Và như thế, để làm tốt các chương trình truyền hình giải trí được mua bản quyền nước ngoài, để làm sao cho các chương trình ấy vừa giữ được bản chất vốn có của nó, vừa phù hợp với văn hó
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
TRÊN KÊNH VTV3- ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM
(Khảo sát các chương trình Ai là triệu phú, Giọng hát Việt,
Không giới hạn Sasuke Việt Nam năm 2017)
Chuyên ngành : Báo chí học
Mã số : 8 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Trí Nhiệm
HÀ NỘI - 2018
Trang 2Luận văn đã được chỉnh sửa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày 15tháng 9 năm 2018 CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS,TS Nguyễn Thị Trường Giang
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận trong luận văn chưa từng công bố trong bất cứ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phùng Thị Phương Thảo
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm khoa, các thầy cô giáo, các cán bộ khoa Phát thanh - Truyền hình - Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã dày công đào tạo, cung cấp cho tác giả những kiến thức hữu ích và đầy đủ để
có hoàn thành chương trình đào tạo thạc sỹ, tiếp tục nghiên cứu và có những kết quả khoa học có giá trị
Em xin chân thành cảm ơn TS Nguyễn Trí Nhiệm, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và tư vấn các phương pháp nghiên cứu, các hướng phát triển khoa học để em có thể hoàn thành luận văn một cách nhanh chóng, đúng tiến độ và mang giá trị thực tiễn cao
Xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Ban Sản xuất các chương trình Giải trí và lãnh đạo các phòng nội dung đã tạo mọi điều kiện về thời gian cũng như luôn có sự quan tâm, động viên kịp thời đối với tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu
Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã ủng hộ, cổ vũ tác giả hoàn thành luận văn này
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC SẢN XUẤT CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH GIẢI TRÍ MUA BẢN QUYỀN NƯỚC NGOÀI 12
1.1 Khái niệm 12
1.2 Đặc điểm của các chương trình giải trí mua bản quyền nước ngoài 22
1.3 Vai trò của các chương trình giải trí mua bản quyền nước ngoài 24
1.4 Yêu cầu và điều kiện tổ chức sản xuất đối với các chương trình giải trí mua bản quyền nước ngoài 27
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC SẢN XUẤT CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH GIẢI TRÍ MUA BẢN QUYỀN NƯỚC NGOÀI TRÊN SÓNG VTV3 - ĐÀI TRUYỀN HÌNH VIỆT NAM 37
2.1 Khái quát về kênh VTV3 - Đài Truyền hình Việt Nam 37
2.2 Khảo sát việc tổ chức sản xuất chương trình “Ai là triệu phú”; “Giọng hát Việt” và “Không giới hạn – Sasuke” năm 2017 41
2.3 Đánh giá chung về tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài 80
Chương 3: VẤN ĐỀ ĐẶT RA VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TỔ CHỨC SẢN XUẤT CÁC CHƯƠNG TRÌNH TRUYỀN HÌNH GIẢI TRÍ 88
3.1 Một số vấn đề đặt ra trong việc tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí …… 88
3.2 Một số giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí 95
KẾT LUẬN 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 108
PHỤ LỤC 112
Trang 6DANH MỤC BẢNG, SƠ ĐỒ Bảng 2.1 Sơ đồ chức danh sản xuất giai đoạn tiền kỳ …… 43 Bảng 2.2 Mô hình giai đoạn tiền kỳ chương trình truyền hình giải trí 44 Bảng 2.3: Sơ đồ chức danh sản xuất chương trình “Không giới hạn – Sasuke
Việt Nam” 72
Biểu đồ 2.1: Mức độ kịch tính trong các dạng trò chơi truyền hình (%) 67
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Con người tồn tại và phát triển đồng hành với đó là hàng loạt các nhu cầu Cùng với ăn, mặc, ở, lao động… giải trí cũng là một nhu cầu không thể
thiếu vì “đây là một hình thức thay đổi tính chất lao động của con người
nhằm giải tỏa những mệt mỏi, những ức chế và phục hồi sức khỏe, đưa cơ thể trở lại một trạng thái khỏe mạnh toàn diện cả về thể chất và tinh thần.” Cũng
chính vì lẽ đó mà các sản phẩm giải trí luôn luôn được đẩy mạnh quan tâm sản xuất, đặc biệt là trong thời đại khi con người có quá nhiều áp lực trong cuộc sống
Để đáp ứng nhu cầu giải trí và cung cấp thông tin cho công chúng, truyền hình ra đời Ban đầu chỉ là những bản tin, những bài phóng sự đơn giản nhưng hàm chứa nhiều thông tin Cùng với tốc độ phát triển nhanh chóng của phương tiện kỹ thuật, các chương trình truyền hình ngày càng trở nên phong phú Dần dần, người làm truyền hình nhận thấy như vậy là chưa đủ, cần có nhiều hình thức cũng như dạng chương trình phong phú hơn nữa để đáp ứng nhu cầu đa dạng của công chúng Trò chơi truyền hình được bắt nguồn từ đó
Ban đầu chỉ là trò chơi dạng câu hỏi đơn giản, xuất hiện lần đầu tiên trên sóng phát thanh Nhận được sự ủng hộ bất ngờ từ phía thính giả nghe đài, các nhà sản xuất truyền hình quyết định mô phỏng lại và đưa trò chơi này lên truyền hình Đó là lần đầu tiên một trò chơi truyền hình được sản xuất và phát sóng, đến với công chúng theo dõi truyền hình
Các chương trình trò chơi truyền hình ngày càng phát triển, nhiều thể loại mới, hình thức mới được ra đời và cập nhật Diện phủ sóng của các chương trình trò chơi truyền hình không chỉ dừng lại ở một địa phương, một quốc gia mà nó
đã lan rộng và tỏa khắp năm châu bốn biển, mang đến một phong thái mới và cách thức sản xuất mới đối với những người làm truyền hình
Trang 8Đặc biệt, để thay đổi món ăn tinh thần cho công chúng đồng thời đáp ứng nhu cầu tiếp biến của các khản giả mà đặc biệt là khán giả trẻ, các nhà sẵn xuất đã chú ý vào việc tìm ra và mua bản quyền sản xuất các chương trình giải trí hiện đang ăn khách hàng đầu trên thế giới Tuy nhiên, việc thực hiện hóa các chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài cũng là một điều không hề đơn giản bởi lẽ các khác biệt văn hóa, các quy mô sản xuất cũng như điều kiện về nhân lực, vật lực trang thiết bị nước ta vẫn còn những hạn chế Và như thế, để làm tốt các chương trình truyền hình giải trí được mua bản quyền nước ngoài, để làm sao cho các chương trình ấy vừa giữ được bản chất vốn có của nó, vừa phù hợp với văn hóa và đối tượng người xem là người Việt Nam thì công tác tổ chức sản xuất chương trình là 1 điều rất quan trọng
Tổ chức sản xuất chương trình là một khâu quan trọng trong quá trình sản xuất các chương trình truyền hình Dù là chương trình thời sự, hay phim truyện hay tọa đàm đối thoại thì tổ chức sản xuất cũng là 1 trong nhưng yếu tố đầu tiên cấu thành và quyết định cấu trúc và chất lượng chương trình Đặc biệt, với các chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài thường được sản xuất với quy mô lớn thì vai trò của việc tổ chức sản xuất lại càng trở nên đặc biệt quan trọng Tổ chức sản xuất sẽ là khâu xuyên suốt trong quá trình sản xuất một chương trình, bắt đầu từ khi chương trình mới vừa trong trứng nước cho đến lúc tiến hành thực hiện, phát sóng và cả sau phát sóng thì vai trò của tổ chức sản xuất vẫn không thể phủ nhận Bên cạnh yếu tố quyết định về mặt nội dung thì tổ chức sản xuất chính là công việc đảm nhận vai trò hỗ trợ quyết định thành hình một chương trình Để nghiên cứu một cách có hệ thống về các đặc điểm, đặc trưng, những vấn đề đặt ra, những điểm còn tồn tại trong quá trình sản xuất môt chương trình truyền hình giải trí
hiện nay, người viết luận văn chọn nghiên cứu đề tài “Tổ chức sản xuất
chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài phát sóng trên kênh VTV3 - Đài truyền hình Việt Nam”, hi vọng có thể góp thêm
những ý kiến đóng góp tích cực vào việc nâng cao nhận thức và hiệu quả sản
xuất các chương tình truyền hình giải trí hiện nay
Trang 92 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, để tham khảo các kiến thức liên quan đến luận văn của mình, tác giả cũng đã đọc và nghiên cứu một
số tài liệu chuyên khảo như sau:
- PTS KH A.A Chertưchơnưi; Đào Tấn Anh, Trần Kiều Vân dịch,
(2004), Các thể loại báo chí của; Nhà xuất bản Thông tấn, Hà Nội Nội dung
cuốn sách cung cấp chủ yếu những vấn đề lý luận về các yếu tố liên quan đến các thể loại báo chí Cuốn sách được chia làm bốn chương: chương một là phần lý luận chung về các yếu tố hình thành thể loại trong báo chí; ba chương còn lại trình bày 43 màu sắc đặc thù trong bảng màu các thể loại báo chí được phân theo tính chất của các thể loại tin, thể loại phân tích, thể loại chính luận - nghệ thuật
- PGS.TS Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận báo chí báo chí
của, Nhà xuất bản Lao động, Hà Nội Cuốn sách cung cấp cho tác giả những kiến thức cơ bản nhất về những vấn đề cơ sở lý luận báo chí, hiểu được rõ ràng và cụ thể những lý luận khóa học cơ bản của báo chí
