Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân và được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Chăn nuôi Thú y Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, được sự phân công của cô giáo hướng dẫn và sự tiếp nhậ
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1.1 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức gồm 3 nhóm:
+ Nhóm quản lý bao gồm ông Nguyễn Văn Luận trưởng trại, ông Nguyễn Duy Chương phó trại, 3 quản lý khu gồm khu đẻ, khu phối, khu cai sữa.
+ Nhóm kỹ thuật bao gồm 8 kỹ sư, 4 kỹ thuật điện, 2 kế toán phụ trách chuyên môn
+ Nhóm công nhân bao gồm 47 công nhân, 4 bảo vệ, 3 tạp vụ, 10 sinh viên thực tập thực hiện công việc chuyên môn
Với đội ngũ nhân công hiện có, trại chăn nuôi được phân into các khu vực chức năng riêng biệt như khu chuồng đẻ, khu chuồng phối, khu cai sữa, khu chuồng đực và phòng pha chế tinh, nhằm quản lý đàn và quy trình sinh sản một cách hiệu quả và đồng bộ, tối ưu hóa chăm sóc động vật, nâng cao chất lượng tinh dịch và tăng hiệu quả sản xuất.
2.1.1.2 Cơ sở vật chất của trang trại
Trang trại chăn nuôi Bầu có tổng diện tích 67 ha, nằm tại xã Long Sơn, với địa hình thuận lợi cho việc đi lại và vận chuyển Để đảm bảo phát triển sản xuất chăn nuôi và sinh hoạt của công nhân, trại được trang bị đầy đủ cơ sở vật chất kỹ thuật.
Khu nhà điều hành, khu nhà ở cho quản lý, kỹ sư, công nhân, bếp ăn tập thể, các công trình phục vụ cho công nhân và các hoạt động khác của trại.Khu chăn nuôicó hàng rào thép gai bọc xung quanh, hệ thống camera, phòng sát trùng và có cổng vào riêng Chuồng trại được quy hoạch bố trí xây dựng phù hợp với hướng chăn nuôi công nghiệp hiện đại, hệ thống chuồng nuôi lồng, nền sàn bê tông cho lợn nái, lợn đực, sàn nhựa cho lợn con cùng với hệ thống vòi nước tự động và máng ăn Chuồng nuôi được xây dựng đảm bảo đủ cho chăn nuôi một cách an toàn sinh học cao nhất, cơ bản bao gồm:
+ Một chuồng đực giống: bao gồm 24 ô để nuôi lợn đực và 1 ô để khai thác tinh dịch.
Hai chuồng phối được thiết kế tối ưu để lợn nái chờ phối, với khu thử lợn, khu ép lợn và dãy khu vực dành cho thụ tinh nhân tạo cho lợn nái, nhằm tối ưu hóa quy trình phối giống và tăng tỉ lệ thụ thai Thiết kế cho phép kiểm tra sức khỏe đàn lợn, chuẩn bị vật tư và thực hiện thụ tinh nhân tạo một cách an toàn và hiệu quả cho người chăm sóc cũng như đàn lợn Hệ thống này đảm bảo sự thông suốt từ khu thử lợn đến khu thụ tinh nhân tạo, giúp quản lý chuồng trại dễ dàng và nâng cao hiệu quả chăn nuôi lợn nái.
Ba chuồng nái chửa được bố trí khoa học, mỗi chuồng có 6 dãy, mỗi dãy gồm 65 ô để nuôi và chăm sóc lợn nái trong thời kỳ mang thai; các ô được sắp xếp theo các kỳ mang thai khác nhau nhằm thuận tiện cho việc quản lý và chăm sóc đàn nái hiệu quả.
