hy Lạp là kịch, chiếm vị trí cao nhất,
có tác dụng quan trọng nhất Kịch Hy Lạp, đặc biệt là bi kịch đã đặt nền móng cho ngành kịch thế giới Từ thế kỉ V – IV trước Công nguyên, kịch đã phát triển tới đỉnh cao Tính chất hiện thực, đa dạng, trình độ nghệ thuật điêu luyện của kịch đã thu hút đông đảo người xem Những nhà hát lớn có tới 44.000 chỗ
Trang 18ngồi ở Megalopolis, 17.000 chỗ ngồi như ở Athens chứng tỏ vai trò và ý nghĩa của kịch trong đời sống Kịch Hy Lạp đậm tính nhân đạo, chủ nghĩa nhân văn, có ý nghĩa giáo dục và chính trị Có nhiều nhà soạn kịch kiệt xuất với những tác phẩm tuyệt tác gồm 2 thể loại: bi kịch và hài kịch
Bi kịch Hy Lạp phản ánh cuộc đấu tranh giai cấp trong xã hội Hy Lạp Nghệ thuật của nó đã đạt tới trình độ sâu sắc về cách thể hiện tâm lý nhân vật, các sự kiện riêng lẻ được nâng lên mức khái quát Những tác giả lỗi lạc của bi kịch cổ có thể kể đến như Estin (525 – 426 tr CN) với 90 vở kịch (hiện nay chỉ còn lưu giữa được 7 vở), trong đó giá trị nhất là “Orexto”, “Prometer bị xiềng”; Sophocles (497 – 406 tr CN) với 123 vở kịch (hiện nay cũng chỉ còn giữ được
7 vở), trong đó nổi tiếng nhất là “Oedipus làm vua”1 và “Antigone”; Euripides (484 – 406 tr CN) với 92 vở kịch, tiêu biểu là Mede Các vở bi kịch đã phản ánh cuộc đấu tranh giữa số mệnh với đạo đức và nghị lực của con người
Hài kịch Hy Lạp cũng đạt nhiều thành tựu quan trọng Hài kịch thường mang nội dung chính trị, giải quyết những vấn đề nóng hổi của cuộc sống Tác giả hài kịch nổi tiếng nhất là Artistophane (446 – 385 tr CN)
Về khoa học tự nhiên, Hy Lạp được coi là quê hương của nhiều khoa học như thiên văn, địa lý, toán học, vật lý, sinh vật, y dược Là nơi sản sinh ra những nhà khoa học vĩ đại, có kiến thức uyên bác, với những thành tựu quý giá đóng góp cho kho tàng khoa học tự nhiên của loài người Trong lĩnh vực
1 Vở “Oedipus làm vua” tóm tắt như sau: thần Denfoe báo cho vua thành Thebes biết con trai vua sẽ giết cha lấy mẹ Tin lời tiên đoán ấy, khi Oedipus mới ra đời, vua sai mang đứa con vào rừng vứt đi cho hổ ăn thịt Nhưng Oedipus được một người mang về nuôi lớn lên ở một xứ khác Rồi do tình cờ, một hôm, nhân trên đường đi Oedipus đã giết nhầm cha đẻ của mình mà không hay biết Thế rồi, một ngày kia Oedipus đến thành bang của cha mình; nơi đây có một con Sphinx (mặt người thân hình sư tử - hình giống tượng nhân sư ở Ai Cập) đã từng ăn thịt rất nhiều người vì những người này không trả lời được câu hỏi của nó Sphinx hỏi rằng: con gì sáng đi bằng bốn chân, trưa đi bằng hai chân và chiều đi bằng ba chân Ai trả lời được thì Sphinx cho
đi qua và không ăn thịt Oedipus trả lời được câu hỏi đó là con người Nơi thành bang cha của Oedipus có lời nguyện rằng nếu ai trả lời được sẽ được lên làm vua Thế là Oedipus được tôn lên làm vua và lấy hoàng hậu là mẹ đẻ của mình mà không biết 15 năm sau khi đã có 4 con với mẹ mình, Oedipus mới biết rõ sự thật kinh hoàng ấy Mẹ Oedipus tự sát còn Oedip gục trên vai mẹ, lấy kim tự đâm mù mắt
Trang 19Toán học có các đại biểu điển hình như Thales (624 – 546 tr CN) vừa là nhà toán học vừa là nhà thiên văn học quê ở Mile Ông là người đầu tiên đo được chiều cao của Kim tự tháp Ai Cập nhờ phương pháp đo và tính bóng của nó trên mặt đất Nhờ có tiếp thu các thành tựu của Ai Cập và Babylon và hiểu biết sâu về thiên văn học, nên ông đã tính đúng nhật thực diễn ra ở Mile vào ngày 28/5/585 trước Công nguyên; Euclid (Ơ-clit) (300 tr CN), nhà toán học quê Ai Cập, người có công lao sưu nhiều công trình toán học về Alexandori; người đầu tiên biên soạn sách giáo khoa hình học Ông đề ra “thuyết vô hạn”
và tổng kết nhiều hiểu biết về toán học, trong đó có các tiên đề hình học phẳng; Pythagoras (Py-ta-go) (580 – 500 tr CN) là nhà toán học đã phát minh
ra định lý về tam giác vuông (bình phương cạnh huyền bằng tổng bình phương hai cạnh góc vuông…
Ở lĩnh vực vật lý, Archimedes (Ac-si-mét) (285 – 212 tr CN) là người đặt cơ sở lý luận cho ngành lực học và thủy lực học (phát hiện ra sức đẩy của nước chính bằng trọng lượng của vật ở trong nước; phát hiện ra nguyên Lý của phép đòn bẩy) Ông chế tạo ra những hệ thống máy móc đầu tiên ở Hy Lạp: thấu kính hội tụ sử dụng ánh nắng mặt trời; máy bơm nước sử dụng tay
để hút nước cho các chiến thuyền Hy Lạp Ông cũng là người tìm ra giá trị của số π = 3,1324
Trong lĩnh vực Thiên văn học, các nhà thiên văn Hy Lạp đã nghiên cứu
và công bố nhiều bản đồ thiên văn Babylon, thừa nhận quả đất hình cầu và chuyển động theo một quỹ đạo cố định, đề ra thuyết về hệ thống Mặt Trời và thuyết Trái Đất tự xoay quanh nó và xoay quanh Mặt Trời Tính được độ dài của chu vi Trái Đất với con số tương đối chính xác là 19.700 km; đã vẽ được bản đồ thế giới (bản đồ này miêu tả được phần trung tâm của bản đồ thế giới
Trang 20hiện đại: khu vực Địa Trung Hải, Bắc Ai Cập, Tiểu Á, Trung Á và Tây Bắc
Ấn Độ); tính được một năm có 365 ngày + 5
19 ngày
Trong lĩnh vực Y học, nổi bật lên là Hyppocrates (Hy-po-crat) (460 –
377 tr CN) được coi là ông tổ của khoa học y dược Ông chống lại những quan niệm duy tâm về nguyên nhân của bệnh tật, chống lại những tư tưởng
mê tín, dị đoan trong chữa bệnh, đề ra việc chữa bệnh bằng phương pháp khoa học và yêu cầu đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp đối với các thầy thuốc, bác sĩ
Ngoài ra còn có Herophile (300 tr CN) là người đầu tiên nêu ra luận điểm não là trung tâm hệ thần kinh, chỉ huy các hoạt động của con người Ông cũng là người đầu tiên đưa ra học thuyết về sự tuần hoàn của máu và phương pháp khám bệnh thông qua việc bắt mạch của bệnh nhân
