1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Báo chí ngành y tế với vấn đề cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú (khảo sát tạp chí nâng cao sức khỏe,báo gia đình và xã hội, báo sức khỏe vàđời sống, năm 2014, 2015)

111 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU Bảng 2.1: Nhóm thông tin cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú trên Tạp chí Nâng cao sức khỏe, Báo Gia đình và Xã hội, Báo Sức khỏ

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LÊ THỊ LÀI

BÁO CHÍ NGÀNH Y TẾ VỚI VẤN ĐỀ CUNG CẤP KIẾN THỨC

VÀ KỸ NĂNG CHO NHÓM PHỤ NỮ MANG THAI VÀ CHO CON BÚ (Khảo sát Tạp chí Nâng cao sức khỏe, Báo Gia Đình và Xã hội,

Báo sức khỏe và đời sống, năm 2014, 2015)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

HÀ NỘI – 2016

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

LÊ THỊ LÀI

BÁO CHÍ NGÀNH Y TẾ VỚI VẤN ĐỀ CUNG CẤP KIẾN THỨC

VÀ KỸ NĂNG CHO NHÓM PHỤ NỮ MANG THAI VÀ CHO CON BÚ (Khảo sát Tạp chí Nâng cao sức khỏe, Báo Gia Đình và Xã hội,

Báo sức khỏe và đời sống, năm 2014, 2015)

LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC

Trang 3

Ý KIẾN HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

PGS, TS HÀ HUY PHƢỢNG

Trang 4

Tác giả trân trọng cảm ơn cán bộ, giảng viên Khoa Báo chí - Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã giúp đỡ hoàn thành luận văn khoa học này

Trân trọng cảm ơn PGS,TS Nguyễn Văn Dững - Trưởng Khoa Báo chí, Học viện Báo chí và Tuyên truyền - người thầy đã hướng dẫn tận tình và

có những định hướng quan trọng trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài

Trân trọng cảm ơn các thầy cô giáo, các nhà khoa học, bạn bè, đồng nghiệp và người thân trong gia đình đã tạo điều kiện, giúp đỡ, động viên, chia

sẻ để tác giả hoàn thành luận văn

Tác giả đã hết sức nỗ lực nghiên cứu, khảo sát, hoàn thành đề tài Tuy nhiên, công trình chắc chắn sẽ không tránh khỏi những khiếm khuyết Tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của Hội đồng khoa học, quý thày cô và đồng nghiệp góp ý để công trình được hoàn thiện hơn

Trân trọng cảm ơn !

Tác giả

Lê Thị Lài

Trang 5

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả công bố trong luận văn hoàn toàn chính xác, chưa từng công bố trong bất cứ tài liệu nào, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Tác giả luận văn

Lê Thị Lài

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 2.1: Nhóm thông tin cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ

mang thai và cho con bú trên Tạp chí Nâng cao sức khỏe, Báo Gia đình và Xã hội, Báo Sức khỏe và Đời sống

Bảng 2.2: Điều tra ý kiến độc giả về hiệu quả thông tin cung cấpkiến thức và kỹ

năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú (tổng số phiếu phát

ra 600 phiếu)

Bảng 2.3: Số lƣợng tin, bài về vấn đề cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm

phụ nữ mang thai và cho con bú trên Tạp chí Nâng cao sức khỏe, Báo Gia đình và Xã hội, Báo Sức khỏe và Đời sống

Biểu đồ 2.1 Nguồn tiếp nhận thông tin chính

Biểu đồ 2.2 Nội dung thông tin độc giả quan tâm nhất khi đọc Tạp chí Nâng cao

sức khỏe; Báo Gia đình và Xã hội và Báo Sức khỏe và Đời sống Biểu đồ 2.3 Hình thức để tiếp nhận thông tin nhất đối với độc giả khi đọc Tạp

chí Nâng cao sức khỏe; Báo Gia đình và Xã hội và Báo Sức khỏe và Đời sống

Biểu đồ 2.4 Thực trạng nội dung thông tin của các tờ Tạp chí Nâng cao sức

khỏe, Báo Gia đình và Xã hội, Báo Sức khỏe và Đời sống

Trang 7

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ BÁO CHÍ CUNG CẤP KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG CHO NHÓM PHỤ NỮ MANG THAI VÀ CHO CON BÚ 16

1.1 Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 16

1.2 Vai trò của báo chí trong vấn đề cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú 24

1.3 Cơ sở thực tiễn của vấn đề cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú 34

1.4 Nội dung và hình thức báo chí cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú 37

Chương 2: THỰC TRẠNG BÁO CHÍ NGÀNH Y TẾVỚI VẤN ĐỀ CUNG CẤP KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNGCHO PHỤ NỮ MANG THAI VÀ CHO CON BÚ 42

2.1 Giới thiệu các đơn vị khảo sát 42

2.2 Nội dung cung cấp kiến thức và kỹ năng 43

2.3 Phương thức cung cấp kiến thức và kỹ năng 59

Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG VẤN ĐỀ BÁO CHÍ CUNG CẤP KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG CHO NHÓM PHỤ NỮ MANG THAI VÀ CHO CON BÚ 77

3.1 Một số vấn đề đặt ra 77

3.2 Một số giải pháp đề xuất 79

KẾT LUẬN 94 PHỤ LỤC

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Với một đất nước - Y tế chính là một trong những tiêu chí đánh giá sự phát triển của đất nước đó, bởi nhờ công tác Y tế, sức khỏe của người dân sẽ được bảo vệ và chăm sóc tốt hơn Từ đó, con người sẽ có trí tuệ và sức khỏe

để xây dựng, phát triển và bảo vệ đất nước Chính vì vậy, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe cho nhân dân nói chung và cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú nói riêng là một yêu cầu tất yếu không thể thiếu của mỗi quốc gia

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới trong tuyên ngôn Alm Alta

năm 1978: “Sức khoẻ là một tình trạng thoải mái hoàn toàn về thể chất, tinh

thần và xã hội, chứ không phải chỉ là một tình trạng không có bệnh tật hay thương tật” Theo định nghĩa này thì sức khoẻ không phải chỉ là tình trạng

không có bệnh tật mà còn là tình trạng thoải mái về tinh thần Chúng ta có thể hiểu rằng đây là định nghĩa nói đến sức khoẻ của những con người cụ thể, trong một giai đoạn lịch sử cụ thể

Công tác chăm sóc sức khoẻ là một trong những “quốc sách hàng đầu”

Điều này không chỉ được thừa nhận về mặt chủ trương, chính sách trong các quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước ta về công tác Y tế mà đã biểu hiện

cụ thể qua thái độ quan tâm sâu sắc của xã hội cũng như chính thực tiễn sôi động những năm gần đây, khi mà người dân ngày càng quan tâm đến sức khoẻ của chính mình Việc nâng cao nhận thức, giúp người dân có được cách hiểu đúng đắn về sức khoẻ, cung cấp những tri thức khoa học về chăm sóc, bảo vệ sức khoẻ, cách phòng chữa bệnh để đạt được các chỉ số sức khoẻ ở mức cần có luôn luôn là vấn đề nóng bỏng nhất là trong giai đoạn hiện nay khi mà môi trường đất, nước, không khí đều bị ô nhiễm, khi mà các đại dịch

Trang 9

lớn, những căn bệnh nguy hiểm của nhân loại vẫn chưa được giải quyết được triệt để

Ở nước ta, không phải bây giờ mà ở nước ta từ cách đây hàng nửa thế

kỷ, công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân đã được Đảng và Nhà

nước quan tâm Cho đến nay câu nói “mỗi người dân khỏe mạnh là cả nước

khỏe mạnh, mỗi người dân yếu ớt là cả nước yếu ớt” của Chủ tịch Hồ Chí

Minh lúc sinh thời đã trở thành một quan điểm xuyên suốt trong công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho nhân dân Chính vì thế trong nhiều văn bản, văn kiện của Đảng, Nhà nước công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân đã thể hiện rất rõ quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh Trong Nghị quyết số 04/NQ-HNTW của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII ngày 14/1/1993 về những vấn đề cấp bách của sự nghiệp chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân đã nêu rõ

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã xác định rõ mối liên hệ mật thiết giữa vai trò của cá nhân và cộng đồng, trong đó đặc biệt là vai trò của cơ quan quản lý nhà nước trong việc thực hiện công tác chăm sóc, bảo vệ

và nâng cao sức khỏe nhân dân Điều này đã được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 46/NQ-BCT về công tác chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tinh hình mới khẳng định:

Sức khoẻ là vốn quý nhất của mỗi con người và của toàn

xã hội Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước Đầu tư cho lĩnh vực này là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ [2, tr.l]

Có thể nói những quan điểm đưa ra trong Nghị quyết 46/NQ-BTC của

Bộ Chính trị được coi là “kim chỉ nam” trong công tác chăm sóc và bảo vệ

Trang 10

sức khỏe nhân dân trong tình hình mới Trong thời gian qua, các phương tiện thông tin đại chúng nói chung, báo chí, trong đó có báo in nói riêng đã thực hiện việc thông tin, tuyên truyền, truyền thông về các kiến thức liên quan đến công tác cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú trên nhiều góc độ, phương diện và thể loại khác nhau Tuy nhiên, để công tác này đạt hiệu quả hơn nữa, nhằm đạt mục tiêu:

Tạo sự chuyển biến rõ rệt về nhận thức, trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị đối với công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân Trang bị kiến thức và kỹ năng để mỗi người, mỗi gia đình, mỗi cộng đồng có thể chủ động phòng bệnh, xây dựng nếp sống vệ sinh, rèn luyện thân thể, hạn chế những lối sống và thói quen có hại đối với sức khoẻ, tham gia tích cực các hoạt động bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ cho cộng đồng [2, tr.2]

