Vai trò của báo chí địa phương trong vấn đề tuyên truyền phổ biến kiến thức về KH&CN, góp phần thúc đẩy khoa học và công nghệ phát triển.. Tuy nhiên, theo báo cáo Kết quả hoạt động KH&CN
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
TRẦN BÍCH HẠNH
BÁO CHÍ ĐỊA PHƯƠNG KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HIỆN NAY
(Nghiên cứu hai trường hợp Phú Thọ, Tuyên Quang năm 2016)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI – 2017
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
Trang 3u n văn ược hi u ch nh theo huy n ngh c a i ng ch m
u n văn Th c s
H N n t n n m 7
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tô x n cam đoan Luận v n T ạc sỹ Báo chí học vớ đề tài “Báo chí a phương hu vực miền núi phía Bắc với v n ề phát triển khoa học và công ngh hi n nay (Nghiên cứu 2 trường hợp Phú Thọ, Tuyên Quang năm 2016)” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong
luận v n l kết quả từ nỗ lực nghiên cứu khoa học m t cách nghiêm túc, tâm huyết của tác giả Do vậy, n i dung nghiên cứu hoàn toàn chính xác, trung thực và không trùng lặp vớ c c đề tài khác Luận v n có sử dụng, phát triển
và kế thừa c c tư l ệu, số liệu, kết quả nghiên cứu từ các sách, giáo trình, tài liệu l ên quan đến n dun đề tài Thông tin trích dẫn trong luận v n đều được ghi rõ nguồn
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Trần Bích Hạnh
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành nhất tới các thầy, cô giáo của Học viện Báo chí và Tuyên truyền đã tận tình chỉ bảo, góp ý và cung cấp các tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin cảm ơn sự hợp tác của các chuyên gia, nhà quản lý lãn đạo
B Khoa học và Công nghệ, Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia; các sở ban n n lãn đạo c c cơ quan b o c í n ân dân của tỉnh Phú Thọ và Tuyên Quang; sự úp đỡ nhiệt tình của các phóng viên, biên tập
v ên đồng nghiệp đã d n t ời gian phỏng vấn và khảo s t để tôi hoàn thành luận v n n
Tôi xin chân thành cảm ơn tới Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ, Sở Khoa học và Công nghệ Phú Thọ, Tập thể lớp Cao học Báo chí K21.2 cùng anh em, bạn bè a đìn đã ủng h , tạo đ ều kiện cho tôi hoàn thành nhiệm vụ học tập trong thời gian qua
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn sự quan tâm ướng dẫn của PGS.TS Nguyễn V n Dữn đã chỉ bảo ướng dẫn tận tâm để tôi hoàn thành luận v n tốt nghiệp Thạc sĩ K oa B o c í
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
HỌC VIÊN
Trần Bích Hạnh
Trang 6MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 13
1.1 Một số khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 13
1.2 Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về phát triển KH&CN và thông tin truyền thông KH&CN 32
1.3 Vai trò của báo chí địa phương trong vấn đề tuyên truyền phổ biến kiến thức về KH&CN, góp phần thúc đẩy khoa học và công nghệ phát triển 38
1.4 Những yếu tố tác động đến hiệu quả truyền thông của báo chí địa phương về KH&CN 40
Chương 2 THỰC TRẠNG BÁO CHÍ ĐỊA PHƯƠNG KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ HIỆN NAY 44
2.1 Giới thiệu về báo chí các tỉnh thực hiện khảo sát 44
2.2 Thực trạng báo chí địa phương khu vực miền núi phía Bắc với vấn đề phát triển KH&CN hiện nay 53
2.3 Đánh giá về nội dung, hình thức tin, bài, chuyên trang, chuyên mục có nội dung về khoa học và công nghệ trên báo chí địa phương 66
2.4 Những ưu điểm, hạn chế, tồn tại và nguyên nhân của báo chí 2 tỉnh Phú Thọ và Tuyên Quang đối với vấn đề thông tin truyền thông thúc đẩy phát triển KH&CN 76
Chương 3 GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÁO CHÍ ĐỊA PHƯƠNG KHU VỰC MIỀN NÚI PHÍA BẮC, GÓP PHẦN THÚC ĐẨY KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHÁT TRIỂN 84
3.1 Một số giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả của báo chí địa phương khu vực miền núi phía Bắc với vấn đề phát triển KH&CN hiện nay 84
3.2 Một số đề xuất và kiến nghị nâng cao hiệu quả thông tin truyền thông phục vụ phát triển KH&CN địa phương 92
C KẾT LUẬN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
PHỤ LỤC 101
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CNH,HĐH : Công nghiệp hóa, hiện đại hóa KH&CN : Khoa học và Công nghệ
KHKT : Khoa học kỹ thuật KT-XH : Kinh tế - xã hội PT-TH : Phát thanh – Truyền hình UBND : Ủy ban nhân dân
UD&CG : Ứng dụng và chuyển giao XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vùng trung du và miền núi phía Bắc có 14 tỉnh gồm 10 tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc và 4 tỉnh Tây Bắc, đây là vùng có vị trí địa lý đặc biệt quan trọng về chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước Bên cạnh những tiềm năng, thuận lợi thì vùng trung du và miền núi phía Bắc vẫn là vùng còn nhiều khó khăn (một số nơi ở vùng cao có thể nói là khó khăn nhất so với cả nước) với điều kiện tự nhiên không thuận lợi, cơ sở hạ tầng yếu kém, thu nhập bình quân đầu người còn nhỏ so với trung bình cả nước Để góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi phía Bắc thì KH&CN đóng vai trò là chìa khóa then chốt của vấn đề Để KH&CN đi vào được sản xuất và đời sống, bên cạnh vai trò quyết định của các nhà khoa học, các nhà quản lý, doanh nghiệp, người dân thì cũng phải kể đến vai trò quan trọng của báo chí - truyền thông Báo chí – truyền thông có vai trò đi đầu và chủ lực trong việc tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về KH&CN Đó là việc đăng tải phổ biến, định hướng kịp thời các văn bản chủ trương, chính sách về KH&CN; phát hiện, cổ vũ, biểu dương những điển hình, nhân tố mới có cách làm sáng tạo trong hoạt động nghiên cứu, ƯD&CG KH&CN Báo chí cũng mang vai trò phản ánh, giới thiệu, phổ biến, nhân rộng các hoạt động KH&CN trên cả nước
Thực tiễn cho thấy, báo chí địa phương khu vực miền núi phía Bắc, trong những năm qua, có vai trò quan trọng trong hoạt động tuyên truyền, thông tin định hướng về KH&CN Các tác phẩm báo chí đã phản ánh khá tốt
về mọi mặt hoạt động KH&CN của các nhà nghiên cứu khoa học, địa phương, doanh nghiệp cũng như của người dân; đi vào các nội dung cấp bách, phổ biến và thực tiễn của đời sống KT-XH Nhiều tác phẩm có chất lượng tốt, bài viết thể hiện sự đầu tư, chuẩn bị công phu của các tác giả về các chủ đề có
Trang 10tính thời sự, các đánh giá bình luận cũng đã phản ánh được yêu cầu và tác động của hoạt động KH&CN Báo chí địa phương có cái nhìn đa chiều, tư vấn, phản biện, đưa những hình ảnh thiết thực, bất cập để cùng nhau tháo gỡ vấn đề và để đổi mới, phát triển tốt trong nhiệm vụ chung của KH&CN Nhiều bài báo đã đặt ra những vấn đề mới, phản ánh được những chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, đặc biệt là chương trình trọng điểm hay quan điểm của Bộ KH&CN để góp phần thúc đẩy nền KH&CN nước nhà phát triển
và hội nhập, góp phần xây dựng kinh tế tốt hơn
Tuy nhiên, theo báo cáo Kết quả hoạt động KH&CN các tỉnh thuộc khu vực miền núi phía Bắc năm 2016, công tác truyền thông của báo chí địa phương khu vực hiện nay vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển quan trọng của KH&CN và cũng chưa được quan tâm nhìn nhận đúng mức Hoạt động truyền thông KH&CN, hiện còn nhiều hạn chế Đây cũng là nhận định của lãnh đạo
Bộ Khoa học và Công nghệ tại Hội nghị giao ban KH&CN các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc năm 2016 tại tỉnh Hoà Bình Trong các nội dung đưa ra thảo luận tại các hội nghị giao ban của khu vực, thông tin truyền thông về KH&CN cũng rất ít khi được nhắc tới Những giải pháp đưa ra còn chung chung, chưa có tính khả thi
Truyền thông về KH&CN tương đối khó do những đặc thù như tính phức tạp, đòi hỏi tính chính xác cao, thông tin khô khan, không dồi dào, kém hấp dẫn, chất lượng thông tin về KH&CN trên báo chí chưa cao Nội dung thông tin KH&CN còn mang tính một chiều, chưa phản ánh kịp thời hoạt động KH&CN của đất nước, còn nhiều thông tin sai hoặc thiếu chính xác về KH&CN Hình thức thông tin KH&CN trên một số tờ báo chưa phù hợp, chưa sinh động, chưa đạt hiệu quả, tính chuyên nghiệp chưa cao Bên cạnh
đó, bản thân những người có trách nhiệm cung cấp thông tin cho báo chí về KH&CN cũng còn hạn chế Các nhà khoa học thì thường không thích giới thiệu, không muốn viết những kết quả mình đã làm Tiếp cận nguồn thông tin
Trang 11đã khó, khi tiếp cận được thì những báo cáo khoa học khô khan cũng rất khó chuyển tải thành các tác phẩm báo chí đại chúng Do vậy, người viết báo về KH&CN phải chịu nhiều thiệt thòi, khó tìm được người đam mê nghiên cứu sâu về lĩnh vực này.
