BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VỚI VẤN ĐỀ TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT CHO DOANH NHÂN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ THU HƯƠNG
BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VỚI VẤN ĐỀ TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT CHO DOANH NHÂN VIỆT NAM HIỆN NAY (Khảo sát các báo: VnExpress.net; Baophapluat.vn; Dddn.com.vn,
năm 2015)
Ngành : Báo chí học
Mã số : 60 32 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS Lưu Văn An
HÀ NỘI - 2016
Trang 2LUẬN VĂN ĐÃ ĐƢỢC CHỈ SỬA THEO Ý KIẾN
CỦA HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
PGS,TS ĐỖ THỊ THU HẰNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có xuất
xứ rõ ràng Những kết luận trong luận văn chưa từng được công
bố trong bất cứ công trình nào
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trang 4ĐKKD : Đăng ký kinh doanh
HĐND : Hội đồng nhân dân
PBGDPG : Phổ biến giáo dục pháp luật
PLVN : Pháp Luật Việt Nam
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
TTĐB : Tiêu thụ đặc biệt
TT-VH : Thông tin văn hóa
TPCN : Thực phẩm chức năng
UBND : Ủy ban nhân dân
VCCI : Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 - Kết quả khảo sát báo Baophapluat.vn 48
Bảng 2.2 - Kết quả khảo sát báo VnExpress.net 48
Bảng 2.3 - Kết quả khảo sát báo Dddn.com.vn 49
Bảng 2.4: Tổng hợp kết quả khảo sát nội dung tác phẩm trên 3 tờ báo 49
Bảng 2.5: Tổng hợp kết quả khảo sát thể loại tác phẩm trên 3 tờ báo 50
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ
VỚI VIỆC TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT CHO DOANH NHÂN 10 1.1 Một số vấn đề lý luận về báo mạng điện tử 10 1.2 Một số vấn đề lý luận về vấn đề tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân 14 1.3 Nội dung, phương thức báo mạng điện tử tuyên tuyền pháp luật cho
doanh nhân 28 Chương 2: BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VỚI VẤN ĐỀ TUYÊN TRUYỀN
PHÁP LUẬT CHO DOANH NHÂN HIỆN NAY - THỰC TRẠNGVÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 34 2.1 Những yếu tố tác động đến báo mạng điện tử trong tuyên truyền pháp
luật cho doanh nhân (thông qua 3 báo được lựa chọn khảo sát) 34 2.2 Thực trạng báo mạng điện tử tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân
Việt Nam (qua khảo sát 3 tờ báo Baophapluat.vn; VnExpress.net; Dddn.com.vn) 47 2.3 Những vấn đề đặt ra 76 Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA BÁO MẠNG
ĐIỆN TỬ TRONG TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT CHO DOANH NHÂNĐÁP ỨNG YÊU CẦU THỜI KỲ MỚI 86 3.1 Nâng cao nhận thức về vai trò của báo mạng điện tử trong tuyên
truyền pháp luật cho doanh nhân 86 3.2 Đổi mới cơ chế, chính sách đối với các báo mạng điện tử nhằm nâng
cao chất lượng tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân 95 3.3 Đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân
trên báo mạng điện tử 97 KẾT LUẬN 104 TÀI LIỆU THAM KHẢO 107
PHỤ LỤC
Trang 71
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Sau Hiệp định Thương mại song phương với Hoa Kỳ (BTA) vào năm
2000 và gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) năm 2007, đến nay Việt Nam đã ký tổng cộng 15 Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) với các nước Hiện tại, cuộc đàm phán gia nhập TPP đã thành công và Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đã chính thức hình thành Trước khi bước vào “sân chơi” lớn với những kiến thức Luật pháp còn “lơ mơ”, hàng loạt DN (DN) trong nước có nguy cơ lâm vào “ma trận” kiện cáo
Hiện nay, chiếm số đông trong cộng đồng DN Việt Nam là các DN vừa
và nhỏ Nhìn chung, các DN này còn rất hạn chế về kiến thức pháp lý Nhận thức của nhiều chủ DN, nhà quản lý DN về vai trò của pháp luật trong hoạt động kinh doanh còn khá hạn chế “Ông chủ” của các DN này thường không được đào tạo hoặc bồi dưỡng bài bản về kiến thức pháp luật và thường làm việc theo thói quen Vì không am hiểu về pháp luật nên hoạt động của các DN này có nguy cơ phát sinh tranh chấp bất kỳ lúc nào Thậm chí, khi bị kiện rồi
mà DN vẫn chưa biết mình sai ở đâu
Thêm vào đó, việc hiểu và áp dụng pháp luật Việt Nam lại không phải
là vấn đề đơn giản DN thường gặp rất nhiều khó khăn khi phải “chạy theo”
các quy định pháp luật đang liên tục thay đổi, thậm chí nhiều DN còn không nắm bắt được các quy định của pháp luật hiện hành Chính vì vậy mà họ dễ
dàng bị chèn ép trong hoạt động kinh doanh, khi vướng vào các “cuộc chiến pháp lý” lại thường ở vào thế “hạ phong” Điều này đã gây bất lợi, thiệt thòi
rất lớn cho DN
Đối với pháp luật trong nước, nhiều DN Việt Nam còn đang “lơ mơ”,
chưa nắm vững được thì càng chưa thể hiểu biết, vận dụng được pháp luật quốc tế Chính vì thiếu hiểu biết, chưa quan tâm nhiều đến pháp luật quốc tế
Trang 8Có thể kể ra bốn nguyên nhân chính dẫn đến các DN thường hay mắc phải và dẫn đến kiện tụng tranh chấp:
Thứ nhất, trong lĩnh vực nội bộ, DN thường phát sinh tranh chấp giữa
DN với các cổ đông, các thành viên hoặc giữa chính các thành viên với nhau
về các vấn đề như: Phân chia lợi nhuận, thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông; hội đồng quản trị, hội đồng thành viên; quyền biểu quyết của cổ đông
ưu đãi, chuyển nhượng cổ phần, chuyển nhượng vốn góp…
Tiếp đến là lĩnh vực lao động, trong quá trình ký kết, thực hiện Hợp
đồng lao động với người lao động, DN thường mắc phải những vấn đề như: Không ký kết Hợp đồng lao động hoặc ký kết Hợp đồng lao động không đúng thẩm quyền, không đúng quy định, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật, chi trả trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm không đúng quy định; Sa thải, kỷ Luật lao động không tuân theo các quy định của pháp luật…Những sai phạm trên của DN nếu không sửa chữa, khắc phục kịp thời
dễ dẫn đến tranh chấp kiện tụng của người lao động đối với DN
Trang 93
Thứ ba là trong quá trình hoạt động, DN thường gặp vấn đề trong việc
ký kết Hợp đồng kinh tế với các đối tác: Không tuân thủ đúng trình tự thủ tục, quy trình hoạt động của DN; vi phạm các điều khoản đã ký kết trong Hợp đồng như cam kết về chất lượng sản phẩm, cam kết về thanh toán…
Cuối cùng là lĩnh vực sở hữu trí tuệ Do thiếu hiểu biết các quy định về
lĩnh vực này nên DN thường không đăng ký bản quyền về sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, tên thương mại, nhãn hiệu…dẫn đến việc bị chủ thể khác xâm phạm hoặc lợi dụng thương hiệu, kiểu dáng, nhãn mác…của DN khác để kinh doanh dẫn đến vi phạm bản quyền…
Luật pháp là yếu tố đảm bảo cho sự vận hành thông suốt và ổn định của hoạt động DN Nắm vững và thích ứng với thay đổi của pháp luật giúp DN hoạch định chiến lược đầu tư đúng đắn, phát triển chiến lược kinh doanh phù hợp, tối ưu hóa các nguồn lực, tận dụng các cơ hội kinh doanh và quản lý hiệu quả những rủi ro Môi trường pháp lý tốt là nhân tố tác động đến sự thành công của các lĩnh vực hoạt động kinh doanh
Nhất cử nhất động của DN đều ít nhiều có liên quan đến pháp luật Doanh nhân hay chủ DN đòi hỏi phải nắm được các quy định pháp lý nhằm hạn chế những rủi ro và thiệt hại như bị lừa do thiếu thông tin, thua thiệt khi hợp tác với nước ngoài, hay rủi ro liên quan đến thi hành phán quyết của trọng tài hoặc tòa án nước ngoài… hoặc nặng nề nhất là dẫn đến phá sản Như trong vụ kiện của hãng hành không Việt Nam, Vietnam Airlines đã phải bồi thường 6 triệu USD do liên đới trách nhiệm với đại lý của Ý Nếu có đội ngũ Luật sư giỏi, am hiểu pháp luật nước ngoài, thì Vietnam Airlines sẽ không bị thua kiện và mất nhiều tiền vào việc thuê Luật sư nước ngoài tư vấn
