1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của đảng bộ trường đại học vinh hiện nay

101 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26 tháng 07 năm 2016 của Ban Chấp hành Trung ương Quy định về thi hành chương VII và chương VIII điều lệ đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

ĐINH XUÂN HẢI

CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG BỘ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH HIỆN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

HÀ NỘI - 2019

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

ĐINH XUÂN HẢI

CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG BỘ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH HIỆN NAY

Chuyên ngành : Xây dựng Đảng và Chính quyền nhà nước

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÂY DỰNG ĐẢNG VÀ CHÍNH QUYỀN NHÀ NƯỚC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS,TS TRƯƠNG NGỌC NAM

HÀ NỘI - 2019

Trang 3

Luận văn đã đƣợc sửa chữa theo khuyến nghị của Hội đồng chấm luận văn thạc sỹ

Hà Nội, ngày … tháng … năm 2019

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

(Ký, ghi rõ họ tên)

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát

của Đảng bộ trường Đại học Vinh hiện nay” là công trình nghiên cứu của

riêng tôi dưới sự hướng dẫn của PGS,TS Trương Ngọc Nam (Học viện báo chí và tuyên truyền) Các số liệu nêu trong Luận văn là trung thực; những kết luận của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác; các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được trích dẫn rõ nguồn gốc

Tôi xin chịu trách nhiệm đối với luận văn của mình

Hà Nội , ngày 15 tháng 02 năm 2019

Tác giả

ĐINH XUÂN HẢI

Trang 5

LỜI CẢM ƠN

Tác giả trân trọng cảm ơn các thầy cô trong Khoa Xây dựng Đảng, Học

viện Báo chí và Tuyên truyền, đặc biệt là PGS, TS Trương Ngọc Nam-

người trực tiếp hướng dẫn, đã giúp tôi hoàn thành luận văn này Trân trọng cảm ơn gia đình đã tạo điều kiện, giúp đỡ cho tác giả hoàn thành luận văn

Luận văn chắc chắn sẽ còn một số thiếu sót về mặt kiến thức cũng như

kỹ thuật văn bản Rất mong nhận được sự đóng góp chân thành của các nhà khoa học, quý thầy cô giáo và đồng nghiệp

Hà Nội , ngày 15 tháng 02 năm 2019

Tác giả

Trang 6

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

KT, GS : Kiểm tra giám sát

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Chương 1 CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 8

1.1 Một số khái niệm chung 8

1.2 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác kiểm tra, giám sát 13

1.3 Những yếu tố cấu thành và tiêu chí đánh giá chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng 24

Chương 2 CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG BỘ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH - THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN 32

2.1 Những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ trường Đại học Vinh 32

2.2 Thực trạng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ trường Đại học Vinh 36

Chương 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG BỘ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH TRONG THỜI GIAN TỚI 55

3.1 Phương hướng nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ trường Đại học Vinh trong thời gian tới 55

3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ trường Đại học Vinh trong thời gian tới 59

KẾT LUẬN 77

PHỤ LỤC 84

TÓM TẮT LUẬN VĂN 94

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, Đảng ta xác định xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt; công tác xây dựng Đảng là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa sống còn đối với Đảng, đảm bảo vai trò lãnh đạo đất nước phát triển vững mạnh theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa Công tác KT, GS là một

bộ phận quan trọng của công tác xây dựng Đảng, là nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, một công cụ có hiệu quả để giải quyết những vấn đề trong quan hệ nội bộ Đảng nhằm hạn chế những sai lầm, khuyết điểm Công tác

KT, GS còn là một phương thức hữu hiệu để xây dựng và hình thành nhân cách người cán bộ, đảng viên Ở bất cứ thời kỳ cách mạng nào, công tác KT,

GS đều có vai trò quan trọng đặc biệt; là một quy luật và phương thức hành động không thể thiếu để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị mà Đảng đặt

ra Trong điều kiện Đảng cầm quyền, cùng với công tác cán bộ, KT, GS trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong công tác xây dựng Đảng

Nghị quyết Trung ương 4, khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” khẳng định, sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên là một trong ba vấn đề cấp bách của Đảng ta hiện nay cần tập trung giải quyết Mặt khác, hiện nay tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí của đảng viên có xu hướng ngày càng nghiêm trọng; những biểu hiện xa rời mục tiêu chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có chiều hướng phức tạp Vì vậy, công tác KT, GS của Đảng góp phần đấu tranh, loại bỏ những phần tử tha hóa, biến chất, làm trong sạch đội ngũ của Đảng càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng

Nhận thức sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghị quyết của Đảng, Tỉnh ủy Nghệ An, trong những năm qua, công tác KT, GS luôn được cấp uỷ, tổ chức đảng, UBKT Đảng ủy Trường

Trang 9

Đại học Vinh quan tâm tiến hành thường xuyên, góp phần quan trọng vào việc bảo vệ đường lối, quan điểm, các nguyên tắc của Ðảng; thúc đẩy thực hiện các nhiệm vụ chính trị; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng; góp phần tăng cường, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Ðảng bộ Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được, công tác KT, GS của Đảng bộ Trường Đại học Vinh vẫn còn tồn tại một số hạn chế như: một số cấp uỷ, tổ chức cơ sở đảng nhận thức chưa đầy đủ về ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của công tác KT, GS; Ủy ban kiểm tra các cấp chưa phát huy tính chủ động, tích cực tham mưu cho cấp

uỷ thực hiện nhiệm vụ KT, GS Chất lượng một số cuộc KT, GS còn hạn chế

so với yêu cầu đặt ra,…

Vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Chất lượng công tác kiểm tra, giám

sát của Đảng bộ trường Đại học Vinh hiện nay" làm luận văn thạc sĩ,

chuyên ngành Xây dựng Đảng và Chính quyền Nhà nước

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Qua khảo sát, có một số công trình nghiên cứu về một số vấn đề có liên quan đến công tác kiểm tra giám sát, cụ thể như sau:

* Các luận án tiến sỹ, luận văn thạc sĩ

+ Luận văn thạc sĩ xây dựng Đảng, 2003 của tác giả Lê Văn Cơ; “Hoạt động của uỷ ban kiểm tra đảng uỷ các trung đoàn đủ quân ở Binh đoàn Hương Giang trong giai đoạn hiện nay” Luận văn đã tập trung đi sâu phân tích tính đặc thù của môi trường hoạt động quân sự, nêu ra các yêu cầu, biện pháp của hoạt động Ủy ban kiểm tra

+ Nguyễn Thế Tư, luận án Tiến sĩ năm 2004 “Nâng cao chất lượng kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm của UBKT huyện uỷ ở các tỉnh Duyên hải Miền Trung hiện nay”, bảo vệ tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Luận án đi sâu nghiên cứu những nguyên nhân vi phạm, các quy

Trang 10

trình, và các biện pháp kiểm tra đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm mà chưa đi sâu phân tích làm rõ vấn đề khác liên quan đến công tác kiểm tra, giám sát

+ Luận văn thạc sĩ xây dựng Đảng, 2004 của tác giả Nguyễn Công Dân; “Về đổi mới công tác kiểm tra, kỷ luật Đảng, nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới”,

+ Luận văn thạc sĩ xây dựng Đảng, 2005 của tác giả Bùi Thế Đăng;

“Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới khi

có dấu hiệu vi phạm của uỷ ban kiểm tra đảng uỷ các trung đoàn, lữ đoàn đủ quân ở Quân khu 1 giai đoạn hiện nay” Luận văn đã đi sâu phân tích làm rõ

cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò và ý nghĩa nâng cao hiệu quả kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm, nhưng đề tài chưa đi sâu phân tích mối quan hệ giữa đảng viên, tổ chức đảng có dấu hiệu

vi phạm với các hình thức kiểm tra, giám sát khác của công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

+ Lê Minh Sơn: Công tác giám sát của Uỷ ban Kiểm tra ủy Tỉnh ủy Bình Định giai đoạn hiện nay, luận văn thạc sĩ Xây dựng Đảng, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2007

+ Trần Quang Công, “Chất lượng công tác kiểm tra ở Ủy ban kiểm tra tỉnh Ủy Thái Bình trong giai đoạn hiện nay” luận văn thạc sỹ xây dựng Đảng

và chính quyền Nhà nước, Học viện Báo chí và Tuyên truyền, năm 2012

+ Trần Thị Ngân (2016), “Chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra, giám sát chuyên trách của Uỷ ban kiểm tra các cấp thuộc đảng bộ Công an Trung ương hiện nay”, Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về đội ngũ CBKT, GS chuyên trách của UBKT các cấp trong Đảng bộ CATW, đề tài đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ này trong thời gian tới, đủ sức thực hiện tốt CTKT, GS của Đảng trong CAND

Trang 11

+ Nguyễn Thị Phương (2017), “Chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra quận ủy Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay”, Luận văn thạc sĩ, Học viện Báo chí và Tuyên truyền Trên cơ sở làm rõ những vấn