Chính vì vậy, việc nhận dạng báo chí địa phương khu vực miền núi phía Bắc trong xu hướng vận động và phát triển của báo chí Việt Nam, trong sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng KH&CN, rất cần thiết nhằm phát huy vai trò tiên phong trong hoạt động tuyên truyền, thông tin định hướng về KH&CN, là lực lượng đi đầu và chủ lực trong việc tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về KH&CN, góp phần đắc lực cho sự nghiệp phát triển KT-XH của các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc
Bản thân tác giả luận văn là một cán bộ đã có gần 15 năm kinh nghiệm làm công tác thông tin truyền thông về KH&CN tại tỉnh Phú Thọ; từng tham gia nhiều dự án truyền thông về KH&CN; hiện đang là Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN phụ trách nội dung thông tin và truyền thông KH&CN, thuộc Sở Khoa học và Công nghệ Phú Thọ Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN nơi tác giả công tác được UBND tỉnh Phú Thọ ký Quyết định chỉ định là cơ quan đầu mối Thông tin KH&CN của tỉnh Do vậy, tác giả hiểu rất rõ vai trò và trách nhiệm của báo chí truyền thông về KH&CN đối với KT-XH ở các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc nói riêng và các tỉnh, thành trên cả nước nói chung
Với những lí do trên, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Báo chí a phương hu vực miền núi phía Bắc với v n ề phát triển khoa học và công ngh hi n nay (Nghiên cứu 2 trường hợp Phú Thọ, Tuyên Quang năm 2016)” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ ngành Báo chí học của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cho đến nay vấn đề báo chí với vấn đề phát triển KH&CN được nhiều
học giả quan tâm nghiên cứu Có thể kể đến một số nghiên cứu liên quan như:
Trang 12- TS Đặng Kim Sơn, (2008), “Nôn n ệp, nông dân, nông thôn Việt Nam – Hôm na v ma sau”, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Tác giả đã
cung cấp nhiều thông tin có giá trị lý luận và thực tiễn về bức trang kinh tế nông nghiệp Việt Nam Trong tất cả các nội dung của cuốn sách, tác giả đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của truyền thông KH&CN phục vụ phát triển sản xuất trong quá trình đi lên CNH, HĐH
- Trịnh Vũ Hồng Nga, (2010), “C ín s c p t tr ển mạn lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ h i nhập”, Luận văn Thạc sĩ Luận văn đã trình bày cơ sở lý luận về chính
sách phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn trong thời kỳ hội nhập Thực trạng mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôi tại các tỉnh phía Bắc Đề xuất chính sách phát triển mạng lưới thông tin KH&CN phục vụ nông nghiệp nông thôn các tỉnh phía Bắc trong thời kỳ hội nhập
- Bùi Hồng Vân, (2011), “Vấn đề chỉ dẫn – tư vấn khoa học kĩ t uật nông nghiệp cho nông dân trên báo chí Việt Nam”, Luận văn Thạc sĩ Luận
văn phân tích thực trạng chỉ dẫn, tư vấn khoa học kỹ thuật cho nông dân trên báo chí Việt Nam, những mặt được và chưa được Từ đó, đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả chỉ dẫn, tư vấn Luận văn có tính ứng dụng thực tiễn cao cho các phương tiện truyền thông về chỉ dẫn, tư vấn khoa học nông nghiệp cho nông dân Việt Nam
- Lê Thái Hà, 2012, “Vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên báo in hiện nay”, Luận văn Thạc sĩ Luận văn góp phần làm sáng rõ nội dung
nhận thức về nông nghiệp, nông thôn, nông dân Việt Nam và vị trí của nó trong sự nghiệp đổi mới, phát triển đất nước thông qua hoạt động báo chí truyền thông Qua đó, khẳng định những đóng góp của báo in trong việc tuyên truyền đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống và trách nhiệm nâng cao chất lượng tuyên truyền về nông nghiệp, nông dân, nông thôn trên báo in, chỉ ra những biện pháp khả thi cho quá trình này
Trang 13- Nguyễn Quân – Bộ trưởng Bộ KH&CN – Trên tạp chí Hoạt động
KH&CN tháng 9/2013 với bài “Hoạt đ ng KH&CN phục vụ phát triển nông nghiệp, nông dân và nông thôn theo Nghị quyết 26-NQ/TW” Bài
viết đã đưa ra những đánh giá khách quan về hoạt động nghiên cứu KH&CN nói chung và hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KH&CN trong nông nghiệp nói riêng theo Nghị quyết 26 Theo Bộ trưởng, KH&CN thời gian qua đã được Chính phủ đầu tư có trọng tâm, trọng điểm nên đã đi vào chiều sâu, coi trọng tính ứng dụng, do đó đã đóng góp một phần không nhỏ vào nhiệm vụ phát triển nông nghiệp theo hướng bền vững Tuy nhiên, công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức về KH&CN đến với người dân còn nhiều bất cập Vì vậy, yêu cầu cấp bách hiện nay là cần có những đột phá trong công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức KH&CN
để người dân thực sự hưởng lợi từ KH&CN
- Lê Quốc Doanh, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, (2013), Tài liệu phục vụ Hội nghị toàn quốc đánh giá hoạt động
KHCN theo Nghị quyết 26 “Kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN trong nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo Nghị quyết 26-NQ/TW” Nội dung
tài liệu đã nhấn mạnh nhiệm vụ của công tác nghiên cứu khoa học chính
là tăng cường nghiên cứu phát triển công nghệ cao trong nông nghiệp, từng bước xây dựng và hình thành nền nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, hình thành vùng sản xuất nông nghiệp công nghệ cao
- Nguyễn Hữu Khánh, (2015),“Báo in khu vực Tây Nam B tuyên truyền ứng dụng KH&CN trong sản xuất, bảo quản, chế biến và quảng bá sản phẩm nông nghiệp địa p ươn ện nay”, Luận văn Thạc sĩ, Học viện Báo chí và
Tuyên truyền Luận văn đã phân tích, đánh giá thực trạng đang đặt ra hiện nay của nông dân, doanh nghiệp, báo chí, nhất là quan điểm, nhận thức còn hạn chế đến hiệu quả tuyên truyền trên báo chí hiện nay chưa cao Từ những phân tích đó luận văn đã có những giải pháp chung và giải pháp riêng nhằm nâng cao khả năng cung ứng nhu cầu thông tin hiện nay của báo chí đối với người sản xuất
Trang 14- Trần Thị Dung, (2015), “Truyền thông về khoa học công nghệ trên
cổn t ôn t n đ ện tử Sở KH&CN các tỉnh miền Đôn Nam B ” Luận văn
thạc sĩ Báo chí học, Đại học Quốc gia Hà Nội Luận văn đã dựa trên cơ sở lý luận chung và các tiêu chí đánh giá chất lượng hoạt động của cổng TTĐT, luận văn khảo sát việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên cổng thông tin điện tử để nắm rõ thực trạng các cổng thông tin điện tử như thế nào, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông khoa học công nghệ trên cổng thông tin điện tử Sở KH&CN ba tỉnh miền Đông Nam
Bộ, cũng như bước đầu gợi ý những hướng đi cho các cổng thông tin của các
cơ quan nhà nước khác
Ngoài ra, còn có nhiều tác phẩm bảo chí, dự án, tiểu luận, khóa luận cử nhân ít nhiều liên quan đến đề tài này, tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu sâu và cụ thể vấn đề phát triển KH&CN phục vụ phát triển nông nghiệp của địa phương khu vực miền núi phía Bắc trên phương diện Báo chí học Cũng chưa có công trình nghiên cứu nào có những khảo sát, đánh giá về thực trạng báo chí viết về KH&CN ở các tỉnh khu vực miền núi phía Bắc; ảnh hưởng của báo chí đối với vấn đề phát triển KH&CN; chỉ ra những giải pháp để báo chí góp phần thúc đẩy KH&CN các tỉnh miền núi phía Bắc phát triển Vì vậy, đề tài thực hiện nhằm mục đích đánh giá chất lượng hoạt động của báo chí địa phương khu vực miền núi phía Bắc (nghiên cứu hai trường hợp Phú Thọ và Tuyên Quang 2016) với vấn đề phát triển KH&CN phục vụ phát triển KT-XH dưới góc độ báo chí truyền thông đại chúng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục ích nghiên cứu
