Trên thực tế những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự chỉ đạo trực tiếp của các cơ quan chủ quản, sự nỗ lực của các cơ quan báo chí nói chung, các Tạp chí chuyê
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ THUỲ LINH
QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN TẠP CHÍ CHUYÊN NGÀNH
CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (Khảo sát các tạp chí của Tập đoàn TKV, PVN, EVN
từ tháng 6/2014 - 6/2016)
LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC
HÀ NỘI - 2017
Trang 2HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
NGUYỄN THỊ THUỲ LINH
QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN TẠP CHÍ CHUYÊN NGÀNH
CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (Khảo sát các tạp chí của Tập đoàn TKV, PVN, EVN
từ tháng 6/2014 - 6/2016)
Chuyên ngành : Báo chí học
Mã số : 60 32 01 01 LUẬN VĂN THẠC SĨ BÁO CHÍ HỌC NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS Nguyễn Thành Lợi
HÀ NỘI - 2017
Trang 3Hà Nội, ngày tháng năm 2017
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG KHOA HỌC
PGS,TS HÀ HUY PHƯỢNG
Trang 4Tôi xin cam đoan: Luận văn “Quản lý và phát triển Tạp chí chuyên ngành của các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay (khảo sát các tạp chí của Tập đoàn TKV, PVN, EVN thời gian từ tháng 6/2014 - 6/2016)” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện trên cơ
sở nghiên cứu lý thuyết và khảo sát tình hình thực tiễn dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS,TS Nguyễn Thành Lợi Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Luận văn có sử dụng, phát triển và kế thừa những tư liệu, số liệu, kết quả nghiên cứu từ các sách, tài liệu liên quan đến nội dung đề tài và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ nguồn
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thuỳ Linh
Trang 5EVN Tập đoàn Điện lực Việt Nam
PVN Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
Than - Khoáng sản Việt Nam
Trang 6Sơ đồ 2.1: Tổ chức hoạt động của Toà soạn Tạp chí Than - Khoáng sản
Việt Nam 56
Sơ đồ 2.2: Tổ chức hoạt động của Toà soạn Tạp chí Dầu khí 57
Sơ đồ 2.3: Tổ chức hoạt động của Trung tâm thông tin Điện lực 58
Sơ đồ 3.1: Kỹ thuật “Đèn giao thông” của Politiken 85
Sơ đồ 3.2: Mô hình “Đoàn tàu - chúng ta đang tiến về đâu” 95
Trang 7
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN TẠP CHÍ CHUYÊN NGÀNH 15
1.1 Một số vấn đề về quản lý Tạp chí chuyên ngành 15
1.2 Phát triển Tạp chí chuyên ngành 34
1.3 Những yêu cầu đối với việc quản lý và phát triển Tạp chí chuyên ngành 41
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN TẠP CHÍ CHUYÊN NGÀNH CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 49
2.1 Tổng quan về Tạp chí chuyên ngành của Tập đoàn TKV, PVN, EVN 49
2.2 Thực trạng quản lý và phát triển của 3 tạp chí trong diện khảo sát 51
2.3 Đánh giá chung 67
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN TẠP CHÍ CHUYÊN NGÀNH CỦA CÁC TẬP ĐOÀN KINH TẾ NHÀ NƯỚC Ở VIỆT NAM 79
3.1 Một số giải pháp 79
3.2 Đề xuất, kiến nghị 99
KẾT LUẬN 103
TÀI LIỆU THAM KHẢO 106
PHỤ LỤC
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mạng Internet đang ngày càng phổ cập cùng với sự nở rộ của các trang mạng xã hội khiến cho dòng chảy thông tin diễn ra liên tục, sôi động và đa chiều đến với công chúng gần như tức thì Điều này đã tạo ra sự cạnh tranh quyết liệt trong việc giữ, duy trì và mở rộng độc giả giữa các ấn phẩm của các
cơ quan báo chí khác nhau, đồng thời kéo các loại hình báo chí, trong đó có báo in vào một cuộc đua tranh gay gắt Cùng với đó, nền kinh tế nước ta hiện nay đã và đang vận hành theo cơ chế thị trường, làm thay đổi diện mạo nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có đời sống báo chí Đối với các Tạp chí chuyên ngành, vận động theo cơ chế mới này và trong bối cảnh toàn cầu hóa thông tin như hiện nay đã đặt ra song hành cả những thuận lợi và khó khăn
Tạp chí chuyên ngành là một loại hình xuất bản phẩm trong mạng lưới sách báo in của hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng, chuyển tải các thông tin có tính tổng hợp, chuyên sâu, xuất bản định kỳ hai tháng một lần hoặc một tháng một lần và được coi là cơ quan lý luận, học thuật, khoa học, ngôn luận của một bộ, ngành hay đoàn thể Điểm khác biệt cơ bản của tạp chí
so với báo in là tính thời sự nóng hổi thấp hơn nhưng nội dung vấn đề và sự kiện đưa ra phân tích, bình luận lại đầy đủ và toàn diện hơn
Trên thực tế những năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, sự chỉ đạo trực tiếp của các cơ quan chủ quản, sự nỗ lực của các cơ quan báo chí nói chung, các Tạp chí chuyên ngành - cơ quan ngôn luận của các Tập đoàn kinh tế nhà nước nói riêng đã bám sát tôn chỉ, mục đích, thực hiện khá tốt vai trò của mình, góp phần vào công cuộc đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế Tuy nhiên, cuộc cạnh tranh khốc liệt về thông tin và giữa các loại hình báo chí cùng với lớn mạnh không ngừng của các Tập đoàn kinh
tế nhà nước trong bối cảnh hội nhập sâu rộng hiện nay, việc quản lý và phát
Trang 9triển Tạp chí chuyên ngành của các Tập đoàn kinh tế nhà nước đã và đang đặt
ra nhiều vấn đề cần bàn, thậm chí là bất cập khiến các Tạp chí chuyên ngành dần thụt lùi trong dòng chảy báo chí đang diễn ra sôi động không ngừng
Trên thực tế, vì nhiều lý do khách quan và chủ quan nên cơ quan chủ quản (Tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước) chưa có sự sát sao, quan tâm thoả đáng và còn mang nặng tính hình thức trong quản lý cơ quan ngôn luận của mình Đồng thời, trong bối cảnh ngày càng khó khăn như hiện nay, trước đòi hỏi bộ máy tổ chức của các cơ quan báo chí phải tinh gọn để phát huy tối
đa hiệu quả thì trên thực tế nhiều toà soạn của các Tạp chí chuyên ngành bộ máy còn cồng kềnh, phân giao nhiệm vụ giữa các bộ phận còn chồng chéo
Về nguồn lực con người, với đặc thù riêng của Tạp chí chuyên ngành đòi hỏi từ lãnh đạo đến các phóng viên, biên tập viên, ngoài chuyên môn báo chí còn phải có những hiểu biết và kiến thức sâu liên quan đến các ngành nghề hoạt động của Tập đoàn Đây cũng là thách thức rất lớn bởi đa số các trường hợp, có những phóng viên được đào tạo báo chí bài bản, giỏi về chuyên môn báo chí thì lại hạn chế về kiến thức chuyên ngành và ngược lại Việc thu hút các chuyên gia đầu ngành, các nhà quản lý viết bài cho tạp chí cũng không đơn giản
Xem xét ở góc độ nội dung và hình thức, ở một số Tạp chí chuyên ngành vẫn loay hoay trong việc xây dựng các chuyên mục cốt lõi, đổi mới trong cách tiếp cận vấn đề và có những sáng tạo trong cách thức thể hiện tác phẩm báo chí Nhiều bài viết còn nặng, chủ yếu “khen” ngành, thiếu sức hút
và ít có phản biện Vì không phải “bán” nên một số tạp chí có tư tưởng làm cho xong, không cầu toàn để hình thức trình bày tạp chí ngày càng hiện đại, bắt mắt và hấp dẫn hơn để thu hút độc giả
Chưa kể, nhiều Tạp chí chuyên ngành của các Tập đoàn hiện nay vẫn chỉ duy trì độc nhất một loại hình tạp chí in truyền thống hoặc có thêm trang
Trang 10thông tin điện tử, chậm hoặc không chịu bắt nhịp theo xu hướng truyền thông
đa phương tiện để phát huy sức mạnh của nguồn nhân lực cũng như các công nghệ đa phương tiện đang được hầu hết các cơ quan báo chí tiếp cận và xây dựng Không chỉ vậy, trong quá trình phát triển, rất nhiều những thách thức đặt ra với các Tạp chí chuyên ngành Chẳng hạn, về nhu cầu mở rộng đối tượng bạn đọc ngoài ngành, tăng số lượng phát hành nhưng không xa rời tôn chỉ, mục đích của tạp chí; đẩy mạnh quảng cáo, tự chủ tài chính trong khi giá thành sản xuất tạp chí đội lên cao do dồn nhiều chi phí vào giá thành
Đặc biệt, theo Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025 (gọi tắt là Quy hoạch báo chí đến năm 2025), Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước có thể có một cơ quan tạp chí in Vậy, làm sao để nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển Tạp chí chuyên ngành, trong đó, quản lý của
