Phạm trù “Tâm” của triết học Trung Quốc thời Tùy – Đường không chỉ có giá trị về mặt triết học mà còn có ảnh hưởng sâu sắc đến nền chính trị và tư tưởng của các triều đại phong kiến Trun
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN QUYẾT THẮNG
PHẠM TRÙ “TÂM” TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC
THỜI TÙY - ĐƯỜNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI – 2016
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN QUYẾT THẮNG
PHẠM TRÙ “TÂM” TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC
THỜI TÙY - ĐƯỜNG Chuyên ngành : Triết học
Mã số : 60 22 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Bùi Thị Thanh Hương
HÀ NỘI – 2016
Trang 3văn thạc sĩ
Hà Nội, ngày…… tháng… năm 2016
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
(Ký, ghi rõ họ tên)
Trang 4Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Luận văn
được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học PGS.TS Bùi Thị Thanh Hương
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào
Tác giả luận văn
TRẦN QUYẾT THẮNG
Trang 5MỞ ĐẦU 1
Chương 1: HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA SỰ RA ĐỜI PHẠM TRÙ “TÂM” TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC THỜI TÙY - ĐƯỜNG 6
1.1 Điều kiện kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội 6
1.2 Khái quát về triết học giai đoạn Tùy – Đường 16
1.3 Khái quát quan niệm về “Tâm” 29
Chương 2: NỘI DUNG CHỦ YẾU VÀ GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA PHẠM TRÙ “TÂM” TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC THỜI TÙY - ĐƯỜNG 33
2.1 Những nội dung cơ bản của phạm trù “Tâm” trong triết học Trung Quốc thời Tùy – Đường 33
2.2 Những giá trị và hạn chế của phạm trù “Tâm” trong triết học Trung Quốc thời Tùy – Đường 66
KẾT LUẬN 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 81 TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Có thể nói, phạm trù “Tâm” là một phạm trù trung tâm, là một trong những nội dung quan trọng nhất của các cuộc tranh luận trong chiều dài lịch
sử triết học Trung Quốc Phạm trù “Tâm” của triết học Trung Quốc thời Tùy – Đường không chỉ có giá trị về mặt triết học mà còn có ảnh hưởng sâu sắc đến nền chính trị và tư tưởng của các triều đại phong kiến Trung Quốc Suốt mấy ngàn năm tồn tại và phát triển, nhiều nội dung trong phạm trù “Tâm” của triết học Trung Quốc thời Tùy – Đường vẫn còn mang những giá trị khoa học
và thực tiễn Vì lẽ đó, việc nghiên cứu phạm trù “Tâm” trong triết học Trung Quốc thời Tùy – Đường để thấy được những giá trị tư tưởng của nó đối với thời đại ngày nay là một điều rất cần thiết
Trong xã hội hiện đại, sự phát triển của khoa học và công nghệ, sự hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng đã đem lại những thành quả rất to lớn cho nhân loại, làm thay đổi diện mạo của tất cả các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu mà các quá trình ấy mang lại
là những tác động tiêu cực của nhiều yếu tố như: mặt trái của nền kinh tế thị trường, mặt trái của quá trình hội nhập quốc tế, của toàn cầu hóa… đã làm “tha hóa” nhiều giá trị nhân văn, nhân đạo của con người (những hành vi vô nhân tính, lối sống tầm thường, vị kỉ của con người có chiều hướng gia tăng v.v) Thực trạng đó đã đặt một dấu hỏi lớn cho nhân loại là: Làm thế nào để kết hợp hài hòa giữa sự phát triển với việc gìn giữ những giá trị “Chân – Thiện – Mỹ” trong đời sống của xã hội hiện đại?
Hơn bao giờ hết, việc đề cao những giá trị nhân đạo, nhân văn trong xã hội hiện nay là một điều vô cùng cấp thiết Phạm trù “Tâm” trong triết học Trung Quốc thời Tùy – Đường với những nội dung của nó (đặc biệt là mối
Trang 7liên hệ mật thiết của nó với triết lý đạo Phật) đến nay vẫn còn giá trị quan trọng với xã hội đương đại
Xuất phát từ những lý do trên đây, tôi quyết định chọn: “Phạm trù
“Tâm” trong triết học Trung Quốc thời Tùy – Đường” làm đề tài luận văn
của mình
2 Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Triết học Trung Quốc thu hút sự quan tâm của nhiều học giả, nhiều nhà khoa học nổi tiếng trên thế giới và trong nước Đã có nhiều công trình
nghiên cứu về Triết học Trung Quốc Chẳng hạn: Lịch sử triết học Trung
Quốc của PGS.TS Trương Ngọc Nam (cb); Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc của PGS.TS Doãn Chính; Doãn Chính: Lịch sử triết học phương Đông, Nxb Chính trị Quốc gia, 2015; Đổng Tập Minh: Sơ lược lịch sử Trung Quốc, Nxb Ngoại văn, Bắc Kinh, 1963; Trung Quốc triết học sử đại cương, Hồ Thích Doãn Chính: Đại cương triết học Trung Quốc, Nxb Chính trị Quốc gia, 1997; Doãn Chính: Triết lí phương Đông – giá trị và bài học lịch sử, Nxb Chính trị Quốc gia, 2005; Doãn Chính:
Từ điển triết học Trung Quốc, Nxb Chính trị Quốc gia, 2010 Các công
trình vừa nêu có đề cập đến phạm trù “Tâm” với tư cách một phạm trù triết học, tuy nhiên nội dung không thật đủ và rõ nét
Các công trình Bàn về đạo Nho của Nguyễn Khắc Viện; Bàn về tôn
giáo của Nho giáo, Hà Thúc Minh; Nho giáo Việt Nam của Phan Đại
Doãn, Cát Kiếm Hùng: Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến
Trung Quốc – T.2: Nhà Đường, Lưỡng Tống, nhà Nguyên, Phong Đảo dịch, Nxb Văn hóa Thông tin, 2005; Cung Thị Ngọc: Vấn đề con người trong các học thuyết triết học Trung Quốc cổ đại, Nxb Chính trị Quốc
gia, 2014; Đặng Đức An: Lịch sử thế giới trung đại, Nxb Giáo dục, 1975;
Đỗ Minh Hợp: Tôn giáo phương Đông: Quá khứ và hiện tại, Nxb Tôn
Trang 8giáo, 2006; .v.v cũng có đề cập đến phạm trù “Tâm” ở những mức độ nhất định, dưới phương diện thông sử hoặc tôn giáo, chưa nghiên cứu
“Tâm” chủ yếu theo phương diện triết học
Các tác phẩm nghiên cứu tương đối kỹ về phạm trù “Tâm” với tư cách
là một trong số những nội dung triết học thời Tùy – Đường:
+ Nho giáo, Trần Trọng Kim (2003), Nxb Văn học, Hà Nội: tại
chương XIV, khi bàn về Nho giáo đời Tùy và đời Đường, tác giả đã đề cập đến các nhà tư tưởng là Vương Thông, Hàn Dũ trong đó có một số nội dung nhất định về phạm trù “Tâm”
+ Lịch sử triết học Trung Quốc - tập 2, Phùng Hữu Lan (2006), dịch
giả Lê Anh Minh, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội: tại chương 9 đề cập đến nội dung tư tưởng của phái Thiên Thai Tông, Duy Thức Tông, Thiền Tông, Hoa Nghiêm Tông trong đó có nhắc đến một số nội dung về phạm trù “Tâm”, tại chương 10, tác giả đã đề cập đến tư tưởng của Hàn Dũ về “Tâm”
Nghiên cứu chuyên biệt về phạm trù “Tâm” có một số tác giả, chẳng hạn
Trương Lập Văn có tác phẩm Tâm do ông chủ biên (1999), Nxb Khoa học Xã
hội, Hà Nội, tác phẩm đã trình bày tư tưởng “Tâm” trong nhiều giai đoạn của lịch sử Trung Quốc, trong đó thời Tùy – Đường Tuy nhiên nhiều nội dung, tên riêng của các đại biểu Phật giáo được đề cập không chính xác, diễn đạt còn khó hiểu, trùng lặp Ngoài ra, tác giả đã đánh giá không khách quan về Phật giáo…
Trên cơ sở kế thừa những giá trị trong các công trình nghiên cứu kể trên, luận văn sẽ đi sâu vào tìm hiểu nội dung của phạm trù “Tâm” trong triết học Trung Quốc thời Tùy – Đường
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn làm rõ nội dung của phạm trù “Tâm” trong triết học Trung Quốc thời Tùy – Đường, đánh giá những giá trị và hạn chế của các tư tưởng đó
Trang 93.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu bối cảnh lịch sử của sự ra đời phạm trù “Tâm triết học Trung
Quốc thời Tùy – Đường
Phân tích những nội dung cơ bản của phạm trù“Tâm” trong triết học Trung Quốc thời Tùy – Đường, từ đó đánh giá những giá trị và hạn chế của
nó từ lập trường duy vật biện chứng
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là phạm trù “Tâm” trong triết học Trung Quốc thời Tùy – Đường
Luận văn dựa trên cơ sở của Chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời kế thừa
có chọn lọc những công trình nghiên cứu của các tác giả có liên quan đến đề tài đã được công bố