- PGS, TS Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí truyền thông hiện đại,
Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Thông qua dung lượng của 5 chương sách, tác giả đã cung cấp cho độc giả những khái niệm cơ bản về hoạt động báo chí truyền thông hiện đại Trên nền tàng lý luận cơ bản, tác giả triển khai nhiều vấn đề đặc thù của báo chí truyền thông hiện nay
- PGS TS Hoàng Đình Cúc và TS Nguyễn Đức Dũng (2007) Những
vấn đề của báo chí hiện đại, Nhà xuất bản Lý luận Chính trị, Hà Nội Nội
dung cuốn sách đề cập đến 19 vấn đề đang được đặt ra trong các mặt hoạt động của báo chí ở nước ta từ lý luận đến thực tiễn và công tác giảng dạy, nghiên cứu, đào tạo Cuốn sách gồm hai phần, phần một, nghiên cứu những vấn đề chung của báo chí Phần hai, nghiên cứu về nghề báo, nhà báo và tác phẩm báo chí
Trang 10- PGS TS Dương Xuân Sơn (2009) Giáo trình báo chí truyền hình
với các nội dung chính liên quan đến THTT được tác giả đề cập là: Sản xuất chương trình THTT; Vai trò của các chương trình THTT; Đặc điểm của chương trình Cầu truyền hình; Quá trình chuẩn bị một chương trình Cầu truyền hình; Thực hiện ghi hình và phát sóng
- ThS Phạm Thị Sao Băng (2005) Giáo trình Công nghệ sản xuất
chương trình truyền hình - Trường Cao đẳng Truyền hình, Đài Truyền hình
Việt Nam
- TS Trần Bảo Khánh (2003) Sản xuất chương trình truyền hình Cuốn
sách này đề cập chủ yếu đến các phương pháp sản xuất chương trình truyền hình, các yếu tố cấu thành một sản phẩm truyền hình Đặc biệt, cuốn sách trình bày tương đối kỹ lưỡng tới quy trình sản xuất các thể loại trong truyền hình như: tin, phóng sự, ký sự, cầu truyền hình…
- TS Đinh Thị Xuân Hòa (2014) Xã hội hóa sản xuất chương trình
truyền hình ở Việt Nam hiện nay Cuốn sách đề cập chủ yếu đến sự phát triển
hoạt động xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam, các hình thức hợp tác sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam gồm: hợp tác sản xuất chương trình, đặt hàng sản xuất chương trình, khai thác chất liệu và sản phẩm truyền hình và trao đổi sản phẩm
- Bài viết”Sức hấp dẫn của thể loại trò chơi truyền hình”, (TS Tạ
Bích Loan, Trích trong cuốn “Báo chí những điểm nhìn thực tiễn”, tập 2, Nxb Văn hoá Thông tin) Bài viết nói sơ lược về lịch sử của chương trình trò chơi truyền hình tại Việt Nam Bên cạnh đó, tác giả chỉ ra những đặc điểm của một chương trình trò chơi truyền hình cần có, phân tích tâm lý tiếp nhận của công chúng truyền hình để có thể xây dựng nên những chương trình trò chơi truyền hình đạt hiệu quả cao hơn
Bên cạnh đó, trong nhiều năm trở lại đây cũng có nhiều công trình nghiên cứu đề cập đến các vấn đề liên quan đến đề tài mà tác giả nghiên cứu
và có giá trị tham khảo như:
Trang 11- Luận văn “Chương trình trò chơi trên Đài truyền hình Việt Nam”,
TS Đinh Thị Xuân Hòa, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2002 Luận văn nhắc đến các chương trình trò chơi giải trí được sản xuất và phát sóng trên kênh VTV3 - Đài Truyền hình Việt Nam nhưng chưa nhắc đến khâu tổ chức sản xuất cũng như tại thời điểm lúc bấy giờ, yếu tố chương trình bản quyền nước ngoài cũng chưa được để ý nhiều
- Luận văn”Tổ chức sản xuất các chương trình trò chơi truyền hình”
(Vũ Thanh Hường - Luận văn Thạc sĩ báo chí, ĐH KHXH NV - ĐH Quốc
gia, HN, 2003), đây là luận văn gần nhất với nội dung của tác giả tuy nhiên
đây là một luận văn đã tương đối cũ tại thời điểm nghiên cứu hiện tại bởi sau hơn 15 năm thì việc tổ chức sản xuất đã thay đổi và có nhiều cải tiến
- Luận văn”Chương trình trò chơi truyền hình với khán giả Việt Nam” (Đỗ Thi Bạch Dương - Luận văn Thạc sĩ báo chí, ĐH KHXH NV -
ĐH Quốc gia, HN, 2003) Nội dung chính của luận văn là mối quan hệ, vai
trò, vị trí, chức năng của trò chơi truyền hình trong đời sống theo dõi truyền
hình nói chung Qua đó liên hệ đến khán giả Việt Nam
- Luận văn “Nâng cao tính hấp dẫn của các chương trình giải trí trên truyền hình thông qua việc áp dụng một số thủ pháp sân khấu” (Bùi Thu
Thuỷ - Luận văn Thạc sĩ báo chí, ĐHKHXH NV - ĐH Quốc gia, H, 2003) Luận văn đề cập đến các phương thức, cách khai thác, tận dụng tốt các yếu tố cần thiết, các thủ pháp sân khấu để nâng cao tính hấp dẫn của các chương trình giải trí trên truyền hình
- Luận văn thạc sĩ “Vấn đề tiếp biến văn hóa trong các trò chơi truyền
hình”, ThS Hoa Thanh Tùng, 2008 nghiên cứu 1 cách hệ thống và có vấn đề
về cách các nhà sản xuất thực hiện tiếp biến các giá trị văn hóa sao cho phù hợp với các chương trình trò chơi truyền hình có ảnh hưởng hoặc được mua bản quyền từ nước ngoài về Việt Nam sản xuất
- Luận văn “Tác động của các công ty truyền thông tới hoạt động sản xuất gameshow của VTV3 - Đài truyền hình Việt Nam”, (Khảo sát chương
Trang 12trình Hãy chọn giá đúng từ tháng 1/2008 - 5/2008), Nguyễn Hồng Dương
(2008), Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Truyền hình Khóa luận tập trung nghiên cứu về những ảnh hưởng, tác động của các công ty truyền thông tới hoạt động sản xuất các chương trình trò chơi truyền hình, đặc biệt là chương
trình Hãy chọn giá đúng trên kênh VTV3 - Đài Truyền hình Việt Nam
- Luận án tiến sĩ “Vấn đề xã hội hóa sản xuất chương trình truyền
hình ở Việt Nam hiện nay”, TS Đinh Thị Xuân Hòa, Học viện Báo chí và
Tuyên truyền, 2011 Luận án nêu ra rất nhiều các vấn đề liên quan đến việc sản xuất các chương trình truyền hình mà đặc biệt là chương trình trò chơi truyền hình được xã hội hóa, cộng tác thực hiện giữa các đài chính thống và các đơn vị truyền thông xã hội có tiềm lực và khả năng thực hiện
- Luận văn “Quá trình việt hóa các chương trình truyền hình thực tế
mua bản quyền nước ngoài”, ThS Đỗ Viết Hùng, 2014 nghiên cứu về 1 trong
những khâu quan trọng trong quá trình tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình mua bản quyền nước ngoài
- Luận văn “Vấn đề bản quyền truyền hình tại Đài Truyền hình Việt
Nam hiện nay”, Th.S Nguyễn Xuân Phúc, 2015 Luận văn có nhắc đến một
phần nội dung chương trình mua bản quyền nước ngoài và làm rõ một số khái niệm liên quan đến vấn đề này
Ngoài ra, luận văn còn có sự tham khảo chọn lọc từ các đề tài khoa học có liên quan sau:
- Luận văn: “Hoạt động nghề nghiệp của êkíp phóng viên trong sáng
tạo tác phẩm truyền hình” - ThS Vũ Văn Quang (2000)
- Luận văn “Tổ chức sản xuất chương trình truyền hình trực tiếp tại các
Đài PT - TH khu vực Đông Bắc” (Khảo sát tại các đài PT - TH Quảng Ninh, Hải Dương, Hải Phòng từ 01/2007 đến 06/2008” - Mai Vũ Tuấn (2008)
- Luận văn “Xử lí tình huống của người dẫn chương trình trong các
chương trình truyền hình trực tiếp” - Nguyễn Thị Phương Hoa (2012)
Trang 13- Luận văn “Ngôn ngữ của người dẫn chương trình trò chơi truyền
hình” - Vương Thị Huyên (2012)
- Luận văn “Những yếu tố tác động đến quá trình sản xuất các chương
trình truyền hình thực tế trên kênh Real TV” - Nguyễn Thị Hải Yến (2012)
- Luận văn “Tổ chức sản xuất chương trình “Dự báo thời tiết” -
Nguyễn Ngọc Vân (2014)
- Luận văn “Đổi mới TCSX chương trình truyền hình trực tiếp của đài
PT - TH Bình Dương” - ThS Trần Thị Kim Miên (2014)
- Luận văn “Tổ chức sản xuất chương trình thời sự quốc tế trên Đài
phát thanh và truyền hình Vĩnh Long hiện nay, luận văn thạc sĩ báo chí” -
Lương Ngọc Thu (2015)
- Luận văn “Chất lượng các chương trình trò chơi truyền hình thuần
việt trên kênh VTV3” - Trần Thị Diệu Hương (2018)
- Luận văn “Người chơi trong chương trình trò chơi truyền hình” -
Phùng Ngọc Lưu (2018)
Kế thừa kết quả nghiên cứu khoa học của các đồng nghiệp và những người đi trước, dựa vào những nguồn tài liệu trao đổi tại các chương trình hội thảo nghiệp vụ luận văn này xin tập trung đi sâu về công tác tổ chức sản xuất các chương trình giải trí mua bản quyền nước ngoài đang phát sóng trên kênh VTV3 nhằm tìm tòi, phát hiện và đúc rút kinh nghiệm về những bất cập trong từng khâu sản xuất, tìm nguyên nhân và những giải pháp tác động trong công tác tổ chức sản xuất một chương trình trò chơi cụ thể để so sánh, phân tích và khái quát lên một mô hình tổ chức sản xuất chung cho các chương trình giải trí mua bản quyền nước ngoài trong thời gian tới
3 Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về tổ chức sản xuất các chương trình giải trí mà cụ thể là những chương trình có mua bản quyền
Trang 14từ nước ngoài đề tài tiến hành khảo sát, đánh giá và đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí thuộc các thể loại: trò chơi trí tuệ, cuộc thi và chương trình vận động có yếu tố format nước ngoài
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích nghiên cứu đặt ra, luận văn giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về tổ chức sản xuất thực hiện các chương trình giải trí mua bản quyền từ nước ngoài