Về khoa học xã hội, trong lĩnh vực văn học, thần thoại chiếm một vị trí rất quan trọng trong kho tàng văn học Hy Lạp cổ đại Thần thoại Hy Lạp là một tập hợp tổng thể những truyện kể dân gian truyền miệng với những nội dung hoang đường, huyền hoặc kì ảo, gồm những truyện về sự sáng tạo thế giới (từ khối hỗn mang gọi là Caos, xuất hiện thần Đất Gaia rồi thần Ái tình Eros, nhờ đó, Caos và Gaia lấy nhau, sinh ra đêm tối, ánh sáng, các vì sao, biển cả, núi non, sông ngòi, sấm chớp…), các đấng thần linh (đứng đầu là Zeus ở trên đỉnh Oplymper, thần Hades dưới địa ngục, thần Ponseidon ngoài đại dương), các bậc anh hùng dũng sĩ (Hercules, Achilles, Perseus, )
Thần thoại Hy Lạp rất phong phú và thể hiện trong đó cách giải thích của người Hy Lạp về các hiện tượng tự nhiên, nguồn gốc loài người (bàn tay khéo léo của Prometer nặn ra người từ đất sét và lấy trộm lửa mang đến cho loài người) đồng thời nêu lên những kinh nghiệm của cuộc sống lao động và ước muốn của mình Các thần thánh vừa thể hiện sức mạnh của trần gian vừa
Trang 21thể hiện sự lao động sáng tạo của con người (như thần trồng nho Dionichos,
nữ thần nghề nông Demete, thần thợ rèn Hefaistos, nữ thần múa Ternexiso ) Thần thoại Hy Lạp được hình thành và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử
Hy Lạp (ngay từ giai đoạn Crete – Mycenae cho đến hết giai đoạn thành bang)
Cùng với kho tàng thần thoại là những bản trường ca nổi tiếng như hai
tập sử thi Iliad và Odyssey, những trường ca của Hediot như: “Gia phả các
thần” – trình bày các thế hệ thần, thánh và truyền thuyết về các anh hùng Hy
Lạp; “Công việc và ngày tháng” – nói về cuộc đời cơ cực của nông dân dưới
ánh thống trị của bọn quý tộc và ngợi ca lao động Thơ trữ tình cũng xuất hiện với các nhà thơ tiêu biểu như: Solon, Parrot, Tenorite, Pinda… thể hiện màu sắc cuộc sống tư tưởng, thế giới nội tâm của con người Ngoài ra còn có truyện ngụ ngôn của Aesop (một nô lệ tài năng, một nhà văn ngụ ngôn) Tác
phẩm của ông khá nhiều và đặc sắc như Con cáo và chùm nho, Thỏ và rùa,
Chuyện kể về con dơi… có ảnh hướng tới văn học thế giới cho đến ngày nay
Trong lĩnh vực sử học, trước khi có chữ viết, lịch sử Hy Lạp được phản ánh qua truyền thuyết và sử thi Từ khi có chữ viết – là lịch sử thành văn (khoảng thế kỉ V trước Công nguyên), lịch sử Hy Lạp cũng được ghi chép lại
và hình thành nên những nhà viết sử chuyên nghiệp “Sử học Hi Lạp được coi
là cội nguồn của sử học phương Tây” [24, tr.191]
Triết học Hy Lạp cổ đại, dựa trên nền kinh tế - văn hóa – xã hội thịnh vượng đã phát triển đặc biệt rực rỡ Từ sự “ngạc nhiên” về một thế giới đẹp
đẽ, bao la, hùng vĩ, sự tò mò cắt nghĩa các hiện tượng diễn ra trong tự nhiên,
xã hội, các bộ óc thông thái Hy Lạp đã không ngừng suy tư, ngẫm nghĩ về những cái xung quanh mình Triết học là kết quả của một quá trình quan sát tự nhiên nhạy bén, sự suy xét sâu sắc các hiện tượng trong thế giới và lòng mong muốn có một cách giải thích tổng quát về giới tự nhiên Từ cái nôi của một
Trang 22nền văn hóa đậm tính thần thoại, các quan niệm về vũ trụ, các chất và nguyên
tố tạo thành các chất vốn phổ biến trong các dân tộc thời thượng cổ đã được thể hiện đầy đủ nhất trong các học thuyết của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại
Các triết gia Hy Lạp đều đặc biệt quan tâm đến vấn đề bản thể luận, tìm cách giải thích nguồn gốc và bản chất của thế giới Quan niệm của họ rẽ theo hai xu hướng chủ đạo:
-Xu hướng thứ nhất, một cách hết sức mộc mạc, chất phác, xuất phát từ một hoặc vài yếu tố nào đó của chính thế giới để giải thích cho thế giới Xu hướng này quy tụ khá nhiều triết gia của Hy Lạp, điển hình là Thales (640 –
548 tr CN) cho rằng thứ là bản nguyên đầu tiên của thế giới là nước, Anaximenes (A-na-xi-men) (585 – 525 tr CN) lại cho rằng thứ vật chất đầu tiên cấu tạo nên thế giới là không khí, với Heraclitus (540 – 480 tr CN) vật chất đầu tiên đó là lửa, đến Democritus (Đê-mô-clit) (460 – 370 tr CN) thì lại cho đó là nguyên tử…
-Xu hướng thứ hai lại giải thích sự ra đời của thế giới từ một yếu tố nào
đó không có trong hiện thực, yếu tố đó thuộc lĩnh vực tinh thần Xu hướng này cũng bao gồm khá nhiều triết gia, mở đầu là Pytagoras (580 – 500 tr.CN) cho rằng thế giới được cấu tạo từ các con số, tiếp theo là Pacmenit với phạm trù “tồn tại” được Heghen sau này đánh giá rất cao, đến Socrates quả quyết rằng thế giới được an bài bởi thần linh, đỉnh cao của xu hướng này, không phải bất cứ triết học nào khác, chính là hệ thống triết học duy tâm khách quan hoàn chỉnh của Plato
1.1.2 Plato - cuộc đời và sự nghiệp
Plato (427-347 tr CN) xuất thân trong gia đình đại quý tộc Ông là cháu ngoại của Solon (Sô-lông) – một trong bảy vị hiền triết Hy Lạp, nhà lập pháp xuất chúng; còn bên nội ông thuộc dòng dõi Codrus – vị vua cuối cùng của Athens Ông còn có một người chú tên là Critias – là một trong 30 bạo
Trang 23chúa trong thời kỳ bấy giờ Plato có 3 anh chị em ruột: Potone, Glaucon và Antiphon Tên thật của Plato là Aristocles – được đặt theo tên của ông nội (tập tục đặt tên của người Athens) Còn cái tên Plato là biệt danh mọi người gọi do ông có dáng người to lớn với vầng trán cao, đôi vai rộng (trong tiếp Hy Lạp: Platus có nghĩa là “đầy đặn”, “vai rộng”)