+ Sáu chuồng nái đẻ: mỗi chuồng chia làm 2 khu A và khu B, mỗi khu có
4 dãy, mỗi dãy có 24 ô chuồng được thiết kế sàn nhựa cho lợn con và sàn bê tông cho lợn mẹ
+ Bốn chuồng cai sữa: mỗi chuồng chia làm 2 khu A và B, mỗi khu 2 dãy, mỗi dãy 24 ô
+ Một chuồng phát triển hậu bị: cách ly dùng để nuôi lợn hậu bị được nhập từ khu nuôi lợn giống,
Hệ thống chuồng được xây dựng khép kín hoàn toàn, đầu chuồng nuôi là hệ thống giàn mát, cuối chuồng nuôi được thiết kếnắp đặt quạt hút gió, có hệ thống điện chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm, lồng úm cho lợn con, đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông bằng cách điều chỉnh hệ thống quạt, giàn mát và bóng đèn sưởi ấm trong chuồng Mỗi chuồng đều được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng trại hằng ngày, mỗi chuồng đều có hệ thống thoát phân và nước thải Bên cạnh chuồng đực có xây dựng phòng pha chế tinh lợn với đầy đủ tiện nghi như: Kính hiển vi, nhiệt kế, đèn cồn, máy ép ống tinh, tủ lạnh bảo quản tinh, nồi hấp, panh, kéo… Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và luôn được vệ sinh dội hàng ngày, trước cửa mỗi chuồng đều có chậu nước sát trùng Nhìn chung khu vực chuồng nuôi được lắp đặt xây dựng khá hợp lý và thuận lợi cho việc chăm sóc, đi lại, đuổi lợn giữa các dãy chuồng
Tại cổng vào khu chăn nuôi trại có thiết kế xây dựng 4 phòng tắm sát trùng cho kỹ thuật và công nhân trước khi ra, vào chuồng chăm sóc lợn, 2 kho thuốc, 2 kho UV khử dụng cụ, 2 kho chứa vôi với phoóc môn, 1 kho thức ăn, 4 phòng vệ sinh
Một số thiết bị khác được trang bị đầy đủ tại trại, bao gồm tủ lạnh bảo quản vắc xin nhằm duy trì nhiệt độ phù hợp cho vaccine; tủ thuốc để bảo quản và dự trữ thuốc cho trại; xe chở thức ăn từ nhà kho tới các dãy chuồng bảo đảm nguồn dinh dưỡng được cấp phát đúng lịch; và máy nén khí phun sát khuẩn di động dùng cho khu vực trong và ngoài chuồng, giúp duy trì môi trường sạch sẽ và an toàn cho vật nuôi.
2.1.1.3 Tình hình sản xuất của trang trại
Trang trại chuyên sản xuất con giống và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi lợn Hiện tại, trại tiếp nhận 28 con lợn đực giống ở cùng một đợt để nuôi dưỡng nhằm kích thích động dục ở lợn nái và khai thác tinh dịch phục vụ thụ tinh nhân tạo Semen lợn được thu từ ba giống phổ biến Landrace, Yorkshire và Duroc, đảm bảo nguồn tinh đa dạng và chất lượng cao cho ứng dụng AI Lợn nái được phối giống 2-3 lần và liên tục luân chuyển giữa các giống đực cũng như đàn lợn đực nhằm tối ưu hóa hiệu quả thụ tinh và quá trình nuôi dưỡng.
Thức ăn cho lợn nái là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh, chất lượng cao được Công ty Chăn nuôi Hòa Phát Việt Nam cấp cho từng đối tượng lợn trong trại, đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ và tăng trưởng tối ưu cho đàn lợn nái.
- Công tác vệ sinh thú y của trại
Vệ sinh phòng bệnh đóng vai trò then chốt trong chăm sóc vật nuôi, giúp giảm nguy cơ dịch bệnh, tăng sức đề kháng và hạn chế sự lây lan của mầm bệnh, từ đó phát huy tối đa tiềm năng của giống.