cơ quan chủ quản chặt chẽ, sát sao hơn; mô hình tổ chức hoạt động của tạp chí như thế nào cho tinh gọn, hiệu quả hơn; nguồn nhân lực cần chuyên nghiệp ra sao để đáp ứng yêu cầu công việc trong tình hình mới; cách nào để nội dung tạp chí phong phú, “bớt nhạt”, hình thức hấp dẫn Cao hơn, nếu xây dựng được một mô hình quản lý và phát triển Tạp chí chuyên ngành của các Tập đoàn kinh tế nhà nước hiệu quả sẽ mở ra hướng đi mới cho các Tạp chí chuyên ngành khẳng định được vị thế và thương hiệu của mình trong lòng độc giả
Xuất phát từ tất cả các lý do đã nêu ở trên, đồng thời đang đảm trách nhiệm vụ Trưởng phòng Phóng viên kiêm Phó phòng Thư ký toà soạn của Tạp chí Than - Khoáng sản Việt Nam (Tạp chí chuyên ngành - Cơ quan ngôn luận của Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam) nên tôi chọn
đề tài “Quản lý và phát triển Tạp chí chuyên ngành của các Tập đoàn kinh
tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay” (khảo sát các tạp chí của Tập đoàn TKV,
PVN, EVN từ tháng 6/2014 - 6/2016) làm đề tài luận văn tốt nghiệp thạc sĩ
chuyên ngành Quản lý báo chí truyền thông của mình
Trang 112 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Có thể thấy tại Việt Nam, các tài liệu nghiên cứu báo chí học về loại hình tạp chí trên thế giới chưa có Các đề tài nghiên cứu trong nước liên quan đến loại hình tạp chí nói chung, tạp chí chuyên ngành nói riêng còn chưa nhiều và chưa mang tính hệ thống Bên cạnh đó, phải khẳng định rằng, từ trước cho đến nay chưa có một công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu, riêng biệt nào về quản lý và phát triển Tạp chí chuyên ngành của các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
Mặc dù vậy, vẫn có khá nhiều những cuốn sách liên quan đến lãnh đạo quản lý hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện nay, tổ chức hoạt động cơ quan báo chí và xu hướng phát triển, trong đó cũng có ít nhiều đề cập đến việc quản lý, tổ chức hoạt động và xu hướng phát triển đối với các tạp chí
Cuốn Tiếp tục đổi mới và tăng cường lãnh đạo quản lý công tác báo chí xuất bản (1997), Ban Tư tưởng - Văn hoá Trung ương (nay là Ban Tuyên
giáo Trung ương), Bộ Văn hoá - Thông tin (nay là Bộ Thông tin và Truyền thông) phối hợp phát hành (NXB Sự thật) Nội dung cuốn kỷ yếu khẳng định: Báo chí, xuất bản là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị, xã hội, là diễn đàn tin cậy của nhân dân; chỉ rõ công tác lãnh đạo và quản lý báo chí, xuất bản còn bị buông lỏng, kém hiệu quả ; kiến nghị cần tăng cường quản lý báo chí xuất bản để tạo điều kiện cho báo chí, xuất bản phát triển
Cuốn Tăng cường lãnh đạo, quản lý tạo điều kiện để báo chí Việt Nam phát triển mạnh mẽ, vững chắc trong thời gian tới (2007), Ban Tuyên giáo
Trung ương biên soạn (NXB Lý luận chính trị) Cuốn sách khẳng định nguyên tắc báo chí cách mạng nước ta luôn đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và nhân dân Cuốn sách cũng đề cập đến những yếu kém, khuyết điểm của một số cơ quan báo chí như: thiếu nhạy bén chính trị, chưa làm tốt chức năng tư tưởng, văn hoá
Trang 12của báo chí cách mạng Vì vậy, rất cần tăng cường quản lý báo chí để cho báo chí phát triển mạnh mẽ đúng hướng
Tác giả Lê Thanh Bình và Phí Thị Thanh Tâm (2009), Quản lý nhà nước và pháp luật về báo chí, NXB Văn hoá - Thông tin Nội dung chủ yếu
bàn về các quan niệm quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí; vai trò của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí; nội dung, đặc trưng của pháp luật về quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí
Tác giả Hoàng Quốc Bảo (2010), Lãnh đạo và quản lý hoạt động báo chí ở Việt Nam hiện nay, NXB Chính trị - Hành chính Cuốn sách không chỉ
cung cấp cho người học tri thức về lãnh đạo, quản lý báo chí mà còn góp phần quan trọng vào việc hình thành năng lực tham mưu, lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và năng lực tham gia vào việc tổ chức thực hiện sự quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí của người cán bộ tư tưởng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
Tác giả Nguyễn Quang Hoà (2016), Tổ chức hoạt động cơ quan báo chí thực tiễn và xu hướng phát triển, NXB Thông tin và Truyền thông Cuốn sách
cung cấp một bức tranh toàn cảnh về báo chí hiện nay, phân tích bản chất của hoạt động báo chí và mỗi trang báo, số báo, chương trình phát thanh, truyền hình, thậm chí một tác phẩm riêng lẻ cũng thấm đẫm mồ hôi, công sức, trí tuệ của nhiều người Cuốn sách còn trình bày một cách toàn diện và đầy đủ về bộ máy tòa soạn của các cơ quan báo chí, xu hướng phát triển của báo chí
Tác giả John Prescott Thomas (2009), Media Management (sách quản
lý truyền thông), xuất bản bởi Ban Truyền thông và Thông tin của tổ chức
giáo dục, khoa học và văn hoá thuộc Liên hợp quốc Cuốn sách cung cấp một
số kinh nghiệm quản lý của các tổ chức truyền thông bao gồm: cơ cấu và tổ chức bộ máy để quản lý các tổ chức truyền thông, kế hoạch chiến lược và
Trang 13quản trị tài chính, kế hoạch và quản lý nguồn nhân lực ở nhiều bối cảnh truyền thông khác nhau và đặc biệt liên quan đến các quốc gia đang phát triển
Ngoài ra còn có một số sách đề cập đến những vấn đề lý luận báo chí, tạp chí liên quan đến đề tài như:
Tác giả Tạ Ngọc Tấn (1999), Từ lý luận đến thực tiễn báo chí, NXB
Văn hoá - Thông tin, Hà Nội giới thiệu những kiến thức và hệ thống khái niệm cơ bản của lý luận báo chí nói chung và tạp chí nói riêng
Tác giả Nguyễn Văn Dững (2012), Cơ sở lý luận báo chí, NXB Lao
động Cuốn sách mang tính chất nền tảng cho toàn bộ chương trình đào tạo về
lý luận báo chí Cuốn sách góp phần cung cấp cơ sở lý luận - thực tiễn báo chí
- truyền thông hiện đại nhằm hình thành thế giới quan, phương pháp luận và ý thức tự giác về hoạt động nghề nghiệp báo chí cho người học Nội dung giáo trình chủ yếu cung cấp những kiến thức cơ bản và hệ thống các khái niệm cơ bản của lý luận báo chí như khái niệm và đặc điểm của báo chí, bản chất hoạt động báo chí, đối tượng, công chúng
Tác giả Dương Xuân Sơn (2014), Các loại hình báo chí truyền thông,
NXB Thông tin và Truyền thông, Hà Nội cung cấp những hiểu biết có hệ thống về khái niệm, đặc điểm của truyền thông và truyền thông đại chúng hiện đại, trình bày những ưu điểm và hạn chế, nguyên tắc và phương pháp sáng tạo, xu hướng phát triển riêng của từng loại hình nhằm phát huy tốt vai trò, sức mạnh của các loại hình báo chí truyền thông
Tác giả Nguyễn Thành Lợi (2014), Tác nghiệp báo chí trong môi trường truyền thông hiện đại, NXB Thông tin và Truyền thông Cuốn sách
giới thiệu những nét khái quát nhất về những vấn đề mới mẻ đang được nghiên cứu rộng rãi trên thế giới nhiều thập kỷ qua như truyền thông xã hội, hội tụ truyền thông, tòa soạn hội tụ Nội dung chính của cuốn sách là đưa ra những kỹ năng cơ bản trong viết báo đa phương tiện, thông qua cách viết
Trang 14ngắn gọn, dễ hiểu, với những ví dụ minh họa sinh động của các hãng truyền thông nổi tiếng trên thế giới đã làm rõ cách thức xây dựng kế hoạch truyền thông cho một chủ đề cụ thể, phương thức sử dụng đa phương tiện
Các tác giả (1986), Công tác tạp chí, NXB Sách giáo khoa Mác -
Lênin, Hà Nội giới thiệu chi tiết và hệ thống về tạp chí, công tác quản lý tạp chí Các tác giả đề cập sâu đến vai trò và đặc điểm của các tạp chí chuyên ngành, với chức năng là cơ quan truyền bá lý luận, hoạt động khoa học và hướng dẫn thực tiễn; phân biệt sự khác nhau giữa tạp chí và báo; các chức năng của tạp chí; bản sắc của tạp chí; vai trò và hiệu quả của tạp chí lý luận;
đặc thù của công tác tạp chí Hay cuốn Xuất bản tạp chí (bản dịch tiếng