Plato ra đời không lâu thì người cha là Ariston qua đời, mẹ ông là Pericitione tái giá với một người chú bên họ ngoại là Pyrilampes – một người giàu sang và có thế lực trong nhóm dân chủ ủng hộ nhiệt thành lãnh tụ Pericles (là một chính khách khôn ngoan, lỗi lạc đã điều hành thành bang Athens trở nên phát triển tột đỉnh về mọi mặt) Từ khi 7 tuổi đến năm 14 tuổi, Plato luyện tập các kĩ năng tập viết, tập đọc và tập làm toán Đến năm 18 tuổi ông được đào tạo các kĩ năng về rèn luyện thể chất Những phương pháp giáo dục này đã giúp cả trí lực và thể lực của Plato được phát triển một cách toàn diện
Đến năm 20 tuổi, Plato trở thành học trò của Socrates Ông đã tiếp thu toàn bộ tư tưởng cơ bản của Socrates trong đó có thuật tranh luận gồm 4 bước Từ khi theo học và trong suốt 8 năm là học trò Socrates, Plato đã dừng hết các hoạt động sáng tác thơ ca, bỏ cả thể dục, thể thao (là các hoạt động sở thích của ông trước đây và thậm chí ông đã từng giành giải thưởng trong một cuộc thi Olympic) Cũng do rất say mê triết học nên Plato đã đem đốt hết các tập thơ trữ tình và các vở kịch do ông sáng tác
Ban đầu, với điều kiện gia đình thuận lợi: gia đình giàu có dòng dõi quý tộc, quyền thế; được giáo dục đầy đủ cả về thể chất lẫn tinh thần nên Plato đã theo đuổi sự nghiệp chính trị Ông đã tham gia vào nhóm 30 bạo chúa mà có người chú Critias là một trong các thủ lĩnh Mục tiêu chính trị ban đầu của Plato là muốn thiết lập lại công bằng xã hội, xây dựng hạnh phúc cho toàn nhân dân theo cách mỗi cá nhân cần tự sửa đổi chính mình Nhưng rồi do
Trang 24cách bạo hành và chính thể chuyên chế của nhóm 30 bạo chúa này và nhất là
sự kết án Socrates một cách bất công đã khiến cho Plato rời bỏ con đường chính trị
Sự việc kết án Socrates diễn ra vào năm 399 trước Công nguyên, người thầy của Plato đã bị giai cấp chủ nô dân chủ Athens cáo buộc là: đầu độc và làm hư hỏng đạo đức lớp trẻ Socrates bị kết án tử hình bằng cách buộc phải uống thuốc độc Cái chết của Socrates đã gây ra một cú sốc cực lớn và làm cho Plato suy sụp tinh thần nghiêm trọng, ông mất niềm tin vào chính quyền hành xử với tinh thần cao cả của Socrates như vậy Từ đó, ông đánh giá lại các giá trị đương thời và đi tìm kiếm thứ triết học mới Cũng từ chính biến cố đau buồn này mà Plato lại càng trở nên thù ghét những tư tưởng dân chủ vốn
đã có sẵn và hình thành từ dòng dõi giai cấp quý tộc của ông Do đó, ông đã chủ trương loại bỏ chế độ dân chủ và thay thế người lãnh đạo bằng những nhà quý tộc sáng suốt
Sau sự kiện cái chết của Socrates, Plato cùng nhiều đồng môn rời khỏi Athens, tới Megara theo học nhà toán học Euclid Ba năm sau đó, Plato trở lại Athens và theo pháp luật, ông phải phục vụ trong quân đội tham gia trận Corinth Trong trận chiến này Anthens đã thất thủ trước Sparta Sau cuộc chiến, Plato tìm đường sang Ai Cập Ông đã mang theo rất nhiều thùng dầu để bán dần lấy tiền làm lộ phí đi đường Khi đến Ai Cập, trước cảnh các nhà lãnh đạo tôn giáo cai trị Ai Cập nói rằng Hy Lạp là một quốc gia ấu trĩ không có truyền thống văn hóa, không thể so sánh với Ai Cập hùng mạnh, ông đã quá bất bình Sau một thời gian ở lại Ai Cập, ông theo đường thủy đi tàu qua Sicily và đến Italia – ở đó ông gia nhập nhóm Pitagoras
Trong khi đó tại Sicily diễn ra tình trạng hỗn loạn chính trị đặt dưới sự cầm quyền tàn bạo của Dionisio ở nơi đây Một người học trò và cũng là bạn của Plato là Dion đã thúc giục Plato nên đảm nhận việc giáo dục cho Dionisio
Trang 25do tên bạo chúa này cũng muốn mời ông về tham vấn Plato nhận thấy đây là một cơ hội để thử áp dụng lý thuyết về chính quyền mà ông đã xây dựng trong ý tưởng vào một hoàn cảnh thực tế Do đó, Plato rời Athens, tới Sicily
và được triều đình của xứ này tiếp đón như thượng khách Nhưng sau một thời gian, ông bị tên bạo chúa Dionisio ghét bỏ và bị tống giam Sau đó ông được giao cho một viên thuyền trưởng Pollis người xứ Sparta Pollis đã bán Plato tại Egina dưới dạng nô lệ Rất may mắn, Plato được Anniceris là một môn đệ thuộc trường phát triết học Cyreaic chuộc ra Đến năm 387, ông quay trở về Athens
Hành trình kéo dài hơn 10 năm đã giúp cho ông có nhiều cơ hội làm quen với các nhà tư tưởng và các nhà khoa học nổi tiếng, tận mắt chứng kiến đời sống, phong tục tập quán văn hóa của nhiều nơi Từ việc đi thực tế như vậy cộng với triết học của Socrates sẵn có, cùng với sở thích vốn có là chính trị, Plato đã đi tới kết luận rằng chỉ những người có kiến thức sâu rộng và có phẩm chất đạo đức tuyệt vời mới xứng đáng được giao quyền lực để lãnh đạo
xã hội
Vào thời điểm bấy giờ ở Athens, nhiều đồng môn của Plato đã mở trường học Vì cũng muốn giảng dạy về triết học và khoa học, nên Plato đã thành lập ra Viện Hàn lâm, gọi là Academy theo tên của người anh hùng Academus2 trong thần thoại Đây là trường đại học đầu tiên trên thế giới Nhà trường đào tạo không chỉ chú trọng tới triết học mà còn có các môn như sinh học, toán học, vật lý học, thiên văn học, luật pháp và chính trị học Mục đích của Plato khi thành lập trường là đào tạo các học viên sau khi ra trường có đủ
2 Theo thần thoại Hy Lạp, trong cuộc hành trình của Castor và Polydeuces đi tìm người em gái là Helen, họ
đã được Academus (một người Athens) báo cho nơi Helen bị giam giữ Vì lý do đó nên sau này, mỗi khi Sparta (những người đã tôn vinh Castor và Polydeuces) xâm lược Athens, họ luôn tránh xâm hại tới vùng đất của Academus (khoảng hai km phía tây bắc Athens) Vùng đất này trở thành vùng phi quân sự và là biểu tượng cho sự hòa bình