Như tinh thần của Nghị quyết 46/NQ-BCT đã đề ra, việc tăng cường trang bị kiến thức, nâng cao kiến thức về chăm sóc sức khỏe cho nhân dân để biết cách phòng, chống dịch bệnh, bảo vệ sức khỏe của mình là vô cùng cần thiết Bên cạnh đó, xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu của người dân nói chung, công chúng báo chí nói riêng về thông tin, đặc biệt là nhu cầu đón nhận những thông tin có liên quan đến sức khỏe ngày càng cao Để đạt được mục tiêu này, đòi hỏi phóng viên, nhà báo cũng như các cơ quan báo chí phải thay đổi tư duy, hướng tiếp cận và cách thể hiện các thông tin truyền thông về kiến thức chăm sóc, bảo vệ sức khỏe trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó đặc biệt là các cơ quan báo chí của ngành Y tế để công chúng đón nhận những thông tin về kiến thức chăm sóc và bảo vệ sức khỏe một cách cập nhật nhất, dễ hiểu nhất và dễ làm theo

Trang 11

Đến nay thông tin thời sự khổng lồ, nó như một cơn lốc nhưng dễ nhìn thấy là luồng thông tin trùng lắp, tạo ra sự nhàm chán, trong khi đó phát triển của luồng thông tin Việt Nam hiện nay có rất nhiều nhóm như: Nhóm tuổi tin, tuổi thanh niên, học sinh, sinh viên, dân tộc, miền núi, các dòng thông tin, luồng thông tin cung cấp cho công chúng hiện nay là rất nhiều Đặc biệt ở nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú Tuy nhiên, nhiều thông tin như vậy nhưng những thông tin về chia sẽ kỹ năng, kinh nghiệm, rất cần chia sẽ kỹ năng cho con bú thì rất ít được quan tâm

Qua đó trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu này, tác giả cũng đã tìm kiếm và tham khảo một số đề tài nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực truyền thông thông tin về vấn đề cung cấp kiến và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú trên các phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên, do các nghiên cứu này tiếp cận vấn đề theo hướng chỉ đưa ra thông tin về Y tế - sức khỏe trên các phương tiện thông tin đại chúng nói chung, chưa đề cập riêng biệt đến những đặc thù của việc thông tin về kiến thức chăm sóc sức khỏe nhân trên các báo chí của riêng ngành Y tế Vì vậy, việc cần có một công trình nghiên cứu mang tính chất chuyên nghiệp và hệ thống về vấn đề này đã đặt ra yêu cầu bức thiết nhằm góp phần nâng cao chất lượng thông tin

về kiến thức chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ mang thai và cho con bú trên báo

chí ngành Y tế Chính vì thế người nghiên cứu chọn đề tài “Báo chí ngành Y

tế với vấn đề cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai

và cho con bú” (khảo sát Tạp chí Nâng cao sức khỏe,Báo Gia đình và Xã hội,

Báo sức khỏe vàđời sống, năm 2014, 2015)

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Theo những khảo sát và tìm kiếm tài liệu của người nghiên cứu đề tài này, hiện nay ở Việt Nam tuy đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề chăm sóc sức khoẻ cộng đồng nhưng mới chỉ dừng lại ở hệ thống báo chí nói

Trang 12

chung hoặc đề cập đến một vấn đề nhỏ trong phạm trù thông tin sức khoẻ như lĩnh vực giới, độ tuổi, chuyên ngành chứ chưa có đề tài nghiên cứu nào đánh giá về cách thức thông tin về kiến thức chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ mang thai và cho con bú trên các phương tiện thông trên báo in nói chung, báo chí ngành Y tế nói riêng Sau đây là một số đề tài nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực Y tế, sức khỏe đáng quan tâm trong thời gian khoảng 10 năm trở lại đây mà tác giả đã tìm kiếm, thống kê được:

- Đề tài “Báo cáo kết quả điều tra Y tế Quốc gia 2001 - 2002” của BộY tế Đề tài này tập trung khảo sát, điều tra và đánh giá chất lượng sức khỏe nhân dân trong 2 năm 2001 - 2002 Đề tài nhằm nắm bắt thực trạng tình hình sức khỏe nói chung và kết quả của một số hoạt động Y tế trong lĩnh vực

Y tế dự phòng nâng cao sức khỏe Tuy nhiên đề tài này không đề cập tới loại hình báo chí

- “Những bài học từ kế hoạch hóa gia đình và sức khỏe sinh sản Tác giả Phyllis Tilson Piotrow và Trung tâm Truyền thông giáo dục sức khỏe Trung ương, Bộ Y tế phối hợp xuất bản Đây là cuốn sách nghiên cứu chuyên ngành mang tính chất nội bộ, dành riêng cho cán bộ Y tế có nội dung đề cập tới những đánh giá, tổng kết về hoạt động chăm sóc sức khỏe sinh sản trong

đó có nói tới vấn đề tuyên truyền giáo dục sức khỏe sinh sản

-Đề tài “Báo Sức khoẻ và Đời sống với công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân” của tác giả Bùi Thị Hạnh Đây là luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 42, năm 2001, Khoa báo chí và Truyền thông - Trường Đại học khoa học Xã hội và nhân văn (ĐHKHXH và VN) Ở đề tài nghiên cứu này, tác giả Bùi Thị Hạnh chỉ giới hạn nghiên cứu trong phạm vi Báo Sức khỏe và Đời sống mà chưa có sự mở rộng so sánh giữa Báo Sức khỏe và Đời sống với các báo chí khác nói chung, báo chí ngành Y tế nói riêng trong công tác chăm sóc sức khỏe

Trang 13

- Đề tài “Báo chí với chủ đề chăm sóc sức khoẻ sinh sản” của tác giả Trần Xuân Thân Đây là luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 43, năm 2003, Khoa Báo chí và Truyền thông - Truờng ĐHKHXH và NV Đề tài nghiên cứu này của tác giả Trần Xuân Thân mang tính chất chuyên biệt, chỉ tập trung giới hạn chuyên sâu nghiên cứu về chủ đề chăm sóc sức khỏe sinh sản

- Đề tài “Tuyên truyền giáo dục sức khỏe trên các phương tiện thông tin đại chúng Đây là luận văn tốt nghiệp cao học khóa 7, năm 2004, chuyên ngành Báo chí, Khoa Báo chí - Học viện Báo chí và Tuyên truyền của tác giả

Đỗ Võ Tuấn Dũng Đề tài này cũng đề cập đến thông tin sức khỏe nhưng mới chỉ dừng lại ở mức độ khái quát về việc thực hiện các nhiệm vụ tuyên truyền giáo dục sức khỏe trên các phương tiện truyền thông đại chúng chứ chưa đề cập đến vấn đề chất lượng của các sản phẩm truyền thông đó

- Đề tài “Vấn đề an toàn vệ sinh thực phẩm trên báo chí hiện nay” Đây là luận văn tốt nghiệp cao học chuyên ngành báo chí năm 2008 của học viên Chu Thúy Ngà, Khoa Báo chí - Học viện Báo chí và Tuyên truyền Ở đề tài này, tác giả Chu Thúy Ngà chỉ tập trung nghiên cứu về chủ đề an toàn vệ sinh thực phẩm được phản ánh trên báo chí Đây chỉ là một trong những nội dung liên quan đến vấn đề chăm sóc sức khỏe, vì vấn đề chăm sóc sức khỏe rất rộng, bao hàm nhiều nội dung, chủ đề như phòng chống dịch, bệnh; sức khỏe sinh sản; dinh dưỡng hợp lý

- Đề tài “Báo chí với việc thông tin, giáo dục sức khỏe sinh sản cho lứa tuổi vị thành niên” của tác giả Vũ Thị Hưởng Đây là luận văn tốt nghiệp Đại học Khóa 52, Khoa Báo chí và Truyền thông - Trường ĐHKHXH và NV Ở

đề tài này, tác giả Vũ Thị Hưởng chỉ tập trung nghiên cứu chuyên sâu về việc thông tin, giáo dục sức khỏe sinh sản cho lứa tuổi vị thành niên Đây là một

đề tài có hướng nghiên cứu chủ đề chuyên sâu chỉ đề cập đến một nội dung nhỏ trong công tác Bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân

Trang 14

- Đề tài “Báo chí với hoạt động truyền thông phòng chống dịch cúm A/H5N1 và cúm A/HI NI ở người”, Luận văn tốt nghiệp cao học năm 2011 của học viên Trần Thị Tuyết Vinh, Khoa Báo chí và Truyền thông - Trường ĐHKHXH và NV Ở đề tài này, tác giả Trần Thị Tuyết Vinh tập trung đi sâu vào nghiên cứu hoạt động truyền thông phòng chống dịch cúm A/H5N1 và cúm A/H1N1 trên 2 tờ báo in là Tuổi trẻ và Sức khỏe và Đời sống và Đài truyền hình Việt Nam

- Đề tài “Thông tin sức khỏe trên báo chí Việt Nam hiện nay: vấn đề và thảo luận Luận văn tốt nghiệp cao học báo chí năm 2011 của học viên BùiThị Thu Thủy - Khoa Báo chí và Truyền thông - Truờng ĐHKHXH và VN Có thể nói trong số các đề tài nghiên cứu về thông tin, truyền thông liên quan đến lĩnh vực Y tế - Sức khỏe thì đề tài nghiên cứu của tác giả Bùi Thị Thu Thủy mang tính chuyên sâu hơn so với các đề tài trước đó Ở đề tài này, tác giả nghiên cứu vấn đề thông tin sức khỏe theo hướng chuyên biệt khi chọn đối tượng khảo sát là Báo Sức khỏe và Đời sống và Kênh truyền hình chuyên về sức khỏe - kênh 02TV

- “Sự tham gia của trẻ em Kinh nghiệm xây dựng năng lực và tập

huấn” của Henk Van Beers (2005) Cuốn sách trình bày tóm tắt khái niệm

sự tham gia của trẻ em, sự cần thiết phải để trẻ tham gia trong việc lập chương trình Miêu tả bối cảnh và nền tảng cơ sở của các dự án trẻ em đường phố Cuốn sách đưa ra nhận định nhận thức về hiện tượng trẻ em đường phố của những người khởi xướng và thực hiện dự án quyết định rất nhiều đến cách thức làm việc của họ đối với trẻ Vì quan điểm và ý kiến của trẻ thường không được cân nhắc, nên các dự án thường thất bại trong việc giải quyết những vấn đề thực sự của các em Cuốn sách nghiên cứu những nét đặc trưng của việc xây dựng năng lực về sự tham gia của trẻ em, các vấn đề đạo đức có