Vậy đâu sẽ là giải pháp để DN Việt Nam thoát khỏi những rủi ro đáng tiếc để có thể duy trì và phát triển tối ưu nhất? Câu trả lời phụ thuộc vào việc
áp dụng đúng khung Luật và vai trò chỉ đạo của người chủ DN Điều đó có
Trang 104
nghĩ các doanh nhân – “ông chủ” của những DN cần phải am hiểu pháp luật hơn nữa Và để các doanh nhân hiểu biết pháp luật hơn nữa không còn cách nào hiệu quả hơn từ các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là báo điện
tử Đó sẽ là nhịp cầu tư vấn, giải đáp, hướng dẫn các DN tiếp xúc thường xuyên với các vấn đề pháp luật trong kinh doanh để các doanh nhân vững bước đến thành công, chèo lái con thuyền kinh tế Việt Nam vươn xa hơn
Chính vì thế, tác giả lựa chọn vấn đề “Báo mạng điện tử với vấn đề
tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân Việt Nam hiện nay” (Khảo sát các
báo: VnExpress.net, Baophapluat.vn, Dddn.com.vn, năm 2015) làm đề tài
luận văn thạc sĩ Báo chí học
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Hiện nay ở Việt Nam tuy đã có một số công trình nghiên cứu về vấn tuyên truyền pháp luật trên báo chí nói chung chứ chưa có công trình cụ thể hướng tới các đối tượng cụ thể như DN, doanh nhân Chính vì thế vấn đề
“Báo mạng điện tử với vấn đề tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân Việt Nam hiện nay” đang được doanh nghiệp nói riêng và người dân nói chung
đặc biệt quan tâm
Sau đây là một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề tuyên truyền pháp luật trên báo chí:
- Luận văn “Nâng cao chất lượng thông tin trên báo điện tử” của Phạm
Thị Hằng (năm 2008) đã nêu vai trò, vị trí, tầm quan trọng của báo điện tử trên các lĩnh vực của đời sống xã hội Tác giả đã nêu ra phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng thông tin trên báo điện tử: Tiếp tục hoàn thiện các văn bản pháp luật về báo điện tử để tạo môi trường pháp lý thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận trên báo điện tử, nâng cao hiệu quả hoạt động; tiếp tục rà soát, điều chỉnh hợp lý quy hoạch hệ thống báo điện tử và phát triển báo điện tử; xác định tính hợp pháp, sự phù hợp về
Trang 115
tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ của các tờ báo điện tử; đẩy mạnh cải cách bộ máy, cơ chế quản lý, đội ngũ cán bộ quản lý điện tử để thực hiện tốt việc nâng cao chất lượng thông tin trên báo điện tử; nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, đội ngũ cán bộ phóng viên báo điện tử Các cơ quan báo điện tử cần xây dựng quy chế tuyển dụng, đào tạo, bố trí, bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ Luật cán bộ, phóng viên, nhân viên trong cơ quan mình; nâng cấp hạ tầng kỹ thuật là một trong những nhiệm vụ quan trọng tạo điều kiện cho hoạt động của các cơ quan báo điện tử
- Sách “Báo mạng điện tử: Những vấn đề cơ bản” (năm 2010) do
Nguyễn Thị Trường Giang (chủ biên) Cuốn sách đã nêu và làm rõ lịch sử ra đời, khái niệm báo điện tử, sự khác nhau giữa báo điện tử với trang thông tin điện tử; vai trò của báo điện tử trong đời sống xã hội Báo điện tử là kết quả của sự tích hợp giữa công nghệ và truyền thông, dựa trên nền của internet và sự tích hợp ưu thế của các loại hình báo chí truyền thống, đã đem lại những giá trị rất lớn cho xã hội, cho người dân Sách cũng nêu đặc điểm của báo điện tử, trong đó có đề cập đến tính đa phương tiện của báo điện tử hiện nay đây là ưu điểm vượt trội của báo điện tử so với các loại hình báo chí khác
- Tác phẩm “Nâng cao hiệu quả hoạt động tương tác trên báo mạng điện tử” của Nguyễn Minh Huế trong (đăng trên Tạp chí Tuyên giáo, số 6
năm 2012) đã nêu vị trí, vai trò của báo điện tử trong điều kiện hiện nay, đồng thời đánh giá hiệu quả hoạt động, làm rõ một số đặc trưng của báo điện tử hiện nay, các tính năng của báo điện tử, nhất là tính tương tác Hoạt động tương tác trên báo điện tử có vai trò quan trọng đối với mỗi tòa soạn và đối với công chúng Tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm đưa báo điện tử có thể tận dụng hơn nữa lợi thế của tính tương tác
- Luận văn “Hiệu quả tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên hiện nay” (năm 2014 của tác giả Ngọc Nam) đã phân
Trang 126
tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn công tác tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số và hiệu quả tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên; khảo sát thực trạng hiệu quả tuyên truyền pháp luật cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay; đề xuất mục tiêu, quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả tuyên truyền pháp luật cho đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay
- Luận văn “Phản biện xã hội của báo chí góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tư tưởng” của Nguyễn Văn Minh (năm 2014) đã
làm sáng tỏ khái niệm phản biện xã hội của báo chí, công tác tư tưởng; các chức năng, nhiệm vụ, tính chất phản biện của báo chí Về thực tiễn, tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng phản biện xã hội của báo chí ở nước ta hiện nay, chỉ ra những nguyên nhân của kết quả, nguyên nhân của hạn chế, yếu kém và rút ra một số kinh nghiệm trong thực hiện phản biện xã hội báo chí hiện nay, từ đó tác giả nêu phương hướng và các pháp giải pháp nhằm cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của phản biện báo chí đối với xã hội
- Cuốn sách “Luật DN - những điểm mới cần lưu ý về các Luật thuế, chính sách thuế, xử lý tài chính, xác định giá trị DN 2015” của NXB Tài chính nhằm giúp các DN và doanh nhân quan tâm tìm hiểu và áp dụng kịp
thời những quy định mới của Luật DN 2015 Cập nhật bổ sung những điểm mới về chính sách thuế, chính sách hỗ trợ DN, xử lý tài chính, xác định giá trị
DN, quản lý và sử dụng hóa đơn bán hàng, cung ứng dịch vụ…
Chuỗi chương trình “Chung tay xóa nghèo pháp luật” của báo Pháp Luật Việt Nam bằng việc phát 20.000 tờ báo đến mỗi tỉnh thành (từ năm 2014 – nay) Nhờ sự ủng hộ, cổ vũ mạnh mẽ, nhiệt thành của nhiều DN, doanh nhân,
đồng thời là có sự động viên của các lãnh đạo Bộ, ngành, đơn vị TW và địa phương, bạn đọc trong cả nước và nhất là các nhà tài trợ là những DN đã âm
Trang 137
thầm chung tay cùng Pháp Luật Việt Nam thực hiện công tác “xóa đói giảm nghèo” cho người dân nói chung và người dân vùng sâu, vùng xa nói riêng
- Tài liệu “Phổ biến, giáo dục pháp luật qua mạng internet” trên Cổng
thông tin điện tử Bộ Tư pháp đã cho biết hơn 10 năm qua, kể từ ngày chính thức được triển khai tại Việt Nam, Internet đã phát triển với một tốc độ rất nhanh chóng Từ con số 0, chúng ta đã vượt qua cả Thái Lan, Philippin… thậm chí cả Trung Quốc để đứng thứ 3 toàn khu vực về mật độ dân cư sử dụng Internet Internet đã có mặt ở mọi lĩnh vực của đời sống…
Việc đưa các tài liệu tuyên truyền pháp luật lên mạng Internet được hiểu là chuyển nội dung của các ấn phẩm tuyên truyền đã xuất bản (sách, đặc san, tờ gấp, tờ rơi, băng casset, đĩa hình, đĩa tiếng…) thành dữ liệu điện tử và đăng tải dữ liệu đó trên mạng Internet Như vậy, các tài liệu tuyên truyền pháp luật đăng trên mạng Internet có nội dung giống như nội dung của các ấn phẩm
đã xuất bản - lợi thế giúp các doanh nhân có thể tiết kiệm thời gian để biết thêm về các chính sách mới của Nhà nước Đây cũng chính là lý do mà tác giả chọn đề tài này
