Trong chăn nuôi gia cầm công nghiệp việc bổ sung các chất kích thích tăng trưởng, kháng sinh vào khẩu phần được sử dụng rất nhiều.. Acid pak 4 way là chế phẩm pha nước uống, có chứa 4 th
Đặ t v ấn đề
Trong những năm gần đây, chăn nuôi gia cầm ngày càng được chú trọng phát triển Bởi nó cung cấp cho chúng ta các sản phẩm thịt, trứng - nguồn protein rất quan trọng cho con người Trong mỗi gia đình ở nông thôn, gia cầm nói chung và gà nói riêng bao giờ cũng được quan tâm hơn các loại vật nuôi khác vì nó phù hợp với tất cả gia đình nhất là những gia đình không có đủ khả năng để nuôi những động vật đòi hỏi kinh phí lớn như: nuôi lợn, nuôi trâu, bò thịt, bò sữa Từ nhiều năm gần đây, ngành chăn nuôi gia cầm phát triển mạnh và có những tiến bộ vượt bậc là nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật hiện đại vào sản xuất Chăn nuôi gia cầm chỉ đứng hàng thứ hai sau chăn nuôi lợn, giữ một vai trò quan trọng trong nông nghiệp và nông thôn ở nước ta
Trong chăn nuôi gia cầm công nghiệp việc bổ sung các chất kích thích tăng trưởng, kháng sinh vào khẩu phần được sử dụng rất nhiều Ngày nay việc sử dụng các chất này có xu hướng giảm dần do chúng có tác động xấu đến sức khỏe của người tiêu dùng bởi sự tồn dư của chúng hầu hết ở trong sản phẩm thịt, trứng Cùng với sự phát triển của xã hội, nhu cầu đời sống của người dân ngày càng được nâng cao Họ đòi hỏi thực phẩm có chất lượng cao, mùi vị thơm ngon Chính vì vậy, nghiên cứu về tiềm năng của các chất bổ sung có thành phần tự nhiên để thay thế các chất hóa học có ý nghĩa rất quan trọng
Hiện nay, Acid pak 4 way được sử dụng phổ biến ở Việt Nam, đặc biệt trên các trang trại lớn để thay thế các chất kích thích tăng trưởng và kháng sinh Acid pak 4 way là chế phẩm pha nước uống gồm bốn thành phần thiết yếu: acid, enzyme, chất điện giải và vi khuẩn lactic, cung cấp nguồn acid cho quá trình tiêu hóa protein và duy trì pH, nhằm tạo môi trường đường ruột tối ưu cho vật nuôi và cho phép các vi sinh vật sản xuất acid lactic đi qua đường ruột đồng thời hạn chế vi khuẩn gây bệnh mà không ảnh hưởng đến cân bằng điện giải Hiệu quả của Acid pak 4 way đã được thử nghiệm trên hầu hết các loài gia súc và gia cầm trên thế giới Tuy nhiên, chưa có nhiều công bố kết quả nghiên cứu về sự ảnh hưởng của chế phẩm sinh học này đến năng suất và chất lượng sản phẩm của vật nuôi Xuất phát từ thực tế trên, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của Acid pak 4 way đến khả năng sản xuất thịt của gà lông màu nuôi chuồng ở Thái Nguyên.”
M ục đích của đề tài
- Xác định ảnh hưởng của việc dùng Acid pak 4 way đến khả năng sản xuất thịt của gà Ri lai nuôi chuồng hở vụ Hè tại Thái Nguyên
- Bản thân làm quen với công tác nghiên cứu khoa học.
Ý nghĩa của đề tài
Ý nghĩa khoa họ c
- Kết quả nghiên cứu đề tài là cơ sở phục vụ nghiên cứu cho giảng viên và sinh viên khoa Chăn nuôi Thú y.