Trang 15

liên quan đến sự tham gia của trẻ em, cách thức mà các dự án đã thực hiện nhằm thu hút sự tham gia của trẻ em

- Công trình nghiên cứu “Development and Social Change: A Global

Perspective” của hai tác giả McMichael và Philip (2008) đã trình bày những

khái niệm về phát triển và các xu hướng phát triển xã hội trên thế giới, trong

đó có phương pháp tiếp cận dựa trên quyền Phương pháp này được ứng dụng trong mọi lĩnh vực của cuộc sống, bao gồm cả truyền thông hỗ trợ phát triển

- “Practice Standards in Children‟s Participation” được biên soạn bởi

tổ chức Save the Children (2005) Ấn phẩm trình bày tập hợp các tiêu chuẩn thực hành sự tham gia của trẻ em dựa trên những cơ sở triển khai các dự án sự tham gia của trẻ em trên thế giới Ấn phẩm giúp cho người đọc hiểu được sự tham gia có ý nghĩa như thế nào, cách thức nâng cao hiệu quả làm việc của cá nhân, tổ chức trong khi thực hành sự tham gia của trẻ

- Cuốn sách “Development Communication Source Book”của tác giả

Pao Mefalopulos (2008) tập trung vào truyền thông hỗ trợ phát triển (truyền thông phát triển) với các khái niệm, các dạng thức và loại hình truyền thông Theo đó, truyền thông phát triển hướng tới mục đích cuối cùng là sự thay đổi hành vi một cách bền vững và lâu dài của các đối tượng truyền thông Để làm được điều này tác giả nhấn mạnh đến yếu tố tham gia của các đối tượng truyền thông như một yếu tố tích cực và chủ động

- Cuốn sách “Truyền thông, đạo đức nghề nghiệp với trẻ em” của tác

giả Helena Thorfinn do tổ chức Cứu trợ trẻ em của Thụy Điển và Nhà xuất bản chính trị quốc gia xuất bản (2003), tập trung phân tích ba vấn đề lớn: trẻ

em có quyền tiếp nhận, có quyền cùng tham gia, vừa có quyền được bảo vệ trước các phương tiện truyền thông Tác giả đưa ra bộ khung pháp lý trong khuôn khổ CRC Đồng thời, giải quyết những xu hướng trong công tác nghiên cứu về trẻ em và các phương tiện truyền thông Cuốn sách cũng đi

Trang 16

vào phân tích sâu hơn đối tượng trẻ em và các phương tiện truyền thông trong các chương trình phát triển

- “A Handbook of Children and Young People‟s Participation”của tác

giả Barry Percy-Smith và Barry Percy-Smith (2010) Cuốn sách đưa ra nghiên cứu tổng quan về lý thuyết hiện đại và các thức thực hành xoay quanh vấn đề

sự tham gia của trẻ em Đồng thời, khẳng định sự tham gia của trẻ em và thanh thiếu niên trong việc ra quyết định liên quan đến chính sách phát triển, đóng góp tích cực cho gia đình, xã hội và cộng đồng Đây là nguồn tài liệu đáng giá cho các cá nhân, tổ chức trong việc nghiên cứu và triển khai các chương trình vì trẻ em

- Cuốn sách “Children in the News” đề cập đến vấn đề truyền thông là

một trong các công cụ văn hoá xã hội, có nhiệm vụ quan tâm, chăm sóc, bảo

vệ và khuyến khích sự phát triển của trẻ em Tuy nhiên, cuốn sách cũng chỉ ra việc truyền thông và các tổ chức tài trợ đã khai thác hình ảnh trẻ em một cách không tích cực như ở các nước đang phát triển hình ảnh trẻ em trong tình trạng nghèo đói, bị tổn thương nhằm thu hút khán giả, đánh động lòng thương của công chúng, bất chấp các Quyền trẻ em

- Một số báo cáo mang tính tổng quan như: Mức sống của trẻ em ở Việt

Nam, do Tổ chức Cứu trợ trẻ em thực hiện (1999); Trẻ em và phụ nữ Việt Nam: Phân tích tình trạng năm 2000, do UNICEF xuất bản năm 2002 cho cái

nhìn khái quát về những tiến bộ của đất nước trong việc hoàn thành các mục tiêu về CRC; Các chỉ tiêu về trẻ em ở Việt Nam, do Ủy ban Bảo vệ và chăm sóc trẻ em công bố (2002)

- Cuốn “Cẩm nang xây dựng sản phẩm truyền thông có sự tham gia

của trẻ em và cộng đồng”của nhóm tác giả Nguyễn Thị Lan Minh, Nguyễn

Ngọc Oanh, Hà Thị Lan Anh biên soạn vào tháng 1 năm 2012 đưa ra những nhận định ban đầu về công tác truyền thông cho trẻ em và hướng dẫn các quy trình xây dựng các loại sản phẩm tryền thông có sự tham gia của trẻ em

Trang 17

- Cuốn giáo trình”Báo chí với trẻ em”của PGS, TS Nguyễn Văn Dững

(chủ biên), Nhà xuất bản Lao động, xuất bản (2004) cung cấp những thông tin, tri thức nền về trẻ em như nghiên cứu công chúng - nhóm đối tượng trẻ em; Công ước Quốc tế về quyền trẻ em và pháp luật Việt Nam… cùng những

kỹ năng, giúp người đọc hệ thống hóa, nâng cao năng lực tác nghiệp

- Cuốn “Sổ tay phóng viên báo chí với trẻ em”do PGS, TS Nguyễn

Văn Dững (chủ biên) cung cấp cho các phóng viên báo chí làm việc với trẻ

em những kiến thức cơ bản về nghiệp vụ báo chí và những vấn đề liên quan đến trẻ em, đồng thời cũng chia sẻ kinh nghiệm và kỹ năng trong hoạt động nghiệp vụ báo chí với trẻ em, của những nhà hoạt động xã hội, của các chuyên gia nghiên cứu báo chí trẻ em

- Luận văn thạc sĩ “Hoạt động truyền thông cho trẻ em của tổ chức

ChildFund tại miền núi phía bắc”của tác giả Vương Tuyết Nhung (2012) có

đề cập đến những hoạt động truyền thông có sự tham gia của trẻ em, phân tích, đánh giá, hiệu quả của các dự án Tuy nhiên, luận văn tập trung chủ yếu

là hoạt động truyền thông cho trẻ em nói chung của ChildFund tại Hòa Bình

và Bắc Kạn chứ không đi sâu phân tích, đánh giá, đưa ra giải pháp thúc đẩy quyền tham gia của trẻ em

Bên cạnh các công trình nghiên cứu đã được xuất bản thành sách thì trên các tạp chí, các trang web điện tử cũng có những bài viết đáng chú ý của các tác giả trong nước có liên quan đến đề tài như sau:

- Bài viết “Truyền thông phát triển – Một hướng đi mới cho báo chí các

nước đang phát triển”của tác giả Nguyễn Minh Nguyệt đăng trên Tạp chí

Thông tin Khoa học xã hội - Số 312 ra 12/2008 trình bày các ý tưởng cơ bản

về truyền thông phát triển, lợi ích của truyền thông phát triển đối với các quốc gia đang phát triển nói chung, Việt Nam nói riêng Tuy nhiên, nội dung chỉ mang tính gợi mở cho những nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng thực tế trong

Trang 18

nước chứ chưa đi sâu nghiên cứu tìm ra giải pháp đẩy mạnh hoạt động truyền thông có sự tham gia của trẻ em

- Một số bài viết như “Sân khấu và sự phát triển (nhân cách)”được tổ

chức Life Art lược dịch từ trang web http://www.theatreoftheoppressed.org/,

bài nghiên cứu “Nghệ thuật và văn hóa vì sự phát triển cộng đồng” của

Nguyễn Phương Anh đăng trên trang web http://www.viettems.com nêu lên hướng đi mới gắn văn hóa - nghệ thuật với phát triển cộng đồng mà tiêu biểu

là loại hình sân khấu phát triển Đây là cách tiếp cận mới cho hoạt động truyền thông vì sự phát triển dựa trên văn hóa dân tộc, vốn được xem là cơ sở, nền tảng cho sự phát triển Tuy nhiên, các bài viết mới dừng lại ở việc giới thiệu khái quát sơ lược trên cơ sở giải thích nội hàm các thuật ngữ mà chưa nghiên cứu tính ứng dụng của nghệ thuật

Có thể nói trong những đề tài nghiên cứu về sức khỏe trên đây dù đã

đề cập đến một số vấn đề liên quan đến thông tin, truyền thông về sức khỏe theo các góc độ tiếp cận khác nhau Tuy nhiên, hầu như các đề tài này đều triển khai theo hướng nghiên cứu chuyên sâu vào một yếu tố nào đó, ví như

an toàn thực phẩm, sức khỏe sinh sản, phòng chống dịch bệnh hoặc bước đầu mới tiếp cận đến công tác tuyên truyền, truyền thông về vấn đề sức khỏe, Y tế của một cơ quan báo chí thuộc ngành Y tế cụ thể mà chưa có đề tài nào mang tính chuyên sâu nghiên cứu chung về hoạt động thông tin kiến thức chăm sóc sức khỏe cho các phụ nữ mang thai và cho con bú trên báo

chí ngành Y tế nói chung Chính vì vậy, đề tài “Báo chí ngành Y tế với vấn

đề cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm Phụ nữ mang thai và cho con bú” vẫn là một vấn đề hết sức hữu ích đối với nhà báo - những người

hoạt động thông tin, tuyên truyền về lĩnh vực Y tế, sức khỏe cũng như các nhà quản lý trong lĩnh vực Y tế nói chung và làm công tác chuyên biệt về thông tin, tuyên truyền Y tế nói riêng

