1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hành vi ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất rau an toàn ở các hộ gia đình nông thôn hiện nay (nghiên cứu trường hợp tại xã văn đức, huyện gia lâm, thành phố hà nội)

124 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN TRẦN LINH CHI HÀNH VI ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT TRONG SẢN XUẤT RAU AN TOÀN Ở CÁC HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN HIỆN NAY Nghiên cứu trường hợp tại

Trang 1

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRẦN LINH CHI

HÀNH VI ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT

TRONG SẢN XUẤT RAU AN TOÀN

Ở CÁC HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN HIỆN NAY

(Nghiên cứu trường hợp tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội)

LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

HÀ NỘI - 2017

Trang 2

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN

TRẦN LINH CHI

HÀNH VI ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT

TRONG SẢN XUẤT RAU AN TOÀN

Ở CÁC HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN HIỆN NAY

(Nghiên cứu trường hợp tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội)

Chuyên ngành: Xã hội học

Mã số: 60 31 03 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS Nguyễn Thị Tố Quyên

HÀ NỘI - 2017

Trang 3

Hà Nội, ngày….tháng…năm 2017

CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG

Trang 4

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết và tình hình thực tiễn dưới sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Tố Quyên Các nội dung và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố dưới bất cứ hình thức nào trước khi trình bày, được bảo vệ và công nhận Các số liệu và kết quả nghiên cứu được sử dụng lại từ những nghiên cứu khác đã công bố trong luận văn này được trích dẫn rõ ràng

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Trần Linh Chi

Trang 5

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời chân thành cảm ơn đến các thầy, cô giáo trong khoa Xã hội học, Học viện Báo chí và Tuyên truyền cùng toàn thể các thầy cô giáo trực tiếp tham gia giảng dạy đã tận tình giúp đỡ tôi trong thời gian học tập tại trường

Để hoàn thành Luận văn này, tôi xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của TS Nguyễn Thị Tố Quyên, khoa Xã hội học, đã hết lòng, nhiệt tình giúp đỡ tôi suốt thời gian thực tập và hoàn thành Luận văn Tôi xin trân trọng gửi lời cảm ơn tới Ban lãnh đạo xã Văn Đức, các cô chú, anh chị trong UBND xã đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tại xã

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn tới gia đình, người thân, bạn bè

đã khích lệ, cổ vũ, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn này

Trong quá trình làm nghiên cứu, mặc dù đã có nhiều cố gắng để hoàn thành Luận văn, tôi đã tham khảo nhiều tài liệu và trao đổi, tiếp thu ý kiến của Thầy Cô và bạn bè Tuy nhiên, do điều kiện về thời gian và trình độ nghiên cứu của bản thân còn nhiều hạn chế nên nghiên cứu khó tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm đóng góp ý kiến của Thầy Cô và các bạn để luận văn được hoàn thiện hơn

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Trần Linh Chi

Trang 6

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: HỆ THỐNG HÓA CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 21

1.1 Các khái niệm của luận văn 21

1.2 Các lý thuyết xã hội học liên quan đến luận văn 26

1.3 Hệ thống hóa cơ sở thực tiễn của luận văn 28

Chương 2: THỰC TRẠNG HÀNH VI ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT TRONG SẢN XUẤT RAU AN TOÀN CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH NÔNG THÔN HIỆN NAY 36

2.1 Thực trạng sản xuất rau an toàn của các hộ gia đình 36

2.2 Thực trạng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất rau an toàn của các hộ gia đình ở nông thôn hiện nay 49

2.3 Thuận lợi, khó khăn trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất rau an toàn của các hộ gia đình nông thôn hiện nay 71

Chương 3: CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ ỨNG DỤNG TIẾN BỘ KHOA HỌC KỸ THUẬT TRONG SẢN XUẤT RAU AN TOÀN CỦA CÁC HỘ GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN HIỆN NAY 78

3.1 Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của các hộ gia đình nông thôn hiện nay 78

3.2 Giải pháp đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất rau an toàn của các hộ hiện nay 89

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 97

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 101

Trang 8

30

Bảng 1.2: Bộ máy tổ chức thực hiện chính sách phát triển rau an toàn 33

Bảng 2.1: Lao động của hộ gia đình trồng rau an toàn 37

Bảng 2.2: Đặc điểm của chủ hộ 38

Bảng 2.3: Nhu cầu thuê thêm người để trồng rau an toàn của hộ (N=240) 39

Bảng 2.4 Diện tích trồng rau an toàn (N=240) 42

Bảng 2.5 Lịch thời vụ các loại rau chính 43

Bảng 2.6 Việc tiêu thụ rau an toàn (N=240) 47

Bảng 2.7 Chi phí sản xuất và giá bán trung bình/vụ 48

Bảng 2.8: Phương pháp cải tạo đất trước khi trồng (N=240) 54

Bảng 2.9: Việc sử dụng đồ bảo hộ khi sử dụng thuốc BVTV (N=208) 63

Bảng 2.10: Sử dụng chế phẩm sinh học (N=240) 65

Bảng 2.11: Ghi chép và lưu hồ sơ truy xuất nguồn gốc rau (N=240) 66

Bảng 2.12: Áp dụng quy trình trong quá trình thu hoạch, bảo quản (N=240) 68

Bảng 2.13: Thời gian thu hoạch rau (N=240) 69

Bảng 2.14: Thuận lợi trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất rau an toàn 72

Bảng 2.15: Khó khăn trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất rau an toàn 74

Bảng 3.1: Tham gia tập huấn (N=240) 80

Bảng 3.2: Mối quan hệ giữa việc tham gia tập huấn với hiệu quả ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật (N=240) 81

Trang 9

Bảng 3.4 Mối quan hệ giữa độ tuổi của chủ hộ với hiệu quả ứng dụng

tiến bộ khoa học kỹ thuật (N=240) 85

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1 Biến động diện tích sản xuất rau và diện tích trồng rau an toàn từ năm 2010 đến năm 2015 41

Biểu đồ 2.2: Nguồn nước tưới cho rau (N=240) 50

Biểu đồ 2.3: Nguồn giống rau an toàn (N=240) 52

Biểu đồ 2.4: Loại phân bón sử dụng cho rau (N=240) 57

Biểu đồ 2.5: Thời gian cách ly phân bón trước khi thu hoạch (N=240) 59

Biểu đồ 2.6: Biện pháp phòng trừ sâu bệnh (N=240) 61

Biểu đồ 2.7: Mức độ sử dụng đồ bảo hộ khi sử dụng thuốc BVTV (N=208) 64

Biểu đồ 2.8: Mức độ sử dụng chế phẩm sinh học (N=112) 65

Biểu đồ 2.9: Mức độ ghi chép và lưu hồ sơ truy xuất nguồn gốc rau (N=140) 66 Biểu đồ 3.1: Sự tham gia của người dân với các chính sách hỗ trợ của địa phương (N=240) 79

Trang 10

Hộp 2.1 Giá thuê nhân công 40

Hộp 2.2 Nguyên nhân mở rộng diện tích trồng rau an toàn 41

Hộp 2.4: Năng suất trồng trong các vụ 44

Hộp 2.5.Hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm 46

Hộp 2.6: Sự khác biệt trong tiêu thụ các loại rau 47

Hộp 2.7 Giá bán cho người thu gom 49

Hộp 2.8: Nguồn nước trồng rau 51

Hộp 2.9: Sự cần thiết của việc rắc/bón lót vôi bột 56

Hộp 2.10: Cách thức sử dụng phân bón 58

Hộp 2.11: Yêu cầu tuân thủ quy định sử dụng thuốc BVTV 63

Hộp 2.12: Thời gian thường thu hoạch 70

Hộp 2.13: Sự quan tâm của các cấp chính quyền đến việc sản xuât rau 72

Hộp 2.14: Sự chủ động của người nông dân 73

Hộp 2.15: Khó khăn do thời tiết 75

Hộp 2.16: Khó khăn do chất lượng thuốc BVTV, phân bón và nguồn giống 75

Hộp 2.17: Khó khăn do nguồn lực của người dân 76

Hộp 3.1: Hoạt động của đội bảo vệ tự quản 83

Hộp 3.2: Sức ép dư luận 84

Hộp 3.3: Khả năng tiếp nhận tiến bộ khoa học kỹ thuật mới 86

Hộp 3.4: Lựa chọn công nghệ trong trồng rau an toàn 87

Hộp 3.5: Mong muốn mở rộng quy mô sản xuất 88

Trang 11

MỞ ĐẦU

1.Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là một nước đang phát triển với nông nghiệp là ngành sản xuất cơ bản, giữ vai trò to lớn trong việc phát triển kinh tế cũng như xã hội Sản xuất các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao, an toàn cho sức khỏe con người và vật nuôi là xu thế ưu tiên của nông nghiệp thế kỷ 21 Vấn đề vệ sinh

an toàn thực phẩm trở thành mối quan tâm chung của toàn xã hội và đặt ra cho sản xuất nông nghiệp những thách thức mới Trong đó sản xuất rau an toàn là ngành được quan tâm hàng đầu hiện nay