Ý nghĩa thực tiễn
- Acid pak 4 way góp phần tăng khả năng tiêu hóa, giảm tỷ lệ mắc bệnh, giảm chi phí thuốc thú y, tăng hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi
- Từ kết quả nghiên cứu ta có thể sử dụng Acid pak 4 way để áp dụng vào thực tiễn sản xuất cho các gia trại và người chăn nuôi gia cầm
C ơ s ở khoa h ọ c c ủa đề tài
Vài nét gi ớ i thi ệ u v ề Acid pak 4 way
2.1.1.1 Đặc điểm của Acid pak 4 way
Acid Pak 4 way là chế phẩm bột để pha vào nước uống có chứa bốn thành phần thiết yếu: acid hữu cơ, enzyme, chất điện giải và các vi khuẩn acid lactic Việc bổ sung acid pak 4 way vào nước uống nhằm làm pH của nước giảm xuống dưới 4 và mức tốt nhất là từ 3 đến 3,5 Giảm pH nước đã làm gia cầm nhanh chóng giảm pH của chất chứa ở diều đến khoảng thích hợp nhất cho các hoạt động của vi sinh vật sản sinh acid lactic đồng thời hạn chế được sự phát triển của các vi sinh vật gây bệnh Hơn nữa, Acid pak 4 way còn làm gia tăng đáng kể magiê, clorua, photphat, sunfat, florua, natri, kali hữu cơ, sắt, mangan, kẽm, với các hiệu ứng thuận lợi cho sự tăng trưởng và phát triển của gà
AP4W hoạt động theo cơ chế acid hóa nhờ một chất đệm axit citrat, gồm axit citric và natri citrate Nhờ hoạt động đệm của chất này, AP4W có thể hạ pH về mức mong muốn và duy trì ở mức đó một cách ổn định.
- Đối tượng sử dụng: Lợn, gia cầm, bò thịt, nuôi trồng thủy sản, chăn nuôi ngựa, thú cưng
- Thành phần acid pak 4 way: gồm 4 nhóm
Nhóm 1: Các acid hữu cơ (acid citric, acid sorbic)
Acid hữu cơ được sử dụng phổ biến trong thức ăn công nghiệp cho chăn nuôi và được đánh giá mang lại lợi ích cao nhất cho thành tích chăn nuôi so với các loại thức ăn bổ sung khác Các acid hữu cơ phổ biến trong thức ăn chăn nuôi gồm formic, axetic, propionic, butyric, lactic, sorbic, fumaric, tartaric, citric, benzoic và malic, được chia làm hai nhóm dựa trên đặc tính Nhóm thứ nhất gồm lactic, fumaric và citric có đặc tính gián tiếp làm giảm số lượng vi khuẩn bằng cách giảm độ pH trong dạ dày; nhóm thứ hai gồm formic, axetic, propionic và sorbic có đặc tính tác động trực tiếp làm giảm độ pH trong đường tiêu hóa và ảnh hưởng lên vi khuẩn Gram.
Theo nghiên cứu của Byrd J và cộng sự (2001), việc bổ sung axit hữu cơ vào nước uống giúp làm giảm mầm bệnh trong nước, điều chỉnh hệ vi sinh đường ruột, tăng khả năng tiêu hóa thức ăn và cải thiện hiệu suất tăng trưởng.
+ Là một acid hữu cơ yếu, tồn tại trong các loại rau củ (chanh, cam, bưởi)
+ Cấy nấm Aspergillus niger trong môi trường glucoza lọc ra được dung dịch
Ca(OH)2 muối Canxi citrate + acid sulfuric acid citric.
Các chất đệm từ citrat được sử dụng để kiểm soát pH và đồng thời có khả năng làm mềm nước cứng, trở thành giải pháp lý tưởng cho chăn nuôi Việc duy trì pH ổn định và làm mềm nước giúp cải thiện chất lượng nước uống cho vật nuôi và tăng hiệu quả của quá trình nuôi dưỡng Nhờ tính ứng dụng kép này, chất đệm citrat được sử dụng rộng rãi trong hệ thống xử lý nước và chuồng trại, mang lại lợi ích về sức khỏe vật nuôi và hiệu quả kinh tế cho nông nghiệp.
+ Ngoài ra acid citric còn được sử dụng như thành phần hoạt hóa trong sản xuất mô kháng virut
Acid sorbic và muối của nó là các tác nhân kháng khuẩn thường thêm vào thức ăn, nước uống để ngăn chặn sự phát triển của nấm mốc, nấm men và vi khuẩn
Aerophile, cản trở việc tăng trưởng và sinh sản của các vi sinh vật độc hại như
Pseudomonas Acid sorbic kéo dài thời gian lưu trữ thực phẩm mà vẫn lưu giữ được hương vị ban đầu
Tác dụng của acid hữu cơ:
+ Ức chế sự phát triển của vi khuẩn có hại, duy trì cân bằng vi khuẩn đường ruột
+ Hỗ trợ sự tiêu hóa và hấp thu các chất dinh dưỡng
+ Làm giảm hệ đệm của thức ăn, cải thiện khả năng tiêu hóa thức ăn.