đề lý luận và thực tiễn về công tác kiểm tra và thực trạng chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra quận ủy Tân Bình, tác giả luận văn đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng công tác kiểm tra của Ủy ban Kiểm tra Quận ủy Tân Bình trong giai đoạn hiện nay

- Các công trình nghiên cứu khoa học, sách, bài đăng trên tạp chí:

+ Phan Diễn, “Đổi mới công tác kiểm tra là một bộ phận trong đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng” Tạp chí kiểm tra, Số 2-2004;

+ Uỷ ban Kiểm tra Trung ương: Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh với công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng, Hà Nội, 2004

+ Đề tài khoa học cấp Nhà nước: “Đổi mới công tác kỷ luật trong Đảng nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới của

GS, TS Nguyễn Thị Doan, làm Chủ nhiệm, năm 2005 Đề tài đã đề cập toàn diện và khai thác sâu sắc cơ sở lý luận về KT, GS Song đề tài chưa đặt vấn đề liên hệ về công tác KT, GS ở một số địa phương hoặc bộ ngành nào cụ thể…

+ Nguyễn Thị Doan (chủ biên), Đổi mới công tác kiểm tra, kỷ luật nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006

+ Đề tài khoa học cấp bộ "Công tác giám sát trong Đảng giai đoạn hiện nay" của Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, năm 2007

do Tiến sỹ Đặng Đình Phú làm Chủ nhiệm (đã nghiệm thu và in thành sách)

đã đi sâu nghiên cứu nội dung giám sát trong Đảng của UBKT và các tổ chức Đảng các cấp Đề tài đã phân tích mối quan hệ giữa kiểm tra và giám sát Song các nội dung khác về công tác KT, GS và thi hành kỷ luật của Đảng… công trình hầu như không đề cập đến

Trang 12

+ Trương Tấn Sang, “Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tham nhũng, lãng phí”, Tạp chí Kiểm tra, số 4/2007

+ Nguyễn Thị Doan, “Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phục vụ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XII”, Tạp chí Kiểm tra số 4/2007

+ Nguyễn Minh Quang, “Đảng bộ Lai Châu tăng cường công tác kiểm tra, giám sát theo điều 30- Điều lệ Đảng”, Tạp chí Kiểm tra, số 5/2007

+ Lê Hồng Liêm, Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với phòng, chống tham nhũng ở nước ta hiện nay Nhà xuất bản chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2012

+ Phương Đông, “Hải Phòng nâng cao chất lượng kiểm tra, giám sát” Tạp chí kiểm tra, số 6 năm 2012

+ Lê Hồng Liêm, “Thực trạng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng thời gian qua” Tạp chí kiểm tra, số 05 năm 2012

+ Nguyễn Hữu Nhân, “Công tác kiểm tra, giám sát góp phần quan trọng thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị, nâng cao hiệu quả công tác xây dựng Đảng tại Đảng bộ TP Hồ Chí Minh”, Tạp chí kiểm tra, số 7 năm 2012

Tóm lại, công tác kiểm tra giám sát cũng như chất lượng công tác kiểm

tra giám sát đã được nghiên cứu, tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, chưa có công trình nào trực tiếp bàn về chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng tại các đơn vị sự nghiệp công lập nói chung và của Đảng bộ trường Đại học Vinh nói riêng Do vậy, đề tài luận văn của tác giả có tính mới mẻ, không trùng lặp với các công trình nghiên cứu trước đó

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu: Làm rõ một số vấn đề lý luận cơ bản về

công tác kiểm tra, giám sát và khảo sát, đánh giá thực trạng chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ trường Đại học Vinh, đề xuất phương

Trang 13

hướng, giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

bộ trường Đại học Vinh trong thời gian tới

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:

Nhằm đạt được mục đích nêu trên, luận văn có một số nhiệm vụ cụ thể sau: + Làm rõ một số vấn đề lý luận về công tác KT, GS của Đảng

+ Làm rõ thực trạng chất lượng công tác KT, GS của Đảng bộ trường Đại học Vinh; chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân

+ Đề xuất phương hướng và một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao chất lượng công tác KT, GS của Đảng bộ trường Đại học Vinh thời gian tới

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng công tác KT, GS của Đảng bộ

trường Đại học Vinh

4.2.Phạm vi nghiên cứu: Chất lượng công tác KT, GS của Đảng bộ

trường Đại học Vinh từ năm 2012 đến năm 2018

5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ

nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác KT, GS của Đảng nói riêng; có kế thừa kết quả của các công trình khoa học đã được công

bố có liên quan đến đề tài

5.2 Cơ sở thực tiễn: Là thực tiễn chất lượng công tác kiểm tra, giám

sát của Đảng bộ trường Đại học Vinh hiện nay; các báo cáo tổng kết, báo cáo

tự kiểm tra và các số liệu điều tra, khảo sát của tác giả

5.3 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lênin; sử dụng các phương pháp như: phân tích tổng hợp; tổng kết thực tiễn; thống kê, so sánh; nghiên cứu điển hình; phương pháp chuyên gia,…

Trang 14

6 Những đóng góp về mặt khoa học của đề tài

Luận văn đã nêu, làm rõ các yếu tố cấu thành và tiêu chí đánh giá chất lượng công tác kiểm tra và giám sát Từ đó, khảo sát, đánh giá chất lượng công tác, kiểm tra giám sát của Đảng bộ trường Đại học Vinh hiện nay và đề xuất phương pháp, giải pháp nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ trường Đại học Vinh trong thời gian tới

Luận văn là một trong những công trình khoa đầu tiên nghiên cứu về công tác kiểm tra, giám sát tại các đơn vị sự nghiệp công lập, đặc biệt là đối với Đảng bộ trường Đại học Vinh có đặc thù là một Đảng ủy cơ sở được cấp quyền trên cơ sở

7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể cung cấp luận cứ góp phần nâng cao chất lượng công tác KT, GS của Đảng bộ trường Đại học Vinh; sử dụng làm tài liệu tham khảo trong nghiên cứu và giảng dạy môn Xây dựng Đảng trong hệ thống các trường chính trị; đồng thời, có thể góp phần nâng cao chất lượng công tác KT, GS của Đảng trong các cơ sở đào tạo đại học hiện nay

8 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Nội dung luận văn được kết cấu gồm 03 chương, 7 tiết

Trang 15

Chương 1 CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

1.1 Một số khái niệm chung

1.1.1 Khái niệm chất lượng

Theo Từ điển tiếng Việt, “chất” là “tổng thể nói chung những tính chất, thuộc tính cơ bản của sự vật; cái làm cho sự vật này phân biệt với sự vật khác

[50, tr 144] Ở đây, chất được xem xét trong mối quan hệ biện chứng với lượng; sự biến đổi về lượng làm cho chất biến đổi và ngược lại

Cũng theo Từ điển tiếng Việt, “chất lượng” được hiểu là:

“1- Cái làm nên phẩm chất, giá trị của con người, sự vật 2- Cái tạo nên bản chất sự vật, làm cho sự vật này khác với sự vật kia ” [50, tr 144]

Từ điển Luật học định nghĩa “chất lượng” như sau: “Phạm trù triết học

biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật phân biệt nó với các sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật Chất lượng biểu hiện ra bên ngoài qua các thuộc tính

Nó là cái liên kết các thuộc tính của sự vật lại làm một, gắn bó với sự vật như một tổng thể, bao quát toàn bộ sự vật và không tách khỏi sự vật Sự vật trong khi vẫn còn là bản thân nó thì không thể mất chất lượng của nó Sự thay đổi chất lượng kéo theo sự thay đổi của sự vật về căn bản Chất lượng của sự vật bao giờ cũng gắn liền với tính qui định về số lượng của nó và không thể tồn tại ngoài tính qui định ấy Mỗi sự vật bao giờ cũng là sự thống nhất của chất lượng và số lượng [51, tr 419]

Như vậy, khái niệm “chất lượng” hàm chứa trong nó tính chỉnh thể, tổ hợp các thuộc tính cấu thành nên phẩm chất, giá trị của một con người, một

sự vật Chất lượng hằn sâu sự thay đổi của các yếu tố, để làm cho sự vật này khác với sự vật kia

Trang 16

1.1.2 Khái niệm công tác kiểm tra, giám sát

Theo Từ điển tiếng Việt, “kiểm tra” có nghĩa là “xem xét tình hình thực

tế để đánh giá, nhận xét” [50, tr 523], để xác định tính hợp pháp, mức độ đúng sai; “giám sát” có nghĩa là “theo dõi và kiểm tra xem có thực hiện đúng những điều quy định không” [50, tr 389] Giám sát còn được hiểu là “sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, bảo đảm cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh” [51, tr 174] Hoạt động giám sát có quan hệ với hoạt động kiểm soát, được hiểu là việc “xem xét để phát hiện, ngăn ngừa việc làm sai trái với thỏa thuận, với quy định” [51, tr.264]