Trang 26đức đủ tài cai trị xã hội Trường Academy quy tụ được những thầy giáo giỏi nên nhà trường nhanh chóng gặt hái được nhiều thành quả, trở nên nổi tiếng khắp Địa Trung Hải, Tiểu Á, Bắc Phi, thu hút rất đông học viên tới học tập Ngay cả sau khi Plato qua đời, ngôi trường vẫn tiếp tục hoạt động trong hơn
800 năm, trở thành một trung tâm nghiên cứu và phổ biến tư tưởng triết học của Plato Tại ngôi trường này, Plato thường giảng dạy mà không cần tới bản thảo, các vấn đề được ông nêu ra và đề nghị các học viên cùng nhau tìm lời giải đáp Phương pháp dạy của ông là đối thoại và đàm thoại Cũng trong thời gian giảng dạy, Plato đã viết nhiều tác phẩm đối thoai, phần lớn những tài liệu giảng dạy này còn được lưu giữ và ngày nay được dịch sang nhiều ngôn ngữ
Đến năm 366 tr CN, khi đang nổi tiếng và là hiệu trưởng ngôi trường Academy, Plato lại một lần nữa được Dion mời qua Sicily nhằm ổn định tình trạng chính trị do Dionisio già và đã chết, Dionisio trẻ lên thay thế khi gần 30 tuổi Vì bị cha không cho tham dự chính trị từ nhỏ, không được giáo dục tử tế nên Dionisio trẻ sống cuộc đời xa hoa, không có năng lực trong công việc điều hành xứ Sicily
Dion muốn mời Plato vì cho rằng danh tiếng của Plato có thể làm cho Dionsio trẻ kiêng nể từ đó sẽ không giống như Dionsio già mà nghe những tham vấn của Plato Tuy không muốn nhưng vì tình bạn với Dion nên Plato vẫn tới Sicily Khi tới nơi thì Plato mới biết tin Dion đã bị lưu đày Plato vẫn được vua Dionsini trẻ đón tiếp rất long trọng nhưng vua lại không chịu nghe những tham vấn, cũng từ chối các lời khuyên bảo của Plato Chỉ sau 1 năm bị giam lỏng, Plato mới được cho về nước nhưng với điều kiện sẽ phải trở lại Khi về đến Athens, Plato vẫn tiếp tục dạy học nhưng song song với đó, ông
đã viết hàng loạt các cuốn sách giá trị như: “The Sophist”, “Theaetetus”,
“The Republic”
Trang 27Tới năm 361 trước Công nguyên, Dionisio trẻ phái sứ giả đến thành bang Athens, nhắc lại lời hứa cách đó 4 năm và mời Plato sang Sicily Dionisio trẻ còn hứa sẽ tha tội và đón người bạn của ông là Dion trở về từ nơi lưu đày Vì coi đây là cơ hội để giải cứu người bạn của mình, để thực hiện lời hứa khi xưa và cũng là muốn khuyên nhủ Dionisio không nô lệ hóa Sicily hay cai trị một xứ sở nào bằng bạo lực mà phải cai trị bằng luật pháp, nên Plato đã tới Sicily Đến nơi, Plato vẫn được đón tiếp một cách rất trịnh trọng nhưng mặc cho ông cầu xin tha thiết, người bạn Dion của ông vẫn không được trả tự
do Hơn nữa, tên bạo chúa Dionisio còn cự tuyệt thi hành một cách thẳng thắn
do chủ trương không muốn cho triết học và quyền lực thực sự thống nhất, tên bạo chúa không nghe những tham vấn từ Plato Không lâu sau đó, mặc dù không bị giam lỏng hay đối xử tàn tệ như lần trước, song thấy lãng phí thời gian mà không giúp ích được gì cho nhân dân Sicily, Plato đã quay trở lại Athens tiếp tục nghiệp giảng dạy và sáng tác các tác phẩm triết học
Từ đó trở đi, Plato chủ trương không bao giờ tham dự vào chính trị nữa cho dù thực tế là nhiều học viên thuộc trường Academy của ông đã gia nhập vào công cuộc viễn chinh của Dion chống lại Dionisio vào năm 357 trước Công nguyên mà kết quả là sự sụp đổ của chế độ bạo tàn ở Sicily Trong những năm cuối đời, Plato sống tại thành bang Athens và đã sáng tác ra các
tác phẩm như “Timaeus”, “Crito” và cuốn sách còn chưa hoàn thành
“Laws” Ông qua đời vào năm 347 tr CN trong thời điểm nước Hy Lạp bị
xâm chiếm bởi vua Philippe II của Macedonia
Về sự nghiệp của Plato, khác với các nhà triết học cùng thời bị thất lạc hoặc không còn nguyên vẹn các tác phẩm, những sáng tác triết học của Plato còn được lưu giữ khá toàn vẹn cho đến ngày nay bao gồm 36 tập đối thoại và
13 bức thư trong đó có một số tập đối thoại và bức thư chưa xác định được có phải là do chính Plato viết hay không Hầu hết các tác phẩm được viết dưới
Trang 28dạng đối thoại, trong đó có hai hay nhiều nhân vật tranh luận với nhau về một vấn đề, họ đưa ra các ý kiến chỉ trích và đối lập giữa các ý tưởng triết học Đây được coi như là sự quán triệt sâu sắc cách thức tranh luận của Socrates truyền dạy lại cho Plato và chính dưới cách thức này mà người đọc có thể nhìn nhận được vấn đề theo nhiều khía cạnh cũng như làm cho lập luận của mỗi nhân vật trong tác phẩm trở nên chặt chẽ, đầy đủ hơn Tuy vậy, các tác phẩm đối thoại của Plato là dưới dạng văn viết chứ không phải là dạng văn nói nên có một nhân vật nữa chính là độc giả mà các đối thoại dành vị trí cho
họ Vậy nên, độc giả là người làm nhiệm vụ thực hiện bước thứ 3 trong cách thức tranh luận của Socrates – tức là tự sâu chuỗi lại các vấn đề mà cuộc hội thoại dẫn dắt, từ đó rút ra kết luận Ngoài ra, trong cách thức thể hiện các tác phẩm triết học của mình, Plato còn sử dụng các cách nói ẩn dụ, những câu chuyện thần thoại đang thịnh hành thời bấy giờ
Không thể xác định một cách cụ thể năm ra đời từng tác phẩm của
Plato, tuy nhiên thông qua sự sắp xếp của Benjamin Jowett trong “Plato
chuyên khảo” và Nguyễn Ước trong phần đọc thêm của cuốn “Đại cương triết học phương Tây” thì có thể thấy các tác phẩm của Plato được phân chia
làm 3 thời kỳ như sau:
-Thời kỳ đầu, gồm các tác phẩm:
“Charmides”: là tác phẩm bàn về sự điều độ
“Lysis”: bàn luận về tình bạn
“Laches”: tác phẩm nói đến ý nghĩa của lòng can đảm
“Protagoras”: là cuốn sách tranh luận về đức hạnh
“Euthyphro”: trình bày quan điểm của Plato về bản chất của lòng tôn
kính và sự công bằng
-Những tác phẩm thời kỳ giữa:
“Gorgias”: tranh luận về đạo đức
Trang 29“Meno”: đặt vấn đề có hay không thể giảng dạy đức hạnh
“Apology”: ghi lại lời biện hộ của Socrates trước tòa án