+ Giảm pH trong dạ dày, đặc biệt ở ruột non, cải thiện việc giữ lại nitơ và làm tăng khả năng tiêu hóa
Nhóm 2: Các chất khoáng (NaCl, ZnSO4, MgSO4, K)
NaCl và Kali đóng vai trò then chốt trong cân bằng điện giải và dinh dưỡng, giúp tăng tính ngon miệng, cải thiện khả năng tiêu hóa và hấp thu protein, đồng thời ổn định độ toan kiềm của máu và tham gia hệ đệm của máu Chúng còn giúp duy trì áp suất thẩm thấu của máu và mô bào, ổn định nhịp tim và nhịp thở, hỗ trợ chức năng của dây thần kinh và cơ bắp, và giảm stress do nhiệt.
ZnSO4 : Đóng vai trò quan trọng trong trao đổi chất protein, carbohydrate, lipit
Có vai trò trong phát triển xương, duy trì sức sinh sản, chống sừng hóa
MgSO4 (magnesium sulfate) là một thành phần quan trọng có mặt trong xương và răng, giúp duy trì cấu trúc xương chắc khỏe Nó hỗ trợ hoạt động của hệ thần kinh và cơ, và xuất hiện trong thành phần của một số enzyme thiết yếu MgSO4 tham gia điều hòa các phản ứng phosphoryl hóa và oxy hóa, đồng thời đóng vai trò trong quá trình điều chỉnh thân nhiệt.
Nhóm 3: Các chiết xuất men được sấy khô (chiết xuất men Aspergillus niger , chiết xuất men Bacillus subtilis , sản phẩm lên men Lactobacillus acidophilus và chiết xuất men Enterococcus faecium đều đượ c sấy khô)
Chi ế t xu ất men Aspergillus niger đượ c s ấ y khô
+ Phân bố nhiều trong tự nhiên (đất, xác bã thực vật, hoa quả và đặc biệt nhiều ở vùng khí hậu ấm áp) Là những cơ thể hiếu khí sống hoại sinh hoặc kí sinh, không có khảnăng quang hợp, sống nhờ khả năng hấp thụ các loại chất hữu cơ có sẵn quan bề mặt khuẩn tỵ
+ Có khả năng đồng hóa các loại đường khác nhau như: Glucose, fructose, từđó tham gia quá trình sản xuất acid citric
Chi ế t xu ất men Bacillus subtilis đượ c s ấ y khô
+ B.subtilis có khả năng sản sinh nhiều enzyme, nhưng quan trọng nhất là amylase và protease, 2 loại enzyme thuộc hệ thống men tiêu hóa
+ B.subtilis có khả năng sinh tổng hợp một số chất kháng sinh có tác dụng ức chế sinh trưởng hoặc tiêu diệt một số vi sinh vật khác, tác dụng lên cả vi khuẩn Gram (-), Gram (+) và nấm gây bệnh
+ B.subtilis thường tồn tại trong sản phẩm ở trạng thái bào tử, nhờ vậy khi uống vào dạ dày, nó không bị acid cũng như các men tiêu hóa ở dịch vị phá hủy Ở ruột, bào tử nảy mầm và phát triển thành thể hoạt động giúp cân bằng hệ vi sinh có ích trong đường ruột, cải thiện hệ thống tiêu hóa, nhất là sau khi sử dụng kháng sinh kéo dài
Sản phẩm lên men Lactobacillus acidophilus được sấy khô
Các tác dụng của Lactobacillus trong chăn nuôi là sản xuất men lên men thức ăn và chất diệt khuẩn lactocidin, giúp ức chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh đường ruột ở vật nuôi; đồng thời tăng cường kháng sinh tự nhiên và hệ miễn dịch đường ruột, tăng khả năng chống chịu và sức khỏe đường ruột của vật nuôi Đặc biệt, Lactobacillus acidophilus có khả năng tạo axit lactic khoảng 2%, góp phần duy trì cân bằng hệ vi sinh đường ruột và hạn chế vi khuẩn có hại.
Chiết xuất men Enterococcus faecium sấy khô
+ Là tăng cường enzyme tiêu hóa chất hữu cơ như tinh bột, đường, kích thích tiêu hóa cho vật nuôi
Trong quá trình kích thích tiêu hóa cho vật nuôi, chế độ dinh dưỡng cân đối và chăm sóc tiêu hóa phù hợp giúp hạn chế rối loạn tiêu hóa do thức ăn, duy trì cân bằng hệ vi sinh đường ruột và ngăn ngừa dấu hiệu tiền bệnh của các bệnh tiêu hóa Nhờ đó, các dấu hiệu tiền bệnh được nhận diện sớm và có biện pháp can thiệp kịp thời để bảo vệ sức khỏe tiêu hóa cho thú cưng.