Thực tế cho thấy, nhiều mô hình sản xuất rau ở nước ta đạt hiệu quả kinh tế cao, giá trị thu nhập đạt 400 – 500 triệu VND/ha/năm và cao hơn Theo số liệu từ Sở NN & PTNT năm 2012 diện tích trồng rau cả nước ước đạt khoảng 823.728 ha (tăng 103,7% so với năm 2011), năng suất ước đạt 170 tạ/ha (tăng 102% so với năm 2011), sản lượng ước đạt 14,0 triệu tấn (tăng 106% so với năm 2011); trong đó miền Bắc diện tích ước đạt 357,5 nghìn ha, năng suất ước đạt 160 tạ/ha, sản lượng dự kiến đạt 5,7 triệu tấn; miền Nam diện tích ước đạt 466,2 nghìn ha, năng suất dự kiến đạt 178 tạ/ha, sản lượng

dự kiến đạt 8,3 triệu tấn Những bước phát triển này đã tạo ra nguồn cung cấp lương thực, thực phẩm phong phú và ổn định cho người tiêu dùng trong nước Tuy nhiên, các kỹ thuật sản xuất vẫn còn tập trung chủ yếu vào phát triển số lượng hơn là chất lượng sản phẩm, đặc biệt còn hạn chế trong việc áp dụng các qui phạm thực hành nông nghiệp an toàn, xen lẫn vào đó là các nguồn rau không biết rõ nguồn gốc, không thật sự an toàn do chủng loại phân bón không đảm bảo, có nhiều chất độc hại do sử dụng thuốc BVTV không đủ thời gian cách ly làm cho dự lượng thuốc BVTV trong sản phẩm vượt ngưỡng cho phép

liệu thống kê cho thấy, năm 2000, số ca mắc mới ung thư tại Việt Nam là 69.000, đến đầu năm 2017, con số này tăng lên 126.000, trong đó có khoảng

Trang 12

94.000 trường hợp tử vong Tình trạng ô nhiễm vi sinh vật, hóa chất độc hại, kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật, chiếm đến 35% trong các nguyên nhân dẫn đến ung thư [33] Vì vậy, vấn đề về sinh an toàn thực phẩm đối với mặt hàng nông sản, nhất là sản phẩm rau đang được xã hội đặc biệt quan tâm Sản xuất rau an toàn đang là yếu tố quan trọng trong phát triển nông nghiệp theo hướng hiện đại hóa

Hà Nội là một thành phố lớn với dân số đông vì vậy, nhu cầu và đòi hỏi

về rau an toàn lại rất lớn Ngoài việc nhập rau của các tỉnh khác, ngoại thành

Hà Nội được xác định là vành đai để cung cấp rau cho Hà Nội và xuất khẩu

Để đảm bảo chất lượng và nâng cao giá trị sản phẩm, không gây ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng, nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường, tăng thu nhập cho người dân, các xã và các hộ nông dân đã chuyển sang hướng sản xuất rau an toàn

Xã Văn Đức là một xã nông nghiệp, thu nhập của người dân chủ yếu từ phát triển chăn nuôi và trồng trọt Đất nông nghiệp chiếm 285ha trong đó: 200ha chuyên sản xuất rau an toàn phục vụ phần lớn nhu cầu về rau xanh cho Thành phố đồng thời còn cung cấp lượng lớn ra các tỉnh [27] Tuy nhiên với điều kiện nhân lực thiếu và chưa đồng đều, lao động nông nghiệp chủ yếu là lao động cao tuổi, trình độ chuyên môn kỹ thuật hạn chế nên việc ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật và công nghệ còn gặp khó khăn

Xuất phát từ những kết quả thực tế trên và những vấn đề còn tồn tại trong công tác tập huấn, chuyển giao kỹ thuật sản xuất nông nghiệp cho người

dân nông thôn, tác giả tiến hành thực hiện nghiên cứu đề tài “Hành vi ứng

dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất rau an toàn ở các hộ gia đình nông thôn hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội)” Kết quả nghiên cứu tập trung tìm hiểu thực trạng ứng

dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất rau an toàn của người dân; những khó khăn, thuận lợi từ phía người dân trong việc áp dụng tiến bộ khoa

Trang 13

học kỹ thuật vào sản xuất rau an toàn và các yếu tố tác động đến hiệu quả áp dụng các kỹ thuật vào sản xuất rau an toàn của hộ gia đình, từ đó đưa ra những giải pháp để nâng cao khả năng ứng dụng tiến bộ kĩ thuật của các nông

hộ trong quá trình sản xuất rau an toàn

2 Tổng quan tài liệu

Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn được thực hiện với nhiều mục tiêu mang tầm quốc gia Để đạt mục tiêu là một nền nông nghiệp hiện đại và hiệu quả, hình thành các vùng nông nghiệp chuyên môn hóa, việc chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật tới nông dân luôn được khuyến khích, qua đó, nâng cao thu nhập, xóa đói giảm nghèo [37]

Trong những năm gần đây các nghiên cứu trong nước về sự tiếp cận và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cho người dân nông thôn chủ yếu tập trung phân tích các khía cạnh sau đây:

2.1 Vai trò nghiên cứu về hoạt động ứng dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp của nông hộ

Theo nhiều nghiên cứu, khoa học kỹ thuật có vai trò vô cùng quan trọng đối với sinh trưởng và phát triển của cây trồng Trong đó phải kể đến là các loại dinh dưỡng trong phân bón cho cây trồng ở dễ hấp thụ trong suốt quá trình phát triển từ giai đoạn bắt đầu gieo trồng đến lúc thu hoạch Qua điều tra tổng kết vai trò của phân bón đối với cây trồng cho thấy: Trong các biện pháp

kỹ thuật hiện đang được áp dụng thì bón phân là biện pháp kĩ thuật có khả năng ảnh hưởng lớn nhất, quyết định nhất tới năng suất và sản lượng cây trồng Điển hình là kết quả của FAO thống kê được trong thập niên 70 - 80 của thế kỷ XX trên phạm vi toàn cầu cho thấy tính trung bình phân bón quyết định 50% tổng sản lượng tăng lên hàng năm Ở các nước châu Á, Thái Bình Dương (1979-1989) năng suất trồng lúa tăng 75% Cụ thể, theo Cooke, khi nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật đến năng suất và chất lượng cây trồng đã kết luận năng suất của các giống lúa tăng dần theo lượng khả năng áp dụng kỹ

Trang 14

thuật Nếu sử dụng kỹ thuật phù hợp như: phân bón 100 - 150 kg/ha trồng lúa

có thể tăng năng suất từ 10,34 lên 38,92 tạ/ha Ngoài ra, đạm là một trong các yếu tố dinh dưỡng thiết yếu nhất và ảnh hưởng lớn nhất đến sinh trưởng và năng suất cây trồng Cường độ quang hợp có tương quan thuận và chặt với hàm lượng đạm trong lá [29]

Cùng với hướng nghiên cứu này, tác giả Yoshida cho rằng ở các nước

nhiệt đới, yếu tố kỹ thuật liên quan trực tiếp tới giống Do đó cần để tạo ra một tấn thóc khô trung bình thì giống, phân bón, thuốc trừ sâu lần lượt chiếm

tỷ lệ 30%, 30%, 20% và 20% là các yếu tố khác Tỷ lệ thành công tùy theo từng chất đất, phương pháp, số lượng, thời gian bón đạm và kỹ thuật quản lý khác [31]

Dựa trên những mô hình nghiên cứu về hiệu quả của khoa học kỹ thuật đối với sản xuất nông nghiệp, với mục tiêu đạt được an ninh lương thực, giảm nghèo và cải thiện kinh tế nông thôn, rất nhiều nước đã áp dụng chính sách thay thế nông nghiệp quy mô nhỏ bằng cơ giới hóa nông nghiệp và tin rằng nông nghiệp quy mô lớn có năng suất và hiệu quả hơn Đồng thời, tiến hành chuyển giao ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất Những chính sách này giúp các nước đạt được sản lượng nông nghiệp cao, tạo ra nguồn thu nhập cho người dân, góp phần giảm nghèo cho các vùng nông thôn