“Crito”: sự tự bào chữa của Socrates về việc tuân theo các luật lệ của
quốc gia
“Phaedo”: lấy bối cảnh khoảng thời gian cuối cùng của Socrates, trình
bày quan niệm về sự bất tử của linh hồn, thế giới bên kia, lý tưởng của triết gia, bản chất nhận thức
“Symposium”: bàn luận về vẻ đẹp và tình yêu
“The Republic”: trình bày quan điểm về sự công bằng, vấn đề xây
dựng một nhà nước lý tưởng và một công dân chân chính
Những tác phẩm thuộc thời kỳ cuối:
“Theaetetus”: phủ nhận quan niệm cho rằng kiến thức có được là do
giác quan
“Parmenides”: nghiên cứu về các ý tưởng
“Philebus”: tranh luận về mối liên quan giữa sự khoái lạc và điều tốt
lành
“Timaeus”: quan điểm về thiên nhiên và vũ trụ học
“Laws”: trình bày các quan điểm về chính trị và xã hội
1.2 Khái quát nội dung cơ bản của triết học Plato
Thông qua các tác phẩm có thể thấy Plato đã đưa ra rất nhiều những tư tưởng triết học như bản thể luận, nhận thức luận, nhân bản luận, chính trị - xã hội, các nội dung này đều là sự thể hiện ở mức độ điển hình cho lập trường duy tâm khách quan, có thể khái quát những nội dung đó như sau:
*Học thuyết về ý niệm:
Plato kế thừa tư tưởng của Socrates về vấn đề đề cao vai trò của tri thức khái niệm trong nhận thức và rằng tri thức chân chính không dừng lại ở tri thức cảm tính về các sự vật đơn lẻ, mà là các tri thức lý tính mang tầm khái
Trang 30quát cao Không dừng lại ở đó, ông đẩy quan niệm kế thừa này đến mức đỉnh điểm, cho rằng mọi sự vật trong thế giới chúng ta đều chỉ tồn tại dưới dạng đơn lẻ, nhất thời, vì vậy không có giá trị, mà chỉ có tri thức mang tính chất chung và khái quát – thứ thuộc về lĩnh vực tinh thần thuần túy mới là chân thực Vì thế, ông coi bản chất của các sự vật lại là tri thức mà chúng ta khái quát được về chúng chứ không phải bản thân chúng Vậy nên, ngoài thế giới các sự vật vật chất xung quanh ta, còn tồn tại một thế giới khác – là thế giới của các “ý niệm” – nơi chứa đựng những bản chất thực sự của sự vật, hiện tượng
Không có một cách hiểu duy nhất về “ý niệm” của Plato, thông qua nhiều tác phẩm, có thể rút ra một số cách hiểu của Plato về “ý niệm”:
Thứ nhất, “ý niệm” của sự vật là sự thống nhất những thuộc tính tạo nên sự vật Sự thống nhất là quy luật của sự biểu hiện riêng biệt và là sự xuất hiện của sự vật Đây là những quy luật chung, quy định sự xuất hiện và biểu hiện những đặc điểm riêng của sự vật Sự vật hiện tượng càng phức tạp thì ý niệm của nó càng bộc lộ rõ ràng hơn Có thể hiểu, “ý niệm” ở đây thực chất là quy luật khách quan
Thứ hai, “ý niệm” còn có nghĩa là nó tồn tại độc lập với sự vật, dưới dạng lý tưởng đặc biệt với hình thức đầy đủ và hoàn hảo, và nơi trú ngụ của
nó là ở trên trời hay ở thế giới khác
Thứ ba, “ý niệm” là sự vẹn toàn nội tại của mọi bộ phận riêng biệt và mọi biểu hiện của vật Một sự toàn vẹn không phân chia được thành những bộ phận riêng biệt của vật ấy và thể hiện là một chân lý so với chúng
Thứ tư, “ý niệm” là ý nghĩa của sự vật, hiện tượng Tức là trong quá trình nhận thức sự vật, để phân biệt sự vật này với sự vật khác, chúng ta luôn cần phải tìm ra sự vật này khác biệt so với sự vật kia, sự phân biệt đó nằm ở ý niệm
Trang 31Plato đã giải thích học thuyết ý niệm bằng ví dụ “hang động” trình bày
trong tác phẩm “The Republic” Đây là ví dụ nổi tiếng của ông, giúp người
đọc hiểu được những quan niệm chủ yếu của ông về “ý niệm” và các sự vật cảm tính Ví dụ đó như sau: các tù nhân sống trong hầm tối dưới đất, với một lối vào mở ra ánh sáng và một lối đi dài dẫn xuống hầm Những tù nhân này
đã sống ở đây từ nhỏ và họ bị xiềng ở cổ và chân khiến cho họ không thể đứng dậy và quay lại phía sau được mà chỉ nhìn về một hướng phía trước Ở
xa hơn một chút phía trên có một ngọn lửa dọi sáng phía sau lưng họ, giữa các
tù nhân và ngọn lửa là một con đường mòn có bờ tường được xây dọc theo con đường đó, giống như bức màn ở một cuộc biểu diễn con rối, che khuất những người biểu diễn nhưng cho khán giả thấy những con rối ở phía trên
Các tù nhân bị giam giữ này không thể nhìn thấy điều gì của chính họ hay của người khác, ngoại trừ những cái bóng do ngọn lửa chiếu vào những người đi qua đi lại chiếu lên bức tường qua ánh lửa Khi họ nghe thấy tiếng người dội lên từ vách hang thì họ nghĩ rằng những tiếng nói đó phát ra từ cái bóng Do vậy họ đã nhầm lẫn và coi những cái bóng trên tường là thực tại Nếu xảy ra trường hợp có một người nào đó được giải phóng khỏi xiềng xích
và có thể đứng dậy một cách đột ngột rồi quay đầu lại và đi bộ với cặp mắt hướng về phía có ánh sáng ngoài hang, thì chắc hẳn người đó sẽ thấy đau đớn
và khó chịu khi ra ngoài ánh sáng đó, mắt người này sẽ bị ngợp nắng khiến họ chưa thể nhìn thấy sự vật
Khi người này đã nhìn quen các sự vật thật đó trong ánh sáng của Mặt Trời và nhận ra rằng Mặt Trời tạo ra các mùa và thời gian trong năm, chi phối mọi sự trên thế giới hữu hình và hơn nữa Mặt Trời là nguyên nhân của mọi cái mà họ đã quen nhìn thấy, người đó cũng sẽ hiểu được rằng những gì mà người đó và những người trong hang nhìn thấy trên tường chỉ là những cái bóng của thế giới thực sự ngoài kia