Nhóm 4: Các chất khác (Maltodextrin, Silicon dioxide, natri citrate)
+ Tạo vị ngọt trong các sản phẩm thức ăn chăn nuôi thú y, kích thích vị giác, có tính hòa tan, chống vón cục
+ Cải thiện sự hấp thụ chất dinh dưỡng, làm tăng trọng lượng của vật nuôi và hiệu quả hấp thụ thức ăn một cách lành mạnh và bền vững Silicon dioxide còn giúp giảm mùi hôi thối
Đặc điểm cấu tạo bộ máy tiêu hóa và sinh lý tiêu hóa của gà
Hình 2.1 Hệ tiêu hoá của gia cầm
Gia cầm có tốc độ trao đổi chất và năng lượng cao hơn so với động vật có vú Cường độ tiêu hoá ở gia cầm được xác định bằng tốc độ di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá Ở gà con, tốc độ này là 30–39 cm/giờ; ở gà lớn hơn là 32–40 cm/giờ và ở gà trưởng thành là 40–42 cm/giờ (Xelianxki, 1986) Chiều dài của ống tiêu hoá gia cầm không lớn và thời gian thức ăn bị giữ lại trong đó không vượt quá 2–4 giờ, ngắn hơn rất nhiều so với động vật khác.
Gia cầm mổ thức ăn bằng mỏ, số lượng thức ăn mà gia cầm ăn được trong 1 đơn vị thời gian phụ thuộc vào mức độ hấp dẫn của thức ăn, loài và tuổi của gia cầm, trung bình một phút gà mổ từ 180 - 240 lần, lúc đói mổ nhanh, mỏ mở rộng Mặt trên lưỡi có răng rất nhỏ hóa sừng, hướng về cổ họng để đưa thức ăn về phía thực quản Các cơ quan thị giác và xúc giác kiểm tra tiếp nhận thức ăn, còn vị giác và khứu giác kém phát triển Thiếu ánh sáng gà ăn kém
Khi thức ăn đi trong khoang miệng, nó được thấm ướt nước bọt để dễ nuốt Các tuyến nước bọt của gia cầm phát triển kém, thành phần chủ yếu của nước bọt là dịch nhầy, nước bọt có tác dụng thấm trơn thức ăn thuận tiện cho việc nuốt
Diều là khoảng mở rộng của thực quản ở khoang ngực Diều là một chỗ phình rộng hơn, hình túi Ở vịt và ngỗng, diều là phần giãn rộng không lớn lắm nhưng rất dài của thực quản, làm cho nó có thể chứa được một lượng thức ăn cực lớn Ở gà, diều chứa được 100 - 120 gam thức ăn Khi gia cầm đói, thức ăn theo ống này đi thẳng vào dạ dày, không qua túi diều
Diều dự trữ và chuẩn bị tiêu hóa thức ăn Thức ăn ở diều được thấm ướt, làm mềm ra, quấy trộn và được tiêu hoá từng phần bởi các men của thức ăn và các vi khuẩn nằm trong thức ăn thực vật Thức ăn cứng lưu lại trong diều lâu hơn Ở diều nhờ men amylaza của nước bọt chuyển xuống, tinh bột được phân giải thành đường đa rồi một phần chuyển thành đường glucoza
Dạ dày gia cầm gồm dạ dày tuyến và dạ dày cơ Thức ăn từ diều được đổ vào dạ dày tuyến, có dạng ống ngắn, vách dày và được nối với dạ dày cơ bằng một eo nhỏ Thành dạ dày tuyến gồm màng nhầy, cơ và mô liên kết; bề mặt màng nhầy có các nếp gấp rõ rệt, dày và liên tục, phía đáy là các tuyến hình túi phức tạp Dịch vị ở dạ dày tuyến chứa HCl và pepsinogen; nhờ HCl, pepsinogen được chuyển thành pepsin, enzyme phân giải protein thành pepton Sự tiết dịch diễn ra liên tục và càng được tăng cường sau khi ăn Thức ăn không ở lại lâu trong dạ dày tuyến: sau khi được dịch vị làm ướt, nó được đưa xuống dạ dày cơ nhờ nhịp co bóp đều đặn của dạ dày cơ (không quá một lần/phút).
