1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tóm tắt luận án Tiến sĩ Ngữ văn: Thể loại văn học trung đại Việt Nam

28 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 765,52 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận án tổng thuật, nghiên cứu một cách tổng quan về thể loại từ ở Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, xem đó như một “bối cảnh rộng” để định vị, so sánh với thể loại từ tại Việt Nam. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM VĂN ÁNH

THỂ LOẠI TỪ

TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

HÀ NỘI - 2014

Trang 2

Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học:

1 GS.TS Trần Ngọc Vương

2 TS Phạm Ngọc Lan

Phản biện 1: GS Nguyễn Huệ Chi - Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Đăng Na - ĐH Sư phạm Nà Nội I Phản biện 3: PGS.TS Nguyễn Phạm Hùng – ĐH KHXH&NV Hà Nội

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại……… vào hồi…… giờ……phút, ngày….tháng…… năm 2014

Có thể tìm hiểu luận án tại:

- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội

Trang 3

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CỦA TÁC GIẢ

ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

1 “Về Nguyễn Húc và bộ Cưu đài thi tập hiện còn”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học,

7 “Về các sáng tác từ của Nguyễn Huy Oánh”, Kỉ yếu hội thảo khoa học danh

nhân văn hóa Nguyễn Huy Oánh, Viện Văn học & Sở Văn hóa, thể thao và du

lịch Hà Tĩnh xuất bản, năm 2008, tr.274-292

8 “Thể loại từ ở Trung Quốc: nguồn gốc và sự vận động của nó xét về phương diện sáng tác”, Thông báo Hán Nôm học 2008, Nxb Khoa học xã hội, H, 2009,

16 “Một trường hợp ứng dụng thể loại Từ khá đặc biệt”, Tạp chí Khoa học Xã hội

& Nhân văn Nghệ An, số 7, tháng 10, năm 2012, tr.28-31

17 “Thể loại Từ ở Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVIII”, Tạp chí Nghiên cứu

và Phát triển, số 8-9 (97-98), năm 2012, tr.32-64

18 “Thể loại từ ở Hàn Quốc trong sự so sánh với truyền thống từ học Đông Á”,

Tạp chí Nghiên cứu Đông bắc Á, số 11 (141), năm 2012, tháng 11, 69-76

19 “Nghiên cứu, giới thiệu thể loại từ ở Việt Nam”, Bốn mươi năm đào tạo và

nghiên cứu Hán Nôm (1972-2012), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H 2013,

tr.405-426

20 “Cổ duệ từ của Miên Thẩm: Văn bản, quan niệm sáng tác và nguồn ảnh hưởng”, Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 11 (501), năm 2013, tr.92-107

V.v…

Trang 4

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Lịch sử văn học ở mức độ nhất định có thể hiểu là lịch sử của các thể loại văn học Do đó, nghiên cứu các thể loại văn học có thể góp phần soi sáng tiến trình lịch sử văn học dân tộc Gần đây, hướng nghiên cứu văn học trung đại theo thể loại được giới nghiên cứu trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm, đã xuất hiện nhiều công trình, luận án nghiên cứu về các thể loại văn học trung đại như tiểu thuyết chữ Hán, tiểu thuyết chương hồi, truyện thơ Nôm, thể kí trung đại Tuy nhiên, đối với

thể loại từ, đến thời điểm này mới chỉ có những nghiên cứu, mô tả bước đầu, đôi khi

còn nhiều nhầm lẫn, chưa đủ để hình dung về sự vận động và phát triển cũng như đóng góp của thể loại này trong văn học trung đại Việt Nam

Từ là thể loại văn học có nguồn gốc Trung Quốc Trong văn học Trung

Quốc, đây là thể loại quan trọng, nhiều thành tựu, đồng thời có ảnh hưởng đối với

văn học các nước Đông Á Nghiên cứu thể loại từ trong văn học trung đại Việt Nam

một mặt có thể thấy rõ vị trí và sự đóng góp của nó cho văn học dân tộc, từ đó soi

sáng thêm cho tiến trình văn học sử; mặt khác, xem xét thể loại từ Việt Nam trong

sự đối sánh với thể loại này ở Trung Quốc và các nước Đông Á khác là hướng mở, không những có thể góp phần làm sáng tỏ quy luật tiếp thu, kế thừa, sáng tạo của văn học dân tộc mà còn giúp nhìn nhận nền văn học quá khứ của dân tộc trong những tương quan rộng hơn