Trang 32Rồi người được giải thoát này sẽ cảm thấy hạnh phúc và thương tiếc cho các bạn tù Những người bạn tù đã sống với những cái bóng trên tường nhưng lại sung sướng khi tưởng đó là thực tại Vì thế người được giải thoát quyết định quay trở lại và muốn phá bỏ xiềng xích cho những người bạn của mình Nhưng do đột ngột đi từ ngoài hang nơi có ánh sáng Mặt Trời đi vào trong hang, mắt người này không thể thấy gì và bị hiệu ứng thị giác “mù tạm thời” Những người trong hang yêu cầu người này nói về những cái bóng trên vách tường Nhưng do đang bị mù tạm thời, nên người này không thể nhìn thấy gì trên vách tường đó Những người bị xiềng sẽ chế giễu người này và cho rằng việc rời khỏi hang và tới với Mặt Trời chỉ là một việc làm hết sức vô ích, thậm chí có hại Do vậy, họ nhất quyết không để cho người được giải thoát kia tháo xiềng xích cho họ và mãi toại nguyện với việc nhìn những cái bóng ảo tưởng đó
Ví dụ “hang động” trên cho thấy, Plato quan niệm có hai thế giới: thế giới tối tăm của cái hang và thế giới rạng rỡ với ánh sáng Mặt Trời, “hang giam giữ tù nhân tương ứng với thế giới các sự vật hữu hình và ánh lửa trong
đó tương ứng với sức mạnh của Mặt Trời Việc đi lên khỏi hang để nhìn các
sự vật ở thế giới bên trên có thể coi là điều biểu thị cho cuộc đi lên của linh hồn vào vùng của các sự vật khả tri” [13, tr.174]
Từ đó, Plato cho rằng thế giới ý niệm là thế giới có trước, còn thế giới các sự vật hiện tượng cảm tính là thế giới có sau và do thế giới ý niệm sinh ra Trong đó, thế giới ý niệm quyết định thế giới sự vật cảm tính, thế giới sự vật hiện tượng cảm tính chỉ là thứ được phản ánh của thế giới ý niệm Những ý niệm này nằm ngoài không gian và thời gian và do đó những sự vật hiện tượng cảm tính thì sẽ thay đổi và dần biến mất nhưng thế giới ý niệm thì sẽ tồn tại mãi mãi và không có lực lượng nào chi phối được Vậy nên, tất cả những gì chúng ta thấy chỉ là cái bóng của ý niệm, là bản sao của ý niệm
Trang 33Nhưng bản thân thế giới ý niệm và thế giới sự vật hiện tượng cảm tính tồn tại độc lập, đối nghịch nhau và không thể tự kết hợp được với nhau Vì vậy theo Plato cần có một lực lượng thực hiện điều đó, đó là Đấng sáng thế, Đấng sáng thế có thể là nhà điêu khắc, là họa sỹ thiên tài Đấng sáng thế sẽ tạo ra thế giới cảm tính theo đúng như khuôn mẫu của thế giới ý niệm mà không có chút gì yếu tố chủ quan của mình ở trong đó (bởi theo Plato thì Đấng sáng thế là người có chí hướng thượng, tôn trọng khách quan và chân thành, vì vậy ông ta sẽ luôn mong muốn tạo ra sự vật đúng như nó tồn tại ở thế giới ý niệm) Chẳng hạn trên cơ sở ý niệm về cái cây, người nghệ nhân này sẽ tác động vào vật chất thuần túy để làm ra cái cây theo đúng như ý niệm cái cây đã có sẵn từ trước Đấng sáng thế chỉ đóng vai trò trung gian như là cầu nối giữa thế giới ý niệm và thế giới sự vật hiện tượng cảm tính Tuy vậy,
dù có khéo léo và tài năng đến mức nào thì người trung gian này cũng không thể tạo ra sự vật hoàn hảo đúng như nguyên mẫu – chính là ý niệm của sự vật
đó
Ngoài ra, đồng thời với việc coi ý niệm là tồn tại thực, thế giới ý niệm
là thế giới tồn tại chân thực thì Plato khẳng định cái không tồn tại cũng có thực Cái không tồn tại là một khía cạnh của tồn tại Vật chất là cái không tồn tại, bởi vì chúng ta không thấy vật chất tồn tại đưới dạng thuần túy vật chất bao giờ Tuy nhiên, nó vẫn tồn tại khái niệm vật chất nói chung và bản thân
sự vật cảm tính vẫn là dạng biểu hiện cụ thể của vật chất Đây là điểm trùng khớp với tư tưởng của triết học Mác: vật chất cũng như giá trị, không có một gam trọng lượng nào; vật chất tồn tại với tư cách là vật chất thuần túy thì là một hình thức khái quát của tư duy; người ta có thể ăn được trái mận, trái đào, chứ không ai ăn được trái cây với tính cách là trái cây Vậy nên, dưới con mắt của Plato, bản thân vật chất cũng tồn tại vĩnh viễn và mặc dù không hề do thế giới ý niệm sinh ra và dù tuy không là gì cả những vẫn rất cần thiết
Trang 34Tóm lại, có thể thấy rằng Plato cho rằng ý niệm là cái tồn tại có trước,
là nguyên mẫu đầu tiên, còn tất cả sự vật của thế giới hiện thực chỉ là bản sao,
là những mô phỏng của các ý niệm trong thế giới sự vật và cho dù cố gắng bắt chước, mô phỏng đến đâu thì những sự vật cảm tính đó cũng không thể đạt được được độ toàn mỹ, chân thực đúng như ý niệm của nó Trong mối quan
hệ giữa vật chất và ý niệm thì ý niệm là bản chất chung của mọi sự vật, đem lại sinh khí cho chúng, và là cơ sở thống nhất cho toàn vũ trụ, còn vật chất là căn nguyên tạo ra hình thù, chất liệu cho mỗi sự vật cụ thể, làm cho chúng đa dạng và không ngừng biến đổi Vì vật, các sự vật là trung gian giữa ý niệm và vật chất
*Học thuyết về con người:
Xuất phát từ tư tưởng thế giới ý niệm tạo ra thế giới sự vật cảm tính, tinh thần quyết định vật chất, nên trong tư tưởng về con người, Plato cho rằng linh hồn và thể xác là hai mặt đối lập nhau Đối với thể xác, Plato quan niệm
nó được cấu thành từ lửa, nước, không khí, đất – là các yếu tố cảm tính – và như vậy nó không tồn tại vĩnh viễn Thể xác chỉ là nơi trú ngụ tạm thời của linh hồn Còn linh hồn mới là sản phẩm cao nhất của vũ trụ, nó gồm 3 phần: trí tuệ (hay lý tính), cảm xúc và cảm tính Trong đó phần lý tính thì tồn tại bất diệt còn hai phần sau thì có thể chết cùng thể xác Số lượng linh hồn không thay đổi bởi chúng được tạo ra bởi Đấng sáng thế, bởi linh hồn vũ trụ từ cách đây đã lâu Sau khi được tạo ra, mỗi linh hồn trú ngụ ở một vì sao trên trời, rồi sau đó chúng dùng cánh bay xuống thế giới trần gian và nhập vào thể xác
để tạo nên con người Khi nhập vào thể xác con người thì nó quên hết mọi quá khứ Vậy nên nhận thức của con người là sự hồi tưởng lại những gì mà linh hồn đã lãng quên
Trang 35* Quan niệm về chính trị xã hội:
Theo Plato, con người chỉ có thể hoàn thiện nhân cách trong một nhà nước được tổ chức một cách hợp lý Mục đích của triết học là xây dựng một nhà nước lý tưởng hoàn thiện Căn cứ vào ba phần cấu cấu tạo lên linh hồn con người, Plato cũng chia xã hội ra làm ba hạng người tùy thuộc theo bộ phận linh hồn nào của họ: lý tính, xúc cảm hay cảm tính đóng vai trò chủ đạo
Hạng người ở vị trí cao nhất là những nhà triết học, nhà thông thái Đây
là những người mà lý tính đóng vai trò chính trong hoạt động của họ Họ luôn luôn hướng tới tận hưởng những cái đẹp, làm theo trật tự các ý niệm, có khát vọng vươn tới hạnh phúc tối cao, tới sự thật và công lý Đây là những người biết kiềm chế, điềm đạm, ôn hòa Họ xa lánh thú vui trần tục Họ đủ khả năng
để đảm nhận được vai trò lãnh đạo, trị vì xã hội trong nhà nước lý tưởng
Hạng người ở vị trí thứ hai là những người lính làm nhiệm vụ bảo vệ an ninh cho nhà nước lý tưởng Linh hồn của họ được dẫn dắt bởi xúc cảm gan
dạ, dũng cảm, biết phục tùng các khát vọng cảm tính đối với lý trí, với nghĩa
vụ
Hạng người ở vị trí cuối cùng là những người thuộc tầng lớp nông dân, thợ thủ công Họ là những người bị khát vọng cảm tính chi phối Họ thường khỏe mạnh, thích nghi với lao động chân tay và không thể tham gia lao động trí óc bởi ngay từ khi sinh ra họ đã gần gũi với các sự vật cảm tính Nhiệm vụ của họ trong nhà nước lý tưởng là làm ra của cải, đảm bảo nhu cầu vật chất cho hai hạng người nhà thông thái và những người lính bảo vệ an ninh
Từ đây có thể thấy rằng, Plato đặc biệt đề cao tầng lớp trí thức mà cá nhân ông là một thành viên trong tầng lớp đó Đồng thời, ông khá khinh miệt tầng lớp lao động chân tay, cho rằng họ chỉ như những “công cụ lao động biết nói” – một quan niệm phổ biến dành cho nô lệ thời bấy giờ Có tư tưởng này
Trang 36do xuất phát chính từ quan niệm về bản thể luận đã quyết định cách nhìn nhận
ở các lĩnh vực còn lại
Về nguyên nhân hình thành nhà nước, theo Plato, nhà nước xuất hiện
do sự đa dạng nhu cầu con người và từ đó xuất hiện dạng phân công lao động
để thỏa mãn các nhu cầu đa dạng ấy Hệ quả kéo theo, trong xã hội cần phải duy trì các hạng người khác nhau, và do đó không thể có sự hoàn toàn bình đẳng giữa mọi người được Công lý là ở chỗ mỗi hạng người làm hết trách nhiệm của mình, biết sống đúng với địa vị tầng lớp của mình Chỉ khi như thế con người mới làm được điều thiện Đây là quan niệm hết sức sai lầm của Plato khi muốn duy trì sự bất bình đẳng trong xã hội
Về sở hữu, Plato cho rằng sở hữu tư nhân là nguồn gốc sinh ra điều ác, vậy nên cần phải bị xóa bỏ Chính sở hữu tư nhân đã phá hủy tính chỉnh thể
và thống nhất của nhà nước, làm cho mọi người bất hòa với nhau Ở đây có thể thấy rằng Plato đã nhìn nhận rất tiệm cận về nguyên nhân gây ra đấu tranh giai cấp, thay thế các hình thái kinh tế - xã hội, tuy nhiên ông chưa nhận ra rằng trên thực tế, lợi ích cá nhân đóng vai trò vô cùng to lớn trong hoạt động của mỗi người, và ông chưa phân biệt được giữa vấn đề sở hữu tư nhân và chế
độ tư hữu (sở hữu tư nhân có thể là sở hữu tư liệu sinh hoạt còn chế độ tư hữu
là về tư liệu sản xuất)
* Quan niệm về thẩm mỹ:
Theo Plato, đối tượng của nghệ thuật là cái đẹp, tuy nhiên cái đẹp bề ngoài, cảm tính thì không có nhiều giá trị bằng cái đẹp vĩnh hằng, tuyệt đối, cái đẹp về bản chất, mang tính chung và bao quát Có thể nhận thấy rằng tuy còn hạn chế khi cho rằng cái đẹp đích thực chỉ tồn tại ở thế giới ý niệm, song Plato đã nhận định chính xác về đối tượng của nghệ thuật khi cho đó là phạm trù cái đẹp Khoa học nghệ thuật hiện đại cũng đã khẳng định cái đẹp là phạm trù trung tâm của mỹ học
Trang 371.3 Khái quát về tác phẩm “Phaedo”
Vào năm 399 tr CN, trước việc Socrates thường lên án, chỉ trích thể chế dân chủ lúc này đã bộc lộ nhiều hạn chế của Athens, ca ngợi Sparta – là thành bang chiến thắng trong cuộc chiến Peloponnesus nên tòa án đã kết tội ông làm hư hỏng đầu óc của thanh niên Athens và bị xử phải tự vẫn bằng cách uống thuốc độc
Nhưng ông không bị xử tử lập tức bởi ngay trước ngày thi hành án là buổi lễ làm phép cho chiếc tàu mà người Athens gửi đến Delos – một hòn đảo nằm trong Cyclades thuộc Hy Lạp (theo người Athens kể lại, Theseus – một người anh hùng trong thần thoại, người sáng lập ra thành bang Athens, trong cuộc hành trình cùng với mười bốn thanh niên tới đảo Crete đã gặp nạn, khi
đó họ đã thề với thần Apollo rằng nếu họ được cứu, mỗi năm họ sẽ hành hương tới Delos Vì thế, hàng năm người Athens vẫn giữ tập tục này và trong suốt thời gian con tàu đến Delos và trở về – gọi là mùa thánh – thì “không được được phép làm ô uế thành phố bởi các cuộc hành hình công khai” [13, tr.348], ngoài ra, do cuộc hành trình tới Delos thường gặp sóng to gió lớn nên thường mất nhiều thời gian để hoàn tất) Vì lẽ đó, nên Socrates được giam vào trong tù rất lâu trước khi bị hành hình Hàng ngày, gia đình, những người bạn
và học trò của ông được phép vào thăm
Tuy tác phẩm ra đời thời gian cuối cùng trước khi Socrates chết nhưng không xác định được năm cụ thể Theo như khảo cứu của Benjamin Jowett
trong “Plato chuyên khảo”; Nguyễn Ước trong phần đọc thêm của cuốn “Đại
cương triết học phương Tây”, cũng như của những học giả đã từng nghiên
cứu về Plato, thì chắc chắn một điều rằng tác phẩm “Phaedo” không phải
được viết ngay sau vụ án Socrates, mà được viết vào giai đoạn thứ hai trong
tiến trình ra đời các tác phẩm của Plato, sau 2 tác phẩm “Apology”, “Crito”
và trước 2 tác phẩm “Symposium”, “The Republic” Đây là khoảng thời gian