Kiểm tra và giám sát là thuật ngữ được sử dụng ở trong nhiều lĩnh vực

và trong nhiều các tổ chức khác nhau như đảng, chính quyền, đoàn thể, các tổ chức xã hội… Trong điều lệ, quy chế hoạt động của các đoàn thể đều có quy định về KT, GS Việc giám sát của các đoàn thể chính trị không chỉ trong phạm vi của nội bộ mà còn được Bộ Chính trị quy định tham gia giám sát và phản biện xã hội

Theo Quy định số 30-QĐ/TW, ngày 26 tháng 07 năm 2016 của Ban Chấp hành Trung ương Quy định về thi hành chương VII và chương VIII điều lệ đảng về công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng:

- Kiểm tra của Đảng là việc các tổ chức đảng xem xét, đánh giá, kết luận

về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước

- Giám sát của Đảng là việc các tổ chức đảng quan sát, theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động nhằm kịp thời tác động để cấp ủy, tổ chức đảng cấp

Trang 17

dưới và đảng viên được giám sát chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước

Có thể hiểu công tác KT, GS của Đảng như sau:

Thứ nhất, công tác kiểm tra là hoạt động của Đảng, được tiến hành đối

với tổ chức đảng và đảng viên nhằm nắm vững tình hình; nhận xét, đánh giá việc chấp hành Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, các quy định, quyết định của Đảng; xác định sự đúng đắn hay vi phạm của các hành vi có liên quan đến kỷ cương, kỷ luật của Đảng và đưa ra hình thức xử lý kịp thời, đúng đắn

- Chủ thể kiểm tra bao gồm: chi bộ, đảng ủy bộ phận, đảng ủy cơ sở; cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy từ cấp trên cơ sở trở lên; UBKT, các ban đảng, văn phòng cấp ủy, cơ quan UBKT (gọi chung là các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy); ban cán sự đảng, đảng đoàn

- Đối tượng kiểm tra bao gồm: chi bộ, đảng ủy bộ phận, đảng ủy cơ sở; cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy, thường trực cấp ủy từ cấp trên cơ sở trở lên; UBKT, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy; ban cán sự đảng, đảng đoàn; đảng viên

- Nội dung kiểm tra:

Đối với tổ chức đảng: Kiểm tra việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, của cấp ủy cấp trên

và cấp mình; pháp luật của Nhà nước; chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ; việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hành tiết kiệm; phòng chống tham nhũng, lãng phí; rèn luyện phẩm chất, đạo đức lối sống của cán bộ, đảng viên; việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện cải cách hành chính, cải cách

tư pháp; việc lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án Kiểm tra việc tuyển dụng, quy hoạch,

Trang 18

luân chuyển, đào tạo, đề bạt, bố trí, sử dụng cán bộ; việc lãnh đạo, chỉ đạo và giải quyết khiếu nại, tố cáo của đảng viên và nhân dân; việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao của người đứng đầu tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận và các đoàn thể nhân dân các cấp

Đối với đảng viên: Kiểm tra việc thực hiện nhiệm vụ đảng viên

Một nội dung quan trọng trong công tác kiểm tra của Đảng là thực hiện giải quyết tố cáo đối với tổ chức đảng và đảng viên, giải quyết khiếu nại về kỷ luật đảng và tiến hành các nhiệm vụ kiểm tra khi cần thiết

Thứ hai, công tác giám sát là nhiệm vụ của toàn Đảng Tổ chức đảng và

đảng viên có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ giám sát theo quy định, nhằm theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của tổ chức đảng và đảng viên chịu sự giám sát trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, các chỉ thị, các quy định, quyết định của Đảng và đạo đức, lối sống theo quy định của Ban Chấp hành Trung ương

- Chủ thể giám sát bao gồm: chi bộ, đảng ủy bộ phận, đảng ủy cơ sở; cấp ủy, ban thường vụ cấp ủy từ cấp trên cơ sở trở lên; UBKT, các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy

- Đối tượng giám sát:

Theo quy định, tại Điều 7, Quy định số 86-QĐ/TW ngày 01/6/2017 của

Bộ Chính trị, đối tượng giám sát gồm: Chi ủy, chi bộ, đảng ủy bộ phận, BTV đảng ủy cơ sở, đảng ủy cơ sở; cấp ủy, BTV cấp ủy, thường trực cấp ủy từ cấp trên cơ sở trở lên cho đến Bộ Chính trị; UBKT các cấp; các cơ quan tham mưu, giúp việc của cấp ủy các cấp; ban cán sự đảng, đảng đoàn; đảng viên

- Nội dung giám sát:

Theo quy định tại Điểm a, b, Khoản 1, Điều 9, Quy định số 86-QĐ/TW ngày 01/6/2017 của Bộ Chính trị quy định giám sát trong Đảng: Đối với tổ chức đảng, giám sát việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ

Trang 19

trương, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, của cấp ủy cấp trên và cấp mình, pháp luật của Nhà nước Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng, quy chế làm việc, chế độ công tác và việc bảo đảm quyền của đảng viên Việc giữ gìn đoàn kết nội bộ, quản lý đảng viên, chỉ đạo thực hiện quy định về những điều cán bộ, đảng viên không được làm và giữ mối liên hệ với quần chúng Việc lãnh đạo, chỉ đạo thực hành tiết kiệm; phòng, chống tham nhũng, lãng phí; việc quản lý, rèn luyện phẩm chất, đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên Việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện cải cách hành chính, cải cách tư pháp Việc lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan bảo vệ pháp luật trong công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án và công tác bảo vệ Đảng Việc tuyển dụng, tiếp nhận, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, luân chuyển, đề bạt, bố trí, sử dụng, khen thưởng, kỷ luật cán bộ Việc lãnh đạo, chỉ đạo và giải quyết khiếu nại, tố cáo

Đối với đảng viên, là giám sát việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao và nhiệm vụ đảng viên

1.1.3 Khái niệm chất lượng công tác kiểm tra, giám sát

Từ những phân tích nêu trên có thể hiểu: Chất lượng công tác KT,

GS của Đảng là tổng thể những đặc điểm của các yếu tố, các bộ phận, các khâu, quy trình, những nguồn lực, cơ chế, điều kiện cần thiết, bảo đảm cho hoạt động KT, GS của Đảng có kết quả tốt, đúng mục tiêu, yêu cầu đặt ra; góp phần thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng

Chất lượng công tác KT, GS có quan hệ mật thiết với năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng, sự đoàn kết thống nhất và bảo đảm thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ vững kỷ cương, kỷ luật của Đảng; góp phần phòng ngừa, ngăn chặn sự suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống của cán

bộ, đảng viên, bảo vệ quan điểm, đường lối của Đảng, tránh các nguy cơ sai

Trang 20

lầm về đường lối, quan liêu, xa dân của đảng cầm quyền, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng

1.2 Quan điểm của Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh

và Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác kiểm tra, giám sát

1.2.1 Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin về công tác kiểm tra, giám sát

Thời C.Mác và Ph.Ăngghen, do điều kiện hoàn cảnh lúc đó nên trong các tác phẩm của mình hai ông chưa đi sâu đến công tác kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát, nhưng đã thể hiện rõ quan điểm của mình về kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát trong quản lý kinh tế, xã hội Theo hai ông để đạt được kế hoạch và mục tiêu đề ra thì phải tiến hành kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát Kiểm tra, kiểm soát là phương thức quan trọng để thực hiện mục tiêu Vấn đề kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát là một trong những vấn đề quan trọng được V.I.Lênin đặc biệt quan tâm Ngay từ khi Cách mạng Tháng Mười (1917) nổ ra và những năm đầu của Nhà nước Xô Viết, V.I.Lênin đã có nhiều bài viết, bài phát biểu trong các hội nghị đề cập đến vấn đề kiểm kê, kiểm tra, kiểm soát

V.I.Lênin ít dùng từ “giám sát” mà thường dùng từ “kiểm tra”, “kiểm soát” một cách linh hoạt… để bảo vệ thành quả của cách mạng và nhanh chóng xây dựng một xã hội mới Theo V.I.Lênin, kiểm tra, kiểm soát đã bao hàm cả giám sát Người luôn coi công tác kiểm tra, kiểm soát là một công cụ hữu hiệu và là một trong những nội dung lãnh đạo quan trọng đối với tổ chức đảng, cơ quan nhà nước Muốn thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị đã đề ra thì những người cộng sản phải nắm chắc công cụ kiểm tra, kiểm soát, coi đó như là: “Những nhiệm vụ đã trở thành tự nhiên đối với những người xã hội chủ nghĩa sau khi giành được chính quyền” [24, tr 298]

Với cuộc Cách mạng Tháng Mười thành công, giai cấp vô sản Nga đã giành được chính quyền và thực hiện “việc tước đoạt kẻ đi tước đoạt”