Trang 19

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1.Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở hình thành khung lý thuyết về vấn đề báo chí cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú, qua khảo sát thực trạng về vấn đề này luận văn tìm kiếm và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng trong việc báo chí cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm đối tƣợng để nghiên cứu (cụ thể là các Tạp chí Nâng cao sức khỏe,Báo Gia đình và Xã hội, Báo Sức khỏe và Đời sống)

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn xác định 3 nhiệm vụ cơ bản sau:

- Xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu;

- Khảo sát thực trạng về vấn đề báo chí ngành Y tế cung cấp kiến thức

và kỹ năng cho phụ nữ mang thai và cho con bú trên một số tờ báo, tạp chí của ngành đƣợc lựa chọn;

-Đánh giá thực trạng vấn đề này và đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lƣợng của báo chí trong vấn đề cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú trên các báo, tạp chí của ngành Y tế

4 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

4.1.Đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là vấn đề báo chí cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Các báo, tạp chí ngành Y tế là căn cứ để tác giả khảo sát thực trạng số lƣợng phụ nữ mang thai và cho con bú

- Các số liệu của các báo, tạp chí, các vụ/cục của Bộ Y tế là cơ sở, căn

cứ để cung cấp kiến và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú

Trang 20

- Luận văn nghiên cứu và Khảo sát các sản phẩm báo chí về ngành Y

tế, được lựa chọn các tờ báo, tạp chí: Tạp chí Nâng cao sức khỏe, Báo Gia đình và Xã hội, Báo Sức khỏe và Đời sống, năm 2014, 2015

5.Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài

5.1.Cơ sở lý luận

Luận văn dựa trên cơ sở lý thuyết về vai trò của báo chí Truyền thông

về vai trò của báo chí đối với đời sống xã hội, trong đó chú ý chức năng văn hóa, chức năng thông tin của báo chí

Lý thuyết truyền thông về báo chí chuyên biệt, báo chí cho nhóm công chúng đối tượng chuyên biệt, nhóm đối tượng mang thai và cho con bú

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp thống kê phân loại được dùng để thống kê phân loại được dùng để phân loại, tần suất xuất hiện của các tác phẩm báo chí liên quan đến nhóm đối tượng phụ nữ mang thai và cho con bú

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu, phương pháp nghiên cứu lý thuyết, khảo cứu tư liệu được: dùng để khảo sát dùng để cụ thể hóa vấn đề lý thuyết hay còn gọi hệ thống hóa các văn bản, tài liệu, sách báo tìm hiểu các lý thuyết về truyền thông, các cơ sở Y tế có quan tâm đến phụ nữ mang thai và cho con bú

- Phương pháp phỏng vấn sâu hay còn gọi là phương pháp phỏng vấn chuyên gia được dùng để xin ý kiến các chuyên gia liên quan đến vấn đề nghiên cứu để thu thập thông tin định tính

- Phương pháp bảng hỏi Anket được dùng để khảo sát nhóm công chúng đối tượng chuyên biệt của luận văn, đấy là nhóm công chúng phụ nữ mang thai

và cho con bú nhằm thu thập thông tin định lượng về vấn đề nghiên cứu

Trang 21

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

6.1 Ý nghĩa lý luận

Nghiên cứu phạm trù thông tin báo chí ngành Y tế với vấn đề cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú nhằm khái quát hóa và chuẩn hóa hệ thống lý luận về lý thuyết đối với vấn đề thông tin chăm sóc sức khỏe sinh sản Luận văn đóng góp một phần về mặt lý luận trong việc nhận diện vai trò của báo chí đối với vấn đề cung cấp kiến thức và

kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú, đƣa ra những nội dung cung cấp thông tin thời sự, thông tin chỉ dẫn, thông tin tƣ vấn liên quan đến nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú

Kết quả nghiên cứu sẽ làm cơ sở cho việc nêu lên những vấn đề lý luận

về hệ thống các kênh thông tin chuyên biệt về kiến thức chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ mang thai và cho con bú trên báo chí ngành Y tế

6.2 Ý nghĩa thực tiễn

Với việc khảo sát đầy đủ, toàn diện, có hệ thống việc cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú trên báo chí ngành Y tế, đề tài cung cấp một bức tranh toàn cảnh về tình hình thông tin sức khoẻ sinh sản trên báo chí ngành Y tế hiện nay, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng và hiệu quả của hoạt động thông tin, tuyên truyền

về cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là nguồn tƣ liệu tham khảo chính xác, có hệ thống cho những nhà báo đang hoạt động trên lĩnh vực thông tin sức khoẻ nói chung, thông tin về sức khỏe phụ nữ mang thai và cho con bú nói riêng

Đồng thời đề tài nghiên cứu cũng là nguồn tài liệu tham khảo cho những nhà hoạch định chính sách của ngành Y tế và các cơ quan báo chí của

Trang 22

ngành Y tế trong việc nâng cao chất lượng hoạt động thông tin cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú

7.Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn có kết cấu gồm 3 chương và 9 tiết

Chương1: Cơ sở lý luận và thực tiễn vấn đề báo chí cung cấp kiến thức

và kỹ năng cho phụ nữ mang thai và cho con bú

Chương 2: Thực trạng báo chí ngành Y tế cung cấp kiến thức và kỹ năng cho phụ nữ mang thai và cho con bú

Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng vấn đề báo chí cung cấp kiến thức và kỹ năng cho phụ nữ mang thai và cho con bú

Trang 23

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ BÁO CHÍ

CUNG CẤP KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG CHO NHÓM PHỤ NỮ

MANG THAI VÀ CHO CON BÚ

1.1.CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1.1 Phụ nữ mang thai

1.1.1.1 Phụ nữ

Khái niệm phụ nữ gồm những nét về mặt sinh học thuộc giống cái (phân biệt đối lập với giống đực) xét về mặt khoa học tự nhiên, nếu ở góc độ khoa học xã hội thì liên quan đến nam giới, nữ giới: về định nghĩa, từ phụ nữ

(woman, femaile) hay đàn bà là từ chỉ giống cái của loài người Phụ nữ

thường được dùng để chỉ một người trưởng thành, còn con gái thường được dùng chỉ đến trẻ gái nhỏ hay mới lớn Bên cạnh đó, từ phụ nữ, đôi khi dùng

để chỉ đến một con người giống cái, bất kể tuổi tác

1.1.1.2 Nhóm phụ nữ

Một nhóm là một tập thể người với những khả năng, năng lực, kinh nghiệm và nền tảng giáo dục khác nhau cùng đến với nhau vì mục đích chung Bên cạnh sự khác biệt của mỗi cá nhân, mục tiêu chung ấy mang lại sợi chỉ xuyên suốt khẳng định rằng họ là một nhóm

Nhóm không đơn giản chỉ là một tập hợp nhiều người làm việc cùng nhau hoặc làm việc dưới sự chỉ đạo của một nhà quản lý Nhóm là một tập hợp những cá nhân có các kỹ năng bổ sung cho nhau và cùng cam kết chịu trách nhiệm thực hiện một mục tiêu chung Vì thế các thành viên trong nhóm cần có sự tương tác với nhau và với trưởng nhóm để đạt được mục tiêu chung Các thành viên trong nhóm cũng phải có sự phụ thuộc vào thông tin của nhau

để thực hiện phần việc của mình

Trang 24

Như vậy có thể hiểu: Nhóm phụ nữ là khái niệm dùng để chỉ một tập hợp nhiều con người có những nét về mặt sinh học thuộc giống cái của loài người, hay tập hợp những người con gái đã trưởng thành

1.1.1.3.Phụ nữ mang thai

Phụ nữ mang thai là khái niệm dùng để chỉ một người con gái trưởng thành đang mang một hay nhiều con trong tử cung của mình

1.1.1.4 Phụ nữ cho con bú

Phụ nữ cho con bú là khái niệm dùng để chỉ người phụ nữ đã sinh

con và đang nuôi con bằng dòng sữa tiết ra từ cơ thể mình

1.1.2.Kiến thức và kiến thức cho phụ nữ mang thai và cho con bú

1.1.2.1 Kiến thức

Kiến thức hay Tri thức (tiếng Anh: knowledge) bao gồm những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, hay kỹ năng có được nhờ trải nghiệmhay thông qua giáo dục Trong tiếng Việt, cả “tri” lẫn “thức” đều có nghĩa là biết.Tri thức có thể chỉ sự hiểu biết về một đối tượng, về mặt lý thuyết hay thực hành

Nó có thể ẩn tàng, chẳng hạn những kỹ năng hay năng lực thực hành, hay tường minh, như những hiểu biết lý thuyết về một đối tượng; nó có thể ít nhiều mang tính hình thức hay có tính hệ thống Mặc dù có nhiều lý thuyết về tri thức, nhưng hiện không có một định nghĩa nào về tri thức được tất cả mọi người chấp nhận

Tri thức có 2 dạng tồn tại chính là tri thức ẩn và tri thức hiện

Tri thức hiện là những tri thức được giải thích và mã hóa dưới dạng văn bản, tài liệu, âm thanh, phim, ảnh,… thông qua ngôn ngữ có lời hoặc không lời, nguyên tắc hệ thống, chương trình máy tính, chuẩn mực hay các phương tiện khác Đây là những tri thức đã được thể hiện ra ngoài và dễ dàng chuyển giao, thường được tiếp nhận qua hệ thống giáo dục và đào tạo chính quy

Trang 25

Tri thức ẩn là những tri thức thu được từ sự trải nghiệm thực tế, dạng tri thức này thường ẩn trong mỗi cá nhân và rất khó “mã hóa” và chuyển giao, thường bao gồm: niềm tin, giá trị, kinh nghiệm, bí quyết, kỹ năng ví dụ: Trong bóng đá, các cầu thủ chuyên nghiệp có khả năng cảm nhận bóng rất tốt Đây là một dạng tri thức ẩn, nó nằm trong mỗi cầu thủ Nó không thể “mã hóa” thành văn bản, không thể chuyển giao, mà người ta chỉ có thể có bằng cách tự mình luyện tập