Trang 38mà Plato đã có ít nhất 2 lần rời khỏi và trở về Athens, đi chu du các thành bang khác thuộc Hy Lạp như Megara (theo học nhà toán học Euclid); hay tới các đất nước khác như Ai Cập (đi cùng những đồng môn), Italia (Ý) (gia nhập vào nhóm Pitagoras)
Như đã nghiên cứu trong phần “Plato - cuộc đời và sự nghiệp” – đây là khoảng thời gian rất biến động trong cuộc đời Plato, sự việc chính quyền Athens kết tội Socrates đã khiến Plato mất niềm tin vào thể chế chính trị Athens đương thời, ngoài ra, việc đi chu du nước ngoài, đặc biệt là việc tới Ai Cập, đã giúp cho Plato tăng được vốn hiểu biết về văn hóa, phong tục, tập quán; từ đó ông đã có được những cơ sở kiến thức cần thiết để hình thành nên
tác phẩm “Phaedo”
Thông qua các đối thoại trong tác phẩm cũng có thể xác định được rằng thời điểm Plato viết tác phẩm, ông đã đến Ai Cập và quan trọng hơn là ông đã biết đến thành phố Thebes của Ai Cập cổ đại lúc bấy giờ: Thebes nằm bên bờ sông Nile, cách địa Trung Hải 800km về phía Nam, đây là trung tâm hành chính, văn hóa, tôn giáo lớn nhất của người Ai Cập Việc tới Thebes và tiếp xúc với tín ngưỡng Ai Cập có thể chính là những tiền đề cần thiết giúp cho Plato xây dựng những quan niệm của mình về linh hồn cũng như thế giới bên kia
Các tư tưởng về “ý niệm”, “thế giới ý niệm” trong tác phẩm này chưa được hình thành rõ ràng, Plato mới chỉ quan niệm rằng có một thế giới hoàn
hảo và tuyệt mĩ hơn thế giới trần tục này Và chỉ khi đến tác phẩm “The
Republic” thì các tư tưởng về “ý niệm”, “thế giới ý niệm” mới được trình bày
rõ ràng: “trên thế giới này có những cái giường và vô số những cái bàn nhưng chỉ có hai ý niệm hay mô thể của chúng; một cái về cái giường, một về cái bàn [13, tr.204]
Trang 39Tác phẩm “Phaedo” là câu chuyện kể của nhân vật Phaedo thuật lại
cho người bạn của mình là Echecrates (Ê-chê-crat) về buổi sáng cuối cùng của Socrates khi ở trong tù và gặp mặt những người bạn, học trò lần cuối Tên của tác phẩm không mang ý nghĩa triết học hay gợi lên bất cứ một nội dung nào mà chỉ là tên của nhân vật Phaedo Cách đặt tên tác phẩm ngắn gọn và lấy luôn tên nhân vật làm nhan đề như vậy là điều thường thấy trong các tác phẩm
của Plato, chẳng hạn các tác phẩm: “Euthyphro”, “Crito”, “Phaedrus”
Có 7 nhân vật trực tiếp tham gia vào đối thoại “Phaedo”:
Phaedo: người kể chuyện; Echecrates: người xứ Philus; Socrates; Cai tù; Simmias; Cebes cùng Simmias là 2 người tranh luận với nhân vật Socrates
ở trong đối thoại này; Crito: người bạn rất thân thiết của Socrates
Ngoài ra còn có: “Về những người chính gốc Athens, ngoài Apollodorus
ra còn có Critobulus Hermogenes, Epigenes, Aeschines và Antishenes; cũng
có Ctesippus thuộc bộ tộc Pacania, Menexenus và một số người khác” [13, tr.349]; Phaedondes, Eclid và Terpsion Tuy nhiên những nhân vật này chỉ được nhắc đến tên trong phần đầu của hội thoại khi nhân vật Echecrates hỏi Phaedo về những người có mặt cùng với Socrates tại thời gian cuối cùng đó, chứ những nhân vật này không tham gia tranh luận hay được nhắc đến lần thứ hai
Với danh sách nhân vật trong tác phẩm như trên, người đọc rất dễ lầm tưởng rằng đây là một tác phẩm của Socrates, hoặc của học trò Socrates ghi chép lại mà không phải là một tác phẩm của Plato Thậm chí, tên “Plato” chỉ được nhắc đến một lần duy nhất nhưng với tư cách là người không có mặt lúc đó: “nếu như tôi không lầm thì Plato không có mặt vì anh ấy bị đau” [3, tr.349] Tuy nhiên, cần phải khẳng định rằng đây là tác phẩm của Plato và ông chỉ lấy bối cảnh cái chết của Socrates Toàn bộ những lời thoại trong tác phẩm là sáng tác của Plato chứ không phải là sự ghi chép của Plato về những
Trang 40lời nói cuối cùng của Socrates Do đó, cần phải phân biệt giữa nhà triết học Socrates có thật trong lịch sử, với nhân vật nhà triết học Socrates trong tác phẩm
Tác phẩm không được chia thành các chương mục hay các vấn đề rõ ràng mà được viết theo lối đối thoại, ban đầu là cuộc đối thoại giữa Phaedo và Echecrates về lý do việc xử án Socrates được hoãn lại rất lâu và về bối cảnh khi mọi người vào thăm Socrates lần cuối, sau đó là lời Phaedo thuật lại cuộc tranh luận giữa Socrates với Simmias và Cebes Trong đó các nhân vật Simmias
và Cebes thường xuyên đặt ra câu hỏi, những vấn đề để Socrates trả lời, đồng thời Socrates cũng quan tâm hỏi lại họ xem đã hiểu được vấn đề chưa, hoặc tóm tắt lại nội dung vấn đề đã tranh luận Lối văn hội thoại này không chỉ
được Plato sử dụng trong tác phẩm “Phaedo” mà còn trong tất cả các tác
phẩm của ông Vậy có thể thấy, Plato đã tiếp thu sâu sắc phương pháp “tranh luận để tìm ra chân lý” do người thầy Socrates của ông sáng tạo ra
Tác phẩm “Phaedo” mà luận văn sử dụng làm tài liệu nghiên cứu có dung lượng 60 trang, từ trang 347 đến 407 thuộc tác phẩm “Plato chuyên
khảo” do Benjamin Jowett và M.J Knight biên tập, được Lưu Văn Hy và Trí
Tri dịch ra tiếng Việt; tác phẩm này được nhà xuất bản Văn hóa Thông tin ấn hành năm 2008 Do Benjamin Jowett là học giả của Đại học Oxford chuyên nghiên cứu và dịch các tác phẩm của Plato từ tiếng Hy Lạp sang tiếng Anh và Lưu Văn Hy, Trí Tri đều là những học giả đáng tin cậy đã từng dịch nhiều tác
phẩm triết học (“Nhập môn triết học phương Tây”, “Tuyển tập danh tác triết
học từ Plato đến Derrida”, ) nên việc dịch từ bản gốc sang nhiều thứ tiếng
khác nhau tuy có thể làm sai lệch một số tư tưởng nguyên bản của Plato, song những nội dung cơ bản, cốt lõi vẫn được thể hiện đầy đủ trong bản dịch này Đây cũng là bản dịch được những nhà nghiên cứu triết học đánh giá cao và dùng phổ biến khi nghiên cứu về Plato ở Việt Nam hiện nay