Trong các tài liệu nghiên cứu gần đây, khi đánh giá về vai trò của khoa học và công nghệ trong phát triển nông nghiệp, các nhà nghiên cứu đã cho rằng thành tựu phát triển và tăng trưởng của nông nghiệp có vai trò quan trọng của khoa học công nghệ Trên thực tế, khoa học và công nghệ đã được

áp dụng trong nhiều khâu, nhiều lĩnh vực sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn, từ kỹ thuật sản xuất cho tới phương thức quản lý

Theo Bùi Tất Thắng, trong nông nghiệp, mặc dù đối tượng vẫn là cây

trồng, vật nuôi, địa bàn sản xuất vẫn là những vùng nông thôn rộng lớn, gắn với đất đai, nguồn nước, điều kiện tự nhiên, môi trường như trước nhưng đã

Trang 15

thay đổi hẳn về phương thức (cách thức) sản xuất, kinh doanh Đó là việc áp dụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật hiện đại vào sản xuất, là sản xuất và kinh doanh theo lối công nghiệp, và là điều kiện để tăng thu nhập cao hơn, có cuộc sống vật chất và tinh thần tốt hơn [14, tr 22 – 30]

Có thể nói, áp dụng khoa học và công nghệ đã đem lại hiệu quả cao trong khai thác các yếu tố đầu vào như vốn, lao động, đất đai, thời gian, giống; làm tăng năng suất sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần

phòng chống hoặc hạn chế rủi ro thiên tai, dịch họa, rủi ro thị trường [20]

Cũng theo đánh giá của tác giả này, việc ứng dụng khoa học công nghệ vào trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn là vô cùng quan trọng, không chỉ giúp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm mà còn nâng cao trình độ cho người dân Đặc biệt, vai trò của máy móc trong sản xuất, chủ yếu ở hai khâu làm đất và thu hoạch, ngày càng trở nên phổ biến Xu hướng cơ giới hóa này đã làm giảm đi phần nào lao động làm thuê trong nông nghiệp Ngoài ra, khi bàn về óc cải tiến và óc cởi mở của người nông dân trước những kỹ thuật sản xuất mới, đa số nông dân cho rằng họ sẽ áp dụng những kỹ thuật mới nếu

họ biết

Như vậy, hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp đã thu được các thành công đáng kể trong xây dựng và phát triển tiềm lực nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật ngày càng lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng

đáp ứng nhiều nhu cầu của sản xuất nông nghiệp [38]

2.2 Thực trạng nghiên cứu về hoạt động ứng dụng tiến bộ khoa học

kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp của nông hộ

Việt Nam là một nước nông nghiệp với 69,3% lao động tập trung ở khu

vực nông thôn [19] Ngành nông nghiệp được xem là ngành có đóng góp quan

trọng trong nền kinh tế quốc dân cũng như sự phát triển của đất nước Từ hai thập niên cuối thế kỷ XX, sự xuất hiện mô hình phát triển nông nghiệp theo

Trang 16

hưởng ứng dụng công nghệ cao là xu thế tất yếu khi công nghiệp điện tử - tin học, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới ngày càng phát triển và có nhiều ứng dụng vào trong sản xuất Hiện nay trên thế giới, nông nghiệp đã tiến một bước khá dài trong việc ứng dụng các thành tựu của các lĩnh vực công nghệ trên, tạo ra bước đột phá mới trong nông nghiệp, công nghiệp hóa ngành sản xuất nông nghiệp, giảm thiểu sự lệ thuộc vào tự nhiên vốn đã tồn tại lâu đời của các quốc gia nông nghiệp [28, tr 1 – 8] Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào sản xuất nông nghiệp được xác định là yếu tố hàng đầu đảm bảo cho sự tăng trưởng chiều sâu về chất lượng để hội nhập và là giải pháp then chốt cho sự phát triển nông nghiệp nông thôn nước ta trong thời gian tới

Dựa trên số liệu khảo sát mức sống dân cư VHLSS, nông dân chiếm tỷ trong thấp nhất, 48,4% Cùng với nhóm lao động giản đơn, nông dân hợp

thành tầng xã hội thấp, bao gồm 56,6% [7, tr 20 – 31] Theo Tổng cục thống

kê, đến cuối năm 2014, trong cơ cấu lao động có việc làm cả nước theo khu vực kinh tế, lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm 45,3% Trạng thái phân bố như vậy khiến nông dân vẫn là nhóm xã hội - nghề nghiệp chiếm tỷ lệ cao nhất trên cả nước Do đó, cần có những giải pháp nâng cao điều kiện sống và vị thế xã hội của nông dân [19]

Để nâng cao trình độ cho lao động nông thôn, ngày 27 tháng 11 năm

2009 Chính Phủ đã phê duyệt đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020 nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nghề, nhằm tạo việc làm, tăng thu nhập của lao động nông thôn; góp phần chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn [16] Với sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc đào tạo nghề miễn phí, trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động nông thôn đã nâng lên Số người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật từ sơ cấp trở lên năm 2011 chiếm tỷ lệ 11,2% (năm 2006 đạt

Trang 17

8,2% và năm 2001 đạt 6,2%), trong đó: trình độ trung cấp lần lượt ở các năm

2011, 2006 và 2001 là 4,3%, 3% và 2,5 %; trình độ đại học là 2,2%, 1,1% và

0,7% trong 3 năm tương ứng [18] Tuy nhiên, đến năm 2014 tỷ trọng lực

lượng lao động đã qua đào tạo ở nước ta nhìn chung vẫn còn thấp Trong tổng

số 53,748 triệu người từ 15 tuổi trở lên thuộc lực lượng lao động của cả nước, chỉ có 9,99 triệu người đã được đào tạo, chiếm 18,6% tổng lực lượng lao động Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo cao nhất là ở Hà Nội (39,0%) và thấp nhất là ở Đồng bằng sông Cửu Long (10,4%) Tỷ trọng lực lượng lao động có trình độ đại học trở lên khác nhau đáng kể giữa các vùng Nơi có tỷ trọng này cao nhất là Hà Nội (21,2%) và Thành phố Hồ Chí Minh (18,8%) Ngược lại, Đồng bằng sông Cửu Long - vựa lúa lớn nhất cả nước, lại là vùng có tỷ trọng

lực lượng lao động có trình độ từ đại học trở lên thấp nhất (4,5%) [19]

Cũng ở đồng bằng sông Cửu Long, kỹ thuật được người nông dân cải tiến mạnh nhất là việc sử dụng phân bón (70,7%) và cách phòng trừ sâu bệnh cho cây trồng (70%), tiếp đến là sự đổi mới về giống cây trồng chiếm hơn 57,1%, và đi kèm với giống cây mới là cách gieo trồng mới (32,9%) Dù chiếm một con số nhỏ, nhưng vẫn còn 5,7% số nông dân không hề áp dụng một kỹ thuật mới nào trong vòng năm năm trở lại đây Tất nhiên, việc chấp nhận áp dụng kỹ thuật mới chưa chắc đã tỉ lệ thuận với hiệu quả sản xuất, vì

có thể có những hộ gia đình không áp dụng những kỹ thuật mới vì họ vẫn luôn duy trì được hiệu quả cao trong sản xuất với những kỹ thuật họ đang sử dụng Dù vậy, trên thực tế, phần đa nông dân tích cực trong việc áp dụng những kỹ thuật mới cũng là một dấu hiệu cho thấy sự năng động và luôn nỗ lực để tăng năng suất cây trồng [1, tr 78 – 90]

Về mặt chính sách, hoạt động nghiên cứu, đào tạo, chuyển giao kỹ thuật sản xuất nông nghiệp cho người dân nằm trong chương trình mục tiêu quốc gia nhằm thúc đẩy quá trình phát triển nông thôn Trong giai đoạn từ

2004 – 2010, Bộ Khoa học và công nghệ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và