1.1.2.2.Kiến thức cho phụ nữ mang thai và cho con bú

Kiến thức cho phụ nữ mang thai và cho con bú là những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, hay kỹ năng có được nhờ trải nghiệm hay thông qua giáo dụcvề các vấn đề như phòng, chống các loại dịch, bệnh; sử dụng thuốc phòng, chữa bệnh an toàn hiệu quả hợp lý; các dịch vụ y tế; các kỹ thuật cao trong y tế cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú, thông qua các kênh/hình thức thông tin trực tiếp hoặc gián tiếp qua đó giúp họ hiểu hơn các vấn đề sức khỏe

1.1.3.Kỹ năng và kỹ năng cho phụ nữ mang thai và cho con bú

1.1.3.1.Kỹ năng

Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về kỹ năng Những định nghĩa này thường bắt nguồn từ góc nhìn chuyên môn và quan niệm cá nhân của từng người Tuy nhiên, hầu hết chúng ta đều thừa nhận rằng kỹ năng được hình thành khi chúng ta áp dụng kiến thức vào thực tiễn Kỹ năng học được do quá trình lặp đi lặp lại một hoặc một nhóm hành động nhất định nào đó Kỹ năng luôn có chủ đích và định hướng rõ ràng

Kỹ năng là năng lực (khả năng) của chủ thể thực hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm) nhằm tạo ra kết quả mong đợi

Trang 26

Sự khác nhau giữa kỹ năng và phản xạ

Phản xạ là phản ứng của cơ thể với môi trường.Phản xạ mang tính thụ động Kỹ năng ngược lại là phản ứng có ý thức và hoàn toàn mang tính

chủ động

Sự khác nhau giữa kỹ năng và thói quen

Hầu hết các thói quen hình thành một cách vô thức và khó kiểm soát Trong khi đó kỹ năng được hình thành một cách có ý thức do quá

trình luyện tập

Sự khác nhau giữa kiến thức và kỹ năng

Kiến thức là biết, là hiểu nhưng chưa bao giờ làm, thậm chí không bao giờ làm Trong khi đó kỹ năng lại là hành động thuần thục trên nền tảng kiến thức Vì không tác động vào thực tại khách quan nên kiến thức thường ít tạo ra những thành quả cụ thể cho cuộc đời Bạn có thể thấy rất nhiều những giáo viên suốt đời dạy về lý thuyết kinh tế và không tham gia làm kinh doanh nên cho dù họ có hiểu rõ về nguyên lý của thị trường đến mấy nhưng bản thân

họ cũng không làm ra nhiều tiền

Sự khác nhau giữa Báo và Tạp chí

Báo và Tạp chí đều có một chức năng chung cơ bản là thu thập, xử lý

và truyền đưa thông tin về tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, văn hóa Tuy nhiên giữa báo và tạp chí có những điểm khác nhau cơ bản sau:

Về chức năng thông tin: Báo chủ yếu là những thông tin phản ánh, mang tính thời sự (kịp thời, chính xác, đầy đủ) Ví dụ Báo nhân dân, báo tuổi trẻ, báo thanh niên Tạp chí chủ yếu là những thông tin lý luận khoa học, hướng dẫn nghiệp vụ chuyên ngành Ví dụ như: Tạp chí cộng sản, Tạp chí hóa học, Tạp chí công nghiệp…

Trang 27

Về nhiệm vụ thông tin: Nhiệm vụ thông tin của báo trong mọi thời kỳ

là cổ vũ, động viên kịp thời các phong trào quần chúng cách mạng Nhiệm vụ

cổ động của báo là thông tin tới nhiều người biết các sự kiện đã, đang, sẽ xẩy

ra trong đời sống xã hội Nhiệm vụ của tạp chí chủ yếu là tuyên truyền Tuyên truyền để nêu vấn đề, phân tích tổng hợp, nêu mối liên hệ của vấn đề với mục đích nói nhiều ý cho một số người để nhận thức, bàn bạc cùng tập trung giải quyết tới vấn đề đó với thực tiễn

Về mô hình tòa soạn: Mô hình tòa soạn báo thường có cấu tạo các phòng, ban, bộ phận chuyên môn phức tạp, nhằm đáp ứng việc xuất bản báo, nhất là các tờ báo ra mỗi kỳ Mô hình tòa soạn của các tạp chí gọn nhẹ hơn (ngoại trừ các tạp chí lớn, xuất bản mỗi kỳ, số trang nhiều…thường tập trung

ở các tạp chí chuyên về các vấn đề xã hội như thể thao, giới tính, mốt thời trang) Có những tạp chí xuất bản tháng mỗi kỳ cả tòa soạn chỉ cần một phòng (gồm cả tổng biên tập, các biên tập viên kỷ thuật)

Về đối tượng phục vụ: Đối tượng công chúng thường đa dạng, với nhiều trình độ kiến thức khác nhau Tạp chí chủ yếu tập trung lĩnh vưc chuyên biệt, nhất là các tạp chí thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật

Về nội dung phản ánh: Báo là tất cả các sự kiện, vấn đề nảy sinh trong

xã hội cần được giới thiệu, thông báo, hướng dẫn dư luận kịp thời Do dung lượng về thời gian xuất bản, cũng như dung lượng trên mặt báo có hạn nên báo không có điều kiện đi sâu và nghiên cứu lý luận, tổng kết kinh nghiệm, nghiên cứu khoa học và nghiên cứu phản ánh Tạp chi là các vấn đề sự kiện cần đi sâu nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân và đưa ra giải pháp tháo gỡ hoặc phổ biến những kinh nghiệm, học thuật mang tính khoa học chuyên ngành

Trang 28

Về tổ chức nội dung: Báo thường theo định hướng nội dung các sự kiện

đã, đang, sẽ xẩy ra trong thực tiễn mà tờ báo đó phải thông tin đến công chúng nhanh nhạy, kịp thời, chính xác, đầy đủ Kế hoạch nội dung được hoàn thiện trên cơ sở các tác phẩm sáng tạo của phóng viên, cộng tác viên và việc định hình các trang, mục trên báo Báo sử dụng phong phú thể loại tác phẩm

và chuyên trang, chuyên mục Tạp chí theo nội dung những vấn đề của hiện thực mà công chúng đang quan tâm, có nhiệm vụ thông tin, định hướng, đưa

ra giải pháp thích hợp Nội dung thường có kết cấu những vấn đề mang tính

lý luận, nghiệp vụ khoa học chuyên ngành Phổ biến kiến thức kinh nghiệm Thông tin khoa học Sử dụng thể loại tác phẩm hạn chế, thường chủ yếu sử dụng các thể loại chính luận như bình luận, chuyên luận hoặc tin tức khoa học, thể loại bài báo hoặc khoa học

Về đội ngũ sáng tạo báo chí: Báo chủ yếu là phóng viên, cộng tác viên tích cực ở các cơ sở Tạp chí chủ yếu là lực lượng cộng tác viên, họ là những nhà khoa học, chuyên môn thông hiểu các vấn đề nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm, phổ biến kiến thức Biên tập viên là những người biên tập vưng về nghiệp vụ chuyên ngành

Về thời gian xuất bản: Báo thường nhanh hơn (đảm bảo tính thời sự) Việc xuất bản theo chu kỳ của hàng ngày hay nhiều kỳ trong tuần, tháng tùy theo yêu cầu nhiệm vụ của cơ quan báo Tạp chí định kỳ phát hành dài hơn báo Thường thì các tạp chí xuất bản tháng một kỳ Cũng có một số tờ báo cá biệt, xuất bản hai tháng hoặc mỗi quý một số

Về phạm vi phát hành: Báo có phạm vi phát hành rộng rãi trong nước, quốc tế Tạp chí phát hành ở phạm vị hẹp, nhất là các tạp chí chuyên ngành Ngoại trừ các tạp chí về các vấn đề xã hội, có khả năng phát hành rộng trong nước và quốc tế, nhưng số này ít

Trang 29

Đạo đức và đạo đức nhà báo

Theo văn hóa Phương Đông, các học thuyết của Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo đều lấy đạo đức làm cơ sở trong đối nhân xử thế và tự rèn luyện mình, khuyên con người làm điều thiện, tránh điều ác Các học thuyết ấy đề ra những quy tắc, chuẩn mực để định hướng cách đánh giá, ứng xử của con người trong quan hệ xã hội và tu nhân, dưỡng tâm, rèn khí tiết

Ở Phương Tây, khái niệm đạo đức bắt đầu từ chữ mos trong ngữ vựng

Latin, có nghĩa là Lề thói; hoặc chữ ethicos trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là tập tục gắn với thói quen Cả hai từ này đều nói về tập quán, lề thói trong các quan hệ giao tiếp của con người và đều chỉ đạo đức xã hội

Khái niệm đạo đức trong tiếng Anh là momal, chỉ các quan hệ, hành vi,

phẩm giá về sự quan tâm của người này đối với người khác theo các chuẩn mực về cái tốt trong cộng đồng xã hội

Từ những quan niệm trên đây, có thể đinh nghĩa:

Đạo đức là tập hợp những nguyên tắc, quy chuẩn, quy mực được dư luận xã hội thừa nhận nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau, với tự nhiên và xã hội

Đạo đức nhà báo

Nhà báo phải chấp hành nghiêm chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; thi hành nhiệm vụ theo đúng quy định của pháp luật Không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ lý luận chính trị để vận dụng vào hoạt động giảng dạy, giáo dục và đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ được giao Có ý thức tổ chức kỷ luật, chấp hành nghiêm sự điều động, phân công của tổ chức, có ý thức tập thể, phấn đấu vì lợi ích chung