Dạ dày cơ (mề) có dạng như hai chiếc đĩa nhỏ úp vào nhau và có thành rất dày, có màu đỏ sẫm… Phần trên của dạ dày cơ thông với dạ dày tuyến qua khe tương đối thắt lại, gần vị trí đó là khe thông với tá tràng Dạ dày cơ không tiết dịch tiêu hóa mà dịch này từ dạ dày tuyến tiết ra chảy vào dạ dày cơ Thức ăn được nghiền nát bằng cơ học, trộn lẫn và tiêu hóa dưới tác dụng của men dịch dạ dày, enzyme và các vi khuẩn Acid Chlohydric tác động làm cho các pepton và một phần thành các acid amin Từ dạ dày cơ, các chất dinh dưỡng được truyền vào tá tràng có các men của dịch ruột và tuyến tụy cùng tham gia, môi trường kiềm hóa tạo điều kiện thích hợp cho sự hoạt động của các men phân giải protein và glucid Sỏi và các dị vật trong dạ dày làm tăng tác động nghiền của vách dạ dày Đối với gia cầm, sỏi tốt nhất là từ thạch anh, chúng bền với acid clohidric của dịch dạ dày
Quá trình tiêu hóa các chất dinh dưỡng ở gia cầm diễn ra chủ yếu tại ruột non, nơi các enzyme tiêu hóa phân giải các chất dinh dưỡng Toàn bộ phần ruột non của gia cầm dài khoảng 100–150 cm Ruột non bắt đầu từ phía bên phải dạ dày cơ, đi xuống, cong gập lại, xuống xoang chậu rồi ngược lên phía trên để tạo thành vòng khép kín Quá trình phân tích và tiêu hóa các chất dinh dưỡng diễn ra từng bước chủ yếu ở ruột non.
Phần ruột già gồm manh tràng (có hai manh tràng) và trực tràng
Dịch ruột gà là một chất lỏng đục, có phản ứng kiềm yếu (pH = 7,42) với tỷ trọng 1,0076 Trong thành phần dịch ruột có các men proteolytic, aminolytic và lypolytic và cả men enterokinaza
Dịch tuỵ là một chất lỏng không màu, có vị hơi mặn và có phản ứng hơi toan hoặc hơi kiềm (pH = 6 ở gà, pH = 7,2–7,5 ở các loài gia cầm khác); trong chất khô của dịch ngoài các enzyme còn chứa axit amin, lipit và các chất khoáng như NaCl, CaCl2, NaHCO3 Dịch này có các enzyme như trypsin, carboxin peptidaza, mantaza và lipaza Dưới tác dụng của các enzyme này, protein, polysacarit và lipit được phân giải thành axit amin, monosacarit glucoza, glyxerin và axit béo.
Gà một năm tuổi, lúc bình thường tuyến tụy tiết ra 0,4 - 0,8 ml/giờ, sau khi 5 -
Trong vòng 10 phút sau ăn, lượng tiết dịch tụy tăng gấp 3-4 lần và duy trì đến khoảng giờ thứ 3 rồi giảm dần; thành phần thức ăn ảnh hưởng tới quá trình tiết enzyme tụy, với thức ăn giàu protein làm tăng hoạt tính proteolytic lên khoảng 60%, còn thức ăn giàu lipid làm tăng hoạt tính lipolitic, v.v Gan tiết mật liên tục, một phần đi vào túi mật (ở gia cầm), phần còn lại đổ trực tiếp vào tá tràng; mật gia cầm là chất lỏng màu sáng hoặc xanh đậm, kiềm tính (pH 7,3-8,5), trong khi dịch ở túi mật đậm đặc hơn và màu sắc đậm hơn Các thành phần điển hình của mật gồm axit mật, sắc tố và cholesterol, ngoài ra còn có gluxit, axit béo và lipit trung tính, mucin, khoáng chất và các sản phẩm trao đổi chất chứa nitơ Bên cạnh tham gia vào quá trình tiêu hóa ở ruột, gan còn đóng vai trò quan trọng trong trao đổi protein, glucit và lipit cũng như khoáng Ở ruột, glucit được phân giải thành monosaccharit nhờ enzyme amylase của dịch tụy, một phần của dịch ruột Những dưỡng chất không được hấp thu ở ruột non sẽ chuyển xuống manh tràng và van hồi-man h trig ruột già; ruột già không có tuyến tiết dịch tiêu hóa, chỉ có tế bào chén của màng nhầy tiết ra dịch nhầy Quá trình tiêu hóa ở ruột già phụ thuộc vào enzyme từ ruột non đi xuống, các enzyme này chỉ hoạt động ở phần đầu ruột già.