Trang 18

Phát triển Nông thôn, Uỷ ban dân tộc, Trung ương Hội nông dân Việt Nam,

Bộ Tài Chính và UBND các tỉnh, thành phố đã triển khai thực hiện được 288

dự án tại 60 tỉnh, thành phố với tổng kinh phí là 743.917 triệu, trong đó kinh phí hỗ trợ từ ngân sách sự nghiệp Khoa học & Công Nghệ Trung ương là 295.325 triệu đồng (chiếm 39,7%) và huy động từ dân, doanh nghiệp, ngân sách địa phương là 448.592 triệu đồng (chiếm 60.3%) Sau 5 năm thực hiện Chương trình đã chuyển giao 856 công nghệ và tiến bộ khoa học kỹ thuật là kết quả nghiên cứu khoa học của các tổ chức khoa học công nghệ vào địa bàn nông thôn, miền núi, hải đảo, các vùng khó khăn chậm phát triển, vùng dân tộc ít người [38]

Hình thức và phương pháp đào tạo cũng có nhiều đổi mới: Các lớp đào tạo được tổ chức ngay tại địa phương, ưu tiên triển khai tại các xã xây dựng nông thôn mới; tăng thời gian thực hành tại hiện trường; tài liệu được biên soạn phù hợp với từng nội dung đào tạo và đối tượng học viên, tăng cường sử dụng các giáo cụ trực quan sinh động như mẫu vật, băng đĩa hình, tranh ảnh

để học viên dễ tiếp thu và áp dụng vào thực tế sản xuất [34] Cùng với đó là

số lượng các lớp đào tạo, chuyển giao tăng lên, từ đó người dân tham gia vào các lớp này cũng tăng lên theo Các hộ gia đình đã có sự quan tâm hơn về việc nâng cao các các kỹ thuật sản xuất nông nghiệp nhằm nâng cao năng suất

và chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, còn một số hộ không đạt được hiệu quả trong sản xuất mặc dù đã tham gia vào các lớp đào tạo, một số hộ tham gia lớp đào tạo chưa áp dụng những kỹ thuật được học hoặc áp dụng nhưng không hiệu quả Có hai yếu tố chính tác động đến vấn đề này đó là: từ phía người đào tạo và từ phía người tham gia đào tạo Cụ thể, các yếu tố từ phía tổ chức đào tạo như: nội dung đào tạo, thời gian, địa điểm và hình thức đào tạo…; từ phía người tham gia đào tạo bao gồm các yếu tố như: đặc điểm sản xuất, trình độ văn hóa của người tham gia, độ tuổi của người tham gia, người tham gia đào tạo và người quyết định sản xuất, kết quả thực tế áp dụng và nhu

Trang 19

cầu của người dân về đào tạo kỹ thuật sản xuất trong các lĩnh vực nông

nghiệp [17] Vì vậy, số lượng nông dân tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật đạt

hiệu quả do hội khuyến nông và các doanh nghiệp tổ chức chỉ chiếm khoảng 1/4 số nông dân Trong đó, chủ yếu là sự tham gia của lao động nam

Nghiên cứu của tác giả Hà Vũ Sơn và Dương Ngọc Thành đã chỉ ra các nông hộ trên địa bàn tỉnh Hậu Giang tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật để trồng lúa chủ yếu thông qua cán bộ khuyến nông và người quen Phần lớn nông hộ ở đây hài lòng về các khóa tập huấn tiến bộ khoa học kỹ thuật và đánh giá cao khả năng triển khai ứng dụng Khá nhiều nông hộ sản xuất lúa ở Hậu Giang đã và đang ứng dụng các mô hình tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất lúa (chiếm tỷ lệ 60,63%) Các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của nông hộ bao gồm: diện tích đất sản xuất, trình độ học vấn, tham gia tổ chức xã hội, có vay vốn để hỗ trợ sản xuất và điều kiện cơ

sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp tốt Ngoài ra, mức độ độ ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của nông hộ bị ảnh hưởng bởi 3 nhóm nhân tố: Nguồn lực sản xuất của nông hộ, lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội Bên cạnh đó, kết quả phân tích nhân tố còn chỉ ra rằng, khả năng tài chính của hộ là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng nhất đến mức độ ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông hộ ở tỉnh Hậu Giang [12, tr 85-93]

Nhìn chung, quá trình chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật đến nông dân gồm 5 nhóm yếu tố cơ bản: (1) nhóm các nhân tố vật lý như loại đất, khí hậu thời tiết, địa hình (2) nhóm nhân tố thuộc về tác động của con người thông qua việc phân bổ nguồn lực tại địa phương như cơ sở hạ tầng, máy móc, hóa chất, đầu vào và lao động (3) nhóm nhân tố mang tính hỗ trợ như tín dụng, tiếp cận thị trường, hiệu quả hoạt động của khuyến nông (4) nhóm nhân tố phi kinh tế như văn hóa bản địa, lối sống, thói quen, hành vi ứng xử của người dân địa phương, trình độ giáo dục, thói quen tiêu dùng, môi trường thể chế (5) nhóm nhân tố chính sách, bao gồm chính sách của chính phủ,

Trang 20

môi trường thương mại quốc tế, cạnh tranh quốc tế Do phụ thuộc vào nhiều nhân tố nên bên cạnh những mặt đã làm được, nghiên cứu, chuyển giao khoa học công nghệ cũng bộc lộ những mặt hạn chế Theo TS Lê Ngọc Anh, Phó Giám đốc Sở Khoa học công nghệ Hà Nội, nhiều dự án ở ngay Hà Nội bị chậm so với hợp đồng và thuyết minh đề cương đã được Bộ Khoa học công nghệ Nguyên nhân bởi việc phối hợp giữa cơ quan chuyển giao khoa học

công nghệ và đơn vị chủ trì chưa tốt [36]

Theo tác giả Phạm Bảo Dương, hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam

có 5 đặc điểm cơ bản như sau:

- Để nghiên cứu tạo ra được những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp phải mất thời gian tương đối dài, đặc biệt là các nghiên cứu về giống cây trồng, vật nuôi Các giống cây con mới muốn đưa vào sản xuất đại trà thành công phải trải qua các công đoạn: Kiểm định giống - Khảo nghiệm giống - Khu vực hoá giống với thời gian khá dài

- Những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp có phạm vi ứng dụng nhất định do có những đòi hỏi nhất định về điều kiện tự nhiên (chất đất, chất nước, khí hậu…), nguồn lực thực hiện (vốn đầu tư, trình độ và kinh nghiệm người sản xuất…)

- Các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp khi đưa vào thực tiễn sản xuất thường là những kỹ thuật dễ học hỏi để ứng dụng, phù hợp với trình độ ứng dụng của phần lớn các tác nhân tham gia sản xuất nông nghiệp là những hộ nông dân sản xuất nhỏ, phân tán Tuy nhiên, đặc điểm này cũng góp phần làm cho các tiến bộ khoa học kỹ thuật trở nên dễ bắt chước, dễ làm theo

- một trong những đặc tính quan trọng của hàng hoá công và do vậy việc thực thi các quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật về sở hữu trí tuệ gặp nhiều khó khăn, đòi hỏi cần có sự can thiệp nhiều và sâu của các cơ quan quản lý nhà nước

Trang 21

- Nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp chứa đựng nhiều yếu tố rủi ro do sản xuất nông nghiệp phân bố trên địa bàn rộng lớn, chịu ảnh hưởng rất lớn về thiên tai, dịch bệnh Hiệu quả ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp rất khác nhau giữa các vùng miền, giữa các đối tượng tiếp nhận chuyển giao, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật do sự khác biệt lớn về điều kiện tự nhiên, nguồn lực, về trình độ chuyên môn, về khả năng đầu tư và qui mô sản xuất

- Hoạt động nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp của Việt Nam cơ bản không vận hành theo cơ chế thị trường mà tồn tại dưới dạng “hàng hóa công” nên hoạt động nghiên cứu và chuyển giao chủ yếu theo “đơn đặt hàng” của Nhà nước và người nhận chuyển giao không phải chi trả hoặc chỉ phải trả rất ít chi phí Đây là đặc điểm cần được lưu ý khi xây dựng chính sách khuyến khích, thúc đẩy chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp [9]

Hoạt động nghiên cứu, chuyển giao và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp đã được Đảng và Nhà nước quan tâm, chú trọng xây dựng mối liên kết giữa nhà khoa học và nhà nông, các nghiên cứu

đã đi vào thực tế sản xuất cũng như nhu cầu của xã hội từ đó thu được những kết quả nhất định Nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp đã được chuyển giao tới nông dân thông qua các chương trình, dự án do các tổ chức khoa học công nghệ trong nước và các tổ chức quốc tế thực hiện, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, cải thiện đời sống nông dân, nông thôn Tuy vậy, hiệu quả của công tác chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp còn hạn chế do còn nhiều bất cập trong phương thức chuyển giao Người chuyển giao còn chưa chú ý tới thực trạng ở các vùng nông thôn được chuyển giao Khi mà tại đây, hầu hết thanh niên - một lực lượng quan trọng trong sản xuất, nhạy bén trong tiếp cận cái mới và nhanh nhạy trong đổi mới đã di cư tới các đô thị hay các khu công nghiệp để tìm kiếm việc làm Lực lượng lao động ở nông thôn, người