Vì những lí do đó, người viết chọn “Thể loại từ trong văn học trung đại Việt

Nam” làm đề tài luận án của mình

2 Mục đích nghiên cứu

Luận án tổng thuật, nghiên cứu một cách tổng quan về thể loại từ ở Trung

Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, xem đó như một “bối cảnh rộng” để định vị, so sánh

với thể loại từ tại Việt Nam

Đối với thể loại từ tại Việt Nam, luận án sưu tầm, giám định các văn bản có ghi chép tác phẩm từ hiện còn, làm rõ tính chân ngụy của tác phẩm, phân định rõ về tác quyền cũng như niên đại tác phẩm; trên cơ sở đó tổng kết thành tựu sáng tác từ ở

Việt Nam thời trung đại

Tiến hành phân kì từ sử Việt Nam, đồng thời nghiên cứu đặc điểm của thể loại từ Việt Nam qua các thời kì

Người viết có ý hướng triển khai luận án như một công trình khảo cứu -

nghiên cứu một cách có hệ thống và tương đối toàn diện về từ sử Việt Nam

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung nghiên cứu các tác phẩm từ do các tác giả Việt Nam thời

trung đại sáng tác được ghi chép lại qua các thư tịch Hán Nôm hiện còn và qua tư

Trang 5

2

liệu điền dã Trong trường hợp tác phẩm hiện không còn trong các sách Hán Nôm tại Việt Nam, song vẫn được bảo lưu trong các tư liệu hải ngoại thì lấy các tư liệu

hải ngoại để bổ khuyết (như trường hợp Cổ duệ từ của Miên Thẩm)

Khái niệm “trung đại” được dùng trong luận án này giới hạn thời gian từ thế

kỉ X đến hết thế kỉ XIX Do vậy, các tác phẩm từ xuất hiện sau đó, như trong các sách chữ quốc ngữ và báo chí đầu thế kỉ XX (chẳng hạn trên Nam Phong tạp chí số

9, 10, tháng 4 năm 1918; số 11, tháng 5 năm 1918…) không thuộc phạm vi nghiên cứu của luận án này

Luận án lấy tác giả tác phẩm từ Việt Nam thời trung đại làm trọng điểm nghiên cứu Trong khi nghiên cứu, người viết tiến hành so sánh từ Việt Nam với từ

ở Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc ở mức độ nhất định

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp chính như văn bản học Hán-Nôm cùng với các phương pháp tương cận như biện ngụy học, khảo chứng học, hiệu thù học… để đối chiếu, giám định, xác minh văn bản Áp dụng phương pháp loại hình học để

nghiên cứu về đội ngũ tác giả, tác phẩm Đối với các tác phẩm từ, người viết áp

dụng từ chương học, thi pháp học, phong cách học để nghiên cứu chúng từ nhiều

phương diện khác nhau như mức độ tuân thủ từ luật, các dạng thức biến thể của tác phẩm từ Việt Nam, quy trình lập ý, ngôn ngữ, phong cách từ học… Kết hợp với các phương pháp nghiên cứu, phê bình truyền thống đối với thể loại từ như bản sắc, dĩ thi vi từ, dĩ văn vi từ, cảnh giới nghệ thuật… Ngoài ra còn sử dụng một số phương

pháp khác như so sánh văn học, văn hóa học, thống kê phân loại…

5 Một số thuật ngữ chính được sử dụng trong luận án

Trong nghiên cứu từ học, hệ thống thuật ngữ, khái niệm chuyên biệt rất phong phú, luận án chỉ nêu vắn tắt về 39 thuật ngữ, khái niệm từ học được sử dụng với tần

suất cao nhất, một số trong số đó được đề cập sâu hơn ở phần Phụ lục 2.1

6 Đóng góp mới của luận án

Trên cơ sở kế thừa, tiếp thu thành tựu nghiên cứu của giới nghiên cứu từ học Nhật Bản, Triều Tiên và đặc biệt là các nhà nghiên cứu từ học Trung Quốc, luận án tổng thuật, nghiên cứu một cách tổng quan về thể loại từ ở Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên làm cơ sở để so sánh với thể loại từ tại Việt Nam