Quá trình tiêu hóa trong ruột già một phần do tác dụng của enzyme ở ruột non đi xuống còn chủ yếu nhờ tác dụng của hệ vi sinh vật Quá trình tiêu hóa cellulose và tiêu hóa protein tạo ra các acid béo bay hơi và các amino acid sẽ được hấp thu ở đây
Ở gia cầm, quá trình hấp thu chủ yếu diễn ra ở ruột non, nơi các sản phẩm phân giải cuối cùng của protein, lipit và gluxit được hấp thu cùng với nước, các chất khoáng và vitamin để cung cấp dưỡng chất cho tăng trưởng và trao đổi chất.
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng và những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng của gia cầm
2.1.3.1 Khái niệm sinh trưởng Ở vật nuôi từ khi hình thành phôi đến khi trưởng thành khối lượng và thể tích cơ thể tăng lên Điều này trước tiên là tếbào tăng lên về số lượng, các cơ quan bộ phận trong cơ thể đều có sự tăng lên về khối lượng và kích thước Từ đó, dẫn đến khối lượng và thể tích của cơ thể tăng lên Sự lớn lên của cơ thể là do sự tích lũy các chất hữu cơ thông qua việc trao đổi chất
Sinh trưởng là một quá trình sinh lý phức tạp và tuân theo những quy luật nhất định Trần Đình Miên và cs, (1992) [5], đã khái quát như sau: “Sinh trưởng là quá trình tích lũy các chất hữu cơ thông qua trao đổi chất, là sự tăng chiều cao, chiều dài, bề ngang, khối lượng của từng cơ quan, bộ phận cũng như toàn bộ cơ thể trên cơ sở tính di truyền từ đời trước.”
Đặc điể m ngo ạ i hình và kh ả năng sả n xu ấ t c ủ a gà Ri, gà L ươ ng
2.1.4.1 Đặc điểm sinh học và khảnăng sản xuất của gà Ri
* Nguồn gốc Đến nay chưa rõ nguồn gốc của gà Ri Gà Ri phân bố rộng khắp các vùng trong cả nước, đặc biệt là miền Bắc và miền
Rất đa dạng, gà mái: Lông màu vàng rơm, vàng đất hoặc nâu nhạt, xung quanh cổ có hàng lông đen, mào kém phát triển, lá tai chủ yếu màu đỏ, một số lá tai màu trắng
Gà trống: Màu lông phổ biến là đỏ thẫm, đầu lông cánh và lông đuôi có lông đen ánh xanh, ngoài ra còn có các màu: Trắng, hoa mơ
Hình 2.2 Gà Ri đốm trắng Mào cờ, mào tích đốm đỏ tươi rất phát triển
Gà Ri có da màu vàng là chủ yếu, một số da trắng chân 4 ngón, có hai hàng vảy màu vàng xen lẫn màu đỏ tươi
Dẫn theo Trần Thanh Vân và cộng sự (2015) [13], các kết quả nghiên cứu được công bố của Nguyễn Viết Ly (2001); Át lát vật nuôi (2004); Nguyễn Đăng Vang và Nguyễn Thanh Sơn (2000); và Bộ Nông nghiệp và PTNT (2006) cho thấy sự đóng góp của nhiều công trình vào lĩnh vực được đề cập.
Khối lượng mới nở là 30 - 31 g; 6 tháng tuổi gà mái là 1130 g, ở gà trống là
1636 g; đến 12 tháng tuổi gà mái là 1246 g, ở gà trống là 2735 g Thịt thơm ngon màu trắng
Thành thục về tính sớm: Gà trống 2 - 3 tháng tuổi đã biết gáy và đạp mái, gà mái 4 tháng tuổi đã bắt đầu đẻ trứng
Số lượng trứng/lứa/mái từ 13 - 15 quả Năng suất trứng có thể đạt từ 70 - 125 quả Tỷ lệ trứng có phôi đạt 92,6 %, tỷ lệ nở/trứng có phôi là 78 %, tỷ lệ gà con loại
Gà nuôi thịt đến 12 tuần: Tỷ lệ nuôi sống là 95,7 % Khối lượng con trống: 1.140,7 g; con mái 940,5 g Tỷ lệ thân thịt chung cho trống mái là 77,75 % Còn tỷ lệ thịt đùi + thịt ngực đạt 37 %
Gà thích nghi với điều kiện nuôi bán chăn thả
2.1.4.2 Đặc điểm sinh học và khảnăng sản xuất của gà Lương Phượng
Gà Lương Phượng hay còn gọi là Lương Phượng Hoa, do xuất xứ từ vùng ven sông Lương Phượng Đây là giống gà thịt lông màu do xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây Trung Quốc lai tạo thành công sau hơn chục năm nghiên cứu, sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nhập của nước ngoài Việt Nam nhập từ Trung Quốc năm 1997
Gà Lương Phượng có ngoại hình gần giống gà Ri của ta, với lông vàng tuyền, vàng đen hoặc đốm hoa; mào, yếm, mặt và tích tai đều màu đỏ Gà trống có mào đơn, ngực nở, lưng thẳng và đuôi vươn cong, chân cao vừa phải; gà mái có đầu nhỏ, thân hình chắc chắn và chân ngắn Da gà Lương Phượng màu vàng, thịt mịn và thơm ngon, mang lại hương vị đặc trưng cho giống gà này.