- Khảo sát, đánh giá thực trạng tổ chức sản xuất của các cá nhân, đơn
vị trong việc thực hiện sản xuất các chương trình truyền hình giải trí trên sóng đài Truyền hình Việt Nam hiện nay mà cụ thể là 3 chương trình thuộc 3 thể loại chương trình giải trí đang được mua bản quyền thực hiện và phát sóng là:
chương trình Ai là triệu phú (ALTP), chương tình Giọng hát Việt (GHV), chương trình Không giới hạn Sasuke Việt Nam
- Đề xuất và luận giải cơ sở khoa học của các giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là việc tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài trên sóng Đài truyền hình Việt Nam
4.2 Phạm vị nghiên cứu
Để làm sáng rõ vấn đề “Tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài trên sóng Đài truyền hình Việt Nam”, tác giả đăt mục tiêu nghiên cứu về quá trình tổ chức sản xuất của nhóm tổ chức
sản xuất trong quá trình thực hiện các chương trình: Ai là triệu phú (52 số
Trang 15phát sóng trong năm 2017), Giọng hát Việt và Không giới hạn - Sasuke Việt
Nam (mùa năm 2017)
Đây là 3 chương trình trò chơi truyền hình mua bản quyền nước ngoài
đã được thực hiện và có thời gian phát sóng trên 3 năm, thuộc 3 dạng đặc thù của thể loại truyền hình giải trí là: trò chơi trí tuệ, trò chơi vận động và cuộc thi Đồng thời đây cũng là những chương trình sản xuất tương đối thành công, nhận được nhiều sự quan tâm của các khán giả và đã giành được những chố đứng đáng kể trong lòng công chúng Đây cũng là những chương trình tiêu biểu nhất thuộc thể loại chương trình trò chơi truyền hình được mua bản quyền nước ngoài đang phát sóng trên sóng Đài truyền hình Việt Nam
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
- Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận là các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh, một số lý
thuyết về báo chí nói chung và báo chí truyền hình nói riêng
- Luận văn vận dụng các Nghị quyết, Chương trình hành động, Quyết định, Chỉ thị, Báo cáo tổng kết của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân các tỉnh có Đài PTTH được lựa chọn để khảo sát
- Luận văn vận dụng, kế thừa, phát triển các công trình khoa học của các tác giả đi trước đã nghiên cứu nội dung có liên quan đến luận văn
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp này được sử dụng nhằm khái quát, hệ thống hóa, bổ sung mặt lý thuyết về tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình nói chung, và tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài nói riêng Đây chính là những lý thuyết cơ sở đánh giá các kết quả khảo sát thực
tế và đưa ra những giải pháp khoa học cho vấn đề nghiên cứu
Trang 16- Phương pháp phân tích, tổng hợp
Phương pháp này được sử dụng nhằm phân tích, khảo sát thực trạng quá trình tổ chức sản xuất của các biên tập viên để thực hiện 1 chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài
- Phương pháp thống kê
Phương pháp này được sử dụng nhằm xác định chất lượng, hiệu quả những chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài hiện đang được phát trên sóng Đài truyền hình Việt Nam Phương pháp này được dựa chủ yếu vào việc tác giả phải lưu giữ, xem lại các chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài hiện đang được phát trên sóng Đài truyền hình Việt Nam
- Phương pháp so sánh
Phương pháp này được thực hiện nhằm so sánh các chương trình truyền hình giải trí đang được sản xuất và phát sóng trên sóng Đài truyền hình Việt Nam so với các chương trình gốc và các bản sản xuất từ bản quyền ấy ở các quốc gia khác
- Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp này được thực hiện với các lãnh đạo phòng, các phóng viên, các chuyên gia, đạo diễn chương trình, tổ chức sản xuất nhằm thu thập thêm những thông tin, phương pháp, quy trình tổ chức khi thực hiện sản xuất các chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn góp phần làm rõ hơn một số vấn đề lý luận cơ bản về tổ chức sản xuất trong các chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài, về vai trò của tổ chức sản xuất trong thực tiễn sản xuất chương trình nói chung và các chương trình truyền hình giải trí nói riêng
Trang 176.2 Ý nghĩa thực tiễn
Là tài liệu để nâng cao trình độ nghiệp vụ cho bản thân Những kết luận của luận văn có thể được ứng dụng trong quá trình tác nghiệp của các phóng viên, các biên tập viên trẻ và những người hướng đến công việc nghiệp
vụ là tổ chức sản xuất chương trình truyền hình giải trí Hy vọng luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho sinh viên truyền hình khóa sau
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn được cấu trúc thành 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận về tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài
Chương 2: Thực trạng tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài trên sóng VTV3 - Đài truyền hình Việt Nam (Khảo sát chương trình Ai là triệu phú, Giọng hát Việt, Không giới hạn Sasuke Việt Nam năm 2017)
Chương 3: Vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng tổ chức sản xuất các chương trình truyền hình giải trí
Trang 18có nghĩa là xem được ở xa Tiếng Anh là “Television”, tiếng Pháp là
“Television”, tiếng Nga gọi là “Tелевидение” Như vậy, dù có phát triển bất
cứ ở đâu, ở quốc gia nào thì tên gọi truyền hình cũng có chung một nghĩa là
“xem được từ xa”
Theo Đại từ điển tiếng Việt thì: “truyền hình là truyền hình ảnh và âm
thanh bằng sóng điện vô tuyến” [52, tr.1734]
PGS.TS Dương Xuân Sơn chỉ ra rằng truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỷ thứ XX và phát triển với tốc độ như vũ bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, công nghệ, tạo ra một kênh thông tin quan trọng trong đời sống
xã hội Từ chỗ chỉ là một phương tiện giải trí ở thập kỉ 50 của thế kỷ XX, truyền hình đã dần trở thành một loại hình báo chí có tác động xã hội mạnh
mẽ nhất hiện nay
Sự ra đời của truyền hình đã góp phần làm cho hệ thống truyền thông đại chúng càng thêm hùng mạnh, không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về chất lượng Công chúng của truyền hình ngày càng đông đảo trên khắp hành tinh Với những ưu thế về kỹ thuật và công nghệ, truyền hình đã làm cho cuộc sống như được cô đọng lại, làm giàu thêm ý nghĩa, sáng tỏ hơn về hình thức
và phong phú hơn về nội dung
Và trong “Tập bài giảng môn Truyền hình”, kho Báo chí truyền ĐH
KHXH và NV, ĐH QG Hà Nội, tác giả Dương Xuân Sơn cũng đã định nghĩa:
Trang 19Truyền hình là một phương tiện truyền thông đại chúng truyền đạt thông tin nhờ phương tiện kĩ thuật đến đối tượng tiếp nhận là người xem Thông tin trong truyền hình gồm: hình ảnh và âm thanh Hình ảnh trong truyền hình có
cả hình ảnh động và hình ảnh tĩnh Âm thanh là lời nói (lời bình, lời phát thanh viên, lời phóng viên ) tiếng động hiện trường (cường độ, cao độ, tiết tấu)” [49, tr 3]
Còn theo tác giả Tạ Ngọc Tấn trong cuốn “Truyền thông đại chúng”, NXB chính trị - quốc gia, Hà Nội, 2001: “Truyền hình là một loại hình
phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải thông tin bằng hình ảnh và âm thanh Nguyên nghĩa của thuật ngữ Vô tuyến truyền hình bắt đầu từ hai từ
“Tele” có nghĩa là “ở xa” và “vision” nghĩa là “thấy được”, tức là “thấy được ở xa” [35, tr 127] Âm thanh trong truyền hình bao gồm lời nói của con người, âm nhạc, tiếng động và các âm thanh của hiện trường ghi như tiếng gió, mưa sấm, tiếng kêu cứu của muông thú, tiếng hót của chim chóc Sự kết hợp của hình ảnh và âm thanh tạo cho truyền hình khả năng chuyển tải các nội dung thông tin vô cùng phong phú Thực chất, cội nguồn trực tiếp của truyền hình là điện ảnh Chính điện ảnh đã cung cấp cho truyền hình những ý tưởng, gợi ý đầu tiên về một phương thức truyền thông cũng như một kho tàng những phương tiện biểu hiện phong phú, có sức thuyết phục mạnh mẽ, làm cơ sở cho truyền hình có thể thích ứng nhanh chóng với những đặc trưng
kỹ thuật riêng của mình”
PGS.TS Nguyễn Văn Dững đƣa ra quan niệm: Truyền hình là kênh
truyền thông đại chúng ra đời sau, kế thừa được các thế mạnh của các kênh trước đó như điện ảnh, báo in, phát thanh Và ngày nay đang tận hưởng tối
đa môi trường truyền thông số trên mạng internet Truyền hình là kênh truyền thông chuyển tải thông điệp bằng hình ảnh động với nhiều màu sắc vốn có từ cuộc sống cùng với lời nói, âm nhạc, tiếng động Nhờ thế, truyền hình đem lại cho công chúng bức tranh sống động với cảm giác như đang trực tiếp tiếp xúc
Trang 20và cảm thụ Đó là bức tranh về cuộc sống thật nhưng được thu nhỏ, được “rút gọn”, được “làm giàu thêm về ý nghĩa, làm sáng rõ hơn về hình thức”, được chắt lọc hơn về ý tưởng và làm phong phú hơn về giá trị tinh thần giúp người xem nhận thức rõ hơn, đúng hơn, trúng hơn, gần gũi và sinh động hơn về những sự kiện và vấn đề của cuộc sống [12, tr118]