Việt), Khoa Xuất bản - Học viện Báo chí và tuyên truyền, Hà Nội giúp tác giả luận văn có những kiến thức cơ bản về công tác tạp chí
Tác giả Hà Huy Phượng (2006), Tổ chức nội dung và thiết kế, trình bày báo in, NXB Lý luận chính trị Cuốn sách đề cập đến những vấn đề như:
Những nguyên tắc, phương pháp tổ chức nội dung và thiết kế, trình bày báo, tạp chí, những phần mềm tin học ứng dụng trong thiết kế báo, tạp chí, tìm
hiểu công nghệ và quy trình in báo in, tạp chí
Tác giả G.V.Lazutina (2003 - sách dịch), Cơ sở hoạt động sáng tạo của nhà báo, NXB Thông tấn, Hà Nội đề cập đến những yếu tố trong hoạt động
sáng tạo của nhà báo như mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, giữa khách thể và chủ thể, quan hệ giữa nhà báo và công chúng và sự tác động lẫn nhau của các mối quan hệ đó, trách nhiệm và đạo đức của nhà báo Cuốn sách giúp cho tác giả luận văn tham khảo, phân tích, nhận định về hoạt động sáng tạo trong công tác tạp chí, mối quan hệ giữa độc giả với toà soạn các tạp chí
Qua quá trình khảo sát thực tế trên các khoá luận, luận văn, luận án đã được công bố, tác giả luận văn nhận thấy đã có nhiều đề tài nghiên cứu liên quan đến tạp chí, tuy nhiên thường chỉ mổ xẻ ở một khía cạnh nào đó chứ
Trang 15chưa đề cập đến các vấn đề về quản lý và phát triển tạp chí nói chung cũng như tạp chí chuyên ngành của các Tập đoàn kinh tế nhà nước nói riêng như:
Luận văn thạc sĩ báo chí học (2015) của tác giả Phạm Thị Thanh Huyền
với chủ đề “Tổ chức thông tin chuyên đề trên các tạp chí ngành Xây Dựng”(khảo sát trên các tạp chí: Xây dựng, Kiến trúc Việt Nam, Quy hoạch xây dựng, năm 2013 và năm 2014) do PGS,TS Hà Huy Phượng hướng dẫn
Tác giả đã khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng tổ chức nội dung thông tin chuyên đề trên các tạp chí ngành Xây dựng hiện nay; đánh giá những thành tựu và hạn chế, từ đó đưa ra một số kiến nghị, giải pháp nhằm giúp các tạp chí ngành Xây dựng nắm rõ để có những điều chỉnh kịp thời, nâng cao chất lượng thông tin Đồng thời, Luận văn góp phần nhận diện rõ về tính hiệu quả, phù hợp, đảm bảo tính chất, vai trò, đặc thù của loại hình tạp chí khoa học chuyên ngành qua hình thức thông tin chuyên đề
Luận văn thạc sĩ báo chí (2013) của tác giả Nguyễn Hữu Trung với chủ
đề Vấn đề tự chủ tài chính ở các tạp chí kinh tế” do PGS,TS Hà Huy Phượng
hướng dẫn Luận văn đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận về báo chí và lĩnh vực tài chính nói chung và vấn đề tự chủ tài chính của đơn vị báo chí nói riêng Thông qua việc khảo sát thực tế hoạt động tài chính của Tạp chí Hỗ trợ phát triển (Thuộc Ngân hàng Phát triển Việt Nam), Tạp chí Kinh tế và Dự báo (thuộc Bộ Kế hoạch và đầu tư), Tạp chí Ngân hàng (thuộc Ngân hàng Nhà nước), Tạp chí Tài chính (thuộc Bộ Tài chính), từ đó đưa ra các kết quả nghiên cứu cụ thể về vấn đề tự chủ tài chính ở các tạp chí khảo sát; đồng thời chỉ ra nguyên nhân của những thuận lợi, khó khăn trong tự chủ tài chính của các tạp chí hiện nay; đưa ra các giải pháp, khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc tự chủ về tài chính của các tạp chí kinh tế ở Việt Nam trong tình hình hiện nay
Trang 16Luận án tiến sĩ báo chí (2017) của tác giả Phạm Thu Phong với chủ đề
Nâng cao chất lượng thông tin trên các tạp chí kinh tế hiện nay do PGS,TS
Hà Huy Phượng hướng dẫn Tác giả đã góp phần xây dựng cơ sở lý luận, phát
triển khung lý thuyết về tạp chí nói chung, tạp chí kinh tế nói riêng và chất lượng thông tin trên các tạp chí kinh tế với những đóng góp mới khi xác định
rõ vai trò, đặc điểm của các tạp chí kinh tế, yêu cầu về chất lượng thông tin trên các tạp chí kinh tế Những điểm này khá mới và các tài liệu báo chí học chưa bàn nhiều, bàn sâu về vấn đề này
Mặt khác, cũng có rất nhiều những bài báo rất hữu ích để tác giả luận văn tham khảo liên quan đến quản lý và phát triển báo chí nói chung, tạp chí chuyên ngành nói riêng, quy hoạch báo chí đến năm 2025, phát triển kinh tế
cho tạp chí chuyên ngành Chẳng hạn như: Bài Vai trò xã hội của các tạp chí khoa học (1985) của tác giả Vũ Khiêu đăng trên Tạp chí Xã hội học số 6; Bài Làm tạp chí trong bối cảnh kinh tế thị trường và văn hoá đọc đang sa sút
(2012) của tác giả Đặng Vũ Huân đăng trên Tạp chí Dân chủ và pháp luật, số
tháng 2; Bài Tạp chí trong ngôi nhà chung báo chí (2014) của tác giả Dương Văn Thắng đăng trên Tạp chí Bảo hiểm xã hội số 7; Bài Phát triển nguồn nhân lực cộng tác viên cho tạp chí khoa học lý luận, xã hội (2014) của tác giả
Trương Thị Kiên đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị, số 8
Bài Quản lý, quy hoạch báo chí - Nhiệm vụ quan trọng của Đảng trong giai đoạn tới (2015) của tác giả Nguyễn Bắc Son (Tạp chí Tài chính, 02/02/2015) Tác giả khái quát thực trạng công tác báo chí thời gian qua và
kết luận một số yếu kém của hệ thống báo chí như: hệ thống báo chí của ta vừa thừa vừa thiếu, chưa quản lý chặt chẽ nội dung thông tin, xuất bản Để công tác báo chí, xuất bản phát triển đúng hướng, về lâu dài cần phải quy hoạch Trước mắt, cần làm rõ trách nhiệm của cơ quan chủ quản và người
Trang 17đứng đầu, rà soát nội dung đăng tải trên báo chí, trang điện tử và mạng xã hội nhằm hạn chế tối đa các bài viết có nội dung sai phạm
Bài Một số vấn đề phát triển kinh tế cho Tạp chí chuyên ngành của tác
giả Ngô Thị Diệu Thuý (Phó Tổng Biên tập Tạp chí Công Thương) Tác giả
đã nêu và phân tích thực trạng vấn đề phát triển kinh tế cho các Tạp chí chuyên ngành trong bối cảnh kể từ năm 2006 đến nay, theo tinh thần Nghị định số 43 của Chính Phủ quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập, cơ quan báo chí hoạt động như đơn vị sự nghiệp có thu, nguồn ngân sách Nhà nước cấp cho hoạt động báo chí ngày càng bị cắt giảm đáng kể, thậm chí tự chủ hoàn toàn Từ đó tác giả đề xuất các giải pháp để giảm bớt khó khăn về tài chính và khuyến khích, tạo điều kiện cho các Tạp chí chuyên ngành phát triển kinh tế - dịch vụ, đảm bảo cân đối nguồn thu - chi
Đề án phát triển Tạp chí Than - Khoáng sản Việt Nam giai đoạn 2012 -
2020 của tác giả Nguyễn Thị Huyền (Tổng Biên tập Tạp chí Than - Khoáng
sản Việt Nam) Tác giả đã phân tích, chỉ ra những điểm mạnh, điểm hạn chế cũng như thực trạng việc tổ chức và hoạt động của Tạp chí Than - Khoáng sản Việt Nam những năm qua, từ đó xây dựng các nhóm giải pháp để duy trì
ổn định và phát triển tạp chí tầm nhìn đến năm 2020, trong đó đặc biệt nhấn mạnh nguồn lực con người là yếu tố cốt lõi quan trọng nhất
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Luận văn khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý và phát triển của Tạp chí chuyên ngành thuộc các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế, từ đó đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển Tạp chí chuyên ngành của các Tập đoàn kinh tế nhà nước trong thời gian tới
Trang 183.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các khái niệm công cụ, xây dựng khung lý thuyết cho vấn đề nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng, phân tích chỉ ra những điểm mạnh, điểm yếu, những nguyên nhân hạn chế trong công tác quản lý và phát triển Tạp chí chuyên ngành của các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay
- Đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển Tạp chí chuyên ngành của các Tập đoàn kinh tế nhà nước thời gian tới
4 Đối tượng nghiên cứu và khảo sát
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý và phát triển Tạp chí chuyên ngành
4.2 Phạm vi khảo sát
Luận văn tập trung nghiên cứu về vấn đề quản lý vĩ mô và quản lý vi
mô của 3 tạp chí trong diện khảo sát là Tạp chí Than - Khoáng sản Việt Nam, Tạp chí Dầu khí và Tạp chí Điện lực thời gian từ tháng 6/2014 - 6/2016; sự phát triển của tạp chí thời gian tới theo định hướng chung của Tập đoàn kinh
tế nhà nước ở Việt Nam và phù hợp với Quy hoạch báo chí đến năm 2025