Cho đến thời điểm này, luận án là công trình sưu tập đầy đủ nhất về thể loại

từ trong văn học trung đại Việt Nam, đồng thời đây cũng là công trình có sự nỗ lực

xử lí, giám định văn bản một cách riết ráo nhất Trên cơ sở khảo sát cụ thể, tổng kết

thành tựu sáng tác từ tại Việt Nam thời trung đại, luận án tiến hành phân kì từ sử, nghiên cứu sâu từng giai đoạn sáng tác từ về các phương diện: đội ngũ tác giả, các nguồn ảnh hưởng đến việc tác từ, quan niệm – động cơ sáng tác, quan niệm từ học,

thể thức đã tiếp thu, các dạng thức biến cách, nội dung và khuynh hướng nghệ thuật,

từ đó làm rõ đặc điểm của thể loại từ ở Việt Nam qua mỗi giai đoạn

Trang 6

3

7 Cấu trúc luận án

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận án có cấu trúc gồm 4 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu thể loại từ Việt Nam

Chương 2: Thể loại từ ở các nước trong khu vực và thực trạng sáng tác từ tại Việt Nam

Chương 3: Thể loại từ Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVIII: Tiếp nhận

và tái tiếp nhận

Chương 4: Thể loại từ Việt Nam thế kỉ XIX: Thừa tiếp và phát huy

PHẦN NỘI DUNG Chương 1

TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THỂ LOẠI TỪ VIỆT NAM 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thể loại từ Việt Nam

Ở Việt Nam từ những năm 50 của thế kỉ XX trở lại đây, trong một số sách đã

có một số kết quả nghiên cứu nhất định về từ được công bố, song thành tựu còn

nhiều hạn chế

1.1.1 Những nghiên cứu trường hợp

Hướng nghiên cứu này có hai trọng điểm chính thu hút sự chú ý của các nhà

nghiên cứu trong và ngoài nước, đó là bài từ điệu Nguyễn lang quy của Không Việt đại sư Ngô Chân Lưu và Mộng Mai từ lục của Đào Tấn

Về trường hợp bài từ điệu Nguyễn lang quy của Khuông Việt, tới nay có tới trên 20 bài viết chuyên sâu, khởi đầu là Phạm Thị Tú với bài “Về bài từ đầu tiên và tác giả của nó: sư Khuông Việt” (Tạp chí Văn học, số 6 - 1974), sau đó là các tác giả

Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Văn Lâu, Nguyễn Đăng Na, Nguyễn Đình Phức, Phạm Văn Ánh, v.v Tác phẩm được nghiên cứu với nhiều góc độ, như: lập trường ngoại giao của tác giả, văn bản, nội dung, phong cách, giọng điệu, ngôn ngữ, cách lập ý, v.v

Về Mộng Mai từ lục của Đào Tấn, từ bài viết thiên về phê bình, phát huy

nghĩa lí của Xuân Diệu công bố năm 1982, trong phần “Tìm hiểu nhà thơ Đào tấn”

(sách Các nhà thơ cổ điển Việt Nam, tập II, Nxb Văn học, H.1982), đến một số bài

viết mang tính chất bình tán, gần đây tác phẩm được tiếp cận chủ yếu dưới góc độ văn bản học, tiêu biểu là các bài viết của Trần Văn Tích (học giả Việt Nam tại hải ngoại), Trần Nghĩa và Phạm Văn Ánh

Bên cạnh đó là một số nghiên cứu về tác phẩm từ trong Cưu đài thi tập, Cổ điệu ngâm từ, Lưu Hương kí, tác phẩm từ của Nguyễn Huy Oánh, Miên Thẩm, quan niệm từ học của Miên Trinh của Phạm Văn Ánh

Trang 7

4

Với các nghiên cứu trường hợp nói trên, hướng nghiên cứu chủ yếu vẫn là văn bản học