Như vậy, các khái niệm trên đều xác định phương tiện ngôn ngữ của truyền hình là hình ảnh và âm thanh Đây cũng chính là đặc trưng của truyền hình, yếu tố phân biệt truyền hình với các loại hình thông tin báo chí khác Sự kết hợp hài hòa giữa hai yếu tố này đã tạo cho truyền hình khả năng chuyển tải các nội dung phong phú của đời sống xã hội, khả năng đặc biệt trong việc
đa dạng hóa chức năng, đáp ứng nhu càu thông tin cho đông đảo công chúng
Kế thừa những khái niệm trên, tác giả xin được mạnh dạn đưa ra quan
niệm: truyền hình là một phương tiện truyền thông đại chúng, chuyển tải
thông tin đến công chúng thông qua âm thanh và hình ảnh, có tác động mạnh
mẽ đến giác quan cảm xúc của người xem
Ngày nay, truyền hình là phương tiện thiết yếu trong mỗi gia đình ở mỗi quốc gia, mang lại lợi ích cho từng cá nhân, tác động đến mọi mặt của đời sống chính trị, văn hóa, kinh tế, xã hội
1.1.2 Chương trình truyền hình
Khán giả xem truyền hình nhưng không xem những thông tin lộn xộn Mọi thông tin, tác phẩm trên truyền hình để đến được với công chúng đều phải được tổ chức, sắp xếp theo một trật tự nhất định nhằm tạo điều kiện cho người xem dễ dàng theo dõi và tiếp nhận thông tin, đồng thời tạo cho truyền hình một cấu trú thông tin ổn định, hoàn chỉnh Việc tổ chức, sắp xếp ấy sau cùng tạo nên chương trình truyền hình
Theo “Giáo trình báo chí truyền hình” của tác giả Dương Xuân Sơn thì:
Chương trình truyền hình là sự liên kết, sắp xếp, bố trí hợp lý các tin bài, bảng biểu, tư liệu, hình ảnh và âm thanh, được mở đầu bằng lời giới thiệu nhạc hiệu,
Trang 21kết thúc bằng lời chào tạm biệt, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền của cơ quan báo chí truyền hình, nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho khán giả [34, tr 113]
Chương trình truyền hình là sản phẩm lao động của một tập thể các nhà báo và các cán bộ kỹ thuật dịch vụ Đồng thời đó cũng là quá trình giao tiếp truyền thông giữa những người làm truyền hình với công chúng xã hội
Chương trình truyền hình có thể là sản phẩm phát một lần là xong, hoặc là một phần của một sê-ri đang thực hiện, phát từng số nối tiếp nhau Đó cũng có thể là một vở kịch, một bộ phim (được phát trên truyền hình), hoặc chương trình thời sự
Tóm lại, có thể hiểu “chương trình truyền hình” là một sản phẩm báo
chí có nội dung và hình thức ổn định, mang đặc trưng của truyền hình (chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh) Hầu hết các chương trình truyền hình đều có tính ổn định về nội dung, hình thức, được phát sóng theo định kỳ”
Ngoài ra, chương trình truyền hình còn có những đặc điểm sau:
- Mỗi chương trình truyền hình đều có nội dung và mục đích riêng: Tùy từng đối tượng mà có nội dung khác nhau, song mục đích cuối cùng của các chương trình trò truyền hình đều hướng đến phục vụ nhu cầu của công chúng như thư giãn, giải trí, giáo dục lành mạnh
- Kết cấu của mỗi chương trình trò chơi truyền hình ổn định: một chương trình truyền hình thường có một hoặc nhiều phần, có thể có những chủ đề riêng tuy nhiên kết cấu tương đối ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho người theo dõi
- Thời lượng của mỗi chương trình thường ổn định, ngắn gọn: thời lượng của chương trình phụ thuộc vào vai trò, vị trí, chức năng và quy mô của chương trình đó Đồng thời còn phụ thuộc vào nội dung chương trình, tâm lý tiếp nhận của người xem và từng lứa tuổi Khung thời lượng thường thấy của các chương trình thường là 15, 30 hoặc 45 đến 60 phút
Trang 22- Thời điểm phát sóng của các chương trình cụ thể, rõ ràng, ổn định Mỗi chương trình thường có thời điểm phát sóng cố định dựa trên mục đích
và lượng khán giả xem chương trình
1.1.3 Chương trình truyền hình giải trí
Theo định nghĩa của từ điển tiếng Việt thì “ giải trí là làm cho trí óc thảnh thơi bằng các hoạt động nghỉ ngơi, vui chơi, thư giãn.”[52,tr 215]
Như vậy, chương trình truyền hình giải trí là cách phân loại về thể loại các chương trình truyền hình, nó làm rõ hơn các chức năng của chương trình
“Chương trình truyền hình giải trí có thể hiểu là sản phẩm báo chí có nội
dung và hình thức ổn định, mang đặc trưng của truyền hình có nội dung và tính giải trí cao hướng đến mục tiêu giải tỏa và thư giãn trí óc cho khán giả.”
Đây có thể nói là mục tiêu và cũng là định hướng phân loại chức năng dành cho mỗi chương trình truyền hình nói chung và cả kênh truyền hình nói riêng Đó cũng là lí do khiến cho Đài THVN đã có quyết định tách riêng Ban Thể thao - Giải trí và Thông tin kinh tế thành 2 đơn vị là Ban Sản xuất các chương trình Giải trí và Ban Sản xuất các chương trình Thể thao Theo đó, chương trình truyền hình giải trí là các chương trình truyền hình được sản xuất với mục đích cơ bản là mang lại những thông tin có tính giải trí, thú vị, hấp dẫn, mang lại tiếng cười và sự thư giãn cho mọi người Nó bao gồm những chương trình tạp kĩ, điện ảnh, trò chơi truyền hình (trò chơi vận động,
trò chơi kiến thức, trò chơi mang tính trình diễn, trò chơi may rủi…)
1.1.4 Bản quyền
Bản quyền là sự thể hiện quyền sở hữu đối với sản phẩm và thể hiện giá trị của sản phẩm, chính vì thế trên thế giới khái niệm bản quyền xuất hiện
từ rất sớm
Trong các văn bản quốc tế, bản quyền được viết là copyright và được
kí hiệu bằng chữ cái C nằm trong vòng tròn dùng để chỉ quyền sở hữu, sao
chép tác phẩm (tiếng anh: copy tức là sao chép, right là quyền)
Trang 23Theo từ điển tiếng Việt do Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam
và Viện ngôn ngữ học biên soạn thì bản quyền có nghĩa là “quyền tác giả hay
nhà xuất bản về một tác phẩm, được luật pháp quy định” [52, tr45]
Khởi nguồn của bản quyền được cho là bắt nguồn từ phán quyết của tòa án Anh quốc về đặc quyền in ấn Trong cuốn sách về lịch sử truyền hình
The history of Coppy right: A Critical Overview của tác giả Kard Erick Tallo
thì năm 1709 Quốc hội Anh ban hành điều lệ Anne, đạo luật có tên đầy đủ là
“Statue of Anne” có hiệu lực từ tháng 10/1710, đây là luật bản quyền đầu tiên
trên thế giới đưa ra 2 quyền cơ bản: Tác giả có độc quyền những tác phẩm
của mình và độc quyền đó được bảo vệ trong 1 khoảng thời gian nhất định.”
Sau Anh, các quốc gia khác trên thế giới lần lượt ban hành các đạo luật về quyền tác giả: Đan Mạch năm 1741; Pháp năm 1791; Mỹ năm 1795; Đức năm 1845…Ngày nay, trên khắp thế giới, các quyền sáng tạo đều đã được bảo hộ
và thừa nhận
Nhiều ý kiến của các chuyên gia cũng đề cập: “Bản quyền là quyền tác
giả, quyền liên quan, được quy định theo luật pháp, nó thuộc về một cá nhân,
tổ chức Người sáng tạo ra tác phẩm, tổ chức là người sở hữu các sản phẩm
đó Thường tổ chức sở hữu là đơn vị cấp kinh phí để tạo ra tác phẩm đó”
Bản quyền là sự độc quyền kiểm soát tái bản và khai thác thương mại trong lĩnh vực sang tạo có hiệu lực tại thời điểm sản phẩm được tạo ra Bản quyền là hình thức bảo vệ được cung cấp cho tác phẩm gốc có tác giả, bao gồm các tác phẩm văn học, kịch, nhạc, đồ họa và sản phẩm nghe nhìn “Bản quyền” nghĩa đen là quyền được sao chép nhưng nghĩa rộng là phần chính của các quyền độc quyền theo luật pháp được cung cấp cho chủ bản quyền để bảo
vệ tác phẩm của mình Bản quyền là hình thức bảo vệ hợp pháp, cung cấp cho những người sáng tạo và nhà sản xuất các quyền để kiểm soát việc sử dụng Bản quyền bao gồm quyền lợi về kinh tế và tinh thần
Trang 241.1.5 Bản quyền chương trình truyền hình
Cũng giống như bản quyền của tất cả các thể loại sáng tạo khác, “Bản
quyền truyền hình là hình thức bảo vệ hợp pháp của mỗi 1 sáng tạo liên quan đến sản phẩm truyền hình,sản phẩm báo chí có nội dung và hình thức ổn định, bao gồm tất cả các sáng tạo có liên quan như: âm nhạc, hình ảnh, kĩ xảo, luật chơi, cách thức chơi, đạo cụ, sân khấu, thiết kế ” Bản chất của bản quyền
truyền hình là bảo vệ lợi ích kinh tế cho chủ sở hữu bản quyền chương trình, bản quyền phát sóng và tiếp sóng chương trình hay bản quyền phim truyện…
Có thể khái quát về các nhóm bản quyền truyền hình gồm:
- Bản quyền chương trình truyền hình (bao gồm sản phẩm/thành phẩm đơn lẻ hoặc công thức - format sản xuất nội dung chương trình.)
- Bản quyền tiếp, phát, kinh doanh tín hiệu, nội dung kênh truyền hình
1.1.6 Chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài
“Chương trình truyền hình mua bản quyền nước ngoài là sản phẩm báo chí có nội dung và hình thức ổn định, mang đặc trưng của truyền hình có tính chất giải trí và được thực hiện sản xuất dựa vào việc trao đổi bản quyền đối với đơn vị sản xuất gốc về các mặt từ nội dung đến hình thức thể hiện.”