Trang 30

Trong nghề nghiệp nhà báo tâm huyết với nghề, có ý thức giữ gìn danh

dự lương tâm nhà giáo; có tinh thân đoàn kết, thương yêu, giúp đỡ đồng nghiệp trong cuộc sống và trong công tác, có lòng nhân ái, bao dung, độ lượng, đối xử hòa nhã với người học, đồng nghiệp Tận tụy trong công việc, thực hiện đúng điều lệ, quy chế, nội dung của đơn vị, của ngành Có lối sống, tác phong giản dị, hòa nhập, đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp, bàn bè, học sinh Luôn giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo

Nguyên tắc đạo đức nhà báo khi đưa thông tin chuyên biệt

Cân nhắc kỹ lưỡng khi đưa thông tin về vấn đề báo chí ngành Y tế cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú Khi viết

và chuẩn bị cho đăng một bài báo, nhà báo phải chú ý đến mối quan hệ đạo đức về vấn đề cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm đối tượng phụ nữ mang thai và cho con bú Các kiến thức và kỹ năng phải đúng, hướng dẫn phải tận tình chu đáo, đúng thời kỳ, có nguồn tư liệu đúng, đưa ra thông tin chỉ dẫn có nguồn trích dẫn

Tránh tình trạng đưa thông tin không chính xác, hướng dẫn kỹ năng không đúng cho nhóm đối tượng phụ nữ mang thai và cho con bú Nhà báo cần hiểu rõ về các kiến thức Y học, các giai đoạn mang thai, chế độ dinh dưỡng cho phụ nữ mang thai Cách thức chăm sóc sau khi sinh, cho con bú như thế nào là đúng, vai trò sữa mẹ quan trong đối với trẻ mới sinh có ý nghĩa quan trọng như thế nào Việc cho con bú có ý nghĩa tốt cho cả mẹ và bé, bé được cung cấp nguồn dinh dưỡng đầy đủ từ sửa mẹ và giup cho trẻ có tính cảm mẹ con ấm áp Tránh tình trạng nhà báo đưa tin, hướng dẫn sai các kiến thức và kỹ năng khi mang thai và cho con bú

Nâng cao nhận thức của nhà báo về vấn đề cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú Hiện nay vẫn còn ít nhà báo

Trang 31

quan tâm đến mảng để tài này, các bài báo chủ yếu là của các tác giả viết về ngành Y, tuy nhiên viết chưa nhiều, chưa có hệ thống, tập trung ở một số báo

và tạp chí về ngành Y như Tạp chí Nâng cao sức khỏe, Báo Gia đình và Xã hội, Báo Sức khỏe và Đời sống Cần có nhiều bài viết chuyên sâu, các kiến thức được cập nhật thường xuyên về kiến thức cho bà mẹ mang thai và cho con bú

1.1.3.2.Kỹ năng cho phụ nữ mang thai và cho con bú

Kỹ năng cho phụ nữ mang thai và cho con bú là năng lực, hành động thuần thục trên nền tảng kiến thức về các vấn đề như phòng, chống các loại dịch, bệnh; sử dụng thuốc phòng, chữa bệnh an toàn hiệu quả hợp lý; các dịch vụ y tế; các kỹ thuật cao trong y tế cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú

1.2.VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG VẤN ĐỀ CUNG CẤP KIẾN THỨC VÀ KỸ NĂNG CHO NHÓM PHỤ NỮ MANG THAI VÀ CHO CON BÚ

1.2.1 Báo chí cung cấp thông tin, kiến thức

1.2.1.1.Cung cấp thông tin thời sự liên quan đến nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú

Báo chí có vai trò, chức năng ngày càng quan trọng trong đời sống xã hội đặc biệt là trong lĩnh vực bảo vệ, chăm sóc sức khỏe phụ nữ và trẻ em Thông tin là chức năng cơ bản, chức năng khởi nguồn của báo chí Báo chí ra đời là để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu thông tin giao tiếp của con người và xã hội Xã hội càng phát triển, con người càng văn minh thì nhu cầu thông tin giao tiếp càng cao, càng đa dạng phong phú Phụ nữ mang thai và cho con bú

là nhóm đối tượng dễ bị tổn thương, dễ bị ảnh hưởng khi môi trường sống, điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội có biến đổi tiêu cực hoặc khi có xuất hiện

Trang 32

dịch bệnh mới Do vậy, họ cần được thông tin một cách đầy đủ, nhanh chóng, chính xác và trung thực không chỉ về các dịch bệnh mà còn cả những chế độ, chính sách dành riêng cho mình để có thể tự bảo vệ, chăm sóc sức khỏe

Báo chí có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc cung cấp thông tin thời

sự liên quan đến nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú như: cung cấp kịp thời thông tin về dịch bệnh, cách phòng chống dịch bệnh, các dịch vụ y tế,…giúp nhóm đối tượng này có cái nhìn tổng quan nhất, đúng đắn nhất, kịp thời nhất về y tế, chăm sóc sức khỏe cho mình và con cái của mình

Báo chí cung cấp thông tin thời sự những thông tin về kiến thức chăm sóc sức khỏe rộng rãi, phong phú, đa dạng và dễ hiểu, dễ làm theo đến cộng đồng sẽ giúp cho cộng đồng phát huy những hành vi bảo vệ và chăm sóc sức khỏe một cách lành mạnh, nhằm mang lại sức khỏe tốt nhất cho mỗi cá nhân trong cộng đồng

Thông tin về kiến thức chăm sóc sức khỏe thường nhấn mạnh đến các lĩnh vực chính là:

+ Nhận thức của cộng đồng đối với vấn đề chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe đặc biệt là sức khỏe sinh sản

+ Thái độ của cộng đồng đối với vấn đề chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe

+ Hành vi của cộng đồng đối với vấn đề chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe

Trên thực tế cho thấy để đạt được các mục tiêu trên, thông tin về kiến thức chăm sóc sức khỏe là một quá trình nên cần phải thực hiện thường xuyên, liên tục, lâu dài và bằng nhiều biện pháp khác nhau Vì vậy, để thực hiện công tác thông tin về kiến thức chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng nói chung và chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ mang thai và cho con bú nói riêng

Trang 33

có hiệu quả cần phải có sự đầu tư thích dáng và kiên trì cả về nhân lực và vật lực

Việc thông tin về kiến thức chăm sóc sức khỏe cho cho phụ nữ mang thai và cho con bú không chỉ là thực hiện theo hướng một chiều mà là mối quan hệ tác động qua lại hai chiều và hợp tác giữa người cung cấp thông tin

và đối tượng tiếp nhận về kiến thức chăm sóc sức khỏe Do đó, người làm công tác thông tin sức khỏe không chỉ cung cấp cho phụ nữ mang thai và cho con bú đơn thuần mà còn thu nhận thông tin phản hồi từ các bà mẹ để kịp thời điều chỉnh, bổ sung những thông tin còn thiếu sót nhằm nâng cao chất lượng của công tác thông tin

Thông tin về kiến thức chăm sóc sức khỏe cho cho phụ nữ mang thai và cho con bú không đơn thuần là cung cấp thông tin một cách chính xác, đầy đủ

về tình hình sức khỏe, bệnh tật mà còn nhấn mạnh đến các yếu tố tác động đến thái độ, nhận thức của bà mẹ để từ đó làm thay đổi hành vi của bà mẹ về vấn đề chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe

Thông tin nhằm thay đổi nhận thức, thái độ và hành vi của phụ nữ mang thai và cho con bú về bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe thường được chia thành thông tin về các vấn đề liên quan đến y tế - sức khỏe mang tính thời sự đang được các bà mẹ quan tâm, thông tin về các bệnh, dịch bệnh, cách phòng chống bệnh, dịch bệnh theo mùa, theo diễn biến, chu kỳ bệnh, dịch bệnh; thông tin về vấn đề chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe theo giới, theo lứa tuổi…

1.2.1.2.Cung cấp thông tin chỉ dẫn

Báo chí không chỉ là vũ khí tư tưởng sắc bén, lợi hại mà báo chí còn đóng vai trò tuyên truyền thông tin, tư vấn, chỉ dẫn cá nhân, tập thể Trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay vai trò của báo chí ngày càng quan trọng:

Trang 34

Báo chí là kênh tạo lập định hướng và hướng dẫn dư luận; Báo chí là kênh cung cấp thông tin chủ yếu về tình hình thời sự trong nước và quốc tế cho nhân dân; Báo chí là một công cụ hữu hiệu để quản lý, điều hành và cải cách xã hội; báo chí trở thành một bộ phận hữu cơ không thể thiếu trong đời sống hàng ngày của mọi cá nhân, là phương tiện cung cấp thông tin kiến thức và giải trí cho mọi người dân [41, tr13]

Mặt khác, báo chí cũng là vũ khí lý luận sắc bén, thông qua hoạt động phản ánh thông tin của mình, các cơ quan báo chí đã không chỉ làm nhiệm vụđưa thông tin đến công chúng mà còn góp phần tác động đến nhận thức, tư tưởng, tình cảm của công chúng, từ đó tạo dựng lên dư luận xã hội qua đó tạo dựng thông tin tư vấn, chỉ dẫn đúng đắn Nếu thông tin trên báo chí mang tính khách quan, trung thực thì sẽ tạo nên dư luận tích cực, chỉ dẫn tích cực

Trên thực tế, mỗi khi có vấn đề gì xảy ra liên quan đến y tế nói chung thì dư luận rất quan tâm, vì thế nếu báo chí nói chung, đặc biệt là báo chí ngành Y tế thông tin sai sự thật, thông tin giật gân sẽ khiến dư luật hoang mang Điều này sẽ gây ra những ảnh hưởng không tốt đến đời sống xã hội,

làm giảm lòng tin của công chúng vào báo chí

Trong thế kỷ vừa qua, sự tiến bộ của khoa học ngành Y đã có nhiều thành tựu vượt bậc cả trong điều trị lẫn dự phòng các dịch, bệnh ở nhóm phụ

nữ mang thai và cho con bú Tin tức về y khoa trở nên phong phú hơn nhưng cũng phức tạp, khó hiểu với các thuật ngữ mới về bệnh tật, các danh từ kỹ thuật về phương thức chẩn đoán khám chữa bệnh cũng như danh tính các tác nhân gây bệnh Nguồn cung cấp tin tức dữ kiện y tế khoa học cũng nhiều và dưới các hình thức khác nhau