1.1.2 Những nghiên cứu tổng quan về thể loại từ Việt Nam

Năm 2001, tác giả Thế Anh trên Tạp chí Hán Nôm có bài“Từ Trung Hoa và

ảnh hưởng của nó ở Việt Nam”, song chỉ là mô tả một cách hết sức sơ lược Người

thực sự đi đầu trong việc mô tả một cách tổng quan về thể loại từ tại Việt Nam là Trần Nghĩa Trong bài “Thể loại từ Trung Quốc du nhập vào Việt Nam và ảnh hưởng của nó đối với văn học bản địa” (Tạp chí Hán Nôm, số 5 - 2005), Trần Nghĩa tiến hành thống kê, phân kì từ sử Việt Nam đồng thời có một số nhận định bước đầu về thực trạng sáng tác từ ở Việt Nam

Tại Trung Quốc, năm 2004, trên tờ Giải phóng quân Ngoại quốc ngữ học viện học báo, Tưởng Quốc Học (蔣國學) có bài “Từ tại Việt Nam vị năng hưng thịnh đích nguyên nhân thám tích” (Tìm hiểu về nguyên nhân khiến thể loại từ Việt Nam không phát triển hưng thịnh), song cũng mới chỉ mô tả về thể loại từ ở Việt Nam một

cách sơ lược Năm 2008, trên tờ Quảng Tây đại học học báo, Hà Thiên Niên (何仟

年) trong bài “Việt Nam đích điền từ cập từ học –Hán văn học di thực bối cảnh đích văn thể án lệ” (Điền từ và từ học ở Việt Nam – Một nghiên cứu trường hợp về thể

loại văn học trong bối cảnh di thực của văn học Hán) đã tiến hành thống kê tác giả, tác phẩm từ Việt Nam đồng thời đưa ra một số nhận định ban đầu

Trong số các bài viết của 4 tác giả trên đây, bài viết của Trần Nghĩa và Hà Thiên Niên thể hiện công phu sưu tập, nghiên cứu thực sự dù còn ở mức độ sơ lược Tuy nhiên, đáng lưu ý là con số thống kê của hai tác giả nói trên đưa ra còn nhiều thiếu sót và nhầm lẫn, dẫn đến các kiến giải chưa đủ thức thuyết phục

Ngoài các bài viết đã đề cập còn một số nghiên cứu của Phạm Văn Ánh, như các

bài: “Một số nét cơ bản về thể loại từ ở Việt Nam” (Tạp chí Hán Nôm, số 4, 2009), mang tính khái lược về thành tựu sáng tác từ và từ sử Việt Nam; “Thể loại từ ở Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVIII” (Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, số 8-9, 2012), nghiên cứu

chuyên sâu về thể loại từ Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVIII trên một số phương diện như số lượng tác giả, tác phẩm, thể thức, nội dung, nghệ thuật

TIỂU KẾT:

Có thể thấy những năm gần đây, thể loại từ ở Việt Nam đã thu hút được sự

chú ý của giới học thuật trong và ngoài nước Qua các công trình đã công bố, chỉ có

trường hợp bài từ điệu Nguyễn lang quy của Ngô Chân Lưu là được nghiên cứu một

các đa diện và chuyên sâu Các nghiên cứu khác hoặc giải quyết một vài vấn đề cụ thể, hoặc mới chỉ dừng ở mức độ nghiên cứu một số phương diện của một giai đoạn

từ sử nhất định Việc khảo sát và nghiên cứu tổng quan về thành tựu sáng tác từ tại