Các chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài được thực hiện với mục đích làm phong phú, đa dạng nội dung các chương trình, đáp ứng thị hiếu ngày càng cao của khản giả, các đài truyền hình thường mua format sản xuất các chương trình trò chơi, giải trí hấp dẫn của các đài truyền hình nước ngoài Ví dụ, rất nhiều các chương trình truyền hình giải trí của Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay đã được mua format từ nước ngoài để sản
xuất như: Ai là triệu phú, Chúng tôi là chiến sĩ, Giọng hát Việt, Bố ơi mình đi
đâu thế? Vietnam Idol…Chi phí để mua bản quyền hàng năm tiêu tốn hàng
tăm tỉ đồng, nếu như năm 2009 là 206, 57 tỷ đồng thì đến năm 2010 đã tăng lên 481, 71 tỷ đồng, và tính đến năm 2014 thì con số này đã tăng lên hơn 800
tỷ đồng Con số này còn tăng lên cao hơn nữa trong những năm gần đây bởi
Trang 25theo dõi trên tivi thì tỷ lệ các chương trình truyền hình mua bản quyền nước ngoài đã và đang chiếm 1 số lượng không nhỏ trên sóng truyền hình
Các chương trình truyền hình giải trí mua bản quyền nước ngoài trước hết phải là một sản phẩm trí tuệ được sở hữu bản quyền, đó không phải là
chương trình được ê kíp sản xuất trực tiếp sáng tạo ra mà nó được mua lại từ những đơn vị sản xuất gốc Khi thực hiện các chương trình giải trí mua bản quyền nước ngoài thì đơn vị sản xuất phải nắm được quyền sở hữu và phạm vi chế tài hoạt động cũng như sản xuất của bản thân chương trình tại đơn vị mình Điều này sẽ được làm rõ trong hợp đồng thương thảo và bản cam kết ngay từ khi mua bản quyền Những chương trình truyền hình được mua bản quyền format từ nước ngoài đa số đều là những chương trình có kết cấu hấp dẫn, nội dung có sức hút và được khản giả vô cùng đón nhận và có sức ảnh hưởng
1.1.7 Tổ chức sản xuất
Đề cập đến khái niệm sản xuất, giáo trình giảng dạy môn Tổ chức lao
động - Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông cho rằng: “Quá trình sản
xuất là quá trình con người dùng sức lao động của mình thông qua công cụ lao động tác động vào đối tượng lao động nhằm mục đích tạo ra những sản phẩm có ích cho nhu cầu xã hội” Vậy có thể hiểu tổ chức sản xuất là những
hoạt động của con người dùng tư liệu sản xuất tác động vào đối tượng lao động cần thiết để tạo ra vật phẩm, đáp ứng nhu cầu thiết thực cho xã hội Hoạt động này dựa trên cơ sở các quy tắc nghề nghiệp và theo quy trình nhất định
Theo khái niệm trên thì nói đến sản xuất cũng có nghĩa là nói đến lao động Trong lao động sản xuất nói chung, vấn đề cần thiết là phải quan tâm đến
việc tổ chức lao động khoa học “Tổ chức lao động khoa học trong điều kiện
hiện đại là tổ chức sao cho nó dựa trên các thành tựu khoa học và kinh nghiệm tiên tiến, được áp dụng một cách có hệ thống vào sản xuất Cho phép liên kết kĩ thuật và con người một cách tốt nhất vào quá trình sản xuất thống nhất, đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn vật liệu lao động, bảo vệ sức khoẻ con người”
Trang 26Có một số ý kiến cho rằng: “Tổ chức sản xuất (TCSX) là sự bố trí các
công đoạn, các khâu trong cả dây chuyền nhằm thực hiện chu trình kinh doanh từ “đầu vào” đến “đầu ra”
ThS Vũ Thanh Hường trong luận văn “Tổ chức sản xuất các chương
trình trò chơi truyền hình trên kênh VTV3 - Đài THVN” đã đưa ra định nghĩa:
“Tổ chức sản xuất chương trình là công việc bao quát và tổng hợp, bao gồm mọi công tác chuẩn bị về vật chất, máy móc, con người đồng thời bao gồm cả việc lên kế hoạch sản xuất dài lâu về thời lượng, thời gian cũng như lịch trình phát sóng cho một chương trình nhất định Đây là vị trí trung gian trong bộ máy thực hiện sản xuất chương trình, có trách nhiệm lập kế hoạch sao cho một quy trình sản xuất vận hành tốt Tổ chức sản xuất cũng chính là cầu nối giải quyết mọi vấn đề nảy sinh trong suốt quá trình sản xuất, đảm bảo cho việc sản xuất đạt kết quả cuối cùng.”
Theo Từ điển Tiếng Việt: “Tổ chức là việc sắp xếp, bố trí thành các
bộ phận để cùng thực hiện một nhiệm vụ hoặc cùng một chức năng chung Còn sản xuất là quá trình làm ra sản phẩm để sử dụng hay để trao đổi trong thương mại Nếu coi sản xuất là một trạng thái thì tổ chức sản xuất là các phương pháp, các thủ thuật nhằm hình thành các bộ phận sản xuất có mối liên hệ chặt chẽ với nhau và phân bố chúng một cách hợp lí.”
Như vậy, tổ chức sản xuất chương trình truyền hình là sự phân chia có liên kết một cách hợp lý đội ngũ nhân sự cùng các trang thiết bị truyền hình đi kèm thành các nội dung thông tin, trên cơ sở các quy tắc nghề nghiệp để tạo
ra sản phẩm là chương trình phát sóng Tùy vào từng thể loại chương trình mà
có các cách tổ chức sản xuất khác nhau
Muốn tổ chức sản xuất tạo ra sản phẩm, đầu tiên phải phân chia quá trình sản xuất tạo nên sản phẩm thành các quá trình riêng Căn cứ vào phương pháp, kĩ năng khác nhau, dựa trên lao động máy móc sẽ hình thành nên loại hình sản xuất, cơ cấu sản xuất, lập kế hoạch sản xuất và tổ chức công tác điều
độ sản xuất
Trang 27Mô hình tổ chức sản xuất chuẩn bị cho một chương trình tại Việt Nam bao gồm ít nhất 14 chức danh chính (có thể kể ra một số chức danh như đạo diễn chương trình, chịu trách nhiệm sản xuất, biên tập viên, quay phim, họa sĩ thiết kế, kỹ thuật âm thanh - ánh sáng, kỹ thuật xe màu, đạo cụ, trợ lý trường quay …) mỗi chức danh đại diện cho một phần việc Tuy nhiên đây là một mô hình TCSX thường thấy tại Việt Nam còn với các chương trình giải trí của nước ngoài số lượng chức danh có thể lên tới từ 25 - 30 chức danh cho một chương trình, tùy thuộc vào độ phức tạp cũng như số lượng người chơi tham gia vào chương trình ấy Hiện nay, các chương trình giải trí sản xuất tại kênh VTV3 - Đài THVN nói chung và các kênh khác nói riêng đều được chia thành nhóm sản xuất ngay khi format chương trình được thông qua Các thành viên trong nhóm thường dao động từ 7 - 12 người và được người chịu trách nhiệm cao nhất phân công công việc cụ thể Thông thường đạo diễn chương trình luôn là người chịu trách nhiệm cao nhất và chính đạo diễn chương trình sẽ dựa trên yêu cầu thực tế để phân công nhân sự thực hiện các nhiệm vụ khác nhau Đối với các chương trình thời lượng ngắn, format và nội dung đơn giản thì chỉ từ 1 - 2 người phụ trách TCSX, còn đối với những chương trình phức tạp hơn thì có từ 2 - 5 đảm nhận vai trò này trong một ekip Người TCSX thông thường không nhận thêm các công việc khác trong chương trình song cũng có nhiều trường hợp người đảm trách vai trò TCSX cũng kiêm nhiệm vị trí biên tập viên hoặc chủ nhiệm chương trình
Trọng trách và vai trò của người làm TCSX là rất lớn, họ có nhiệm vụ phải nhìn xa trông rộng, dựa trên kế hoạch phát sóng sẵn có để lên một kế hoạch sản xuất dài hơi, đủ để phát sóng liên tiếp nhưng cũng phải có những quãng nghỉ hợp lý cho ekip giữa các đợt sản xuất Người TCSX cũng phải là người nắm vững nhất các đầu mối về máy móc, kỹ thuật, địa điểm, sân khấu, hậu cần cũng như các vấn đề phát sinh khác nằm ngoài nội dung trong quá trình sản xuất chương trình giải trí Có thể nói rằng đạo diễn chương trình, biên tập kịch bản là linh hồn của chương trình song TCSX mới chính là thể
Trang 28xác của chương trình đó, nhờ có TCSX mà đạo diễn cũng như ekip biên tập chương trình mới có điều kiện để triển khai các công việc của mình
Tóm lại, chúng ta hình dung rằng vai trò của TCSX và công tác chuẩn
bị sản xuất giống như người mở đường cho những công tác về sau có điều kiện thuận lợi phát triển hơn TCSX tốt nhất phải đảm bảo được tiến độ ghi hình hợp lý với mỗi chương trình, đây là thể loại chương trình mà tính thời sự không cao, chủ yếu mang tính giải trí nên có thể chuẩn bị tốt để thực hiện ghi hình liên tục nhằm giảm chi phí về địa điểm, sân khấu, âm thanh ánh sáng, máy móc xe mầu cũng như toàn bộ quá trình vận chuyển, đi lại của người chơi Công tác sản xuất ghi hình tùy thuộc vào quy mô fomat chương trình, số lượng người chơi và yêu cầu cụ thể về đạo cụ, sân khấu mà chiếm khoảng thời gian cụ thể Thông thường với các fomat chương trình đơn giản, ít người chơi, công tác này mất từ 10 - 15 ngày cho một đợt ghi hình và 15 - 30 ngày cho một fomat phức tạp và nhiều người chơi hơn
1.2 Đặc điểm của các chương trình giải trí mua bản quyền nước ngoài
1.2.1 Có định dạng và luật chơi cụ thể
Cũng giống như bất kì chương trình truyền hình dài kì nào, mỗi một chương trình giải trí mua bản quyền nước ngoài cũng đều phải có 1 định dạng nhất định quyết định tính chất và thể thống nhất xuyên suốt của toàn bộ chương trình Đây cũng là điều tiên quyết định hướng phong cách của mỗi chương trình làm nên thương hiệu riêng cho nó Các chương trình truyền hình giải trí là các chương trình vô cùng đa dạng với nhiều loại, xét riêng với thể loại trò chơi truyền hình đã có thể kể đến những cái tên sau: trò chơi vận động, trò chơi trí tuệ, trò chơi suy luận, trò chơi may rủi, trò chơi mang tính trình diễn…Mỗi loại đó lại có rất nhiều các chương trình để lựa chọn, thậm chí có những chương trình còn là sự kết hợp của nhiều loại hình trò chơi…chính vì vậy cần phải cho nó những dấu ấn riêng để định hình phong cách và lôi kéo sự chú ý của khán giả
Trang 29Ngoài ra, để tồn tại một chương trình mà thì cần phải có luật chơi, luật chơi có thể là thể lệ, quy tắc đưa ra cho mỗi trò chơi nhằm đảm bảo trò chơi
đó tồn tại đúng mục đích đặt ra Luật chơi rang buộc người chơi phải tuân thủ,
nó đảm bảo lại sự công bằng bình đẳng khi xuất phát, khi chơi Luật chơi của các chương trình trò chơi truyền hình là việc đưa ra hình thức thưởng phạt trong mỗi trò chơi, thế nào là thắng cuộc, thế nào là phạm luật, phần thưởng cho người chiến thắng là gì?
