1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm xã hội của những người có nhu cầu mua nhà chung cư tại hà nội hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại 2 chung cư oriental westlake 174 lạc long quân và chung cư tràng an complex 1 phùng chí kiên)

95 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 914,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Một số khái niệm cơ bản (24)
    • 1.1.1. Khái niệm về đặc điểm xã hội (24)
    • 1.1.2. Khái niệm về nhu cầu (26)
    • 1.1.3. Khái niệm về nhà chung cư (29)
    • 1.1.4. Khái niệm người mua nhà chung cư và sơ lược về 2 chung cư nghiên cứu (32)
  • 1.2. Các lý thuyết được áp dụng (33)
    • 1.2.1. Lý thuyết nhu cầu (33)
    • 1.2.2. Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý (35)
    • 1.2.3. Lý thuyết phân tầng xã hội (38)
  • 1.3. Bối cảnh xã hội và sự phát triển của nhà chung cư ở Việt Nam hiện nay (40)
    • 1.3.1. Chính sách của Nhà nước về việc xây dựng các tòa nhà cao tầng (40)
    • 1.3.2. Lịch sử hình thành và phát triển của nhà chung cư (42)
  • 1.4. Chiến lược phát triển quốc gia về nhà chung cư (46)
  • Chương 2 ĐẶC ĐIỂM XÃ HỘI THEO ĐẶC TRƯNG NHÂN KHẨU HỌC CỦA NGƯỜI CÓ NHU CẦU MUA CHUNG CƯ (0)
    • 2.1. Đặc điểm nhân khẩu học (50)
      • 2.1.1. Nhóm tuổi, giới tính (50)
      • 2.1.2. Trình độ học vấn, nghề nghiệp (53)
      • 2.1.3. Mức thu nhập trung bình, mức chi tiêu hàng tháng của người xem căn hộ (55)
      • 2.1.4. Tình trạng hôn nhân, số thành viên trong gia đình và số thế hệ sinh sống (58)
    • 2.2. Đặc điểm vùng, nơi ở (60)
      • 2.2.1. Nguồn gốc, nơi ở hiện nay (60)
      • 2.2.2. Tham gia mạng lưới xã hội (64)
  • Chương 3 ĐẶC ĐIỂM XÃ HỘI THEO ĐẶC TRƯNG LỰA CHỌN NHÀ CHUNG CƯ 59 3.1. Loại nhà người xem căn hộ lựa chọn (0)
    • 3.2. Vị trí nhà chung cư (71)
    • 3.3. Mục đích, hình thức lựa chọn căn hộ (74)
      • 3.3.1. Mục đích sử dụng chung cư (74)
      • 3.3.2. Hình thức lựa chọn căn hộ (76)
      • 3.3.3. Hình thức thực hiện mua căn hộ (78)
    • 1. Kết luận (81)
    • 2. Kiến nghị (82)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (86)
  • PHỤ LỤC (89)

Nội dung

Chính vì vậy, lựa chọn nghiên cứu đề tài:“Đặc điểm xã hội của những người có nhu cầu mua chung cư tại Hà Nội hiện nay Nghiên cứu trường hợp tại 2 chung cư: Oriental Westlake 174 Lạc Lon

Một số khái niệm cơ bản

Khái niệm về đặc điểm xã hội

Theo Triết học Mác Lê Nin, con người là thực thể thống nhất giữa mặt sinh học và mặt xã hội Tiền đề vật chất đầu tiên quy định sự hình thành, tồn tại và phát triển của con người chính là giới tự nhiên Vì vậy, bản tính tự nhiên là một trong những phương diện cơ bản của con người, loài người Do vậy, việc nghiên cứu, khám phá khoa học về cấu tạo tự nhiên và nguồn gốc tự nhiên của con người là cơ sở khoa học quan trọng để con người hiểu biết về chính bản thân mình, tiến đến làm chủ bản thân mình trong mọi hành vi và hoạt động sáng tạo ra lịch sử của nó, tức lịch sử nhân loại

Tuy nhiên, con người không đồng nhất với các tồn tại khác của giới tự nhiên, nó mang đặc tính xã hội bởi vì mỗi con người với tư cách là "người" chính là xét trong mối quan hệ của các cộng đồng xã hội, đó là các cộng đồng: gia đình, giai cấp, quốc gia, dân tộc, nhân loại Vì vậy, bản tính xã hội nhất định phải là một phương diện khác của bản tính con người, hơn nữa đây là bản tính đặc thù của con người

Nghiên cứu đặc điểm xã hội là nghiên cứu những đặc điểm phần

“người” trong phần “con”, để thấy sự đa dạng về màu sắc trong xã hội loại người, vị thế, vai trò thể hiện qua cơ cấu xã hội bao gồm: dân tộc, nghề, vùng, giai cấp giàu nghèo, quyền lực của mỗi cá thể, những đặc điểm về nhân khẩu học cũng như các đặc điểm xã hội của họ

Vị thế vai trò của cá nhân chính là địa vị và thứ bậc của họ trong cơ cấu tổ chức xã hội được xã hội thừa nhận ở từng thời kỳ nhất định Vị thế xã hội xem xét mối quan hệ trên cơ sở quyền lực xã hội Nó thể hiện qua 3 đặc trưng cơ bản đó là quyền lực xã hội, quyền lợi và trách nhiệm Quyền lực xã hội là quyền lực của một vị thế xã hội nào đó được xã hội thừa nhận hoặc trao cho cá nhân để thực hiện vai trò của mình trong xã hội Quyền lực xã hội là những điều kiện vật chất và tinh thần mà mỗi vị thế xã hội có được từ xã hội Trách nhiệm xã hội là những quy định của xã hội đối với kết quả và hậu quả của việc thực hiện quyền lực xã hội ở mỗi vị thế hoạt động nhất định Đây là cơ chế ràng buộc để giám sát các hoạt động quyền lực trong xã hội để định hướng những hoạt động đó mang lại lợi ích cho xã hội Sự cao thấp của quyền hạn, quyền lợi và trách nhiệm sẽ tạo ra thứ bậc khác nhau của vị thế xã hội Thứ bậc của vị thế xã hội đã tạo ra các phạm vi có hiệu lực của từng vị thế xã hội, tạo ra hệ thống các vị thế xã hội chi phối lẫn nhau trong hệ thống tổ chức xã hội Do đó vị thế xã hội đã được xác định mức độ quyền lực trong cơ cấu xã hội cho các cá nhân

Vai trò xã hội là mô hình hành vi xã hội được xác lập một cách khách quan căn cứ vào đòi hỏi của xã hội đối với từng vị trí, vị thế nhất định, để thực hiện trách nhiệm và quyền hạn tương ứng với vị trị, vị thế đó Như vậy, vai trò xã hội thể hiện những đòi hỏi của xã hội đối với các vị trí, vị thế xã hội Những đòi hỏi này được xác định căn cứ vào các chuẩn mực, giá trị xã hội Trong các xã hội khác nhau, chuẩn mực và giá trị xã hội cũng không đồng nhất.Ngay trong một xã hội, những quyền hạn và trách nhiệm của các vị thế xã hội, những mô hình hành vi được mong đợi trong các nhóm xã hội cũng khác nhau Mỗi nhóm cũng có thể đặt ra những đòi hỏi về hành vi khác nhau từ một vị thế xã hội Do đó, thực chất vai trò xã hội là xã hội xác lập các thước đo xã hội để đánh giá giá trị đích thực của một cá nhân đã cống hiến cho xã hội

Vận dụng các quan điểm nêu trên, đề tài xem xét đặc điểm xã hội của người dân có nhu cầu mua nhà chung cư bao gồm thứ nhất: những đặc điểm nhân khẩu học đó là độ tuổi, nghề nghiệp, giới tính, thu nhập, trình độ học vấn, quê quán, mức thu nhập Thứ hai, đặc điểm xã hội còn dựa trên các hành vi mua nhà chung cư liên quan đến mục đích mua nhà, chất lượng nhà, loại nhà ở Ngoài việc mô tả số lượng tỉ lệ các nhóm xã hội về người mua nhà chung cư, tác giả cố gắng phân tích sự tác động giữa các nhóm dựa trên vị thế và vai trò của họ trong xã hội.

Khái niệm về nhu cầu

Cho đến nay chưa có một định nghĩa chung nhất cho khái niệm “Nhu cầu” Các sách chuyên ngành hay công trình nghiên cứu khoa học thường có những định nghĩa mang tính riêng biệt

Theo từ điển Xã hội học, Nguyễn Khắc Viện (chủ biên) thì nhu cầu được quan niệm như sau: “Mọi hành vi của con người đều do sự thúc đẩy của nhu cầu nào đó Nhu cầu thể hiện sự lệ thuộc của một cơ thể sống vào môi trường bên ngoài, thể hiện thành những ứng xử tìm kiếm khi cơ thể thiếu những điều kiện để tồn tại và phát triển” Tuy nhiên nhu cầu không phải chỉ nảy sinh khi cơ thể thiếu những điều kiện để tồn tại và phát triển mà “luôn luôn nảy sinh nhu cầu mới theo năng lực (tức là những đòi hỏi) về thể chất, trí tuệ và tâm hồn ngày càng tăng lên của con người” Và khi được thỏa mãn nhu cầu, con người cảm thất thích thú, hài lòng Không thỏa mãn được, con người bị hụt hẫng và có thể đi tới hành vi chống lại những trở ngại trong việc tìm kiếm sự thỏa mãn nhu cầu

Tác giả Nguyễn Khắc Viện khi đề cập đến nhu cầu đã đưa ra ba loại cơ bản là “Nhu cầu vật chất”, “nhu cầu cảm xúc” và “nhu cầu xã hội”

Các nhu cầu vật chất: là các nhu cầu bẩm sinh Các nhu cầu vật chất thông thường ở người là nhu cầu về thực phẩm, phương tiện sinh sống Nhu cầu về cảm xúc là nhu cầu chung, cụ thể như: nhu cầu về yêu thương của con người, sự tán thành và kính trọng, nhu cầu được thừa nhận,… Nhu cầu về xã hội và các thỏa mãn các nhu cầu đó nảy sinh từ nền văn hóa hoặc bối cảnh xã hội à con người là một thành viên Các nhu cầu xã hội đan xen với nhu cầu vật chất và nhu cầu cảm xúc [30, tr.50]