3 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận, khảo sát thực trạng một số báo mạng điện tử tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân, tác giả đề tài đề xuất một
số giải pháp nhằm tăng cường vai trò của báo mạng điện tử trong tuyên truyền pháp luật cho giới doanh nhân Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ mới
Để thực hiện mục đích trên, tác giả triển khai các nhiệm vụ sau:
- Trình bày, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về báo mạng điện tử với tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân;
- Phân tích những yếu tố tác động, thực trạng và những vấn đề đặt ra đối với báo mạng điện tử trong tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân, qua khảo sát Baophapluat.vn; VnExpress.net; Dddn.com.vn;
Trang 148
- Đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường vai trò của báo mạng điện tử trong tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân Việt Nam trong thời gian tới, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và hội nhập quốc tế
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng của đề tài là: Báo mạng điện tử tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn khảo sát 3 báo mạng điện tử: Baophapluat.vn, VnExpress.net; Dddn.com.vn
Thời gian khảo sát: Năm 2015
Phạm vi khảo sát công chúng: Địa bàn Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận văn là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng ta về báo chí cách mạng, về pháp luật, về doanh nhân; các lý thuyết về truyền thông, truyền thông pháp luật…
Phương pháp luận của đề tài là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử Các phương pháp cụ thể: Logic và lịch sử, phân tích và tổng hợp, so sánh, thống kê, nghiên cứu tài liệu, khảo sát thực tiễn, điều tra xã hội học…
6 Đóng góp của luận văn
- Về lý luận: Những kết quả của luận văn sẽ góp phần bổ sung lý luận
về hoạt động của báo chí truyền thông với vấn đề tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân Việt Nam hiện nay
- Về thực tiễn: Kết quả nghiên cứu là cơ sở để các cơ quan báo chí như
Baophapluat.vn; VnExpress.net; Dddn.com.vn nâng cao chất lượng công tác
Trang 159
tuyên truyền, phổ biến kiến thức về pháp luật cho các DN ở Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh đạt kết quả cao hơn
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nôi dung luận văn gồm 3 Chương và 9 tiết
Trang 1610
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ
VỚI VIỆC TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT CHO DOANH NHÂN
1.1 Một số vấn đề lý luận về báo mạng điện tử
1.1.1 Khái niệm, đặc trưng của báo mạng điện tử
Cùng với sự xuất hiện của cơn bão thông tin, đó là sự ra đời của một loại hình báo chí mới, mang tính chất bước ngoặt và có ý nghĩa to lớn đối với nhân loại Đó chính là sự ra đời của báo mạng điện tử Có thể thấy đây là loại hình báo chí ra đời muộn nhất nhưng lại có tốc độ phát triển đáng kinh ngạc, thay đổi hoàn toàn bộ mặt của nền báo chí thế giới, cũng như góp phần vào việc nâng cao và hoàn thiện nền báo chí của mỗi quốc gia
Tại Việt Nam, vào đầu năm 1993, mạng VARENET (Viet Nam Academic Research Education network) được thành lập tạo tiền đề cho sự hình thành mạng lưới Internet ở ViệtNam VARENET là mạng máy tính phục vụ nghiên cứu khoa học và giáo dục ra đời từ chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ thông tin thuộc trung tâm khoa học tự nhiên về công nghệ quốc gia Việt Nam với sự hợp tác khoa học của Đại học Quốc gia Australia (ANU) Máy chủ (server) của mạng VARENET đặt tại ANU
Vào giai đoạn này Internet còn quá mới mẻ ở Việt Nam, quá đắt nên không mấy ai đủ điều kiện tài chính để truy cập Internet qua điện thoại viễn thông quốc tế VARENET chỉ có một chức năng duy nhất là phục vụ thư điện
tử Số khách hàng thường xuyên của mạng này khoảng 3.000, trong đó khách hàng là người Việt chỉ chiếm 10% Vào thời điểm 1993 đến 1997, VARENETB là mạng máy tính duy nhất ở Việt Nam kết nối Internet (kết nối ngoại tuyến) Chính vì vậy, VARENET độc quyền phục vụ người có nhu cầu, không có đối thủ cạnh tranh
Trang 1711
Sau VARENET, mạng máy tính diện rộng thư hai hình thành ở ViệtNam là mạng VINANET (Vietnam Network) Mạng này tuy không kết nối Internet nhưng lại là mạng duy nhất cung cấp thông tin thương mại vào thời điểm 1993 - 1997 Chính vì vậy, cũng có nhiều người sử dụng và VINANET đã lan dần vào TP.Hồ Chí Minh Có khoảng 600 khách hàng thường xuyên thuê bao VINANET
Đến 19/11/1997, Chính phủ Việt Nam quyết định chính thức kết nối Internet thì tên miền (.vn) được phía Australia bàn giao cho tổng cục Bưu điện ViệtNam Từ đây, bắt đầu hình thành hàng loạt các nhà cung cấp dịch vụ Ineternet (ISP - Internet Service Provide) VARENET và VINANET bắt đầu thoái trào mở đầu cho cao trào của Internet Việt Nam bằng sự phát triển của các nhà cung cấp dịch vụ Internet và các nhà cung cấp thông tin trên mạng Internet
Internet ra đời đã tạo ra nền văn minh mới cho loài người, đem đến cho con người những điều mới lạ, hấp dẫn Đậy là một mạng máy tính khổng lồ, kết nối hàng triệu máy tính điện tử (chủ yếu là máy tính cá nhân) trên khắp thế giới theo một quy tắc nhất định nhằm trao đổi thông tin với nhau một cách trực tiếp nhanh chóng và thuận tiện
Về khái niệm báo mạng điện tử: Ở Việt Nam, thuật ngữ “Báo điện tử”
được sử dụng phổ biến, ngoài ra người ta còn gọi chúng bằng nhiều tên khác như: “Báo mạng”, “Báo chí Internet”, “Báo trực tuyến”
Báo trực tuyến là thuật ngữ mới được sử dụng chủ yếu phổ biến của những người làm trong lĩnh vực tin học, nghiên cứu, giảng dạy Từ “trực tuyến” theo từ điển wikiapedia định nghĩa là Trực tuyến (từ tiếng Anh: Online) thường được dùng cho một kết nối hoạt động với một mạng truyền thông, đặc biệt là trong mạng Internet hoặc chỉ liên kết trong mạng cục bộ Nếu một thiết bị không thực hiện kết nối, được gọi là ngoại tuyến và hoạt
Trang 1812
động độc lập mà không cần liên kết với những thiết bị khác Trong sử dụng thông thường, “trực tuyến” thường đề cập đến Internet hoặc mạng toàn cầu World Wide Web
Các thuật ngữ “trực tuyến” là từ ngữ dùng trong thời đại Internet, có ý nghĩa cụ thể liên quan đến công nghệ máy tính và viễn thông Nói chung,
“trực tuyến” chỉ ra một trạng thái kết nối với mạng Internet toàn cầu
Trong khi đó ở Việt Nam, thuật ngữ “Báo mạng” là từ ghép được công chúng sử dụng nhiều và phổ biến trong cộng đồng Thuật ngữ này dụng ý chỉ một loại hình của báo chí chạy trên nền internet
Tại Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo chí năm 1999 đề
cập đến báo điện tử “Báo điện tử là báo được thực hiện trên mạng thông tin máy tính, bằng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số Việt Nam, tiếng nước ngoài” Như vậy, tại điều Luật này báo điện tử được xem như là một loại hình
báo chí thực hiện sản xuất, phát hành trên cơ sở mạng máy tính bằng tiếng
việt và các thứ tiếng khác Thuật ngữ “báo chí internet” còn được dùng để chỉ
loại hình báo chí mới trên mạng internet, mà sản phẩm của nó được lực lượng phóng viên riêng tổ chức, xây dựng, xuất bản, phát hành độc lập dựa trên nền
tảng mạng internet toàn cầu [4, tr.18, 22] Từ đó, có thể hiểu: Báo mạng điện
tử là một loại hình báo chí, được xây dựng dưới hình thức của một trang web
và phát hành trên mạng internet [30, tr.53] Còn báo trực tuyến là một loại