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lý luận và thực tiễn, luận văn điều tra, khảo sát thực trạng của công tác truyền thông của báo chí địa phương khu vực miền núi phía Bắc với vấn đề phát triển KH&CN, rút ra những thành công
Trang 15và hạn chế của báo chí địa phương, tìm ra nguyên nhân; từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng báo chí với vấn đề phát triển KH&CN phục vụ phát triển KT-XH khu vực miền núi phía Bắc hiện nay
3.2 Nhi m vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, luận văn sẽ thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau đây:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến đề tài;
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng của báo chí địa phương khu vực miền núi phía Bắc thông qua 2 trường hợp (tỉnh Phú Thọ và tỉnh Tuyên Quang) bằng việc thiết kế bảng mã và phân tích mặt báo, tác phẩm báo chí
Từ đó thấy được những thành công, hạn chế báo chí của 2 địa phương với vấn
đề thông tin truyền thông phục vụ phát triển KH&CN
- Điều tra xã hội học công chúng báo chí bằng bảng anket, phỏng vấn sâu để tiếp thu ý kiến của các nhà quản lý, lãnh đạo, phóng viên cơ quan báo chí, công chúng làm cơ sở để phân tích, đánh giá;
- Từ khảo sát, đề xuất giải pháp và đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả tuyên truyền của báo chí địa phương khu vực miền núi phía Bắc với vấn đề phát triển KH&CN trong thời gian tới
4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là báo chí địa phương khu vực phía Bắc với vấn đề phát triển KH&CN hiện nay Với trên 500 tác phẩm báo chí viết về KH&CN của 6 cơ quan báo chí 2 tỉnh Phú Thọ và Tuyên Quang trong năm 2016
4.2 Ph m vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu được xác định là báo địa phương (báo in, báo
PT-TH, Báo Phú Thọ điện tử) khu vực miền núi phía Bắc
Để đưa ra những nhận định xác thực và cái nhìn tổng thể về báo chí địa phương khu vực này, tác giả đã quyết định khảo sát các cơ quan báo chí: Đài
Trang 16PT-TH Phú Thọ, Báo in Phú Thọ, Báo Phú Thọ điện tử, Đài PT-TH Tuyên Quang, Báo in Tuyên Quang và Báo Tuyên Quang điện tử tỉnh Với 6 cơ quan báo chí, đại diện cho 3 loại hình báo chí (PT-TH, báo in, báo điện tử), đây là một thách thức lớn đối với tác giả nhưng để đưa ra được những đánh giá đúng thực tiễn, kết quả nghiên cứu đảm bảo tính khoa học, tác giả vẫn quyết tâm thực hiện lựa chọn của mình
4.3 Ph m vi khảo sát
Về không gian: Khảo sát tại 2 tỉnh Phú Thọ, Tuyên Quang
Về thời gian: khảo sát năm 2016
Khu vực miền núi phía Bắc có 14 tỉnh, tuy nhiên tác giả lựa chọn khảo sát báo chí tỉnh Phú Thọ và Tuyên Quang, bởi vì, tỉnh Phú Thọ là đại diện cho tỉnh có Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN trực thuộc Sở KH&CN, được thành lập từ năm 2003, đảm nhận nhiệm vụ thông tin truyền thông về KH&CN, còn tỉnh Tuyên Quang đến nay vẫn chưa thành lập Trung tâm Thông tin và Thống kê KH&CN, hoạt động thông tin KH&CN do phòng Quản lý Sở hữu trí tuệ - An toàn bức xạ và Thông tin KH&CN thực hiện
Tại tỉnh Tuyên Quang tác giả thực hiện khảo sát công chúng tại các sở, ban, ngành; khu dân cư thành phố Tuyên Quang; các huyện Chiêm Hóa, Hàm Yên và Yên Sơn
Tại tỉnh Phú Thọ tác giả thực hiện khảo sát tại các sở, ban ngành, khu dân cư thành phố Việt Trì; các huyện Lâm Thao, Phù Ninh, Thị xã Phú Thọ
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý lu n
Trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả sử dụng các lý thuyết sau làm cơ sở cho việc triển khai nghiên cứu đề tài, bao gồm:
- Lý thuyết về báo chí truyền thông nói chung và báo chí truyền thông
về KH&CN nói riêng
Trang 17- Lý thuyết về vấn đề KH&CN, phát triển KH&CN, ứng dụng và chuyển giao KH&CN
- Lý thuyết công chúng báo chí và quá trình tiếp nhận sản phẩm báo chí
về vấn đề KH&CN
- Luận văn còn được thực hiện trên quan điểm của học thuyết Mác – Lênin về báo chí cách mạng, về KH&CN; quan điểm, chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, của địa phương về KH&CN, thông tin truyền thông về KH&CN
5 2 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, tác giả phải thực hiện những phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: tìm hiểu vấn đề lý luận liên quan đến đề tài nghiên cứu
- Phương pháp khảo sát, thống kê: sử dụng phương pháp này để khảo sát, thống kê, phân loại về số lượng tin, bài viết, chương trình phát sóng phản ánh hoạt động KH&CN trên địa bàn thực hiện khảo sát (tỉnh Tuyên Quang và tỉnh Phú Thọ năm 2016)
- Phương pháp phân tích tác phẩm: thiết kế bảng mã để phân tích các tác phẩm báo chí viết về KH&CN, từ đó đánh giá thành công, hạn chế của báo chí 2 tỉnh Phú Thọ và Tuyên Quang trong quá trình phản ánh về hoạt động KH&CN trên bình diện nội dung và hình thức thể hiện
- Phương pháp điều tra xã hội học: tác giả thực hiện khảo sát và thu thập ý kiến của công chúng của tỉnh Phú Thọ và tỉnh Tuyên Quang về nội dung, hình thức, tác động của các sản phẩm báo chí với vấn đề phát triển KH&CN của địa phương và những ý kiến đóng góp nhằm nâng cao vai trò, trách nhiệm của báo chí địa phương đối với vấn đề phát triển KH&CN Cụ thể là công chúng tiếp cận thông tin về KH&CN qua báo in, Đài PT-TH và điện tử của tỉnh Phú Thọ và Tuyên Quang Tác giả thực hiện khảo sát từ tháng 5 đến tháng 6 năm 2017 Đối
Trang 18tượng điều tra là các tầng lớp nhân dân đang sinh sống và làm việc tại hai tỉnh: Tuyên Quang và Phú Thọ Mẫu điều tra được thực hiện theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng Tổng số phiếu điều tra là 600 phiếu, số phiếu được thu về hợp lệ đã xử lý là 593 đạt 98.83%
- Phỏng vấn sâu: Phỏng vấn chuyên gia, lãnh đạo cơ quan quản lý về KH&CN, lãnh đạo cơ quan báo chí, phóng viên phụ trách nội dung thông tin truyền thông về KH&CN để thấy được thực trạng công tác truyền thông về KH&CN báo chí đến vấn đề phát triển KH&CN của địa phương
Ngoài ra, tác giả còn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khác như: phương pháp tổng hợp, xử lý chạy số liệu khảo sát, chạy tương quan bằng phương pháp điều tra xã hội học; phương pháp so sánh Kế thừa một cách có chọn lọc những kết quả nghiên cứu, tài liệu có liên quan đến đề tài
6 Tính mới của luận văn
Từ việc khảo sát, nghiên cứu, đánh giá thực trạng của báo chí một số tỉnh miền núi phía Bắc với vấn đề phát triển KH&CN, có thể chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những giải pháp để nâng cao vai trò của báo chí địa phương khu vực miền núi phía Bắc trong việc góp phần thúc đẩy KH&CN phát triển Đây là một nội dung nghiên cứu hoàn toàn mới, chưa một
cá nhân, tổ chức nào nghiên cứu một cách cụ thể và chi tiết tại khu vực này
7 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của luận văn
7.1 Ý ngh a hoa học
- Luận văn đã tổng hợp, hệ thống hóa những vấn đề nhận thức về vai trò của báo chí địa phương khu vực miền núi phía Bắc với vấn đề phát triển KH&CN
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thay đổi những mặt tồn tại của báo chí địa phương đối với vấn đề phát triển KH&CN để có thể đáp ứng tối đa nhu cầu và tâm lý tiếp nhận thông tin của công chúng Đồng thời tham mưu, giúp các cơ quan báo chí truyền thông địa phương nắm bắt những phương pháp thông tin truyền thông về KH&CN một cách hiệu quả
Trang 19- Qua nghiên cứu, khảo sát, tác giả hy vọng luận văn sẽ trở thành tài liệu tham khảo có ích cho việc học tập, nghiên cứu của các sinh viên ngành Báo chí
và Truyền thông, đồng thời cũng mong muốn góp phần giúp cho các nhà nghiên cứu, các nhà lãnh đạo, quản lý có thể định hướng, chỉ đạo các hoạt động báo chí, truyền thông về KH&CN ngày càng có những đóng góp quan trọng, thiết thực đối với sự phát triển KT-XH trên một địa bàn cụ thể cũng như cả nước
7.2 Ý ngh a thực tiễn