Trong từ điển Bách khoa Việt Nam thì khái niệm nhu cầu được định nghĩa như sau:

Nhu cầu là sự phản ánh một cách khách quan các đòi hỏi về vật chất, tinh thần và xã hội của đời sống con người phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của từng thời kỳ Nhu cầu hình thành và phát triển trong quá trình lịch sử Mức độ nhu cầu và phương thức thỏa mãn nhu cầu về cơ bản phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội, trước hết là trình độ phát triển kinh tế Nhu cầu là động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất và toàn xã hội phát triển Đặc điểm của các tầng lớp nhân dân được hình thành tùy theo địa vị của họ trong nền sản xuất xã hội, tùy thuộc vào đặc trưng nhân khẩu, chủng tộc, dân tộc… và các điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên” Và “Nhu cầu được phân thành nhiều loại theo các tiêu chí khác nhau Cơ cấu nhu cầu biến động khác nhau theo giai cấp, theo các tầng lớp dân cư, theo các vùng lãnh thổ, tùy theo thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội Xác định nhu cầu là vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế và quản lý kinh tế [28, tr.267]

Theo từ điển tóm tắt xã hội học tiếng Nga: “Nhu cầu là đòi hỏi điều gì đó cần thiết để đảm bảo hoạt động sống của cơ thể, của nhân cách con người, của nhóm xã hội hoặc toàn xã hội nói chung, là nguồn thôi thúc nội tại của hoạt động” [31, tr.243]

Theo quan điểm của tâm lý học, nhu cầu dùng để chỉ sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thỏa mãn để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng cụ thể và nội dung của nó do những điều kiện và phương thức thỏa mãn quy định Khi nào đối tượng của nhu cầu có khả năng đáp ứng thì lúc đó nhu cầu trở thành động lực thúc đẩy của các cá nhân hay nhóm xã hội

Còn theo A Maslow, Nhu cầu của con người là một cảm giác, một trạng thái về sự thiếu thốn, về sự trống trải về mặt vật chất và tinh thần mà họ mong muốn được đáp ứng

Hình 1.1 Hình ảnh tháp nhu cầu của Maslow

Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ

"đáy” lên tới “đỉnh”, phản ánh mức độ "cơ bản” của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội.

Nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang bậc khác nhau từ "đáy” lên tới “đỉnh”, phản ánh mức độ "cơ bản” của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội

Trên cơ sở tiếp nhu những quan điểm của các nhà nghiên cứu về nhu cầu, định nghĩa nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu, khách quan của con người phản ánh trong những điều kiện cụ thể và thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển Tùy theo trình độ nhận thức, môi trường sống, những đặc điểm tâm lý, mỗi người có những nhu cầu khác nhau Trong đề tài này, tác giả sử dụng định nghĩa về nhu cầu của những người mua nhà chung cư đó là những mong muốn nguyện vọng về ngôi nhà mà họ muốn mua Cụ thể nhu cầu được xác định trên cơ sở các hành vi thể hiện họ muốn mua căn hộ loại nào, họ đến chung cư Oriental Westlake và chung cư Tràng An Complex gặp gỡ nhân viên tiếp thị, đến thăm quan các phòng ở, trao đổi, mặc cả…Ngoài ra, đề tài còn dựa trên mong muốn của họ về căn hộ, diện tích, số phòng, tầng muốn ở, loại trang thiết bị trong căn hộ

Khái niệm về nhà chung cư

Ngược dòng lịch sử, người La Mã là những người đầu tiên xây dựng nhà ở dạng chung cư với tên gọi “insula” dành cho người nghèo và tầng lớp dưới (pleb) Mỗi insula có thể chứa tới hơn 40 người trên diện tích trệt chỉ khoảng 400 m2, tầng cao xây dựng có khi lên đến 6-7 tầng Sau những trận đại hỏa hoạn, hoàng đế Augustus đã giới hạn chiều cao tối đa của insula còn 20,7 m và tới thời hoàng đế Nero thì chỉ còn 17,75 m Trong thời kỳ cực thịnh của mình, số lượng chung cư insula tại Roma có thời điểm lên đến 50.000 Định nghĩa “chung cư” theo Encyclopedia Britanica năm 2006

Trong tiếng Anh hiện đại, từ “condominium” (được viết tắt là

“condo”), là từ được sử dụng phổ biến để chỉ một công trình chung cư thay thế cho từ “apartment” Khái niệm “chung cư” (condominium) là một khái niệm cổ đã được người La Mã cổ đại sử dụng từ thế kỷ thứ 6 trước công nguyên, trong tiếng Latin “con” có nghĩa là “của chung” và “dominium” là

“quyền sở hữu” hay “sử dụng” Ngày nay, condominium là một hình thức quyền sở hữu chứ không phải là hình thức tài sản nguyên vẹn Một condominium được tạo ra dưới một khế ước về quyền sở hữu, đồng thời với việc ghi nhận khuôn viên khu đất và mặt bằng công trình trên vị trí xây dựng Các căn hộ ở được tạo ra đồng thời và nằm bên trong khuôn viên khu đất chung cư Khi một người sở hữu căn hộ chung cư condominium, anh ta có quyền sở hữu đối với không gian nằm giữa các bức tường, sàn và trần căn hộ của mình, và một quyền sử dụng chung không thể chia xẻ (undivided share) đối với tất cả “không gian chung” (common areas) thuộc khuôn viên dự án chung cư chứa căn hộ đó Khái niệm chung cư condominium thường được sử dụng hoán đổi với nghĩa toàn bộ dự án chung cư hoặc dùng để chỉ từng căn hộ chung cư Trên phương diện kỹ thuật, từ condominium dùng để chỉ dự án chung cư (project); còn từ “apartment” hay “unit” dùng để chỉ các căn hộ chung cư đơn lẻ Condominium có thể có mọi hình dáng và kích cỡ, từ dạng tháp cao tầng cao cấp sang trọng cho tới những nhà chung cư cải tạo cũ kỹ Định nghĩa “chung cư” tại Singapore: Tại Singapore, khái niệm

“chung cư” được sử dụng như một khái niệm quy hoạch hơn là một khái niệm pháp lý, nhằm mô tả sự phát triển những nhà ở, căn hộ và buồng ở được xây dựng nhằm mục đích khai thác tối đa quỹ đất Định nghĩa “chung cư” tại Việt Nam

Trước khi Luật Nhà ở năm 2014 ra đời, mặc dù đã xuất hiện nhà chung cư từ những thập niên 60-70, thuật ngữ chung cư đã được sử dụng nhiều trong các văn bản của Nhà nước cũng như cuộc sống thực tiễn nhưng vẫn chưa có một văn bản nào đưa ra khái niệm hay định nghĩa nhà chung cư Trong thực tế cũng có một số quan niệm về nhà chung cư như sau:

Chung cư là nhà tập thể

Chung cư là nơi có nhiều căn hộ khép kín cho nhiều hộ gia đình ở Chung cư là nhiều cái nhà một tầng chồng lên nhau

Cũng có khái niệm cho rằng: Chung cư là loại nhà ở có nhiều căn hộ khép kín (tức là đảm bảo người ở thực hiện mọi hoạt động riêng tư trong đó) có không gian sử dụng chung như hành lang, cầu thang, cầu thang máy và các diện tích chung như hệ thống điện nước, thoát nước, điện thoại Chung cư ít nhất có 2 tầng

Luật nhà ở số 65/2014/ QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 25/11/2014 quy định: Nhà chung cư là nhà có từ 2 tầng trở lên, có nhiều căn hộ, có lối đi, cầu thang chung, có phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho các hộ gia đinh, cá nhân, tổ chức, bao gồm nhà chung cư được xây dựng với mục đích để ở và nhà chung cư được xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp để ở và kinh doanh (Khoản 3 điều 3 của Luật nhà ở)

- Phần sở hữu riêng trong nhà chung cư bao gồm:

Phần diện tích bên trong căn hộ, bao gồm diện tích ban công, gắn liền với căn hộ đó

Phần diện tích khác trong nhà chung cư được công nhận là sở hữu riêng theo quy định của pháp luật

Hệ thống thiết bị kỹ thuật sử dụng riêng gắn liền với căn hộ, phần diện tích thuộc sở hữu riêng

- Phần sở hữu chung trong nhà chung cư bao gồm:

Phần diện tích nhà còn lại của nhà chung cư ngoài phần diện tích thuộc sở hữu riêng theo quy định tại khoản 2 điều này

Không gian và hệ thống kết cấu chịu lực, trang thiết bị kỹ thuật dùng chung trong nhà chung cư…

Hệ thống hạ tầng kỹ thuật bên ngoài nhưng được kết nối với chung cư đó

- Các loại nhà chung cư cao tầng:

Nhà ở chung cư cao tầng tại Hà Nội, bao gồm nhà ở chung cư cao tầng thuộc sở hữu nhà nước và nhà ở chung cư cao tầng thuộc khu đô thị mới

Nhà ở chung cư cao tầng thuộc sở hữu nhà nước: Nhà ở chung cư cao tầng thuộc sở hữu nhà nước tại Hà Nội được nhà nước xây dựng chủ yếu trong thời kỳ thực hiện ở cơ chế bao cấp nhà ở Đây là giải pháp để giải quyết nhu cầu bức bách về chỗ ở cho người dân đô thị

Nhà ở chung cư cao tầng tại các dự án xây dựng khu đô thị mới: Nhà ở chung cư cao tầng tại các dự án xây dựng khu đô thị mới để bán hoặc cho thuê.