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở nhận thức luận những vấn đề lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về quản lý và phát triển báo chí truyền thông, các Tạp chí chuyên ngành Từ những luận điểm chung của các nhà Mác - xít, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam
đã cho thấy vai trò của hoạt động báo chí nói chung và tạp chí chuyên ngành trong đời sống xã hội là rất lớn Đồng thời trong Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Đảng cộng sản Việt Nam cũng đã chỉ rõ “Phát triển đi
Trang 19đôi với quản lý tốt hệ thống thông tin đại chúng, báo chí, xuất bản làm tốt chức năng tuyên truyền thực hiện đường lối, chủ trương chính sách của Đảng
và Nhà nước, phát hiện những nhân tố mới, cái hay, cái đẹp trong xã hội, giới thiệu gương người tốt, việc tốt, những điển hình tiên tiến, phê phán các hiện tượng tiêu cực, uốn nắn những nhận thức lệch lạc, đấu tranh với những quan điểm sai trái, coi trọng nâng niu tính chân thật, tính giáo dục và tính chiến đấu thông tin” Những chỉ dẫn đó được coi là cơ sở lý luận cần phải xác định trong cách tiếp cận và cả trong phương pháp nghiên cứu của luận văn
Đồng thời, luận văn có sử dụng một số lý thuyết về báo chí - truyền thông nói chung, lý thuyết về mô hình tổ chức tòa soạn của các cơ quan báo chí, lý thuyết khoa học quản lý báo chí truyền thông để làm cơ sở chung cho nghiên cứu Ngoài ra luận văn còn dựa trên cơ sở kiến thức lý luận của các ngành khoa học khác có liên quan như: triết học, chính trị học, logic học, xã hội học, tâm lý học, quan hệ công chúng báo chí
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu chính sau đây:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: thông qua sưu tầm, tuyển chọn,
nghiên cứu các tài liệu như sách, báo, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về báo chí, văn bản pháp luật liên quan, đặc biệt là Quy hoạch báo chí đến năm 2025 của Chính phủ đã giúp tác giả luận văn hiểu và hệ thống hoá các vấn đề lý luận thành khung lý thuyết làm cơ sở để thể hiện đề tài
- Phương pháp khảo sát: tiến hành thông qua việc khảo sát, thống kê,
tổng hợp, so sánh, chứng minh các thông số thu được nhằm có được kết quả khảo sát thực tiễn, cả định tính và định lượng từ đó sử dụng để chứng minh giải thuyết đã đặt ra Việc khảo sát được tác giả luận văn tiến hành kỹ lưỡng, đảm bảo sự khoa học, tính chính xác, đáng tin cậy
Trang 20- Phương pháp phân tích: Từ những dữ liệu khảo sát về vấn đề quản lý
và phát triển của Tạp chí Than - Khoáng sản Việt Nam, Tạp chí Dầu khí và Tạp chí Điện lực, tác giả luận văn đối chiếu, phân tích từ đó rút ra những kết luận khoa học cần thiết cho luận văn
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Đây sẽ là phương pháp tác giả luận văn
đặc biệt chú trọng Cụ thể, tác giả sẽ tiến hành phỏng vấn sâu các trường hợp:
Về lãnh đạo cơ quan chủ quản: phỏng vấn 1 lãnh đạo Tập đoàn CN Than - Khoáng sản Việt Nam, 1 lãnh đạo Viện Dầu khí Việt Nam, 1 lãnh đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam Về lãnh đạo, phóng viên, biên tập viên của các tạp chí: phỏng vấn 1 Tổng biên tập Tạp chí Than - Khoáng sản Việt Nam, 2 phóng viên, biên tập viên của Tạp chí Than - Khoáng sản Việt Nam, 1 thư ký toà soạn của Tạp chí Dầu khí, 1 phóng viên, biên tập viên của Tạp chí Điện lực Và một số chuyên gia như: 1 chuyên gia kinh tế, 4 chuyên gia trong lĩnh vực báo chí
6 Ý nghĩa khoa học, thực tiễn của vấn đề nghiên cứu
6.1 Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ đóng góp, bổ sung thêm vào hệ thống lý thuyết về quản lý và phát triển Tạp chí chuyên ngành của các Tập đoàn kinh tế nhà nước trong xu thế truyền thông đa phương tiện ở Việt Nam hiện nay
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn là tài liệu tham khảo về mặt thực tiễn tại các cơ quan báo chí, nhất là đối với Tạp chí chuyên ngành của các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hiện nay Đặc biệt, theo Quy hoạch báo chí đến năm 2025 có nêu: Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước có thể có một cơ quan tạp chí in, do
đó vấn đề quản lý và phát triển Tạp chí chuyên ngành của các Tập đoàn kinh
tế nhà nước cũng cần có những đánh giá, nghiên cứu để nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển Tạp chí chuyên ngành
Trang 217 Kết cấu của luận văn
Ngoài mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có kết cấu
gồm 3 chương, 8 tiết, 90 trang
Trang 22Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ VÀ PHÁT TRIỂN
TẠP CHÍ CHUYÊN NGÀNH
1.1 Một số vấn đề về quản lý Tạp chí chuyên ngành
1.1.1 Những lý thuyết chung
1.1.1.1 Quản lý
+ Lịch sử phát triển các tư tưởng quản lý
Hoạt động quản lý đã có từ xa xưa khi con người biết lao động theo từng nhóm đòi hỏi có sự tổ chức, điều khiển và phối hợp hành động Vai trò
của nó đã được thể hiện một cách giản dị qua câu nói dân gian ”Một người biết lo bằng cả kho người hay làm” Về sau, Các Mác đã khẳng định:
Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một
sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế sản xuất Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn
một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng [34]
Ở Trung Hoa thời cổ đại, tư tưởng đức trị của Khổng Tử với triết
lý Đạo Nhân đã chi phối hoạt động quản lý, chủ yếu đối với việc quản lý xã
hội, đất nước “trị quốc, bình thiên hạ” bởi lẽ nền kinh tế thời đó chỉ là tiểu nông, thủ công nghiệp và buôn bán nhỏ Cặp phạm trù Nhân - Lợi đã có ảnh hưởng nhất định đến quản lý qua tư tưởng nhân bản “làm cho dân giàu, nước mạnh”; được các đời sau kế thừa và phát triển Đến thời Chiến quốc (280 -
233 trước Công nguyên), kinh tế khá phát triển song lại kém ổn định về chính
trị - xã hội, Hàn Phi Tử đã chủ xướng tư tưởng pháp trị, coi trọng pháp chế
nghiêm khắc và đề cao thuật dùng người Đó là tư tưởng duy lý, duy lợi được
Trang 23tái hiện sau hơn 2000 năm ở phương Tây trong triết lý “con người kinh tế”
Các thuyết quản lý sau này kết hợp cả hai tư tưởng triết học đó để ngày càng coi trọng hơn nhân tố văn hóa trong quản lý
Với sự phát triển thương mại (thế kỷ XVI) và cách mạng công nghiệp ở châu Âu (thế kỷ XVIII), hoạt động quản lý được tách ra thành một chức năng riêng như một nghề chuyên nghiệp từ sự phân công lao động xã hội Lý thuyết quản lý từng bước tách ra khỏi triết học để trở thành một khoa học độc lập - khoa học quản lý từ đầu thế kỷ XX cùng với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản và sau đó là chủ nghĩa xã hội
Từ “rừng lý luận quản lý” đó, các lý thuyết quản lý lần lượt được quy nạp thành các trường phái quản lý với đặc trưng khác nhau Sự phân loại đó thực ra chỉ có ý nghĩa tương đối; số lượng trường phái lúc đầu là 5, 6 và sau
đó phát triển thành 11 trường phái gồm: Trường phái quản lý theo quá trình làm việc (chính thống, cổ điển), Trường phái quan hệ giữa người và người (thông qua con người), Trường phái hành vi quần thể (hành vi của tổ chức) [30] Mỗi trường phái về lý luận quản lý đều có cống hiến nhất định, cung cấp cho các nhà quản lý những kiến giải và phương pháp hữu hiệu (với tư cách là công cụ, phương tiện thay vì là nội dung quản lý)
Đến thế kỷ XIX, mối quan tâm đến các hoạt động quản lý của những người trực tiếp quản lý các cơ sở sản xuất kinh doanh và của những nhà khoa học mới thật sự sôi nổi Federick W.Taylor (1856-1915) với tư tưởng quản lý khoa học của mình đã đặt nền móng cho khoa học quản lý hiện đại Thời kỳ này, sự quan tâm vẫn tập trung nhiều đến các khía cạnh kỹ thuật của sản xuất nhưng đồng thời cũng đã chú ý đến khía cạnh xã hội trong quản lý, như Robert Owen đã tìm cách cải thiện điều kiện làm việc và điều kiện sống của công nhân Xét về phương diện quản lý, việc làm của Owen đã đặt nền móng cho các công trình nghiên cứu quản lý về các mối quan hệ giữa điều kiện lao