Gà trống ở độ tuổi trưởng thành, có khối lượng cơ thể 2700 g, gà mái đạt khối lượng 2100 g lúc vào đẻ Gà bắt đầu vào đẻ lúc 24 tuần tuổi, sau một chu kỳ khai thác trứng (66 tuần tuổi) đạt 177 trứng, sản xuất 130 gà con 1 ngày tuổi Gà thịt nuôi đến 65 ngày tuổi đạt 1500 - 1600 g Tiêu tốn thức ăn 2,4 - 2,6 kg thức ăn/kg tăng khối lượng, nuôi sống trên 95 %
Gà Lương Phượng dễ nuôi, có tính thích nghi cao và khả năng chịu đựng tốt với khí hậu nóng ẩm, đòi hỏi chế độ dinh dưỡng không cao Với đặc điểm này, gà Lương Phượng phù hợp nuôi nhốt (kiểu nuôi công nghiệp), nuôi bán công nghiệp (vừa nhốt vừa thả) hoặc nuôi thả vườn, ngoài đồng và trên đồi.
2.1.4.3 Đặc điểm sinh học và khả năng sản xuất của gà F1 (♂ Ri x ♀ Lương Phượng)
Ở thế hệ con lai, màu lông vẫn tương tự gà Ri và sau ba thế hệ tự giao, ngoại hình vẫn ổn định Tỷ lệ nuôi sống từ 1–19 tuần tuổi đạt 89–91%, khối lượng cơ thể ở 19 tuần tuổi đạt 1,7–1,9 kg và sản lượng đến 52 tuần tuổi đạt 115–118 quả/mái.
Gà lai thương phẩm nuôi nhốt đến 12 tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống 97 - 100 %, khối lượng cơ thể 2,0 - 2,1 kg/con Nuôi bán chăn thả đến 12 tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống đạt 94 - 96 % , khối lượng cơ thể đạt 1,8 - 2,1 kg Chất lượng thịt ngon như gà Ri
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Tình hình nghiên c ứ u trong n ướ c
Nguyễn Thị Thủy và cs (2017) tiến hành khảo sát ảnh hưởng của bổ sung chế phẩm acid hữu cơ Poulacid vào khẩu phần gà đẻ chuyên trứng từ 19–28 tuần tuổi, chia làm hai giai đoạn 19–21 và 22–28 tuần, với 540 con gà mái đẻ Hisex Brown được bố trí ngẫu nhiên vào 3 nghiệm thức (A0, A0.15, A0.2) và 45 lần lặp lại trên một ô chuồng có 4 con gà mái Các nghiệm thức gồm A0: 0% Poulacid (đối chứng); A0.15: 0,15% Poulacid; A0.2: 0,2% Poulacid Kết quả cho thấy bổ sung Poulacid vào khẩu phần không ảnh hưởng đến lượng tiêu thụ thức ăn (TTTA) và khối lượng trứng, nhưng có xu hướng tăng nhẹ tỷ lệ đẻ và TTTA/trứng ở nghiệm thức A0.15 so với A0.2 và A0 Khi bổ sung 0,15% và 0,2% Poulacid, số lượng trứng bể và trứng đôi thấp hơn đối chứng Các chỉ tiêu hình dáng, tỷ lệ vỏ, độ dày vỏ và đơn vị Haugh không có sự khác biệt giữa các nghiệm thức, nhưng chiều cao lòng trắng và màu lòng đỏ được cải thiện ở các khẩu phần bổ sung Poulacid so với đối chứng Từ đó cho thấy bổ sung Poulacid 0,15% có khuynh hướng cải thiện tỷ lệ đẻ, màu lòng đỏ và chiều cao lòng trắng ở gà chuyên trứng ở giai đoạn bắt đầu đẻ, dù chưa làm tăng độ dày vỏ.