Trang 21

Trọng tâm của cuộc đấu tranh cách mạng Nga lúc đó chuyển sang lĩnh vực quản lý đất nước, trong đó bao hàm hai nhiệm vụ: tổ chức kiểm kê, kiểm soát việc sản xuất, phân phối sản phẩm và nâng cao năng suất lao động Theo V.I.Lênin, “trọng tâm của cuộc đấu tranh chống giai cấp tư sản đang chuyển sang công tác tổ chức việc kiểm kê, kiểm soát” [26, tr.221] Cũng theo V.I.Lênin, khi Đảng có chính quyền, Đảng Cộng sản phải cầm quyền lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị và các lĩnh vực khi các đường lối, chủ trương, chính sách đã được xác định, phương hướng đã được thông qua thì nhiệm vụ

tổ chức thực hiện phải đặt lên hàng đầu và trọng tâm của sự lãnh đạo phải chuyển từ “việc soạn thảo các sắc lệnh, mệnh lệnh sang việc lựa chọn người

và kiểm tra sự việc thực hiện” [26, tr.450] V.I.Lênin còn nhấn mạnh: “Kiểm tra nhân viên công tác và kiểm tra chấp hành thực tế công tác - mấu chốt của toàn bộ công tác, của toàn bộ chính sách hiện nay là ở đấy, vẫn ở đấy và chỉ

có ở đấy” [26, tr.19]

Nếu như cán bộ lãnh đạo và các cơ quan của Đảng và Nhà nước “chỉ bù đầu, bù tai” vào những công việc vụn vặt, chìm đắm trong cái biển giấy tờ và cái vũng lầy chủ nghĩa quan liêu mà quên mất nhiệm vụ trọng tâm: lựa chọn cán bộ kiểm tra, kiểm soát, phát triển kinh tế thì tất cả mệnh lệnh và quyết định chỉ là một mớ giấy lộn” [26, tr.451] V.I.Lênin cho rằng việc kiểm kê, kiểm soát toàn dân để “điều tiết đời sống kinh tế” là nhiệm vụ trọng tâm mà tất cả các nước đang trong thời kỳ qua độ lên chủ nghĩa xã hội đều phải thực hiện V.I.Lênin viết: “Thống kê và kiểm soát đó là điều chủ yếu cần thiết cho

cả việc “tổ chức” lẫn hoạt động đều đặn của xã hội Cộng sản chủ nghĩa, trong giai đoạn đầu của nó” [28, tr.124]

V.I.Lênin chỉ rõ nội dung và nhiệm vụ chính của công tác kiểm tra là: kiểm tra “việc” và kiểm tra “người”, ở tất cả các lĩnh vực, trong đó đặc biệt kiểm tra việc thực hiện các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà

Trang 22

nước Người nhấn mạnh: phải kiểm tra lại những chủ trương mà chúng ta đã tuyên bố hàng giờ, quyết định hàng phút; mặt khác kiểm tra việc chấp hành chỉ thị, nghị quyết của các nhân viên và đội ngũ cán bộ, đảng viên

Hình thức và phương pháp kiểm tra phải linh hoạt, kết hợp tốt kiểm tra thường xuyên, đột xuất, định kỳ Theo V.I.Lênin: “phải kiểm tra thường xuyên, liên tục kết hợp với từng thời gian (mỗi tuần một lần, một tháng, hay hai tháng một lần, tùy theo tính chất và tầm quan trọng của công việc, rồi sau

đó bất thình lình), cần phải tiến hành kiểm tra thực sự trên thực tế từng “công việc” một Đó là điều quan trọng và cần thiết nhất Phải nêu kết quả từng lần kiểm tra” [28, tr.215]

Theo V.I.Lênin, khi tiến hành kiểm tra, phải kết hợp tốt các hình thức kiểm tra trực tiếp và kiểm tra gián tiếp Tuy nhiên, Người đặc biệt nhấn mạnh vai trò của kiểm tra trên thực tế, chứ không phải chỉ kiểm tra trên giấy tờ sổ sách Về mối quan hệ giữa kiểm tra và kỷ luật trong đảng, V.I.Lênin coi kỷ luật Đảng là kỷ luật sắt và có vị trí cực kỳ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng Trong tác phẩm “Bệnh ấu trĩ “tả khuynh” trong phong trào cộng sản”, V.I.Lênin khẳng định: “những người Bônsêvích sẽ không giữ được chính quyền tôi không nói được đến hai năm rưỡi mà ngay đến cả hai tháng rưỡi cũng không được nữa, nếu Đảng ta không có kỷ luật hết sức nghiêm minh, kỷ luật sắt thực sự” [28, tr.46] Đảng chỉ có thể tồn tại, phát triển và giữ vững được vai trò lãnh đạo khi đảng thường xuyên siết chặt kỷ luật, kể cả dùng biện pháp mạnh mẽ nhất mà Người gọi là thanh đảng

Tóm lại, có thể thấy tư tưởng của V.I.Lênin về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng được thể hiện tập trung ở những nội dung chủ yếu như: tính tất yếu phải kiểm tra, kiểm soát; những nội dung cơ bản của kiểm tra, kiểm soát; chủ thể và đối tượng của kiểm tra, kiểm soát; bộ máy và hình thức, phương

thức tiến hành kiểm tra, kiểm soát

Trang 23

1.2.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về công tác kiểm tra, giám sát

Là người sáng lập, giáo dục và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam trong điều kiện, hoàn cảnh không giống với nước Nga, Hồ Chí Minh đã quán triệt, vận dụng tư tưởng của V.I.Lênin về công tác kiểm tra, giám sát của Đảng một cách sáng tạo, hợp với thực tiễn cách mạng Việt Nam, Tư tưởng đó được thể hiện ở những nội dung chủ yếu sau đây: Một là, Hồ Chí Minh có cách tiếp cận, tìm ra những luận cứ mới để khẳng định tích tất yếu phải tiến hành kiểm tra, giám sát Hồ Chí Minh cho rằng, kiểm tra, giám sát

là một nội dung, một khâu không thể thiếu trong quy trình lãnh đạo của Đảng Lãnh đạo phải cụ thể, không quan liêu; phải dân chủ bàn bạc, phải kiểm tra, không kiểm tra thì không biết kết quả ra sao, không hiểu sai lệch thế nào để sửa chữa

Theo Hồ Chí Minh, “Phải luôn xem xét lại tất cả công tác của Đảng Mọi công tác của Đảng luôn luôn phải đứng về phía quần chúng Phải đem tinh thần yêu nước và cần, kiệm, liêm, chính mà dạy bảo cán bộ, đảng viên và nhân dân” [33, tr 249]

Hồ Chí Minh đã khẳng định “chính sách đúng là nguồn gốc của thắng lợi” “Khi đã có chính sách đúng, thì sự thành công hoặc thất bại của chính sách đó là do nơi cách tổ chức công việc, nơi lựa chọn cán bộ và do nơi kiểm tra Nếu ba điều ấy sơ sài, thì chính sách đúng mấy cũng vô ích Có kiểm tra mới huy động được tinh thần tích cực và lực lượng to tát của nhân dân, mới biết rõ năng lực và khuyết điểm của cán bộ, mới sửa chữa và giúp đỡ kịp thời” “Nếu tổ chức việc kiểm tra cho chu đáo thì cũng như ngọn đèn “pha” Bao nhiêu tình hình, bao nhiêu ưu điểm và khuyết điểm, bao nhiêu cán bộ chúng ta đều thấy rõ” [33, tr.520-521]

Người khẳng định: “Kiểm tra có tác dụng thúc đẩy và giáo dục đảng viên và cán bộ làm tròn nhiệm vụ đối với Đảng, đối với Nhà nước, làm gương

Trang 24

mẫu tốt cho nhân dân Do đó mà góp phần vào việc củng cố Đảng về tư tưởng, về tổ chức” [39, tr 287 - 288] “Nếu tổ chức sự kiểm tra được chu đáo, thì công việc của chúng ta nhất định tiến bộ gấp mười gấp trăm” [39, 520, 521] Người còn nhấn mạnh, có sự kiểm tra đôn đốc của Đảng và nhân dân Đảng sẽ thành trong sạch, kiểu mẫu và Người yêu cầu các cấp ủy đảng phải tăng cường công tác kiểm tra

Hồ Chí Minh yêu cầu cấp ủy các cấp phải tiến hành kiểm tra toàn diện

về mọi mặt, kiểm tra các tổ chức và kiểm tra các mệnh lệnh, nghị quyết Người viết: “Kiểm tra như thế mới biết rõ cán bộ và nhân viên tốt hay xấu (đó

là kiểm tra người); “mới biết rõ ưu điểm, khuyết điểm của các mệnh lệnh và nghị quyết” (tức kiểm tra, làm rõ sự đúng sai của bản thân các quyết định của Đảng) Người nhấn mạnh: “Chín phần mười khuyết điểm trong công việc của chúng ta là vì thiếu sự kiểm tra” [39, tr 287 - 288, 521]