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng tổng hợp các nguyên tắc phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp với các phương pháp so sánh, phân tích – tổng hợp, lôgic – lịch sử, phương pháp đi từ trừu tượng đến cụ thể
6 Cái mới của đề tài
Phân tích, làm rõ những những tư tưởng về phạm trù Tâm trong triết học Trung Quốc thời Tùy - Đường
Trang 10Đánh giá những giá trị và hạn chế của tư tưởng về phạm trù Tâm trong triết học Trung Quốc thời Tùy - Đường
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
7.1 Về mặt lý luận
Góp phần vào việc nghiên cứu phạm trù “Tâm” trong triết học Trung
Quốc thời Tùy – Đường
7.2 Về mặt thực tiễn
Góp phần vào việc đưa chữ “Tâm” vào đời sống xã hội hiện đại ở Việt Nam
8 Cấu trúc luận văn:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 11Chương 1 HOÀN CẢNH LỊCH SỬ CỦA SỰ RA ĐỜI PHẠM TRÙ “TÂM” TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC THỜI TÙY - ĐƯỜNG
1.1 Điều kiện kinh tế - chính trị - văn hóa - xã hội
Tư tưởng triết học bao giờ cũng nảy sinh và chịu sự quy định của những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, nhận thức trong những giai đoạn lịch sử cụ thể Chính vì vậy, nghiên cứu những yếu tố kinh tế, chính trị, xã hội, nhận thức, cơ sở làm nảy sinh tư tưởng cho phép con người cắt nghĩa, hiểu thêm một cách sâu sắc những tư tưởng đó
Tùy – Đường là hai giai đoạn nối tiếp nhau trong lịch sử phong kiến Trung Quốc, có sự phát triển khá rực rỡ về mọi lĩnh vực, đặc biệt về văn hóa, trong đó có triết học Nhà Tùy có niên đại gần 40 năm (từ năm 581 đến năm 618) còn nhà Đường có niên đại gần 300 năm (từ năm 618 đến năm 907) Đây là hai giai đoạn có nhiều điểm tương đồng về hoàn cảnh lịch sử
1.1.1 Điều kiện chính trị - xã hội giai đoạn Tùy – Đường
Nhà Tùy được hình thành trong điều kiện năm 577 Bắc Chu diệt Bắc
Tề, thống nhất được Hoa Bắc Sau khi có quyền lực, Hoàng đế nhà Tùy là Bắc Chu Tuyên Đế sống hưởng thụ xa xỉ, bỏ bê việc nước, khiến đất nước rơi vào khủng hoảng Đến năm 580, Tuyên Đế mất, Dương Kiên trợ giúp Vũ Văn Xiển còn nhỏ tuổi lên kế vị, Dương Kiên trở thành thừa tướng phụ chính Năm 581, Vũ Văn Xiển thoái vị cho thừa tướng Dương Kiên lên làm vua, tức Tùy Văn Đế, lập nên nhà Tùy Tuy nhiên, Trung Quốc lúc này lại bị chia cắt, nên Tùy Văn Đế phát động chiến tranh và đến năm 590 thì thống nhất đất nước
Trang 12Sau khi thống nhất, để củng cố chính quyền, Văn Đế áp dụng hàng loạt các chính sách mới như: phế trừ chế độ lục quan chế từ thời Bắc Chu, phát triển hệ thống trung ương tập quyền, ban hành luật pháp mới phù hợp với thực tiễn giúp hệ thống chính trị thoát khỏi trì trệ Triều Tùy cũng dung hòa các thế lực quý tộc trong nước, hình thành một tập đoàn có tài lực; sử dụng được nhiều nhân tài về chính trị, quân sự, mưu lược Tuy nhiên, cuối đời Văn
Đế, cuộc chiến tranh giành quyền lực nổi lên và dẫn tới việc con thứ là Dương Quảng lên kế vị, tức Tùy Dạng Đế
Tùy Dạng Đế lên ngôi phát động nhiều cuộc chiến tranh trong tình hình đất nước thường xuyên gặp thiên tai, dẫn đến hao tổn sức dân, lòng người oán thán Trong nước nổi lên nhiều lực lượng cát cứ âm mưu lật đổ chính quyền Sức mạnh của trung ương không đủ để dẹp yên các cuộc nổi dậy này, dẫn đến việc từ năm 616 đến năm 618 liên tiếp xảy ra các cuộc chính biến để rồi đến tháng 6 năm 618, Lý Uyên ép Tùy Dạng Đế nhường ngôi, lập lên triều Đường
Sau khi lên nắm quyền, Lý Uyên tổ chức quân đội dẹp loạn và thống nhất lại được Trung Quốc Đến đời con ông tức Đường Thái Tông – Lý Thế Dân, nhà Đường bước vào giai đoạn hưng thịnh Thái Tông chăm lo việc trị nước, trọng dụng kẻ can gián, thi hành nhiều chính sách tiến bộ như chế độ quân điền, tô dung điều chế, giúp cho chính quyền trung ương được vững chắc
Dù vậy, đến cuối thời Đường Thái Tông, cuộc chiến tranh giành quyền lực lại nổ ra kéo dài trong nhiều năm, dẫn đến việc Võ Tắc Thiên lên ngôi và lập lên nhà Võ Chu Triều đại này kéo dài khoảng 15 năm song các sử gia vẫn coi đây là một giai đoạn trong lịch sử chính trị nhà Đường
Đến năm 705 tôn thất nhà Đường giành lại được chính quyền nhưng chỉ 5 năm sau các vương thất lại làm chính biến và cuộc chiến tranh giành
Trang 13quyền lực kéo dài đến năm 713 mới kết thúc Nền chính trị của nhà Đường ổn định trong khoảng 40 năm cho đến cuối năm 755 diễn ra loạn An Sử và phải đến năm 761 mới dẹp xong Cuộc phản loạn này khiến cho chính trị nhà Đường suy yếu, hình thành nên các thế lực cát cứ, hoạn quan chuyên quyền Đến năm 805 sau khi Đường Đức Tông băng hà thì nền chính trị nhà Đường tưởng chừng như đã sụp đổ
Tuy nhiên hai đời vua sau là Đường Thuận Tông và Đường Hiến Tông đã khôi phục lại sự hưng thịnh của nhà Đường: siêng năng việc cai trị, do duyệt tấu chương, ưu nghe lời can gián, rộng rãi bao dung, nhưng đến năm 820 sau sự kiện Hiến Tông bị sát hại, thời kì trung hưng nhà Đường chấm dứt, Trung Quốc lại lâm vào tình trạng cát cứ và sự lộng hành của hoạn quan
Tình trạng khủng hoảng chính trị này kéo dài trong vòng 40 năm, liên tiếp các đời vua như Mục Tông, Kính Tông, Văn Tông, Vũ Tông bị hoạn quan hoặc gian thần tranh giành quyền lực, nhiều trung thần bị đày ải hoặc sát hại Phải đến đời Đường Tuyên Tông, tình trạng khủng hoảng này mới được chấm dứt
Sau đời Tuyên Tông, các đời vua sau là Ý Tông và Hi Tông đều là những ông vua không có năng lực, chỉ lo vui chơi hưởng lạc, ít khi lo việc quốc sự, khiến nhà Đường ngày càng xuống dốc, nhiều cuộc khởi nghĩa nổ
ra khắp nơi Đến năm 903, Đường Chiêu Tông (em của Hi Tông) bị sát hại Đường Ai Đế lên ngôi, lúc này nhà Đường bề ngoài còn tồn tại mà thực ra đã tiêu vong Đến năm 907, Chu Toàn giết Ai Đế, tự lên ngôi, lập lên Hậu Lương, nhà Đường hoàn toàn bị diệt vong
Có thể nói, lịch sử suy vong của nhà Đường gắn chặt với nạn chuyên quyền của thế lực hoạn quan và sự hưởng lạc, không chăm lo triều chính của
các vị vua
Trang 141.1.2 Điều kiện kinh tế
Kinh tế thời Tùy – Đường khá phát triển, trước hết do nó được sự chăm
lo về chủ trương từ nhà nước Các vị vua thời kì này ban hành khá nhiều chính sách với mục đích phát triển kinh tế
Trong nông nghiệp, Tùy Dạng Đế ban hành nhiều chính sách giảm nhẹ
tô thuế, lao dịch, quản lý chặt chẽ hộ khẩu Ông đề ra quân điền chế với mục đích phân phối hợp lý ruộng đất từ bậc thân hầu, quan lại đến người bình dân, trong đó có những loại ruộng được ban mà không cần trả lại (gọi là vĩnh nghiệp điền); những loại ruộng sau khi chủ sở hữu qua đời thì giao lại cho quan phủ để phân phối cho người khác (gọi là lộ điền) Dạng Đế còn miễn tô thuế cho phụ nữ, nô tì là nữ giới; lao dịch và tô thuế, thuế vải chỉ dựa trên số lượng đàn ông mà thu nộp Điều này đã kích thích sản xuất nông nghiệp, diện tích ruộng cày ngày càng tăng, từ khi mới lập ra nhà Tùy, diện tích đất canh tác là 19.404.167 khoảnh thì đến thời Tùy Dạng Đế đã tăng lên thành 55.854.040 khoảnh Giá cả lương thực được kiểm soát, ngay cả khi thiên tai bão lũ, giá cả lương thực cũng không tăng đáng kể Các vị vua Tùy – Đường cũng quan tâm nhiều đến thủy lợi, nhiều công trình thủy lợi được xây dựng cải tạo hoặc tu sửa như ở thời Tùy tu sửa ở An Huy, thời Đường tiến hành xây dựng, cải tạo kênh mương ở Sơn Tây, Hà Bắc, Tứ Xuyên, Hồ Nam
Ngoài ra, trên cơ sở kế thừa chế độ kinh tế cũ thời Bắc Chu, vua Tùy Văn Đế ban hành chế độ tô dung điều chế, nhà vua cho xây cất nhiều kho lớn tính trữ lương thảo tại Trường An, Lạc Dương, Lạc Khẩu, Thiểm Tây Số lương tích trữ đủ dùng trong 50 đến 60 năm với nhiều mục đích khác nhau
Có những kho chứa dùng khi gặp phải nạn nhỏ, có kho chứa chỉ dùng khi gặp hạn lớn, có những kho chuyên tích trữ phòng khi mất mùa hạn hán Sử còn ghi lại: “mỗi cặp vợ chồng được phát cho hai chục mẫu để làm, già hoặc chết
Trang 15thì đất trở về triều đình Năm nào mất mùa thì miễn thuế Ông lại lập những nghĩa sương, kho lúa để phát chẩn cho dân nghèo” [27, tr.239]