Trang 22

trực tiếp nhận chuyển giao hầu hết đều là trung niên và người già Họ khó tiếp thu kiến thức mới cũng như khả năng cập nhật các thông tin về tiến bộ khoa học kỹ thuật là hạn chế Họ e dè đổi mới, sợ áp dụng khoa học công nghệ vào sản xuất bởi lẽ họ cho rằng mình đã già nên càng sợ thất bại, có tâm lý thích cuộc sống yên ổn lúc xế chiều và một phần không nhỏ là từ tư tưởng tiểu nông ăn sâu trong tiềm thức của người nông dân Việt Nam Bên cạnh những bất cập trong phương thức chuyển giao còn có nhiều dự án bị chậm so với hợp đồng và thuyết minh đề cương mà nguyên nhân là do việc phối hợp giữa

cơ quan chuyển giao khoa học công nghệ và đơn vị chủ trì chưa tốt, thậm chí cán bộ làm công tác chuyển giao còn làm khó người nhận ứng dụng là những khó khăn trong việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp của người dân [35]

Như vậy, các nghiên cứu trên đã chỉ ra được những tác động tích cực

và các yếu tố ảnh hưởng tới việc ứng dụng và chuyển giao tiến bộ khoa học

kỹ thuật tới người dân Tuy nhiên, những thông tin vừa nêu trên đây chỉ giúp gợi ý để tiếp tục nghiên cứu, chứ chúng chưa thể cung cấp một bức tranh tổng thể về việc chuyển giao kỹ thuật nông nghiệp cho nông dân Về phương pháp, các nghiên cứu trên hầu hết sử dụng phương pháp định lượng, ít định tính nên kết quả nghiên cứu chưa giải thích được nguyên nhân của các sự chọn lựa cũng như những thuận lợi và khó khăn mà nông dân gặp phải khi tiếp cận và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp Do đó, cần phải có những nghiên cứu xã hội học để đánh giá việc hiệu quả sự tiếp cận và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp của người dân

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về hành vi ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất rau an toàn ở các hộ gia đình nông thôn hiện nay từ đó đưa ra những giải pháp để nâng cao hiệu quả hành vi ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất rau

an toàn

Trang 23

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hành vi ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất rau an toàn

- Thực trạng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất rau an toàn của hộ nông dân tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

- Phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới hành vi ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của nông hộ trong sản xuất rau an toàn tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của nông hộ trong sản xuất rau an toàn tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

4 Đôi tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hành vi ứng dụng tiến bộ khoa học

kỹ thuật trong sản xuất an toàn của người nông dân hiện nay tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

4.2 Khách thể nghiên cứu:

Khách thể nghiên cứu của đề tài bao gồm các hộ gia đình sản xuất rau

an toàn, tổ chức xã hội tại xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

4.3 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi về không gian: Đề tài được triển khai nghiên cứu trên địa bàn

xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội

- Phạm vi về thời gian: Số liệu liên quan đến đề tài được lấy từ năm

2006 cho đến nay

- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung tìm hiểu về thực trạng sản xuất, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào quá trình sản xuất sản xuất rau an toàn và các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật ở các hộ gia đình xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội từ đó

Trang 24

đưa ra các đề xuất giải pháp nâng cao hành vi ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất rau an toàn của người nông dân

5 Giả thuyết nghiên cứu và khung phân tích

5.1 Giả thuyết nghiên cứu

- Hầu hết các nông hộ ở xã Văn Đức, huyện Gia Lâm, Hà Nội đều áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chu trình sản xuất rau an toàn (chuẩn

bị gieo trồng, chăm sóc cây, thu hoạch) Trong đó, quá trình chuẩn bị và chăm sóc được người dân sử dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật nhiều nhất

- Các yếu tố về chính sách hỗ trợ, công tác tập huấn, tuyên truyền, tính cộng đồng và đặc điểm của hộ (độ tuổi, trình độ học vấn của chủ hộ; diện tích canh tác của hộ) sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật

của các hộ dân ở xã Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội

5.2 Khung phân tích

Khung phân tích tuân theo những nguyên tắc logic nhất định và được xây dựng dựa trên nền tảng lý thuyết hành động xã hội của Max Weber và lý thuyết lựa chọn duy lý hay còn gọi là thuyết lựa chọn hợp lý được phát triển bởi Alfred Marschal, Gorger Homans, Jonh Elster Do vậy, hướng nghiên cứu trong đề tài được mô tả trong khung phân tích như sau:

Trang 25

+ Số nhân khẩu trong hộ

+ Điều kiện kinh tế của hộ

Giải pháp nâng cao hiệu quả hành vi ứng dụng tiến bộ khoa học

kỹ thuật của nông hộ trong sản xuất rau an toàn

Thực trạng áp dụng tiến

bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất rau an toàn:

+ Thực trạng sản xuất rau an toàn của các hộ gia đình

+ Ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong quá trình chuẩn bị gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch và bảo quản rau + Thuận lợi, khó khăn trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật sản xuất rau an toàn

Cách tiếp cận tiến bộ khoa

học kỹ thuật vào sản xuất

rau an toàn

+ Mức độ tham gia của

các hộ dân với các chính

sách hỗ trợ hộ sản xuất rau

an toàn tại địa phương

+ Sự tham gia của các hi

dân với các hoạt động

tuyên truyền, tập huấn sản

xuất rau an toàn

+ Diện tích đất canh rau an

toàn tác của hộ Đặc điểm của xã Văn Đức

Các chính sách, quy định của Đảng và Nhà nước

Trang 26

- Cách tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất rau an toàn: + Mực độ tham gia của các hộ dân với các chính sách hỗ trợ sản xuất rau an toàn tại địa phương

+ Mức độ tham gia của các hộ dân với công tác tuyên truyền, tập huấn sản xuất rau an toàn

+ Tính cộng đồng

5.2.2 Biến số phụ thuộc

- Thực trạng sản xuất rau an toàn của các hộ gia đình:

+ Diện tích canh tác rau an toàn

+ Chủng loại và năng suất rau an toàn

+ Liên kết sản xuất và tiêu thụ rau an toàn

- Hành vi ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của các hộ trong

các khâu:

+ Chuẩn bị gieo trồng: nguồn nước tưới, cải tạo đất, chuẩn bị giống + Chăm sóc cây: bón phân, sử dụng thuốc BVTV, ứng dụng chế phẩm sinh học, sử dụng đồ bảo hộ, việc ghi chép nhật ký

+ Thu hoạch và bảo quản rau

- Thuật lợi, khó khăn trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật sản xuất rau an toàn của các hộ gia đình

- Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất rau an toàn của hộ nông dân:

+ Cách tiếp cận tiến bộ khoa học kỹ thuật: chính sách hỗ trợ, công tác tuyên tuyền, tập huấn, tính cộng đồng

+ Đặc điểm của hộ: độ tuổi và trình độ học vấn của chủ hộ, diện tích đất canh tác rau an toàn

5.2.3 Biến số can thiệp

- Các chính sách, quy định của Đảng và Nhà nước trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất rau an toàn

Trang 27

- Đặc điểm của xã Văn Đức, việc triển khai các chính sách, dự án trồng rau an toàn ở xã

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp luận

Dưới góc nhìn xã hội học, tôi áp dụng và thuyết lựa chọn duy và lý thuyết hành động xã hội để phân tích việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như hành vi lựa chọn của người dân nông thôn

Quan điểm chính của lý thuyết lựa chọn duy lý này là các hiện tượng xã hội cần được giải thích bằng các đặc điểm của cá nhân chứ không phải bằng các đặc điểm của cấu trúc xã hội Thuyết lựa chọn duy lý dựa vào tiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn

và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với

chi phí tối thiểu

Theo lý thuyết hành động xã hội thì hành động được chủ thể gắn cho

nó một ý nghĩa chủ quan nào đó, là hành động có tính đến hành vi của người khác, và vì vậy được định hướng tới người khác, trong đường lối, quá trình của nó

Đây là hai lý thuyết xã hội học theo trường phái vi mô, nghiên cứu xã hội dưới các hành vi, hành động có chủ đích của cá nhân Xuất phát từ hai lý thuyết này đề tài nhằm hướng tới giải thích hành vi ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật của người dân trong sản xuất rau an toàn