Chuồng trại được xây dựng theo hệ thống chuồng kín, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông được hệ thống điều khiển về nhiệt độ, độ thông thoáng giúp cho vật nuôi được phát triển trong môi trường an toàn và sạch sẽ nhất, xung quanh các chuồng nuôi đều có hàng rào bảo vệ, che chắn côn trùng như: cóc, chuột… không thể vào chuồng Trước cửa vào các khu có rắc vôi bột lên sẽ hạn chế được rất nhiều tác động của mầm bệnh bên ngoài đối với lợn nuôi trong chuồng Hàng ngày luôn có công nhân quét dọn vệ sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, đường đi trong chuồng trại được quét dọnvà dội vôi, phun thuốc sát trùng, hành lang đi lại được quét dọn và rắc vôi theo quy định Công nhân, kỹ sư, khách tham quan trước khi vào khu chăn nuôi đều phảiđi qua vòi phun sát trùng tự động,tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo bảo hộ lao động.
- Công tác chăm sóc nuôi dưỡng
Trong quá trình thực tập tại trại nuôi, tôi tham gia trực tiếp và hỗ trợ chăm sóc nái mang thai, nái đẻ và đàn lợn con theo mẹ, từ công tác theo dõi sức khỏe và dinh dưỡng cho nái mang thai cho đến việc chuẩn bị chuồng trại và hỗ trợ đỡ đẻ cho nái đẻ, đồng thời chăm sóc lợn con sau sinh Quy trình chăm sóc nái mang thai, nái đẻ và đàn lợn con được thực hiện qua các bước quản lý sức khỏe, vệ sinh chuồng trại, đảm bảo dinh dưỡng phù hợp, hỗ trợ đỡ đẻ và chăm sóc sau sinh cho lợn con, giúp đàn lợn cái và lợn con phát triển toàn diện.
Chăm sóc lợn mang thai
Việc quét dọn chuồng trại hàng ngày để đảm bảo chuồng luôn sạch và kiểm tra máng ăn, núm uống, quạt, dàn mát đảm bảo mọi thiết bị luôn hoạt động tốt, lau máng ăn hàng ngày, không để cám rơi vãi và ẩm mốc Kiểm tra lợn nái sau phối 3 tuần - 6 tuần - 9 tuần, bằng cách quan sát bằng mắt thường kết hợp với lùa lợn đực đi kiểm tra với lợn nái sau phối 3 tuần với lợn nái mang thai 6 tuần và 9 tuần kiểm tra bằng mắt thường kết hợp với máy siêu âm
Kiểm tra đo độ dày mỡ lưng vào ngày mang thai thứ 60 và 90 kết hợp với đánh giá điểm thể trạng, điều chỉnh thức ăn theo giai đoạn mang thai và theo kết quả kiểm tra Mùa đông phải tăng lượng thức ăn thêm 200 -
Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1 Đặc điể m sinh lý sinh d ụ c c ủ a l ợ n nái
* Sự thành thục về tính:
Tuổi thành thục về tính là thời điểm con vật bắt đầu có phản xạ tính dục và có khả năng sinh sản Khi đã trưởng thành về tính, bộ máy sinh dục phát triển hoàn thiện và dưới tác dụng của hệ thần kinh nội tiết, con vật bắt đầu xuất hiện các phản xạ sinh dục; con cái có hiện tượng động dục, con đực có phản xạ giao phối Lúc này các noãn bào của con cái chín và rụng trứng lần đầu, còn con đực có phản xạ sinh tinh Thời gian thành thục về tính khác nhau giữa các giống gia súc; ví dụ, lợn nội thường bắt đầu ở khoảng 4–5 tháng tuổi.
Kết quả nghiên cứu của Phan Xuân Hảo và cộng sự (2001) cho thấy lợn Landrace thành thục về tính dục ở khoảng 213,1 ngày Lợn cái chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố tới tuổi thành thục, bao gồm giống, chế độ dinh dưỡng, khí hậu, chuồng trại và trạng thái sinh lý từng cá thể Về giống, lợn lai có tuổi động dục lần đầu muộn hơn so với lợn nội thuần; lợn lai F1 bắt đầu động dục ở khoảng 6 tháng tuổi khi đạt khối lượng cơ thể 50–55 kg Lợn ngoại có động dục lần đầu muộn hơn lợn lai, vào khoảng 6–7 tháng tuổi, khi cân nặng đạt 65–68 kg.
