1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phản biện xã hội trên các tạp chí thuộc viện hàn lâm khoa học xã hội việt nam (qua khảo sát 5 tạp chí tạp chí những vấn đề kinh tế và chính trị thế giới, tạp chí nhà nước và pháp luật, tạp chí nghiên cứu kinh tế, tạp ch

103 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Một số khái niệm cơ bản (18)
  • 1.2. Khái quát về các tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (32)
  • 1.3. Những vấn đề chủ yếu phát huy vai trò phản biện xã hội trên các tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (37)
  • hương 2: THỰC TRẠNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRÊN TẠP CHÍ VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM (18)
    • 2.1. Giới thiệu các tạp chí khảo sát (45)
    • 2.2. Số lượng bài viết phản biện xã hội trên các tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (0)
    • 2.3. Thực trạng về nội dung phản biện xã hội trên các tạp chí của Viện Hàn lâm (54)
    • 2.4. Những ưu điểm và hạn chế trong vấn đề phản biện xã hội của các tạp chí, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam. Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra (62)
  • hương 3: NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ PHẢN BIỆN XÃ HỘI ỦA CÁC TẠP CHÍ CỦA VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY (44)
    • 3.1. Những yêu cầu mới đối với vấn đề phản biện xã hội trên các tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam hiện nay (79)
    • 3.2. Những giải pháp chủ yếu nâng cao chất lượng phản biện xã hội trên tạp chí Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam giai đoạn hiện nay (0)
  • KẾT LUẬN (93)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (96)
  • PHỤ LỤC (101)

Nội dung

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN NGUYỄN THỊ THANH PHƯƠNG VẤN ĐỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRÊN CÁC TẠP CHÍ CỦA VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM Qua khảo sát 5 tạp chí: Tạp chí Những vấn đề

Một số khái niệm cơ bản

Ngay từ thời sơ khai, đời sống con người và xã hội loài người đã có những hoạt động mang tính phản biện xã hội: tiếp thu các yếu tố tiến bộ, hợp lý, sửa chữa và loại bỏ những sai lệch trong cuộc sống hàng ngày Khi xã hội phát triển, các hành vi tự phát ấy dần hình thành hoạt động tự giác và có tổ chức, bắt đầu từ phản biện trong lao động, sản xuất và xây dựng nhằm bảo đảm sự phát triển và trật tự xã hội; rồi lan sang phản biện trong cải tiến, phát minh, khoa học, xây dựng đời sống văn hóa, xã hội, nghệ thuật; cao hơn nữa là phản biện xã hội trong xây dựng chính sách, pháp luật và duy trì nhà nước Đó chính là quá trình hình thành và tồn tại của phản biện xã hội trong đời sống con người.

Phản biện xã hội ngày nay được xem là một yêu cầu khách quan của sự phát triển Ở Việt Nam, khái niệm này được nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội X của Đảng Cộng sản Việt Nam khi Nhà nước ban hành cơ chế để Mặt trận và các đoàn thể thực hiện tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội; và tiếp tục được củng cố tại Văn kiện Đại hội XI khi Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân được giao nhiệm vụ tổ chức, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, khắc phục tình trạng hành chính hóa, phát huy vai trò nòng cốt trong đoàn kết nhân dân, thực hiện dân chủ, giám sát và phản biện xã hội, tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh Những định hướng này cho thấy phản biện xã hội là một vấn đề rất quan trọng và thiết yếu đối với đời sống xã hội cũng như chính trị của nước ta Phản biện xã hội là hoạt động giám sát, đánh giá và đóng góp xây dựng của Mặt trận và các đoàn thể nhằm tăng cường dân chủ, minh bạch và hiệu lực quản lý nhà nước.

Cho đến nay, chưa có Từ điển Tiếng việt nào đưa ra khái niệm “phản biện xã hội” mà chỉ có khái niệm “phản biện”

Theo âm Hán Việt, thì “phản” nghĩa là phê phán, “biện” là nói có lập luận Trong tác phẩm “Từ điển Hán - Việt” của Thiều Chiểu cũng có nói rõ: phản biện là tranh luận ngược lại, tranh luận theo cái nhìn ngược lại Như vậy, theo nghĩa Hán - Việt thì phản biện là tranh luận với những ý kiến có trước bằng lập luận theo chiều hướng ngược lại hướng ban đầu Do không bao hàm tính đúng hay sai nên sự phản biện có thể đúng, cũng có thể sai Cách định nghĩa trên đơn thuần xét trên phương diện ngữ nghĩa học

Theo Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ do Hoàng Phê chủ biên, thì

Phản biện là quá trình đánh giá chất lượng một công trình khoa học khi nó được trình bày để bảo vệ trước hội đồng chấm thi nhằm lấy học vị Quá trình này xem xét tính hợp lý của phương pháp, tính logic của kết quả và đóng góp của nghiên cứu, đồng thời kiểm tra sự phù hợp với chuẩn mực khoa học và giáo dục Người phản biện nêu rõ ưu điểm, chỉ ra nhược điểm và đề xuất các cải tiến để nâng cao chất lượng công trình Kết quả phản biện ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định cấp bằng hay học vị và đảm bảo luận án được đánh giá công bằng trước hội đồng.

Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg, ngày 30 tháng 1 năm 2002, của Thủ tướng Chính phủ về hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam quy định phản biện được hiểu là

Hoạt động này tập trung vào việc cung cấp thông tin và tư liệu, kết hợp với các ý kiến phân tích, đánh giá tính khả thi và kiến nghị về sự phù hợp của nội dung đề án đối với các mục tiêu đã đề ra và các điều kiện ràng buộc ban đầu hoặc thực trạng hiện tại.

Theo cuốn sách giải thích một số thuật ngữ trong Văn kiện tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam, phản biện được hiểu là quá trình nhận xét, đánh giá và thẩm định các công trình khoa học, dự án và đề án ở nhiều lĩnh vực khác nhau [43, tr.182] Đây là hoạt động mang tính chuyên môn nhằm xem xét kỹ lưỡng nội dung và mức độ khả thi của các đề án trước khi đưa ra quyết định.