hình báo chí, trong đó sự phát triển hệ thống trên cơ sở nền internet và có nhiệm vụ truyền tải thông tin đến công chúng
1.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của báo mạng điện tử
Có thể khái quát một số chức năng cơ bản của báo chí là: Thông tin;
giáo dục tư tưởng, cổ vũ hành động; khai sáng và giải trí; giám sát và phản biện xã hội; quảng cáo và dịch vụ kinh tế báo chí
Thứ nhất, chức năng thông tin: Thông tin là chức năng khởi nguồn,
chức năng cơ bản nhất của truyền thông đại chúng Truyền thông đại chúng ra
Trang 1913
đời và phát triển trước hết là nhằm thoả mãn ngày càng cao nhu cầu thông tin của con người và xã hội Thông tin là nhu cầu sống còn, nhu cầu phát triển của con người, đồng thời là động lực kích thích sự phát triển Xã hội càng phát triển, thì nhu cầu thông tin càng cao Thông tin và tuyên truyền là hai mặt của một vấn đề bởi mục đích của thông tin chính là tuyên truyền Thông tin trên các kênh truyền thông đại chúng đã không chỉ trở thành sức mạnh chính trị trong cuộc đấu tranh chính trị - tư tưởng, sức mạnh đột phá của sự phát triển kinh tế, khoa học mà còn góp phần hình thành diện mạo văn hoá
quốc gia cũng như nhân cách mỗi con người
Thứ hai, chức năng tư tưởng: Đây là chức năng xuyên suốt của báo chí
Bởi vì báo chí phải đi đầu trong việc giáo dục tư tưởng, lý tưởng xã hội và con người Các đặc thù chức năng tư tưởng của báo chí là tác động đối với mỗi con người Báo chí làm tư tưởng qua thông tin sự kiện, thông qua đó mà kịp thời đấu tranh chống mọi thế lực thù địch, tư tưởng bảo thủ, lạc hậu
Thứ ba, chức năng văn hoá và giải trí: Các sản phẩm truyền thông góp
phần to lớn vào việc nâng cao dân trí và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc cũng như giao lưu, tiếp thu các tinh hoa văn hoá của các dân tộc trên thế giới, phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước, chấn hưng dân tộc Báo mạng điện
tử là một công cụ hữu hiểu để đại chúng hoá các giá trị văn hoá tốt đẹp của dân tộc Thông qua từng tác phẩm cụ thể thúc đẩy, kích thích năng lực sáng tạo, giá trị mới của cộng đồng Ngoài ra, báo chí còn tạo điều kiện cho công chúng sử
dụng thời gian rỗi một cách hiệu quả, giúp cân bằng tâm sinh lý
Thứ tư, chức năng giám sát và phản biện xã hội: Với khả năng tổ chức,
tập hợp lực lượng, báo chí tham gia quản lý để đảm bảo luồng thông tin hai chiều Từ Đảng và Nhà nước đến dân và từ dân đến Đảng và Nhà nước Nhờ
đó, Nhà nước có thể nắm bắt hiệu quả của những chính sách và từ đó chỉnh
sửa, bổ sung và hiểu được tâm tư của người dân
Trang 2014
Phản biện xã hội là một phương thức mới trong xã hội ta, thể hiện tư duy mới Phản biện xã hội là nêu ra cái tiêu cực, không tốt để hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung Phản biện xã hội là phản biện chủ trương, chính sách, pháp luật, nêu ra cái tốt, cái hay, chỉ ra sự bất cập Việc giám sát là độc lập bởi nếu giám sát không độc lập thành đồng loã
Thứ năm, chức năng quảng cáo và dịch vụ kinh tế: Ngoài các chức
năng nêu trên, báo mạng điện tử là một loại hình báo chí đang được đa số các
DN, doanh nhân ưa chuộng, chọn là địa chỉ tin cậy để quảng bá thương hiệu, hình ảnh Bởi lẽ, quảng cáo trên báo mạng có tính phổ biến, dễ tiếp cận và đạt được hiệu quả cao
Tóm lại, những chức năng của báo chí có quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho
nhau tạo thành những mắt xích của một hệ thống hoàn chỉnh, chặt chẽ Nằm trong sự tác động qua lại thường xuyên, các chức năng này được thực hiện bằng những hình thức khác nhau Do đó, vai trò thực tế của báo chí trong xã hội chỉ được hình dung đầy đủ khi hoạt động của nó được xem xét như một quá trình tập thể, hệ thống tổng hợp, khi các kết luận và những kết quả hoạt động của nó là kết luận, hoạt động của các loại hình và phương thức của hệ thống báo chí thống nhất Việc tách ra và phân tích các chức năng báo chí về mặt lý luận chỉ có ý nghĩa khi người ta hiểu đầy đủ hơn về mối quan hệ thống nhất giữa chúng và từ đó sử dụng có hiệu quả hơn mối quan hệ đó vào hoạt động thực tiễn báo chí
1.2 Một số vấn đề lý luận về vấn đề tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân
1.2.1 Khái niệm tuyên tuyền, pháp luật
* Tuyên truyền
Trong tiếng Latinh “tuyên truyền” (Propaganda) là “truyền bá, truyền đạt một quan điểm nào đó” Cũng xuất phát từ khái niệm này, trong tác phẩm
Trang 21Theo Từ điển Tiếng Việt, “tuyên truyền là phổ biến, giải thích rộng rãi
để thuyết phục mọi người tán thành, ủng hộ, làm theo” (năm 2009 - NXB Đà Nẵng) Theo R.A.Nelson, tuyên truyền như một dạng truyền thông có hệ thống, có chủ ý nhằm tác động đến cảm xúc, thái độ, ý kiến và hành động của một nhóm người xác định vì các mục đích tư tưởng, chính trị hay thương mại thông qua việc truyền các thông điệp một chiều, được kiểm soát trên các phương tiện truyền thông
Như vậy, tuyên truyền là một hoạt động có mục đích của một chủ thể nhằm truyền bá những tri thức, giá trị tinh thần, tư tưởng đến đối tượng, biến những tri thức, giá trị tinh thần tư tưởng đó thành nhận thực, niềm tin, tình cảm, cổ vũ đối tượng hành động theo những định hướng do chủ thể tuyên truyền đặt ra
* Pháp luật
Theo Từ điển Tiếng Việt, “Pháp luật còn được hiểu là luật pháp; là tổng hợp các quy tắc xử sự có tính bắt buộc do Nhà nước ban hành và đảm bảo thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế” [36, tr 767] Pháp luật là hệ thống
các quy tắc xử sự, là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội do Nhà nước ban hành, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền và được thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà nước Pháp luật như Mác, Ăngghen phân tích, chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển trong xã hội có giai cấp, có nhà nước, bản chất của pháp luật thể hiện ở tính giai cấp của nhà nước Tuy nhiên, pháp luật cũng
Trang 22triển đó Theo Lênin, “một đạo Luật là một biện pháp chính trị”[35] Trong
lịch sử, bất cứ giai cấp cầm quyền nào cũng dựa vào pháp luật để thể hiện và thực hiện chính trị của giai cấp mình Pháp luật trở thành hình thức thể hiện tập trung, trực tiếp chính trị của giai cấp cầm quyền, là mọt công cụ sắc bén thể hiện quyền lực nhà nước thực hiện những yêu cầu, mục đích, nội dung chính trị của nó Do đó, nhà nước nào, pháp luật ấy Những thuộc tính cơ bản của pháp luật là tính quy phạm, tính cưỡng chế, tính khách quan, tính nhà nước, tính hệ thống và tương đối ổn định
1.2.2 Khái niệm doanh nhân, doanh nghiệp
Doanh nhân Việt Nam hiện nay là một cộng đồng rất đa dạng, hình thành từ nhiều giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội nhưng họ có một đặc điểm chung là làm công việc kinh doanh với mục tiêu đạt được sự giàu có và thành đạt Họ không chỉ là các ông chủ tư nhân mà còn bao gồm cả bộ phận cán bộ, lãnh đạo, quản lý và nghiệp vụ kinh doanh của các DN nhà nước (DNNN); Không chỉ là một bộ phận của trí thức mà còn có trong giai cấp nông dân, đội ngũ cán bộ, công chức
Ở nước ta hiện đã có hàng chục định nghĩa khác nhau về doanh nhân
Từ điển Từ và ngữ Hán - Việt [33, tr.168] chú giải từ “doanh” theo ba nghĩa: (1) là lo toan làm ăn; (2) là đầy đủ và (3) là biển lớn Hiểu theo nghĩa (1) thì doanh nhân có nghĩa rất rộng, gồm tất cả những người biết lo toan làm ăn; là
Trang 2317