- Kết quả đạt được của luận văn nếu được áp dụng triển khai, thực hiện
sẽ nâng cao hiệu quả tuyên truyền của báo chí địa phương với vấn đề phát triển KH&CN, góp phần phát triển KT-XH của các địa phương
- Luận văn là công trình nghiên cứu đề cập một cách cơ bản và hệ thống về hoạt động của báo chí địa phương với vấn đề phát triển KH&CN Do
đó, nó có ý nghĩa tích cực nhằm chia sẻ kinh nghiệm với các cơ quan báo chí, nhà khoa học, các doanh nghiệp, nhà quản lý đã và đang quan tâm đến việc đưa KH&CN đến gần hơn với thực tiễn sản xuất và đời sống của người dân cả nước nói chung và các tỉnh miền núi phía Bắc nói riêng
- Đối với tỉnh Phú Thọ, với nhiệm vụ được giao, từ các kết quả nghiên cứu, tác giả sẽ có những cơ sở đề xuất, tham mưu với lãnh đạo Sở Khoa học
và Công nghệ trình UBND tỉnh thực hiện các dự án truyền thông về KH&CN, các nhiệm vụ, giải pháp để đẩy mạnh hoạt động thông tin và truyền thông về KH&CN của địa phương Cũng từ những kết quả nghiên cứu, tác giả cũng sẽ mạnh dạn có những ý kiến tham luận tại Hội nghị giao ban về KH&CN các tỉnh Khu vực miền núi phía Bắc tổ chức hàng năm để góp tiếng nói giúp cho hoạt động truyền thông KH&CN thực sự thể hiện vai trò của mình đối với sự phát triển KH&CN địa phương, góp phần phát triển KT-XH
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương như sau:
Trang 20Chương 1 Cơ sở lý luận báo chí truyền thông với vấn đề phát triển
KH&CN
Chương 2.Thực trạng báo chí địa phương khu vực miền núi phía Bắc
với vấn đề phát triển KH&CN hiện nay
Chương 3 Giải pháp, kiến nghị nâng cao chất lượng báo chí địa
phương khu vực miền núi phía Bắc, góp phần thúc đẩy KH&CN phát triển
Trang 21Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN BÁO CHÍ TRUYỀN THÔNG VỚI VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1.1 Một số khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Báo chí - truyền thông
- Báo chí:
+ Theo quan niệm dân gian trong xã hội Việt Nam ngày trước, báo chí nhiều khi được ví như “thằng mõ”, là người đưa tin có tính chất công báo, làm nhiệm vụ loan báo cho dân làng biết những gì đã, đang và sắp xảy ra
+ Theo Bách khoa toàn thư, Báo, hay gọi đầy đủ là Báo chí (xuất
phát từ 2 từ "báo" - thông báo - và "chí" - giấy), hay còn có tên gọi cũ
là Tân văn (như trong P ụ nữ tân v n, Lục Tỉn tân v n), nói một cách
khái quát là những xuất bản phẩm định kỳ nhằm báo cáo về các sự vật, hiện tượng hay con người nổi bật trong ngày mà xã hội cần quan tâm
Báo chí là một bộ phận của truyền thông đại chúng, nhưng là bộ phận chiếm vị trí trung tâm, vai trò nền tảng và có khả năng quyết định tính chất, khuynh hướng, chi phối năng lực và hiệu quả tác động của truyền thông đại chúng Do đó, trong nhiều trường hợp, có thể dùng báo chí để chỉ truyền thông đại chúng; và ngược lại, nói đến truyền thông đại chúng - trước hết phải nói đến báo chí
Báo chí trong trường hợp này được dùng, được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm báo in, báo chí phát thanh, báo chí truyền hình, báo mạng điện tử (“phát hành” trên mạng internet) và hãng thông tấn Báo chí theo nghĩa hẹp, là bao gồm báo, tạp chí và bản tin thời sự
Báo chí là hiện tượng xã hội đa nghĩa, phức tạp và có nhiều cách tiếp cận không giống nhau trong các xã hội có thể chế chính trị khác nhau
+ Khái niệm báo chí tiếp cận từ quan điểm hệ thống:
Trang 22Khi nhìn nhận xã hội như một hệ thống trong tổng thể đang vận hành, báo chí cũng cần được tiếp cận từ quan điểm hệ thống; nhìn nhận báo chí như một tiểu hệ thống cấu thành hệ thống xã hội nói chung; trong đó, báo chí là một bộ phận cấu thành và chịu sự chi phối của hệ thống lớn cũng như sự tác động của các tiểu hệ thống (hoặc hệ thống con) Trong hệ thống tổ chức quyền lực chính trị khác nhau, dù cho quan điểm, chính sách và phương thức khai thác, sử dụng báo chí khác nhau, nhưng giữa chúng vấn có những điểm chung Điểm chung này xuất phát từ bản chất của báo chí truyền thông – là hoạt động thông tin – giao tiếp xã hội hữu hiệu nhất, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân
và với các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế…[18, tr.61]
Tiếp cận từ quan điểm hệ thống, có thể nêu ra khái niệm báo chí bao gồm các thành tố và mối quan hệ giữa các thành tố ấy như sau:
Trang 23Sơ đồ này định nghĩa khái niệm báo chí theo nghĩa rộng, ở bình diện vĩ mô của nền báo chí cũng như có thể tiếp cận nó trên bình diện vi mô khi xem xét các hiện tượng báo chí trong hoạt động thực tiễn Từ đó, cách nhìn nhận báo chí và hoạt động báo chí theo một quan điểm khoa học – thực tế và luôn vận động, chi phối hoạt động thực tiễn trong quá trình sản xuất các ấn phẩm báo chí, trong quan hệ với công chúng – thị trường, với các nhóm xã hội và nhóm lợi ích, cũng như trong quan hệ với quyền lực chính trị và các thể chế khác, trên phạm vi mỗi nước [18, tr.62]
Tuy phương tiện truyền tải báo chí thay đổi theo thời gian, các nghiệp vụ báo chí vẫn bao gồm: tìm hiểu thông tin, phân tích thông tin
và phổ biến thông tin đến độc giả Mở rộng ra, khái niệm báo chí cũng được sử dụng cho các phương pháp tìm kiếm tin tức, lối viết văn trên báo chí, và các hoạt động (chuyên nghiệp hay không chuyên nghiệp) của báo chí
Theo thời gian, phương tiện truyền tải của thông tin đi từ nhật báo, tạp chí (trên giấy) tới đài phát thanh, đài truyền hình (trên loa đài) tới các ấn bản điện tử trên web (báo điện tử)
Trong xã hội hiện đại, báo chí là người cung cấp thông tin chính và phản hồi ý kiến về các vấn đề của công chúng Tuy nhiên báo chí không phải lúc nào cũng chỉ giới hạn ở tìm kiếm và truyền tải thông tin Truyền thông báo chí có thể mở rộng sang các hình thức khác như văn học và điện ảnh Ở một số quốc gia, báo chí bị chính phủ kiểm soát và không phải là một cơ quan hoàn toàn độc lập
+ Khái niệm Báo chí còn được quy định trong Luật Báo chí sửa đổi ban hành ngày 05 tháng 4 năm 2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01
năm 2017: “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề tron đời sống xã h i thể hiện bằng chữ viết, hình ản âm t an được sáng tạo, xuất
Trang 24bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tớ đôn đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo ìn b o đ ện tử
Hoạt đ n b o c í l oạt đ n s n tạo t c p ẩm b o c í sản
p ẩm b o c í sản p ẩm t ôn t n có tín c ất b o c í; cun cấp t ôn
t n v p ản ồ t ôn t n c o b o c í; cả c ín t ôn t n trên b o c í; xuất bản n p t n b o n; tru ền dẫn b o đ ện tử v tru ền dẫn p t sóng báo nói, báo hình”
Mỗi khái niệm báo chí nêu trên đều đúng nhưng chưa hoàn toàn đầy
đủ Theo tác giả, Báo chí truyền thông là hoạt động thông tin – giao tiếp xã hội hữu hiệu, là công cụ và phương thức can thiệp xã hội hiệu quả nhất trong mối quan hệ với công chúng và dư luận xã hội, với nhân dân và với các nhóm lợi ích, với các nước trong khu vực và quốc tế… Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo chí khác nhau
- Truyền thông:
+ Theo Bách khoa toàn thư, Truyền thông (từ Latin: commūnicāre,
nghĩa là "c a sẻ") là hoạt động truyền đạt thông tin thông qua trao đổi ý
tưởng, cảm xúc, ý định, thái độ, mong đợi, nhận thức hoặc các lệnh, như ngôn ngữ, cử chỉ phi ngôn ngữ, chữ viết, hành vi và có thể bằng các phương tiện khác như thông qua điện từ, hóa chất, hiện tượng vật lý và mùi vị Đó là sự trao đổi có ý nghĩa của thông tin giữa hai hoặc nhiều thành viên
+ Truyền thông có gốc từ tiếng Latinh là “commūnicāre”, nghĩa là biến
nó thành thông thường, chia sẻ, truyền tải Truyền thông thường được mô tả như việc truyền ý nghĩ, thông tin, ý tưởng, ý kiến hoặc kiến thức từ một người/một nhóm người sang một người/hoặc một nhóm người khác bằng lời nói, hình ảnh, văn bản hoặc tín hiệu Về thực chất, đó chính là quá trình trao