6.2 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu

Xã Văn Đức nằm ven bờ tả ngạn sông Hồng và là xã cuối của huyện về phía Tây nam Văn Đức hiện có 3 thôn là Chử Xá (tên nôm là làng Xứa), Sơn

Hô (tên nôm là làng Dồi) và thôn Trung Quan

Trong những năm qua, nền kinh tế của xã tăng trưởng tương đối nhanh, bình quân trên 29,95%, giá trị sản xuất của năm sau tăng hơn năm trước Năm

2013 tổng giá trị sản phẩm đạt 178,034 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng đạt 19,53% Trong đó giá trị sản xuất của ngành trồng trọt là 49,649 tỷ đồng,

Trang 28

chiếm 27,89% tổng giá trị sản phẩm của toàn xã, ngành chăn nuôi đạt 64,990

tỷ đồng, chiếm 36,50%, ngành thương mại dịch vụ - tiểu thủ công nghiệp và thu khác đạt 33,395 tỷ đồng, chiếm 35,61%

Trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng giảm tỷ trọng ngành trồng trọt và tăng tỷ trọng ngành chăn nuôi, thương mại dịch vụ và tiểu thủ công nghiệp

Năm 2014, tốc độ tăng trưởng của xã tăng mạnh so với năm 2013 do tốc độ tăng trưởng ngành chăn nuôi tăng mạnh, đạt 65,61% Cho thấy ngành chăn nuôi đã được chú trọng và thành ngành mũi nhọn của xã

Trong năm 2015, giá trị của ngày trồng trọt cũng tăng nhanh, từ 39,368

tỷ đồng lên 49,649 tỷ đồng Song song với việc phát triển chăn nuôi, ngành trồng trọt cũng được chú trọng phát triển và một trong hai ngành mũi nhọn của xã

Vùng rau an toàn của xã đã xây dựng thành công thương hiệu rau an toàn, mở rộng thị trường tiêu thụ ra nhiều tỉnh thành trong cả nước và bước đầu thực hiện xuất khẩu sang một số nước trong khu vực [26] Do vậy, đây là địa bàn phù hợp để triển khai đề tài nghiên cứu

6.3 Phương pháp thu thập thông tin

- Thu thập thông tin thứ cấp: Thông tin thứ cấp của đề tài được thu thập thông qua tổng hợp tài liệu và thông tin có liên quan từ các công trình nghiên cứu khoa học, giáo trình, báo cáo của các bộ ban ngành cũng như báo cáo của địa phương về việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất rau an

toàn tới người dân nông thôn

- Thu thập thông tin sơ cấp

+ Chọn mẫu điều tra: Trên cơ sở danh sách về các hộ gia đình trồng rau an toàn do Hợp tác xã Văn Đức tổng hợp, đề tài sử dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản với k=5 với dung lượng mẫu là 1200 hộ trồng rau an toàn, từ đó chọn ra 240 hộ dân sản xuất rau an toàn Cách chọn

Trang 29

này đảm bảo tính đại diện của mẫu, nhờ đó các thông tin thu thập được có

độ tin cậy cao

+ Điều tra bảng hỏi: đề tài tiến hành điều tra 240 hộ chuyên canh rau an toàn nhằm thu thập thông tin về thực trạng sản xuất rau an toàn, việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất và các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình ứng dụng kỹ thuật

+ Phỏng vấn sâu: để có được những thông tin định tính phục vụ cho quá trình phân tích thông tin, đề tài tiến hành phỏng vấn sâu 14 đối tượng như sau:

04 cán bộ xã Chủ tịch xã, Chủ tịch hội nông dân và cán bộ khuyến nông xã, Chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp là những người nắm bắt về quá trình tổ chức đào tạo kỹ thuật sản xuất nông nghiệp cho người dân tại địa phương

10 hộ gia đình: là những hộ có người tham gia vào các lớp tập huấn chuyển giao kỹ thuật rau an toàn nhằm tìm hiểu rõ nguyên nhân, ưu điểm và hạn chế khi ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và các yếu tố ảnh hưởng đến

quá trình ứng dụng kỹ thuật trong sản xuất rau an toàn

+ Phỏng vấn nhóm: sử dụng các công cụ đánh giá nhanh nông thôn (PRA) đối với 4 nhóm (6 – 8 người/nhóm) nhằm tìm hiểu về thực trạng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất rau an toàn của các nông hộ, cụ thể như sau:

gian trồng và thu hoạch các loại rau trồng chính

khăn lớn nhất đối với các hộ trong việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật

- Xử lý thông tin

+ Xử lý số liệu: sử dụng phần mềm SPSS

+ Phân tích thông tin theo hình thức kết hợp cả định lượng và định tính

để thông tin thu thập được có giá trị tốt nhất

Trang 30

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

+ Chương 1: Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

+ Chương 2: Thực trạng hành vi ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất rau an toàn của các hộ gia đình nông thôn hiện nay

+ Chương 3: Các yếu tố ảnh hưởng tới hiệu quả ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất rau an toàn của các hộ gia đình nông thôn hiện nay

Trang 31

Chương 1: HỆ THỐNG HÓA CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Các khái niệm của luận văn

1.1.1 Khái niệm ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật

Tiến bộ khoa học kỹ thuật là một danh từ mang tính trừu tượng và khái quát Tiến bộ khoa học kỹ thuật thể hiện những nét mới và “tiến bộ” của một yếu tố kỹ thuật nào đó nhưng chưa thật đồng bộ, chưa thật khả thi ở thực tiễn sản xuất, nhất là bên ngoài cơ quan nghiên cứu Trong sản xuất cũng như trong đời sống, các cụm từ “kỹ thuật” và “tiến bộ” được dùng khá phổ biến Theo nghĩa hẹp thì “kỹ thuật” được hiểu là các yếu tố phần cứng của quá trình sản xuất ra một sản phẩm cụ thể như đất, phân, giống để sản xuất ra lúa gạo Còn “tiến bộ” thì có nghĩa rộng hơn nó bao gồm quy trình sản xuất (sự phối hợp, kết hợp giữa các yếu tố đầu vào, máy móc và thiết bị trong quá trình sản xuất), các biện pháp và hình thức tổ chức sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm Tuy nhiên, trong điều kiện nông nghiệp như hiện nay, các yếu

tố cho phép áp dụng một quy trình công nghệ đồng bộ và hiện đại như ở trong công nghiệp còn rất nhiều hạn chế [6]

Áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong ngành trồng trọt là việc sử dụng chính xác các kiến thức của khoa học tự nhiên và khoa học xã hội để giải quyết những vấn đề thực tế Nó có liên hệ mật thiết hoặc đồng nhất với

kỹ nghệ Việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đã góp phần quan trọng trong việc tiếp thu, làm chủ, thích nghi và khai thác có hiệu quả các công nghệ nhập từ nước ngoài Nhờ đó, trình độ công nghệ trong một số ngành sản xuất, dịch vụ đã được nâng lên đáng kể, nhiều sản phẩm hàng hoá có sức cạnh tranh cao hơn Trong lĩnh vực nông nghiệp, khoa học và công nghệ đã tạo ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi có chất lượng và năng suất cao

Để nghiên cứu tạo ra được những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp phải mất thời gian tương đối dài, đặc biệt là các nghiên cứu về giống

Trang 32

cây trồng, vật nuôi Các giống cây con mới muốn đưa vào sản xuất đại trà thành công phải trải qua các công đoạn: Kiểm định giống - Khảo nghiệm giống - Khu vực hoá giống với thời gian khá dài

Những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp có phạm vi ứng dụng nhất định do có những đòi hỏi nhất định về điều kiện tự nhiên (chất đất, nước, khí hậu…), nguồn lực thực hiện (vốn đầu tư, trình độ và kinh nghiệm người sản xuất…)

Đối với ngành nông nghiệp nói chung và ngành rau nói riêng, việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được cụ thể hóa thành những chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp, chuyển giao nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, góp phần tăng nhanh sản lượng nông nghiệp trên cả nước Nhiều giống cây trồng có năng suất, chất lượng cao và các biện pháp tổ chức sản xuất phù hợp đã được chuyển giao tới nông dân, góp phần tăng năng suất, chất lượng

và sản lượng nông nghiệp; tạo ra sản phẩm nông nghiệp an toàn (rau sạch, hoa quả an toàn…) và thân thiện với môi trường