Khái niệm người mua nhà chung cư và sơ lược về 2 chung cư nghiên cứu

* Khái niệm Người mua nhà chung cư:

Theo nghĩa hẹp “Người mua” là người sử dụng hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức

Theo từ điển Tiếng Việt: Người mua được hiểu là bất kỳ người có tư cách pháp nhân nào có hợp đồng để thu được một tài sản theo một số hình thức ngang giá

Nếu hiểu theo khái niệm trên người mua nhà chung cư là những người có tư cách pháp nhân ký kết với bên bán để mua nhà nhằm mục đích sử dụng cho việc ở, sinh hoạt hoặc mua đi bán lại

Tuy nhiên, việc xác định tư cách pháp nhân cũng như việc ký kết mua bán vì vậy khó xác định trong quá trình nghiên cứu vì vậy tác giả chỉ khảo sát đối với những người có ý định mua nhà chung cư bằng các hành động đến xem và hỏi các thủ tục để mua nhà

* Sơ lược về 2 chung cư nghiên cứu:

Chung cư Oriental Westlake (OW) tọa lạc tại mặt đường 174 Lạc Long Quân, là một trong những vị trí “Vàng” đắc địa nằm bên Hồ Tây thơ mộng do chủ đầu tư là tập đoàn BRG đầu tư và hoạt động tập trung chủ đạo vào lĩnh vực Tài Chính - Ngân hàng, sân Golf và Bất động sản, là một trong những tập đoàn uy tín nhất tại Việt Nam hiện nay Kết cấu tòa nhà với 15 tầng nổi bao gồm 108 căn hộ, 2 tầng hầm và 1 tầng mái với đầy đủ chức năng: trung tâm thương mại - dịch vụ kết hợp căn hộ cao cấp, tích hợp đầy đủ các tiện nghi như Sân chơi trẻ em, khu đi bộ, sân vườn Khu căn hộ OW được thiết kế khá linh hoạt với 3 loại căn hộ trong đó có 10% số lượng 1 phòng ngủ với diện tích dưới 50 mét vuông, 60% các căn hộ 2 phòng ngủ với diện tích từ 60-90 mét vuông, còn lại 30% là các căn hộ 3 phòng ngủ lớn hơn 90 mét vuông, phù hợp với nhu cầu sử dụng của tất cả các hộ gia đình trẻ và các hộ gia đình sống chung nhiều thế hệ Diện tích toàn khu đất: 1992 m2 Giá mở bán khởi điểm là 60 triệu/ mét vuông Đây được coi là loại chung cư cao cấp

Chung cư Tràng An Complex (TAC) nằm tại mặt ngõ số 1 Phùng Chí Kiên do INVEST làm chủ đầu tư: Đây là tổ hợp khu nhà ở gồm 2 tòa chung cư cao 23 - 29 tầng với 878 căn hộ, 2 tầng hầm, 1 tòa thương mại 14 tầng tạo nên một môi trường sống và làm việc hiện đại Diện tích toàn khu đất: 26.836,8 m2 và diện tích phòng từ 76 - 152m2/ căn (gồm 2-4 phòng ngủ) Cụ thể có 40% là căn hộ có 2 phòng ngủ nhỏ hơn 76 mét vuông, 45% các căn hộ có 3 phòng ngủ với diện tích từ 89 -135 mét vuông và 15% các căn hộ có 4 phòng ngủ với diện tích trên 135 mét vuông Giá khởi điểm tính theo diện tích sàn là 27 triệu/ mét vuông Đây được coi là loại chung cư bình dân.

Các lý thuyết được áp dụng

Lý thuyết nhu cầu

Lý thuyết nhu cầu của nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) là lý thuyết đạt tới đỉnh cao trong việc nhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung Theo lý thuyết này, nhu cầu tự nhiên của con người được chia thành các thang thứ bậc khác nhau từ “đáy” lên tới “đỉnh”, phản ánh mức độ cơ bản của nó đối với sự tồn tại và phát triển của con người vừa là một sinh vật tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội Nhu cầu của mỗi con người phát triển theo 5 thứ bậc chính Thang bậc thấp nhất là nhu cầu vật chất để tồn tại, thang bậc thứ là là nhu cầu an sinh, thang bậc thứ ba là nhu cầu xã hội, thang bậc thứ tư là nhu cầu tôn trọng và thang bậc cao nhất là nhu cầu tự thể hiện, đó là nhu cầu lý tưởng, thường chỉ đạt được khi làm được một sứ mệnh cao cả Theo Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia ra thành hai nhóm chính: nhu cầu cơ bản và nhu cầu bậc cao

Nhu cầu về thể chất, sinh lý: nhu cầu về đồ ăn, nước uống, không khí, ngủ nghỉ… liên quan đến việc duy trì cuộc sống của con người Nhu cầu này là nhu cầu căn bản nhất trong 5 nhóm nhu cầu theo sự phân định của Maslow Nhu cầu an toàn (an sinh, an ninh): Con người cần có một môi trường sống an toàn, sức khỏa để đảm bảo sự tồn tại của họ Họ cần được khám chữa bệnh, được chăm sóc sức khỏe, cần sống trong môi trường được đảm bảo về an ninh để tính mạng của họ không bị đe dọa, Đây là loại nhu cầu liên quan tới việc né tránh nguy hiểm, nguy cơ mất việc, mất tài sản, thức ăn, nhà ở…

Nhu cầu xã hội (tình cảm xã hội, nhu cầu về liên kết và thừa nhận xã hội): Maslow coi đó là nhu cầu thuộc về nhóm xã hội của con người, sự mong muốn được quan tâm của các thành viên trong nhóm xã hội (gia đình, người thân, bạn bè…) Sức mạnh của họ sẽ được nhân lên, sự tin tưởng cũng được nhân lên, sự tự tin cũng được tăng cường khi họ là thành viên của các nhóm bởi điều đó khẳng định vai trò, vị trí của họ trong xã hội Sự đơn độc, không gia đình, không có nhóm xã hội nào để cá nhân thuộc về đó sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với sự phát triển tâm lý và quan hệ xã hội của cá nhân

Nhu cầu được tôn trọng: Con người luôn cần được đối xử bình đẳng, được lắng nghe và không bị coi thường Dù đó là ai, nam hay nữ, ở vùng miền nào, người giàu hay người nghèo cũng đều có nhu cầu được coi trọng, được ghi nhận về sự hiện diện cũng như chính kiến của cá nhân Con người có trở nên tự tin hay không, thể hiện sự mạnh mẽ của mình hay không đó là một phần do họ được đối xử bình đẳng hay không Con người có quyền đòi hỏi về quyền lực, uy tín, địa vị

Nhu cầu hoàn thiện và phát triển: là nhu cầu được đi làm, được nghiên cứu, được lao động sáng tạo, được bồi dưỡng kiến thức,…để phát triển toàn diện Nhu cầu này đc Maslow cho là nhu cầu quan trọng, song chúng được xếp ở bậc thang cuối cùng bởi nó chỉ được đề cập tới khi những nhu cầu cơ bản ở các bậc thang nền tảng đã được áp dụng Đây là loại nhu cầu thúc đẩy hành vi của con người đạt tới vị trí xã hội cao nhất tương ứng với nhận thức của cá nhân đó

Không có hành động có ý thức nào xảy ra mà không kèm theo sự chờ đợi, mong muốn, hy vọng kết quả vào nó Mức độ hấp dẫn của đối tượng tạo ra ở chủ thể lòng đam mê hay một sắc thái tâm lý nào đó Sự phối hợp có tính chỉnh thể giữa niềm khao khát, mong mỏi, hy vọng với mức độ hấp dẫn của đối tượng sẽ tạo ra động lực chi phối hành vi của con người Từ đó có thể điều chỉnh quá trình thực hiện mục tiêu của tập thể thông qua việc quản lý các khâu quan hệ giữa các yếu tố nhu cầu - động cơ - hành động Theo Vroom thì sẽ không có hành động xảy ra, nghĩa là không có quá trình vươn tới mục tiêu khi chủ thể hành động không có động cơ thúc đẩy Động cơ thúc đẩy bằng mức độ hấp dẫn của đối tượng chủ thể với niềm mong đợi, hy vọng vào mục tiêu đạt được

Nhu cầu của những người mua căn hộ chung cư đó là mong muốn có một môi trường sống an toàn, lành mạnh, hiện đại, thuận tiện cho việc di chuyển và giao lưu xã hội Nhu cầu của người dân thủ đô về môi trường sống đang dần dần thay đổi, thay vì lựa chọn các ngôi nhà liền kề thì họ có xu hướng lựa chọn căn hộ chung cư cao tầng Ngoài ra theo tháp nhu cầu của Maslow đây còn là thể hiện nhu cầu được tôn trọng và tự thể hiện của những người dân đến mua nhà chung cư.

Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý

Thuyết lựa chọn hợp lý có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học và nhân học thế kỷ XVIII - XIX Nhờ sự nỗ lực to lớn James Coleman, thuyết lựa chọn hợp lý đã phát triển và trở thành một trong các lý thuyết của xã hội học đương thời Định hướng lựa chọn hợp lý của Coloman rõ ràng trong ý tưởng của ông rằng hành động có mục đích của cá nhân hướng tới một mục tiêu; mục tiêu đó (cả hành động) định hình bởi các giá trị hay các sở thích Mọi người được xem là tối đa hóa các lợi ích của họ bằng cách từ bỏ một phần kiểm soát chính bản thân họ và có được một phần kiểm soát đối với những người khác

Khi nhắc tới lý thuyết sự lựa chọn hợp lý phải kể đến tác giả Geogre Simmil Theo tác phẩm: “Lịch sử và lý thuyết xã hội học”, ông đã nêu ra nguyên tắc “cùng có lợi” trong mối tương tác xã hội giữa các cá nhân và cho rằng mỗi cá nhân luôn phải cân nhắc, toan tính thiệt hơn để theo đuổi các nhu cầu cá nhân, thỏa mãn mục đích cá nhân Trong quá trình tương tác giữa con người và xã hội, con người luôn cân nhắc và tính toán sao cho bỏ ra chi phí tối thiểu mà thu lại được lợi nhuận tối đa Sự xem xét mối tương quan giữa ba yếu tố trên chủ yếu dựa vào nhìn nhận chủ quan của các cá nhân quyết định

Theo lý thuyết sự lựa chọn hợp lý, Friedman và Hechter cho rằng tiêu điểm của sự lựa chọn hợp lý là các actor Các actor được xem là có mục đích hoặc mục tiêu về cái hành động của họ hướng tới Thuyết lựa chọn hợp lý quan tâm đến ít nhất là hai sự kìm hãm đối với hành động Đầu tiên là sự hiếm hoi của các tiềm năng Các actor có các tiềm năng khác nhau cũng như có cách thâm nhập khác nhau vào các tiềm năng Đối với những người có nhiều tiềm năng, thành quả cuối cùng có thể tương đối dễ Tuy nhiên đối với những người có ít tiềm năng sự đạt được mục đích có thể khó khăn hoặc bất khả thi Liên quan đến sự hiếm hoi của các tiềm năng là cái giá phải trả của cơ hội Họ có thể bị mất đi một cơ hội khác có cơ may hơn trong hành động kế tiếp của mình Các actor được xem là luôn cố gắng tối đa hóa vì lợi ích của sự lựa chọn