Việt Nam còn nhiều bất cập, cần có những nghiên cứu toàn diện và sâu sắc hơn

Trang 8

5

Chương 2

THỂ LOẠI TỪ Ở CÁC NƯỚC TRONG KHU VỰC VÀ THỰC TRẠNG SÁNG TÁC TỪ TẠI VIỆT NAM

2.1 Khái niệm thể loại từ

Từ (詞) là thể loại văn học có nguồn gốc Trung Quốc, nguyên tên đầy đủ là khúc tử từ (曲子詞), có nghĩa là phần lời của bài hát Sáng tác từ ban đầu được thực hiện theo nguyên tắc “tiên nhạc hậu từ” (先樂後詞 - nhạc trước lời sau), “ỷ thanh điền từ” (倚聲填詞 - nương vào âm nhạc để điền lời); trên cơ sở bản nhạc có sẵn, người viết từ - từ nhân (詞人), điền lời vào cho bản nhạc ấy để diễn xướng, phần lời đó chính là từ, còn thao tác viết từ gọi là điền từ (填詞), ỷ thanh (倚聲), y thanh (依 聲) Sau khi từ nhạc dần thất truyền, các điệu từ được khái quát thành các khung cách luật gọi là từ phổ, việc điền từ do đó cũng có sự thay đổi, từ “ỷ thanh điền từ” chuyển sang “án phổ điền từ” (按譜填詞)

Ngoài tên gọi là từ, hay khúc tử từ, thể loại này còn có nhiều cách gọi khác như: thi dư (詩餘), trường đoản cú (長短句), nhạc phủ (樂府), nhạc chương (樂章 ), biệt điệu (別調), ca khúc (歌曲), ngữ nghiệp (語業) mỗi một tên gọi mang

những hàm nghĩa nhất định

Xét về hình thức, các bài từ chủ yếu dùng lối câu dài ngắn không đồng đều (trường đoản cú), với hàng ngàn thể thức (điệu, thể) khác nhau Từ có thủ pháp

nghệ thuật, phạm vi đề tài và giá trị thẩm mĩ riêng Từ khi ra đời, trải hơn ngàn năm, thể loại này tồn tại song hành cùng các thể thơ truyền thống như thơ cổ phong, cận thể… xác lập vị trí quan trọng trong lịch sử văn học Trung Quốc Không chỉ vậy,

cùng ảnh hưởng của chữ Hán, văn hóa Hán, từ còn ảnh hưởng lan tỏa sang các nước

Đông Á trong đó có Việt Nam, tạo ra một thể loại văn học mang tính chất khu vực

2.2 Thể loại từ ở Trung Quốc và sự ảnh hưởng của nó ra các nước Đông Á 2.2.1 Thể loại từ ở Trung Quốc

Thể loại từ Trung Quốc manh nha từ thời Tùy (581-618), đến thời Đường

Huyền Tông (712-756) được sáng tác một cách tương đối thường xuyên Các sáng

tác ban đầu chủ yếu là các tác phẩm dân gian, sau đó thể loại từ dần thu hút sự chú ý của giới “thi khách” Cuối thời Đường, Ngũ đại, từ phát triển tương đối mạnh, đặc biệt là thành tựu sáng tác từ của Hoa gian phái

Sang thời Tống (960-1279), kế thừa thành tựu phát triển của thể loại từ các

giai đoạn trước, đặc biệt là giai đoạn Ngũ đại, bên cạnh đó là chính sách sùng văn ức

Trang 9

Tống thể hiện ở một số điểm cơ bản: phát triển vượt bậc về số lượng tác giả - tác phẩm, hoàn thiện về thể thức, thuần thục về nghệ thuật, đa dạng về phong cách và

nội dung biểu đạt Không chỉ vậy, ở giai đoạn này, quan niệm từ học cũng có nhiều nét thú vị như quan điểm “dĩ thi vi từ” (lấy thơ làm từ) của Tô Đông Pha (蘇東坡,

1037-1101), “biệt thị nhất gia” của Lí Thanh Chiếu (李清照, 1084-1151), “dĩ văn vi

từ” của Tân Khí Tật (辛棄疾, 1140-1207), v.v…

Do từ nhạc thất truyền, sự thay thế của bắc khúc từ suy thoái vào thời Kim (1115-1234) - Nguyên (1271-1368) Thời Minh (1368-1644), từ được sáng tác tương

đối phổ biến song không có thành tựu thật sự nổi bật Thời Thanh (1644-1912) là giai

đoạn phục hưng của thể loại từ Bên cạnh các thành tựu về sáng tác, thể loại từ ở Trung Quốc còn đạt nhiều giá trị về phương diện lí luận từ học

Từ là một thể loại có thành tựu đặc biệt trong nền văn học Trung Quốc Trải qua hơn một nghìn năm vận động và phát triển, thể loại từ ở Trung Hoa qua nhiều

giai đoạn khác nhau, về thể thức cũng như khuynh hướng nghệ thuật có nhiều biến đổi qua các giai đoạn