Trang 24động với kết quả của xí nghiệp Những nỗ lực nghiên cứu về khoa học quản
lý đã được tiến hành rộng khắp và từ đó đến nay các lý thuyết quản lý đã được phát triển nhanh chóng, góp phần tích cực cho sự phát triển kỳ diệu của
xã hội loài người trong thế kỷ XXI và hiện nay
+ Khái niệm quản lý
Có thể thấy, bản thân khái niệm “quản lý” có tính đa nghĩa, đồng thời
do sự khác biệt về thời đại, xã hội, chế độ, nghề nghiệp nên quản lý cũng có nhiều giải thích, lý giải khác nhau, tuỳ theo quan điểm và cách tiếp cận của người nghiên cứu
Quản lý nói chung theo nghĩa tiếng Anh là Administration vừa có nghĩa quản lý (hành chính, chính quyền), vừa có nghĩa quản trị (kinh doanh) Trong thực tế, thuật ngữ “quản lý” và “quản trị” vẫn được dùng trong những hoàn cảnh khác nhau để nói lên những nội dung khác nhau, nhưng về cơ bản hai từ này đều có bản chất giống nhau Khi dùng theo thói quen, chúng ta coi thuật ngữ “quản lý” gắn liền với quản lý nhà nước, quản lý xã hội, quản lý ở khu vực công 3 cộng, tức là quản lý ở tầm vĩ mô, còn thuật ngữ “quản trị” được dùng ở phạm vi nhỏ hơn đối với một tổ chức, một doanh nghiệp (kinh tế)
Xét về từ ngữ, thuật ngữ “quản lý” (tiếng Việt gốc Hán) có thể hiểu là hai quá trình tích hợp vào nhau; quá trình “quản” là sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái “ổn định”; quá trình “lý” là sửa sang, sắp xếp, đổi mới để đưa tổ chức vào thế “phát triển”
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý: Harol Koontz: “Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác” [14] Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra” [8]
Trang 25Có thể khái quát lại khái niệm về quản lý như sau: “Quản lý” là điều khiển, chỉ đạo một hệ thống hay quá trình vận động theo ý muốn của nhà quản lý nhằm đạt được những mục đích đã định Nói cách khác, quản lý là sự tác động có mục đích của chủ thể quản lý đến các đối tượng được quản lý Quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó, lúc đó có hoạt động chung của con người Mục đích và nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy nhằm đảm bảo sự phục tùng và tạo sự thống nhất trong quản lý
- Nhóm phương pháp kinh tế: là các phương pháp tác động vào đối
tượng quản lý thông qua các lợi ích kinh tế bằng việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế (tiền lương, tiền thưởng, tiền phạt, giá cả, lợi nhuận, lãi suất…) để cho đối tượng quản lý tự lựa chọn phương án hoạt động có hiệu quả nhất trong phạm vi hoạt động của họ Phương pháp kinh tế có vai trò rất quan trọng và giữ vai trò trung tâm trong công tác quản lý vì nó tác động thông qua các lợi ích kinh tế, tạo ra sự quan tâm vật chất thiết thân của mỗi người và tập thể lao động, tạo ra động lực kinh tế trực tiếp khơi dậy sức mạnh tiềm tàng trong mỗi con người, động lực đó càng vững chắc nếu lợi ích cá nhân được kết hợp đúng đắn với lợi ích của tập thể và xã hội
- Nhóm phương pháp hành chính - tổ chức: là cách thức tác động trực
tiếp của chủ thể quản lý đến các tập thể và cá nhân dưới quyền bằng các quyết định dứt khoát mang tính chất bắt buộc, đòi hỏi cấp dưới phải chấp hành nghiêm chỉnh, nếu vi phạm sẽ bị xử lý kịp thời, thích đáng Các quyết định
Trang 26được cụ thể hóa dưới dạng các quy chế, quy định, quyết định, nội quy của tổ chức Nhóm phương pháp này có vai trò rất to lớn trong công tác quản lý nhằm xác lập trật tự, kỷ cương trong tổ chức; giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý một cách nhanh chóng và là khâu nối các phương pháp khác thành một hệ thống
- Nhóm phương pháp tâm lý - xã hội (hay còn gọi là nhóm phương
pháp “tâm lý - giáo dục”, “giáo dục”) là các cách thức tác động vào nhận thức
và tình cảm của người lao động nhằm nâng cao tính tự giác và nhiệt tình của
họ trong việc thực hiện nhiệm vụ Đặc trưng của phương pháp này là tính thuyết phục và kích thích tinh thần Tính thuyết phục làm cho nhân viên phân biệt được phải - trái, đúng - sai, lợi - hại, thiện - ác… để hành động cho phù hợp Khơi dậy tính tự nguyện, tự giác của đối tượng quản lý, kích thích họ làm việc hăng hái với tất cả trí tuệ và khả năng cao nhất
- Các phương pháp và kỹ thuật quản lý cụ thể là những phương pháp,
kỹ thuật thực hiện chức năng cụ thể như kỹ năng lập kế hoạch, kỹ năng quản
lý sự thay đổi, giao việc - ủy quyền, quản lý thời gian… Những phương pháp
và kỹ thuật cụ thể cần được người quản lý trang bị và vận dụng linh hoạt trong những tình huống cụ thể để đạt kết quả cao nhất trong công tác quản lý của mình
Tuy là phân loại như vậy nhưng trong thực tiễn quản lý không thể tuyệt đối hoá một phương pháp nào đó mà phải có quan điểm tổng hợp và biết kết hợp nhịp nhàng và linh hoạt các phương pháp quản lý với nhau để nâng cao hiệu quả quản lý
1.1.1.2 Quản lý báo chí
Quản lý báo chí có thể phân chia thành hai cấp độ: quản lý vĩ mô và quản lý vi mô Quản lý vĩ mô là quản lý nhà nước về báo chí, quản lý của cơ quan chủ quản đối với toà soạn Quản lý vi mô là quản lý trong nội bộ tòa
Trang 27soạn báo chí Tất cả các cấp độ quản lý trên đây đều phải dựa trên những quan điểm, nguyên tắc nhất định Quản lý báo chí ở nước ta đều phải đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng
Trên cơ sở những văn kiện của Đảng ta và từ thực tiễn hoạt động báo chí và quản lý báo chí nhiều năm nay, có thể thấy những quan điểm sau đây được nhận thức, quán triệt và thực hiện trong quá trình quản lý báo chí:
- Công tác báo chí là một bộ phận cấu thành hữu cơ trong bộ máy hoạt động của Đảng ta, là yếu tố cầu thành hoạt động tư tưởng, lý luận Báo chí là công cụ xung kích trên mặt trận tư tưởng, lý luận Báo chí có vai trò quan trọng đối với công tác tư tưởng, lý luận và tổ chức Báo chí là bộ phận hữu cơ
và đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện và trực tiếp của Đảng
- Báo chí nước ta phải góp phần tích cực vào tuyên truyền lý luận Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm, chính sách của Đảng
Mác-và pháp luật của Nhà nước Báo chí phải góp phần tích cực xây dựng lý tưởng
xã hội vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, góp phần ổn định chính trị tư tưởng, bình ổn đời sống tinh thần để huy động nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống Xây dựng lý tưởng xã hội, tuyên truyền tư tưởng của Đảng là một công việc lâu dài, khó khăn, phức tạp, nhất là trong tình hình hiện nay, cho nên đòi hỏi phải kiên trì, sự nhiệt thành, trung thành, hiểu biết và tính chuyên nghiệp cao
- Báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội và là diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lí của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; phải bảo đảm tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính đa dạng của hoạt động báo chí Báo chí của ta là cơ quan của Đảng, Nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng và quản
lý của Nhà nước
Trang 28- Đảng lãnh đạo báo chí bằng việc định hướng chính trị, bằng và thông qua Nhà nước, thông qua công tác tổ chức - cán bộ, thông qua giám sát, kiểm tra hoạt động thường xuyên trong thực tiễn Quản lý nhà nước về báo chí còn
bằng sức mạnh của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng
- “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén của họ” Mỗi nhà báo là một cán bộ hoạt động trong lĩnh vực công tác tư tưởng - văn hóa của Đảng, là nhà truyền thông - vận động xã hội dưới
sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước Nhà báo là chủ thể tích cực trong quá trình hoạt động báo chí cũng như quản lý nhà nước về báo chí
1.1.1.3 Quản lý Tạp chí chuyên ngành
+ Tạp chí chuyên ngành
* Đặc điểm của tạp chí
Có thể nói, tạp chí là sản phẩm của quá trình phát triển của báo nhưng