Theo Rodney Stark,“trong những hạn chế về thông tin và các lựa chọn có thể, với ảnh hưởng của quản điểm và ý kiến cá nhân, người ta có khuynh hướng tối đa hóa lợi ích từ sự lựa chọn của mình” (Rosdney Stark,

2001 Sociology, Eight Edition) Như vậy, sự hiếm hoi của các tiềm năng liên quan mật thiết đến nguồn thông tin mà các actor có thể tiếp nhận được và những thứ mà họ có thể có để lựa chọn Có nghĩa là họ không thể có sự lựa chọn hợp lý để tối đa hóa lợi ích của mình nếu họ không biết gì về chúng hoặc có những biểu hiện lệch lạc về các lợi ích tương đối của sự lựa chọn và họ cũng không thể lựa chọn những cái mà họ không thể có

Một nguồn kìm hãm thứ hai lên các hành động của actor là các thể chế xã hội Như Freidman và Hechter xác định, nội cá thể hành động một cách khuôn sáo, tìm ra cách hành động của anh ta được kiểm lại từ đầu đến cuối bởi các nguyên tắc gia đình và trường học; các mệnh lệnh; các chính sách cứng rắn;

Như vậy, cách tiếp cận có ảnh hưởng lớn trong lý thuyết xã hội hiện nay đều có chung nhận định: khi đứng trước nhiều lựa chọn người ra thường cố gắng chọn cái hợp lý nhất hoặc dễ chấp nhận nhất, với suy nghĩ là cá nhân sẽ đạt được lợi ích tối đa trong sự lựa chọn ấy của mình Đây chính là mục đích về sự lựa chọn hợp lý

Nhận thức được những yếu tố bên ngoài có thể vượt lên trên khả năng chọn lựa của cá nhân và cách mà các yêu tố ảnh hưởng đến mỗi con người trong cùng một xã hội Các cá nhân muốn sự lựa chọn mang lại lợi ích cao nhất nhưng họ không luôn hành động giống nhau bởi sở thích và quan điểm riêng của mỗi cá nhân là khác nhau, chính điều này đã khiến các cá nhân nhìn nhận cái gì phần thưởng, cái gì là lợi ích

Vận dụng lý thuyết sự lựa chọn hợp lý trong đề tài nghiên cứu đặc điểm xã hội của những người có nhu cầu mua nhà chung cư tại Hà Nội hiện nay dựa trên sự phân tích các lý do để lựa chọn loại nhà, vị trí nhà ở, chất lượng nhà ở… của người dân Đề tài xác định những lý do lựa chọn cuối cùng quyết định việc mua nhà và phân tích các cơ sở để quyết định các sự lựa chọn đó của người mua nhà, ví dụ như vị trí nhà ở, vị trí trung tâm ở đô thị.

Lý thuyết phân tầng xã hội

Theo một số lý thuyết xã hội học thì phân tầng xã hội có thể hiểu như sự phân nhỏ xã hội (phân chia nhỏ hơn bao hàm cả sự bình giá)

Theo quan niệm này thì phân tầng xã hội là tổng thể mọi cá nhân trong cùng một hoàn cảnh xã hội, tức là họ bằng nhau hoặc giống nhau về thu nhập (hay mức sống) về trình độ học vấn, hay trình độ văn hóa, về địa vị, vai trò hay uy tín trong xã hội, về khả năng thăng tiến cũng như sự đạt được những an huệ hay những phân biệt đối xử, thứ bậc trong xã hội

Theo như nhà xã hội học người Đức, Max Weber (1964-1920), khi nghiên cứu cơ cấu xã hội của xã hội và vấn đề giai cấp, ông đưa ra những nguyên tắc về sự tiếp cận ba chiều đối với vấn đề phân tầng xã hội coi khái niệm phân tầng xã hội bao hàm cả việc phân chia xã hội thành giai cấp Ông đã tách một luận điểm về giai cấp thành ba phần riêng biệt nhưng có quan hệ mật thiết với nhau, đó là: “Địa bị kinh tế hay tài sản, địa vị chính trị hay quyền lực, địa vị xã hội là uy tín”

Theo ông tài sản, quyền lực và uy tín có thể độc lập với nhau Song trong thực tế chúng có thể chuyển hóa cho nhau, củng cố lẫn nhau hoặc chế ước lẫn nhau Trong ba yếu tố đó thì uy tín thường gắn với quyền lực chính trị và những người có thu nhập cao Tuy nhiên đia vị kinh tế xã hội vẫn là nhân tố có vai trò quyết định thường xuyên nhất

Trên một số quan niệm như vậy, nhiều nhà xã hội học đã sử dụng rộng rãi vào việc sắp xếp một tập hợp người nào đó vào các tầng xã hội này hay khác Tuy nhiên, ngoài ba tiêu chuẩn phân chia nói trên, các nhà xã hội học còn đưa thêm nhiều vào những tiêu chuẩn phân chia khác rất đa dạng và không thống nhất với nhau Ví dụ trong địa vị kinh tế xã hội có người lại đưa vào các yếu tố như: Mức thu nhập, loại nghề nghiệp, số năm đi học và đôi khi cả địa điểm cư trú Có người lại đưa ra không phải 3 mà là 4 đặc trưng của phân tầng như quyền lực mức sống hay tài sản, địa vị, uy tín Ngoài những đặc trưng chủ yếu trên, người ta còn nhận biết tầng xã hội thông qua những chỉ báo phụ khác, như cách ứng xử, phong cách làm việc và sinh hoạt, những quan niệm về lý tưởng sống, các chứng kiến, nơi cư trú, kiểu nhà ở, y phục, giao tiếp, nghỉ ngơi, thể thao, thị hiếu nghệ thuật, trình độ tiêu dùng v.v…

Sau Max Weber, phải kể đến quan niệm của những nhà chức năng luận về vấn đề này bao gồm Parsons, Sild, Kdevis, Barber,…

Theo quan niệm của các nhà chức năng luận, phân tầng xã hội là sự phân hóa xã hội, là sự phân chia nhỏ hơn các vai trò và các vị thế xã hội, nó là sự bất bình đẳng mang tính cơ cấu của tất cả các xã hội loài người Phân tầng xã hội là kết quả của phân công lao động xã hội và sự phân hóa của những nhóm xã hội khác nhau, nó là kết quả của sự tác động của một hệ thống các giá trị xã hội Những giá trị và những tiêu chuẩn này xác định ý nghĩa của những hoạt động này hay khác, hình thành nên sự bất bình đẳng xã hội mà sự bất bình đẳng này được thể hiện trong một loạt các dạng thức hoạt động và phân phối vật chất, tài sản Theo các nhà chức năng luận, sự phân tầng xã hội là nhằm đáp ứng những nhu cầu của xã hội và họ đặt vấn đề là làm sao cần phải có một xã hội đẳng cấp

Nhà chức năng luận người Mỹ Parsons (1902-1979) coi phân tầng xã hội là sự sắp xếp các cá nhân vào trong một hệ thống xã hội trên cơ sở những tiêu chuẩn của một hệ thống chung về giá trị Phân tầng là kết quả trực tiếp và cũng là phương tiện của hoạt động xã hội Parson nhấn mạnh đến tính ổn định, trạng thái thăng bằng của phân tầng và coi sự phân tầng là hợp thức và cần thiết cho mọi xã hội Ông cũng nhấn mạnh đến chức năng liên kết của sự phân tầng xã hội, coi nó có vai trò công cụ trong việc đảm bảo cho sự nhận thức và thể hiện những vai trò và chức năng xã hội chung, thừa nhận nó là vật kích thích những cách thức hoạt động khác nhau của các nhóm xã hội trong xã hội

Bằng việc sử dụng các phương pháp và các nhà xã hội học đã dựng lên những tháp phân tầng xã hội theo “chiều dọc” bao gồm các tháp phân tầng mà hầu hết các địa vị xã hội đều rơi vào đáy: phản ánh trình độ kinh tế xã hội thấp, rồi đến tháp phân tầng “hình quả trứng” với hầu hết chụm lại ở giữa, phản ánh đại đa số các thành viên trong xã hội có mức sống trung lưu khá giả rồi các tháp phân tầng khác nhau như phân tầng “hình nón cụt”, “hình giọt nước”, “hình con quay”, “hình đĩa bay” phản ánh các sắc thái khác nhau của sự phân tầng

Nhà ở là một loại chỉ báo rất quan trọng để đo về phân tầng xã hội vì vậy nghiên cứu đặc điểm xã hội của cư dân ở chung cư tiếp cận theo cơ cấu xã hội đề tài cần làm rõ các đặc điểm về giàu nghèo của những người đến mua nhà chung cư.