Trong tác phẩm “Phản biện xã hội và phát huy dân chủ pháp quyền” được nhà xuất bản chính trị quốc gia phát hành năm 2010, tác giả Hồ Bá Thâm đã đưa ra một định nghĩa về phản biện:“Phản biện là một thể hiện của các phản hành động xuất hiện một cách tự nhiên trong một xã hội mà ở đó mỗi con người đều tự do bày tỏ các nguyện vọng của mình Phản biện góp phần điều chỉnh các khuynh hướng kinh tế, văn hóa, chính trị, làm cho khuynh hướng đó trở nên khoa học hơn, đúng đắn hơn, gắn với đời sống con người hơn” [41]

Tuy cách diễn đạt khác nhau, nhưng nhìn chung đều thống nhất ở những quan niệm về phản biện trong khoa học:

Phản biện là hoạt động của một chủ thể—tổ chức hoặc cá nhân—nhắm thẩm định và đánh giá chất lượng cũng như giá trị khoa học của một sản phẩm nghiên cứu do chính cá nhân hoặc tổ chức khác tạo ra Quá trình này nhằm kiểm chứng tính đáng tin cậy của kết quả, tính hợp lý của phương pháp và sự đóng góp của công trình đối với lĩnh vực khoa học, đồng thời cung cấp phản hồi mang tính xây dựng để cải thiện chất lượng nghiên cứu Các sản phẩm được phản biện có thể là bài báo khoa học, luận văn, đề xuất dự án hay bất kỳ hình thức công trình khoa học nào khác Mục đích của phản biện là nâng cao chuẩn mực khoa học, tăng sự minh bạch và tin cậy của công trình, từ đó giúp cộng đồng đánh giá đúng giá trị khoa học của sản phẩm.

Hoạt động phản biện khoa học là một mối quan hệ hai chiều giữa chủ thể phản biện và chủ thể nhận phản biện Đối tượng nhận phản biện là sản phẩm khoa học, bao gồm các công trình, phát minh, đề án, dự án, công trình nghiên cứu, luận văn, luận án và đề tài khoa học Qua phản biện, chất lượng, tính mới và tính khả thi của các sản phẩm khoa học được đánh giá và cải thiện, đồng thời tạo điều kiện cho quá trình hoàn thiện nghiên cứu và phát triển ý tưởng khoa học.

Trách nhiệm của chủ thể phản biện là phải đưa ra các lập luận, cơ sở khoa học để chứng minh cho sự đánh giá, nhận xét của mình đồng thời để xác định giá trị của sản phẩm khoa học Với cách hiểu như vậy, phản biện thường được gắn với lĩnh vực khoa học và kỹ thuật nên trong đời sống xã hội, người ta hay nói đến khái niệm “phản biện khoa học” hay “phản biện kỹ thuật”

Phản biện trong khoa học là hình thức phản biện xuất hiện chính thức đầu tiên tại nước ta, sau đó mới phát triển thêm các loại hình phản biện khác Tuy nhiên, cần hiểu rõ rằng việc nhận xét, đánh giá, bình luận, thẩm định, kiến nghị… chỉ là các hình thức, các hoạt động cụ thể của phản biện Phản biện với nghĩa rộng đã bao hàm tất cả các hoạt động đó Trong phản biện, việc quan trọng nhất là vừa phát hiện - khẳng định để đồng tình với vấn đề, vừa phát hiện - phủ định có tính phê phán hay đặt lại vấn đề Theo tác giả Nguyễn Trần Bạt, phản biện có thể dẫn đến phản bác, nhưng đó chỉ là một khả năng có thể xảy ra trong quá trình phản biện Phản bác chỉ là phê phán, chống đối mang yếu tố chủ quan còn phản biện có thể bao gồm cả yếu tố đồng tình hoặc phê phán nhưng phản biện phải đảm bảo tính khách quan và không bị chi phối bởi quan điểm cá nhân của người phản biện

Hiện nay, khái niệm phản biện xã hội được nhiều người xây dựng trên cơ sở nội hàm của khái niệm phản biện, và vì vậy mà cũng có nhiều quan niệm khác nhau về vấn đề này Có thể điểm qua một số quan niệm về phản biện xã hội như sau:

Phản biện xã hội là quá trình đưa ra các lập luận và phân tích nhằm phát hiện, chứng minh, khẳng định, bổ sung hoặc bác bỏ một đề án xã hội đã được hình thành và công bố trước đó Hoạt động này giúp làm rõ ưu nhược điểm của các phương án, gợi ý cải tiến và đảm bảo tính minh bạch của quyết định công cộng Thông qua phản biện, người dân và các tổ chức có thể đóng góp ý kiến, kiểm tra cơ sở dữ liệu và đánh giá tác động xã hội của dự án trước khi quyết định được áp dụng Đây là công cụ quan trọng trong quy trình ra quyết định, nhằm nâng cao chất lượng chính sách và sự đồng thuận xã hội.

Phản biện xã hội là phản biện nói chung, nhưng có quy mô và lực lượng rộng rãi hơn của xã hội, của nhân dân và các nhà khoa học về nội dung, phương hướng, chủ trương, chính sách, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, khoa học - công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường, trật tự an ninh chung của toàn xã hội của Đảng, Nhà nước và các tổ chức liên quan [43, tr.182]

Khái quát về các tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

1.2.1 Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Hơn 60 năm trước, ngày 2/12/1953, tại Tân Trào, địa danh lịch sử trong chiến khu Việt Bắc, Ban nghiên cứu Lịch sử - Địa lý - Văn học trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Ðảng Lao động Việt Nam được thành lập theo

Quyết định số 34/NQ/TW với 14 cán bộ, nhân viên do nhà sử học Trần Huy Liệu làm trưởng Ban Ban có nhiệm vụ sưu tầm và nghiên cứu và biên soạn những tài liệu về lịch sử, địa lý, văn hóa Việt Nam đồng thời cũng nghiên cứu và giới thiệu lịch sử, địa lý văn hóa các nước bạn nhằm đáp ứng các yêu cầu sau:

- Góp phần vào việc bồi dưỡng lý luận về chủ nghĩa Mác - Lê nin và đường lối cách mạng của Đảng

- Góp phần nâng cao tinh thần yêu nước và tinh thần quốc tế vô sản của nhân dân ta

- Phê phán những quan điểm, tư tưởng phản động sai lầm

- Phát triển giao lưu văn hóa, khoa học với các nước Ðây cũng chính là tiền thân của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam ngày nay

Sau ngày miền Bắc được giải phóng, nhiệm vụ trọng tâm là phục hồi kinh tế sau chiến tranh và thực hiện công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa nhằm xây dựng chủ nghĩa xã hội và củng cố miền Bắc như nền tảng cho sự thống nhất đất nước Giai đoạn này đòi hỏi đất nước tăng cường phát triển khoa học và công nghệ nói chung, trong đó khoa học xã hội và nhân văn đóng vai trò then chốt cho quá trình đổi mới và phát triển bền vững.