Tuy nhiên, dù mục đích khá tích cực, song do triều Tùy tập trung quá mức lương thực và vật tư của quốc gia, nên dẫn đến gánh nặng cho dân chúng Có những thời điểm khi thiên tai địch họa, quan lại giữ kho vì sợ hao hụt quá nhiều mà không phát lương cứu tế dân chúng Không chỉ vậy, tuy tích trữ lương thảo được nhiều nhưng đời sống nhân dân lại gặp khó khăn, do đó sau này khi xảy ra bạo loạn lật đổ nhà Tùy, các kho lương chính là địa điểm tập kích của các phiến quân
Đất đai thời kì này được tập trung khai khẩn, ngoài sử dụng để trồng cây lương thực thì còn trồng nhiều những giống cây khác như ở thời Đường Thái Tông trồng mía để làm đường, trồng chè với kỹ thuật cao,
Trong thủ công nghiệp, ngành nghề dệt tơ được khuyến khích phát
triển, xuất hiện kĩ thuật nhuộm cả hai mặt vải với nhiều hoa văn đẹp đẽ Hình thành các vùng nổi tiếng với sản phẩm tơ lụa đẹp, đắt giá như Tứ Xuyên, Giang Nam, Hà Nam; Kĩ thuật làm gốm sứ, tráng men đã được nâng cao: “kĩ thuật đã tiến bộ lắm, đã nung được những bộ trà khá đẹp” [27, tr.276] Hoa văn thiết kế trên đồ gốm sứ hết sức tinh xảo như có hình thiên nga, hình rồng phượng Việc chế tác đồ trang sức vàng bạc được nâng lên, học được cách nung với kĩ thuật cao, vàng bạc làm ra tinh khiết không lẫn tạp chất Các sản phẩm không chỉ tiêu dùng trong nước mà còn xuất sang nhiều nước như Ba
Tư, Ấn Độ, Tây Vực, Nghề đóng tàu cũng được chú trọng phát triển Khi Tùy Dạng Đế tuần du Giang Nam, hàng nghìn chiếc thuyền được đóng, có những chiếc có 5 tầng lầu, cao hơn 150 m
Ngoài ra, các triều đình còn đưa một số lượng lớn các thợ thủ công ưu
tú từ các địa phương lên kinh đô ở Trường An và Lạc Dương nhằm phục vụ
Trang 16cho nhu cầu của thân vương quí tộc Ở đời Đường, triều đình ban hành chính sách phân chia thủ công nghiệp thành hai loại là quan doanh và tư doanh Quan doanh lo việc chế tạo các đồ thủ công nghiệp tinh xảo, vũ khí, khí tài cho chiến tranh, luyện kim Các sản phẩm của quan doanh không đem ra trao đổi bên ngoài mà chỉ sử dụng lưu hành trong nội bộ hoàng gia và tại các nha môn quan lại Tư doanh là do người dân tự quản lý và sản phẩm được phép lưu hành rộng rãi trong nước Thợ thủ công thời khì này cũng phân chia thành thứ bậc giữa thợ giỏi có tay nghề cao với thợ kém có tay nghề thấp
Trong thương nghiệp và giao thông, dưới những chính sách tiến bộ,
thương nghiệp của cả hai thời kì đều rất phát triển, nhiều đô thị thương nghiệp phồn hoa mọc lên như Trường An và Lạc Dương, là những đô thị hiếm thấy ở phương Đông đương thời
Trường An có hai chợ đông, tây, chợ đông tên là Đô Hội, chợ tây tên là Lợi Nhân, thu hút rất nhiều thương nhân ngoại quốc, đây được coi là nơi
“quốc tế mậu dịch” [27, tr.241]; Lạc Dương là nơi tập kết và phân phối hàng hóa hai miền nam - bắc Lạc Dương có ba chợ, chơ đông tên là Phong Đô, chợ nam tên là Đại Đồng, chợ bắc tên là Thông Viễn, diện tích các chợ đều rất lớn, nhất là chợ Thông Viễn: có đến 20 cửa để vào chợ, thương nhân thường xuyên tụ họp, thuyền đò neo đậu trên kênh có lúc lên đến cả vạn chiếc Đã xuất hiện những người bán buôn với số lượng lớn
Ngoài ra còn có Giang Đô là nơi tập trung chuyên chở hàng hóa của vùng Giang Nam, các thành thị thương nghiệp như Tô Châu, Hàng Châu, Kinh Hoa, Thiệu Hưng Quảng Châu là trung tâm trong hoạt động mậu dịch quốc tế, hình thành lên con đường tơ lụa trên biển: “ngoài con đường tơ lụa
mở trở lại nhờ Thái Tôn đặt lại cuộc đô hộ Tây Vực, còn nhiều đường khác thông các nước Tây Á, đưa đến Ấn Độ, Đông Âu” [27, tr.276] Thông qua
Trang 17con đường này, hàng hóa tới các nước Ba Tư, La Mã, Nhật Bản, các nước thuộc Đông Nam Á Nhiều thương nhân từ Ả Rập, Ấn Độ thường xuyên qua lại trao đổi Từ thương nghiệp phát triển sầm uất, tiền thuế thu được đã đóng góp rất lớn cho ngân khố quốc gia và nhân dân còn “học được phép ép mía nấu thành đường của Ấn Độ; học được cách làm rượu nho của người Tây Vực truyền vào, lại học được cách trồng bông vải của Nam Dương” [27, tr.275]
Trong lĩnh vực tiền tệ, nhìn chung cả hai triều đại đã có nhiều biện
pháp quản lý chặt chẽ tiền tệ, song do tiền tệ chưa thống nhất, đặc biệt sau nhiều biến cố chính trị, vấn đề quản lý tiền tệ lại bị buông lỏng nên dẫn đến đồng tiền mất giá trị Mặt khác do trao đổi phát đạt nên có những thời điểm tiền ban hành không đủ dùng, tư nhân vì hám lợi nên tự ý đúc tiền giả: “có thời tiền của triều đình đúc không đủ cho dân chúng dùng, hóa hiếm, lên giá, dân đúc tiền giả” [27, tr.276]
1.1.3 Sự phát triển văn hóa
Học thuyết Mác-Lênin về hình thái kinh tế xã hội khẳng định rằng, cơ
sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng, nếu cơ sở hạ tầng phát triển, tất yếu sẽ kéo theo sự phát triển của kiến trúc thượng tầng Qui luật đó hoàn toàn đúng với mối quan hệ giữa kinh tế với văn hóa của hai thời Tùy – Đường Chính nhờ sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế đã làm cho văn hóa thời kì nảy phát triển rực rỡ, nhất là ở thời Đường, trở thành một trong những thời kì hoàng kim của lịch sử phong kiến Trung Quốc
Trong lĩnh vực khoa học xã hội, đối với văn học, thời Tùy không có
những nhà văn lớn, chỉ có một số nhân vật tiêu biểu như Đỗ Chính Tàng với
các tác phẩm “Văn chương thể thức”, hay bản thân vua Tùy Dạng Đế cũng là một nhà thơ với tác phẩm “Giang Đô cung lạc ca” Nhưng đến thời Đường,
văn học, nhất là thơ ca phát triển vượt bậc, trở thành thời kì đỉnh cao về thơ ca
Trang 18trong lịch sử Trung Hoa Ngay từ đầu thời Đường, đã có “sơ Đường tứ kiệt”
là 4 nhà thơ kiệt xuất, bao gồm: Vương Bột, Dương Quýnh, Lư Chiếu Lân và Lạc Tân Vương Đến giai đoạn giữa thời Đường thì có các tác giả như Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Sầm Tham, Vương Xương Linh và đặc biệt là “thi tiên” Lý Bạch và “thi thánh” Đỗ Phủ Thơ của Lý Bạch nhẹ nhàng bồng bềnh
tự nhiên không bó buộc, lại có sắc thái chủ nghĩa lãng mạn, ông làm đến hơn
1000 bài thơ, trong đó có những bài nổi tiếng như “Tương Tiến Tửu”, “Hiệp
khách hành”, “Thanh Bình Điệu”, “Hành lộ nan”, Thơ của Đỗ Phủ thì thể
hiện tâm trạng về chủ nghĩa hiện thực, ông nổi tiếng với các bài như “Nguyệt
dạ”, “Xuân vọng”, “Đăng nhạc dương lâu”, “Giang bạn độc bộ tầm hoa”,
Ngoài ra cũng có các nhà thơ nổi tiếng khác như Bạch Cư Dị, Hàn Dũ, Liễu Tông Nguyên, Lý Hạ, Ở thời nhà Thanh, khi tiến hành sưu tầm thơ nhà
Đường để tổng hợp cuốn “Toàn Đường thư”, đã ghi nhận có đến 48.900 bài
thơ của hơn 2200 nhà thơ khác nhau
Thời Tùy – Đường rất thịnh hành thể loại tản văn với thủ pháp đối ngữ, điển cố, từ ngữ được chau chuốt đẹp đẽ, tiêu biểu là Hàn Dũ Thể loại truyền
kì thời kì này cũng phát triển, với các tác phẩm nổi tiếng như “Liễu nghị
truyện”, “Oanh oanh truyện”, “Nam Kha thái thú truyện”,
Trong sử học, việc biên soạn sách sử chỉ do triều đình đảm nhiệm, dân chúng không được phép viết, bình luận về các nhân vật lịch sử Tuy hạn chế trong việc sáng tác như vậy, song cũng để lại nhiều tác phẩm giá trị như
“Tấn thư”, “Lương thư”, “Trần thư”, Trong “Nhị thập tứ sử” (12 bộ sử
kinh điển) nổi tiếng của Trung Hoa thì đã có tới 8 bộ sử được hoàn thiện dưới thời nhà Đường Sách sử được ghi chép rất sắc bén, rõ ràng các nguồn, nội dung phong phú, nhưng vì triều đình trực tiếp quản lý lĩnh vực này nên việc chép sử có phần hạ thấp đời trước và cường điệu quá mức về sự hưng thịnh của nhà Đường
Trang 19Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, các thành tựu phát triển mạnh nhất ở
thời Tùy Ngành toán học được chú trọng, triều đình lập Quốc Tử Giám có ban toán học chuyên môn bồi dưỡng nhân tài toán học Lịch pháp đã có phần
tỉ mỉ và chính xác hơn, xác định đúng được lịch nhật thực, nguyệt thực Y học cũng được đẩy mạnh, triều đình đặt ra “đại y thự” để quản lý ngành này Y học lâm sàng xuất hiện xu thế phân khoa, thành hai bộ phận là y học và dược học Ngay trong bản thân phân khoa y học lại chia thành bốn khoa là y khoa, châm cứu, án ma (đấm bóp), chú cấm; y khoa lại phân thành 5 môn là thể liệu (nội khoa), thiếu tiểu (nhi khoa), sang thủng (ngoại khoa), nhĩ mục khẩu xỉ (tai mắt mồm răng) và giác pháp Triều đình tiến hành dịch ra tiếng Hán hơn