1.1.2 Khái niệm về rau an toàn

Theo quy định của Việt Nam: Rau, quả an toàn là sản phẩm rau, quả tươi được sản xuất, sơ chế phù hợp với các quy định về đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm có trong VietGAP (Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt cho rau, quả tươi an toàn tại Việt Nam) hoặc các tiêu chuẩn GAP khác tương đương VietGAP Rau an toàn là khái niệm được sử dụng để chỉ các loại rau được canh tác trên các diện tích đất có thành phần hóa – thổ nhưỡng được kiểm soát (nhất là được kiểm soát hàm lượng kim loại nặng và các chất độc hại có nguồn gốc từ phân bón, từ các chất BVTV và các chất thải sinh hoạt còn tồn trong đất), được sản xuất theo những quy trình kỹ thuật nhất định (đặc biệt là quy trình sử dụng phân bón, thuốc trừ sâu, nước tưới) Và nhờ vậy rau đảm bảo các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm do các cơ quan quản lý nhà nước đặt ra

Trang 33

Gọi là rau an toàn vì trong quá trình sản xuất rau, người ta vẫn sử dụng phân bón nguồn gốc vô cơ và chất BVTV, tuy nhiên với liều lượng hạn chế hơn, thời điểm phù hợp hơn và chỉ sử dụng các chất BVTV trong danh mục cho phép Trong rau an toàn vẫn tồn tại dư lượng nhất định các chất độc hại, nhưng không đến mức ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng [8]

Trong quá trình gieo trồng, để có sản phẩm rau nhất thiết phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật và sử dụng một số nguyên liệu như nước, phân bón, thuốc trừ sâu bệnh Trong các nguyên liệu này, kể cả đất trồng, đều có chứa những nguyên tố gây ô nhiễm rau và ít nhiều đều để lại một số dư lượng trên rau sau khi thu hoạch Trong thực tế hiện nay hầu như không thể có sản phẩm rau sạch với ý nghĩa hoàn toàn không có yếu tố độc hại Tuy vậy, những yếu

tố này thực sự chỉ gây độc khi chúng để lại một dư lượng nhất định nào đó trên rau, dưới mức dư lượng này thì không độc hại Mức dư lượng tối đa không gây hại cho người có thể chấp nhận gọi là mức dư lượng cho phép (hoặc ngưỡng dư lượng giới hạn) Rau an toàn là rau có chất lượng tốt với mức dư lượng các hóa chất BVTV, các kim loại nặng, nitrat, các vi sinh vật

có hại đối với sức khỏe con người ở dưới mức cho phép Như vậy, những sản phẩm rau không chứa hoặc có chứa dư lượng các yếu tố độc hại nhưng dưới mức dư lượng cho phép được coi là rau an toàn với sức khỏe người, nếu trên mức dư lượng cho phép là rau không an toàn

Về quy trình sản xuất, sản xuất rau an toàn có thể chia làm đòi hỏi sản xuất theo quy trình kỹ thuật, đòi hỏi mức độ đầu tư vật chất, lao động cao hơn nhiều so với rau thường Trong khi đó sản lượng và năng suất thường thấp hơn,

nó làm cho giá thành sản xuất rau an toàn cao hơn rau thường và hạn chế đến sức cạnh tranh trên thị trường Hình thức sản phẩm của rau an toàn phải đảm bảo rau được tươi sạch, không bụi bẩn, không tạp chất, thu hoạch đúng độ chín (khi

có chất lượng cao nhất), không có triệu chứng sâu bệnh, có bao bì phù hợp với hướng dẫn Chất lượng sản phẩm, sản phẩm rau an toàn phải không chứa dư

Trang 34

lượng thuốc BVTV, dư lượng nitrat, dư lượng kim loại nặng và lượng vi sinh vật gây hại vượt qua ngưỡng cho phép của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) Đây là tiêu chuẩn hàng đầu, quan trọng nhất để phân biệt rau sạch và rau thường

Từ một số dẫn liệu trên, chúng ta có thể thấy rằng: Khái niệm rau an toàn được xây dựng dựa trên hai hệ thống chỉ tiêu về định tính và định lượng cần phải đáp ứng, đó là sản phẩm rau cần phải tươi, sạch, hấp dẫn và đảm bảo

dư lượng các yếu tố gây độc hại cho người sử dụng ở dưới ngưỡng cho phép của quốc tế và Việt Nam

1.1.3 Khái niệm hành vi ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong sản xuất rau an toàn

Trong lý thuyết Lựa chọn duy lý (Lý thuyết hành vi lựa chọn), George Homans đã đưa ra những định nghĩa, giải thích về hành vi Theo ông, hành vi xã hội là hành vi mà con người lặp đi lặp lại không phụ thuộc vào việc nó có được hoạch định hay không và cơ sở của nó là sự trao đổi giữa hai hay nhiều người Nói cách khác, hành vi con người là những phản ứng, các cách cư xử, biểu hiện ra bên ngoài với xã hội trong mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau [10]

Đối với luận văn, khái niệm hành vi ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật được hiểu là những phản ứng, cách cư xử của các hộ nông dân đối với những khoa học kỹ thuật mới vào quá trình sản xuất

Trong quá trình sản xuất rau an toàn được chia thành 3 quy trình nhỏ: chuẩn bị gieo trồng; chăm sóc cây và thu hoạch, vận chuyển, bảo quản [13].Gắn với khái niệm “Hành vi ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật” đề tài tìm hiểu cách ứng xử của các hộ dân trong các quy trình sản xuất rau an toàn Cụ thể, trong quá trình chuẩn bị gieo trồng, đề tài tập trung tìm hiểu hành vi của người dân đối với nguồn nước tưới cho rau, nguồn giống chuẩn bị gieo cấy và phương pháp cải tạo đất Đối với quá trình chăm sóc cây, đề tài nghiên cứu thực trạng sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, các chế phẩm sinh học và việc ghi chép và lưu hồ sơ truy suất trong quá trình nuôi cây Trong quá trình

Trang 35

thu hoạch, vận chuyển và bảo quản cây, đề tài tập trung tìm hiểu việc ứng dụng của người dân thông qua cách thức bảo quản, thời gian thu hoạch cây

1.1.4 Khái niệm hộ nông dân

Hộ nông dân là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của khoa học nông nghiệp và phát triển nông thôn, vì tất cả các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp ở nông thôn chủ yếu được thực hiện qua sự hoạt động của hộ nông dân

Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá, và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn Trong các hoạt động phi nông nghiệp khó phân biệt các hoạt động có liên quan với nông nghiệp và không có liên quan với nông nghiệp Cho đến gần đây có một khái niệm rộng hơn là hộ nông thôn, tuy vậy giới hạn giữa nông thôn và thành thị cũng là một vấn đề còn tranh luận

Khái niệm hộ nông dân được định nghĩa như sau: "Hộ nông dân là các nông hộ thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn, nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao" [30]

1.1.5 Khái niệm nông thôn

Hiện nay có rất nhiều quan niệm khác nhau về nông thôn Tuy nhiên khái niệm về nông thôn chỉ mang tính chất tương đối, nó có thể thay đổi theo thời gian, theo tiến trình phát triển của kinh tế - xã hội của các quốc gia trên thế giới Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam, chúng ta có thể hiểu :

“Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó có nhiều nông dân Tập hợp cư dân này tham gia vào các hoạt động kinh tế, văn hóa –

xã hội và môi trường trong một thể chế chính trị nhất định và chịu ảnh hưởng của các tổ chức khác’’[4]

Trang 36

1.1.6 Khái niệm chuyển giao công nghệ

Chuyển giao công nghệ là chuyển nhượng quyền sở hữu công nghệ hoặc quyền sử dụng công nghệ từ bên có quyền chuyển giao công nghệ sang bên nhận công nghệ [11]

1.2 Các lý thuyết xã hội học liên quan đến luận văn

Những vấn đề về lý luận, phương pháp luận nghiên cứu khoa học về nông thôn, xây dựng nông thôn, nâng cao chất lượng sản xuất nông nghiệp nông thôn là hết sức đa dạng, phức tạp Dưới góc nhìn xã hội học, tôi áp dụng

và thuyết lựa chọn duy lý của George Homans và lý thuyết hành động xã hội của Max Weber để phân tích việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như hành vi lựa chọn của người dân nông thôn