Trang 25đổi, tương tác thông tin với nhau về các vấn đề của đời sống cá nhân/nhóm/xã hội, từ đó tăng vốn hiểu biết chung, hình thành hoặc thay đổi nhận thức, thái
độ, chuyển đổi hành vi cá nhân/nhóm/xã hội
+ Theo John R.Hober (1954), truyền thông là quá trình trao đổi tư duy hoặc ý tưởng bằng lời
+ Martin P Adeslsm thì cho rằng, truyền thông là quá trình liên tục, qua đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta Đó là một quá trình luôn thay đổi, biến chuyển và ứng phó với tình huống…
Còn rất nhiều quan niệm khác nhau về truyền thông Mỗi khái niệm lại
có khía cạnh hợp lý riêng Tuy nhiên các khái niệm có những điểm chung, những nét tương đồng Từ các quan niệm trên đây và thực tiễn vận động của truyền thông, có thể nêu ra khái niệm chung nhất về truyền thông như sau:
Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người với nhau nhằm mở rộng hiểu biết, nâng cao nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm và của cộng đồng xã hội nói chung, bảo đảm sự phát triển bền vững.[18, tr.15]
Trong các loại hình và dạng thức truyền thông, cần chú ý truyền thông đại chúng Truyền thông đại chúng là những kênh truyền thông hướng tác động vào đông đảo công chúng; nó có vai trò quyết định sức mạnh, tính chất
và khuynh hướng của nền truyền thông Trong truyền thông đại chúng, báo chí với các loại hình báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử là những kênh truyền thông có vai trò nền tảng, vị trí trung tâm và ý nghĩa quyết định đối với truyền thông nói chung Bởi vì, truyền thông đại chúng có thể được hiểu là hệ thống (hoặc mạng lưới) các phương tiện truyền thông hướng tác động vào đông đảo công chúng xã hội (nhân dân các vùng miền, cả nước, khu vực hay cộng đồng quốc tế) để thông tin, chia sẻ, nhằm lôi kéo và tập
Trang 26hợp, giáo dục thuyết phục và tổ chức đông đảo công chúng xã hội và nhân dân nói chung tham gia giải quyết các vấn đề kinh tế, văn hóa, xã hội đã và đang đặt ra, bảo đảm phát triển bền vững
Báo chí có vai trò chi phối, quyết định sức mạnh, tính chất và khuynh hướng của truyền thông đại chúng Cho nên, trong nhiều trường hợp, người ta dùng thuật ngữ báo chí để chỉ các phương tiện truyền thông đại chúng; mặt khác, nói đến truyền thông đại chúng, trước hết là nói đến báo chí (hay giới truyền thông nói chung) Thông tin báo chí và thông tin trên các phương tiện truyền thông khác có sự khác biệt căn bản, nhưng giữa chúng có sự chia sẻ, phối hợp, kết nối để gia tăng sức tác động và sự lan tỏa trên diện rộng cũng như len lỏi vào công chúng xã hội theo nhóm nhỏ
Như vậy, khái niệm trên đã chỉ ra bản chất và mục đích truyền thông
Về bản chất, truyền thông là quá trình chia sẻ, trao đổi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể truyền thông và đối tượng truyền thông Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết… giữa chủ thể và đối tượng truyền thông gắn với nhu cầu chia sẻ, trao đổi thì hoạt động truyền thông diễn ra Quá trình truyền thông vì vậy chỉ kết thúc khi đã đạt được sự cân bằng trong nhận thức, hiểu biết… giữa chủ thể và đối tượng truyền thông Về mục đích, truyền thông hướng đến những hiểu biết chung nhằm thay đổi thái độ, nhận thức, hành vi của đối tượng truyền thông và tạo định hướng giá trị cho công chúng
- Truyền thông hiện nay được co n ư l m t thiết chế kiến tạo xã h i: Gần đây, những cụm từ “c ín p ủ kiến tạo, chính phủ n đ ng, chính phủ phục vụ, chính phủ l êm c ín ” được sử dụng thường xuyên Đặc biệt trong đó, cụm từ “c ín p ủ kiến tạo” là một khái niệm khá mới trong
tiếng Việt, rất hay, sâu sắc
Việt Nam đang đi theo hướng xây dựng một “chính phủ kiến tạo” Một chính phủ kiến tạo và phục vụ sẽ không phải là một thiết chế được sinh ra để giải quyết các vấn đề của chính nó (qua đó tiêu hao phần lớn các nguồn lực
Trang 27cho nhân sự và hoạt động của bộ máy) mà để xử lý các vấn đề mà người dân
và xã hội có nhu cầu Ngành KH&CN đã và đang hướng đến mục tiêu xây dựng Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động phục vụ nhân dân, doanh nghiệp; nâng cao chất lượng xây dựng, triển khai chính sách, pháp luật; tăng cường nâng cao hiệu quả phối hợp công tác, đưa KH&CN gắn chặt với việc thực hiện chương trình, kế hoạch phát triển của các ngành, lĩnh vực, địa phương; đơn giản hoá các thủ tục hành chính; phát triển hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; triển khai thí điểm cơ chế đối tác công – tư…
Đồng hành cùng với “chính phủ kiến tạo”, báo chí truyền thông đã làm gì? Có thể khẳng định rằng, báo chí truyền thông có vai trò rất lớn và được coi như một thiết chế góp phần kiến tạo xã hội
Trong hoạt động truyền thông có hai loại: truyền thông một chiều và truyền thông hai chiều Trong bối cảnh hiện nay, khi chúng ta đang nỗ lực xây dựng một “chính phủ kiến tạo” thì truyền thông hai chiều được ứng dụng rộng rãi Truyền thông hai chiều chính là có sự phản hồi thông tin từ đối tượng tiếp nhận thông điệp đến nguồn phát Thông tin phản hồi từ đối tượng tiếp nhận là một yếu tố quan trọng nhằm tăng cường hiệu quả của các hoạt động truyền thông Mô hình truyền thông hai chiều được ứng dụng ngày càng nhiều trong điều kiện hiện nay khi mà giới truyền thông luôn mong muốn có
sự cân bằng trong truyền thông để đạt được sự chia sẻ, phản hồi, qua đó có những thay đổi mang tính tích cực đối với cả chủ thể truyền thông và khách thể truyền thông Những thành quả mà truyền thông KH&CN mang lại đang góp phần khẳng định báo chí truyền thông hiện nay đã trở thành một thiết chế kiến tạo xã hội
- Truyền thông nói chung và truyền thông KH&CN hiện na đã p t huy vai trò của mìn tron mô trường truyền thông số:
Trong xã hội thông tin thời đại số, các phương tiện truyền thông đại chúng đã và đang trở thành diễn đàn chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng, kinh
Trang 28nghiệm… của đông đảo công chúng Sản xuất, trao đổi, chia sẻ thông tin là một trong những hoạt động chủ yếu trong nền kinh tế tri thức và xã hội số hoá Truyền thông đại chúng tác động và làm thay đổi thái độ, nhận thức, dư luận xã hội, tạo nên định hướng giá trị cộng đồng Truyền thông đại chúng cũng mang mục đích chính trị sâu sắc Đối tượng phản ánh của truyền thông đại chúng bao gồm các sự kiện và vấn đề về mọi lĩnh vực khác nhau của cuộc sống, nó đáp ứng mọi nhu cầu phát triển của con người và xã hội từ tâm lý, tình cảm, nhận thức đến hiểu biết, hành vi…
Một điều không thể phủ nhận là tất cả các nước có nền KH&CN phát triển thì hệ thống truyền thông của họ cũng rất phát triển Sự phát triển mạnh
mẽ của KH&CN tác động trực tiếp đến hoạt động cung cấp thông tin cũng như nhu cầu thông tin của công chúng Ví dụ, Mỹ không chỉ là cường quốc
số một về kinh tế, KH&CN, quân sự… mà còn là người khổng lồ trong lĩnh vực truyền thông Trung bình cứ 1 người dân Mỹ sở hữu tới 2 radio và 1 tivi
Để đáp ứng nhu cầu thông tin của số lượng máy thu khổng lồ này, nước Mỹ
có 1.300 đài truyền hình và hơn 10.000 đài phát thanh Đại bộ phận đài phát thanh và truyền hình Mỹ thuộc sở hữu tư nhân Tại Anh, trung bình mỗi người ngồi trước màn hình 3 giờ rưỡi để thu nhận thông tin Hơn 97% hộ gia đình Anh có tivi màu, 73% có đầu máy video Nhà nào cũng có radio và có tới 70% người Anh bắt sóng radio hàng ngày Ngành phát thanh, truyền hình phát triển khá mạnh nhờ KH&CN Đài phát thanh và truyền hình Anh (BBC) cung cấp thuê bao duy nhất với 2 kênh truyền hình BBC1, BBC2, 5 đài phát thanh phủ sóng toàn lãnh thổ Hệ thống điện tử Anh tăng trưởng với tốc độ chóng mặt về số lượng với 3 kênh truyền hình tư nhân, 3 đài phát thanh tư nhân phát sóng toàn quốc và khoảng 200 đài khu vực Trong thời đại phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, toàn cầu hóa truyền thông đại chúng, sự phát triển nhanh chóng của các phương thức, tư duy kỹ thuật