Trước thực tế trên, báo chí không những đã có nhiều cố gắng để nâng

Trang 35

cao ý thức y tế, giúp cải thiện tình trạng sức khỏe của nhóm phụ nữ mang thai

và cho con bú, thông qua việc cập nhật liên tục thông tin về tình hình dịch bệnh, thông tin y khoa, đa dạng các hình thức chuyển tải, cải tiến chuyên mục, giờ phát để phù họp với đối tượng mà còn cung cấp các thông tin chỉ dẫn về y tế, khám chữa bệnh như: chỉ dẫn sử dụng thuốc an toàn, chỉ dẫn diều trị bệnh,…Cụ thể:

*Thông tin chỉ dẫn về tình hình dịch bệnh và cách phòng chống dịch bệnh

Trước tình trạng các dịch bệnh lây nhiễm và không lây nhiễm đang ngày một bùng phát, có khả năng lây lan trên diện rộng và gây những hậu quả nghiêm trọng cho sức khỏe cộng đồng cũng như kinh tế - xãhội, cộng đồng ngày càng có nhu cầu thông tin về lĩnh vực này để từ đó nâng cao kiến thức phòng chống dịch bệnh Chính vì vậy việc các phương tiện truyền thông đại chúng đăng tải các thông tin về tình hình dịch bệnh, cách phòng tránh dịch lây lan, rồi cách sử dụng thực phẩm… trong điều kiện dịch bệnh lây lan, những nguy cơ của dịch bệnh đối với sức khỏe sẽ giúp cộng đồng có thông tin về những vấn đề liên quan đến dịch bệnh nhằm giúp mỗi người dân trong cộng đồng có ý thức chủ động hơn trong việc phòng chống dịch bệnh cho không chỉ bản thân mình mà còn cho cả cộng đồng

*Thông tin chỉ dẫn về thành tích y học, kỹ thuật cao trong điều trị

Việc cung cấp thông tin mang tính chỉ dẫn về những thành công trong triển khai kỹ thuật cao trong chăm sóc sức khỏe cho phụ nữ mang thai và cho con bú của các cơ sở y tế cũng như các dịch vụ khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe đã, đang và sẽ triển khai, giúp cho cộng đồng nắm bắt được thông tin để tiếp cận các dịch vụ này khi có nhu cầu cần chăm sóc sức khỏe

Trang 36

*Thông tin hướng dẫn sử dụng thuốc hợp lý và chỉ dẫn về các bài thuốc

y học cổ truyền

Việc các cơ quan báo chí cung cấp các thông tin về lĩnh vực này nhằm hướng đến việc tư vấn cho cho phụ nữ mang thai và cho con bú cách sử dụng thuốc an toàn, hiệu quả và hợp lý, đồng thời tránh được tình trạng lạm dụng thuốc Bên cạnh đó, còn giúp các bà mẹ tận dụng được lợi thế của nền y học

cổ truyền Việt Nam thông qua việc áp dụng các bài thuốc dân gian, có nguồn gốc từ y học cổ truyền vào phòng và điều trị bệnh

*Thông tin chỉ dẫn về an toàn thực phẩm và dinh dưỡng hợp lý

Vệ sinh an toàn thực phẩm luôn là lĩnh vực nóng bỏng, bởi nó liên quan mật thiết đến bữa cơm hàng ngày của người dân, ảnh hưởng sát sườn đến sức khỏe của người dân Trong những năm gần đây, thông tin về thực phẩm “bẩn” không đảm bảo an toàn thực phẩm liên tiếp bị cơ quan chức năng phát hiện, bắt giữ như thịt lợn tai xanh đang được chế biến thành đặc sản mắm tép, thịt nhiễm vi sinh vật, hoa quả ngâm tẩm hóa chất, chân gà thối rữa dùng để chế biến thành chân gà nướng, hạt hướng dương tẩm hóa chất gây ung thư, gạo tẩm hóa chất, cá nhiễm thuốc trừ sâu, rau muống, rau ngót có hóa chất độc hại vượt mức cho phép… đã khiến cho người tiêu dùng hết sức hoang mang vì đụng đâu cũng thấy thực phẩm “bẩn” Do đó, việc báo chí đưa thông tin về vấn đề này rất cần thiết nhằm giúp cho các bà mẹ biết cách để lựa chọn thực phẩm an toàn, tẩy chay thực phẩm “bẩn”

Bên cạnh thông tin về an toàn vệ sinh thực phẩm thì thông tin về dinh dưỡng cũng rất cần thiết, nhằm giúp cho phụ nữ mang thai và cho con bú biết cách lựa chọn, sử dụng các loại thực phẩm một cách hợp lý để vừa đảm bảo dinh dưỡng cho sức khỏe, vừa tránh được những tác hại đối với sức khỏe như quá béo phì, suy dinh dưỡng…

Trang 37

1.2.1.3.Cung cấp thông tin tư vấn

Không chỉ hiện nay mà ngay từ khi thành lập nước đến nay, công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân nói chung và sức khỏe cho phụ nữ mang thai và cho con bú luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư

vì cung cấp kiến thức vàkỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú chính là một trong những vấn đề cấp thiết mang tính chiến lược trong quá trình xây dựng và phát triển của đất nước ta Do đó, việc thông tin tuyên truyền về lĩnh vực này để người dân hiểu đúng, đủ, từ đó người dân thực hành theo là nhiệm vụ quan trọng trong hoạt động thông tin của các cơ quan báo chí nói chung, báo chí ngành Y tế nói riêng Báo chí không những là kênh thông thông tin cung cấp kiến thức và kỹ năng cho nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú thông qua việc cung cấp thông tin thời sự, thông tin chỉ dẫn mà báo chí còn cung cấp thông tin tư vấn từ các chuyên gia đầu ngành, các bác sĩ nổi tiếng Tại các chương trình, các diễn đàn họ sẽ hướng nhóm đối tượng này

ăn, uống, sinh hoạt một cách khoa học và đúng đắn nhất: ăn cái gì, ngủ nghỉ

ra sao,…

Ví dụ: Trên Đài truyền hình Việt Nam (VTV) ngoài những thông tin về

y tế - sức khỏe phụ nữ mang thai và cho con bú phát sóng thường xuyên trên các bản tin thời sự, VTV còn có những chươngtrình thường xuyên thông tin

về y tế- sức khỏe trong đó tập trung nhiều nhất ở VTV2: “Vì sức khỏe”“Chính sách y tế và cuộc sống”,…

Lần đầu tiên tại Việt Nam, các y bác sĩ đầu ngành đến từ những Bệnh viện Sản Nhi hàng đầu đã cùng phối hợp cùng Bệnh viện Từ Dũ thực hiện chương trình truyền hình tư vấn đặc biệt dành cho các bà mẹ trẻ mang tên

“Làm Mẹ‟.Chương trình được phát sóng vào thứ bảy hàng tuần từ 18h50, phát lại 10h sáng Chủ nhật và 14h Thứ năm trên kênh truyền hình Today TV từ ngày 17/5/2014 Các ông bố, bà mẹ có thể gửi câu hỏi về cho

Trang 38

18h30-bác sĩ tham gia chương trình qua hotline: 08.39111010 hoặc email: congdongbau@gmail.com Đây có thể xem là chương trình truyền hình toàn diện nhất từ trước đến nay tư vấn cho các bà mẹ từ việc chăm sóc thai kỳ cho đến việc sinh con và nuôi con khỏe mạnh Đến với chương trình, các ông bố,

bà mẹ không chỉ được học hỏi kiến thức chăm sóc thai kỳ và trẻ nhỏ, mà còn được học các kỹ năng thực tế cần thiết cho việc chăm sóc bản thân và bé yêu như tắm và chăm sóc rốn bé, xử trí khi thai phụ bị chuột rút, bài tập thở giúp giảm đau khi chuyển dạ,… Những kỹ năng này được hướng dẫn thực hành bởi đội ngũ điều dưỡng giàu kinh nghiệm từ Bệnh viện Từ Dũ, Bệnh viện Hùng Vương, Trung tâm dinh dưỡng TP.HCM và các bệnh viện khác

Với sứ mệnh “Mang lại sự khởi đầu tốt đẹp nhất cho trẻ em Việt Nam”, Mead Johnson Nutrition Việt Nam đã khởi xướng và tài trợ thực hiện chương trình truyền hình khoa giáo “Mẹ khỏe, bé thông minh” Chương trình dành riêng cho các bà mẹ mang thai và cho con bú, được phát sóng bắt đầu từ tháng 8.2014 trên kênh HTV9.Mẹ khỏe, bé thông minh” với sự cố vấn chuyên môn từ Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia, hứa hẹn

sẽ là một kênh thông tin thú vị cung cấp cho các bà mẹ mang thai và cho con bú những kiến thức về dinh dưỡng mới nhất dựa trên nghiên cứu khoa học cũng như những thông tin thiết thực giúp ích cho sự phát triển não bộ toàn diện của trẻ em Việt Nam.Tuy nhiên, không phải ai cũng có đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm trong việc cung cấp dinh dưỡng để tối đa hóa tiềm năng phát triển của thai nhi từ trong bụng mẹPGS,TS Nguyễn Thị Lâm, Phó viện trưởng Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia chia sẻ:

“Mẹ khỏe, bé thông minh” là một chương trình truyền hình

giáo dục sức khỏe nhằm cung cấp cho các bà mẹ mang thai và cho

con bú những thông tin về dinh dưỡng và chăm sóc sức khỏe “Mẹ

khỏe, bé thông minh” là chương trình truyền hình thiết thực và có ý

Trang 39

nghĩa được thiết kế đặc biệt dành cho thai phụ Những kiến thức đáng tin cậy về dinh dưỡng và chăm sóc thai kỳ được truyền tải một cách sống động thông qua hình thức kịch ngắn, tư vấn trực tiếp từ chuyên gia hàng đầu về thai sản, nhi khoa, dinh dưỡng, tâm lý sẽ giúp thai phụ dễ dàng tiếp nhận và áp dụng Đồng thời, đây cũng là một cơ hội để mẹ bầu thư giãn vào những ngày cuối tuần Chương trình gồm 26 kỳ phát sóng vào trưa thứ Bảy hoặc chủ Nhật hàng tuần trên HTV9 lúc 12h50, bao gồm nhiều chủ đề khác nhau, liên quan đến sự hình thành và phát triển của bào thai, cách chăm sóc

mẹ và thai nhi, thai giáo và dinh dưỡng đúng cách cho sự phát triển trí não của bé trong suốt thai kỳ và những tháng đầu đời