Bối cảnh xã hội và sự phát triển của nhà chung cư ở Việt Nam hiện nay

Chính sách của Nhà nước về việc xây dựng các tòa nhà cao tầng

Hiện nay, Bộ Xây dựng đang triển khai nghiên cứu để ban hành Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về nhà chung cư Trong thời gian chờ ban hành Quy chuẩn Kỹ thuật Quốc gia về nhà chung cư, đối với căn hộ chung cư thương mại thì có thể áp dụng tạm thời tiêu chuẩn diện tích tối thiểu không nhỏ hơn 25m2 (tương đương quy định hiện hành về diện tích tối thiểu đối với căn hộ chung cư nhà ở xã hội) và bảo đảm thiết kế, xây dựng theo kiểu căn hộ khép kín Việc đề xuất quy định tiêu chuẩn diện tích tối thiểu đối với căn hộ chung cư là 25m2 được căn cứ trên cơ sở pháp lý, khoa học và thực tiễn như sau:

Một là, theo kết quả điều tra về dân số và nhà ở cho thấy số hộ gia đình tại khu vực đô thị có diện tích nhà ở tối thiểu dưới 5m2/người là tương đối lớn (khoảng 4,8%) Từ đó, Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm

2020 và tầm nhìn đến năm 2030 (ban hành theo Quyết định 2127/QĐ-TTg ngày 30/11/2011 của Thủ tướng Chính phủ) đã đề ra mục tiêu đến năm 2020 đạt chỉ tiêu diện tích nhà ở tối thiểu 8m2 sàn/người Như vậy, việc quy định diện tích căn hộ tối thiểu 25m2 (để có thể bố trí chỗ ở cho 1-3 người) là hợp lý và phù hợp với nhu cầu của thị trường, đặc biệt là các đối tượng thu nhập thấp tại khu vực đô thị và công nhân lao động tại các khu công nghiệp

Hai là, tiêu chuẩn diện tích tối thiểu đối với căn hộ chung cư nhà ở xã hội quy định tại Điều 7 Nghị định 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý nhà ở xã hội là 25m2 Bên cạnh các cơ chế khuyến khích phát triển nhà ở xã hội thì việc cho phép xây dựng xây dựng căn hộ thương mại có diện tích tối thiểu 25 m2 cũng là một giải pháp quan trọng để góp phần thúc đẩy phát triển nhà ở giá thấp cho các đối tượng gặp khó khăn về nhà ở theo tinh thần Chỉ thị 03/CT-TTg ngày 25/01/2017 của Thủ tướng Chính phủ về đẩy mạnh phát triển nhà ở xã hội

Ba là, tham khảo kinh nghiệm quốc tế của các nước trên thế giới như Pháp, Hàn quốc, Thái Lan, Singapore, Malaysia đều cho phép xây dựng căn hộ chung cư có diện tích nhỏ (Hàn Quốc: 14m2; Pháp: 15m2; Thái Lan: 15- 20m2) Như vậy, việc quy định cho phép xây dựng căn hộ chung cư có diện tích tối thiểu 25m2 là phù hợp với thông lệ quốc tế

Bốn là, chất lượng nhà ở được quyết định bởi các yếu tố cơ bản như: chất lượng xây dựng, chất lượng hoàn thiện, hệ thống trang thiết bị, điều kiện hạ tầng, dịch vụ quản lý vận hành… Do đó, việc quy định cho phép xây dựng căn hộ có diện tích vừa và nhỏ (tối thiểu 25m2) không phải là nguyên nhân hình thành các khu nhà ở chất lượng kém

Từ những cơ sở nêu trên, việc quy định tiêu chuẩn diện tích tối thiểu đối với căn hộ chung cư để có sản phẩm nhà ở đáp ứng nhu cầu của thị trường, bảo đảm không gian sinh hoạt, tiện nghi tối thiểu và giá cả hợp lý phù hợp với khả năng thanh toán của đại bộ phận các khách hàng

Tuy nhiên, ngoài việc tuân thủ quy định về diện tích tối thiểu, các doanh nghiệp đầu tư dự án nhà ở còn phải tuân thủ các quy định của pháp luật có liên quan (pháp luật về quy hoạch, pháp luật về xây dựng, pháp luật về đất đai ); bảo đảm phù hợp với khả năng dung nạp dân số, mật độ xây dựng, chiều cao công trình, điều kiện về hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội của khu vực triển khai dự án.

Lịch sử hình thành và phát triển của nhà chung cư

Trong lịch sử phát triển xây dựng miền Bắc nói chung và Hà Nội nói riêng từ sau năm 1956, danh từ “Chung cư” chưa được sử dụng rộng rãi mà có tên gọi khác là khu tập thể (KTT)

Các KTT xây dựng thử nghiệm đầu tiên tại Hà Nội được thiết kế bởi đội ngũ kiến trúc sư Việt Nam với sự giúp đỡ của các chuyên gia nước ngoài như Kim Liên, Nguyễn công Trứ…và sau này phát triển thêm nhiều khu khác như Trung Tự, Giảng Võ, Thành Công, Thanh Xuân Ý tưởng xây dựng các khu ở theo kiểu khu tập thể với phương pháp xây dựng lắp ghép từ các panel bê tông cốt thép đúc sẵn là xuất phát từ việc nghiên cứu áp dụng theo giải pháp quy hoạch và thiết kế kiến trúc của các nước xã hội chủ nghĩa (XHCN), đăc biệt là nền kiến trúc rất lớn mạnh của Nhà nước liên bang Xô viết lúc bấy giờ…

Từ năm 1954 đất nước ta bị chia cắt làm 2 miền, Miền Bắc độc lập xây dựng XHCN trong khi miền Nam diễn ra cuộc chiến tranh chống Mỹ ngụy, cho đến thắng lợi cuối cùng mùa xuân năm 1975, đất nước thống nhất Trong giai đoạn lịch sử này, mặc dù kinh tế miền Bắc gặp nhiều khó khăn do vừa phải phát triển kinh tế, vừa phải chi viện cho chiến trường lớn miền Nam, một số thành phố lớn như Hà Nội, Thái Nguyên, Việt Trì… vẫn được quy hoạch, xây dựng và phát triển Đây là giai đoạn phát triển nhà ở với những tiêu chí không gian của đời sống tập thể, áp dụng lý thuyết quy hoạch của Liên Xô và các nước XHCN khác Các mô hình KTT này ra đời trên cơ sở đó có điều chỉnh phù hợp với các điều kiện đặc thù về khí hậu, kinh tế, tập quán và lối sống Việt nam, nên được coi là tương đối hoàn chỉnh Các KTT này có vai trò rất lớn trong việc cung cấp chỗ ở cho người dân ở các đô thị Miền Bắc nói chung và Hà Nội nói riêng lúc bấy giờ, đây là giải pháp phù hợp với giai đoạn kinh tế - xã hội thời kỳ bao cấp, giải quyết nhanh nhu cầu nhà ở của đông đảo thành phần cán bộ công nhân viên chức Thủ đô Giai đoạn này, các công trình nhà thường là thấp tầng, nhà chung cư ở Việt Nam với chiều cao từ

Tính đến năm 1990, trên địa bàn Hà Nội đã xây dựng khoảng 40 KTT với gần 5 triệu m2, chiếm 7,5% quỹ nhà ở toàn quốc và cho đến hiện nay, còn chiếm gần 50% quỹ nhà ở của thành phố

Các KTT ban đầu được nghiên cứu và xây dựng tại Hà Nội với quy mô nhỏ từ 3-15 ha, với các dãy nhà thấp tầng từ 1-3 tầng, phân bố chủ yếu tại vành đai 1 và 2 của Thành phố như các khu: Nguyễn Công Trứ, Kim Liên Cấu trúc các khu ở này chưa hình thành các cặp, cụm, nhóm nhà ở rõ nét, trung tâm khu tập trung không định hình

Từ năm 1970, các KTT được xây dựng với quy mô trung bình từ 3-25 ha với các dãy nhà từ 4-6 tầng, phân bố chủ yếu tại vành đai 2 và 3 của Thành phố như các khu: Trung Tự, Giảng Võ, Thành Công, Bách Khoa, Ngọc Khánh, Khương Thượng Mô hình quy hoạch KTT thời kỳ này đã hoàn chỉnh hơn, tạo nên các đơn vị ở khép kín với đầy đủ các dịch vụ công cộng như nhà trẻ, trường học, công trình văn hoá, cửa hàng dịch vụ thương nghiệp Cấu trúc đã phân rõ nhóm ở rõ ràng, trung tâm tập trung đặt tại giữa tiểu khu có bán kính phù hợp, có tính chất hướng nội, đóng kín và hạn chế giao tiếp không gian với khu vực lân cận Mô hình này đẫ đạt được rất tốt các tiêu chí về không gian cây xanh, sinh hoạt công cộng, dịch vụ xã hội cũng như khả năng giao tiếp cộng đồng trong không gian đô thị cho một cụm dân cư với số dân trung bình từ 7.500-10.000 người

Sau năm 1980 mô hình xây dựng KTT hoàn chỉnh này tiếp tục được áp dụng với quy mô đất lớn hơn từ 25-50 ha, trong đó bao gồm phát triển tiếp các KTT đã được xây dựng từ cuối thập kỷ 70 và đồng thời phát triển thêm một số khu mới như Thanh Xuân, Nghĩa Đô, Kim Giang… Các KTT thời kỳ này thường có mật độ xây dựng trung bình thấp (25%), các dãy nhà thấp tầng (4-6 tầng) thông thường được thiết kế theo kiểu hành lang bên và bố trí song song theo hướng đông tây để tránh nắng với khoảng cách giữa các dãy nhà tương đối lớn, thuận lợi cho việc thông gió và chiếu sáng cho các căn hộ Mạng lưới giao thông nội bộ KTT được thiết kế rộng rãi và kết nối thuận tiện với mạng lưới giao thông chung của Thành phố

Hình thức kiến trúc của các KTT tương đối giản dị, hình khối và các chi tiết bên ngoài (cửa sổ, nhà vệ sinh, cầu thang…) phản ánh trung thực nội dung chức năng sử dụng bên trong, phù hợp với quan điểm của kiến trúc công năng, một xu hướng kiến trúc đang được suy tôn trên thế giới cũng như tại các nước XHCN Tuy các mẫu nhà điển hình hơi đơn điệu (chỉ gồm khoảng

20 mẫu điển hình trên tổng thể gần 40 KTT), nhưng với dáng vẻ công nghiệp và hiện đại, các KTT thời kỳ bấy giờ cũng góp phần làm đẹp thêm những khu vực mới mở rộng của Hà Nội

Công nghệ xây dựng các KTT cũng là một thử nghiệm mới mẻ lúc bấy giờ, lần đầu tiên chúng ta áp dụng phương pháp modul hóa và điển hình hóa trong xây dựng từ tổng thể tới chi tiết, tham khảo theo tiêu chuẩn xây dựng của các nước XHCN Với biện pháp thi công lắp ghép tại chỗ, thời gian xây dựng một dãy nhà (trung bình 5 tầng) rút ngắn chỉ còn khoảng 2 tháng

Hiện nay, theo nghiên cứu khảo sát 40 KTT cũ đã xây dựng tại Thủ đô

Hà Nội từ năm 1956-1990 cho thấy các tiêu chí quy hoạch và không gian kiến trúc ban đầu đã bị biến dạng và phá huỷ, nguyên nhân xuất phát từ áp lực dân số, chuyển biến về kinh tế, xã hội, đời sống, và xu thế phát triển mở rộng chung của thành phố trong giai đoạn mới