2.2.2 Thể loại từ ở Nhật Bản

Tại Nhật Bản, từ được tiếp nhận từ đầu thế kỉ XIX với chùm từ 5 bài Ngư ca tử của Thiên hoàng Saga (嵯峨天皇, 786-842), song trải nhiều thế kỉ, thể loại từ ở

Nhật Bản gần như không phát triển, tới thế kỉ XVII mới ít nhiều khởi sắc Đến thế kỉ

XIX, thể loại từ Nhật Bản có nhiều thành tựu đáng ghi nhận, tiêu biểu nhất là các

sáng tác của Điền Năng Thôn Trúc Điền (田能村竹田, 1777-1835) và Lâm Hòe

Nam (森槐南, 1863-1911) Nhà từ học Trung Quốc là Hạ Thừa Đảo trong Vực ngoại từ tuyển (域外詞選) - một tuyển tập tác phẩm từ Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam - từng viết: “Từ nhân Nhật Bản thuộc phái từ của Tô - Tân, đương thời không ai vượt

qua được Hòe Nam Mà tác phẩm của ông, về sự diễm lệ và chặt chẽ, thì cũng không kém gì Yến Cơ Đạo (宴幾道, 1040?-1112?) và Tần Quán (秦觀, 1049-1100)” Giai đoạn năm thứ 10 niên hiệu Minh Trị [1877] tới năm thứ 25 [1892], được coi là “thời

đại hoàng kim của điền từ Nhật Bản” (Kađa Chikirô - Nhật Bản điền từ sử thoại)

2.2.3 Thể loại từ ở Triều Tiên

Trang 10

7

Tại Triều Tiên, thể loại từ bắt đầu từ sáng tác của Tuyên Tông nước Cao Li là Vương Vận (王運, 1049-1094) Tuy nhiên, tới hết thế kỉ XIII, sáng tác từ ở Triều Tiên vẫn khá thưa thớt Từ thế kỉ XIV, thể loại từ ở Triều Tiên được sáng tác một

cách phổ biến, đạt đỉnh cao nhất vào thế kỉ XIX, đặc biệt là nửa sau thế kỉ XIX

Không chỉ có các tác phẩm từ độc lập, trong các bộ tiểu thuyết chữ Hán của Triều Tiên như An Bằng mộng du lục (安憑夢遊錄, khuyết danh), Ngọc tiên mộng (玉仙 夢) của Đãng Ông (宕翁), Kim ngao tân thoại (金鰲新話) của Kim Thời Tập (金時 習), Anh Anh truyện (英英傳, khuyết danh)… thể loại từ cũng được ứng dụng một cách phổ biến Điều đáng chú ý là, bên cạnh các bài từ sáng tác theo các từ điệu tiếp nhận từ Trung Hoa, các tác giả Triều Tiên còn chủ động tự viết nhạc (tự độ khúc) để tạo ra các điệu từ mới Đây là điều ít thấy ở Nhật Bản và Việt Nam Nhìn chung, sơ

bộ thống kê, tại Triều Tiên từ thế kỉ XI đến cuối thế kỉ XIX có khoảng gần 200 tác

giả từ, số lượng tác phẩm khá phong phú, lên tới hàng ngàn bài Số lượng tác giả tác phẩm đó là ưu trội so với thể loại từ ở Nhật Bản và Việt Nam

2.3 Thực trạng sáng tác từ ở Việt Nam – Khảo biện qua các nguồn tư liệu

2.3.1 Các tiêu chí nhận dạng

Căn cứ vào trạng thái tồn bản và những biến đổi phức tạp về hình thức của

tác phẩm từ Việt Nam hiện còn, luận án đưa ra 5 tiêu chí nhận dạng tác phẩm từ

Việt Nam, gồm:

1/ Mỗi bài từ bao giờ cũng được sáng tác theo một điệu từ (từ điệu) nhất định Trừ một số trường hợp, về cơ bản các điệu từ đều từng được ghi nhận trong các sách về từ phổ, từ luật Do vậy, một tác phẩm được coi là thuộc thể loại từ thì phải có từ điệu và từ điệu đó từng được các sách về từ phổ, đồ phổ, từ luật ghi nhận Nếu tác phẩm không có từ điệu thì phải thuộc từ tập chuyên biệt và có thể thức đặc trưng của thể loại từ