ra đời muộn hơn báo Tạp chí được gọi phổ biến là Magazin, có nơi gọi là Review hay Journal Để thấy được những đặc điểm của tạp chí nói chung, chúng ta sẽ đi từ khái niệm “tạp chí”
Khái niệm tạp chí được bắt nguồn từ tiếng Pháp “Journal”, có nghĩa là nhật ký báo, được định hình trong tên gọi tờ tạp chí đầu tiên “Joural de savants” vào ngày 5/1/1665 tại Pháp được coi là thuỷ tổ của tạp chí
Theo Đại Từ điển Tiếng Việt, NXB Văn hoá thông tin 1999 thì: Tạp chí
là xuất bản phẩm định kỳ, đăng nhiều bài của các tác giả khác nhau về một ngành hoạt động nhất định, đóng thành tập [64, tr.1494]
Trong cuốn Xuất bản tạp chí (bản dịch tiếng Việt, Khoa xuất bản - Học viện Báo chí và Tuyên truyền, 2010), công bố của tổ chức UNESCO “Tất cả xuất bản phẩm có cùng một tiêu đề, xuất bản liên tục định kỳ hoặc không định
kỳ, mỗi năm ít nhất là trên 1 kỳ (1 lần), mỗi kỳ đều ghi rõ số thứ tự và ghi rõ ngày tháng thì gọi là tạp chí” [16, tr.34]
Trang 29Các tác giả trong cuốn Nghề nghiệp và công việc của nhà báo (Hội Nhà báo Việt Nam) đã đưa ra định nghĩa về tạp chí như sau: “Tạp chí là cơ quan
lý luận, học thuật, khoa học của một tổ chức, đoàn thể nào đó chủ yếu sâu nghiên cứu, hướng dẫn, trao đổi nghiệp vụ khoa học về một lĩnh vực nào đó thuộc phạm vi ngành mình, địa phương mình Định kỳ phát hành của tạp chí thường dài hơn định kỳ phát hành của báo” [18, tr.162]
Như vậy, tham chiếu các định nghĩa trên và tình hình thực tế, có thể rút
ra khái niệm chung về tạp chí như sau: Tạp chí là một loại xuất bản phẩm định kỳ, có tên gọi ổn định, có kỳ hạn xuất bản trong một khoảng thời gian nhất định (có thể là bán nguyệt san, ra hàng tháng, quý), cung cấp thông tin, kiến thức cho những đối tượng bạn đọc nhất định
Cũng từ khái niệm chung đó, có thể thấy những đặc điểm của tạp chí nói chung như sau: trước hết cần khẳng định rằng, tạp chí cũng như báo in ở Việt Nam ngày nay đều là phương tiện truyền thông trong sự nghiệp đấu tranh bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước Tạp chí cũng có nhiệm vụ truyền đạt, phổ biến sâu rộng đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến với quần chúng nhân dân, động viên hướng dẫn và tổ chức quần chúng thực hiện có hiệu quả đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật đó Tuy nhiên, tạp chí có những đặc điểm riêng biệt như: truyền bá kiến thức lý luận cần thiết cho cán bộ lãnh đạo, chỉ đạo các cấp, các ngành, các giới, các địa phương giúp họ nắm chắc đường lối, chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước để dựa vào đó, động viên tổ chức và hướng dẫn quần chúng thực hiện Trang bị kiến thức học thuật mới, củng cố, mở rộng và nâng cao kiến thức khoa học để vận dụng ngày càng tốt hơn vào các hoạt động và nghiên cứu nhằm phục vụ đắc lực cho việc xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước và tổ chức thực hiện trong thực tiễn
Trang 30Cùng với đó, có thể thấy, tạp chí in truyền thống khác với báo in ở chỗ tính thời sự thấp hơn nhưng nội dung vấn đề và sự kiện đưa ra phân tích, bình luận lại sâu hơn, đầy đủ hơn Thông tin của tạp chí có tính khái quát cao Tạp chí xuất bản theo tuần hoặc nửa tháng một kỳ thường có lượng xuất bản lớn, mang tính đại chúng Tính hấp dẫn và sức thuyết phục của tạp chí phụ thuộc nội dung phản ánh của nó có đáp ứng được nhu cầu thông tin của từng loại bạn đọc hay không Do đó, nội dung của tạp chí đòi hỏi phải rất đa dạng và có nhiều chuyên mục khác nhau, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin của các đối tượng Ngoài chức năng tuyên truyền giáo dục, tạp chí còn cung cấp thông tin cho độc giả những tri thức bằng con đường ngắn nhất, đó là những tri thức về chính trị, kinh tế, quản lý, khoa học kỹ thuật… Ngôn ngữ báo và ngôn ngữ tạp chí cũng có những điểm khác nhau Đối tượng bạn đọc có ý nghĩa quyết định đến phong cách ngôn ngữ Ngoài tạp chí in truyền thống, hiện nay còn có tạp chí phát thanh (trên sóng phát thanh), tạp chí truyền hình (trên sóng truyền hình), tạp chí điện tử (trên Internet)
* Đặc điểm của Tạp chí chuyên ngành
Có thể phân loại tạp chí theo các tiêu chí: theo chức năng, theo nhiệm vụ, theo nội dung phản ánh (lĩnh vực và đối tượng phản ánh), theo hình thức thông tin và thiết kế, trình bày ấn phẩm, theo đối tượng tiếp nhận (công chúng)
Xét về mặt nội dung phản ánh (bao gồm cả chức năng, nhiệm vụ, nội dung và hình thức thông tin), tựu chung lại có thể chia loại tạp chí thành ba nhóm chính:
+ Nhóm thứ nhất, gồm các loại tạp chí thông tin lý luận khoa học
chuyên biệt (còn gọi là tạp chí khoa học chuyên ngành - gọi tắt là Tạp chí chuyên ngành) Đây là tạp chí thông tin về các lĩnh vực chuyên biệt như: chính trị, chính trị xã hội, kinh tế… Ví dụ Tạp chí Cộng sản, Tạp chí Tài chính, Tạp chí Thanh Tra, Tạp chí Xây Dựng
Trang 31+ Nhóm thứ hai, gồm các tạp chí thông tin chỉ dẫn - giải trí: Tiêu đề của
nhóm cũng chỉ ra rõ nội dung phản ánh của nhóm tạp chí này Có thể kể một
số Tạp chí trong nhóm như: Tạp chí Thể thao, Thời trang trẻ
+ Nhóm thứ ba, gồm các tạp chí thông tin tổng hợp (hay còn gọi là tạp
chí thông tin xã hội) Ví dụ như Thế giới mới, Tri thức trẻ
Dựa theo tiêu chí phân loại trên, các tạp chí của các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam thuộc loại tạp chí thông tin lý luận khoa học chuyên
biệt (gọi tắt là tạp chí chuyên ngành) Theo cách hiểu khái quát nhất: “Tạp chí chuyên ngành” là một loại hình xuất bản phẩm trong mạng lưới sách báo in của hệ thống các phương tiện truyền thông đại chúng, chuyển tải các thông tin có tính tổng hợp, chuyên sâu, xuất bản định kỳ hai tháng một lần hoặc một tháng một lần và được coi là cơ quan lý luận, học thuật, khoa học, ngôn luận của một bộ, ngành hay đoàn thể
Thông qua các đặc điểm của tạp chí nói chung và khái niệm tạp chí chuyên ngành như đã nêu ở trên, chúng ta có thể thấy những đặc điểm riêng với những nét khác biệt của tạp chí chuyên ngành so với tạp chí nói chung Tạp chí khoa học chuyên ngành chủ yếu thông tin, trao đổi, công bố các công trình nghiên cứu khoa học chuyên ngành Do vậy, đối tượng phục vụ thuộc loại này chủ yếu là những người trong ngành, đòi hỏi phải có sự hiểu biết nhất định về nghề nghiệp Có như vậy, bạn đọc mới tiếp cận được thông tin và tham gia trao đổi, bàn luận, học tập kinh nghiệm về những vấn đề có liên quan đến công việc nghề nghiệp mà mình quan tâm Thay vì phạm vi phản ánh của tạp chí nói chung thường là tuyên truyền phổ biến những vấn đề chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội… với đối tượng phục vụ bao gồm số đông các tầng lớp dân cư Các tờ tạp chí nói chung đều phục vụ nhiệm vụ chính trị của một Nhà nước nhất định, nhưng do chức năng và đối tượng phục vụ của mình, tạp chí chuyên ngành còn phải căn cứ vào yêu cầu phục vụ nhiệm vụ
Trang 32chính trị của các tổ chức đoàn thể, hoặc ngành chủ quản trong từng thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội để thể xác định chủ đề của từng số tạp chí sẽ xuất bản và phát hành trong năm
Đồng thời, với các tạp chí chuyên ngành, những vấn đề chung về lý luận, nghiệp vụ, khoa học thường chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu nội dung các bài đăng tải trên tạp chí Với nội dung đó, các bài viết thuộc các thể loại tạp chí phải thể hiện được tính chất nghiên cứu, phát hiện những quy luật vận động cụ thể trong từng lĩnh vực thuộc các ngành nghiệp vụ chuyên môn
Ở đây, chức năng tuyên truyền về những vấn đề lý luận cách mạng, lý luận nghiệp vụ, khoa học kỹ thuật sẽ đem lại cho độc giả nhiều kiến thức mới mẻ với nhiều ý niệm có thể dễ dàng tiếp cận với thực tế, liên hệ, vận dụng trong điều kiện cụ thể của bản thân, đơn vị mình Còn với các tạp chí nói chung, nội dung của tạp chí đòi hỏi phải rất đa dạng và có nhiều chuyên mục khác nhau, đáp ứng nhu cầu tìm hiểu thông tin của các đối tượng Tính hấp dẫn và sức thuyết phục của tạp chí phụ thuộc nội dung phản ánh của nó có đáp ứng được nhu cầu thông tin của từng loại bạn đọc hay không Mặt khác, các tạp chí khoa học chuyên ngành thường sử dụng ngôn ngữ khoa học, lấy yếu tố khoa học làm chủ đạo để phân tích, lý giải lôi cuốn bạn đọc Tạp chí chuyên ngành