Giai đoạn xây dựng thời kỳ 1990 đến nay, các khu nhà tập thể không còn được xây dựng phổ biến mà thay vào đó là các khu chung cư cao tầng với trang thiết bị hiện đại, thay vì có sự đầu tư từ nhà nước là các tập đoàn hay công ty đứng lên làm chủ đầu tư xây dựng Đây là giai đoạn nhà chung cư cao tầng phát triển mạnh Nhiều nhà chung cư cao tầng và siêu cao tầng mọc lên khắp nơi tại các đô thị lớn mạnh như thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Biên Hòa, Hải Phòng Theo số liệu của bộ xây dựng công bố, không tính các nhà chung cư cao tầng đơn lẻ, chỉ tính các dự án khu đô thị mới thì tính đến ngày 31/12/2010, có 633 dự án khu đô thị mới với nhiều tòa nhà chung cư đã và đang được triển khai thực hiện

Những nhà chung cư bắt đầu được xây dựng kề cận các khu công nghiệp, trường đại học, cao đẳng, dạy nghề, trong những khu tái định cư được xây chen trong các khu phố cũ, các khu chung cư cũ, khu đô thị ven sông Hồng và cả các khu đô thị mới Việc xây dựng những nhà chung cư tại các khu đô thị mới có những lý do về mặt xã hội

Thứ nhất, điều đó hạn chế tình trạng cư trú tách biệt theo thành phần gia đình, vị trí xã hội - tình trạng phản ánh sự bất bình đẳng xã hội trong không gian xã hội đô thị

Thứ hai, những nhóm thu nhập cao sống trong khu đô thị mới có nhiều nhu cầu dịch vụ cần được đáp ứng và việc xây các nhà chung cư gần trung tâm những khu đô thị mới, có thể tạo nhiều cơ hội việc làm cho các nhóm thu nhập thấp, trung bình cư trú trong những ngôi nhà chung cư

Chiến lược phát triển quốc gia về nhà chung cư

Theo Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020, tỷ lệ nhà ở chung cư trong các dự án phát triển nhà ở tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đạt trên 80%, đô thị từ loại I đến loại II đạt trên 50%, đô thị loại III đạt trên 30% Tỷ lệ nhà ở kiên cố toàn quốc đạt khoảng 62%

Trong giai đoạn 2016 - 2020, phấn đấu thực hiện đầu tư xây dựng tối thiểu khoảng 12,5 triệu m2 nhà ở xã hội; mục tiêu đến năm 2020, diện tích nhà ở bình quân toàn quốc tăng lên khoảng 26,3m 2 sàn/người, phấn đấu đạt chỉ tiêu diện tích nhà ở tối thiểu 8,5m 2 sàn/người trong đó khu vực đô thị 29,1 m 2 /người, khu vực nông thôn 22,1 m 2 /người

Nâng tỷ lệ nhà ở kiên cố toàn thành phố lên thành 91,2%; hoàn thành việc xóa nhà tạm, nhà ở đơn sơ

Tổ chức triển khai thực hiện công tác phát triển nhà ở xã hội, cụ thể như sau:

+ Đầu tư xây dựng khoảng 800.000 m 2 sàn, đáp ứng 130.000 chỗ ở cho sinh viên;

+ Đầu tư xây dựng khoảng 3.000.000 m 2 sàn, đáp ứng 400.000 chỗ ở cho công nhân, người lao động làm việc tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp vừa và nhỏ, khu kinh tế, khu chế xuất, khu công nghệ cao, các cơ sở sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp (kể cả các cơ sở khai thác, chế biến) của tất cả các ngành, nghề;

+ Đầu tư xây dựng khoảng 2.223.000 m 2 sàn, tương ứng 32.000 căn hộ cho người có công với cách mạng; cán bộ, công chức, viên chức, trong cơ quan hành chính sự nghiệp, cơ quan Đảng và đoàn thể hưởng lương từ ngân sách; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp (bao gồm sĩ quan, hạ sĩ quan, chiến sĩ là quân nhân chuyên nghiệp) thuộc lực lượng vũ trang nhân dân hưởng lương từ ngân sách; người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân được hưởng các chế độ, chính sách như đối với quân nhân theo quy định của pháp luật về cơ yếu; người có thu nhập thấp và người thuộc diện hộ gia đình nghèo tại khu vực đô thị; đối tượng bảo trợ xã hội theo quy định của pháp luật về chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội; người cao tuổi độc thân, cô đơn không nơi nương tựa; các đối tượng đã trả lại nhà ở công vụ khi hết tiêu chuẩn thuê nhà ở công vụ;

+ Đầu tư xây dựng khoảng 2.100 m 2 nhà ở công vụ

+ Đầu tư xây dựng khoảng 2.400.000 m 2 sàn nhà ở tái định cư, tương ứng 30.000 căn hộ

Theo đó, mục tiêu đến năm 2020, tỷ lệ nhà ở chung cư tại các dự án phát triển nhà ở tại các đô thị đặc biệt (Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh) đạt trên 90%, đô thị từ loại I đến loại II đạt trên 60%

Với đô thị loại III, tỷ lệ chung cư phải đạt trên 40% và tỷ lệ nhà cho thuê đạt tối thiểu 30% tổng quỹ nhà ở

Quỹ đất ở đô thị và nông thôn tăng thêm 3.837,8 ha

Nguồn vốn ngân sách thực hiện:

Vốn đầu tư từ ngân sách Thành phố để đầu tư xây dựng nhà ở xã hội cho thuê, nhà ở công vụ, nhà ở tái định cư khoảng 6.968,2 tỷ đồng (chiếm 1,69% tổng vốn đầu tư xây dựng đến năm 2020), cụ thể như sau:

Nguồn vốn ngân sách hỗ trợ đầu tư xây dựng nhà ở xã hội cho thuê khoảng 590 tỷ đồng

Nguồn vốn ngân sách đầu tư xây dựng nhà ở công vụ khoảng 27,8 tỷ đồng Nguồn vốn có nguồn gốc từ ngân sách cho đầu tư xây dựng nhà ở tái định cư khoảng 6.350,4 tỷ đồng

Chiến lược cũng đặt mục tiêu đến 2018 đáp ứng cho khoảng 60% số sinh viên, học sinh các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, dạy nghề và 50% công nhân lao động tại các khu công nghiệp có nhu cầu về chỗ ở; hoàn thành việc hỗ trợ cho khoảng 400 nghìn hộ gia đình (theo chuẩn nghèo mới) tại khu vực nông thôn cải thiện nhà ở Đến năm 2030, Tiếp tục nâng cao chất lượng nhà ở, thỏa mãn nhu cầu về nhà ở cho các đối tượng, đặc biệt là các đối tượng chính sách xã hội có khó khăn về nhà ở Thành phố đề xuất những cơ chế, chính sách phát triển nhà ở xanh sạch, hiện đại, bền vững, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của Thành phố Để đạt được những mục tiêu trên, Nhà nước tạo điều kiện khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia phát triển nhà ở thương mại để bán, cho thuê, cho thuê mua theo cơ chế thị trường nhằm đáp ứng nhu cầu của các đối tượng có khả năng chi trả

Tiểu kết chương 1 Tại chương 1, tác giả đã khái quát các khái niệm cơ bản về đặc điểm xã hội, nhu cầu, nhà chung cư và sơ lược các đặc điểm 2 chung cư nghiên cứu Bên cạnh đó tác giả vận dụng một số lý thuyết như lý thuyết nhu cầu, lý thuyết sự lựa chọn hợp lý, lý thuyết phân tầng xã hội làm cơ sở lý luận để phân tích nội dung thu được sau này Việc vận dụng các lý thuyết vào đề tài giúp cho luận văn nghiên cứu về chung cư của tác giả trở nên thuyết phục và mang tính khoa học hơn

Ngoài ra, với việc tóm tắt được lịch sử hình thành và phát triển của nhà chung cư từ thời kỳ đầu cho đến nay để thấy được tốc độ đô thị hóa nước ta trong thời gian gần đây diễn ra ngày càng mạnh mẽ

Những chính sách của nhà nước về việc xây dựng và phát triển các tòa nhà chung cư chính là giải pháp để thúc đẩy sự phát triển trong những năm sắp tới khi mà dân cư ở nông thôn di cư ra thành thị làm ăn sinh sống ngày càng nhiều khiến cho diện tích đất ở bị thu hẹp lại.

ĐẶC ĐIỂM XÃ HỘI THEO ĐẶC TRƯNG NHÂN KHẨU HỌC CỦA NGƯỜI CÓ NHU CẦU MUA CHUNG CƯ

Đặc điểm nhân khẩu học

Khi nghiên cứu đặc điểm nhân khẩu học của những người mua căn hộ chung cư thì nhóm tuổi và giới tính là một trong những đặc điểm quan trọng tác động đến quyết định mua căn hộ

Hình 2.1: Nhóm tuổi những người xem căn hộ (%)

Theo như nghiên cứu cho thấy, những người trong nhóm tuổi 25 - 35 có nhu cầu mua căn hộ chung cư nhiều hơn 2 nhóm tuổi còn lại So với những người trong độ tuổi 36-55 thì những người trong nhóm tuổi từ 25-35 và trên

56 chiếm tỉ lệ cao Cụ thể lần lượt là 37%, 29% và 34%

Nhóm tuổi 25-35 lại chiếm tỉ lệ lên tới 37% vì những người trong nhóm tuổi này chưa ổn định về nơi ở, có thể những cặp vợ chồng trẻ mới kết hôn hoặc những hộ gia đình sau một khoảng thời gian dài tích lũy họ đã lựa chọn các căn hộ chung cư làm nơi để ổn định cuộc sống sau này

Một thực tế cho thấy, những người cao tuổi có xu hướng bán nhà mặt đất và muốn mua một căn hộ chung cư để tĩnh dưỡng tuổi già Theo như ông Hiền (80 tuổi), chủ nhân của căn hộ 12A02 tại chung cư OW tâm sự thì “2 ông bà bán cái nhà ở Tôn Đức Thắng để lên đây ở cho trong lành, thoáng mát, bà bị bệnh tim, không leo cầu thang được, 2 ông bà già ở với nhau trong cái nhà 4 tầng cũng bất tiện, mà con cháu thì nó đi nước ngoài hết rồi”