2/ Tác phẩm không thuộc hai trường hợp trên thì phải được tác giả coi là từ, hoặc sách có chép tác phẩm đó ghi rõ nó là sáng tác từ

3/ Những bài mang các tên gọi khác của từ như “trường đoản cú”, “nhạc

chương”, cũng cần kiểm tra kĩ về cách luật bởi chúng không nhất thiết thuộc thể từ 4/ Những bài mà tên gọi mang chữ “từ” như: Yến tử từ, Cung từ, Xuân từ, Thu từ có khi chỉ là thơ cung từ, hoặc cổ phong; nếu không có tên điệu, không thuộc từ tập, không có những đặc trưng thể thức của từ thì không được coi là tác phẩm từ 5/ Các bài thuộc điệu Liễu chi, Trúc chi có bài thuộc thơ cổ phong, có bài thuộc thơ cận thể, có bài thuộc thể từ, nếu không thuộc các từ tập, dạng thức cách luật không đúng từ luật thì không được coi là từ

Trong tất cả các trường hợp kể trên đều cần phải kiểm tra kĩ về dạng thức cách luật của từng tác phẩm

Trang 11

8

2.3.2 Khảo biện tác giả, tác phẩm từ Việt Nam qua các nguồn tư liệu

2.3.2.1 Khảo biện qua các truyện kí, tiểu thuyết:

Luận án sưu tập, khảo biện tác giả, tác phẩm từ Việt Nam qua 8 tài liệu,

gồm: 1/ Thiền uyển tập anh, 2/ Tam tổ thực lục, 3/ Truyền kì tân phả, 4/ Hoa viên kì ngộ, 5/ Sơ kính tân trang, 6/ Đồng song kí, 7/ Việt Nam kì phùng sự lục, 8/ Truyện kí

trích lục, xác định được 8 tác giả, 29 bài từ

Trang 12

9

2.3.2.2 Khảo biện qua các thi văn tập:

Luận án sưu tập, khảo biện tác giả, tác phẩm từ Việt Nam qua 27 tài liệu,

gồm : 1/ Cưu đài thi tập, 2/ Ngôn chí thi tập, 3/ Phủ chưởng tân thư, 4/ Hoa trình ngẫu bút lục, 5/ Hồng Ngư trú tú lục, 6/ Bách liêu thi văn tập, 7/ Anh ngôn thi tập, 8/ Anh ngôn thi tập hạ, 9/ Ngọ Phong văn tập, 10/ Thạc Đình di cảo, 11/ Thạch Động tiên sinh thi tập, 12/ Dụ Am ngâm tập, 13/ Thủy vân nhàn vịnh tập, 14/ Châu Phong tạp thảo, 15/ Mai dịch thú dư, 16/ Lưu Hương kí, 17/ Quan Đông hải, 18/ Minh quyên thi tập, 19/ Hoa thiều ngâm lục, 20/ Tạ Hiên tiên sinh nguyên tập, 21/ Kim Mã Ẩn Phu cảm tình lệ tập (đính kèm trong Danh ngôn tạp trước), 22/ Hà Đình ứng chế thi sao, 23/ Thi văn tạp tập, 24/ Quy điền thi tập, 25/ Nguyễn Hoàng Trung thi tạp tập, 26/ Diệu Liên tập, 27/ Nguyễn đại nhân thí trúng hạ tập, xác định

được 23 tác giả, 143 bài từ

2.3.2.3 Khảo biện qua các từ tập chuyên biệt:

Luận án sưu tập, khảo biện tác giả, tác phẩm từ Việt Nam qua 3 tài liệu, gồm: 1/ Cổ duệ từ, 2/ Mộng Mai từ lục, 3/ Cổ điệu ngâm từ, xác định được 2 tác giả, 131 bài từ

2.3.2.4 Khảo sát qua tư liệu điền dã:

Qua khảo sát điền dã, hiện mới phát hiện được 1 bài từ điệu Thiên tiên tử tại nhà

thờ Đại tông dòng họ Nguyễn Huy (Xã Trường Lộc, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh)