Hồ Chí Minh yêu cầu các cấp ủy phải biết kết hợp linh hoạt các hình thức, biện pháp kiểm tra, trong đó Người nhấn mạnh: “Kiểm tra phải có hệ thống nghĩa là khi đã có nghị quyết thì phải lập tức đốc thúc sự thực hành nghị quyết ấy, phải biết rõ sự sinh hoạt và cách làm việc của cán bộ và nhân dân địa phương ấy Có như thế mới kịp thời thấy rõ những khuyết điểm và khó khăn, để sửa đổi các khuyết điểm và tìm cách giúp đỡ để vượt qua mọi sự khó khăn” Trong kiểm tra phải khắc phục bệnh quan liêu, mệnh lệnh, không đi sâu, đi sát phong trào, không nắm được tình hình cụ thể của ngành hoặc của địa phương mình Người chỉ rõ: “Kiểm tra không nên chỉ bằng cứ vào các tờ báo cáo, mà phải đi đến tận nơi”; “Kiểm tra phải dùng cách thức thật thà tự phê bình và phê bình, để tỏ rõ hết mọi khuyết điểm và tìm cách sửa chữa khuyết điểm ấy Như thế, thì cán bộ càng thêm trọng kỷ luật và lòng phụ trách” [39, tr 521] “Muốn chống bệnh quan liêu, bệnh bàn giấy; muốn biết các nghị quyết có được thi hành

Trang 25

không, thi hành có đúng không; muốn biết ai ra sức làm, ai làm cho qua chuyện, chỉ có một cách là khéo kiểm soát Kiểm soát khéo bao nhiêu khuyết điểm lòi ra hết, hơn nữa kiểm tra khéo về sau khuyết điểm nhất định bớt đi” [39, tr 287 – 288]

Theo Hồ Chí Minh, khi đã có đường lối, chủ trương, chính sách đúng, thì việc thành công hay thất bại của đường lối, chủ trương, chính sách trong thực tế còn do cách tổ chức công việc, do việc lựa chọn cán bộ và do việc kiểm tra, kiểm soát (tức phải giám sát) xem việc có thực hiện được đến nơi đến chốn hay không Việc giám sát phải từ nhiều phía, cả từ trong Đảng, cơ quan nhà nước, trong cán bộ, đảng viên, công chức ra ngoài; từ quần chúng nhân dân và các đoàn thể nhân dân vào trong Đảng, cơ quan nhà nước; cả từ trên xuống và từ dưới lên Đối với cán bộ, đảng viên, công chức, Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ phải tăng cường giám sát để quản lý, giáo dục, rèn luyện họ,

để giúp họ tu dưỡng, trau dồi đạo đức cách mạng, tính tiên phong, gương mẫu của người cộng sản Đặc biệt là người lãnh đạo trong hệ thống chính trị (Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội) phải luôn rèn luyện đức tính cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư

Chính vì thế, công tác giám sát được Người hết sức chú trọng và đề cập ngay từ ngày đầu của chính quyền cách mạng non trẻ Hồ Chí Minh đã đề nghị nhân dân tích cực giám sát Đảng, Chính phủ, cán bộ, đảng viên, công chức Từ đó, Hồ Chí Minh chỉ rõ mục đích, ý nghĩa, tác dụng của công tác giám sát là giúp Đảng và Nhà nước nắm chắc được tình hình lãnh đạo, thực hiện các chủ trương, chính sách trong thực tế cuộc sống, thấy được tổ chức, cá nhân nào chấp hành tốt, tổ chức, cá nhân nào chấp hành không tốt, có gì đúng đắn, sai lệch, có gì không phù hợp cần phải uốn nắn, bổ khuyết Đồng thời, Người yêu cầu phải luôn chú trọng và thường xuyên tiến hành công tác giám sát trong Đảng, Nhà nước, cán bộ, đảng viên

Trang 26

Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ hình thức và phương pháp giám sát Về hình thức giám sát, Người cho rằng có hai hình thức là giám sát trực tiếp và giám sát gián tiếp Trong đó, giám sát gián tiếp là cần thiết, hỗ trợ cho giám sát trực tiếp; giám sát gián tiếp dễ mắc bệnh quan liêu, hình thức Giám sát trực tiếp là chính và chủ yếu, phải tiến hành thường xuyên, liên tục mới đem lại kết quả cao Về phương pháp giám sát, một mặt phải tiến hành giám sát của

tổ chức đối với tổ chức, của tổ chức đối với cá nhân, mặt khác phải thực hiện việc đảng viên, công chức giám sát lẫn nhau, giám sát của cấp trên đối với cấp dưới và của đoàn thể nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và cán bộ, đảng viên, công chức… Một trong những phương pháp giám sát có hiệu quả nhất, để tìm thấy khuyết điểm để sửa chữa là dùng cách thức thật thà tự phê bình và phê bình Đấy là phương cách giúp nhân dân giám sát cơ quan thay mặt mình Đó cũng là cách tốt nhất để nhân dân tham gia trực tiếp, thường xuyên và có hiệu lực vào công việc của Đảng, Nhà nước Người còn chỉ rõ thực hiện giám sát thông qua phê bình của quần chúng mới đầy đủ, mới đem lại kết quả cao nhất

Tuy nhiên, Người cũng lưu ý, muốn thực hiện công tác giám sát có chất lượng, hiệu quả, phải “khéo” cả trong “phương pháp và hình thức” thực hiện, phải sáng tạo, linh hoạt, uyển chuyển trong từng trường hợp cụ thể, không rập khuôn máy móc Song việc giám sát của Đảng, Nhà nước phải trên cơ sở và đúng các nguyên tắc, phương pháp cơ bản của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; phải đảm bảo công khai, dân chủ giữa chủ thể giám sát và đối tượng giám sát; không được dùng các phương pháp giám sát nghiệp vụ của các cơ quan bảo vệ pháp luật Tư tưởng Hồ Chí Minh là luận điểm mang tính nguyên tắc, là vấn đề cốt lõi bản chất trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng Chính vì vậy Đảng ta phải vận dụng linh hoạt sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh

về công tác kiểm tra, giám sát trong từng giai đoạn của cách mạng

Trang 27

1.2.3 Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công tác kiểm tra, giám sát

Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, cùng với việc xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng và tổ chức, Đảng ta đã rất quan tâm đến công tác kiểm tra, giám sát, coi đây là một nhân tố quan trọng bảo đảm cho mục tiêu,

lý tưởng, Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng được thực hiện nghiêm túc có hiệu quả; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; giữ gìn sự trong sạch về phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ, đảng viên, ngăn chặn và đẩy lùi những biểu hiện suy thoái, tiêu cực; củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng

Đảng ta khẳng định kiểm tra, giám sát là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng, là việc tổ chức đảng xem xét, đánh giá, kết luận về ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm của các cấp ủy, tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên trong việc chấp hành Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, chủ trương, nghị quyết, chỉ thị của Đảng và pháp luật của Nhà nước Do đó, ngay khi thành lập, Đảng ta đã coi trọng công tác kiểm tra, giám sát, điều đó được thể hiện ở Điều lệ vắn tắt của Đảng tại Hội nghị thành lập Đảng ngày 3/2/1930, nội dung ghi rõ: “Điều tra các việc” và Điều lệ Đảng chính thức được thông qua tháng 10 năm 1930 đã quy định: Trách nhiệm của đảng viên

và cán bộ là giữ gìn kỷ luật đảng một cách nghiêm khắc Tất cả các đảng viên đều phải chấp hành các Nghị quyết của Quốc tế Cộng sản, của Đại hội, của Trung ương và của thượng cấp cơ quan… đối với vấn đề vi phạm kỷ luật thì

do toàn bộ chi bộ hay cấp đảng bộ tra xét

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (2/1951), Đảng ta chỉ rõ: Đảng lao động Việt Nam phải có kỷ luật nghiêm minh, kỷ luật sắt Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (9/1960) khẳng định: phải tăng cường kiểm tra của Đảng đối với cán bộ và cơ quan Nhà nước, giữ gìn kỷ luật

Trang 28

nghiêm minh và xử lý nghiêm minh đối với những phần tử quan liêu gây tác hại nghiêm trọng cho Đảng và Nhà nước Nghị quyết Đại hội đã nêu rõ: Lãnh đạo mà không có kiểm tra thì lãnh đạo sẽ trở thành quan liêu Đại hội Đại biểu lần thứ IV (12/1976) Đảng yêu cầu công tác kiểm tra phải được tổ chức chặt chẽ, thường xuyên và có hệ thống đối với đường lối, nghị quyết, chính sách của Nhà nước, không kiểm tra coi như không lãnh đạo Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ V của Đảng (3/1982), Đảng ta đã tổng kết thực tiễn rát ra những vấn đề có tính quy luật: Kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo chủ yếu của Đảng; lãnh đạo mà không có kiểm tra thì coi như không có lãnh đạo