Hay như chia sẻ của bà Nguyễn Thị Bình (72 tuổi), người đi mua căn hộ tại chung cư TAC có nói: “Ông bà không thích làm phiền con cháu, tiền 2 ông bà tích cóp nhiều năm cũng đủ để mua một căn hộ chung cư, lên đây ở vừa an toàn, thang máy thì đi vèo vèo khỏi phải leo, ha ha…”

Theo thống kê của Tổng điều tra dân số năm 2012, người từ 56 tuổi trở lên chiếm tỉ lệ 14,6% trong cơ cấu nhóm tuổi Trong khi đó tại 2 chung cư nghiên cứu những người tuổi từ 56 trở lên chiếm tới 29,5% Điều này cho thấy những người mua nhà chung cư phần lớn là người cao tuổi, chủ yếu là những người giàu có do họ đã đạt được vị thế trong xã hội cũng như tích lũy được của cải trong thời gian dài làm việc nên việc mua một căn hộ chung cư, đầy đủ tiện nghi, dịch vụ tốt sẽ được họ lựa chọn nhiều hơn là những ngôi nhà mặt đất không đảm bảo được nhu cầu mong muốn của họ

Hình 2.2: Giới tính của người xem căn hộ (%)

Các cụ xưa có câu: “Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm” Từ xưa đến nay, vai trò của nam giới luôn được đánh giá vô cùng quan trọng, điều này thể hiện trong việc đưa ra những quyết định đặc biệt là về nhà ở Trong khi tỉ lệ nam giới đi xem căn hộ chiếm tới 57% thì tỉ lệ nữ giới đi xem căn hộ chỉ là 43%, tỉ lệ nam giới cao hơn nữ giới là 14% Điều này cho thấy, dù hiện nay nam nữ bình đẳng nhưng đối với những việc mang tính quan trọng như mua nhà thì nam giới vẫn là người đưa ra quyết định nhiều hơn nữ giới

Chị Hương (32 tuổi) vợ của anh Huy - người mới mua căn hộ 801 tại chung cư TAC chia sẻ: “Anh nhà chị đến đây xem căn hộ mấy lần rồi, trước anh bảo ở khu này có tòa chung cư mới nên đến xem, về trao đổi thấy giá cả cũng hợp lý, gần trường học của con bé nhà anh chị lại thuận tiện đi lại nên anh chị qua xem lại rồi mua căn hộ ở đây luôn”

2.1.2 Trình độ học vấn, nghề nghiệp

Với sự đầu tư về giáo dục ngày càng mạnh mẽ trong những năm trở lại đây kéo theo trình độ học vấn của người dân đô thị ngày càng tăng Cụ thể qua nghiên cứu 200 người tại 2 chung cư cho thấy có 35,5% có trình độ dưới đại học, 38,5% có trình độ đại học và 26% có trình độ trên đại học Nhóm đối tượng có trình độ đại học chiếm tỉ lệ tương đối lớn

Bảng 2.1: Trình độ học vấn của những người đi xem căn hộ (%)

Trình độ Chung cư Dưới Đại học Đại học Trên đại học

So với mặt bằng chung, trình độ đại học và trên đại học của những người dân đến xem căn hộ tại chung cư OW cao hơn so với chung cư TAC Nếu như tại chung cư OW trình độ đại học là 40% và trên đại học là 33% thì tại chung cư TAC, con số này lại thấp hơn lần lượt là 37% và 19%

Theo báo cáo thống kê về trình độ học vấn năm 2009, trình độ cao đẳng đại học của người dân trong những năm gần đây ngày càng tăng, tỉ lệ những người học cao đẳng đại học ở thành thị là 59,5%; ở nông thôn là 40,8%, đặc biệt ở Đồng bằng sông hồng là 52,8% So với kết quả nghiên cứu chung tại 2 chung cư cho thấy, những người mua nhà chung cư là những người có trình độ học vấn cao Tuy nhiên tại chung cư OW thì trình độ học vấn của người đi xem căn hộ và có ý định mua căn hộ cao hơn so với chung cư TAC

Khảo sát cho thấy trong 200 người đến xem 2 chung cư thì đa phần là những người làm nghề thuộc “cơ quan ngoài nhà nước, tư nhân” và “tiểu thương, buôn bán dịch vụ” chiếm số đông hơn hẳn so với những người làm việc thuộc ngành nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi; Cán bộ viên chức nhà nước và những người nội trợ, không đi làm, về hưu, sinh viên

Hình 2.3: Nghề nghiệp của những người đến xem căn hộ (%)

Khảo sát cho thấy có 24% người làm việc trong cơ quan nhà nước, địa phương; 30,5% người làm việc cơ quan ngoài nhà nước, tư nhân; 27% làm việc thủ công, tiểu thương, buôn bán nhỏ, dịch vụ và 18,5% người là làm nội trợ, không đi làm, về hưu

Theo số liệu điều tra tiếp cận thông tin đại chúng của người dân Đồng bằng sông hồng năm 2017, nhưng người làm trong ngành buôn bán dịch vụ là 52,8% trong cơ cấu ngành nghề Trong khi đó khi nghiên cứu tại 2 chung cư, những người làm trong ngành tiểu thương thủ công, buôn bán nhỏ, dịch vụ chiếm 27% Số liệu cho thấy ngành buôn bán dịch vụ ngày càng vươn lên phát triển mạnh mẽ qua các năm, trong tương lai tới đây, dự báo ngành này sẽ còn phát triển hơn nữa khi nước ta đang tiến tới hội nhập với thế giới

Sự phát triển của ngành buôn bán dịch vụ kéo theo sự vươn lên ngày càng lớn mạnh của những công ty, tập đoàn tư nhân Trong thời gian tới đây, khi mà cuộc sống ngày càng hiện đại, cơ hội mở ra nhiều, bên cạnh các công việc thuộc ngành buôn bán, dịch vụ những công việc thuộc tư nhân quản lý sẽ thu hút lao động hơn công việc do nhà nước quản lý

Đặc điểm vùng, nơi ở

2.2.1.Nguồn gốc, nơi ở hiện nay

Với tốc độ đô thị hóa ngày càng nhanh và mạnh mẽ, vấn đề di dân từ nông thôn ra thành thị ngày một đông khiến dẫn đến sự mất cân bằng về khu vực

Bảng 2.2: Nguồn gốc của người đi xem căn hộ (%)

Trong 200 người được hỏi về nguồn gốc quê quán thì có 43,5% là sinh ra ở nông thôn và có 56,5% những người còn lại là sinh ra ở đô thị

Tại chung cư OW thì những người đi xem căn hộ có nguồn gốc ở nông thôn chỉ bằng 1/3 số người có nguồn gốc xuất thân ở đô thị, cụ thể là 21% ở nông thôn và 79% xuất thân thành thị Theo như quan sát và đánh giá thì những người dân sinh sống quanh khu vực này có nhu cầu tìm xem và mua cao hơn cả so với những khu vực còn lại, cụ thể những khu vực tiếp giáp, gần với chung cư OW đó là dân thuộc quận Tây Hồ, quanh chung cư OW, như cư dân ở Võng thị, Lạc Long Quân, Trích Sài, Thụy Khuê Sau đó là mở rộng ra các vùng lân cận như Hoàng Hoa Thám, Thụy Khuê, Hoàng Quốc Việt Tiếp đến là các phường xa hơn thuộc quận Tây Hồ

Tuy nhiên tại chung cư TAC thì ngược lại, những người dân đến tìm mua căn hộ chủ yếu là những người xuất thân ở nông thôn Khi mới thành lập, quận Cầu Giấy là quận đan xen đô thị và nông thôn, xuất phát điểm về kinh tế thấp, kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ, trình độ dân trí và chất lượng đội ngũ cán bộ không đồng đều Trong những năm gần đây, quận Cầu Giấy là một trong những quận được nhà nước quan tâm đầu tư phát triển sVì vậy nhu cầu về nhà ở quanh khu vực cầu giấy là rất cần thiết, chung cư TAC có đặc điểm giá thành rẻ, căn hộ nhỏ, thu hút sự quan tâm và chú ý với những đối tượng ở nông thôn lên làm việc ở thành phố nhưng chưa có nhà ở

Theo như Lý thuyết vòng tròn đồng tâm được xây dựng bởi Ernest Burgess (1992) và các nhà khoa học trường Đại học Chicago Thuyết này miêu tả sự phát triển của đô thị theo các chu kỳ vòng tròn của các vùng, bắt đầu từ trung tâm tiến ra ngoài Vòng tròn đồng tâm bao gồm các lớp: vòng trong cùng là vùng trung tâm (Chung cư) Nơi đây có ảnh hưởng đặc biệt mạnh mẽ đến các vùng xung quanh Vòng tiếp theo theo gọi là vùng chuyển tiếp Đây là khu vực mở rộng của vùng trung tâm Vùng này trước kia có thể là vùng định cư của những người bản địa Nhưng do sự hình thành của chung cư, cộng với chiến lược bán hàng của công ty, khiến cho cư dân sinh sống xung quanh bị tác động và ảnh hưởng lớn

Thử áp dụng lý thuyết này vào đề tài, tác giả chia các vùng của Hà Nội thành 3 vùng: Vùng 1 gồm quận quận Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Đống Đa, vị trí trung tâm của thủ đô là quận Hoàn Kiếm, nơi giá đất có vị trí đắt đỏ Quận Hoàn Kiếm nằm ở trung tâm của Thủ đô Hà Nội, phía Tây giáp quận Đống Đa, phía Tây Bắc giáp quận Ba Đình và quận Đống Đa, phía Nam giáp quận Hai Bà Trưng Quận thành lập có tên gọi là Hoàn kiếm vào năm 1961 Đây là trái tim của thủ đô, là trung tâm chính trị, văn hóa, xã hội, nơi tập trung nhiều Bộ, Sở, Ban, ngành và các cơ quan quản lý Nhà nước (10 Bộ trong tổng số 17 Bộ của Trung ương đóng trên địa bàn toàn Thành phố Hà Nội) và cũng là nơi tập trung của nhiều đại sứ quán và nhà riêng đại sứ (17 đại sứ trong tổng số 60 nước có đại sứ quán tại Hà Nội), các văn phòng đại diện nước ngoài, nơi tập trung của các cơ quan chính trị - xã hội - tôn giáo 3 quận: Ba Đình, Đống Đa, Hai Bà Trưng hình thành muộn hơn so với quận Hoàn Kiếm Tuy nhiên để vào được trung tâm thành phố trước hết phải qua các quận này Tại đây tập trung nhiều cơ quan nhà nước, các ban ngành quan trọng, những công ty, tập đoàn lớn