Ngày 4 tháng 3 năm 1959, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã ký Sắc lệnh số 01/SL thành lập Ủy ban Khoa học Nhà nước trực thuộc Hội đồng Chính phủ Ban Khoa học xã hội nằm trong cơ cấu tổ chức của Ủy ban khoa học Nhà nước

Nhiệm vụ chủ yếu của Ban Khoa học xã hội lúc này là tập trung thực hiện các vấn đề sau đây:

- Xây dựng tổ chức, đặt nền móng cho Viện khoa học xã hội Việt Nam sau này

- Tích cực tham gia nghiên cứu một số vấn đề phục vụ nhiệm vụ chính trị của Đảng và Nhà nước

- Gấp rút đào tạo cán bộ cho khoa học xã hội

- Mở rộng quan hệ quốc tế về khoa học xã hội

Ngày 11/10/1965, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định tách Ủy ban Khoa học Nhà nước thành hai cơ quan độc lập là Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nhà nước và Viện Khoa học xã hội, theo Quyết định số 165/TVQH ngày 11/10/1965 của Quốc hội.

Ngày 19/6/1967, Ủy ban thường vụ Quốc hội đã ra Quyết định số 47/TVQH về việc chuyển Viện Khoa học xã hội thành Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam

Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam là trung tâm nghiên cứu và quản lý việc nghiên cứu khoa học xã hội của nước ta, với nhiệm vụ chủ yếu là tập trung phân tích các vấn đề khoa học xã hội và định hướng nghiên cứu để đóng góp vào sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ủy ban vận dụng chủ nghĩa Mác-Lênin và học thuyết duy vật biện chứng cùng duy vật lịch sử để giải thích và làm sáng tỏ các hiện tượng xã hội, từ đó đề xuất các giải pháp và chính sách phù hợp với mục tiêu phát triển đất nước.

Trung tâm là khối tổ chức tập hợp toàn bộ cán bộ nghiên cứu khoa học xã hội trên toàn quốc, là chỗ dựa của Trung ương Đảng và Chính phủ trong lĩnh vực nghiên cứu lý luận, và là nền tảng cho các cơ quan giảng dạy cũng như truyền bá khoa học xã hội, giúp kết nối giữa nghiên cứu lý luận với công tác đào tạo và phổ biến kiến thức xã hội trên toàn quốc.

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam là cơ quan trực thuộc Chính phủ, chuyên nghiên cứu những vấn đề cơ bản của khoa học xã hội và cung cấp luận cứ khoa học cho Đảng và Nhà nước trong việc hoạch định đường lối, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển nhanh và bền vững theo định hướng xã hội chủ nghĩa; đồng thời thực hiện tư vấn chính sách phát triển, đào tạo sau đại học về khoa học xã hội và tham gia phát triển tiềm lực khoa học xã hội của cả nước Viện có tên giao dịch quốc tế bằng tiếng Anh là Vietnam Academy of Social Sciences, viết tắt là VASS.

Hơn 60 năm lao động và sáng tạo, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam đã công bố hàng nghìn công trình khoa học, hàng chục nghìn bài báo trên tạp chí trong và ngoài nước và hơn 7.000 đầu sách, đóng góp nguồn tri thức căn bản cho phát triển kinh tế - xã hội của đất nước Các kết quả nghiên cứu của viện đã được Đảng, Nhà nước và xã hội tôn vinh và đánh giá cao, nổi bật là 20 công trình và cụm công trình được trao Giải thưởng Hồ Chí Minh và 24 công trình và cụm công trình được trao Giải thưởng Nhà nước Nhiều công trình khác dù chưa nhận giải thưởng vẫn là nguồn tri thức nền tảng, chỉ dẫn và định hướng cho các hoạt động kinh tế - xã hội, giải quyết các vấn đề thực tiễn, thúc đẩy xã hội vận động theo chiều tích cực, mở mang dân trí và làm phong phú đời sống tinh thần của xã hội.

Vào thế kỷ 21, khoa học xã hội cùng với bản chất nhân văn vốn có đã trở thành công cụ thiết yếu cho mọi chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển Nhờ phân tích xã hội, hiểu biết tâm lý và bối cảnh văn hóa, các dự án kinh tế được thiết kế và triển khai một cách toàn diện, nhằm đạt hiệu quả bền vững và tăng trưởng có cộng hưởng với cộng đồng Ngược lại, thiếu đi khoa học xã hội và nhân văn dễ khiến các đề án kinh tế bỏ qua nhu cầu thực tế của người dân, dẫn tới kết quả thiếu tính khả thi và bất ổn dài hạn.

Trong một xã hội thiếu đi sự thẩm định và phản biện cần thiết về các vấn đề xã hội và con người, con người dễ rơi vào tư duy chủ quan, thiếu luận cứ, từ đó hạn chế tính khả thi của các giải pháp và làm nảy sinh thêm nhiều vấn đề xã hội.