đã khiến cho nhu cầu thông tin của con người và xã hội ngày càng cao Sự
Trang 29phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin đã đưa thế giới đến một kỷ nguyên của các phương tiện truyền thông dân chủ, trong đó con người tiếp cận với thông tin mà không bị giới hạn bởi những rào cản nào Sự đổi mới này đã làm xuất hiện các loại phương tiện truyền thông mới, với những phương thức phân phối, mua bán và sử dụng thông tin mới
1.1.2 KH&CN
- Khoa học:
Tiếng La-tinh là Scientia có nghĩa là “kiến thức” hoặc “hiểu biết” là các
nỗ lực thực hiện phát minh và tăng sự hiểu biết của con người về tự nhiên - xã hội - tư duy Nó tồn tại dưới dạng các lý thuyết, định lý, quy luật, nguyên tắc, phạm trù, tiền đề
Theo Điều 3 Luật Khoa học và Công nghệ sửa đổi có hiệu lực ngày
01/01/2017, “K oa ọc l ệ t ốn tr t ức về bản c ất qu luật tồn tạ v
p t tr ển của sự vật ện tượn tự n ên xã v tư du ” [28, tr.1]
Bên cạnh đó, Viện Ngôn ngữ học thuộc Uỷ ban Khoa học xã hội cho
rằng “K oa ọc l ệ t ốn c c tr t ức tíc luỹ tron qu trìn lịc sử v được t ực t ễn c ứn m n p ản n n ữn qu luật khách quan của t ế ớ bên n o cũn n ư n ữn oạt đ n t n t ần của con n ườ úp con
n ườ có k ả n n cả tạo t ế ớ ện t ực” [52, tr.34]
Như vậy, những quan niệm được dẫn ở trên đều cho thấy bản chất của Khoa học chính là hệ thống những tri thức mang tính quy luật Nó có vai trò đặc biệt quan trọng trong nhận thức và cải tạo thế giới tự nhiên phục vụ nhu cầu tồn tại, phát triển của con người và xã hội loài người
- Côn n ệ:
Thuật ngữ Côn n ệ có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp “Technologia” hay
“Vexvonopơ”, “Techne” có nghĩa là thủ công, “logia” có nghĩa là châm ngôn
“Technologia” là một thuật ngữ rộng ám chỉ đến những công cụ và mưu mẹo của con người
Trang 30Trong tiếng Anh, “Technologia” có nghĩa là “Tài nghệ học”, sự tinh sảo của một tay nghề, một kỹ năng hay bí quyết để tạo nên một sản phẩm chất lượng cao
Theo tổ chức Phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc (UNIDO) định
nghĩa thì “Côn n ệ l v ệc p dụn k oa ọc v côn n ệp bằn c c sử dụn c c kết quả n ên cứu v xử lý m t c c có ệ t ốn v có p ươn
p p sử dụn tron c ế tạo dịc vụ quản lý t ôn t n” [5, tr.43]
Viện Ngôn ngữ học thuộc Uỷ ban Khoa học Xã hội cho rằng “Công
n ệ l tổn t ể nó c un c c p ươn t ện kỹ t uật c c p ươn p p tổ
c ức quản lý được sử dụn v o qu trìn sản xuất để tạo ra c c sản p ẩm vật c ất v dịc vụ” [9, tr.57]
Theo Điều 3, Luật Khoa học và Công nghệ sửa đổi có hiệu lực ngày
01/01/2017, “Côn n ệ l ả p p qu trìn bí qu ết kỹ t uật có kèm theo oặc k ôn kèm t eo côn cụ p ươn t ện dùn để b ến đổ n uồn lực t n sản p ẩm” [28, tr.1]
Nghiên cứu khoa học là hoạt động khám phá, phát hiện, tìm hiểu bản chất, quy luật của sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; sáng tạo giải pháp nhằm ứng dụng vào thực tiễn
Như vậy, khoa học được hiểu là hệ thống tri thức của con người về tự nhiên, xã hội và tư duy với bản chất và quy luật vận động của chúng được thể hiện bằng những khái niệm, phán đoán, học thuyết định hướng hoạt động của con người Còn công nghệ là sự ứng dụng, vật chất hóa các tri thức khoa học vào thực tiễn sản xuất và đời sống, đó là tập hợp các giải pháp, phương pháp,
Trang 31quy trình, kỹ năng, phương tiện kỹ thuật,… được sử dụng tạo ra sản phẩm vật chất và dịch vụ cụ thể
Thuật ngữ KH&CN là sự thể hiện, đồng hành gắn bó giữa lý luận, lý thuyết và thực tiễn, thực hành, giữa nghiên cứu và ứng dụng thực tế
1.1.3 Truyền thông KH&CN
- Truyền thông KH&CN:
Hiểu một cách đơn giản và khái quát nhất, thì truyền thông KH&CN có nhiệm vụ tuyên truyền các vấn đề về KH&CN và tạo cầu nối giữa những người làm khoa học với công chúng và xã hội Nhưng trong xã hội ngày nay, truyền thông KH&CN còn có vai trò lớn hơn thế Đó là công cụ để hỗ trợ và tham gia vào quá trình xây dựng các chính sách phát triển KH&CN của quốc gia, tạo mối liên kết gắn bó giữa công chúng và giới khoa học thông qua những thành công trong công tác nghiên cứu khoa học, phổ biến kiến thức và tham gia vào các hoạt động nghiên cứu khoa học
Truyền thông khoa học đã có lịch sử phát triển lâu dài nhưng trở nên quan trọng trong vài thập kỷ gần đây, đặc biệt từ khi xuất hiện những vấn đề
có tính khoa học liên quan trực tiếp đến con người Thông thường mọi người tiếp cận thông tin về KH&CN từ ghế nhà trường, sau đó thì họ biết đến các tri thức và thông tin khoa học trên báo chí, truyền hình và các phương tiện thông tin đại chúng Tuy nhiên mỗi người cũng chỉ am hiểu một vài lĩnh vực và kiến thức KH&CN nắm được cũng hạn chế Trong khi đó các vấn đề về KH&CN ngày càng phức tạp và xuất hiện trong mọi mặt của cuộc sống của chúng ta
Các tri thức về KH&CN tại nhà trường chỉ chiếm một phần nhỏ trong khối kiến thức của mỗi người, phần lớn chúng ta tiếp nhận kiến thức mới trong quá trình công tác, lao động, qua báo chí và các phương tiện truyền thông Tri thức KH&CN nắm vai trò quan trọng và ảnh hưởng đến mọi hoạt động của con người: từ việc chăm sóc sức khỏe, mua sắm vật dụng, ăn uống… cho tới việc lớn hơn như xây dựng chính sách phát triển KH&CN Do
Trang 32đó, truyền thông KH&CN đóng vai trò chủ yếu trong việc giúp mọi người học tập, hiểu biết các vấn đề về KH&CN để phục vụ cho công việc sản xuất, kinh doanh, giải trí và cho cuộc sống của mỗi người
Từ đó có thể rút ra rằng: “Truyền thông KH&CN là m t quá trình tác
đ ng qua lại liên tục giữa hai hay nhiều đố tượn để cùng nhau chia sẻ các thông tin, kiến thức t đ , kinh nghiệm và kỹ n n về KH&CN nhằm nâng cao nhận thức v t a đổi hành vi của đố tượn được t c đ n ” [9, tr.115]
Truyền thông KH&CN là khái niệm rất mới, trước đây chúng ta chưa chú trọng nhiều đến hoạt động này Vì thế, nhiều chủ trương, đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước về KH&CN chưa tới được với các tầng lớp nhân dân, ngay cả với cán bộ KH&CN đôi khi cũng chưa có đầy đủ thông tin Nhận thức được vấn
đề đó, năm 2006, Bộ KH&CN đã thành lập Tổ công tác về truyền thông KH&CN, đến năm 2009 đã thành lập Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển truyền thông KH&CN trực thuộc Bộ với mục đích có một cơ quan chuyên trách chăm lo công tác truyền thông và nâng cao năng lực truyền thông KH&CN
Tuy nhiên, Bộ KH&CN cũng xác định chỉ một đơn vị là chưa đủ, cần tạo một làn sóng mới về truyền thông KH&CN với sự phối hợp của các cơ quan truyền thông đại chúng tầm quốc gia và địa phương cũng như chính giới khoa học Những người làm khoa học phải biết tự giới thiệu kết quả nghiên cứu, quan điểm, chính kiến của mình với cơ chế chính sách của Đảng, Nhà nước, với vai trò của KH&CN trong phát triển kinh tế - xã hội Vì thế, Bộ KH&CN đã tổ chức ký kết Chương trình phối hợp hoạt động truyền thông với các cơ quan thông tấn, báo chí lớn như: Báo Nhân dân, báo Đại biểu Nhân dân, báo Lao động, báo Đất Việt, báo Hà Nội mới, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam… Đồng thời tổ chức nhiều hội nghị tập huấn cho các phóng viên báo đài, đầu mối tuyên truyền của
Bộ, của các tỉnh, thành phố, Sở KH&CN; tổ chức nhiều trang chuyên đề, chuyên mục KH&CN trên các phương tiện thông tin đại chúng
Trang 33Có thể nói trong những năm qua, vai trò của hoạt động truyền thông đã được khẳng định Cộng đồng khoa học cũng như giới khoa học đều đánh giá hoạt động này đã có những bước phát triển rất tốt, cung cấp thông tin tương đối đầy đủ, đa chiều, từ doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân trong xã hội đối với hoạt động KH&CN Đồng thời, góp phần lớn tạo nên sự đồng thuận của