Như vậy, suốt thời kỳ thành lập cho đến trước thời kỳ đổi mới (1986) Đảng ta luôn quan tâm tới công tác kiểm tra, coi đây là nhiệm vụ quan trọng trong công tác xây dựng Đảng Bước vào thời kỳ đổi mới, đã có một số đảng viên giao động về tư tưởng, thiếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Đặc biệt còn xuất hiện tiêu cực, quan liêu, tham nhũng trên nhiều lĩnh vực Vì vậy, Đảng tiếp tục đề ra nhiều quan điểm mới về công tác kiểm tra và thi hành kỷ luật Đảng

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) tiếp tục khẳng định các quan điểm về kiểm tra của Đảng và nhấn mạnh: Kiểm tra là một trong những chức năng lãnh đạo chủ yếu của Đảng, là một khâu quan trọng của tổ chức thực hiện Đó cũng là biện pháp hiệu nghiệm để khắc phục bệnh quan liêu Mọi tổ chức từ cơ quan Đảng đến cơ quan Nhà nước và quần chúng, mọi lĩnh vực hoạt động từ kinh tế, xã hội đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, không có ngoại lệ đều nằm dưới sự kiểm tra của tổ chức đảng có thẩm quyền Trung ương Đảng và các cấp ủy đảng đều phải nắm chắc công tác kiểm tra, sử dụng các kết quả kiểm tra vào việc chỉ đạo thực hiện các Nghị quyết Mỗi cấp ủy trong từng thời gian đều phải có chương trình kiểm tra tập

Trang 29

trung vào những công tác chủ yếu, vào các đơn vị trọng điểm, sử dụng và phát huy vai trò của ủy ban kiểm tra và các Ban của Đảng với các Ban thanh tra của Nhà nước và kiểm tra của quần chúng; kiểm tra phải đi đôi với kết luận rõ ràng và xử lý đúng đắn

Hiện nay, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng được ban hành là bước cụ thể hóa tinh thần Đại hội XII vào thực tiễn cuộc sống, đáp ứng tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân Nghị quyết khẳng định, bên cạnh những thuận lợi, thời cơ mới cũng có không ít khó khăn, thách thức, nhất là tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung vào số đảng viên có chức vụ trong bộ máy nhà nước Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ không chỉ ở cấp cơ sở mà ở cả một số cơ quan Trung ương, tập đoàn kinh tế, tổng công ty Những hạn chế, khuyết điểm nêu trên làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng; làm tổn thương tình cảm và suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, là một nguy cơ trực tiếp đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ

Tình hình trên đặt ra những yêu cầu, nhiệm vụ cấp thiết phải đổi mới và tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đấu tranh, ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước Xuất phát từ những yêu cầu và nhiệm vụ của thời kỳ mới, về quán triệt sâu sắc Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, và công tác xây dựng, triển khai thực hiện Kế hoạch số 04-KH/TW, ngày 16-11-2016, của Bộ Chính trị, công tác kiểm tra, giám sát của Đảng trong thời gian tới cần tập trung thực hiện một số vấn đề sau đây:

Trang 30

Một là, các cấp ủy, tổ chức đảng cần nêu cao tinh thần trách nhiệm,

thực hiện tốt nhiệm vụ kiểm tra, giám sát và phải coi đây là biện pháp quan trọng để thực hiện thành công Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII

Hai là, trọng tâm của công tác kiểm tra, giám sát ở các cấp trong thời gian

tới là phục vụ có hiệu quả việc thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, với phương châm: “kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ

cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách”

Ba là, tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định của Đảng về công tác

kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng

Bốn là, để hoàn thành các nội dung nêu trên, điều quan trọng và tiên

quyết là phải tiếp tục nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp, đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ kiểm tra các cấp đủ về số lượng, bảo đảm chất lượng, đủ sức hoàn thành nhiệm vụ; có phẩm chất đạo đức cách mạng, có bản lĩnh chính trị, kinh nghiệm, tính chiến đấu cao, có kỹ năng nghiệp vụ thuần thục, phương pháp công tác khoa học, công tâm, khách quan, sâu sát, thận trọng và ứng xử có văn hóa

Tóm lại, quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Đảng ta luôn luôn khẳng định: kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ tất yếu, là nhu cầu không thể thiếu được với các tổ chức đảng và đảng viên từ đó xác định đúng mục đích, ý nghĩa, vị trí và vai trò đặc biệt quan trọng của công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật trong Đảng Nhiệm vụ của cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp luôn luôn được bổ sung và không ngừng hoàn thiện qua các thời kỳ Đại hội

để phù hợp với bối cảnh từng giai đoạn cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định kiểm tra, giám sát là một chức năng lãnh đạo quan trọng của Đảng, nếu lãnh đạo mà không kiểm tra thì coi như không lãnh đạo Trong mỗi giai đoạn cách mạng khác nhau đều có những nhiệm vụ cần phải được giải quyết trong thực

tế Vì vậy, Đảng ta coi công tác kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ quan trọng,

Trang 31

trực tiếp và thường xuyên của toàn Đảng Công tác kiểm tra, giám sát là “một

bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng” là “biện pháp hiệu nghiệm để khắc phục bệnh quan liêu” để góp phần xây dựng Đảng ta vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức

1.3 Những yếu tố cấu thành và tiêu chí đánh giá chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

1.3.1 Những yếu tố cấu thành chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

Một là, mục đích, yêu cầu của KT, GS

Các cuộc KT, GS phải xác định rõ cái đích nhằm tới là gì? Mục tiêu, khuôn khổ đòi hỏi phải tuân thủ, phải đạt được trong quá trình tiến hành? Mục đích, yêu cầu KT, GS do cấp uỷ, tổ chức đảng có thẩm quyền xác định

và là cơ sở tổ chức thực hiện KT, GS Do đó, để đánh giá chất lượng, hiệu quả

KT, GS, việc xem xét mức độ đạt được về mục đích và những yêu cầu đặt ra của cuộc KT, GS phải được coi là tiêu chí hàng đầu

Hai là, xây dựng kế hoạch; xác định nội dung, đối tượng, thời điểm,

phương pháp tiến hành, phân công tổ chức, cá nhân thực hiện Để KT, GS có chất lượng, hiệu quả phải có kế hoạch, có phương pháp đúng; phải có kế hoạch ngay từ khi bắt đầu triển khai thực hiện nghị quyết, chỉ thị, chương trình, đề án Nếu việc thực hiện nghị quyết đã được triển khai rồi mới có kế hoạch KT, GS thì đó là cuộc KT, GS không đúng về hình thức, nội dung Bởi vậy, đánh giá chất lượng KT, GS cần xem xét đến việc xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch, xác định nội dung, đối tượng, phương pháp tiến hành, tổ chức lực lượng, phân công tổ chức, cá nhân thực hiện cuộc KT, GS đó

Kế hoạch KT, GS phải được xây dựng chi tiết Nội dung, đối tượng

KT, GS phải phù hợp, gắn với thực hiện nhiệm vụ chính trị, với các mặt công tác xây dựng Đảng; sát với đặc điểm của đảng bộ; hướng vào tổ chức đảng

Trang 32

cấp dưới, cơ quan cùng chuyên ngành cấp dưới trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn thuộc lĩnh vực phụ trách Cần có trọng tâm, trọng điểm, như việc chấp hành nghị quyết, quyết định, chỉ thị của cấp trên và của cấp mình; về công tác cán bộ; về xây dựng, thực hiện quy chế làm việc của cấp uỷ Nếu nội dung KT, GS dàn trải, không phù hợp thì cuộc KT, GS không thể có chất lượng, hiệu quả tốt

Thời điểm tiến hành KT, GS phải thể hiện tính chủ động, nếu chỉ dồn vào cuối năm là dấu hiệu cho thấy việc KT, GS bị động, hình thức Về tổ chức thực hiện KT, GS: cần xem có đúng tiến độ, đúng các nội dung đã đề ra trong kế hoạch hay không? Nếu cuộc kiểm tra kéo dài thời gian, chậm kết luận, gây bức xúc cho đối tượng kiểm tra thì không thể cho là có chất lượng, hiệu quả cao được