10 loại y thư của Thiên Trúc và Tây Vực, đồng thời cho biên soạn “Tứ hải
loại tụ phương” gồn 2600 quyển chuyên về lý luận y thuật Ngoài ra thời kì
này có đại biểu nổi tiếng nhất là Sào Nguyên Phương với sách “Chư bệnh
nguyên hậu luận” chuyên về phân tích chi tiết các loại bệnh tật, nguyên nhân
của bệnh, bệnh lý Đến thời Đường thì phát minh ra thuốc nổ và bản in mộc
ấn - nằm trong Tứ đại phát minh của Trung Quốc
Trong lĩnh vực nghệ thuật, hội họa hay lấy nhân vật hay cố sự thần tiên
làm chủ đề, phối cảnh hợp lý, tỉ lệ xa gần vật cảnh được chú trọng Thời Đường có hai họa sĩ rất nổi tiếng là Diêm Lập Bản và Diêm Lập Thức Tranh sơn thủy, bích họa cũng là một nét đặc sắc của thời kì này
Trong lĩnh vực tôn giáo, thời kỳ Tùy – Đường chứng kiến sự phát triển
nở rộ của ba giáo phái: Nho, Lão, Phật Tuy nhiên từng giai đoạn nhỏ thì mỗi giáo phái lại có sự hưng thịnh khác nhau Thời Tùy, Phật giáo rất được chú trọng, Tùy Văn Đế đón mời tăng lữ ẩn cư xuất sơn, hiệu triệu tín đồ Phật giáo, cho phép nhân dân tùy ý xuất gia, đồng thời tôn Phật giáo lên thành quốc giáo Sang đến thời Tùy Dạng Đế, triều đình cũng đưa ra nhiều chính sách giúp đỡ Phật giáo, bản thân Tùy Dạng Đế còn thụ giới từ Trí Giả đại sư của Thiên Thai
Trang 20Tông, trở thành đệ tử của Phật giáo Triều Tùy cho xây dựng hơn 5 nghìn chùa tháp, tạo hàng vạn tượng Phật, đồng thời phiên dịch hàng vạn kinh Phật, khiến kinh Phật được lưu truyền phố biến hơn rất nhiều so với kinh Nho
Đến thời Đường, Phật giáo đã phát triển cực thịnh “sự toàn thịnh của Phật giáo, các đời sau không theo kịp được” [27, tr.282] và lên đến 10 tông phái, bao gồm: Tịnh Độ Tông, Luật Tông, Thiền Tông, Duy Thức Tông, Hoa Nghiêm Tông, Mật Tông, Thiên Thai Tông, Câu Xá Tông, Thành Thật Tông, Tam Luận Tông Tư tưởng Phật giáo được truyền bá sâu rộng trong nhân dân
Lão giáo cũng có nhiều điểm đáng chú ý, triều đình thiết lập chế độ đạo
cử, quy định sĩ nhân cần hiểu rõ được “Đạo đức kinh” Các đạo sĩ thời kì này
thường lợi dụng việc “phù mệnh” (điềm báo của trời) nhằm thay đổi triều đại Việc luyện kim đan được đẩy mạnh nhằm thỏa nỗi khao khát sống trường sinh bất tử của các vị vua Tuy việc luyện kim đan cũng thường bị biến tướng mang tính chất huyền hoặc mê tín, song nó cũng góp phần nhất định vào việc phát triển y học Trong thời này, các đạo sĩ Lão giáo đã tu luyện tới phép
“tịnh cốc thuật” nhằm tu luyện thành tiên, tịnh cốc thuật chủ trương không ăn ngũ cốc mà chỉ uống nước và ăn hàn thực để sống Thời Đường, do Lão Tử mang họ Lý, mà hoàng tộc nhà Đường cũng họ Lý (bắt đầu là Lý Uyên, Lý Thế Dân), nên hình thành luồng dư luận cho rằng hoàng tộc nhà Đường là con cháu của Lão Tử, do đó Lão giáo được coi trọng Có thời điểm Đường Cao Tổ
yêu cầu tất cả các quan lại phải nghiên cứu Lão Tử và “Đạo Đức kinh” Triều
đình nâng tầm Lão giáo ngang với Nho giáo, hệ thống khoa cử đều yêu cầu thí sinh phải thông thuộc lý luận của cả hai giáo phái này Đến đời Đường Huyền Tông, triều đình lập tới 1687 cung quán Lão giáo
Trong lĩnh vực giáo dục, Nho học được mở mang Cả hai triều Tùy, Đường đều mở ra Quốc Tử Giám, nhà Thái học, Tứ môn học ở kinh đô thu hút
Trang 21hàng nghìn sĩ tử trong lẫn ngoài nước về học tập Thời trước các vị vua vẫn sùng bái Khổng Tử song chưa tôn danh hiệu, đến thời Vua Đường Thái Tông thì
“Khổng tử làm Tiên thánh và Nhan Hồi làm Tiên sư chung thờ với Chu công ở nhà Thái học Năm Khai nguyên thứ 27 (739), vua Huyền tông có chiếu truy thụy Khổng tử là Văn tuyên vương để theo vương lễ mà thờ.” [16, tr.372]
Không chỉ mở mang trường học Nho ở cấp trung ương, ngay cả các địa phương cũng nối tiếp nhau lập thêm trường học Các học giả Nho học xuất hiện rất nhiều Nho gia có địa vị không thể thiếu trong việc trị quốc, cổ vũ khuyến học hành lễ
Nhìn chung, tuy có thăng, trầm nhưng Tùy, Đường là hai giai đoạn phát triển thịnh vượng về kinh tế, văn hóa, xã hội của Trung Quốc Sự thịnh vượng của xã hội tạo điều kiện thuận lợi cho đời sống tinh thần phát triển phong phú, sâu sắc về nội dung, đa dạng, nhiều vẻ về hình thức
1.2 Khái quát về triết học giai đoạn Tùy – Đường
Triết học Trung Quốc vốn có sự phát triển rực rỡ từ trước công nguyên nhiều thế kỷ, với rất nhiều hệ thống triết học có sự ảnh hưởng vô cùng sâu rộng ở phương Đông trong đó có Việt Nam Triết học Trung Quốc ra đời trong điều kiện xã hội loạn lạc, chiến tranh liên miên, trật tự, cương thường xã hội bị đảo lộn thời Đông Chu Trong điều kiện đó, đặc trưng nổi trội của triết học Trung Quốc là tính chính trị - xã hội của nó Hầu hết các học thuyết triết học đều đề cập chủ yếu đếncác vấn đề chính trị - xã hội, các mối quan hệ chính trị - xã hội Các học thuyết triết học theo những cách khác nhau đều đưa
ra những chủ trương trị nước của phái mình; đều đề xuất những mẫu hình để xây dựng một xã hội ổn định hơn; đều xây dựng những chuẩn mực các mối
quan hệ xã hội theo quan niệm của mình, chẳng hạn những chuẩn mực Nhân,
Lễ, Chính danh của Nho gia, những nguyên tắc Bất tranh, Tri túc của Đạo
Trang 22gia, hay những chuẩn mực pháp luật của Pháp gia… Nền triết học với những nội dung hết sức phong phú và sâu sắc đó tồn tại và không ngừng được bổ sung trong suốt lịch sử phong kiến Trung Quốc
Trong dòng chảy của sự kế thừa và bổ sung đó, có những giai đoạn các học thuyết triết học phát triển khởi sắc, cũng có những giai đoạn nó chỉ tồn tại yếu ớt, do những điều kiện trong tồn tại xã hội quy định Thời Tùy – Đường, như vừa phân tích, nhìn chung có sự phát triển đi lên cả về kinh tế, xã hội và các thành tựu văn minh, cũng là một thời kỳ thuận lợi cho sự phát triển của triết học
Xã hội Trung Quốc thời Tùy – Đường vẫn có sự tồn tại của nhiều hệ tư tưởng triết học truyền thống với Âm dương gia, Ngũ hành gia, Nho gia, Đạo gia, Pháp gia …, Phật giáo cũng đã du nhập vào Trung Quốc và giữ một vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần Phật giáo cùng với Đạo giáo và Nho giáo, gọi chung là tam giáo chiếm vị trí chủ đạo trong lĩnh vực tư tưởng, quan niệm “Tâm” cũng chủ yếu gắn với ba hệ thống tư tưởng này
1.2.1 Nho giáo
Các tư tưởng Nho giáo được manh nha từ trước thời Khổng Tử từ khá lâu Chữ Nho ban đầu được dùng để chỉ những người đọc sách thánh hiền, thông hiểu qui luật tự nhiên của đất trời, con người, vạn vật Những người này
có thể giúp mọi người hiểu rõ đạo ăn ở, đối nhân xử thế, họ thường là nhà giáo, người trị quốc, song các tư tưởng Nho giáo này mới chỉ tồn tại rải rác, chưa thành hệ thống Chỉ đến khi Khổng Tử và sau này là Mạnh Tử, Tuân Tử, Đổng Trọng Thư, những tư tưởng Nho giáo được hệ thống hóa, và sáng tạo thêm để thành một học thuyết hoàn chỉnh, trong đó bàn về các vấn đề: quan niệm về thế giới – bàn về lẽ tự nhiên, trời đất; quan niệm về con người – xây dựng những quy tắc, chuẩn mực đạo đức để điều chỉnh hành vì của con người
Trang 23trong xã hội; quan niệm về chính trị xã hội – nêu lên đạo trị nước và mô hình
xã hội lý tưởng, Lẽ dĩ nhiên, các đại biểu Nho giáo thời Tùy – Đường kế thừa toàn bộ những tư tưởng của Nho giáo thời cổ đại, song xét trên phương diện phạm trù “Tâm”, thì các nhà tư tưởng thời kì này kế thừa tư tưởng Nho giáo ở những vấn đề sau đây:
Một là, tư tưởng của Khổng Tử về “Trời”, về quỷ thần Khi bàn về
“Trời”, ông đưa ra nhiều quan niệm khác nhau Có chỗ ông cho rằng “Trời” là quy luật vốn có của tự nhiên: “Tứ thời hành yên, bá vật sinh yên, thiên hà ngôn tai?” [Trích theo 34, tr.436] nghĩa là trời có nói gì đâu, bốn mùa vẫn thay đổi, trăm vật vẫn sinh trưởng; hay “Thệ giả như tư phù, bất xả trú dạ” [Trích theo 34, tr.219] nghĩa là cũng như dòng nước chảy mọi vật đều trôi đi, ngày và đêm không có vật gì ngừng nghỉ Song có chỗ ông lại khẳng định
“Trời” dường như là một chủ thể có ý chí, có quyền lực tối cao của vũ trụ:
“Bất nhiên Hoạch tội ư nhiên, vô đảo dã” [Trích theo 34, tr.66] nghĩa là kẻ mắc tội với trời, dẫu cầu đảo tới vị thần nào cũng không khỏi; hay “Than ôi! trời làm mất đạo ta” [Trích theo 47, tr.31] Vậy có thể hiểu “Trời” theo quan niệm của Khổng Tử vừa là qui luật, vừa là điều gì đó thần bí, siêu nhiên
Đối với quan niệm về quỉ thần Khổng Tử cho rằng quỷ thần là do khí thiêng trong trời đất tạo thành, tuy mắt chúng ta không nhìn thấy, tai chúng ta không nghe thấy, tay chúng ta không sờ thấy, nhưng quỷ thần vẫn tồn tại:
“dương dương hồ hồ như tại kỳ thượng, tại kỳ tả hữu” [Trích theo 34, tr.1276], Khổng Tử chủ trương cung kính tế lễ “tế thần như thần tại” [Trích theo 34, tr.65] Tuy cung kính là vậy, song ông lại có tư tưởng không mê tín, không lại gần, như vậy mới là người có trí: “Vụ dân chi nghĩa; kính quỉ thần nhi viễn chi; khả vị trí hỹ” [Trích theo 34, tr.142] Mặc khác, ông kêu gọi mọi người hãy chú trọng vào việc xây dựng cuộc sống của mình bởi: “Quý Lộ vấn
sự quỉ thần Tử viết “Vị năng sự nhân, yên năng sự quỉ?” Viết: “Cảm vấn
Trang 24tử?” Viết: “Vị tri sinh, yên tri tử?” [Trích theo 34, tr.258], nghĩa là đạo thờ người còn chưa biết hết thì sao biết được đạo quỉ thần Không hiểu được con người sống, thì không có tư cách hỏi chuyện sau khi chết Cũng theo Khổng
Tử, trí thông minh, sự khôn ngoan của con người đối lập với mê tín quỉ thần
Hai là, kế thừa tư tưởng của Nho giáo về vấn đề đạo đức Theo quan
niệm của Khổng Tử, “Đạo” chính là năm mối quan hệ xã hội cơ bản của con người, được gọi là nhân luân (sau này Mạnh Tử gọi là ngũ luân), gồm có: vua – tôi, cha – con, chồng – vợ, anh – em, bạn bè Cốt lõi của ngũ luân là tam cương, do Đổng Trọng Thư (179 – 104 tr.CN) phát triển Tam cương là ba trong năm mối quan hệ xã hội cơ bản kể ở trên, gồm có có mối quan hệ vua – tôi, cha – con, chồng – vợ Tuy không đề cập đến tam cương nhưng Khổng
Tử đã nhấn mạnh: “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” [Trích theo 34, tr.290] tức là vua ra vua, bề tôi ra bề tôi, cha ra cha, con ra con Tam cương bắt đầu được đề cập và chú trọng đặc biệt từ thời nhà Hán
“Đức” chính là các phẩm chất cần thiết mà con người cần phải có để thực hiện tốt năm mối quan hệ trên Bản thân tư tưởng đạo đức Nho giáo trong mỗi thời kì lịch sử thì các “Đức” có sự bổ sung, sắp xếp vị trí khác nhau Khổng Tử nhấn mạnh “Đức” cơ bản của con người là trí, nhân, dũng:
“Trí, nhân, dũng, tam giả, thiên hạ chi đạt đức dã” [15, tr.127] Mạnh Tử lại nêu lên tứ đức là nhân, lễ, nghĩa, trí Đến thời Đổng Trọng Thư thì nêu lên ngũ thường là nhân, lễ, nghĩa, trí, tín
Mỗi phạm trù của Nho giáo đều có một nội dung cụ thể:
Nhân có nghĩa là yêu người: “Phàn Trì vấn nhân Tử viết: “Ái nhân”
[15, tr.493] Kẻ nào thiếu tình yêu thương này bị gọi là kẻ bất nhân, người nào
có lòng yêu thương con người là có đức nhân Đã là người có đức nhân thì phải là người “trung”, “thứ” “Trung” là: “Phù nhân giả, kỉ dục lập nhi lập
Trang 25nhân, kỉ dục đạt nhi đạt nhân” [15, tr.340] nghĩa rằng người nhân là người mà muốn lập thân thì cũng giúp người khác lập thân, mình muốn thành đạt thì cũng giúp người khác thành đạt “Thứ” là “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” [Trích theo 34, tr.187] nghĩa rằng điều gì mình không muốn thì chớ làm cho người khác Vậy “trung”, “thứ” nghĩa là từ lòng mình mà suy ra lòng người Nhân còn có nghĩa là đối với bản thân mình thì cần loại bỏ tư dục, thực hiện đúng theo lễ: “khắc kỉ phục lễ vị nhân” [15, tr.471] Nhân có gốc là hiếu đễ, nghĩa rằng đạo làm người phải tận hiếu với cha mẹ, tận trung với vua, chỉ khi biết hiếu thảo thì mới thi hành đạo được: “Hiếu đễ dã giả kì vi nhân chi bản dư” [15, tr.197]
Lễ là qui định bắt buộc về mặt đạo đức trong quan hệ ứng xử giữa
người với người: Con cái phải có hiếu với cha mẹ, bề tôi phải trung với vua, chồng vợ có nghĩa với nhau, anh em phải trên kính dưới nhường, bạn bè phải giữa được lòng tin chữ tín với nhau; Lễ là trật tự, là kỉ cương phép nước mà mọi người phải tuân theo Khổng Tử yêu cầu mọi người trong lời nói cũng như hành động đều phải theo lễ: “Phi lễ vật thị, phi lễ vật thính, phi lễ vật ngôn, phi lễ vật động” [15, tr.471] – nghĩa là điều trái với lễ thì chớ nên để mắt tới, điều trái với lễ thì chớ nghe, điều trái với lễ thì chớ nói, điều trái với
lễ thì chớ động tới Lễ còn là thứ để phân biệt địa vị cao thấp của con người
Sự phân biệt này thể hiện ở y phục, đồ dùng, tác phong, ở lời nói
Nghĩa tức là nên làm, là lẽ đương nhiên Khổng Tử cho rằng người ta
hành động phải dựa vào nghĩa, điều gì nên làm thì làm, điều gì không nên làm thì đừng làm: “kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã” [15, tr.236] Ông còn đặt
“nghĩa” trong mối quan hệ đối lập với “lợi”: “Quân tử dụ ư nghĩa, tiểu nhân
dụ ư lợi” [45, tr.278], tức là ông khinh thường “lợi”, cho rằng “lợi” chỉ dành cho hạng tiểu nhân
Trang 26Trí là trí tuệ, sự hiểu biết thông thái phân biệt được đúng sai Theo Nho
giáo, người nhân phải có trí vì “Trí giả lợi nhân” [15, tr.266] Có sự sáng suốt,
có hiểu biết thì mới biết yêu người, biết cách giúp người mà không làm hại cho người, cho mình Người có trí là việc gì biết thì nhận là biết, việc gì không biết thì nhận là không biết: “Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri” [Trích theo 34, tr.201] Để có trí, Nho giáo khuyên con người hăng say chăm chỉ học tập: “Học bất yếm, trí dã; giáo bất quyện, nhân dã.” [Trích theo 34, tr.574] – học không biết chán, dạy không biết mỏi
Tín là đức thứ năm trong ngũ thường, là lời nói và việc làm phải thống
nhất với nhau; tín còn là lòng tin của con người với nhau, là điều kiện đầu tiên của mối quan hệ bè bạn
Ngoài ra, để thực hiện nhân và lễ, Khổng Tử nêu ra tư tưởng chính
danh Danh có nghĩa là tên gọi, danh phận, địa vị Chính có nghĩa là đúng, là
chấn chỉnh lại cho đúng với tên gọi là danh phận Vậy nên chính danh là làm cho mọi người ai ở địa vị nào, danh phận nào thì giữ đúng vị trí và danh phận của mình; không rời khỏi, hành động đúng theo vị trí của mình; cũng không giành vị trí của người khác Theo ông nếu danh không chính thì lời nói không thuận, lời nói không thuận thì việc không thành, việc không thành thì lễ nhạc không hưng vượng, lễ nhạc không hưng vượng thì hình phạt không đúng, hình phạt không đúng ắt dân không biết xử trí ra sao: “Danh bất chính tắc ngôn bất thuận, ngôn bất thuận tắc sự bất thành, sự bất thành tắc lễ nhạc bất hưng, lễ nhạc bất hưng tắc hình phạt bất trúng, hình phạt bất trúng tắc dân vô
sở thố thủ túc” [15, tr.498-499]
Ba là, kế thừa những tư tưởng của Mạnh Tử Trên quan niệm của mình
về “Đạo”, khi đề cập đến “Tâm”, Mạnh Tử cho rằng con người dùng tâm của mình thì sẽ biết được tâm của người khác và tâm của trời đất Triết gia này cũng gắn “Tâm” với vấn đề phân công lao động, phân chia giai cấp Trong
Trang 27“Mạnh Tử”, tại chương V: Đằng Văn Công thượng, ông viết: “Hoặc lao tâm,
hoặc lao lực Lao tâm giả trị nhân; lao lực giả trị ư nhân Trị ư nhân giả tự nhân; trị nhân giả tự ư nhân Thiên hạ chi thông nghĩa dã.” [Trích theo 34, tr.656], nghĩa là có người chuyên dùng trí óc để lao động, có kẻ chuyên dùng sức lực để lao động Người lao động trí lực thì cai trị người khác, kẻ lao động thể lực thì bị người khác cai trị Kẻ bị cai trị thì phải nuôi người, người cai trị thì được nuôi, đây là nguyên lý phổ biến trong thiên hạ
Với những nội dung chủ yếu vừa nêu, Nho giáo là một trong ba hệ tư tưởng có vai trò chủ yếu nhất trong xã hội, phạm trù “Tâm” của Nho giáo cũng được xây dựng với những nét khá đặc sắc
1.2.2 Lão giáo
Người sáng lập Lão giáo là Lão Tử (? – 531 tr.CN) Ông có một tác
phẩm duy nhất là “Đạo Đức Kinh” Trong tác phẩm đến những nội dung như
mối quan hệ giữa đạo và đức, thuyết vô vi, thuyết quân bình và phản phục, tư tưởng về chính trị, quan điểm về nhân sinh Cũng giống như Nho giáo, các nhà tư tưởng thuộc phái Lão giáo thời Tùy – Đường khi bàn về “Tâm” cũng