1.2.2 Khái quát về các tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam duy trì một hệ thống các tạp chí khoa học có lịch sử hình thành và phát triển rất sớm, gắn bó chặt chẽ với sự hình thành và phát triển của các viện nghiên cứu chuyên ngành Từ tờ Văn - Sử - Địa ra đời ở Chiến khu Việt Bắc đến nay, hệ thống gồm 13 tạp chí khoa học bằng tiếng Anh và 33 tạp chí bằng tiếng Việt Trong số các tạp chí tiếng Việt có nhiều tạp chí được xuất bản cả bằng tiếng Anh Xu hướng phát triển của hệ thống tạp chí Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam là mỗi viện nghiên cứu chuyên ngành đều có một tạp chí khoa học thu hút đông đảo các nhà nghiên cứu và giảng dạy khoa học xã hội và nhân văn cả nước tham gia, như diễn đàn khoa học của cả giới.

Về mặt tổ chức, ngoài Tòa soạn Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam trực thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam, hệ thống còn có hơn 30 Tòa soạn khác nằm trong cơ cấu của các Viện nghiên cứu chuyên ngành và Tòa soạn tạp chí Nhân lực Khoa học xã hội thuộc Học viện Khoa học xã hội.

Phần lớn các tạp chí của Viện Khoa học xã hội Việt Nam ra từ 6-12 số mỗi năm, số còn lại từ 2-4 số mỗi năm, và số lượng bản in của các tạp chí ngày càng tăng Hiện nay, tạp chí có số bản in cao nhất là Tạp chí Ngôn ngữ học, tiếp đến là Nhà nước và Pháp luật, Nghiên cứu Kinh tế, Dân tộc học và Văn học với 1500-2000 bản in mỗi kỳ Các tạp chí như Triết học, Khoa học xã hội, Hán Nôm, Nghiên cứu Tôn giáo, Nghiên cứu Lịch sử, Thông tin Khoa học xã hội có 1000-1300 bản in/kỳ Các tạp chí còn lại có số bản in mỗi kỳ từ 500-700 bản Nội dung các bài đăng trên tạp chí rất phong phú và đa dạng, nhưng hướng trọng tâm phục vụ sự nghiệp đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cũng như sự phát triển của chính các ngành khoa học xã hội và nhân văn.

THỰC TRẠNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRÊN TẠP CHÍ VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Số lượng bài viết phản biện xã hội trên các tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

CỦA VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

Kể từ lần đầu được công khai tại Đại hội Đảng lần thứ X, khái niệm phản biện xã hội ở Việt Nam vẫn chưa được đồng thuận, gần một thập kỷ trôi qua mà nhiều người vẫn còn hiểu mơ hồ về nó Điều này dẫn tới hiểu lầm cả với công chúng lẫn người làm báo: phản biện xã hội được xem là một vấn đề quá lớn, quá khó khăn, đòi hỏi nhà báo có bản lĩnh và tinh thần thép để đối mặt với các chính sách và lợi ích nhóm Thực tế, theo khảo sát, phản biện xã hội tồn tại ở khắp nơi và ở nhiều cấp độ khác nhau; không chỉ là những bài viết phân tích, đánh giá trực diện các chính sách hay các điều luật mới mới có thể được coi là phản biện xã hội Một bài viết có thể được xem là phản biện xã hội khi nó gợi ý về các chính sách trên thế giới có thể áp dụng cho Việt Nam, hoặc phân tích tình hình kinh tế ở các nước phát triển và xu hướng cải cách mà các chuyên gia đánh giá có tính phản biện.

Theo ông Bùi Xuân Đức:

Phản biện xã hội có nhiều cấp độ và hình thức khác nhau, phản ánh tính xã hội của nó trong đời sống công chúng Có những bài viết phản biện trực tiếp một vấn đề cụ thể, cũng có những bài viết mang tính phản biện gián tiếp và chỉ đóng vai trò tham khảo cho quá trình đánh giá, như giới thiệu kinh nghiệm nước ngoài hoặc phản biện các vấn đề ở nước ngoài Cơ quan báo chí nào có khả năng thực hiện đa dạng hình thức phản biện như vậy chứng tỏ họ đã quan tâm sâu sắc đến chủ đề phản biện và tạo ra không gian cho đối thoại công chúng.

PGS.TS Bùi Xuân Đức, nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu Mặt trận thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cho rằng lâu nay báo chí nước ta đã thực hiện phản biện xã hội nhưng lại chưa nhận ra rằng mình đang làm công việc phản biện Thông qua các khái niệm trình bày ở chương I và qua phân tích thực trạng phản biện xã hội trên các tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, tác giả mong muốn định hình một quan niệm đúng về phản biện xã hội và gợi ý cách thực hiện phản biện trên báo chí nói chung và trên các tạp chí khoa học nói riêng, để phản biện xã hội không còn là vấn đề khó hiểu hay xa lạ khiến mọi người e ngại mỗi khi được đề cập tới.

2.1 Giới thiệu các tạp chí khảo sát

2.1.1 Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới

Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới là tạp chí khoa học kinh tế do Viện Kinh tế và Chính trị thế giới thuộc Viện hàn lâm Khoa học và xã hội Việt Nam xuất bản Tạp chí công bố các kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài Viện về các vấn đề kinh tế thế giới và quan hệ kinh tế quốc tế, các vấn đề chính trị thế giới, cải cách và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Tạp chí cũng là nơi thường xuyên cung cấp thông tin, tư liệu mới về tình hình và chính sách kinh tế xã hội của các nước trên thế giới, quan hệ và chính sách kinh tế đối ngoại của Việt Nam, nhằm góp phần cung cấp những luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách kinh tế, đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới và đẩy mạnh công nghiệp hoá

Tạp chí được xuất bản hàng tháng bằng tiếng Việt, kèm theo mục lục bằng tiếng Anh và có lượng phát hành khoảng 500–700 bản mỗi kỳ Tổng biên tập hiện tại của tạp chí là PGS.TS Chu Đức Dũng.

2.1.2 Tạp chí Nhà nước và Pháp luật

Tạp chí Nhà nước và Pháp luật là cơ quan ngôn luận của Viện Nhà nước và Pháp luật, đồng thời là diễn đàn khoa học cho các nhà nghiên cứu luật học và người thực tiễn trong ngành Tạp chí có nhiệm vụ công bố và giới thiệu các kết quả nghiên cứu về lý luận và thực tiễn phát triển của đất nước, cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Nó tham gia trao đổi, thảo luận các vấn đề luật học và thực tiễn phát triển của ngành luật Việt Nam; đồng thời thông tin, giới thiệu thành tựu nghiên cứu luật học từ trong nước và nước ngoài, phổ biến tri thức pháp lý và góp phần nâng cao trình độ dân trí và phát triển ngành luật.