Trong năm 2009, nhóm nghiên cứu của Trần Quốc Việt và các cộng sự đã tiến hành thí nghiệm trên 600 con gà Ross 308 nuôi đến 49 ngày Đề án được chia thành 6 lô thí nghiệm với 4 lần lặp lại; gà ở lô 1 không được bổ sung kháng sinh, còn gà ở lô 2 được bổ sung kháng sinh chlortetracycline vào thức ăn.
Chickens in lots 3 and 4 received drinking water supplemented with liquid probiotic formulations PBL1 (two strains: Bacillus subtilis H4 and Saccharomyces boulardii) and PBL2 (five strains: Bacillus subtilis H4, Saccharomyces boulardii, Enterococcus faecium, Pediococcus pentosaceus, Lactobacillus fermentum) at 2 ml per liter, while birds in lots 5 and 6 were fed probiotic powders PBB1 and PBB2 (the same formulations as PBL1 and PBL2 but in powder form) at 2000 g per ton of feed The results show that the 49-day cumulative absolute weight gain of birds in lots 2, 4 and 6 was 50.3 g, 49.1 g and an additional value not disclosed.
Kết quả cho thấy khối lượng tuyệt đối tích lũy của gà so với lô 1 đạt mức tăng lần lượt 8,4%, 5,8% và 8,0%, tương ứng với mức tăng tổng cộng 50,1 g/con/ngày Lô 4 ăn khẩu phần bổ sung chế phẩm PBL2 có khối lượng tích lũy cao hơn lô 3 ăn khẩu phần bổ sung chế phẩm PBL1 là 4,2% (P>0,05) Tương tự, tốc độ sinh trưởng của gà ở lô 6 cao hơn lô 5 là 5,7% (P>0,05) Điều đó cho thấy hiệu quả kích thích sinh trưởng phụ thuộc vào mức độ đa chủng của các chế phẩm probiotic.
Phạm Tất Thắng và cộng sự (2010) đã nghiên cứu dùng acid formic ở dạng difomat kali làm thay thế kháng sinh bổ sung vào thức ăn cho lợn thịt Thí nghiệm có quy mô 400 lợn giống Duroc x (Yorkshire x Landrace), 60 ngày tuổi, được bố trí thành 5 lô với 4 lần lặp lại, mỗi lần 20 con; Lô 1 là đối chứng, Lô 2 bổ sung acid formic ở dạng difomat kali, các lô còn lại được thiết kế để so sánh các mức bổ sung khác nhau.
Kết quả cho thấy việc bổ sung acid fomic dưới dạng difomat kali vào thức ăn cho lợn thịt ở lô 3, 4, 5 với các mức 0,14 %, 0,21 % và 0,28 % acid fomic đã kiềm hãm sự phát triển của các vi khuẩn có hại trong thức ăn và đường ruột, cân bằng hệ vi sinh vật ở đường tiêu hóa của lợn; bổ sung acid fomic cũng như bổ sung kháng sinh clotetracyclin có tác dụng tốt ở lợn giai đoạn sinh trưởng Cụ thể, bổ sung 0,21 % acid fomic vào thức ăn đã cải thiện 2,3 % tăng trọng, giảm 1,695 hệ số chuyển hóa thức ăn, giảm 0,65 % chi phí thức ăn cho mỗi kg tăng trọng và giảm 25,4 % số ngày tiêu chảy so với đối chứng; không có sự khác biệt thống kê giữa lô bổ sung 180 ppm clotetracyclin với lô bổ sung 0,21 % acid fomic Như vậy acid fomic có thể được sử dụng thay thế cho kháng sinh trong thức ăn nhằm phòng bệnh tiêu chảy và kích thích tăng trưởng cho lợn thịt.
Tình hình nghiên c ứ u trên th ế gi ớ i
Nghiên cứu của Grashorn M và cộng sự (2013) về ảnh hưởng của axit hữu cơ trong chế độ ăn đối với chất lượng và các thuộc tính cảm quan của trứng gà cho thấy bổ sung một hỗn hợp axit hữu cơ gồm 40% axit formic, 30% axit propionic, 26% axit lactic, 0,5% axit sorbic và 0,5% natri benzoat cho gà mái đẻ làm tăng trọng lượng trứng trung bình (P