Vùng 2 là 4 quận Tây Hồ, Long Biên, Cầu giấy, Thanh Xuân: Các quận này được coi là vùng ngoại ô, xếp sau quận loại 2 Với sự phát triển của kinh tế và các chính sách thúc đẩy của nhà nước, các quận này ngày càng sầm uất, tập trung nhiều trường học, công ty nhỏ, trung tâm buôn bán mua sắm lớn Mỗi năm lại có hàng ngàn người đổ về đây học tập và làm việc

Vùng 3 là quận Hoàng Mai, Hà Đông, Nam Từ Liêm, Bắc Từ Liêm: Đây là những quận thành lập sau cùng, là cửa ngõ để đi vào thành phố Tại đây tập trung nhiều người từ nông thôn di cư ra thành thị làm ăn, mưu sinh Vấn đề an ninh và quản lý dân số là một trong những thách của các nhà quản lý đô thị

Kết quả nghiên cứu cho thấy người dân lựa chọn 2 chung cư OW (70%) và TAC (52%) chủ yếu là ở vùng 2 và cũng là vùng của 2 đô thị này Tiếp đến là vùng 1 với OW (28%) và TAC (32%), ngược lại vùng 3 tại OW chỉ có 3% trong khi ở TAC 16%

Như vậy người dân ở vùng sinh sống tại vùng nào người ta lựa chọn chung cư ở vùng đó là cơ bản và xu hướng người ở trong trung tâm vùng 1 thì có khả năng đi ra vùng 2 nhiều hơn để cải thiện chất lượng nhà ở Ngược lại những người ở vùng 3 khó khăn hơn trong việc chuyển vùng trong của đô thị

Nơi ở hiện nay của người xem căn hộ cũng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn chung cư của họ Đây là sự lựa chọn một nơi ở mới để phục vụ cuộc sống ổn định sau này

Bảng 2.3: Nơi ở hiện nay của người xem căn hộ (%)

Nơi ở Oriental Westlake Tràng An Complex

Nếu như ở chung cư OW, số lượng người đến xem chủ yếu là người thuộc quận Tây Hồ (53%) thì ở chung cư TAC người đến xem lại phân bố nhiều và rải rác ở các quận huyện khác, nhiều nhất ở khu Cầu Giấy (26%), sau đó là Ba đình 12%, Tây Hồ 11%, Nam Từ Liêm 10%

Sở dĩ có sự phân bổ khác nhau giữa 2 tòa chung cư là bởi: Chung cư

OW nằm ở quận Tây Hồ, 1 bên sát với làng Võng Thị, 1 bên gần với khu bưởi, mặt trước hướng ra mặt đường Lạc Long Quân, hầu hết những người dân sống xung quanh tòa nhà là dân bản địa, sinh ra, lớn lên, lập gia đình tại đây Đối tượng tìm đến chung cư hoặc là bố mẹ muốn mua nhà cho con cái hoặc là con cái muốn mua nhà để gần với bố mẹ

Theo như chị Phương Anh (27 tuổi), chia sẻ: “Nhà chị ở ngay bên Võng Thị kia, bố mẹ chị định mua căn hộ ở đây cho 2 vợ chồng, 1 phần chị được gần bố mẹ đẻ, 1 phần do 2 đứa cũng chưa có điều kiện tự mua nhà, nên bố mẹ chị cũng muốn tìm mua nhà chung cư để 2 đứa được gần nhà ngoại”

Tuy nhiên ở chung cư TAC thì nơi ở hiện tại của những người mua căn hộ lại đa dạng hơn, bởi xung quanh chung cư đều là khu vực làm ăn, ít làng xã và chủ yếu là những người từ nơi khác đến nên có nhu cầu tìm mua căn hộ để đáp ứng chỗ ở đơn thuần

2.2.2 Tham gia mạng lưới xã hội

Trong những năm gần đây, các tổ chức chính trị xã hội thu hút được ít sự tham gia của người dân

Theo như chị Trang (30 tuổi), người đi mua căn hộ tại chung cư TAC chia sẻ:“ Chị không tham gia cả tổ chức xã hội nào em ạ, vì chị cũng không có nhiều thời gian, chị đi làm cũng bận với đưa đón con cái học hành nên không tham gia được em ạ”

Hình 2.8: Tham gia tổ chức chính trị xã hội (%)

ĐẶC ĐIỂM XÃ HỘI THEO ĐẶC TRƯNG LỰA CHỌN NHÀ CHUNG CƯ 59 3.1 Loại nhà người xem căn hộ lựa chọn

Ngày đăng: 24/11/2021, 12:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
13. Trịnh Duy Luân (1996), Tìm hiểu môn xã hội học đô thị, Trung tâm xã hội học xã hội và nhân văn quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu môn xã hội học đô thị
Tác giả: Trịnh Duy Luân
Năm: 1996
14. Nguyễn Công Phương (2013), Nghiên cứu khoa học marketing - Ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (lần xuất bản 2), Nxb Lao động, TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu khoa học marketing - Ứng dụng mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (lần xuất bản 2)
Tác giả: Nguyễn Công Phương
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2013
15. Nguyễn Đình Thọ (2011), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS - tập 2, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS - tập 2
Tác giả: Nguyễn Đình Thọ
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2011
16. Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang (2011), Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh, Nxb Lao động - Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Đình Thọ, Nguyễn Thị Mai Trang
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2011
18. Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS
Tác giả: Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2008
21. Từ điển xã hội học (2012), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển xã hội học
Tác giả: Từ điển xã hội học
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2012
22. Tuoi tre.vn (2017), Mua nhà trả góp bằng lương, tại trang http://tuoitre.vn/mua-nha-tra-gop-bang-luong-1275383.htm, [truy cập ngày 06/03/2017] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mua nhà trả góp bằng lương
Tác giả: Tuoi tre.vn
Năm: 2017
23. Viện Nghiên cứu Kiến trúc - Bộ Xây Dựng (2003), Nghiên cứu các giải pháp đồng bộ phát triển nhà ở người thu nhập thấp tại các đô thị Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các giải pháp đồng bộ phát triển nhà ở người thu nhập thấp tại các đô thị Việt Nam
Tác giả: Viện Nghiên cứu Kiến trúc - Bộ Xây Dựng
Năm: 2003
24. Hoàng Tuấn Vũ (2015), Quy hoạch - Kiến trúc nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp tại Hà Nội theo hướng Kiến trúc xanh, Đề tài nghiên cứu khoa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch - Kiến trúc nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp tại Hà Nội theo hướng Kiến trúc xanh
Tác giả: Hoàng Tuấn Vũ
Năm: 2015
25. Ajzen, I. & Fishbein, M. (1975), Belief, Attitude, International Behavior: An Introduction to theory and research, pp.260-263 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Belief, Attitude, International Behavior: "An Introduction to theory and research
Tác giả: Ajzen, I. & Fishbein, M
Năm: 1975
26. Ajzen, I. (1991), The theory of Planned Behavior, Organizational behavior and human decision process, pp.179-211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The theory of Planned Behavior, Organizational behavior and human decision process
Tác giả: Ajzen, I
Năm: 1991
27. Armstrong - Philip Kotler (2011), Principles of Marketing, pp.170-179 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Principles of Marketing
Tác giả: Armstrong - Philip Kotler
Năm: 2011
28. Chaudhari, M. (2013), Role of children in the family buying the process, pp.12-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Role of children in the family buying the process
Tác giả: Chaudhari, M
Năm: 2013
30. Eszter, T. (2008), The Role of Reference Group Influence in Consumer Behaviour, pp.6-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Role of Reference Group Influence in Consumer Behaviour
Tác giả: Eszter, T
Năm: 2008
32. Hong, T. T. (2012), Meeting the first-time buyer’ housing needs and preferences in greater Kuala Lumpur, pp. 13,16-17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Meeting the first-time buyer’ housing needs and preferences in greater Kuala Lumpur
Tác giả: Hong, T. T
Năm: 2012
33. Michael Solomon, M., Bamossy, G., Akegaard, S. & Hogg, M.K. (2006). Consumer behavior: A European Perspective (3 ed.). Person Education Limited, Essex, pp.52, 249-275 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Consumer behavior: A European Perspective (3 ed.). Person Education Limited, Essex
Tác giả: Michael Solomon, M., Bamossy, G., Akegaard, S. & Hogg, M.K
Năm: 2006
34. Mwfeq Haddad, Mahfuz Judeh and Shafig Haddad (2011), Factor Affecting Buying Behavior of an Apartment an Empirical Investigation in Amman, Jordan., pp.234-239 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Factor Affecting Buying Behavior of an Apartment an Empirical Investigation in Amman, Jordan
Tác giả: Mwfeq Haddad, Mahfuz Judeh and Shafig Haddad
Năm: 2011
35. Qiuxue Luo vaf Paul TJ James (2013), Influences on the buying behavior of purchasing commercial housing in Nanning city of Guangxi province, China. Bangkok: Bangkok University, pp.5-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Influences on the buying behavior of purchasing commercial housing in Nanning city of Guangxi province, China. Bangkok: Bangkok University
Tác giả: Qiuxue Luo vaf Paul TJ James
Năm: 2013
37. Solomon, M. (n.d.) (2001), Consumer Behavior (10 ed.). Prentice Hall PTR, pp. 52,249-275 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Consumer Behavior (10 ed.). Prentice Hall PTR
Tác giả: Solomon, M. (n.d.)
Năm: 2001
19. Trường Đại học Kinh tế (2005), Các yếu tố tác động đến quyết định chọn mua căn hộ chung cư cao cấp để sống của khách hàng cá nhân khu vực TP. Hồ Chí Minh Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w