tất cả những người làm việc trong lĩnh vực kinh tế, trước hết là nhóm những người làm công việc quản lý kinh tế, bao gồm những người làm công việc quản lý nhà nước về kinh tế và những người hoạt động trong các DN, cả DN công ích không có mục tiêu vị lợi lẫn DN kinh doanh vị lợi Quan niệm như trên là quá rộng, không phân biệt được doanh nhân với những dạng người khác cùng trong lĩnh vực hoạt động kinh tế Quan niệm thứ hai về doanh nhân lại quá hẹp, chỉ bao gồm các ông chủ DN tư nhân, không bao gồm những người lãnh đạo các DNNN
học chú giải kinh doanh theo nghĩa đen là “quản lý kinh tế”, còn doanh nhân
là “người quản lý (việc làm ăn)”, “là người làm kinh doanh” [51]
Doanh nhân là những người làm kinh doanh, là các nhà kinh doanh (hiểu là người làm kinh doanh lớn) Muốn biết doanh nhân là ai thì cần nhận biết thế nào là kinh doanh Kinh doanh, theo nghĩa rộng, là tất cả các hành vi
có mục đích vị lợi, nhằm đạt được lợi nhuận cho chủ thể Doanh nhân là một khái niệm rộng chỉ nhiều loại đối tượng người theo lĩnh vực hoạt động (sản xuất, dịch vụ, thương mại ) và quy mô khác nhau (cá thể, hộ gia đình, DN ) Hiện nay, trên thế giới cũng như nước ta, nói đến doanh nhân là người
ta nghĩ ngay tới nhóm đối tượng tiêu biểu nhất của nó là những người sáng
Trang 24Có ý kiến cho rằng: “Doanh nhân là nhà đầu tư, là nhà quản lý, là người chèo lái con thuyền DN mà điểm khác biệt của doanh nhân với những người khác là ở chỗ họ là người dám chấp nhận mạo hiểm, rủi ro khi dấn thân vào con đường kinh doanh” [34] Theo nhà nghiên cứu Vũ Quốc Tuấn:
“Nói một cách chặt chẽ, doanh nhân là những người chủ DN trực tiếp kinh doanh DN của mình; những người được cử hoặc được thuê để quản lý DN, thực hiện nhiệm vụ kinh doanh; trách nhiệm và lợi ích của họ gắn liền với kết quả kinh doanh của DN, mà yêu cầu đầu tiên của họ là phải có đủ điều kiện
để sáng tạo, không ngừng phát triển DN” [52]
Như vậy, quan điểm xem doanh nhân là một bộ phận của tầng lớp trí thức chưa hẳn đã chính xác và đã bỏ sót đối tượng Xét về góc độ xã hội học, doanh nhân bình đẳng với trí thức, với tư cách cùng là một cộng đồng hay tầng lớp xã hội, không nên đặt cái này trong cái kia Trong tầng lớp doanh nhân nước ta hiện nay có nhiều người là những “tỷ phú chân đất”, nhiều người thành đạt khi chưa có trình độ đại học
Trang 2519
Ở nhiều nước phát triển cũng không thiếu các doanh nhân thành đạt trở thành các tỷ phú và thần tượng của giới kinh doanh nhưng về học vấn còn chưa tốt nghiệp Phổ thông trung học hoặc Đại học (Ví dụ, trường hợp Konosuke Matsushita, Sochio Honda tại Nhật; Bill Gates, Michael Dell tại Mỹ) Sự phân tích từ nhiều cách tiếp cận kể trên cho chúng ta thấy cần phải
có một quan niệm về doanh nhân theo nghĩa rộng, đồng thời chỉ ra bộ phận, nhóm đối tượng cốt lõi của nó Tổng hợp các ý kiến trên, có thể nhận xét rằng doanh nhân Việt Nam hiện nay là một cộng đồng xã hội gồm những người làm nghề kinh doanh, trước hết là bộ phận những người chủ sở hữu, lãnh đạo, quản lý, hoạt động nghiệp vụ kinh doanh (có mục tiêu vị lợi) của các hộ gia đình và DN Định nghĩa về doanh nhân như trên có thể chưa đầy đủ, toàn diện nhưng đã khắc phục được nhiều thiếu sót và bổ sung một số điểm mới trong quan điểm của các tác giả đi trước
Dựa vào định nghĩa trên đây và căn cứ vào thực tiễn xã hội nước ta hiện nay có thể ba tiêu chí cơ bản để xác định doanh nhân: (1) hoạt động, hành vi của họ có một mục tiêu chính là kiếm lợi nhuận, làm giàu, là bán sản phẩm, dịch vụ ra thị trường; (2) họ có điều kiện hành nghề và đặc điểm tâm lý phù hợp (về thời gian, vốn, tư liệu sản xuất, quan điểm, kiến thức và kỹ năng hay nói cách khác, là đạt chuẩn nhất định về nhân cách doanh nhân) với hoạt động kinh doanh và đó là công việc chính của họ; (3) nguồn thu nhập chính của họ từ hoạt động này; nói cách khác, công việc kinh doanh đảm bảo được cuộc sống của họ và gia đình, tạo cơ hội cho họ phát triển
Ở Việt Nam hiện nay, doanh nhân là một cộng đồng xã hội chứ không phải là một giai cấp hay tầng lớp xã hội V.I Lênin đã đưa ra một định nghĩa chuẩn về giai cấp [35, tr.17 - 18] là những tập đoàn người khác nhau về: (a) địa vị của họ trong một hệ thống sản xuất xã hội nhất định, (b) khác nhau về quan hệ của họ đối với tư liệu sản xuất, (c) khác nhau về vai trò của họ trong
Trang 2620
những tổ chức lao động xã hội, và (d) khác nhau về cách thức hưởng thụ và phần của cải xã hội mà họ được hưởng Đương nhiên, những cá nhân, nhóm, cộng đồng người khác nhau về các đặc điểm và tiêu chí trên đây thì không thể cùng trong một giai cấp Từ quan điểm này, chúng ta có thể phân tích tính chất giai cấp của doanh nhân nước ta hiện nay Trước hết, doanh nhân Việt Nam là một cộng đồng gồm nhiều triệu cá nhân được hình thành chủ yếu trong thời kỳ đổi mới, gồm nhiều nhóm, nhiều bộ phận thuộc về các giai cấp, tầng lớp khác nhau trong xã hội nước ta
Doanh nhân hiện nay có lịch sử thành phần xuất thân, trưởng thành và bản thân họ đang hoạt động trong nhiều giai tầng xã hội khác nhau: Nông dân, công nhân, sinh viên, trí thức, cán bộ, công chức, lực lượng vũ trang, người kinh doanh cá thể, tiểu thương, tiểu chủ, chủ DN vừa và lớn Đáng chú ý là nhiều doanh nhân trẻ, giàu có, thành đạt và làm chủ các thương hiệu Việt Nam nổi tiếng hiện nay như Hoàng Anh Gia Lai, Trung Nguyên, Hòa Phát, Đại Dương, Khaisilk đều mới lập nghiệp từ năm 1990 trở lại đây với số vốn ban đầu thường không quá 1 tỷ đồng
Nhìn chung, doanh nhân Việt Nam hiện nay là một cộng đồng gồm hàng triệu người, có vai trò ngày càng tăng lên trong sự nghiệp phát triển kinh
tế - xã hội của đất nước thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế Cộng đồng doanh nhân nước ta tăng trưởng nhanh trong thời kỳ đổi mới, đông nhưng không mạnh; quy mô đầu tư nhỏ và thu nhập thấp; trình độ, thái độ và kỹ năng nghề nghiệp thấp; rất khác nhau về mức độ trong những đặc điểm và tiêu chí chung; mối liên kết giữa các thành viên, nhóm, bộ phận trong nội khối yếu; nhân cách của họ chưa sáng trước xã hội Đó là những hạn chế cần được khắc phục trên con đường phát triển của cộng đồng doanh nhân Việt Nam
Trang 2721
Khái niệm DN: Từng có khá nhiều cách hiểu về DN vì suy cho cùng
tiếp cận DN ở góc độ nào thì sẽ có khái niệm DN ở góc độ đó Điều ấy cũng
là đương nhiên vì DN, như bao khái niệm khác, được nghiên cứu và xem xét
dưới nhiều khía cạnh khác nhau Theo M.Francois Peroux, “DN là một đơn vị
tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp các yếu tố sản xuất (có sự quan tâm giá cả của các yếu tố) khác nhau do các nhân viên của công ty thực hiện nhằm bán ra trên thị trường những sản phẩm hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy” [60]
Còn theo quan điểm phát triển, “DN là một cộng đồng người sản xuất ra những của cải Nó sinh ra, phát triển, có những thất bại, có những thành công, có lúc vượt qua những thời kỳ nguy kịch và ngược lại có lúc phải ngừng sản xuất, đôi khi tiêu vong do gặp phải những khó khăn không vượt qua được” [60]
Thực chất thì DN là khái niệm chung nhất để chỉ các loại hình DN, trong đó công ty là một loại hình DN (CIEM, GIZ, “Các loại hình DN - Đây
là loại hình phù hợp nhất với DN của bạn” Hà Nội, 2007) và nó rất phổ biến Trên thế giới, so với các loại hình DN khác, thì công ty xuất hiện muộn hơn, vào khoảng giữa thế kỷ 19 Trước đó, các hoạt động kinh doanh thực hiện dưới hình thức hợp danh hoặc DN tư nhân (CIEM, GIZ, sđd, tr.7) Cũng kể từ thế kỷ 19 và đặc biệt trong nửa đầu thế kỷ 20, công ty là loại hình kinh doanh phát triển mạnh mẽ nhất Nhiều nước trên thế giới hiện nay, thay vì thiết lập Luật DN, đã thiên về quy định tổ chức và hoạt động của các loại hình công ty