kế thừa tất cả những tư tưởng của “Đạo Đức Kinh”, nhưng sự kế thừa tập
trung ở hai nội dung là thuyết vô vi và phép dưỡng sinh
Về học thuyết vô vi, tư tưởng này được thể hiện trong tác phẩm “Đạo
Đức Kinh”, các đại biểu Lão giáo thời này chỉ tập trung kế thừa một số nội
dung, đó là tư tưởng người vô vi là người có lòng từ ái, tính kiệm ước và khiêm tốn Lão Tử tự nhận rằng ông có ba bảo vật quí là lòng từ ái, tính kiệm ước, và không dám đứng trước thiên hạ: “Ngã hữu tam bảo, trì nhi bảo chi Nhất viết từ, nhị viết kiêm, tam viết bất cảm vi thiên hạ tiên.” [18, tr.259] Người trong thiên hạ thì lấy xa xỉ, khoa trương làm mục đích tiến thủ, tranh nhau đua đòi trong sự xa hoa lộng lẫy bao nhiêu thì càng hay bấy nhiêu, Lão
Trang 28Tử lại khuyên nên hành động ngược lại: “Thị dĩ thánh nhân khứ thậm, khứ xa, khứ thái.” [18, tr.206], tức là thánh nhân thì từ bỏ sự cực đoan, xa xỉ và cao sang, lấy kiệm ước làm căn bản cho người trị nước Người đời tranh giành nhau để lấy phần thắng và cho đó là quý, Lão Tử lại khuyên không tranh mà thắng “bất tranh nhi thiện thắng” [18, tr.266] thì mới đáng quí Người đời tranh nhau để làm cho bản ngã của mình ngày càng tăng lên bằng cách chiếm đoạt của cải quyền thế càng nhiều càng tốt thì Lão Tử khuyên ăn ở giản dị, tự nhiên, ít lo cho bản thân, ít tham dục Không tự xem mình là sáng, không tự cho mình là đúng, không tự cho mình là trên hết, một cách thành thật tự nhiên, tất thảy đều là vô vi
Vô vi không phải là không làm gì cả, mà đừng làm cái gì đến thái quá:
“thánh nhân khứ thậm, khứ xa, khứ thái.” [18, tr.206] Cũng đừng làm gì trái với qui luật tự nhiên Càng ít can thiệp bao nhiêu vào cái vốn có, cái đang hiện hữu, đang vận động thì càng tốt bấy nhiêu
Về phép dưỡng sinh, Lão Tử gọi là “nhiếp sinh” [18, tr.236] Ông quan niệm vạn vật phồn thịnh thì đều trở về căn nguyên của chúng là trạng thái tĩnh tại Trở về căn nguyên gọi là trở về với mệnh Trở về với mệnh là luật bất biến của vật Biết được luật bất biến thì sáng suốt, còn không biết luật này thì náo động mà gây họa: “Phù vật vân vân, các phục qui kì căn Qui căn viết tĩnh, thị vị phục mệnh Phục mệnh viết thường Tri thường viết minh, bất tri thường vọng tác hung” [18, tr.188] Vì thế, về mặt tinh thần, nên cần “hư kì tâm nhược kì chí” [18, tr.168] và “hồn kì tâm” [18, tr.235] tức là để cho tâm trống không, không suy nghĩ, không tư lự Tâm trống không thì sẽ trừ được hết các mối oán hờn, lo lắng, tâm hồn sẽ bình thản, thanh tĩnh, không còn vọng tưởng Mà nếu làm được như vậy thì “tử nhi bất vong” [18, tr.215] - tức
là thân xác bị hủy hoại mà vẫn tồn tại Còn về mặt thân xác, ông khuyên đừng
Trang 29nên hưởng thụ thái quá, sống thanh đạm, sống hợp với tự nhiên: “Dĩ kĩ sinh sinh chi hậu Dĩ kì vô tử địa” [18, tr.236]
Để thực hiện được phép dưỡng sinh thì cần phải hiểu người khác, tự chiến thắng chính bản thân mình, sống biết đủ, không nên rời nơi chốn của mình, chết mà không mất đạo thì sẽ trường thọ: “Tri nhân giả trí, tự tri giả minh Thắng nhân giả lực, tự thắng giả cường Tri túc giả phú, cường hành giả hữu chí Bất thất kì sở giả cửu, tử nhi bất vong giả thọ” [18, tr.214-215] Khi thực hiện, tưởng chừng như chúng ta sẽ “phục qui ư anh nhi” [18, tr.206] tức là tưởng như trở về thành trẻ thơ Lão Tử nhận định con trẻ tuy xương yếu gân mềm mà tay nắm lại rất chắc, tinh khí sung túc Suốt ngày gào hét mà giọng không khản như vậy là khí lực dồi dào: “Cốt nhược căn nhu nhi ác cố, tinh chi chí dã Chung nhật hài nhi bất sá, hòa chi chí dã.” [18, tr.244]
Người được coi là tu luyện thành công phép dưỡng sinh là: khi mọi người thì vui vẻ còn mình thì lại điềm tĩnh “Chúng nhân hi hi, nhu hưởng thái lao, như xuân đăng đài; ngã độc bạc hề vi triệu, như anh nhi chi vị hài, luy luy hề nhược vô sở qui.” [18, tr.192]; là người biết đạo thì không nói về đạo, người nói là người biết, không để lộ sự thông thái của mình ra, hòa đồng với trần thế: “Tri giả bất ngôn, ngon giả bất tri Tắc kì đoài, bế kì môn tỏa kì nhuệ, giải kì phân, hòa kì quang, đồng kì trần.” [18, tr.246]; đó còn là người không gần gũi với ai, những cũng không ai xa cách với mình, không ai có thể làm cho mình cao quí hay đê tiện, vì vậy mà mình là tôn quí nhất trong thiên hạ: “Cố bất khả đắc nhi thân, bất khả đắc nhi sơ; bất khả đắc nhi lợi, bất khả đắc nhi hại; bất khả đắc nhi quí, bất khả đắc nhi tiện Cô vi thiên hạ quí.” [18, tr.246]
Những tư tưởng đạo Lão từ khi ra đời luôn có mặt trong mọi giai đoạn phát triển xã hội Trung Quốc, mặc dù chưa bao giờ chiếm vị trí độc tôn nhưng
Trang 30đạo Lão luôn là hệ tư tưởng có vai trò rất quan trọng và ảnh hưởng lớn trong
xã hội, trong đó có xã hội thời Tùy – Đường
đó Trải qua quá trình tu tập ròng rã và gian khổ, nhằm tìm tòi một hướng mới
so với những lý luận đương thời để giúp con người thoát khổ, Đức Phật đã “ngộ đạo”, thấu hiểu về sự tồn tại, vận hành của thế giới; thấu hiểu về những nguyên nhân khổ và con đường thoát khỏi “luân hồi”, “nghiệp báo” của chúng sinh
Đức Phật cho rằng có vô lượng thế giới trong vũ trụ đang không ngừng còn, mất “sinh, trụ, dị, diệt” do “nhân duyên”; Đức Phật cũng khẳng định rằng tất cả chúng sinh đều bình đẳng, đều được tạo thành từ ngũ uẩn, đều có sẵn Phật tính trong bản thân mình, và tất cả chúng sinh đều có thể thành Phật như Ngài Từ quan niệm đó, Đức Phật quyết định đem sự giác ngộ của mình giáo hóa chúng sinh, để chúng sinh đi đến con đường giải thoát Bài pháp đầu tiên, Đức Phật giảng dạy cho năm anh em ông Kiều Trần Như tại vườn Lộc Uyển
là nói rõ về “Bốn Diệu đế”, hay còn gọi là bốn chân lý kì diệu Lôgic cốt lõi của “Bốn Diệu đế” là: con người do “Sinh, già, bệnh, chết…” nên đều khổ;
muốn khỏi khổ phải tìm nguyên nhân của khổ là do “Thập nhị nhân duyên”,
do “Tham, sân, si”; và phải diệt khổ bằng “Tám Chính đạo” là “Chính Kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính mệnh, Chính nghiệp, Chính tinh tấn, Chính niệm, và Chính định”, đồng thời có thể thực hiện các phép tu “Giới”, “Định”,
“Tuệ” để thúc đẩy nhanh quá trình đạt tới Niết bàn
Trang 31Suốt trong quá trình hoằng hóa Đức Phật đã thuyết giảng và sau này được các đệ tử ghi chép lại thành một hệ thống giáo lý vô cùng giá trị Và được tổng kết thành năm thời kỳ:
Thời kỳ thứ nhất - Đức Phật nói kinh Hoa Nghiêm Nội dung hiển bày chân tính, chỉ rõ chỗ cao siêu nhiệm mầu của Đạo Phật
Thời thứ hai - Đức Phật nói kinh A Hàm, thời kỳ này dài 12 năm đầu
để dạy về tự tu, tự độ cho mình
Thời thứ ba - Đức Phật dạy kinh Phương Đẳng, thời này dài 8 năm kế tiếp Đức Phật nói: “Đã tự độ rồi, còn phải độ tha”, tức là độ mình và độ cho người, trình độ các đệ tử cao hơn một bậc
Thời thứ tư - Đức Phật dạy kinh Bát Nhã, thời này kéo dài 17 năm; tới thời này, trình độ dạy giáo thuyết cao hơn nữa, tiến tới giáo thuyết chân
không, vũ trụ, thật tướng, vô tướng của các pháp
Thời thứ năm - Đức Phật dạy kinh Pháp Hoa, Niết Bàn, thời kỳ này dài 8 năm; lúc này các đệ tử Phật đã thuần thục, có thể gánh vác việc đạo, nên Ngài giảng việc thực hiện bản nguyện “Khai thị chúng sinh nhập tri kiến Phật” Ngài thụ ký cho 1250 đệ tử sẽ thành Phật (nhanh hay chậm tùy căn cơ mỗi người) Đến đây việc thuyết pháp độ sinh của Đức Phật đã đầy
Trang 32ngộ và giải thoát Tất cả hệ thống giáo lý kinh điển Phật giáo đều lấy tâm làm chủ đạo để tu tập cũng như phân tích về nhân sinh quan và vũ trụ quan
Nhân sinh quan Phật giáo có nội dung rất gần gũi với đời sống của mỗi người Quan niệm con người có nhiều nỗi khổ, các nỗi khổ sinh, lão, bệnh, tử, khổ do “cầu mà không được”, do “yêu nhau mà phải xa rời” … là những điều phổ biến ai cũng thấy trong cuộc sống; quan niệm cái khổ của con người là do thiếu hiểu biết, do tham lam, giận dữ không làm chủ được bản thân …; quan niệm ai sống tốt, sống thiện (bản chất của Bát chính đạo là khuyên con người sống tốt, sống thiện) đều có thể lên Niết bàn … là những suy nghĩ rất thông thường, là những ước mơ giản dị của con người, những quan niệm đó thấm vào mọi thời điểm, vào từng ngóc nghách cuộc sống đời thường Ảnh hưởng của triết lý Phật giáo trong cuộc sống là vô cùng rộng và tự nhiên như bản thân cuộc sống, suy nghĩ của mỗi người