Tạp chí được xuất bản hàng tháng, bằng tiếng Việt, với số lượng khoảng 1500 - 2000 quyển mỗi kỳ Tổng biên tập hiện nay của Tạp chí là TS

2.1.3 Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội

Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội là cơ quan ngôn luận của Viện Thông tin Khoa học xã hội và là diễn đàn khoa học của giới khoa học xã hội Tạp chí được xuất bản hàng tháng, với sứ mệnh thông tin và giới thiệu các thành tựu nghiên cứu của giới khoa học xã hội trong nước và ngoài nước, phổ biến tri thức về xã hội và đóng góp vào sự phát triển của ngành khoa học xã hội cũng như nâng cao dân trí Bên cạnh đó, tạp chí cung cấp thông tin cho cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các cơ quan hoạch định chính sách, các tổ chức nghiên cứu và đào tạo, doanh nghiệp về những vấn đề căn bản và xu hướng phát triển của thế giới, khu vực và Việt Nam, cũng như về khoa học xã hội thế giới và Việt Nam.

Tạp chí được xuất bản hàng tháng bằng tiếng việt Tổng biên tập hiện nay của tạp chí là GS.TS Hồ Sĩ Quý

2.1.4 Tạp chí nghiên cứu Con người

Tạp chí nghiên cứu Con người công bố những kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn về con người và nguồn lực con người trong sự phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam và trên thế giới theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin và tưởng Hồ Chí Minh Với mục đích và chức năng công bố những kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn về con người và nguồn lực con người trong từng vùng lãnh thổ, trong cả nước và cả nước ngoài, nội dung của tạp chí xoay quanh những vần đề về con người và nguồn lực con người, phát hiện vấn đề và đề xuất các giải pháp bồi dưỡng, giáo dục tài năng và nhân tài cho đất nước, phân tích các đặc trưng người Việt Nam: truyền thống và hiện đại; lý giải mối quan hệ giữa con người và môi trường, con người với công nghệ, con người với văn hoá và văn minh, v v

Tạp chí được xuất bản hai tháng một kỳ, với số lượng từ 500 - 700 quyển mỗi kỳ Tổng biên tập hiện nay của Tạp chí là PGS.TSKH Lương Đình Hải

2.1.5 Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế

Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế công bố kết quả nghiên cứu cơ bản và toàn diện về các vấn đề lý luận và thực tiễn của nền kinh tế Việt Nam dưới tác động của toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm làm rõ các xu hướng, thách thức và cơ hội cho tăng trưởng và phát triển bền vững Các bài viết cung cấp luận cứ khoa học vững chắc, giúp nhận diện mô hình và yếu tố tác động, từ đó hỗ trợ hoạch định đường lối, chiến lược và chính sách phát triển kinh tế của đất nước.

- xã hội của Đảng và Nhà nước

Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế là một trong những tạp chí có số lượng xuất bản mỗi kỳ cao nhất trong hệ thống các tạp chí thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, với khoảng 1500-2000 quyển mỗi kỳ Hiện nay, PGS.TS Trần Đình Thiên đảm nhận vai trò tổng biên tập của tạp chí.

2.2 Số ƣợng bài viết phản biện xã hội trên các tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam

Các bài viết phản biện xã hội là các bài viết nội dung phân tích, lập luận về một vấn đề nào đó Bài viết đó có thể khen, cũng có thể chê, nhưng mục đích cuối cùng là nhằm giúp vấn đề được phân tích, lập luận có thể tốt hơn Bài viết mang tính phản biện có thể bao gồm các nội dung sau: giới thiệu vấn đề muốn phản biện; phân tích, lập luận về thực trạng, các ưu điểm và hạn chế; giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện vấn đề phản biện Tuy nhiên, một số bài viết dù không có phần kiến nghị, giải pháp nhưng vẫn hàm chứa sự phản biện thì vẫn được coi là bài viết có mang tính phản biện xã hội

Bên cạnh những yêu cầu về các bài viết mang tính phản biện xã hội với nội dung phản biện về các chủ trương, chính sách, các phương diện đời sống xã hội… thực tiễn còn đòi hỏi nước ta phải xây dựng được hệ thống khái niệm khoa học một cách đầy đủ và thống nhất về phản biện xã hội

Nghiên cứu cho thấy các bài viết phản biện xã hội đăng trên các tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam được phân thành hai loại: bài viết trực tiếp phản biện xã hội và bài viết có liên quan đến phản biện xã hội.

Phản biện xã hội trực tiếp do công dân Việt Nam thực hiện dựa trên quyền và nghĩa vụ được pháp luật thừa nhận; đối tượng của phản biện xã hội trong các bài viết này là các vấn đề đang được quan tâm tại Việt Nam như góp ý dự thảo Hiến pháp, dự thảo Luật và thực trạng kinh tế - xã hội Việt Nam Các bài viết nêu rõ thực trạng, nguyên nhân và đề xuất giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện vấn đề Nội dung phản biện tập trung vào việc làm rõ các vấn đề hiện nay, cung cấp phân tích và giải pháp cụ thể để cải thiện hệ thống pháp luật và đời sống người dân, đồng thời thúc đẩy sự phát triển bền vững Những nội dung này hướng tới xây dựng một xã hội công bằng, minh bạch và đáp ứng yêu cầu của người dân.

Thực trạng về nội dung phản biện xã hội trên các tạp chí của Viện Hàn lâm

Các bài viết phản biện xã hội trên các tạp chí của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam ngày càng phong phú, chất lượng cao và phù hợp với thực tế kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước Khác với báo chí và các tạp chí xã hội thông thường, nội dung ở đây gắn với đời sống hàng ngày của người dân nhưng vẫn mang tính hàn lâm, ở quy mô vĩ mô và có định hướng chính sách Ví dụ, thay vì chỉ nêu ra các vấn đề đền bù đất đai chưa thỏa đáng hay tranh chấp đất ở của một hộ hoặc một nhóm dân cư, các tạp chí này tập trung phản biện về chính sách đất đai và đền bù, từ đó đề xuất giải pháp và định hướng chính sách mang tính hệ thống.