Chế độ dinh dưỡng có ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thành thục ở lợn nái; lợn cái được chăm sóc và nuôi dưỡng tốt sẽ có tuổi thành thục sớm hơn so với lợn nuôi trong điều kiện dinh dưỡng kém Lợn cái được nuôi dưỡng tốt sẽ thành thục ở tuổi trung bình khoảng 188,5 ngày (tương đương 6 tháng) với khối lượng cơ thể khoảng 80 kg, trong khi nếu hạn chế thức ăn thì tuổi thành thục sẽ xuất hiện ở 234,8 ngày (trên 7 tháng) và khối lượng cơ thể khoảng 48,4 kg.
Dinh dưỡng thiếusẽlàm chậm sự thành thục về tính là do sự tác động xấu lên tuyến yên và sự tiết kích tố sinh dục nếu thừa dinh dưỡng cũng ảnh hưởng không tốt tới sự thành thục là do sự tích lũy mỡ xung quanh buồng trứng và cơ quan sinh dục làm giảm chức năng bình thường của chúng Mặt khác, do béo quá ảnh hưởng tới các hormone oestrogen và progesterone trong máu, làm cho hàm lượng của chúng trong cơ thể không đạt mức cần thiết để thúc đẩy sự thành thục
+ Mùa vụ và thời kỳ chiếu sáng là yếu tố ảnh hưởng rõ rệt tới tuổi động dục Mùa Hè lợn cái hậu bị thành thục chậm hơn so với mùa Thu - Đông, điều đó có thể do ảnh hưởng của nhiệt độ trong chuồng nuôi gắn liền với mức tăng trọng thấp trong các tháng nóng bức
Ngoài các yếu tố đã được đề cập, chu kỳ động dục còn chịu tác động của một số yếu tố khác trong môi trường như nhiệt độ và chế độ chiếu sáng Pheromone và tiếng kêu của con đực cũng đóng vai trò điều hòa chu kỳ động dục.
Sự trưởng thành sinh dục được nhận biết bằng sự biến đổi của bộ phận sinh dục ngoài và sự biến đổi của hệ thần kinh Ban đầu hai mép âm môn sưng đỏ và có dịch tiết, sau chuyển sang đỏ thẫm và dịch keo dính Tương ứng với sự biến đổi này là thay đổi ở hệ thần kinh: từ giai đoạn hưng phấn ban đầu đến giai đoạn mơ màng Ở bên trong, buồng trứng cũng có biến đổi: noãn bào nổi lên trên bề mặt buồng trứng và chín; niêm mạc tử cung tăng sinh; cổ tử cung mở dần và kèm theo dịch tiết.
Tuổi động dục đầu tiên của nái hậu bị trung bình là 4–5 tháng tuổi, nhưng tuổi phối giống lần đầu thích hợp là 7–8 tháng tuổi và tuổi đẻ lứa đầu khoảng 11–12 tháng; nắm bắt đúng thời điểm động dục và phối giống giúp tối ưu hóa hiệu suất sinh sản và quản lý đàn nái hiệu quả trong chăn nuôi heo.
* Chu kỳ tính: khi gia súc thành thục về tính, những biểu hiện tính dục được biểu hiện ra liên tục có tính chu kỳ, nó chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể già yếu. Đây là một quá trình sinh lý phức tạp, sau khi cơ thể phát triển hoàn toàn, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng các noãn bào phát triển, chín và nổi cộm lên bề mặt buồng trứng Khi noãn bào vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lầnrụng trứng con vật có những biểu hiện tính dục ra bên ngoài gọi là động dục Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục của gia súc cũng mang tính chu kỳ.