1.2.2 Báo chí tạo diễn đàn chia sẻ kỹ năng, kinh nghiệm

1.2.2.1.Báo chí tạo lập diễn đàn trao đổi, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm

Báo chí không chỉ là kênh thông tin - truyền thông quan trọng cung cấp thông tin kiến thức, mà còn là diễn đàn trao đổi, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm phong phú nhằm nâng cao trình độ dân trí, đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững Thông qua báo chí, các phương pháp điều trị mới, kiến thức phòng chống dịch bệnh hay các vấn đề về sức khỏe phụ nữ mang thai

và cho con bú không chỉ ở trong nước mà còn trên cả thế giới được chia sẻ một cách rộng rãi

Thông qua các diễn đàn,kiến thức và kỹ năng cho phụ nữ mang thai và cho con bú được các thành viên trao đổi, chia sẻ với nhau, tạo ra những hiệu ứng tích cực trong bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, phần nào giải quyết tình trạng thiếu thông tin Nếu thiếu thông tin về sức khỏe, người dân sẽ đối mặt với những khó khăn như: thiếu hiểu biết hoặc hiểu biết không đúng về diễn tiến và nguyên nhân gây ra bệnh; không biết tự chăm sóc cũng như phòng tránh bệnh tật; thường có sức khỏe kém vì bỏ qua các phương thức phòng

Trang 40

tránh bệnh mà khoa học đã cống hiến; không chữa trị ổn định bệnh do đó dùng nhiều dịch vụ đế chữa các biến chứng của bệnh và ít dùng dịch vụ để giảm thiểu các biến chứng; nhập viện nhiều hơn; thường tới phòng cấp cứu để chữa các bệnh thông thường thay vì tới bác sĩ gia đình, đưa tới gia tăng chi phí y tế; chỉ đi khám bệnh khi bệnh đã trở nên trầm trọng

Thông qua các diễn đàn giúp mọi người sống lành mạnh hơn, bảo vệ, chăm sức khỏe nhóm phụ nữ mang thai và cho con bú tốt hơn bằng cách chia

sẻ gương điển hình, cách làm mới các thành viên cùng giúp đỡ nhau nâng cao ý thức y tế trong phòng chống bệnh tật vàthay đổi những thói quen có hại cho sức khỏe phụ nữ và trẻ em, tập trung vào việc phòng bệnh, giúp cắt giảm chi phí chăm sóc điều trị cho cá nhân cũng như gia đình và ngân sách quốc gia Đồng thời, thúc đẩy quần chúng tự mình thay đổi nếp sống, áp dụng hành

vi có lợi cho sức khỏe bằng những phản ảnh người thật, việc thật, lời khuyên của chuyên gia, giới thiệu nhiều mô hình phù hợp với từng nhóm đối tượng, phù hợp với phong tục, tập quán của từng vùng miền hầu làm tăng cao hơn khả năng, cơ hội thực hành của người dân

Ngoài ra cũng phải kể đến các diễn đàn tọa đàm có sự giao lưu trực tiếp của khán giả tại trường quay, và hiện nay còn xuất hiện thêm hình thức cung cấp thông tin về sức khỏe qua các hình thức giải trí như đố vui, gameshow, phỏng vấn chuyên gia, các diễn đàn tọa đàm này vừa đáp ứng nhu cầu giải trí vừa giúp nâng cao kiến thức Ví dụ như:Các chương trình truyền hình “bác sĩcủa bạn”,“sức khỏe của mẹ và bé”, hiện cũng đang đan xen chức năng này thông qua hình thức đố vui cho khán giả tại trường quay hoặc tổ chức hẳn chương trình giải trí như “Vitamin” (Đài Truyền hình Hà Nội), “Sức khỏe vàng” (Đài Truyền hình TP.HCM HTV9) sau phần trả lời của người chơi là phần tư vấn của các bác sĩ chuyên ngành và chuyên gia tâm lý

Ngày đăng: 24/11/2021, 12:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Claudia Mast (2004), Truyền thông đại chúng- Những kỹ năng cơ bản, Nhà xuất bản Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông đại chúng- Những kỹ năng cơ bản
Tác giả: Claudia Mast
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông tấn
Năm: 2004
2. Bộ Y tế, (2010), Kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011–2015,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân giai đoạn 2011–2015
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2010
6. Bộ Y tế, (2011); Quyết định số l827/QĐ-BYT ngày 07/6/2011 của Bộ Y tế về việc phê duyệt “Chương trình hành động Truyền thông giáo dục sức khoẻ giai đoạn 2011 -2015” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình hành động Truyền thông giáo dục sức khoẻ giai đoạn 2011 -2015
7. Bộ Y tế, (2011), Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế năm 2011: Nâng cao năng lực quản lý, đổi mới tài chính Y tế để thực hiện kế hoạch 5 năm ngành Y tế, 2011–2015, Bộ Y tế: Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao năng lực quản lý, đổi mới tài chính Y tế để thực hiện kế hoạch 5 năm ngành Y tế, 2011–2015
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2011
9. Bộ Y tế, (2013), Báo cáo chung tổng quan ngành Y tế năm 2013 Thủ tướng Chính phủ, Quyết định số 255/2006/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược quốc gia Y tế dự phòng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, 2006, Văn phòng Chính phủ: Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược quốc gia Y tế dự phòng Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020, 2006
Tác giả: Bộ Y tế
Năm: 2013
10. Hoàng Đình Cúc (2013), Đặc điểm nghề báo những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm nghề báo những vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Hoàng Đình Cúc
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2013
11. Hoàng Đình Cúc- Đức Dũng (2007), Những vấn đề của báo chí hiện đại, Nhà xuất bản Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề của báo chí hiện đại
Tác giả: Hoàng Đình Cúc- Đức Dũng
Nhà XB: Nhà xuất bản Lý luận chính trị
Năm: 2007
12. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, Nhà xuất bản Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và dư luận xã hội
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động
Năm: 2011
13. Nguyễn Văn Dững (2011), Cơ sở lý luận báo chí, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2011
14. Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hằng, (2012) „„Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản” NXB chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyền thông lý thuyết và kỹ năng cơ bản
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
15. Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận báo chí, Nxb Lao động, HàNội, 16. Nguyễn Văn Dững, Báo chí truyền thông hiện đại, Nxb Đại học Quốc gia 17. Nguyễn Văn Dững (2013) “Báo chí truyền thông hiện đại - Từ hàn lâmđến đời thường”, Nxb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí," Nxb Lao động, HàNội, 16. Nguyễn Văn Dững, "Báo chí truyền thông hiện đại", Nxb Đại học Quốc gia 17. Nguyễn Văn Dững (2013) “"Báo chí truyền thông hiện đại - Từ hàn lâm "đến đời thường
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2012
18. Nguyễn Bá Dung, (2002), „„Một số nhận xét về thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực của các trạm Y tế xã thuộc huyện An Lão- Hải Phòng”, Luận án tiến sỹ Y học, Đại học Y Hà Nội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số nhận xét về thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực của các trạm Y tế xã thuộc huyện An Lão-Hải Phòng
Tác giả: Nguyễn Bá Dung
Năm: 2002
19. Đỗ Quý Doãn (2014), Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam, Nhà xuất bảnThông tin và truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý và phát triển thông tin báo chí ở Việt Nam
Tác giả: Đỗ Quý Doãn
Nhà XB: Nhà xuất bảnThông tin và truyền thông
Năm: 2014
20. G.V.Ladutina (2003), Những vấn đề cơ bản của đạo đức nghề nghiệp nhà báo (Hoàng Anh biên dịch), Nhà xuất bản Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề cơ bản của đạo đức nghề nghiệp nhà báo (Hoàng Anh biên dịch)
Tác giả: G.V.Ladutina
Nhà XB: Nhà xuất bản Lý luận chính trị
Năm: 2003
21. G.V.Lazutina (2004),Cơ sở hoạt động sáng tạo của nhà báo (Đào Tấn Anh, Hồ Quốc Vỹ, Lê Xuân Tiềm dịch), Nhà xuất bản Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở hoạt động sáng tạo của nhà báo
Tác giả: G.V.Lazutina
Nhà XB: Nhà xuất bản Thông tấn
Năm: 2004
22. Nguyễn Thị Trường Giang (2010), Đặc điểm nghề nghiệp của nhà báo hiện nay, Luận án tiến sỹ truyền thông đại chúng, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm nghề nghiệp của nhà báo hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Trường Giang
Năm: 2010
23. Kỷ yếu hội nghị khoa học,(1997); “Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác bảo vệ sức khỏe”, NXB chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác bảo vệ sức khỏe
Nhà XB: NXB chính trị Quốc gia
24. Đỗ Xuân Hà, (1997), „„Báo chí với thông tin quốc tế”, NXB ĐHQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí với thông tin quốc tế
Tác giả: Đỗ Xuân Hà
Nhà XB: NXB ĐHQG
Năm: 1997
25. Đỗ Thị Thu Hằng (2010), PR Công cụ phát triển báo chí,Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: PR Công cụ phát triển báo chí
Tác giả: Đỗ Thị Thu Hằng
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2010
26. Phạm Thị Thanh Tịnh (2013), Công chúng báo chí, Nxb Chính trị - Hành chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công chúng báo chí
Tác giả: Phạm Thị Thanh Tịnh
Nhà XB: Nxb Chính trị - Hành chính
Năm: 2013

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w