2.3.1 Một số nội dung cơ bản thường được phản biện trên từng tạp chí khảo sát

- Tạp chí Những vấn đề Kinh tế và Chính trị thế giới:

Nội dung phản biện xã hội của tạp chí khá đa dạng, nhưng tập trung chủ yếu vào một số vấn đề sau: giới thiệu các kinh nghiệm, các vấn đề, các đường lối, chính sách về Kinh tế - Chính trị của các nước trên thế giới, đặc biệt là những nền kinh tế gần như Thái Lan, Trung Quốc hoặc các nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật để rút ra bài học, thách thức cũng như triển vọng cho Việt Nam Ngoài ra các bài viết còn tập trung vào phân tích những ưu điểm và hạn chế của nền Kinh tế - Chính trị Việt Nam dựa vào đó để đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách đó thông qua việc so sánh, liên hệ với thế giới

GS TS Võ Đại Lược cho rằng:

Tạp chí Kinh tế chính trị thế giới mang lại thông tin có giá trị cho độc giả và được các lãnh đạo ưa chuộng; nhiệm vụ của tạp chí là giới thiệu kinh nghiệm nước ngoài làm tham khảo cho Việt Nam, với tính chất phê bình thể hiện qua việc trình bày các kinh nghiệm quốc tế có thể đối chiếu với bối cảnh Việt Nam hiện tại; cách phản biện của tạp chí là giới thiệu những kinh nghiệm nước ngoài mà Việt Nam chưa nghĩ đến hoặc chưa áp dụng, nhằm giúp các bên trong nhận diện những thiếu sót và thấy mình đang ở đâu trên đường triển khai chính sách; theo phỏng vấn sâu với GS.TSKH Võ Đại Lược, nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế chính trị thế giới, sự kết nối giữa kinh nghiệm quốc tế và điều kiện nội tại Việt Nam được xem là yếu tố then chốt để tham khảo và định hướng phát triển.

- Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế

Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế tập trung vào phản biện xã hội bằng cách phân tích tổng quan thực trạng và những vấn đề còn tồn tại của nền kinh tế Việt Nam, đồng thời xem xét tác động hai chiều giữa các yếu tố kinh tế với môi trường tự nhiên và an ninh xã hội, từ đó làm rõ những yếu tố ảnh hưởng đến nền kinh tế như nguồn nhân lực và môi trường kinh doanh để đề xuất các khuyến nghị, gợi ý chính sách thiết thực Ngoài ra, tạp chí còn phân tích các chính sách và quyết định liên quan đến kinh tế đất nước như vấn đề phá giá tiền tệ, hiệu quả của sự phối hợp giữa chính sách thương mại và chính sách công nghiệp, đồng thời rút ra các bài học kinh tế từ cả kinh nghiệm nước ngoài và trong nước nhằm cung cấp thông tin và quan điểm phục vụ quá trình quản trị và phát triển kinh tế.

- Tạp chí Nhà nước và pháp luật

Nhà nước và pháp luật phản biện pháp luật Việt Nam hiện nay bằng cách phân tích đổi mới hoạt động lập pháp, đánh giá thực trạng, tồn tại và hạn chế của các quy định pháp luật và từ đó đưa ra ý kiến đóng góp, gợi ý, định hướng xây dựng, bổ sung và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm các lĩnh vực như chính sách tiền lương và hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự Đặc biệt, năm 2013 có nhiều bài viết phân tích, đánh giá nhằm góp ý xây dựng dự thảo luật, như chương IX về chính quyền địa phương và luật trách nhiệm bồi thường nhà nước, được đăng tải nhằm phục vụ nhu cầu phát triển của đất nước.

- Tạp chí Thông tin khoa học

So với các tạp chí khác được phân tích trong luận văn này, tạp chí Thông tin khoa học có nội dung phản biện phong phú và đa dạng, tập trung chủ yếu ở các lĩnh vực văn hóa và chính trị xã hội, với các bài viết đi sâu vào nghiên cứu dư luận xã hội, kinh nghiệm giải quyết mối quan hệ cải cách kinh tế - chính trị, và đề xuất các giải pháp nâng cao trình độ học vấn cùng chất lượng nguồn nhân lực.

- Tạp chí Nghiên cứu con người

Tạp chí Nghiên cứu con người phê bình và phân tích các vấn đề liên quan đến con người, đồng thời xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng đời sống như kinh tế, văn hóa, môi trường và giáo dục; bài viết cũng phê bình về tình hình nguồn nhân lực Việt Nam, nạn bạo hành gia đình và bất bình đẳng xã hội, từ đó đưa ra gợi ý chính sách và khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng đời sống, thúc đẩy nguồn nhân lực cho đất nước và hạn chế tệ nạn xã hội.

2.3.2 Đặc điểm về hình thức thể hiện nội dung của các bài viết phản biện xã hội trên các tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam

2.3.2.1 Những hình thức thể hiện nội dung phản biện xã hội chủ yếu trên các tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam

Có rất nhiều cách thức được sử dụng để thể hiện nội dung phản biện xã hội trên các tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam Trong các tạp chí được khảo sát, các cách thức cơ bản thường gặp gồm phân tích lý luận và dữ liệu, so sánh và đối chiếu các quan điểm khác nhau, phê bình phương pháp và giả thuyết, trình bày luận cứ có bằng chứng và tính thuyết phục, cũng như đề xuất khuyến nghị hoặc chính sách dựa trên bằng chứng với nhấn mạnh tính mới và ý nghĩa xã hội của quan điểm phản biện.