1.2.1 Thuyết lựa chọn duy lý của George Homans

Phương pháp tiếp cận bắt đầu từ vi mô – cá nhân đã tạo nên một trường phái lớn trong nghiên cứu xã hội học Lý thuyết lựa chọn duy lý của G.Homans là một trong những học thuyết theo trường phái này Quan điểm chính của lý thuyết này là xã hội học khổng lồ thực chất đều là xã hội nhóm

và các hiện tượng xã hội cần được giải thích bằng các đặc điểm của cá nhân

chứ không phải bằng các đặc điểm của cấu trúc xã hội

Thuyết lựa chọn duy lý dựa vào tiền đề cho rằng con người luôn hành động một cách có chủ đích, có suy nghĩ để lựa chọn và sử dụng các nguồn lực một cách duy lý nhằm đạt được kết quả tối đa với chi phí tối thiểu

Thuyết lựa chọn duy lý coi con người là chủ thể ra quyết định một cách hợp lý trong điều kiện khan hiếm nguồn lực trên cơ sở xem xét, đánh giá lợi ích kinh tế của từng cách lựa chọn Thuyết lựa chọn duy lý đòi hỏi phải phân tích hành động lựa chọn của các cá nhân trong mối liên hệ với cả hệ thống xã hội của nó, bao gồm các cá nhân khác với những nhu cầu và sự mong đợi của

họ, các khả năng lựa chọn và các sản phẩm đầu ra của từng lựa chọn cùng các đặc điểm khác Do tác động của nhiều yếu tố như vậy mà các hành vi lựa

Trang 37

chọn duy lý của các cá nhân có thể tạo ra những sản phẩm phi lý không mong đợi của cả nhóm tập thể

G.Hommans cũng chỉ ra 3 đặc trưng cơ bản của hành vi xã hội: (1) Hiện thực hóa hành vi phải được thực hiện trên thực tế chứ không phải trong

ý niệm; (2) hành vi đó được khen thưởng hay bị trừng phạt từ phía người khác; (3) người khác ở đây phải là nguồn củng cố trực tiếp đối với hành vi chứ không phải nhân vật tung gian của một cấu trúc xã hội nào đấy [10]

Việc áp dụng lý thuyết về sự lựa chọn duy lý để phân tích hành vi lựa chọn việc tham gia vào các lớp chuyển giao kỹ thuật sản xuất nông nghiệp và ứng dụng của bà con nông dân trong sản xuất Trong đó, mục đích tham gia

và ứng dụng của người dân có thể được tính toán và lựa chọn theo chủ đích cá nhân nhằm đạt được những kết quả - lợi ích tối đa cho hộ dân sản xuất rau an toàn hiện nay

1.2.2 Thuyết hành động xã hội của Max Weber

Theo Max Weber, hành động xã hội là hành động được chủ thể gắn cho

nó một ý nghĩa chủ quan nào đó, là hành động có tính đến hành vi của người khác, và vì vậy được định hướng tới người khác, trong đường lối, quá trình của nó

Max Weber đã phân biệt 4 loại hành động xã hội như sau:

- Hành động duy lý - công cụ: là hành động được thực hiện với sự cân nhắc, tính toán, lựa chọn công cụ, phương tiện, mục đích sao cho có hiệu quả cao nhất

- Hành động duy lý giá trị: là hành động được thực hiện vì bản thân hành động (mục đích tự thân) Thực chất loại hành động này có thể nhằm vào những mục đích phi lý nhưng lại được thực hiện bằng những công cụ, phương tiện duy lý

- Hành động cảm tính (xúc cảm): là hành động do các trạng thái xúc cảm hoặc tình cảm bột phát gây ra, mà không có sự cân nhắc, xem xét, phân tích mối quan hệ giữa công cụ, phương tiện và mục đích hành động

Trang 38

- Hành động theo truyền thống: là loại hành động tuân thủ những thói quen, nghi lễ, phong tục, tập quán đã được truyền lại từ đời này qua đời khác [10] Lý thuyết này được áp dụng vào nghiên cứu với mục đích nhằm phân tích kỹ hơn các hành động ứng xử của hộ nông dân dưới sự tác động của các

hệ giá trị xã hội tới việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật sau khi được chuyển giao của người dân nông thôn

1.3 Hệ thống hóa cơ sở thực tiễn của luận văn

1.3.1 Quy định của Nhà nước về việc ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất rau an toàn

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương, chính sách để phát triển sản xuất rau an toàn như Chỉ thị 06/2007/CT-TTg ngày 28/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc triển khai các biện pháp cấp bách đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm đã nêu “Vệ sinh an toàn thực phẩm có tác động trực tiếp thường xuyên đến sức khoẻ của mỗi người dân, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế, thương mại, du lịch và an sinh xã hội, về lâu dài còn ảnh hưởng đến phát triển nòi giống dân tộc” Qua đó cần phải “Khẩn trương chỉ đạo xây dựng và phát triển các vùng nguyên liệu sản xuất nông sản thực phẩm

an toàn; chế biến thực phẩm thuộc ngành quản lý; tổ chức tập huấn, tuyên truyền về các quy trình, quy phạm bảo đảm an toàn thực phẩm cho các hộ nông dân sản xuất nông sản, thủy sản thực phẩm; thông tin, hướng dẫn người sản xuất về tiêu chuẩn của các thị trường quốc tế” [15]

Năm 2008 Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn chính thức ban hành quy định về quản lý sản xuất rau an toàn, tiếp đó năm 2012, Bộ đã ra thông tư 59 /2012/TT-BNNPTNT ngày 09/11/2012 về “Quy định về quản lý sản xuất rau, quả và chè an toàn” trong đó giải thích các thuật ngữ chuyên ngành và đưa ra các điều kiện sản xuất rau an toàn đồng thời đưa ra các quy định để cấp phép giấy chứng nhận rau an toàn [2], [3]

Ngoài ra, UBND thành phố Hà Nội cũng đã ban hành các văn bản như Quyết định 7215/QĐ-UB ngày 01/11/2005 của UBND Thành phố phê duyệt

đề cương đề án thực hiện chương trình “Quản lý và chỉ đạo sản xuất rau an

Trang 39

toàn diện rộng tại các xã vùng rau ngoại thành Hà Nội”, Chỉ thị số 25/2007/CT-UBND ngày 4/12/2007 của UBND Thành phố về việc “Tăng cường công tác quản lý sản xuất, kinh doanh tiêu thụ rau an toàn trên địa bàn

Hà Nội” cũng đã định hướng mở rộng diện tích trồng rau an toàn tại các xã trọng điểm và các công tác quản lý thị trường rau an toàn [21], [22]

Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng Đảng và Nhà nước, thành phố, UBND huyện luôn đóng vai trò định hướng cho các chương trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương nói chung và sự phát triển của nông nghiệp nói riêng Các chủ trương, chính sách của Nhà nước về vấn đề phát triển sản xuất rau an toàn đã được ban hành, sửa đổi, bổ sung, thay thế khá kịp thời, phù hợp với bối cảnh phát triển của đất nước Đây là một trong những căn cứ để định hướng giải pháp phát triển sản xuất rau an toàn [5]

1.3.2 Hoạt động triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật sản xuất rau an toàn ở địa phương

Theo thống kê, diện tích đất nông nghiệp toàn xã Văn Đức, huyện Gia Lâm năm 2015 là 350,89 ha chiếm 53,55% tổng diện tích đất tự nhiên Qua 3 năm (2013-2015), diện tích đất nông nghiệp của xã bình quân giảm 0,6% do quá trình xây dựng cơ bản, đường xá Diện tích đất trồng cây hàng năm có

sự thay đổi Năm 2014 xã đã chuyển đổi hơn 50 ha đất trồng hoa màu sang sản xuất rau nâng diện tích trồng rau lên 200 ha

Đối với cây ăn quả, tuy diện tích trồng ít hơn so với diện tích đất trồng rau nhưng trong 3 năm trở lại đây có xu hướng tăng, từ năm 2013 đến năm

2015 đã tăng 4,64 ha Ngoài ra, xã còn có vùng chăn nuôi quy mô nhỏ và cũng có xu hướng tăng, từ năm 2013 đến năm 2015 tăng 2,96 ha

Về diện tích đất phi nông nghiệp có xu hướng tăng lên qua 3 năm Diện tích đất phi nông nghiệp tăng là do đất chuyên dùng và đất có mục đích công cộng tăng lên

Nhìn chung đất đai ở xã được sử dụng hợp lý, diện tích đất nông nghiệp lớn nên thuận tiện phát triển cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, chăn nuôi

Trang 40

Chỉ tiêu

SL (ha)

CC (%)

SL (ha)

CC (%)

SL (ha)

Ngày đăng: 24/11/2021, 12:44

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w