Theo quan điểm của các nước phương Tây, công ty là một tổ chức kinh
tế được thành lập theo vốn, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về trái vụ của công ty trong phạm vi số vốn mà thành viên đó góp vào công ty Công ty được thành lập dựa trên một thỏa thuận về quản lý điều hành, thường gọi là
Trang 28Nam (Điều 41), “DN là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”
1.2.3 Đặc điểm của doanh nhân Việt Nam
Doanh nhân lực lượng đóng góp vào tiềm lực kinh tế, tạo công ăn việc làm cho xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao vị thế của dân tộc trên trường quốc tế, có thể khẳng định, doanh nhân Việt Nam ngày càng có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước Chính vì thế tầng lớp doanh nhân là những người có những đặc điểm nổi bật hơn so với những tầng lớp
Doanh nhân Việt Nam có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, phát triển nhanh về số lượng và ở nhiều lĩnh vực khác nhau
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, sự cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu
tư và tích cực thực hiện các chương trình hỗ trợ doanh nhân, đội ngũ doanh nhân Việt Nam đã có sự phát triển không ngừng về số lượng Từ những năm đầu tiến hành đổi mới đến nay, số lượng các DN, đặc biệt DN tư nhân đã không ngừng tăng (tính đến cuối năm 2010, đã có 544.394 DN đăng ký kinh doanh và khoảng 3,5 triệu hộ kinh doanh cá thể trong nhiều ngành kinh tế Nếu như trung bình mỗi DN có 2 doanh nhân, thì đội ngũ doanh nhân ước tính xấp xỉ 1 triệu người Chưa kể, đội ngũ chủ hộ kinh doanh cá thể là tiềm năng to lớn cho việc hình thành các loại hình DN và đội ngũ doanh nhân
Trang 2923
Sự đa dạng của nền kinh tế, cùng với sự phát triển nhanh về số lượng các DN trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế làm cho đội ngũ doanh nhân có mặt trong nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau, trong đó có nhiều ngành mũi nhọn của nền kinh tế, như tài chính, tín dụng, du lịch, bảo vệ môi trường, giáo dục, khoa học - công nghệ
Thứ hai, chất lượng đội ngũ doanh nhân ngày càng được nâng cao Bên
cạnh sự phát triển nhanh về số lượng, chất lượng doanh nhân cũng ngày càng được nâng lên Nhiều doanh nhân nước ta đã thể hiện rõ phẩm chất, bản lĩnh của doanh nhân Việt Nam hiện đại Đó là sự sáng tạo, có tầm nhìn xa, dám chấp nhận mạo hiểm, rủi ro, vươn lên cạnh tranh trên thị trường quốc tế, có trách nhiệm với cộng đồng, xã hội, có tinh thần dân tộc và ý chí kinh doanh
Chất lượng đội ngũ doanh nhân thể hiện ở số lượng và tầm vóc của các giải thưởng doanh nhân đã được tôn vinh cả ở trong nước và quốc tế Tổng doanh thu của 200 DN đạt giải “Sao Vàng đất Việt 2010” đạt trên 475.000 tỷ đồng, nộp ngân sách 43.900 tỷ đồng, lợi nhuận sau thuế trên 48.000 tỷ đồng, tạo việc làm cho trên 390.000 lao động Một số thương hiệu của DN, tên tuổi của doanh nhân Việt Nam được thế giới biết đến làm cho uy tín, hình ảnh Việt Nam trên thế giới ngày càng được nâng cao
Thứ ba, có vị thế ngày càng quan trọng trong hệ thống chính trị - xã hội
Với số lượng lên tới hàng triệu người và chất lượng được nâng cao, với vị thế kinh tế to lớn, đội ngũ doanh nhân nước ta đã hình thành một tầng lớp xã hội mới Cùng với giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, họ đang tạo thành một đội quân chủ lực trong công cuộc đổi mới của đất nước
Doanh nhân Việt Nam tham gia ngày càng đông đảo vào các hiệp hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội và có vị thế ngày càng quan trọng hơn trong
hệ thống chính trị - xã hội Trong nhiệm kỳ Quốc hội khóa XIII có tới 38 đại biểu là doanh nhân Số lượng doanh nhân là Đảng viên ngày càng tăng, cùng
Trang 30Thứ tư, là lực lượng đóng góp to lớn vào sự nghiệp đổi mới, cụ thể trên
các mặt sau:
- Là lực lượng xung kích trong việc phát triển kinh tế - xã hội, thực hiện CNH, HĐH đất nước Thể hiện ở sự đóng góp ngày càng tăng cho nền kinh tế, đặc biệt khu vực kinh tế tư nhân DN tư nhân đã tăng 17 lần từ 31.000 DN năm
2000 lên hơn 500.000 DN hiện nay Vốn đăng ký kinh doanh trung bình trong giai đoạn này cũng tăng gấp 10 lần, từ 900 triệu đồng/DN năm 2000 lên 9 tỷ đồng/DN năm 2010, trong đó khoảng 1,44% DN có vốn đăng ký hơn 200 tỷ đồng
- Là đại biểu cho lực lượng sản xuất mới, góp phần quyết định tạo ra chuỗi giá trị mới cho xã hội, là đội quân chủ lực thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế Ngoài ra, đội ngũ doanh nhân còn là cầu nối quan trọng giữa nền kinh tế Việt Nam và thế giới Trong thời kỳ hội nhập và mở rộng quan hệ quốc tế ngày một sâu rộng, các DN Việt Nam chiếm lĩnh thị trường nội địa và cạnh tranh cao với các nước trong khu vực và thế giới
- Là một lực lượng chủ yếu góp phần giải phóng lực lượng sản xuất, tạo công ăn việc làm và là trụ cột chính để xóa đói, giảm nghèo qua công việc kinh doanh của mình Trong số 500.000 DN được thành lập, có tới 97% DN
có quy mô vừa và nhỏ, mà chủ yếu là DN tư nhân Các DN vừa và nhỏ sử dụng 50,1% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP cả nước
Trang 3125
- Tuân thủ chính sách, chủ trương đường lối của Đảng, Nhà nước, đội ngũ doanh nhân luôn là lực lượng bảo đảm tính định hướng XHCN của nền kinh tế thị trường ở nước ta, là một trong những lực lượng quyết định thúc đẩy sự hình thành và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN
Tuy nhiên, đội ngũ doanh nhân nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, như thiếu tính chuyên nghiệp; thiếu sự liên kết chặt chẽ; chưa thực sự có chiến lược kinh doanh bài bản, lâu dài; thiếu kinh nghiệm kinh doanh Cho đến nay, vẫn còn có những quan điểm chưa thống nhất, còn có nhận thức chưa đầy đủ,
rõ ràng về vai trò, vị thế của đội ngũ doanh nhân trong tiến trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
1.2.4 Khái niệm và đặc điểm tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân
Tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân là việc phổ biến, giải thích rộng rãi các quy định của pháp luật, đặc biệt là pháp luật về kinh doanh, một cách
có chủ ý của một chủ thể nhằm tác động đến ý thức, hành vi của những cá nhân, tổ chức có hoạt động liên quan đến lĩnh vực kinh doanh với mục đích trước tiên là thuyết phục họ tự giác thực hiện pháp luật kinh doanh theo định hướng do chủ thể tuyên truyền đặt ra, thông qua việc tuyên truyền các thông điệp có nội dung văn bản quy phạm pháp luật về kinh doanh và đưa tài liệu tuyên truyền pháp luật đến với họ
Mặc dù nằm trong hệ thống khái niệm tuyên truyền nhưng tuyên truyền pháp luật là một phạm trù có những đặc thù riêng Đó là việc công bố, giới thiệu rộng rãi nội dung của pháp luật để mọi người biết đến, động viên, thuyết phục để mọi người tin tưởng và thực hiện đúng pháp luật Tuyên truyền pháp luật có đối tượng rộng rãi Tính rộng rãi về đối tượng tác động của tuyên truyền pháp luật có ý nghĩa xã hội và nhân văn sâu sắc bởi trong lịch sử đã có lúc pháp luật được ban hành nhưng không được phổ biến công khai mà chỉ để Nhà nước dùng để quản lý người dân Mặt khác, tuyên truyền pháp luật có