Các bài viết trên tạp chí Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam thường xuyên dựa trên bảng biểu, đồ thị, hình vẽ và số liệu thống kê làm căn cứ để phân tích những thành quả và thực trạng còn tồn tại trong nước, từ đó xác định yêu cầu và định hướng cho thời gian tới Qua phân tích dữ liệu một cách có hệ thống, các bài viết rút ra những gợi ý chính sách dựa trên bằng chứng, nhằm hỗ trợ quyết định và điều chỉnh chiến lược phát triển Điểm nổi bật của phương pháp này là khả năng khái quát diễn biến và tác động của các hiện tượng kinh tế - xã hội thông qua các số liệu định lượng Ví dụ điển hình là các bài nghiên cứu về thương mại hàng hóa giữa Việt Nam với các nước, cho thấy cách tiếp cận dữ liệu để đánh giá thị trường, phản ánh xu thế và đề xuất các giải pháp chính sách nhằm thúc đẩy thông thương và tăng trưởng bền vững.

Thực trạng giáo dục Việt Nam hiện nay cho thấy chất lượng và tiếp cận giáo dục còn chưa đồng đều, tạo ra nguồn nhân lực chưa tương thích với yêu cầu của nền kinh tế hiện đại Trình độ học vấn ở nhiều khu vực vẫn ở mức thấp, trong khi sự thiếu liên kết giữa giáo dục và doanh nghiệp làm giảm khả năng hội nhập và phát triển của người lao động Các thách thức như thiếu đội ngũ giáo viên trình độ cao, hạ tầng trường lớp chưa đồng bộ và chương trình đào tạo còn chưa cập nhật với yêu cầu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Để khai thác hiệu quả nguồn nhân lực, cần nâng cao trình độ học vấn thông qua cải cách hệ thống giáo dục phổ thông và đào tạo nghề, mở rộng cơ hội học tập và nâng cao dân số có trình độ cao ở cả thành thị lẫn nông thôn Các giải pháp then chốt bao gồm tăng cường đào tạo và bồi dưỡng giáo viên, đổi mới chương trình giảng dạy, áp dụng công nghệ giáo dục và giáo dục từ xa, đồng thời đẩy mạnh liên kết giữa trường học và doanh nghiệp Việc này sẽ nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội bền vững.

Việc phân tích sự khác biệt giữa các vùng miền hoặc giữa các quốc gia ở cùng một lĩnh vực như kinh tế hay giáo dục giúp làm nổi bật các khác biệt về chính sách và từ đó giải thích vì sao thực trạng của từng lĩnh vực lại khác nhau, cũng như cách mà những khác biệt này ảnh hưởng đến đời sống của người dân tại vùng miền hay quốc gia đó Trên cơ sở ấy có thể đề xuất các gợi ý điều chỉnh chính sách phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả và bảo đảm quyền lợi cho người dân, ví dụ thông qua so sánh Bộ luật hình sự Trung Quốc và Việt Nam để làm rõ những điểm tiến bộ và hạn chế trong bảo vệ quyền của phụ nữ, được trình bày tham khảo trong bài viết của Vũ Ngọc Dương trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 10/2011 Khoảng cách nhận thức và thực thi chính sách giữa các địa bàn được làm rõ để từ đó đưa ra các định hướng thực tiễn nhằm cải thiện đời sống nhân dân và sự công bằng xã hội ở từng vùng miền và quốc gia.

Đoạn văn này giới thiệu mô hình đang được áp dụng ở nước ngoài và phân tích toàn diện lợi ích kèm hạn chế khi áp dụng vào Việt Nam, từ đó đề xuất các gợi ý thực tế để triển khai hiệu quả và giảm tiêu cực Nghiên cứu dư luận xã hội ở Hoa Kỳ (Phan Tân, Tạp chí Thông tin khoa học xã hội số 12/2014) được dùng làm tham chiếu để rút ra những gợi mở cho Việt Nam, đồng thời phân tích ở góc độ lý thuyết và đánh giá thực trạng áp dụng tại Việt Nam Từ đó đề xuất các điều chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả và giảm thiểu rủi ro, như các vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền ở Việt Nam hiện nay được trình bày trong công trình của Vũ Trọng Dung (Tạp chí Thông tin khoa học xã hội số 6/2014).

Trên bình diện toàn cầu, sự dịch chuyển lợi thế so sánh diễn ra do sự thay đổi về chi phí sản xuất, tiến bộ công nghệ và tái cấu trúc chuỗi cung ứng, khiến các nền kinh tế nhấn mạnh hơn vào giá trị gia tăng và đổi mới sáng tạo Các lĩnh vực chuyển dần từ gia công giản đơn sang các ngành công nghiệp có hàm lượng chất xám cao, dịch vụ và kinh tế số, mở ra cơ hội cho Việt Nam khi tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu Việt Nam có thể mở rộng vị thế bằng cách nâng cao năng suất, phát triển nguồn nhân lực chất lượng và cải thiện hạ tầng để thu hút vốn FDI chuyển giao công nghệ và hình thành liên kết mạnh với đối tác quốc tế Đánh giá xu hướng này đòi hỏi chính sách đổi mới sáng tạo, cải cách thể chế và môi trường kinh doanh thông thoáng, cùng với sự hỗ trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu, từ đó nâng cấp ngành công nghiệp và dịch vụ lên mức cao hơn Nhờ đó Việt Nam có thể đa dạng hóa thị trường, tăng trưởng bền vững và khai thác cơ hội hội nhập ngày càng sâu rộng nhờ chuyển dịch lợi thế cạnh tranh theo hướng giá trị gia tăng và công nghệ.