sử dụng phương pháp tư duy logic, có hệ thống, trình bày từ đơn giản đến phức tạp, từ lý luận đến thực tiễn hoặc có thể là phản biện vấn đề để chứng minh, lập luận quan điểm của mình
+ Các phương pháp quản lý Tạp chí chuyên ngành
Từ cách hiểu khái quát nhất về Tạp chí chuyên ngành cũng như một số đặc điểm chính của Tạp chí như đã nêu ở trên, do đó, quản lý Tạp chí chuyên ngành cũng chính là quản lý báo chí nói chung và trong luận văn này, tác giả tập trung theo 2 hướng tiếp cận:
Một là, quản lý vĩ mô (quản lý của cơ quan chủ quản đối với toà soạn)
Trang 33Hai là, quản lý vi mô (quản lý trong nội bộ toà soạn)
* Quản lý của cơ quan chủ quản đối với toà soạn
Theo Luật Báo chí năm 2016: Điều 15 Quyền hạn và nhiệm vụ của cơ quan chủ quản báo chí, Cơ quan chủ quản báo chí là cơ quan, tổ chức quy
định tại Điều 14 của Luật này đứng tên đề nghị cấp giấy phép hoạt động báo chí, thành lập và trực tiếp quản lý cơ quan báo chí Về quyền hạn và nhiệm vụ của cơ quan chủ quản báo chí được quy định cụ thể như sau:
- Về quyền hạn:
Cơ quan chủ quản báo chí có quyền: 1.Xác định loại hình báo chí, tôn chỉ, mục đích, đối tượng phục vụ, ngôn ngữ thể hiện của từng loại hình, từng loại sản phẩm báo chí, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động của cơ quan báo chí; 2 Bổ nhiệm người đứng đầu
cơ quan báo chí sau khi có sự thống nhất ý kiến bằng văn bản của
Bộ Thông tin và Truyền thông; 3 Miễn nhiệm, cách chức người đứng đầu cơ quan báo chí và gửi văn bản thông báo về việc miễn nhiệm, cách chức người đứng đầu cơ quan báo chí tới Bộ Thông tin
và Truyền thông; 4 Thanh tra, kiểm tra hoạt động của cơ quan báo chí; khen thưởng, kỷ luật theo quy định của pháp luật [43]
- Về nhiệm vụ:
Cơ quan chủ quản báo chí có nhiệm vụ: 1 Chỉ đạo cơ quan báo chí thực hiện đúng tôn chỉ, mục đích, nhiệm vụ, phương hướng hoạt động; tổ chức nhân sự và chịu trách nhiệm về hoạt động của cơ quan báo chí; 2 Bảo đảm nguồn kinh phí ban đầu và điều kiện cần thiết cho hoạt động của cơ quan báo chí; 3 Giải quyết khiếu nại, tố cáo đối với cơ quan báo chí, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý theo quy định của pháp luật
Trang 34Người đứng đầu cơ quan chủ quản báo chí không được kiêm nhiệm chức vụ người đứng đầu cơ quan báo chí và liên đới chịu trách nhiệm trước pháp luật trong phạm vi, nhiệm vụ, quyền hạn của mình đối với các sai phạm của cơ quan báo chí trực thuộc [43]
Có thể nói, trong thực tiễn hoạt động báo chí những năm qua, bám sát những quyền hạn và nhiệm vụ của cơ quan chủ quản báo chí đã được Luật quy định, với vai trò của mình, các cơ quan chủ quản báo chí đã có nhiều cố gắng trong công tác chỉ đạo, quản lý cơ quan báo chí thuộc quyền trong việc thực hiện phương hướng, nhiệm vụ, kế hoạch hoạt động; đồng thời tổ chức bộ máy, xây dựng đội ngũ cán bộ báo chí đảm bảo các tiêu chuẩn về chính trị, nghiệp vụ Nhiều cơ quan chủ quản báo chí đã chủ động xây dựng quy chế quản lý cơ quan báo chí thuộc quyền, tạo điều kiện cho cơ quan báo chí hoạt động đúng quy định, có sự rành mạch, thống nhất trong chỉ đạo, quản lý và trong công tác phối hợp của cơ quan báo chí với các đơn vị liên quan thuộc
Bộ Thông tin và Truyền thông
Bên cạnh những ưu điểm như vậy, hoạt động báo chí của nước ta cũng
đã bộc lộ không ít hạn chế Những tồn tại đó bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, trong đó nguyên nhân trước hết là do sự hạn chế, bất cập trong công tác chỉ đạo, quản lý của cơ quan chủ quản Do đó, hiện nay việc nâng cao trách nhiệm của cơ quan chủ quản trong chỉ đạo, quản lý hoạt động báo chí là yêu cầu đặt ra cấp thiết Hội nghị báo chí toàn quốc triển khai nhiệm vụ trọng tâm năm 2014, tổ chức ngày 14/01/2014 tại Hà Nội, lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương phát biểu kết luận đã nhấn mạnh:
Cần quyết liệt chấn chỉnh, khắc phục tình trạng xa rời tôn chỉ, mục đích, thông tin giật gân, câu khách Các cơ quan chỉ đạo, nhất
là cơ quan chủ quản cần thật sự vào cuộc, kiểm tra, xử lý nghiêm,
kể cả việc có thể rút giấy phép hoạt động đối với những cơ quan
Trang 35báo chí, sản phẩm báo chí, nhất là các ấn phẩm phụ, số chuyên đề, chương trình giải trí, trang thông tin điện tử không thực hiện nghiêm túc tôn chỉ, mục đích, hạ thấp chất lượng văn hóa của báo chí, chạy theo lợi ích kinh tế một cách phi văn hóa, vô trách nhiệm với xã hội Ở đây, vai trò cơ quan chủ quản là rất lớn, trực tiếp, có
ý nghĩa quyết định
* Quản lý trong nội bộ toà soạn
Theo Hoàng Quốc Bảo trong cuốn Lãnh đạo và quản lý hoạt động Báo chí ở Việt Nam hiện nay [2, tr.114-118] có đề cập: Nhìn tổng quát, cơ cấu tổ
chức của các cơ quan báo chí ở Việt Nam hiện nay được hình thành từ hai bộ phận chính: bộ phận quản lý và bộ phận thừa hành
Bộ phận quản lý: gồm có tổng biên tập (tổng giám đốc, giám đốc), các
phó tổng biên tập (phó tổng giám đốc, phó giám đốc) và ban biên tập (có thể thành lập ban biên tập, có thể không thành lập ban biên tập) Bộ phận quản lý tuy số lượng không nhiều, nhưng đóng vai trò quyết định trong tổ chức và hoạt động của cơ quan báo chí Bộ phận quản lý lãnh đạo và quản lý toàn bộ các bộ phận, các thành viên của cơ quan báo chí, phân công nhiệm vụ và phối hợp liên kết hoạt động của tất cả các bộ phận, thành viên, xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch ấy Trong bộ phận quản lý cũng diễn ra sự phân công lao động theo chức năng, mỗi thành viên trong bộ phận quản lý phụ trách một hay một số mặt công tác nào đó, thực hiện một hay một số chức năng nào đó trong công tác lãnh đạo và quản
lý chung đối với cơ quan báo chí
Bộ phận thừa hành: gồm toàn bộ các bộ phận và các thành viên làm
nhiệm vụ chuyên môn còn lại trong cơ quan báo chí, chịu sự lãnh đạo và quản
lý của bộ phận quản lý Bộ phận thừa hành lại được hình thành từ hai bộ phận
Trang 36nhỏ hơn có vị trí, vai trò hoạt động khác nhau đó là bộ phận trực tiếp làm nội dung và bộ phận dịch vụ - kỹ thuật
Còn nói về quản lý ở cấp vi mô, tức là quản lý trong nội bộ toà soạn
báo chí, PGS,TS Nguyễn Văn Dững, Cơ sở lý luận báo chí [10], nêu quan
điểm: Tổ chức - quản lý ở cấp vi mô (toà soạn báo chí) là công việc tổ chức quản lý bảo đảm cho sản phẩm báo chí (số báo, chương trình phát thanh, truyền hình…) được xã hội hóa và tuân thủ theo tiêu chí, chất lượng, đúng tôn chỉ mục đích, khuynh hướng chính trị đã xác định Người đứng đầu cơ quan báo chí lãnh đạo và quản lý toà soạn báo chí về mọi mặt, bảo đảm thực hiện đúng tôn chỉ mục đích và những yêu cầu bắt buộc ghi trong giấy phép xuất bản, chịu trách nhiệm trước thủ trưởng cơ quan chủ quản, trước pháp luật và
dư luận xã hội về mọi hoạt động của cơ quan báo chí do mình phụ trách Giúp việc cho người đứng đầu toà soạn báo chí - tổng biên tập (hay giám đốc đài phát thanh, truyền hình) có các phó tổng biên tập hoặc các phó giám đốc
Về đại thể, hoạt động tổ chức, quản lý này cần bao quát và ưu tiên giải quyết các loại quan hệ sau:
Thứ nhất, thiết lập, phát triển, củng cố và mở rộng các quan hệ đối
ngoại (với cơ quan cấp trên, với các cơ quan tổ chức đồng cấp, với công chúng - khách hàng - thị trường…), bảo đảm cho cơ quan báo chí nhanh chóng định vị và nâng cao vai trò, vị thế xã hội của mình Đối với mảng quan
hệ này, đòi hỏi người đứng đầu cơ quan báo chí cần có khả năng thiết lập, củng cố và phát triển các quan hệ nhằm tạo thế trận và địa bàn hoạt động cho
cơ quan báo chí
Thứ hai, quan hệ đối nội - thiết lập, duy trì các đầu mối tổ chức các bộ