Trang 32Hệ thống pháp luật là “con đường”, là “khung pháp lý” do nhà nước vạch ra để mọi tổ chức, mọi công dân dựa vào đó mà tổ chức, hoạt động và phát triển Tuyên truyền pháp luật nhằm giáo dục, đem lại cho mọi người có trí thức pháp luật, xây dựng tình cảm pháp luật đúng đắn và có hành vi hợp pháp, biết sử dụng pháp luật làm phương tiện để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình quản lý nhà nước, quản lý xã hội
Tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân trên báo điện tử mang những nét đặc trưng của báo điện tử Mặt khác, doanh nhân là một đối tượng đặc biệt trong việc tuyên truyền pháp luật, bởi doanh nhân là tầng lớp có kiến thức và
kỹ năng kinh doanh Vì vậy, tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân có những đặc điểm riêng biệt so với các đối tượng khác
Có thể nói rằng tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân trên báo điện
tử có những đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, thông tin tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân trên báo
mạng luôn phải kịp thời, chính xác Việc thông tin nhanh nhạy, kịp thời về những sự việc, hiện tượng xảy ra trong đời sống pháp lý sẽ góp phần hiệu quả phản ánh hiện thực, định hướng dư luận, cổ vũ hoặc phê phán các hiện tượng,
Trang 3327
sự việc đang phát sinh trong đời sống xã hội Kịp thời không có nghĩa là thông tin ngay lập tức về một sự kiện, một vấn đề nào đó trong đời sống chính trị pháp lý mà chính là ở độ chín muồi của vấn đề Vì vậy, ngoài kịp thời thì cần phải chính xác, bởi thông tin về một văn bản pháp luật, một sự kiện đang trong quá trình phôi thai mà không thể dự đoán được xu hướng phát triển của
nó thì đó là nóng vội Ngược lại, nếu để một sự kiện, một hiện tượng đã xảy
ra lâu rồi mới thông tin thì không còn tính hấp dẫn, mất tính định hướng và làm giảm hiệu quả thông tin giáo dục pháp luật
Thứ hai, thông tin tuyên truyền về pháp luật trên báo mạng phải đảm
bảo yêu cầu đúng pháp luật Đây là yêu cầu đặc thù của nội dung thông tin tuyên truyền về pháp luật trên báo chí Đúng pháp luật chính là việc sử dụng thuật ngữ pháp lý chính xác, các căn cứ pháp lý đứa ra phải phù hợp, chính xác… Ngoài ra, việc phân tích lý lẽ, đánh giá, nhìn nhận vấn đề phải trên cơ
sở pháp luật, phù hợp với quy định của pháp luật
Thứ ba, tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân trên báo mạng luôn phải
chân thực, khách quan Khi sự kiện, hiện tượng, các tình tiết, các số liệu được công bố qua nội dung bài viết, hình ảnh, video phải là sự kiện, vấn đề có thực,
số liệu chính xác, không tô vẽ Khi đánh giá sự việc, hiện tượng phải đảm bảo cái nhìn khách quan, không phiến diện, không hình thức mà phải đúng bản chất Đặt vấn đề trong mối quan hệ qua lại với sự việc, hiện tượng khác để đưa
ra được những thông tin, đánh giá một cách khách quan nhất có thể
Thứ tư, tuyên truyền pháp luật trên báo mạng có mối liên hệ chặt chẽ
với công tác xây dựng, thực hiện pháp luật Báo điện tử có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đưa pháp luật vào thực tiễn cuộc sống, đặc biệt là xây dựng phát triển kinh tế Để giúp các doanh nhân, DN nâng cao trình độ hiểu biết pháp luật, tuyên truyền pháp luật luôn phải đi tiên phong Thông qua quá trình thông tin, nhiều quy định của pháp luật được truyền đến các doanh nhân,
Trang 3428
họ tiếp nhận và phản ánh lại nhằm đóng góp cho các quy định của pháp luật thêm hoàn thiện
Thứ năm, tuyên truyền pháp luật nhằn truyền đạt thông tin, nội dung
pháp luật giúp đối tượng được tác động có những hiểu biết nhất định về pháp luật góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho đối tượng Bởi, khi thông tin hay thực hiện chương trình tuyên truyền về pháp luật người viết cần phải trả lời câu hỏi “viết để làm gì” để xác định mục đích của việc thông tin tuyên truyền
là để phổ biến, giải thích pháp luật, lên án và phê án, đấu tranh với những hành vi tiêu cực, vi phạm pháp luật trong kinh doanh; đồng thời biểu dương người tốt, việc tốt trong thực tiễn thi hành pháp luật
1.3 Nội dung, phương thức báo mạng điện tử tuyên tuyền pháp luật cho doanh nhân
1.3.1 Nội dung tuyên truyền
Việc định hướng nội dung pháp luật cần phổ biến về cơ bản là phù hợp,
đã bám sát các chủ trương, chính sách lớn của Đảng trong phát triển kinh tế -
xã hội, bảo đảm an ninh, chính trị và trật tự, an toàn xã hội, hội nhập kinh tế quốc tế và phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ chính trị của ngành, địa phương Từ
đó các cấp, các ngành đã tập trung vào những quy định pháp luật gắn liền với các chủ trương, chính sách nêu trên, lấy tiêu chí đặc điểm địa bàn và đối tượng làm cơ sở để xây dựng và triển khai kế hoạch tuyên truyền pháp luật, gắn công tác phổ biến giáo dục pháp luật với thực tiễn chấp hành pháp luật
Tuỳ theo yêu cầu của từng giai đoạn cụ thể, căn cứ vào nhu cầu thực tế của doanh nhân, DN đã được phổ biến như các quy định pháp luật về dân sự, kinh tế (như Bộ Luật Dân sự, Luật Đất đai, Luật DN ); Về quyền dân chủ của công dân (như Luật Khiếu nại, tố cáo, Luật Bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, Nghị quyết số 388/203 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động tố
Trang 3529
tụng hình sự gây ra; các quy định pháp luật về dân chủ ở cơ sở ); về an ninh, trật tự (như Bộ Luật Hình sự, Luật Giao thông đường bộ, Luật Biên giới quốc gia, Luật Bảo vệ và phát triển rừng, Luật Xử lý vi phạm hành chính, Luật Biển Việt Nam, Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm ); về hội nhập kinh tế quốc tế (như Luật Đầu tư, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, các quy định liên quan đến việc Việt Nam gia nhập WTO ); về văn hoá - xã hội (như Luật Giáo dục, Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em, Luật Khoa học và công nghệ, Luật Người cao tuổi, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo )
Căn cứ vào nhiệm vụ chính trị và tình hình cụ thể, báo chí nói chung và báo điện tử nói riêng đã triển khai phổ biến các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương, của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân địa phương phù hợp với nhu cầu từng đối tượng, địa bàn Đặc biệt chú trọng, đẩy mạnh thông tin tuyên truyền pháp luật tại các tỉnh có nhiều khu công nghiệp, khu chế xuất quan tâm phổ biến pháp luật lao động; giải quyết tranh chấp lao động Các văn bản pháp luật do chính quyền địa phương ban hành được quan tâm phổ biến nhiều hơn so với trước đây
1.3.2 Phương thức tuyên truyền
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật nói chung và pháp luật cho doanh nhân, DN nói riêng trên mạng internet là một phương thức tuyên truyền hiện đại nhằm truyền tải những thông tin, yêu cầu, nội dung các quy định pháp luật đến với doanh nhân, giúp lãnh đạo của các DN hiểu biết, nắm bắt pháp luật kịp thời, tiết kiệm nhiều thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu Có nhiều phương thức để thực hiện tuyên truyền pháp luật trên báo mạng điện tử, dưới đây là một số cách thức tuyên truyền phổ biến
Thứ nhất, cung cấp văn bản pháp quy về pháp luật kinh doanh Hiện
nay, văn bản quy phạm pháp luật vẫn là nguồn luật chủ yếu của hệ thống pháp luật nước ta Pháp luật kinh doanh cũng không không nằm ngoài đặc điểm
Trang 3630
này, vì vậy, nhu cầu tìm hiểu văn bản pháp luật kinh doanh ngày càng trở thành nhu cầu lớn cho mỗi công dân muốn lập nghiệp, cho mỗi doanh nhân
muốn đầu tư, xây dựng các công ty