Phân tích một vấn đề theo dòng thời gian Ví dụ: sau chiến tranh, trước đổi mới, trước khi khủng hoảng kinh tế… Để giúp người đọc thấy được ảnh hưởng của vấn đề cũng như những yêu cầu của xã hội trong giai đoạn mới, từ đó đưa ra khuyến nghị chính sách phù hợp

Phân tích thực trạng, nguyên nhân, bản chất của vấn đề cũng như sự tác động của nó tới những vấn đề xã hội, từ đó đưa ra khuyến nghị, như: Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc: Thực trạng và giải pháp (TS Lê Thanh Tùng và ThS Lê Huyền Trang, Tạp chí Kinh tế chính trị thế giới số 8/2014)

NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ PHẢN BIỆN XÃ HỘI ỦA CÁC TẠP CHÍ CỦA VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY

Ngày đăng: 24/11/2021, 12:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Quang (2010), “Báo chí với phản biện xã hội”, Báo Tiền Phong, ngày 22/6/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí với phản biện xã hội”, "Báo Tiền Phong
Tác giả: Nguyễn Quang
Năm: 2010
3. Nguyễn Thọ Ánh (2012), Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 4. Ban Dân vận Trung ương (1993), Về đại đoàn kết và tăng cường Mặt trậndân tộc thống nhất, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam", NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 4. Ban Dân vận Trung ương (1993), "Về đại đoàn kết và tăng cường Mặt trận "dân tộc thống nhất
Tác giả: Nguyễn Thọ Ánh (2012), Thực hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 4. Ban Dân vận Trung ương
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 1993
5. Ban Tuyên giáo Trung ương (2007), Tăng cường lãnh đạo, quản lý tạo điều kiện để báo chí nước ta phát triển mạnh mẽ, đúng hướng, NXB Lý luận-chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường lãnh đạo, quản lý tạo điều kiện để báo chí nước ta phát triển mạnh mẽ, đúng hướng
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương
Nhà XB: NXB Lý luận-chính trị
Năm: 2007
6. Nguyễn Trần Bạt (2014), “Phản biện xã hội”, Báo điện tử Tầm nhìn (13/7/2014) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phản biện xã hội”, "Báo điện tử Tầm nhìn
Tác giả: Nguyễn Trần Bạt
Năm: 2014
7. Nguyễn Trọng Bình (2007), “Một số ý kiến về phản biện xã hội”, Thông tin Nhà nước và pháp luật, Viện Nhà nước và pháp luật, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số ý kiến về phản biện xã hội”, "Thông tin Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Nguyễn Trọng Bình
Năm: 2007
9. Hoàng Thủy Chung (2010), Tính phản biện xã hội của tác phẩm báo chí, Luận văn thạc sĩ ngành Báo chí, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính phản biện xã hội của tác phẩm báo chí
Tác giả: Hoàng Thủy Chung
Năm: 2010
10. Nguyễn Văn Dững (2007), Tác phẩm báo chí, tập 2, NXB. Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tác phẩm báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB. Lý luận chính trị
Năm: 2007
11. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, NXB Lao Động 12. Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và truyền thông hiện đại, NXB Laođộng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí và dư luận xã hội", NXB Lao Động 12. Nguyễn Văn Dững (2011), "Báo chí và truyền thông hiện đại
Tác giả: Nguyễn Văn Dững (2011), Báo chí và dư luận xã hội, NXB Lao Động 12. Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Lao Động 12. Nguyễn Văn Dững (2011)
Năm: 2011
13. Nguyễn Văn Dững (2013), Cơ sở lý luận báo chí, NXB Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí
Tác giả: Nguyễn Văn Dững
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2013
14. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2006
15. Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
16. Hà Minh Đức (2000), Cơ sở lý luận báo chí đặc tính chung và phong cách, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở lý luận báo chí đặc tính chung và phong cách
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
17. The Missouri Group (2009), Nhà báo hiện đại, NXB Trẻ, tp Hồ Chí Minh 18. Trương Thị Hồng Hà (2007), “Xây dựng cơ chế pháp lý đảm bảo cho nhân dân tham gia hoạt động giám sát phản biện xã hội”, Tạp chí Cộng sản, (8/778), tr. 56-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà báo hiện đại", NXB Trẻ, tp Hồ Chí Minh 18. Trương Thị Hồng Hà (2007), “Xây dựng cơ chế pháp lý đảm bảo cho nhân dân tham gia hoạt động giám sát phản biện xã hội"”, Tạp chí Cộng sản
Tác giả: The Missouri Group (2009), Nhà báo hiện đại, NXB Trẻ, tp Hồ Chí Minh 18. Trương Thị Hồng Hà
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2007
19. Đinh Thu Hằng (2008), “Phát huy vai trò phản biện xã hội của báo chí”, Tạp chí Lý luận và truyền thông, (8) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát huy vai trò phản biện xã hội của báo chí”, "Tạp chí Lý luận và truyền thông
Tác giả: Đinh Thu Hằng
Năm: 2008
20. Đinh Thị Thúy Hằng (2008), Báo chí thế giới xu hướng phát triển, NXB Thông Tấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí thế giới xu hướng phát triển
Tác giả: Đinh Thị Thúy Hằng
Nhà XB: NXB Thông Tấn
Năm: 2008
21. Trần Hậu (2009), “Góp phần tìm hiểu về phản biện xã hội”, Tạp chí Lý luận chính trị (6), tr. 77-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu về phản biện xã hội”, "Tạp chí Lý luận chính trị
Tác giả: Trần Hậu
Năm: 2009
22. Trần Hậu (2009), Các hình thức và giải pháp thực hiện giám sát xã hội và phản biện xã hội đối với các tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị, Chương trình khoa học và công nghệ KX10. 06 - 10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hình thức và giải pháp thực hiện giám sát xã hội và phản biện xã hội đối với các tổ chức và hoạt động của hệ thống chính trị
Tác giả: Trần Hậu
Năm: 2009
23. Phan Văn Kiền (2012) - Phản biện xã của tác phẩm báo chí Việt Nam qua một số sự kiện nổi bật, NXB Thông tin và truyền thông Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phản biện xã của tác phẩm báo chí Việt Nam qua một số sự kiện nổi bật
Nhà XB: NXB Thông tin và truyền thông
24. Trần Danh Lân (2007), Báo chí trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay, Luận văn thạc sĩ ngành Chính trị học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo chí trong cuộc đấu tranh chống tham nhũng ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Trần Danh Lân
Năm: 2007
25. Luật báo chí và các văn bản hướng dẫn thi hành (2004), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật báo chí và các văn bản hướng dẫn thi hành
Tác giả: Luật báo chí và các văn bản hướng dẫn thi hành
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2004

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w