1.2.2 Có người chơi
Ngoài ê kip thực hiện chương trình, thì các chương trình truyền hình giải trí dạng trò chơi truyền hình đều cần phải có người chơi Quy mô, tính chất, dạng trò chơi sẽ quyết định số lượng, cách phân chia các thành viên tham gia trò chơi Người chơi là 1 phần quan trọng để quyết định sự hấp dẫn của chương trình Mỗi một chương trình với mỗi đặc thù sẽ yêu cầu những dạng người chơi khác nhau, thậm chí trong mỗi chương trình sẽ cũng phải tính đến sự cân đối giữa giới tính,
độ tuổi, nghề nghiệp và trình độ… của người chơi
1.2.3 Có sự tham gia của khán giả
Khán giả là đối tượng hướng đến của mỗi chương trình, khán giả ở đây có thể là khán giả trực tiếp có mặt tại trường quay hoặc khán giả xem truyền hình tương tác với chương trình qua các hình thức bình chọn, gửi câu
hỏi hoặc trợ giúp người chơi Ví dụ, với chương trình Ai là triệu phú ta sẽ
thấy rõ vai trò của khán giả trong những cú máy chào đầu, trong luật trợ giúp
cho người chơi bằng hỏi ý kiến khán giả Trong Giọng hát Việt và nhiều
chương trình mang tính thi đấu khác, khán giả có thể có vai trò quyết định một tỉ lệ nhất định chiến thắng và thứ bậc của các thí sinh trong cuộc thi
1.2.4 Có tính kịch tính
Chương trình truyền hình giải trí dạng trò chơi truyền hình luôn đòi hỏi phải có tính kịch tính - sự mâu thuẫn, gay cấn, có như vậy trò chơi mới trở nên thú vị, hấp dẫn Kịch tính thể hiện ở sự ganh đua của người chơi, sự bất
Trang 30ngờ khi không thể đoán định được kết quả cuối cùng của mỗi trò chơi, việc khán giả được tham gia trải nghiệm cảm giác như một người chơi thực thụ hay những đoạn clip, tiểu phẩm làm cho trò chơi thêm hấp dẫn, sinh động Gần như những diễn biến xảy ra trong các trò chơi không hề dàn dựng mà được tôn trọng tính chân thật một cách tuyệt đối Chương trình càng tạo được
sự kịch tính nghĩa là càng tạo được sự đua tranh cũng như sự bất ngờ trong quá trình chơi Tính kịch tính của một chương trình trò chơi truyền hình càng cao thì chương trình đó sẽ càng hấp dẫn
1.3 Vai trò của các chương trình giải trí mua bản quyền nước ngoài
1.3.1 Tăng thêm tính giải trí cho các chương trình truyền hình hiện có
Năm 1996, khi kênh VTV3 vừa được ra mắt khán giả với sự chào đón
nhiệt tình dành cho những chương trình giải trí lúc bấy giờ như SV 96, thì bên
cạnh đó khán giả đã thấy sự xuất hiện của các chương trình có dấu ấn nước ngoài
như “Trò chơi liên tỉnh” Sự xuất hiện của những chương trình giải trí mang tính
chất mới, lạ, độ đáo được mua bản quyền nước ngoài cho thấy nhu cầu giải trí và tiếp cận văn hóa trong và ngoài nước của công chúng là khá rõ ràng
Đặc biệt, các chương trình truyền hình thực tế của các nước như Anh, Pháp, Mỹ và Hàn Quốc… hiện nay mang dấu ấn giải trí rất đậm nét Các thể loại chương trình như truyền hình thực tế, trò chơi truyền hình, chương trình
ca nhạc… đều hướng đến mục tiêu mang lại cho khán giả những phút giây thư giãn, thưởng thức nghệ thuật và có được tiếng cười sảng khoái Tiếp thu
và thừa kế những format thành công ở nước ngoài, các nhà sản xuất Việt Nam cũng mong muốn đem đến cho các chương trình truyền hình hiện có nhiều yếu tố giải trí, phụ vụ nhu cầu thư giãn của khán giả hơn nữa
1.3.2 Đáp ứng nhu cấp tiếp biến văn hóa của khán giả mà đặc biệt
là khán giả trẻ
Bắt nhịp với xu hướng truyền hình trên toàn thế giới, với sự nở rộ của các chương trình truyền hình thực tế, các cuộc thi xuyên quốc gia, các phong
Trang 31cách làm truyền hình mới, và đặc biệt là nhu cầu muốn được thay đổi, được làm mới và được tiếp cận những luồng văn hóa mới của các bạn trẻ như: nhạc điện tử, thời trang, nhu cầu biết nhiều hơn về cuộc sống của các ngôi sao, nhu cầu được thể hiện tài năng của mình trong các lĩnh vực: thời trang, ca nhạc,
ẩm thực, sáng tác …các nhà sản xuất cần phải có những chương trình giải trí thỏa mãn nhu cầu này của các khản giả mà đặc biệt là các khản giả trẻ
Thế hệ trẻ hiện nay có quá nhiều cách để tiếp xúc với các nền văn hóa mới, các phong cách mới nên nhu cầu xem tivi của các bạn trẻ cũng hạn chế
đi rất nhiều, như vậy các nhà đài sẽ mất một lượng khán giả rất đông đảo Vậy phải làm gì để kéo lại nhóm công chúng tiềm năng ấy? Chỉ có cách là tạo ra các sân chơi, các chương trình giải trí thực sự có sức tác động đến họ, có ảnh hưởng đến họ và để họ có điều kiện tham gia vào Đó chính là lí do cho sự ra
đời của hàng loạt các chương trình truyền hình như: Gương mặt thương hiệu
(The face); Bài hát yêu thích (Sing my song); Giọng hát Việt (The voice); Tìm kiếm tài năng Việt Nam (Vietnam’s idol); Thần tượng âm nhạc Việt Nam (Vietnam’s idol)… đây là những sân chơi thực sự cho các bạn trẻ có khả năng
và đam mê tự thể hiện mình, đây cũng là những chương trình truyền hình được yêu thích bởi rất đông các bạn trẻ trên toàn thế giới Vậy lí do gì mà lại không để cho các khản giả trẻ Việt Nam được trực tiếp tham gia vào chúng thay vì ngồi search Youtube để tìm xem trên các trang quốc tế?