Văn bản quy phạm pháp luật về kinh doanh là văn bản do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Quốc hội, Chính phủ, Bộ Tư pháp, UBND tỉnh/thành…) ban hành theo thủ tục, trình tự Luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung về thực hiện pháp luật kinh doanh, được Nhà nước bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các hành vi khi tham gia đầu tư, xin cấp phép thành lập công ty…
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật kinh doanh nước ta tác động trực tiếp đến các doanh nhân, DN là: Luật Công ty 1990 và Luật Sửa đổi một số điều của Luật Công ty 1994; Luật DN Tư nhân 1990 và Luật Sửa đổi một số điều của Luật DN Tư nhân 1994; Luật DN 1999; Luật DN Nhà nước 1995, sửa đổi bổ sung 203; Luật DN 2005; Luật DN 2014 và một số Luật khác liên quan đến lĩnh vực kinh doanh như Luật đất đai, Luật đầu tư, Luật xây dựng, Luật sở hữu trí tuệ… Ngoài ra, còn có thêm các Nghị định, Thông tư bổ sung, đính kèm các điều luật
Chính vì vậy, tòa soạn pháp luật điện tử cần thường xuyên cập nhật những văn bản mới nhất của các cơ quan có thẩm quyền về lĩnh vực kinh doanh để các doanh nhân, người lao động trong các DN có điều kiện tiếp cận một cách nhanh nhất, chính xác nhất
Thứ hai, sử dụng vấn đáp pháp luật Đây là một trong những hình thức
phổ biến, giáo dục pháp luật hiệu quả Các câu hỏi về pháp luật có nhiều dạng, có thể là câu hỏi trực tiếp (ví dụ như “Công ty TNHH một thành viên là gì?”, “Thủ tục thành lập DN tư nhân được pháp luật quy định như thế nào?”…) hoặc câu hỏi gián tiếp thông qua một tình huống, một sự kiện xảy ra
trong thực tế
Trang 3731
Câu hỏi trực tiếp thường dùng để giải thích các khái niệm hoặc thuật ngữ pháp lý, các vấn đề có tính lý thuyết Vì thế, câu trả lời đối với câu hỏi trực tiếp thường gồm hai phần: Giải thích khái niệm sau đó đưa ra ví dụ minh họa
Đối với câu hỏi gián tiếp, câu trả lời cần phân tích tình huống, sự kiện, chỉ
ra các sự kiện pháp lý, sau đó chỉ dẫn các quy định của pháp luật liên quan đến vấn đề được hỏi Tuy nhiên, dù dưới dạng nào thì câu hỏi và câu trả lời cũng cần ngắn gọn, rõ ràng, tránh dài dòng, gây rối và khó hiểu cho người đọc
Hiện nay, nguồn hình thành các câu hỏi đáp pháp luật có hai dạng: Một
là, độc giả truy cập vào trang web rồi gửi câu hỏi cho Ban biên tập (gọi là hỏi đáp theo yêu cầu độc giả); Hai là, Ban biên tập nghiên cứu, phát hiện thấy những vấn đề nhiều người quan tâm rồi xây dựng nội dung các vấn đề đó dưới dạng hỏi đáp Tuy nhiên, cho dù các câu hỏi đáp được hình thành như cứu khi cần thiết Việc sắp xếp này có thể theo nhiều tiêu chí như theo lĩnh thế nào thì người biên tập cũng cần lưu ý là phải lựa chọn câu hỏi, trả lời phù hợp và cần sắp xếp câu hỏi đáp pháp luật một cách khoa học, dễ tìm, dễ tra vực pháp luật (ví dụ: Pháp Luật lao động, pháp luật đất đai…) hoặc theo đối tượng hỏi đáp (ví dụ: Hỏi đáp pháp luật dành cho thanh niên, phụ nữ, DN…)
Thứ ba, tập trung xây dựng các chuyên mục chuyên sâu về pháp luật
Các chuyên mục tuyên truyền chuyên sâu về pháp luật cung cấp những kiến thức sâu về từng vấn đề pháp luật cụ thể Các chuyên mục thuộc loại này có thể được xây dựng theo tiêu chí như đối tượng cần tuyên truyền, nội dung pháp luật… (Ví dụ như chuyên mục thủ tục tố tụng dân sự, hình sự, pháp luật hội nhập WTO, pháp luật đất đai…) Song song với việc đảm bảo về nội dung kiến thức, các chuyên mục này cần chú ý đến những vấn đề trình bày, biên soạn nội dung cần tuyên truyền dưới dạng sơ đồ, bảng biểu, hình ảnh sinh
động để người đọc dễ theo dõi
Trang 3832
Thứ tư, chuyển nội dung của các ấn phẩm tuyên truyền đã xuất bản
(sách, đặc san, tờ gấp, tờ rơi, băng casset, đĩa hình, đĩa tiếng…) thành dữ liệu điện tử và đăng tải dữ liệu đó trên mạng Internet Như vậy, các tài liệu tuyên truyền pháp luật đăng trên mạng Internet có nội dung giống như nội dung của
các ấn phẩm đã xuất bản
Đầu tiên, cần căn cứ vào mục đích, đối tượng và nguồn tài liệu tuyên truyền pháp luật hiện có để lựa chọn tài liệu (sách, đặc san, tờ gấp, tờ rơi, đĩa
CD, VCD…) đưa lên mạng Internet
Tiếp theo là, chuyển tải nội dung tài liệu từ dạng bản in sang dữ liệu điện tử (ví dụ, đối với ấn phẩm dạng bản in giấy thì dữ liệu điện tử có thể là bản đánh máy) Cần kiểm tra (nghe, đọc soát) để đảm bảo nội dung của dữ liệu điện tử giống nội dung của ấn phẩm đã xuất bản
Sau khi đã lựa chọn được tài liệu, cần nghiên cứu cách thức đưa lên mạng như đưa dưới dạng file Word, file RAR hoặc file.PDF… tùy thuộc vào dung lượng của tài liệu, tính năng kỹ thuật của trang Web… Đối với những tài liệu có dung lượng không lớn, có thể đưa dưới dạng đơn giản là file Word Các file đính kèm dạng RAR hoặc PDF có thể sử dụng trong trường hợp tài liệu có dung lượng lớn, tuy nhiên cần có chương trình tương thích để xem, đọc
Thứ năm, tổ chức giao lưu trực tuyến Đây là hình thức đối thoại qua
mạng Internet, là dịp để những người tham gia bày tỏ, trao đổi những quan điểm của mình về những vấn đề cụ thể
Có rất nhiều báo điện tử tổ chức các diễn đàn để độc giả có cơ hội trao đổi với những nhân vật nổi tiếng, những chuyên gia trong nhiều lĩnh vực khác nhau Để tổ chức tốt việc tuyên truyền pháp luật bằng hình thức giao lưu trực tuyến, chủ đề của buổi giao lưu trực tuyến về pháp luật cần cụ thể, rõ ràng Người tổ chức và người giải đáp các vướng mắc cần có sự chuẩn bị chu đáo
về nội dung vấn đề đặt ra, chú ý đến những vấn đề thời sự đang được nhiều
Trang 39Việc đưa ra những phương thức để tuyên truyền pháp luật trên báo mạng điện tử cũng đã góp phần cụ thể hóa các nhóm thông tin, cách triển khai
đề tài để làm nền tảng cho việc giải quyết một số vấn đề của Chương 2
Có thể nói, dựa trên nền tảng quan điểm của Đảng và Nhà nước về tuyên truyền nói chung, tuyên truyền thực hiện pháp luật nói riêng, có thể thấy rằng tuyên truyền pháp luật cho doanh nhân là điều vô cùng quan trọng Bởi, doanh nhân hiện là tầng lớp then chốt giúp cho nền kinh tế của nước vững bước đi lên, tạo cho xã hội ngày càng giàu đẹp hơn Ngoài ra, chúng ta cũng thấy rằng báo điện tử hiện nay là công cụ hỗ trợ tuyên truyền pháp luật
vô cùng hiệu quả, bởi nó mang trong mình những ưu điểm nổi bật mà các loại hình báo chí khác không thể có được
Trang 4034
Chương 2 BÁO MẠNG ĐIỆN TỬ VỚI VẤN ĐỀ TUYÊN TRUYỀN PHÁP LUẬT
CHO DOANH NHÂN HIỆN NAY - THỰC TRẠNG
2.1.1.1 Báo Pháp Luật Việt Nam điện tử (Baophapluat.vn)
Báo Pháp Luật Việt Nam điện tử có tên miền Baophapluat.vn là ấn phẩm điện tử của Báo Pháp Luật Việt Nam Baophapluat.vn được “bấm nút” khai trương từ tháng 7/2010 nhân dịp kỷ niệm 25 năm Báo Pháp Luật Việt Nam xuất bản số đầu tiên với tên miền sơ khai là phapluatvn.vn
Sau hơn 5 năm hoạt động, nhiều lần đổi tên miền và giao diện, hiện tại Báo Pháp Luật Việt Nam có tên miền chính thức là Baophapluat.vn Quá trình hoạt động thực, bước đầu Baophapluat.vn đã tạo lập được vị thế riêng trong làng báo điện tử với những con số ấn tượng về lượng người truy cập, những chuyên mục phong phú, thiết thực với độc giả, những tính năng, tiện ích hỗ trợ độc giả có thể tìm kiếm dịch vụ pháp lý online một cách dễ dàng cũng như được tư vấn pháp luật trực tuyến miễn phí cùng đội ngũ Luật sư giỏi nhất trong cả nước
Để hiểu rõ cơ cấu tổ chức của Baophapluat.vn, chúng ta cần phải nhắc đến cơ cấu tổ chức của “cơ quan mẹ” là Báo Pháp luật Việt Nam Báo Pháp luật Việt Nam (sau đây gọi là Báo) là cơ quan ngôn luận của Bộ Tư pháp, thực hiện chức năng thông tin về hoạt động của Bộ, ngành Tư pháp và các vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá - xã hội trong nước và quốc tế; Tuyên