phận công việc đảm bảo phát huy tối đa nguồn lực tòa soạn, cơ quan báo chí
và kết nối nguồn lực xã hội trong quá trình thu thập, xử lý, sản xuất và truyền tải thông tin đến công chúng nhanh chóng và hiệu quả nhất Trên thực tế, vai
Trang 37trò và vị thế của cơ quan báo chí phụ thuộc vào uy tín và năng lực nghề nghiệp của Tổng biên tập; mặt khác sản phẩm báo chí thể hiện rõ diện mạo, văn hóa, nhân cách và phẩm chất nghề nghiệp của người đứng đầu cơ quan báo chí - nhất là đối với cơ quan báo in và báo điện tử Trong kinh tế thị trường, lao động tổ chức quản lý cơ quan báo chí còn bao gồm lao động quản trị doanh nghiệp Tính chất và mức độ quản trị doanh nghiệp phụ thuộc vào tính chất, loại hình, chính sách và cơ chế hoạt động của cơ quan báo chí
Trong thực tế, muốn có một sản phẩm báo chí hay, hấp dẫn công chúng thì phải có đội ngũ nhà báo giỏi nghề, nhưng khi đã có đội ngũ báo chí giỏi nghề chưa chắc đã có sản phẩm báo chí hay, hấp dẫn công chúng xã hội Điều
đó phụ thuộc vào năng lực và tính chuyên biệt của Tổng biên tập (hay giám đốc) cơ quan báo chí Tổng biên tập là một nghề, nhưng trước hết phải thạo nghề báo mới có khả năng làm cho cơ quan báo chí phát triển ở cả bề rộng lẫn
bề sâu theo đúng ý nghĩa của nó
Như vậy, quản lý trong nội bộ toà soạn là làm sao phải thiết lập và đảm bảo cho guồng máy trong toà soạn báo chí hoạt động nhịp nhàng, trôi chảy, duy trì các bộ phận trong toà soạn phát huy tối đa nguồn lực tòa soạn cũng như kết nối nguồn lực xã hội trong quá trình thu thập, xử lý, sản xuất và truyền tải thông tin đến công chúng nhanh chóng và hiệu quả nhất
1.1.2 Tạp chí chuyên ngành trong Tập đoàn kinh tế nhà nước
1.1.2.1 Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam
+ Quan điểm về Tập đoàn kinh tế nhà nước
Theo Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương CIEM, khái niệm Tập đoàn kinh tế được hiểu là một tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu và các liên kết khác xuất phát từ lợi ích của các bên tham gia Trong mô hình này, “công ty mẹ”
Trang 38nắm quyền lãnh đạo, chi phối hoạt động của “công ty con” về tài chính và chiến lược phát triển.” [60]
Còn theo TS.Trần Tiến Cường, Trưởng ban nghiên cứu cải cách và phát triển doanh nghiệp (Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế TW), trong dự thảo Nghị định về hình thành, tổ chức, hoạt động và giám sát đối với Tập đoàn kinh tế nhà nước thì Tập đoàn kinh tế là nhóm các công ty, liên kết chủ yếu dưới hình thức công ty mẹ - công ty con, có từ hai cấp doanh nghiệp trở lên, tạo thành tổ hợp kinh doanh gắn bó với nhau [7]
Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam có các đặc điểm như sau: Các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam được hình thành chủ yếu từ việc chuyển đổi và tổ chức lại các tổng công ty nhà nước theo quyết định của Chính phủ Là một trong những công cụ điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ - các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hoạt động trong những ngành kinh tế mũi nhọn, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế theo mục tiêu, chiến lược phát triển của từng Tập đoàn Mối quan hệ giữa Tập đoàn với
bộ, ngành và Chính phủ đó là: Nhà nước là chủ sở hữu của các Tập đoàn kinh
tế nhà nước ở Việt Nam Chính phủ thống nhất thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty mẹ và đối với phần vốn nhà nước tại các Tập đoàn kinh tế nhà nước; Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập công ty
mẹ, quyết định tổ chức lại, giải thể, chuyển đổi sở hữu công ty mẹ theo đề nghị của bộ quản lý ngành và ý kiến của các bộ, ngành có liên quan
Từ các quan điểm về Tập đoàn kinh tế và các đặc điểm của Tập đoàn kinh tế nhà nước như đã nêu ở trên, mặc dù còn có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng phần lớn đều đồng ý đưa ra quan điểm lý giải như sau:
“Tập đoàn kinh tế nhà nước” được hiểu là tổ hợp lớn các doanh nghiệp có tư cách pháp nhân hoạt động trong một hay nhiều ngành khác nhau, có quan hệ về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, đào tạo, nghiên cứu
Trang 39và các liên kết khác; hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con; Nhà nước là chủ sở hữu của các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam Chính phủ thống nhất thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà nước đối với công ty mẹ
và đối với phần vốn nhà nước tại các Tập đoàn kinh tế nhà nước; là một trong những công cụ điều hành kinh tế vĩ mô của Chính phủ - các Tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam hoạt động trong những ngành kinh tế mũi nhọn, những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế theo mục tiêu nhất định
+ Hiện nay ở Việt Nam có các Tập đoàn kinh tế nhà nước đang hoạt động, bao gồm Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam, Tập đoàn Bưu chính - Viễn thông Việt Nam, Tập đoàn Dệt may Việt Nam, Tập đoàn Viễn thông quân đội, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam Có thể nói, trong quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, các Tập đoàn kinh tế nhà nước đã và đang phát triển không ngừng vận
động theo cơ chế thị trường, đóng vai trò quan trọng Một là, công cụ hữu hiệu điều tiết vĩ mô nền kinh tế, tạo nên sức mạnh kinh tế quốc gia Hai là, thực hiện các nhiệm vụ chính trị - xã hội mà nhà nước giao Ba là, làm gia tăng sức mạnh cạnh tranh của cả Tập đoàn và công ty thành viên Bốn là, tổ
chức kinh doanh, mang lại lợi nhuận thích đáng cho Nhà nước
1.1.2.2 Đặc điểm của các Tạp chí chuyên ngành trong Tập đoàn kinh
tế nhà nước
+ Phục vụ ngành, lĩnh vực
Đây là đặc điểm cốt lõi và xuyên suốt nhất của các Tạp chí chuyên
ngành trong Tập đoàn kinh tế nhà nước Cụ thể, các Tạp chí chuyên ngành có
các chức năng, nhiệm vụ của mình, đó là: thông tin, tuyên truyền chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước và chủ trương, định hướng chỉ đạo của một bộ, ngành về lĩnh vực bộ, ngành quản lý và các lĩnh
Trang 40vực liên quan; Giới thiệu các công trình nghiên cứu khoa học, công nghệ, sáng chế, sáng kiến, kinh nghiệm trong sản xuất, kinh doanh và quản lý của ngành; Phản ánh và hướng dẫn dư luận trong lĩnh vực khoa học quản lý, kinh
tế, công nghệ của ngành và là diễn đàn ngôn luận của các nhà khoa học, các nhà chuyên môn trong lĩnh vực đó
+ Mô hình về tài chính của Tạp chí chuyên ngành
Tác giả Nguyễn Hữu Trung trong luận văn thạc sĩ báo chí học (2013)
với chủ đề “Vấn đề tự chủ tài chính ở các tạp chí kinh tế” [57] có nêu:
Đối với các Tạp chí chuyên ngành ở nước ta hiện nay, đa phần được bao cấp toàn bộ hoặc bao cấp một phần; phần tự chủ chỉ tập trung vào nguồn thu từ quảng cáo và một số dịch vụ gia tăng Một số hình thức chủ yếu trong hạch toán cân đối thu chi tài chính của các Tạp chí chuyên ngành như:
- Bao cấp toàn bộ đầu vào, đầu ra, lương thưởng và mua sắm tài sản, công cụ lao động Ví như ở một số Tạp chí chuyên ngành, nguồn thu từ quảng cáo, dịch vụ gia tăng (nếu có) sau khi trích tỷ lệ hoa hồng cho tổ chức, cá nhân khai thác sẽ được nhập vào quỹ chung của đơn vị và phân phối lại theo quy định chi tiêu tài chính của cơ quan chủ quản
- Bao cấp đầu vào, gồm chi phí in ấn, lương, thưởng, cơ sở vật chất, công cụ dụng cụ lao động Ở loại hình này, tạp chí đó phải xây dựng kế hoạch phát hành (bán có thu tiền) từ tạp chí và khai thác nguồn thu từ quảng cáo và dịch vụ gia tăng theo một kế hoạch ấn định
- Bao cấp đầu vào và một phần đầu ra, gồm chi phí in ấn, lương, thưởng, cơ sở vật chất, công cụ dụng cụ lao động, một phần đầu ra (mua một
số lượng ấn phẩm tạp chí nhất định để phục vụ nhiệm vụ của cơ quan chủ quản) Ở loại hình này, tạp chí đó phải xây dựng kế hoạch phát hành bổ sung ngoài số lượng “bán” cho cơ quan chủ quản và khai thác nguồn thu từ quảng cáo, dịch vụ gia tăng theo một kế hoạch ấn định