Sở dĩ trứng rụng có tính chu kỳ: dưới sự điều khiển của thần kinh trung ương, tuyến yên tiết ra FSH tác động lên buồng trứng làm các noãn bao phát triển, trong khi đó LH làm trứng chín khi đạt đến tỷ lệ LH/FSH là 3:1 thì khi đó trứng sẽ rụng ra và hình thành thể vàng Thể vàng tồn tại cho đến khi gần đẻ nếu gia súc được thụ thai và nó chỉ tồn tại từ 3 - 15 ngày nếu trứng không được thụ tinh Sau đó thể vàng teo đi dưới tác dụng của PGF2αlàm co mạch máu ngoại vi nuôi thể vàng, lúc này thể vàng rơi vào tình trạng không được cung cấp chất dinh dưỡng và bị tiêu đi trong vòng 24h.Sau khi thể vàng teo biến dẫn đến kết quả làm hàm lượng progesteron giảm, lúc này FSH và LH được giải phóng làm trứng phát triển và chín, xuất hiện chu kỳ động dục tiếp theo.
Một chu kỳ động dục được tính từ lần thải trứng trước đến lần thải trứng sau và là khung thời gian sinh sản cơ bản ở các loài gia súc Các loài gia súc khác nhau có thời gian hình thành chu kỳ khác nhau; ở lợn, chu kỳ trung bình là khoảng 21 ngày, với phạm vi biến động từ 18 đến 24 ngày.
- 25 ngày,khi tiến hành phối giống lợn đã có thai thì lợn không động dục lại Thời gian mang thai của lợn là 114 ngày, thời gian động dục trở lại là 7 ngày sau cai sữa, dao động từ 5 - 12 ngày ( Hughes và Jame, 1996) [30]
* Khoảng cách giữa các lứa đẻ:
Khoảng cách giữa các lứa đẻ là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh sản của gia súc cái Đây là tính trạng bao gồm nhiều tính trạng tạo nên như: thời gian có chửa, thời gian nuôi con, thời gian cai sữa đến thụ thai lứa sau, do vậy khoảng cách lứa đẻ ảnh hưởng đến số con cai sữa/nái/năm Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy thời gian mang thai của lợn nái dao động không đáng kể (từ 113 - 115 ngày), đây là yếu tố ít biến đổi. Để rút ngắn khoảng cách các lứa đẻ ta chỉ có thể tác động rút ngắn thời gian bú sữa của lợn con bằng cách cai sữa sớm ở lợn con Để rút ngắn thời gian cai sữa, phải tập cho lợn con ăn sớm từ 5 ngày tuổi đến khi lợn con có thể sống bằng thức ăn được cung cấp, không cần sữa mẹ
Hiện nay các cơ sở chăn nuôi tập trung áp dụng chu trình nuôi lợn với thời gian cai sữa cho lợn con là 21 ngày Sau cai sữa 5–6 ngày, nái mẹ động dục và được phối giống lại, nên khoảng cách giữa các lứa đẻ trung bình khoảng 140 ngày Nhờ chu trình này, nái có thể sản xuất khoảng 2,5 lứa lợn mỗi năm.
* Sự thành thục về thể vóc
Thành thục về thể vóc thường diễn ra chậm hơn sự thành thục về tính Sau một thời kỳ sinh trưởng và phát triển kéo dài đến một ngưỡng nhất định, con vật mới đạt tới mức độ trưởng thành về thể vóc và các đặc điểm cơ thể dần hoàn thiện để đảm bảo chức năng sinh lý và thể lực.
Thời gian thành thục về thể vóc của lợn là 7 - 9 tháng
* Tuổi động dục lần đầu (TĐDLĐ)
Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên c ứu trong nướ c
Bệnh sinh sản có ảnh hưởng rất lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái; nó không chỉ làm giảm sức sinh sản của nái mà còn có thể gây vô sinh, chậm sinh và làm giảm tỷ lệ sống của lợn con, từ đó làm giảm hiệu quả chăn nuôi và lợi nhuận Hiểu được tác động này giúp người chăn nuôi nhận diện sớm các dấu hiệu và áp dụng các biện pháp quản lý sức khỏe sinh sản, dinh dưỡng đầy đủ và tiêm phòng phù hợp để cải thiện năng suất và chất lượng đàn lợn.
Theo Trịnh Đình Thâu và Nguyễn Văn Thanh (2010) [22], tỷ lệ lợn nái mắc bệnh viêm tử cung là tương đối cao, bệnh thường tập trung ở đàn lợn nái đẻ lứa đầu hoặc đã đẻ nhiều lứa.