Tuy nhiên, giới trẻ hiện nay đang đi theo xu hướng độc và lạ, đôi khi
có phần “ngông” bởi nhu cầu khẳng định cái “tôi” quá lớn, điều này khó tránh khỏi sự vấp váp văn hóa giữa những người trung tuổi hay những người lớn tuổi với thế hệ trẻ nên việc để họ thể hiện hết mọi góc cạnh của mình trên sóng truyền hình nhiều khi lại gây phản cảm đối với nhiều đối tượng khán giả đứng tuổi khác Truyền hình Việt Nam có nhiệm vụ giải trí nhưng nó cũng mang tính giáo dục nên việc khai thác những yếu tố mang cá tính phương Tây hiện đại nhiều khi cũng cần phải được suy nghĩ sử dụng như thế nào cho hợp
lý, phù hợp với văn hóa Việt Nam
Trang 321.3.3 Khán giả có thêm nhiều lựa chọn xem các chương trình truyền hình giải trí
Cả nước ta có 1 Đài truyền hình Trung ương, phát sóng 9 kênh sóng hàng ngày; 63 đài địa phương, mỗi đài có ít nhất 1 kênh sóng, bên cạnh đó là các kênh truyền hình cáp…như vậy là tổng cộng có khoảng trên dưới 100 kênh truyền hình đang được phát sóng Trong đó, hơn nửa thời lượng phát sóng là liên quan đến các nội dung giải trí Như vậy, khán giả sẽ có rất nhiều kênh để lựa chọn Với thời lượng phát sóng của các kênh đều cố gắng đạt 24/24h/ngày thì nội dung chương trình phát sóng là 1 vấn đề vô cùng nan giải Bên cạnh những chương trình thuần việt, người ta nghĩ đến việc mua bản quyền các chương trình truyền hình giải trí nước ngoài để khán giả có thêm nhiều lựa chọn để theo dõi
1.3.4 Thu hút thêm nhiều khán giả cho nhà đài
Giữa sức ép cạnh tranh khốc liệt trong ngành truyền hình hiện nay, nội dung chương trình trở thành vấn đề sống còn quyết định sự theo dõi của khán giả đối với mỗi chương trình và mỗi kênh sóng Chỉ có những chương trình với nội dung hấp dẫn, format sáng tạo nắm bắt được nhịp sống hiện đại mới
có khả năng thu hút và lôi kéo công chúng Và như vậy, lựa chọn an toàn nhất
và cũng được nhiều Đài truyền hình thực hiện nhất đó chính là mua bản quyền những chương trình vốn đã ăn khách để sản xuất và phát sóng
Việc mua bản quyền phát sóng những chương trình vốn đã nổi tiếng trên toàn thế giới sẽ đem lại cho nhà Đài những nhóm khán giả sau:
- Một là nhóm khán giả vốn đã có hiểu biết nhất định và có phần yêu thích những format nổi tiếng nước ngoài như chương trình âm nhạc đình đám
The voice Mỹ hay các cuộc thi tuyển người mẫu: Asian’s next top model
- Hai là nhóm khán giả yêu thích cái mới lạ, muốn tìm đến những chương trình đơn thuần giải trí, nhiều tiếng cười và mang yếu tố truyền hình thực tế
Trang 33- Ba là những khán giả trẻ có nhu cầu thử sức và được tương tác thực
tế trên sóng truyền hình
1.3.5 Tăng doanh thu quảng cáo cho nhà đài
Năm 2002 trò chơi Ai là triệu phú - “Who want to be millionare” xuất
hiện với sự dẫn dắt của nhà báo Lại Văn Sâm đã tạo nên kỷ lục về thời lượng quảng cáo Một chương trình mới, hấp dẫn khán giả chính là yếu tố quan trọng đem lại doanh thu quảng cáo cho nhà sản xuất Thống kê các chương trình hiện nay đang phát sóng trên kênh VTV3 - Đài Truyền hình Việt Nam cho thấy, với các chương trình mua bản quyền nước ngoài hầu hết với mỗi 1 chương trình phát sóng có độ dài 45 - 50 phút đều có từ 4 đến 5 block quảng cáo, mối block quảng cáo rơi vào tầm 3 - 15 phút Đặc biệt, với những
chương trình đang có sức hấp dẫn như Giọng hát việt; Gương mặt thương
hiệu…thì vào những đêm diễn trực tiếp, thời lượng quảng cáo còn lớn hơn rất
nhiều, chi phí quảng cáo từ những chương trình giải trí mua bản quyền nước ngoài đó đang trở thành 1 trong những nguồn thu chủ lực của nhà Đài, trở thành 1 vị trí sống còn không thể thay thế trong thời buổi cạnh tranh khốc liệt hiện nay Đó cũng là lý do khiến cho sự xuất hiện của các chương trìn giải trí mua bản quyền nước ngoài hiện nay ngày càng trở nên dày đặc trên các kênh sóng Tuy nhiên cũng phải nói thêm là sự xuất hiện và bị chi phối quá nhiều của các chương trình này cũng mang đến những hệ lụy tương đối cho khán giả
1.4 Yêu cầu và điều kiện tổ chức sản xuất đối với các chương trình giải trí mua bản quyền nước ngoài
1.4.1 Yêu cầu đối với các chương trình mua bản quyền nước ngoài
- Là những chương trình mới lạ, độc đáo, thu hút nhiều khán giả
Theo thông tin từ c21media.net công bố thì Việt Nam là quốc gia nhập
khẩu format (định dạng) chương trình truyền hình giải trí nước ngoài nhiều nhất khu vực châu Á, tính đến năm 2015 Theo dõi các chương trình giải trí được phát sóng trên các kênh sóng của Đài truyền hình Việt Nam mà đặc biệt
Trang 34là khung giờ vàng trên kênh VTV3 - Đài Truyền hình Việt Nam thì chúng ta có thể nhận thấy rõ nhất điều đó Tính từ tháng 1/2017 đến tháng 12/2017, trong khung giờ từ 20h00 - 22h00 lần lượt là thời gian phát sóng của các chương
trình: Ai là triệu phú; Chúng tôi là chiến sĩ; Thần tượng âm nhạc Việt Nam
(Vietnam’s idol); Giọng hát việt (The voice); Giọng hát việt nhí (The voice kid); Không giới hạn Sasuke Việt Nam; Ơn giời cậu đây rồi; Gương mặt thương hiệu (The face); … Hầu hết các chương trình được phát sóng trong
khung sóng được coi là “giờ vàng” (giờ có lượng người theo dõi cao nhất trong ngày) đều là những chương trình được mua bản quyền từ nước ngoài
- Phù hợp và thích ứng với văn hóa Việt Nam
Có thể nói, chưa bao giờ các chương trình giải trí ở nước ta lại “nở rộ” như thời gian gần đây Yếu tố độc đáo, khả năng kết nối, sự tương tác với công chúng và hàng loạt những format mới lạ đã dành được sự thu hút đối với một bộ phận rất đông đảo công chúng Tuy nhiên, đó đa phần đều là những chương trình được mua bản quyền từ nước ngoài Những cái tên như
Vietnam’s Got Talent, Vietnam Idol, Bước nhảy hoàn vũ, Cặp đôi hoàn hảo, The Voice, Thử thách cùng bước nhảy, Master Chef liên tục chiếm sóng
khung giờ vàng trên các kênh truyền hình…Đa số các chương trình này đều
có nguồn gốc từ các quốc gia phát triển như Mỹ và các nước châu Âu Vì được sinh ra ở các nước có trình độ phát triển nhanh hơn chúng ta rất nhiều và cũng là các quốc gia có tư tưởng phóng khoáng hơn nên dấu ấn văn hóa trong các chương trình cũng có sự khác biệt tương đối so với Việt Nam Chính vì vậy, ngoài yếu tố hay và hấp dẫn, các chương trình giải trí được mua bản quyền sản xuất tại Việt Nam cũng cần để ý đến các vấn đề về văn hóa và thuần phong mỹ tục có phù hợp với các khán giả Việt Nam hay không Hiện tại, vì nhiều bất cập về nội dung và hình thức do khâu Việt hóa chưa tốt nên các chương trình giải trí mua bản quyền nước ngoài đã và đang được phát sóng vẫn còn gặp nhiều lỗi, đặc biệt có những chương trình còn không phù
Trang 35hợp với thuần phong mỹ tục của nước ta nên đã dây ra không ít phản cảm và nhận được những ý kiến trái chiều
- Phù hợp với điều kiện sản xuất tại Việt Nam
Các chương trình được mua bản quyền hầu hết là các chương trình ăn khách được sản xuất bởi tại các quốc gia phát triển nên yêu cầu về điều kiện
sản xuất cũng cao hơn rất nhiều Ví dụ như, với chương trình “Bố ơi, mình đi
đâu thế?” phiên bản gốc của Hàn Quốc, mỗi 1 số phát sóng bên phía nhà sản
xuất phải huy động trân dưới 80 máy quay các loại cùng ekip sản xuất gần
100 người Đây là 1 con số rất lớn về trang thiết bị cũng như nhân lực, vật lực
để thực hiện chương trình Còn với “Không giới hạn Sasuke Việt Nam” -
chương trình được mua bản quyền từ Sasuke Nhật Bản và có phiên bản thành công nhất là Ninjia Warrior của Mỹ thì khó khăn đối với vấn đề sản xuất ở Việt Nam lại là chi phí cho dàn không gian Một giàn không gian được đặt trên khu đất trống rộng hơn 20.000m2, được thiết kế và thi công theo tiêu chuẩn Nhật Bản yêu cầu một khoản kinh phí vô cùng lớn Năm đầu tiên 2015, tính riêng chi phí để thực hiện các set game (chuỗi thử thách) theo yêu cầu nguyên bản của Nhật đã mất đến 16 tỷ VNĐ Đây là 1 con số vô cùng lớn, cũng có thể coi là chương trình được đầu tư sản xuất với kinh phí lớn nhất tại Việt Nam tính tới thời điểm này Tuy nhiên, chi phí này là hoàn toàn bắt buộc
và là điều kiện cần có bởi lẽ, Với chuỗi liên hoàn 4 thử thách, mỗi thử thách lại có từ 5 đến 6 thách thức nhỏ phải đảm bảo độ khó, nguyên mẫu theo bản
vẽ gốc của Nhật và đặc biệt là đảm bảo sự an toàn cho những người chơi, các vận động viên thì chi phí sản xuất bỏ ra lớn là không thể tránh khỏi
Tuy nhiên, với những yêu cầu khắt khe đặt ra ngay từ khi bắt tay vào sản xuất chương trình, thì nhà sản xuất đã phải tính toán khả năng thực hiện đối với những chương trình mua bản quyền nước ngoài như thế Để đáp ứng được format thì việc tiên quyết là phải giải quyết được những vấn đề liên quan đến
kỹ thuật cũng như nhân sự và bài toán kinh tế của chương trình Nó có phù hợp
Trang 36với điều kiện sản xuất của Việt Nam hiện giờ hay không? Nó có thể thay thế để phù hợp hoặc giảm chi phí mà vẫn an toàn hay không? Đó là những câu hỏi luôn đặt ra đối với nhà sản xuất và chỉ khi nào giải quyết được những câu hỏi
đó thì mới có thể yên tâm về phần tổ chức sản xuất cho chương trình
1.4.2 Điều kiện để tổ chức sản xuất các chương trình mua bản quyền nước ngoài
- Trang thiết bị của nhà sản xuất phải đạt đủ số lượng và chất lượng
theo yêu cầu của phiên bản mẫu