Đề cập đến bản tính con người, Đức Phật đưa ra bốn đức tính hay còn gọi
là Tứ vô lượng tâm, đó là: Từ - Bi - Hỷ - Xả Tứ vô lượng tâm là điều cơ bản
mà Đức Phật nói nhiều trong các bộ kinh Sao gọi là Tứ vô lượng tâm? đó là bốn tư tưởng, phẩm chất trong tâm Vô lượng là không có hạn lượng, có nghĩa
là không bỏ dở nửa chừng Từ - Bi - Hỷ - Xả không có lúc nào là đủ cả, cho nên cần mở rộng, tăng cường cho đến khi đạt được cảnh giới hoàn toàn chí thiện mới thôi Trong kinh điển Phật giáo, Tứ vô lượng tâm có nội dung như sau:
Tâm Từ có thể cho niềm vui Từ là dùng lòng từ bi đối xử giữa người
với người; người có tâm từ bi luôn thông cảm, hết lòng thương yêu những người gặp hoàn cảnh khó khăn; người có tâm từ không chỉ có tấm lòng như vậy với người khác mà cũng nên thông cảm với cả loài động vật trong hoạn nạn, hay ngay cả với cỏ cây hoa lá Phật Giáo lấy từ bi làm hoài bão, là dùng cửa phương tiện để tiếp nhận chúng sinh
Trang 33Tâm Bi có thể bạt trừ khổ Bi là lòng lân mẫn, thương xót Người có
tâm bi có thể bạt trừ sự đau khổ; Đức Phật cho rằng nên có tư tưởng “đồng thể đại bi”, tức là thấy người chết đuối như chính mình bị chết đuối, thấy người đói như chính mình bị đói Phật giáo lấy bi làm tông chỉ, người theo
Phật giáo vì thế luôn “thương mình như thể thương thân”
Tâm Hỷ là tâm vui vẻ Luôn luôn hoan hỷ vui tươi yêu mến cuộc sống,
từ đó thực hiện mọi điều có thể làm cuộc sống bớt khổ và tốt đẹp hơn, chẳng
hạn thực thi “Tám chính đạo”
Tâm Xả là tâm buông xả Là phát tâm cho chúng sinh, bạt trừ cái khổ,
giúp người nào đó thoát khỏi cảnh nguy khốn Chúng ta đừng nên chấp vào
đó lưu giữ mãi trong tâm thức mong muốn được đền đáp trả ơn Khi xong việc rồi là quên đi và bỏ hết tất cả Nếu chấp mà không quên được, thì đó không phải là tâm Phật
Ngoài ra đức Phật còn đưa ra nhiều giáo lý căn bản để giáo dục cho con người Trong kinh Lăng Già - bộ kinh có vị trí quan trọng trong triết học Phật giáo Đại thừa, kinh thủ Lăng Nghiêm chỉ ra phương pháp diệt trừ mê lầm để giác ngộ trong đó có cuộc hội thoại giữa đức Phật và A Nam Theo đó, đức Phật hỏi A Nam tâm ở đâu và Ngài đã phân tích cho các đệ tử hiểu về tâm trên những phương diện chủ yếu nhất Sau này các đệ tử của Đức Phật đã diễn giải và chú thích những bộ kinh do Đức Phật giảng, những diễn giải đó được gọi là Luận, như bộ Du Già Sư Địa Luận, Thành Duy Thức, Tam Thập Tụng, Bách Pháp Minh Môn luận, Truyền Tâm Pháp Yếu, bộ Ma Ha Chỉ Quán… Các bộ Luận này đều đề cập đậm nét đến tâm và thức
Như vậy, “Tâm” được xem là một trong những phạm trù quan trọng, cơ bản của Phật giáo: “Tâm là gốc muôn pháp Tâm đứng đầu, sai sử” [32, tr.111]
Khái quát lại, có thể thấy các kinh điển Phật giáo đề cập nhiều loại tâm và
sự thể hiện của tâm trong các hoàn cảnh và phương diện khác nhau, chẳng hạn:
Trang 34Tinh yếu tâm chỉ cái tinh hoa cốt tủy, chẳng hạn: Phật pháp lấy tâm làm
gốc, lấy thân và khẩu làm ngọn (Long Thọ Bồ Tát)
Kiên thực tâm là cái tâm không hư vọng, cũng gọi là chân tâm Chỉ cái
tuyệt đối, cái mầm mống giác ngộ vốn sẵn có trong mỗi chúng ta, đó là Phật tính: “Căn bản của sinh tử luân hồi là vọng tâm Căn bản của bồ đề niết bàn là chân tâm” [23, tr.36]
Liễu biệt tâm gồm sáu loại nhận thức đầu trong tám thức, tức là tri thức
giác quan và ý thức Căn cứ phát sinh của nó là các giác quan, thần kinh hệ và não bộ Liễu biệt tâm liên quan chặt chẽ tới tác động của ngoại cảnh, dựa vào với ngoại cảnh bên ngoài trong phân biệt, nhận thức, chẳng hạn: Tâm buồn
cảnh được vui sao, tâm an dù cảnh ngộ nào cũng an
Tập khởi tâm còn gọi là A-lại-da thức dịch nghĩa là tạng thức chứa
đựng mọi kinh nghiệm của đời sống mỗi con người và nguồn gốc tất cả các hiện tượng tinh thần Là căn nguyên của mọi hoạt động nhận thức, hoạt động tâm lý; là nơi lưu trữ những hạt giống sinh ra muôn sự muôn vật, hữu hình hay vô hình “Tất cả những gì trong thế gian Đều là do tâm tạo” [23, tr.36] (tương đương với vô thức hay tiềm thức trong quan niệm phương Tây) …
Quan niệm “Tâm” trong triết học Trung Quốc thời Tùy – Đường dựa trên những nền tảng quan niệm chung của Phật giáo như vừa phân tích, nhưng
với những sự bổ sung, biến đổi nhất định trong điều kiện cụ thể
1.3 Khái quát quan niệm về “Tâm”
Phạm trù “Tâm” là phạm trù đặc trưng của triết học phương Đông, nền triết học lâu đời và có khuynh hướng trội là gắn chặt với các yếu tố chính trị,
xã hội và con người
Trang 35Trong triết học nói riêng và trong lĩnh vực tư tưởng nói chung ở phương Đông, “Tâm” được đề cập với nội hàm rất phong phú
Có quan niệm coi “Tâm” không chỉ là cái riêng có ở con người mà còn
là của chung các sự vật hiện tượng, theo đó “Tâm” là bản tính, chân tính của
sự vật, độc lập với hình thức bên ngoài, sự vật không thể tách rời với tâm của
nó Cách quan niệm này gần như đồng nhất “Tâm” với nội dung của sự vật Tuy nhiên, quan niệm tâm gắn với con người là quan niệm phổ biến hơn cả Theo quan niệm này, về cơ bản, phạm trù “Tâm” là phạm trù gắn với mặt tình cảm, ý chí, ý thức của con người, là cái cốt lõi, bản tính, đặc điểm … chi phối cách nghĩ, hoạt động, lối sống, cách sử sự của con người trong xã hội “Tâm” được xem là gốc của mọi phẩm chất con người như nhân, nghĩa, lễ, trí, tín…
“Tâm” là cái thẳm sâu, là cái cốt yếu, thể hiện ra ở lời nói, hành động của mỗi người, là cái chủ đạo điều khiển mọi hành vi của con người
Nếu nghiên cứu lịch sử triết học phương Đông với mức độ phổ thông,
có thể chưa thấy nhiều nội dung viết về phạm trù “Tâm”, chúng ta sẽ chỉ thấy
các phạm trù âm – dương của Âm dương gia; kim – mộc – thủy – hỏa – thổ của Ngũ hành gia; nhân – lễ … của Nho gia; Đạo – đức – vô vi của Lão
Trang ở Trung Quốc cổ đại; chỉ thấy vô thường – vô ngã – nhân duyên của Phật giáo; nghiệp báo – luân hồi … của nhiều học thuyết triết học Ấn Độ cổ
đại khác Nhưng nghiên cứu sâu hơn một chút, có thể thấy “Tâm” hiện diện gắn với mỗi phạm trù trên một cách trực tiếp hoặc gián tiếp và được giải thích theo những cách khác nhau Điều này giống với lối tư duy trừu tượng và rất biện chứng của người phương Đông trong lịch sử: nó vừa hiện hữu, vừa không hiện hữu; nó vừa biểu lộ rõ ràng, lại vừa thấp thoáng mờ ảo Do đó có thể nói trực diện đến “Tâm” hay không, nhưng phạm trù này vẫn có mặt trong hầu hết các quan niệm triết học, như một yếu tố gốc gác, nền tảng, như một
Trang 36mạch ngầm để từ đó triển khai các vấn đề khác, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến con người, mối quan hệ giữa người và người
Trong lịch sử triết học phương Đông, đa số triết gia, nhà tư tưởng quan niệm “Tâm” có nguồn gốc từ các lực lượng thần bí, siêu nhiên như Trời, Phật, Thần thánh Đương nhiên, từ đó “Tâm” được xem như là cái không thay đổi,
là cái hoàn thiện, hoàn hảo, vốn có Cùng với quan niệm chủ đạo có tính duy tâm đó, các triết gia cũng có những nhận định khá duy vật về “Tâm”, theo đó
“Tâm” ở nhiều trường hợp được xem là chân tính của sự vật, là lý (quy luật) của sự vật, từ quan niệm này, các triết gia cũng hướng con người tới việc cố gắng suy tư, phán đoán để nhận thức quy luật và đạo lý của sự vật
Như vậy, cũng như nhiều phạm trù khác của triết học phương Đông, sự đan xen giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm cũng thể hiện trong quan niệm về “Tâm”, cách lý giải, vận dụng phạm trù này cũng hết sức đa dạng và theo nhiều hướng, phụ thuộc vào tính chất của mỗi trường phái triết học cũng như những điều kiện cụ thể Mặc dù vậy, có một cái chung lý thú là hiểu theo phương diện duy vật hay duy tâm thì quan niệm “Tâm” vẫn đưa đến cho con người những chủ trương, hành động có tính tích cực Chẳng hạn, ngay quan điểm duy tâm gắn “Tâm” với các lực lượng thần bí thì từ đó, tâm ở con người được gọi là nhân tâm, đạo tâm, tâm Phật … và rõ ràng là quan niệm đó cũng dẫn con người đến những hành vi thiện, đúng đắn chứ không thể ngược lại; còn với những quan niệm coi “Tâm” là cái vốn có của tự nhiên thì luôn đi đôi với chủ trương phải giữ gìn tự nhiên, không làm gì tổn hại đến tự nhiên