xã hội với hoạt động KH&CN Bằng chứng là Nghị quyết số 20-NQ/TƯ của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI về Phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế cũng như Luật KH&CN (sửa đổi) được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ Năm đã nhận được sự đồng thuận rất cao của Trung ương, Quốc hội và những đánh giá tốt của dư luận, nhà khoa học về những nội dung đổi mới trong quản lý hoạt động KH&CN Hy vọng, với những đổi mới đó cùng sự đồng thuận, ủng hộ của các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan quản lý KH&CN cũng như các doanh nghiệp, ngành KH&CN sẽ đạt được nhiều kết quả tốt hơn trong thời gian tới
Truyền thông KH&CN được hiểu là hoạt động tương tác xã hội nhằm chia sẻ thông tin về các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về KH&CN; hoạt động KH&CN (từ các hoạt động nghiên cứu
cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, triển khai, phát triển công nghệ, đổi mới công nghệ/thiết bị/sản phẩm đến các hoạt động dịch vụ KH&CN như thông tin, tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng, sở hữu trí tuệ…); về thành tựu, kết quả của hoạt động KH&CN (nhận thức của xã hội về KH&CN, vai trò của KH&CN đối với phát triển kinh tế - xã hội, những tiến bộ KH&CN đạt được, khả năng áp dụng những kết quả nghiên cứu, chuyển giao công nghệ vào sản xuất, đời sống; đến những mô hình hoạt động tiên tiến, hiệu quả, những tổ chức, cá nhân điển hình…) Mục tiêu của truyền thông KH&CN là nhằm nâng cao nhận thức xã hội về hoạt động KH&CN, vai trò của KH&CN, làm cho xã hội hiểu đúng về vai trò của KH&CN đối với phát
Trang 34triển đất nước; kết nối giữa hoạt động KH&CN với sản xuất và đời sống Hình thức truyền thông thường thông qua các kênh để truyền tải thông tin, như các hội nghị, hội thảo, tập huấn, các cuộc thi, ấn phẩm xuất bản, báo, bản tin, trang web, đĩa DVD, đài, tivi…
Như vậy, công tác truyền thông KH&CN là nhằm góp phần tạo ra một
xã hội đổi mới sáng tạo, một thế hệ nhà khoa học, doanh nhân kiểu mới tận tụy nghiên cứu, ứng dụng KH&CN gắn với nhu cầu của đất nước, gắn với hoàn cảnh, môi trường hội nhập hiện nay; một xã hội văn minh biết tư duy khoa học trong các hoạt động của mình Công tác truyền thông KH&CN cần hướng vào tôn vinh, khích lệ tinh thần say mê sáng tạo, cống hiến tài năng và sức lực nhằm chấn hưng nền KH&CN nước nhà, khẳng định lòng tự tôn dân tộc Hoạt động truyền thông KH&CN ngày nay không chỉ đơn thuần mang tính chất quảng bá, không chỉ là tuyên truyền - một công việc mang tính bị động mà cần phải chủ động phổ biến tới các đối tượng trong xã hội về các hoạt động KH&CN Nói cách khác, thông qua truyền thông KH&CN, những đối tượng được truyền thông sẽ được cung cấp thêm thông tin, kiến thức cần thiết và chính xác về sản phẩm, kết quả hoạt động của một tổ chức, một lĩnh vực KH&CN để từ đó có thái độ và hành vi ứng xử phù hợp
Về lâu dài, một cách gián tiếp, khi các đối tượng có được những hiểu biết và hành vi ứng xử phù hợp với kết quả hay sản phẩm của các cá nhân/tổ chức KH&CN, thì cũng qua hoạt động truyền thông các cá nhân/tổ chức KH&CN sẽ thuận lợi hơn trong việc đánh giá hay chủ động định hướng dư luận xã hội theo chủ đích của mình Hoạt động truyền thông KH&CN rất phong phú, có nhiều hình thức khác nhau Các nội dung chủ yếu của hoạt động truyền thông KH&CN là: Tổ chức các sự kiện về KH&CN; Tổ chức các giải thưởng báo chí về KH&CN; Đào tạo, huấn luyện kỹ năng, nghiệp vụ viết báo về KH&CN và sản xuất chương trình truyền thông KH&CN; Sản xuất các chương trình phát thanh, truyền hình về KH&CN; In và phát hành các ấn
Trang 35phẩm về thành tựu KH&CN, viết các chuyên mục và chuyên đề về KH&CN trên báo chí đưa ra công chúng; Xây dựng bảo tàng KH&CN… Truyền thông trong lĩnh vực KH&CN, không những giúp hoàn thành các mục tiêu của hiến pháp và chính sách khoa học, nó góp phần xây dựng một chính phủ kiến tạo,
có thể biến đất nước thành một quốc gia tự lực, mạnh mẽ và thịnh vượng
- Các mô hình truyền thông về KH&CN:
Theo công trình nghiên cứu của Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Bộ
Khoa học và Công nghệ về nội dung “N ên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn và
đề xuất giả p p cơ bản nâng cao hiệu quả truyền thông khoa học và công nghệ của các tạp chí và bản tin khoa học và công nghệ địa p ươn ”, mô hình
truyền thông về KH&CN có những mô hình sau:
Mô hình thâm hụt (Deficit Model): Sẽ không có gì ngạc nhiên rằng hầu hết các cuộc thảo luận về sự hiểu biết của công chúng về khoa học nổi lên từ bên trong chính bản thân cộng đồng khoa học Ngay từ giữa thập kỷ 70 của thế kỷ trước, người ta đã thực hiện các cuộc điều tra có quy mô để cố gắng đo lường kiến thức công chúng bằng thái độ đối với KH&CN Các khảo sát này cho thấy, chỉ có 10% người Mỹ có thể định nghĩa được "phân tử" và hơn một nửa tin rằng, con người và khủng long sống trên trái đất cùng một thời điểm Kết quả khảo sát cũng cho thấy, chỉ có 5% công chúng Mỹ am hiểu về khoa học, và chỉ 20% quan tâm đến thông tin khoa 22 học Phần còn lại, được gọi
là "phần sót lại" Sau đó, các nhà quản lý nhận thấy cần phải có những chương trình để bù đắp những lỗ hổng kiến thức cho người dân Cách tiếp cận này được gọi là mô hình “thâm hụt”, vì nó mô tả việc thiếu kiến thức mà phải được lấp đầy, với giả định rằng sau khi lấp đầy xong những thâm hụt đó, mọi thứ sẽ được "tốt hơn"
Mô hình theo ngữ cảnh: Mô hình theo ngữ cảnh khẳng định, những cá nhân sau khi nhận được thông tin trong các ngữ cảnh cụ thể, thì sẽ định hình theo cách họ phản ứng với thông tin đó Các vấn đề tâm lý cá nhân có thể
Trang 36ảnh hưởng đến bối cảnh Các mô hình theo ngữ cảnh cũng nhận ra những khả năng của các hệ thống xã hội và phương tiện truyền thông đại diện cho việc làm nản chí hay khuếch đại mối quan tâm của công chúng về các vấn đề
cụ thể Ở cấp độ thực tế, một mô hình theo ngữ cảnh cung cấp hay hướng dẫn xây dựng thông điệp về khoa học có liên quan đến cá nhân trong các ngữ cảnh cụ thể
Mô hình sự tham gia công chúng: Do tầm quan trọng của niềm tin xã hội nên mô hình sự tham gia công chúng tập trung vào một loạt các hoạt động nhằm thu hút sự tham gia/quan tâm của công chúng về KH&CN, từ đó tin tưởng vào các chính sách khoa học Những hoạt động này bao gồm việc tổ chức các hội nghị tạo sự đồng thuận, các cuộc thảo luận, đánh giá về KH&CN Các mô hình trên là sự đúc rút của kinh nghiệm của truyền thông thế giới trong nhiều thập niên qua
Trên thực tế, nhiều hoạt động truyền thông KH&CN kết hợp các yếu tố khác nhau, tùy vào điều kiện cụ thể của từng sự kiện, nhằm tạo ra hiệu quả truyền thông cao nhất
- Các hình thức truyền thông KH&CN
Sự phát triển của các hình thức truyền thông đồng hành cùng với sự phát triển của bộ não con người và nó giúp con người trở nên dễ tiếp thu các âm thanh và các sự kiện xung quanh Qua thời gian chúng ta thấy rằng, các hình thức truyền thông đã tiến hóa dần, có thể là bằng văn bản, nói miệng hay truyền thông hình ảnh Truyền thông KH&CN cũng không nằm ngoài tiến trình phát triển đó Cùng với sự phát triển của xã hội, truyền thông KH&CN đã và đang tìm cách đưa thông tin thiết thực, hữu ích đến với công chúng Bằng cách này, truyền thông KH&CN góp phần vào sự phát triển năng lực cá nhân của người dân trong việc quyết định về lối sống, không chỉ ở môi trường cụ thể xung quanh họ, mà còn trong bối cảnh rộng hơn của đất nước và thậm chí là hành tinh của chúng ta