Phương tiện kỹ thuật là một phần quyết định đến việc có sản xuất được hay không một chương trình giải trí đặc biệt là dạng trò chơi truyền hình Khi tiến hành xúc tiến sản xuất một chương trình, người ta phải tính đến việc thực hiện nó như thế nào, làm sao để đảm bảo về chất lượng hình ảnh, chất lượng âm thanh tốt nhất để đảm bảo chất lượng chương trình Đặc biệt với những chương trình mua bản quyền từ các nước tiên tiến thì yêu cầu về phương tiện kỹ thuật lại càng cao Đặc biệt là với các chương trình truyền hình thực tế thì yêu cầu về máy móc thiết bị lại càng cao Để bám sát được chất lượng từ các phiên bản gốc thì yếu tố đầu tiên là phải đảm bảo về trang thiết bị
- Sân khấu và các đạo cụ đi kèm phải đảm bảo đúng thiết kế tiêu
chuẩn của format
Sâu khấu và đạo cụ chương trình là yếu tố quyết định hình ảnh của format Khi quyết định bán bản quyền cho các quốc gia khác, nhà sản xuất phiên bản mẫu luôn hy vọng format của mình có thể phát triển hơn và đặc biệt phải khẳng định được thương hiệu của phiên bản gốc Cũng giống như các vấn đề liên quan đến bản quyền thương hiệu, các nhà sản xuất nguyên mẫu luôn yêu cầu đối tác phải thực hiện được chương trình với bộ nhận diện chính
xác nhất có thể Ví dụ như, khi nhắc đến The voice là chúng ta nghĩ ngay đến những chiếc ghế đỏ với dòng chữ “Tôi chọn bạn” ; khi nhắc đến Ai là triệu
Trang 37phú, người ta sẽ nhận ra những chiếc ghế nóng…Như vậy phần sân khấu và
đạo cụ thực hiện chương trình cũng là 1 trong những yếu tố quan trọng tạo nên format của chương trình và đảm bảo một phần hình thức thể hiện của chương trình Chính vì thế nên, từ những chi tiết nhỏ như chiếc ghế, số lượng đèn sân khấu, ánh sáng sân khâu … cho đến những chi tiết lớn như kích thước sân khấu và quy mô sân khấu…đều phải đảm bảo được thực hiện khả thi trước khi bắt tay vào sản xuất một chương trình mới
- Cập nhật các phương tiện, thiết bị truyền hình mới
Trong điều kiện phát triển của truyền hình hiện nay, ngày càng có nhiều những thiết bị công nghệ tối tân phục vụ việc ghi hình và hậu kì Rất nhiều các loại máy móc xuất hiện tạo ra nhiều hơn nữa các góc máy hỗ trợ cho hình ảnh của chương trình Tùy vào tính chất của chương trình và hình ảnh mà đạo diễn hình ảnh của chương trình sẽ lựa chọn loại máy nào phù hợp cho từng hình ảnh Những máy móc thiết bị mới như: topshot (máy quay đặt trên cao úp ngược xuống sân khấu); Steadycam (máy quay di động có hệ thống chống rung để thực hiện những cú máy liền hoặc những cú trượt); gimbal (thiết bị gần giống steadycam nhưng nhỏ gọn hơn); go pro (máy quay nhỏ có khả năng quay dưới nước và cho hình ảnh góc rông)… đã hỗ trợ rất nhiều trong việc đa dạng hóa hình ảnh của các chương trình, hỗ trợ những góc máy đặc thù cho chương trình
- Đội ngũ sản xuất phải có tay nghề cao, cập nhật công nghệ mới
Trong bất cứ công việc gì thì nhân lực luôn là vấn đề hàng đầu Hiện nay, hàng năm ở nước ta đào tạo hàng trăm phóng viên, nhưng số lượng này vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của nền công nghiệp truyền hình hiện đại Chuyên nghiệp hoá đội ngũ những người làm chương trình là một trong những yêu cầu đầu tiên và quan trọng nhất Sản xuất các chương trình giải trí mua bản quyền nước ngoài là công việc đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng của rất nhiều ê kíp và các công đoạn như tổ chức, bố trí và dàn dựng trường quay,
Trang 38kỹ thuật xử lý và điều khiển máy móc, công tác người chơi, công tác khán giả người ta ít gặp trong các thể loại khác của các truyền hình như phóng sự, tin tức Chính vì vậy, cần chuyên nghiệp hoá những người làm việc trong các chương trình trò chơi truyền hình Để làm được điều này, cần tổ chức thường xuyên những lớp học hoặc những khoá đào tạo về người làm các chương trình trò chơi Qua đó, họ trao đổi, chia sẻ những kỹ năng, kinh nghiệm và hiểu biết cho nhau Mời những chuyên gia về lĩnh vực ở trong nước cũng như nước ngoài để truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm của
họ cũng là một cách hay Nhờ vậy chúng ta được tiếp xúc với kỹ thuật và nền công nghệ của những nước tiên tiến trên thế giới
- Đội ngũ sản xuất phải được đào tạo, học tập từ phiên bản mẫu
Với mỗi 1 chương trình mới được mua bản quyền từ nước ngoài, trước khi chuẩn bị bắt tay vào sản xuất Nhóm sản xuất tối thiểu gồm: Nhà sản xuất, đạo diễn chương trình, tổ chức sản xuất, đạo diễn hình ảnh … phải
có điều kiện được tận mắt chứng kiến và tham gia vào quy trình sản xuất thực
tế của bản gốc để nắm rõ được tinh thần của chương trình, cách thức sản xuất chương trình, các vấn đề thường gặp phải và những hướng điều chỉnh để rút kinh nghiệm cho việc áp dụng thực tế tại Việt Nam
Việc được tận mắt chứng kiến quy mô cũng như cách sản xuất của phiêm bản gốc là cách rõ nhất để hình dung về qui trình sản xuất chương trình trong thực tế Tối ưu nhất là đại diện những nhóm chính trong mô hình sản xuất đều phải có mặt để học hỏi các kinh nghiệm cần thiết bởi lẽ, những chương trình giải trí mà đặc biệt là trò chơi truyền hình là những chương trình thường được sản xuất với quy mô lớn, huy động đông nhân lực và máy móc đồng thời cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các khâu tổ chức, thực hiện Công việc trong các chương trình trò chơi giải trí thường là tập hợp của rất nhiều các việc nhỏ, đòi hỏi tính tỉ mẩn, cẩn thận và đặc biệt chính xác Việc làm nhiều, làm quen sẽ giúp cho người làm rút ra những kinh nghiệm hợp lý
Trang 39để đẩy nhanh tiến độ cũng như đảm bảo chất lượng chương trình theo mong muốn Những chương trình được mua bản quyền từ nước ngoài thường là các chương trình đã được sản xuất nhiều năm, vì vậy những người đã trực tiếp sản xuất format gốc sẽ là những người nắm vững quy tắc thực hiện chương trình nhất và đã có những điều chỉnh hợp lý để cho việc thực hiện chương trình được diễn ra nhanh chóng và thuận lợi Chính vì vậy nên, làm việc cùng với quy trình chuẩn của các phiên bản gốc sẽ giúp nhà sản xuất Việt Nam rút ngắn được thời gian điều chỉnh thực hiện chương trình thực tế cũng như hiểu rõ hơn về không khí và tính chất của chương trình
- Có chuyên gia từ phiên bản mẫu sang hướng dẫn và nghiệm thu
chương trình
Mỗi một phiên bản chương trình truyền hình nào đều là “đứa con tinh thần” của một hoặc một nhóm người nhất định nên có lẽ, không ai có thể hiểu về tính chất, mục đích, cách thức và ý nghĩa thực hiện chương trình bẳng chính những người đã tạo ra nó, thực hiện nó và làm mọi cách
để khiến nó trở nên nổi tiếng và được đón nhận Chính vì vậy nên, với những người mới làm quen, những người đang từng bước tập thích nghi với những format mới thì không gì quý hơn sự giúp đỡ, hỗ trợ từ chính những người đã tạo ra format gốc, cũng chính là những chuyên gia trong các chương trình được mua bản quyền
Việc có những chuyên gia từ các format gốc sang hỗ trợ sản xuất sẽ giúp nhóm sản xuất có theme sự tự tin cũng như có những thước đo chuẩn
để sản xuất ra những chương trình đạt chuẩn gần nhất với nguyên mẫu Nhiệm vụ của các chuyên gia sẽ là góp ý, định hình bước đầu những format liên quan đến hình ảnh, sân khấu, chất lượng thí sinh, người dẫn chương trình, và nội dung của chương trình…Tuy nhiên, tùy vào tính chất của mỗi chương trình cũng như yếu tố thích nghi về văn hóa mà các chuyên gia sẽ
có những đóng góp phù hợp nhất với chương trình Ví dụ như, với chương
Trang 40trình “Ai là triệu phú”, trong khoảng 1 năm đầu phát sóng, luôn có chuyên gia người Anh từ phiên bản gốc sang Việt Nam để nghiệm thu và kiểm định chất lượng chương trình Nhiệm vụ của chuyên gia này là đảm bảo cho các cú máy, những dấu hiệu nhận biết của chương trình (từ đèn báo hiệu người trả lời đúng, nhạc hiệu chào mừng người dẫn chương trình, đèn báo hiệu dừng cuộc chơi…cho đến cách thư giãn và góp ý với người chơi…) Cũng như vậy, một chương trình lớn như “Không giới hạn Sasuke Việt Nam”, trong suốt 3 mùa sản xuất từ 2015 đến 2017, các chuyên gia từ phiên bản gốc Sasuke Nhật Bản đều luôn có mặt từ lúc bắt đầu hoàn thiện sân khấu, chơi thử sân khấu cho đến hết những ngày ghi hình (10-20 ngày tại Bình Dương) Nhiệm vụ của chuyên gia Nhật ở đây sẽ là đảm bảo sự chính xác và an toàn của trò chơi, đảm bảo về luật chơi và sự công bằng của trò chơi đồng thời, chuyên gia Nhật cũng là những người đưa ra những
ý kiến tham khảo để trò chơi được thực hiện một cách hấp dẫn nhất và thu hút khán giả nhất có thể
- Người dẫn chương trình, giám khảo phải phù hợp với điều kiện
của phiên bản gốc
Người dẫn chương trình hay chúng ta quan gọi là MC, là thuật ngữ
viết tắt của cụm từ Master of Ceremonies Có nhiều định nghĩa khác nhau
về MC, theo từ điển Bách khoa toàn thư mở thì MC là “người hướng dẫn tổ
chức một sự kiện hoặc một buổi họp nào đó Trách nhiệm chủ yếu của MC
là người dẫn, là người chủ của buổi họp, hội nghị MC lý tưởng là người biết cách cỏ vũ, truyền tải là làm cho khán giả quan tâm đến cuộc họp, hội nghị đó.”
Không ai có thể phủ nhận được vị trí của người dẫn chương trình
và ban giám khảo trong mỗi chương trình giải trí Họ chính là những gương mặt đại diện cho cả nhóm sản xuất, thể hiện nội dung và tính chất của chương trình Người dẫn chương trình là người giới thiệu chương trình