Tóm lại, có những quan niệm khác nhau ít nhiều, nhưng khái quát lại,
“Tâm” là yếu tố có tính bản chất, quy định mọi phẩm chất, hành động của con người Ngược lại, các phẩm chất, hành vi của con người đều là biểu hiện của
“Tâm” Trên tinh thần chung đó, các triết gia Trung Quốc thời Tùy – Đường
có những quan niệm khá đặc sắc và giá trị về phạm trù này
Trang 37Tiểu kết chương 1
Nghiên cứu điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội thời nhà Tùy - Đường và các hệ tư tưởng phổ biến trong xã hội lúc đó, có thể thấy rằng đây là giai đoạn lịch sử rất nhiền biến động của xã hội phong kiến Trung Quốc
Về kinh tế, giai đoạn này có nhiều chuyển biến tích cực, mọi lĩnh vực của kinh tế từ nông nghiệp, thương nghiệp, thủ công nghiệp … đều phát triển
Về chính trị, đây là thời kì hình thành, hưng thịnh và suy vong của hai triều đại Tùy và Đường với nguyên do chính dẫn đến suy vong là các vị vua xa rời triều chính, mải mê hưởng lạc, nạn hoành hành của hoạn quan, gian thần Về văn hóa xã hội, giai đoạn này cống hiến cho văn hóa Trung Quốc nhiều sản phẩm tinh thần rất có ý nghĩa
Chính từ bối cảnh xã hội đầy biến động như vậy, triết học Trung Quốc thời Tùy – Đường là giai đoạn kế thừa và bổ sung quan trọng sự phát triển của Triết học Trung Quốc, nền triết học ra đời và phát triển rực rỡ từ thời Đông Chu Với việc kế thừa tư tưởng kinh điển của Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, Phật Thích Ca.v.v các triết gia dần hình thành nên tư tưởng về phạm trù “Tâm”, một trong những phạm trù chủ yếu của triết học Trung Quốc thời kỳ này
Hiểu một cách khái quát nhất, “Tâm” là gốc của mọi phẩm chất con người, là cái thẳm sâu, là cái cốt yếu, thể hiện ra ở lời nói, hành động của mỗi người, là cái chủ đạo điều khiển mọi hành vi của con người, là yếu tố có tính bản chất, quy định mọi phẩm chất, hành động của con người, các phẩm chất, hành vi của con người đều là biểu hiện của “Tâm”
Trên tinh thần đó, việc nghiên cứu phạm trù “Tâm” sẽ là hết sức cần thiết và có ý nghĩa trong mọi giai đoạn phát triển xã hội, nhất là trong cơ chế thị trường hiện nay
Trang 38Chương 2 NỘI DUNG CHỦ YẾU VÀ GIÁ TRỊ, HẠN CHẾ CỦA PHẠM TRÙ “TÂM”
TRONG TRIẾT HỌC TRUNG QUỐC THỜI TÙY - ĐƯỜNG
2.1 Những nội dung cơ bản của phạm trù “Tâm” trong triết học Trung Quốc thời Tùy – Đường
Như đã nghiên cứu trong phần điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội có thể thấy rằng Tùy - Đường là giai đoạn cả ba giáo phái là Nho giáo, Đạo giáo
và Phật giáo cùng phát triển Mỗi giáo phái đều nêu lên nhiều tư tưởng, quan điểm, trong đó phạm trù “Tâm” được đề cập với những nội dung rất đa dạng
2.1.1 Phạm trù “Tâm” trong tư tưởng triết học Nho giáo
Bản chất của triết học Nho giáo là hướng vào củng cố, xây dựng nền đạo đức xã hội, do đó mọi nội dung của Nho giáo đều không tách rời “Tâm”
“Tâm” trong quan niệm Nho giáo Tùy – Đường được bàn đến bởi các nhà tư tưởng chủ yếu sau:
2.1.1.1 Vương Thông (584 – 637), hiệu là Văn Trung Tử, là nhà Nho,
nhà tư tưởng lớn thời nhà Tùy Các tác phẩm nổi tiếng của ông là "Thái bình
nhị thập sách", "Lục tục kinh" và "Văn Trung Tử trung thuyết" Ông có người
cháu trai là Vương Bột (650 – 676) được liệt vào hàng “sơ Đường tứ tuyệt”
và đệ tử nổi tiếng nhất của ông là Ngụy Trưng (580 – 643) là nhà chính trị, nhà sử học nổi tiếng Vương Thông chủ trương “Tam giáo đồng nguyên” (ba giáo phái Nho, Lão, Phật là một), song trước tình hình Nho học không phát triển mạnh như Phật giáo, ông đã chủ trương khôi phục tư tưởng Nho gia, chủ trương đạo cần phải mang lại lợi ích cho cuộc sống của nhân dân, phải lo những việc lớn nhằm cứu giúp cho thiên hạ Vậy nên khi bàn về tâm, ông đã đưa ra các quan điểm sau:
Trang 39“Tâm” là bản chất của sự vật hiện tượng, nguồn gốc của tâm là trời
Vương Thông quan niệm mỗi sự vật hiện tượng bao gồm “Tâm” và “Tích”, trong đó “Tâm” được coi là bản tính, chân tính của sự vật hiện tượng, đối lập với “Tích” - chỉ là hiện tượng bên ngoài, hình tích của sự vật Ngụy Trưng, đệ
tử của ông hỏi rằng: liệu rằng thánh nhân có lo lắng gặp tai họa và ngờ vực về những điều suy nghĩ của mình không? Ông trả lời rằng: tất cả mọi người trong thiên hạ đều có lo lắng và ngờ vực những chuyện như vậy thì thánh nhân sao lại không như thế được
Ngụy Trưng vừa đi khỏi, thì Vương Thông nói với một đệ tử khác là Đổng Thường rằng: vui với số mệnh trời ban, thì ta đâu phải lo lắng, đến cùng
lí tận tính rồi, thì ta còn ngờ vực gì nữa được nữa sao Đổng Thường cho rằng, trước mặt thì Vương Thông bảo rằng thánh nhân có lo lắng và ngờ vực
về những chuyện như vậy, nhưng sau đó thì lại nói không có chuyện như vậy, nếu thế thì câu trước và lời sau bị mâu thuẫn nhau Vương Thông đáp rằng:
“cái Ngụy Trưng hỏi là tích, còn cái ta nói với anh là tâm Phân tích tâm với tích thì lâu lắm Không lẽ ta chỉ nói một mà không nói cả hai ư?” [45, tr.291]
“Tâm” là bản tính, là chân tính của sự vật Vậy nó có quan hệ gì với trời không? Quan niệm về vấn đề này của Vương Thông được thể hiện trong đối thoại của ông với đệ tử Tiết Thu Ông được hỏi: xin vấn rằng thế nào là trời, thần, người, quỷ? Chu Công đã đạt tới nó chưa? Vương Thông đáp rằng:
“To lớn thay, Chu Công! Xa thì suy tư nhiều về tâm vậy Tâm không phải là
gì khác mà là cùng lí vậy Cho nên biết rõ nguồn gốc ở trên trời Từ đó suy ra thần ở trời, tôn kính mà xa vời vậy Cho nên phải tiếp đón bằng tế lễ.” [45, tr.292] Nghĩa là Vương Thông nhận định “Tâm” là bản chất, là quy luật của
sự vật hiện tượng Song nếu đi sâu tìm hiểu “Tâm” thì thấy nó có cội nguồn từ thần thánh Mà theo Nho giáo, cách ứng xử với thần thánh là “kính quỷ thần nhi viễn chi” [Trích theo 34, tr.142] (tỏ lòng cung kính nhưng đứng từ xa,
Trang 40không gần gũi) Từ đó có thể thấy Vương Thông nhận định “Tâm” có nguồn gốc từ trên trời, từ thế lực siêu nhiên
Tư tưởng tu dưỡng tâm đề phòng sai lầm Tu dưỡng phẩm chất đạo đức
là tư tưởng cơ bản của Nho giáo Vương Thông đặt nhiệm vụ khôi phục tư tưởng Nho giáo, thì tất yếu phải nhấn mạnh việc tu dưỡng phẩm chất đạo đức Xuất phát từ tư tưởng của Khổng Tử: “Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi” [Trích theo 34, tr.1260] (nghĩa là nhân tâm con người đang nghiêng ngả, đạo tâm thì thâm sâu, ẩn kín), Vương Thông chủ trương người quân tử tu dưỡng tâm phải có dự phòng nghĩ sai, hành động sai, đề phòng và khắc phục những sai lầm của bản thân Ngoài ra cần có đức tính gần gũi người khác mà không dựa dẫm vào họ; cần mẫn lao động mà không oán trách; nhỡ hiểu sai mà không đặt điều với người khác; thẳng thắn, cương trực mà lại lễ độ; suy nghĩ
kĩ trước khi nói, hành động
Tư tưởng lấy nhân dân trong thiên hạ làm tâm Đệ tử Huyền Linh (579
– 648) của Vương Thông hỏi về cách nào để che chở cho bá tính Vương Thông đáp: “trước hết phải quên thân mình quên được mình sau đó mới vô
tư được, vô tư rồi mới chí công được, chí công rồi mới lấy thiên hạ làm tâm được” [45, tr.296], như vậy là cách để che chở cho bá tính, lấy thiên hạ làm tâm, không phải là việc xóa bỏ sự khác biệt về giàu nghèo, chế độ đẳng cấp,
mà là để tìm hiểu lòng dân trong thiên hạ trên cơ sở bảo vệ chế độ đẳng cấp, danh giáo cương thường, tức là đạo đức chuẩn mực tam cương ngũ thường của Nho giáo
Khổng Tử, người sáng lập đạo Nho luôn đòi hỏi: “kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” [Trích theo 34, tr.187] – điều bản thân mình không muốn thì cũng đừng làm cho người khác Vương Thông đã kế thừa tư tưởng này và bổ sung nó, ông cho rằng trong gia đình thì phận làm con phải lấy cái tâm của cha làm tâm mình,