Ba là, đội ngũ cán bộ, thủ tục, quy trình, các biện pháp nghiệp vụ KT,

GS Việc thực hiện nghiêm túc, đúng đắn, linh hoạt thủ tục, quy trình, các biện pháp nghiệp vụ có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng, hiệu quả KT, GS, bởi nếu thực hiện không đúng thì kết quả sẽ sai lệch, thậm chí phạm sai lầm nghiêm trọng, khó lường hậu quả Trong thực tế, có không ít cuộc KT, GS chưa thực hiện đúng quy trình, có trường hợp không tổ chức hội nghị để thống nhất đánh giá kết quả giám sát mà gửi báo cáo để lấy ý kiến tham gia, hoặc không gửi thông báo kết quả giám sát cho đảng viên được giám sát biết Do đó, khi đánh giá chất lượng KT, GS cần xem xét kỹ việc thực hiện thủ tục, quy trình, các biện pháp nghiệp vụ Nếu có sai sót, vi phạm cụ thể thì không thể coi cuộc KT, GS đó có chất lượng tốt được Việc thực hiện thủ tục, quy trình, các biện pháp nghiệp vụ chính xác, linh hoạt, hiệu quả lại phụ thuộc vào đội ngũ cán bộ, những người trực tiếp thực thi

Bốn là, kết quả phát hiện, xử lý qua KT, GS Đây là tiêu chí trực tiếp

phản ánh chất lượng KT, GS Mục đích của kiểm tra là để giúp cấp ủy nắm

Trang 33

bắt kịp thời, sâu sắc những vấn đề còn khó khăn, vướng mắc, hạn chế để có hướng giải quyết Do đó, kiểm tra có chất lượng khi phát hiện trúng và xử lý đúng đắn, kịp thời những khó khăn, hạn chế, sai phạm đó Giám sát giúp cấp

ủy theo dõi, phát hiện, điều chỉnh ngay những biểu hiện chưa đúng, chưa đầy

đủ trong chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng Vì vậy, giám sát có chất lượng khi kịp thời phát hiện, hướng dẫn, điều chỉnh những biểu hiện chấp hành chưa đúng, chưa đầy đủ của đảng viên,

tổ chức đảng Từ đó, khi đánh giá về chất lượng nhất thiết phải xem xét kết quả phát hiện, xử lý qua KT, GS Tất nhiên, không phải cuộc KT, GS nào cũng có những phát hiện về hạn chế, khuyết điểm, sai phạm đến mức phải xử

lý kỷ luật nhưng không thể không có

Năm là, kết quả phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm sau KT, GS

KT, GS không phải để nhằm xử lý kỷ luật mà chủ yếu giúp cho tổ chức đảng, đảng viên phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm KT, GS có chất lượng cao hay thấp, đạt hay không đạt yêu cầu phải xem xét kết quả phát huy ưu điểm, sửa chữa khuyết điểm sau KT, GS Khi đánh giá chất lượng, hiệu quả

KT, GS phải xem xét từ kế hoạch sửa chữa đến kết quả thực tế việc chấp hành của tổ chức đảng, đảng viên được KT, GS đã chỉ ra

Sáu là, tác động và tác dụng của cuộc KT, GS Chất lượng, hiệu quả

KT, GS được thể hiện sinh động ở tác động của nó đến thái độ của đối tượng

KT, GS, của quần chúng và đặc biệt là ở tác dụng của KT, GS đối với tổ chức

và hoạt động của đối tượng KT, GS Bởi xét đến cùng KT, GS là nhằm góp phần xây dựng tổ chức đảng vững mạnh, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên Do đó, cần xem xét những tác động và tác dụng của KT, GS về những mặt sau đây: Thái độ của đối tượng KT, GS về sự đồng tình, ủng hộ, mức độ tham gia của đảng viên, tổ chức đảng và quần chúng ở đơn vị được

KT, GS Tình hình nội bộ tổ chức đảng và kết quả thực hiện nhiệm vụ của tổ

Trang 34

chức đảng, đảng viên sau KT, GS Một cuộc KT, GS có chất lượng, hiệu quả

là phải giúp cho tổ chức đảng, đảng viên được KT, GS nêu cao ý thức thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống; chủ động phòng ngừa, ngăn chặn xảy ra khuyết điểm, vi phạm; tổ chức đảng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, thực hiện tốt hơn nhiệm vụ chính trị Không thể cho là KT, GS có chất lượng, hiệu quả khi: Sau KT, GS lại phát sinh mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ, làm khó khăn, phức tạp thêm việc thực hiện nhiệm vụ của tổ chức đảng, đảng viên

1.3.2 Tiêu chí đánh giá chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng

Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng được xác định, xem xét, đánh giá thông qua các tiêu chí như sau:

Thứ nhất, nhận thức, trách nhiệm, năng lực của cấp ủy, người đứng đầu

cấp ủy và các chủ thể thực hiện công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng Khi các chủ thể thực hiện công tác kiểm tra, giám sát nhận thức đúng đắn, nghiêm túc, trách nhiệm thì chất lượng mới được nâng cao, tránh việc hình thức, làm chiếu lệ

Thứ hai, việc thực hiện công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên, kịp

thời, đảm bảo quy trình, hình thức, phương pháp thực hiện

Giám sát thường xuyên, giám sát chuyên đề, xử lý tiếp nhận đơn thư qua đó chủ động phát hiện và kịp thời kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới khi có dấu hiệu vi phạm

KT, GS là một trong những chức năng lãnh đạo của Đảng; là nội dung quan trọng trong công tác xây dựng Đảng Vấn đề đặt lên hành đầu trong công tác kiểm tra, giám sát của Đảng là chủ động phát hiện, ngăn ngừa, xử lý những vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên Kiểm tra đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới có dấu hiệu vi phạm là nhiệm vụ thường xuyên của ủy ban kiểm tra các cấp, do ủy ban kiểm tra các cấp chủ động, trực tiếp tiến hành;

Trang 35

kiểm tra có trọng tâm, trọng điểm, hướng vào những đảng viên, tổ chức đảng cấp dưới có dấu hiệu vi phạm, khắc phục tình trạng kiểm tra tràn lan, kém chất lượng hiệu quả Chủ động kiểm tra giúp đảng viên và tổ chức đảng cấp dưới có dấu hiệu vi phạm kịp thời nhận rõ ưu điểm, khuyết điểm hoặc vi phạm (nếu có) về những nội dung được kiểm tra; không để khuyết điểm trở thành vi phạm, khuyết điểm hoặc vi phạm của một người thành nhiều người,

vi phạm nhỏ thành vi phạm lớn, vi phạm ít nghiêm trọng thành vi phạm nghiêm trọng… Qua kiểm tra, nếu đảng viên, tổ chức đảng vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật thì phải chủ động thi hành hoặc kiến nghị kỷ luật công minh, chính xác, kịp thời và đúng thẩm quyền

Cấp ủy, Ủy ban kiểm tra các cấp phải có chương trình, kế hoạch toàn khóa, chương trình, kế hoạch hằng năm và thực hiện nghiêm túc theo chương trình, kế hoạch đã đề ra

Kiểm tra tổ chức đảng cấp dưới thực nhiệm vụ kiểm tra, giám sát giúp cho công tác kiểm tra, giám sát của các tổ chức đảng được tiến hành đồng bộ, thường xuyên, có chất lượng hiệu quả ngày càng cao

Xem xét xử lý kịp thời, đúng quy định các vụ việc kỷ luật, giải quyết tố cáo, khiếu nại về kỷ luật đối với tổ chức đảng và đảng viên thuộc quyền

Xem xét, xử lý kịp thời, đúng quy định các vụ việc kỷ luật chính là thực hiện tốt phương châm thi hành kỷ luật Đảng quy định tại Điều 35 Điều lệ Đảng (khóa XII) “tổ chức đảng và đảng viên vi phạm kỷ luật phải được xử lý

“công minh, chính xác, kịp thời” Khi thi hành kỷ luật phải căn cứ vào nội dung, mức độ, tích chất và nguyên nhân vi phạm để xem xét, quyết định hình thức kỷ luật cho phù hợp Đảm bảo mọi đảng viên, cán bộ đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng, nếu vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật đều phải thi hành kỷ luật không có ngoại lệ, không phân biệt chức vụ cao hay thấp, tuổi đảng nhiều hay ít, không có vùng cấm

Trang 36

Phải đảm bảo kỷ luật Đảng không thay thế kỷ luật chính quyền, kỷ luật đoàn thể hoặc việc xử lý bằng pháp luật hoặc ngược lại Cấp ủy quản

lý đảng viên sau khi xem xét xử lý hoặc chỉ đạo xem xét xử lý về kỷ luật Đảng phải chỉ đạo các tổ chức có trách nhiệm xem xét xử lý về chính quyền hoặc đoàn thể được kịp thời Trường hợp không thuộc thẩm quyền của mình thì kiến nghị với tổ chức đảng có thẩm quyền xem xét, xử lý Khi xem xét, thi hành kỷ luật phải được tiến hành khẩn trương, đúng lúc, không