Lợn con ở giai đoạn theo mẹ có khả năng sinh trưởng, phát dục rất nhanh
So với khối lượng sơ sinh thì lợn con ở 10 ngày tuổi tăng gấp 2 lần và ở 21 ngày tuổi tăng gấp 4 lần (Trần Văn Phùng và cs., 2004) [18] Nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng cao trong khi sữa mẹ sau 3 tuần tuổi giảm rõ rệt, vì vậy việc xác định thời gian cai sữa có ý nghĩa rất lớn tới số lứa đẻ/năm, sức khỏe của lợn mẹ và sự phát triển của đàn con sau cai sữa; cai sữa ở 3 tuần tuổi có thể nâng số lứa đẻ/năm lên 2,5 so với 8 tuần là 1,8–2 lứa, và tùy theo tập quán chăn nuôi có thể cai sữa ở 19 ngày (Mỹ) hoặc 23–28 ngày (Australia), nhưng tốt nhất nên cai sữa cho lợn con ở 21–28 ngày tuổi Theo Nguyễn Thiện và Hoàng Kim Giao (1996) [25], bộ máy tiêu hóa của lợn con phát triển nhanh nhưng khả năng chống đỡ bệnh tật ở đường ruột và dạ dày còn yếu, do đó cần chú ý vệ sinh chuồng trại, máng ăn, máng uống và áp dụng các biện pháp phòng ngừa bệnh đường tiêu hóa cao hơn.
2.3.2 Tình hình nghiên c ứ u ở nướ c ngoài
Bệnh sinh sản gặp ở lợn nái không chỉ là mối quan tâm riêng của nước ta mà cũng có rất nhiều nghiên cứu mới về tình hình bệnh sinh sản ở nước ngoài như:
Bidwell và Williamson (2005) đã nghiên cứu tình hình mắc bệnh sinh sản ở lợn nái do virus và vi khuẩn gây ra và đề xuất các biện pháp nhằm phát hiện sớm cũng như giảm thiểu nguy cơ nhiễm PRRS ở lợn nái sinh sản Các kết quả cho thấy việc triển khai hệ thống giám sát, xét nghiệm và quản lý chăm sóc chặt chẽ là cần thiết để nhận diện tác nhân gây bệnh và ngăn ngừa lây lan Để điều tra nguyên nhân gây nhiễm trùng của bệnh sinh sản, hồ sơ điều trị bệnh đóng vai trò then chốt, giúp xác định nguồn lây và mức độ ảnh hưởng của từng tác nhân.
Triệu chứng lâm sàng, trật tự xuất hiện các triệu chứng.
Kết hợp các xét nghiệm chẩn đoán phù hợp là cần thiết để xác định nguyên nhân và tình trạng bệnh của đàn heo con Gửi toàn bộ các mẫu lấy từ heo con bị hủy bỏ, chết non và nhau thai đến phòng thí nghiệm để được phân tích chi tiết, hoặc ít nhất gửi một lít huyết thanh từ các con tiêu hủy để thực hiện xét nghiệm huyết thanh.
Các phân tích từ phòng thí nghiệm là rất cần thiết để có biện pháp hạn chế sự bùng phát của dịch.
Andrew Gresham (2003) cho thấy ở Vương quốc Anh, bệnh sinh sản ở lợn có thể bắt nguồn từ yếu tố không nhiễm trùng và thường liên quan đến quản lý, dinh dưỡng hoặc môi trường; tuy nhiên, các bệnh sinh sản nhiễm khuẩn và bệnh dịch sinh sản kéo dài có thể gây thiệt hại đáng kể Các bệnh sinh sản truyền nhiễm ở Anh chủ yếu do nhiễm trùng bởi vi khuẩn, vi-rút và đôi khi nấm cũng như động vật nguyên sinh cư trú trong đàn lợn Thỉnh thoảng, sinh sản bị ảnh hưởng bởi nhiễm các tác nhân như hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp, Parvovirus và Leptospira.