Trang 37Các hình thức truyền thông KH&CN hiện nay được biết đến và sử dụng nhiều nhất là truyền thông KH&CN thông qua báo viết, phát thanh, truyền hình
và gần đây là Internet Các hình thức này đã phát triển nhanh chóng không chỉ
ở các nước phát triển mà còn ở các nước đang phát triển, điều này giúp cho KH&CN trở thành một trong những chủ đề yêu thích của công chúng Cụ thể:
+ Truyền thông KH&CN thông qua báo giấy: Truyền thông KH&CN giải thích mối quan giữa con người với tự nhiên và con người với xã hội, giải thích quy luật của tự nhiên và quy luật của xã hội, giúp con người vận dụng các quy luật đó để có thể tác động một cách tích cực lên chúng Vai trò quan trọng của của báo chí khoa học là nâng cao nhận thức công chúng về những vấn đề/sự kiện dưới lăng kính khoa học Các nhà báo khoa học cũng làm tăng cường nhận thức của công chúng và giúp họ có quyền được thông tin chính xác, thậm chí có thể ra các quyết định liên quan đến điều kiện sống của mình
+ Truyền thông KH&CN thông qua truyền hình: Truyền hình là một kênh quan trọng để công bố những nghiên cứu khoa học mới cho công chúng
Để cho khán giả hiểu và hình dung được vấn đề, sự kiện thông qua truyền hình
là một nhiệm vụ phức tạp Bởi vậy, mặc dù truyền hình hiện nay đang có tiềm năng thu hút một lượng khán giả lớn, nhưng ảnh hưởng của các phương tiện truyền thông này trong lĩnh vực khoa học là không dễ dàng như dự đoán Việc gia tăng các kênh truyền hình khoa học tạo điều kiện cho khán giả lựa chọn về các chủ đề cụ thể, bao gồm cả các vấn đề khoa học Điều này có nghĩa là các chương trình truyền hình khoa học phải cạnh tranh với các chương trình khác
để duy trì vị trí của nó trong lịch phát sóng và sở thích của người xem
+ Truyền thông KH&CN thông qua truyền thanh: Ngày nay, khi nói đến truyền thông KH&CN thông qua truyền thanh thì đài phát thanh Thụy Điển (SR)
có một vị trí độc nhất trên thế giới Với ba chương trình phát sóng tin tức KH&CN hàng ngày ở những giờ cao điểm, các chương trình tin tức KH&CN của SR đạt trên 1 triệu người nghe Tin KH&CN cũng nhận được sự đánh giá
Trang 38cao của công chúng và là một trong những chương trình được tải xuống nhiều nhất trên đài phát thanh Trong 10 năm qua, đài phát thanh Thụy Điển đã tăng gấp đôi chương trình phát sóng về KH&CN Trên lý thuyết thì trong nhiều năm trở lại đây, truyền thanh đã không được coi là một phương tiện truyền thông chính cho KH&CN Tuy nhiên, ở hầu hết các nước châu Âu, nhiều chương trình phát thanh có chất lượng rất cao là dành cho nội dung KH&CN Và nhiều người tin rằng, đây chỉ là sự bắt đầu cho các đài phát thanh tập trung vào các hoạt động như là một phương tiện truyền thông chính cho KH&CN
+ Truyền thông KH&CN thông qua Internet: Rất khó để đo được mức độ lan tỏa của Internet trong truyền thông KH&CN Và có thể khẳng định rằng, truyền thông KH&CN là ngành bị ảnh hưởng một cách toàn diện bởi sự xuất hiện của Internet trong những thập kỷ gần đây hơn bất kỳ nhóm truyền thông nào khác Thông qua Internet, thông tin và những tín hiệu về hình ảnh, âm thanh
có thể được gửi đi mọi lúc đến bất kỳ nơi nào trên thế giới Theo cách này, Internet đã phá vỡ những rào cản ngôn ngữ, thời gian và không gian Thông tin được đưa lên Internet có thể được sử dụng bởi những phương tiện truyền thông đại chúng khác nhau, cũng như bởi những cá nhân sử dụng công cụ tìm kiếm để tìm hiểu các vấn đề quan tâm về khoa học, hay để bàn luận về những tin tức nóng hổi Rất nhiều phương tiện truyền thông dựa trên Internet đã phát triển việc phổ biến các thông tin khoa học ở phạm vi rộng hơn, bao gồm các dịch vụ cung cấp thông qua phương tiện truyền thông in ấn và phát sóng, và các định dạng phương tiện truyền thông mới, như cổng thông tin, tạp chí điện tử, diễn đàn và nhật ký web (blog) Các nguồn công bố thông tin khoa học cũng trở nên đa dạng hơn, bao gồm nhà xuất bản giáo dục, viện nghiên cứu, các trung tâm khoa học, viện bảo tàng, cá nhân nhà khoa học…
+ Truyền thông KH&CN thông qua các hình thức khác: Ngoài các phương thức truyền thông nêu trên, hiện nay trong truyền thông nói chung
và truyền thông về KH&CN nói riêng còn có nhiều phương thức khác
Trang 39như: truyền thông thông qua bảo tàng khoa học, truyền thông thông qua hội nghị/hội thảo khoa học, truyền thông thông qua các lớp tập huấn ngắn hạn về những chủ đề cụ thể về KH&CN… Trong xu thế truyền thông hiện đại hiện nay, các cơ quan báo chí ngoài phương thức truyền thông truyền thống của mình hiện đang tích hợp hình thức truyền thông đa phương tiện,
ví dụ đài truyền hình, ngoài truyền hình là phương thức truyền thống, nhiều nhà đài còn có cả báo giấy, báo mạng (internet), phát thanh, tổ chức triển lãm/sự kiện, tổ chức hội thảo/hội nghị
- P ươn t ức truyền thông KH&CN:
Để thực hiện công tác tuyên truyền về KH&CN thì đòi hỏi phải có phương thức truyền thông đúng và phù hợp Có nhiều phương thức truyền thông khác nhau: phương thức truyền thông truyền thống qua các phương tiện thông tin đại chúng (báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình); phương thức truyền thông trực tiếp (hội nghị, hội thảo, triển lãm, bài giảng khoa học, trung tâm khoa học, bảo tàng…); qua trực tuyến (báo, tạp chí online; mạng xã hội…) Mỗi phương thức truyền thông đều có những ưu và nhược điểm khác nhau Vì vậy, đối với từng nội dung tuyên truyền về KH&CN cần lựa chọn phương thức truyền thông phù hợp Cụ thể:
+ Phương thức truyền thông truyền thống qua các phương tiện thông tin đại chúng (báo, tạp chí, phát thanh, truyền hình) có những ưu điểm như có đối tượng độc giả đông đảo, thông tin được cập nhật nhanh do các nhà báo có nghiệp
vụ, dễ tiếp cận công chúng và có thể hướng đến các nhóm đối tượng cụ thể Tuy nhiên, nhược điểm là có thể những nội dung tuyên tuyền truyền không phản ánh đúng bản chất của khoa học, có xu hướng tuyên truyền một chiều, thường chỉ phản ánh đến vấn đề khoa học một cách hạn hẹp, có khi còn hời hợt
+ Phương thức truyền thông trực tiếp tại chỗ:
Thực tế, hiện nay chúng ta chưa có các phương pháp và phương tiện truyền thông đầy đủ để thực hiện hiệu quả các chức năng, nhiệm vụ của
Trang 40truyền thông về KH&CN Việc đánh giá hiệu quả công tác truyền thông theo các sự kiện lớn chưa được thực hiện, nên chưa có sự đúc rút kinh nghiệm cho việc tổ chức sự kiện đợt sau
+ Phương thức truyền thông trực tuyến: qua báo, tạp chí online, wiki, mạng xã hội (facebook, twitter) Đối tượng độc giả đông, cho phép tương tác trực tiếp với độc giả, có thể kiểm soát nội dung đăng tải, truy cập mọi lúc mọi nơi nhưng lại khó kiểm soát nội dung tương tác, đòi hỏi phải có những kỹ năng truyền thông nhất định trong môi trường trực tuyến
Tóm lại, truyền thông nói chung và truyền thông KH&CN nói riêng
có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội, nó đảm bảo thực hiện một số chức năng cơ bản: thông tin, tư tưởng, tổ chức - quản lý xã hội, phát triển văn hóa và giải trí, chỉ đạo - giám sát xã hội Truyền thông về KH&CN ở nước ta trong thời gian qua đã được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, được thể chế hóa qua nhiều văn bản pháp quy Chính vì vậy, công tác truyền thông về KH&CN ở đã đạt được những thành quả nhất định Tuy nhiên, công tác này ở địa phương vẫn chưa được thường xuyên,
Nhìn lại chặng đường lịch sử lãnh đạo cách mạng và đặc biệt từ năm
1986 đến nay, Đảng ta luôn nhận thức rõ vị trí, vai trò quan trọng của KH&CN trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao trình độ văn minh xã hội Bởi lẽ đó, ở mỗi giai đoạn cách mạng cụ thể, Đảng có quan điểm thích hợp để chỉ đạo quản lý, phát triển, ứng dụng về KH&CN nhằm huy động mức