để chậm chễ, kéo dài, gây thêm khó khăn cho việc thẩm tra, xác minh, kết luận, xử lý làm giảm tác dụng giáo dục và không đáp ứng yêu cầu phục vụ việc thực hiện nhiệm vụ chính trị và công tác xây dựng Đảng Khi tổ chức đảng có thẩm quyền quyết định kỷ luật thì phải công bố ngay quyết định ấy cho tổ chức đảng, đảng viên, cán bộ vi phạm, không được trì hoãn với bất

cứ lý do gì

Để chủ động phòng ngừa đảng viên vi phạm và việc thi hành kỷ luật được kịp thời, các tổ chức đảng, đặc biệt là chi bộ phải thường xuyên nắm chắc tình hình đảng viên, cán bộ chấp hành Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật của Nhà nước, kỷ luật quân đội, quy định của đơn vị; khi phát hiện đảng viên, cán bộ có dấu hiệu vi phạm thì kịp thời xem xét, kết luận

và xử lý kỷ luật ngay (nếu vi phạm đến mức phải thi hành kỷ luật)

Cấp ủy, Ủy ban kiểm tra thực hiện tốt việc giải quyết tố cáo có liên quan đến cán bộ, đảng viên và tổ chức đảng thuộc quyền Thực hiện tốt việc giải quyết tố cáo chính là thể hiện sự tiếp thu nghiêm túc ý kiến góp ý phê bình, báo cáo, kiến nghị đúng đắn của đảng viên và quần chúng, giúp cho tổ chức đảng hoặc đảng viên tố cáo nhận rõ sai làm, khuyết điểm (nếu có) để sửa chữa, tiến bộ; cải chính, minh oan, bảo vệ cán bộ, đảng viên trong các trường hợp bị tố cáo sai, bị vu cáo để góp phần tích cực vào cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực

Trang 37

Thứ ba, kết quả thực hiện công tác kiểm tra, giám sát như số lượng tổ

chức đảng, cá nhân được kiểm tra, giám sát; số lượng đơn thư tố cáo, khiếu nại được xem xét, giải quyết Bao gồm cả sự chuyển biến, tiến bộ của tổ chức đảng, đảng viên vì mục đích của công tác kiểm tra, giám sát là nhằm phát huy những ưu điểm, chỉ ra, khắc phục những thiếu sót, khuyết điểm, hạn chế, ngăn chặn những tiêu cực Như vậy, tiêu chí này căn cứ vào cả chất và lượng để đánh giá

Thứ tư, riêng đối với Ủy ban Kiểm tra, một tiêu chí đánh giá là việc

thực hiện nhiệm vụ cấp ủy giao, việc thực hiện nhiệm vụ làm tham mưu cho

cấp ủy cùng cấp, cũng như hướng dẫn tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên

thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quy định của cấp trên, cấp mình về công tác kiểm tra, giám sát và thi hành kỷ luật Thường xuyên nắm tình hình hoạt động công tác kiểm tra, giám sát đối với các tổ chức đảng cấp dưới trực tiếp

Tiểu kết chương 1

Chất lượng công tác KT, GS của Đảng là tổng thể những đặc điểm của các yếu tố, các bộ phận, các khâu, quy trình, những nguồn lực, cơ chế, điều kiện cần thiết, bảo đảm cho hoạt động KT, GS của Đảng có kết quả tốt, đúng mục tiêu, yêu cầu đặt ra; góp phần thúc đẩy việc thực hiện nhiệm vụ chính trị

và công tác xây dựng Đảng

Theo Hồ Chí Minh, muốn thực hiện công tác giám sát có chất lượng, hiệu quả, phải “khéo” cả trong “phương pháp và hình thức” thực hiện; cần sáng tạo, linh hoạt, uyển chuyển trong từng trường hợp cụ thể, không rập khuôn, máy móc Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng ta coi công tác kiểm tra, giám sát là nhiệm vụ quan trọng, trực tiếp và thường xuyên của toàn Đảng Công tác kiểm tra, giám sát là “một bộ phận quan trọng trong toàn bộ công tác xây dựng Đảng”, là “biện pháp hiệu nghiệm để khắc phục

Trang 38

bệnh quan liêu” để góp phần xây dựng Đảng ta vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức

Chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ trường Đại học Vinh phụ thuộc các tiêu chí trên và vào nhận thức cả của cấp ủy và đảng viên; hình thức phương pháp tiến hành; chất lượng đội ngũ cán bộ; khả năng tham mưu; thực hiện nhiệm vụ theo quy định, quy trình và phụ thuộc vào việc vận dụng các nguyên tắc khi tiến hành công tác kiểm tra, giám sát của Cấp ủy, UBKT và các chủ thể khác thực hiện công tác kiểm tra, giám sát

Trang 39

Chương 2 CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT CỦA ĐẢNG BỘ TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH - THỰC TRẠNG VÀ NGUYÊN NHÂN

2.1 Những yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng công tác kiểm tra, giám sát của Đảng bộ trường Đại học Vinh

2.1.1 Tình hình đảng viên, tổ chức đảng của Trường Đại học Vinh

Trường Đại học Vinh được thành lập năm 1959, với tên gọi ban đầu là Phân hiệu Đại học Sư phạm Vinh Đến năm 1961, Phân hiệu được đổi tên thành Trường Đại học Sư phạm Vinh Đến năm 2001, Trường Đại học Sư phạm Vinh được đổi tên thành Trường Đại học Vinh Hơn nửa thế kỷ xây dựng và phát triển, Trường Đại học Vinh đã đào tạo được hàng chục nghìn kỹ

sư, cử nhân, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài của các tỉnh Bắc miền Trung và cả nước

Trường Đại học Vinh là đơn vị hành chính sự nghiệp, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, có tư cách pháp nhân, có tài khoản, có con dấu và biểu tượng riêng Quyết định số 62/2001/QĐ-TTg ngày 25/4/2001 của Thủ tướng Chính phủ đã quy định nhiệm vụ của Trường Đại học Vinh là đào tạo giáo viên có trình độ đại học và từng bước mở thêm các ngành đào tạo khác phù hợp với khả năng của Trường và nhu cầu nhân lực của xã hội, nghiên cứu khoa học phục vụ phát triển kinh tế - xã hội Ngày 11/7/2011, Thủ tướng Chính phủ đã có Công văn số 1136/TTg-KGVX về việc bổ sung Trường Đại học Vinh vào danh sách xây dựng thành trường đại học trọng điểm quốc gia

Hiện nay, Nhà trường đào tạo nhiều bậc học, ngành học khác nhau với

14 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ, 27 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ; 50 ngành đào tạo kỹ sư, cử nhân với các ngành ngoài sư phạm chiếm trên 65% tổng số các ngành học; đào tạo học sinh trung học phổ thông chuyên với 5 môn chuyên (Toán, Vật lý, Hóa học, Tin học và Tiếng Anh) và bậc học mầm non

Trang 40

- Hiện nay, Đảng bộ trường Đại học Vinh có các loại hình tổ chức đảng như sau:

+ 11 đảng bộ bộ phận trực thuộc Đảng bộ Trường Đây là những khoa đào tạo có số lượng đảng viên đông, theo quy định của Điều lệ Đảng và các văn bản hướng dẫn thi hành Điều lệ Đảng thì được phép thành lập đảng bộ bộ phận Trong mỗi đảng bộ bộ phận có 2 chi bộ trực thuộc gồm: Chi bộ cán bộ

và Chi bộ học viên, sinh viên

+ 21 chi bộ trực thuộc Đảng bộ Trường Đây là những khoa đào tạo và những phòng, ban, trung tâm, trạm có số lượng đảng viên ít

- Hầu hết các đơn vị trong Trường đều có chi bộ Một số đơn vị có chi

bộ nhưng do số lượng đảng viên ít thì Đảng ủy Trường thành lập chi bộ ghép gồm đảng viên của nhiều đơn vị

- Các đảng bộ bộ phận, chi bộ thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ là hạt nhân chính trị; thực hiện khá tốt các nhiệm vụ do Điều lệ Đảng quy định Nhiều tổ chức đảng đã quan tâm chỉ đạo xây dựng kế hoạch, chương trình công tác thực hiện nhiệm vụ của chi bộ, đảng bộ bộ phận Nhờ vậy, hằng năm, đa số các tổ chức đảng đều đạt danh hiệu trong sạch vững mạnh

- Các tổ chức đảng trong toàn Đảng bộ Trường đã thực hiện tốt Quy định số 97-QĐ/TW ngày 22/3/2004 của Ban Bí thư về chức năng, nhiệm vụ của đảng bộ, chi bộ cơ sở trong các đơn vị sự nghiệp (trường học, bệnh viện, viện nghiên cứu ) Các tổ chức đảng luôn thực hiện tốt chức năng là hạt nhân chính trị, lãnh đạo thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lãnh đạo thực hiện có hiệu quả các chủ trương, nhiệm vụ, công tác của đơn vị; hoàn thành nghĩa vụ đối với Nhà nước; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, đảng viên và quần chúng; xây dựng đảng bộ, chi bộ và đơn vị vững mạnh Lãnh đạo cán bộ, đảng viên và quần chúng giám sát mọi hoạt động của đơn vị theo đúng đường lối, chính

Ngày đăng: 24/11/2021, 12:46

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w