2.3.2.5 Các tác phẩm đã thất truyền:

Luận án khảo cứu qua các tư liệu Hán – Nôm, xác định được 3 tác giả, với 1

từ tập chuyên biệt, 1 sách từ luận, 1 tuyển tập từ và một số bài từ (không rõ số

lượng cụ thể) đã bị thất truyền

Sưu tập, khảo biện qua các nguồn tư liệu, sau khi loại bỏ các tác phẩm từ

Trung Quốc chép lẫn trong các thư tịch (181 tác phẩm: 64 bài chép lẫn trong các thi

tập, 117 bài chép lẫn trong từ tập), đính chính các nhầm lẫn về từ điệu, xác định, bổ

sung từ điệu, số lượng tác giả, tác phẩm từ Việt Nam qua các nguồn tư liệu gồm 37 tác giả, với số lượng tác phẩm từ hiện còn là 304 bài viết theo 133 điệu

2.4 Phân kì từ sử Việt Nam

Xem xét các yếu tố niên đại sáng tác của các bài từ cụ thể, niên đại hoàn thành các sách có lưu trữ các bài từ, cũng như niên đại tác giả, có thể tổng hợp kết quả khảo sát thể loại từ Việt Nam theo lịch đại như bảng sau:

Trang 13

10

BẢNG TỔNG HỢP TÁC PHẨM TỪ VIỆT NAM QUA CÁC GIAI ĐOẠN

STT Tên sách Tác giả từ Số

lượng (bài) Giai đoạn từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XVII

Tổng số: 3 tác giả, 5 bài từ

Giai đoạn thế kỉ XVIII

5

Phủ chưởng tân thư

Đặng Trần Côn (Nửa đầu thế kỉ XVIII) 9

6 Nguyễn Ngọc Thiềm (nửa đầu thế kỉ

XVIII)

8

7 Hoa trình ngẫu bút lục Lê Quang Viện (Nửa sau thế kỉ XVIII), 4

8 Hồng Ngư trú tú lục Học trò mừng Nguyễn Nghiễm

(1708-1775)

1

10 Anh ngôn thi tập

Ngô Thì Sĩ (1726-1780)

7

14 Thạch Động tiên sinh thi tập Phạm Nguyễn Du (1739-1786) 5

17 Hoa viên kì ngộ tập Khuyết danh (Cuối thế kỉ XVIII) 7

Tổng số: 12 tác giả, 88 bài từ

Giai đoạn thế kỉ XIX

18 Kim Mã ẩn phu cảm tình lệ

tập

Đỗ Lệnh Thiện (1760- sau 1824) 5

20 Bảng gỗ nhà thờ họ

Nguyễn Huy

Khuyết danh (Cuối thế kỉ XVIII, đầu XIX) 1

24 Minh quyên thi tập

26 Chu Tạ Hiên tiên sinh

nguyên tập

Chu Doãn Trí (1779-1850) 2

28 Thi văn tạp tập Hà Tông Vịnh, Khuyết danh (Nửa đầu thế

kỉ XIX)

2

Trang 14

11

31 Từ thoại

32 Từ tuyển, một số sáng tác từ

(không rõ số lượng cụ thể)

Tự Đức (Nguyễn Phúc Thì, 1829-1833) ?

33 Một số sáng tác từ (không rõ

số lượng cụ thể)

Miên Trinh (1820-1897) ?

34 Nguyễn Hoàng Trung thi tạp

tập

Nguyễn Hoàng Trung thế kỉ (XIX ) 22

37 Nguyễn đại nhân thí trúng

hạ tập

Bùi Lương (Cuối XIX) 1

39 Việt Nam kì phùng sự lục Khuyết danh (cuối thế kỉ XIX) 3

Tổng số: 22 tác giả, 211 bài từ

Căn cứ vào thực tế sáng tác từ ở Việt Nam, có thể phân chia từ sử Việt Nam

thành 2 giai đoạn lớn: 1/ Giai đoạn thứ nhất từ năm 987 đến hết thế kỉ XVII, là giai

đoạn thể loại từ được tiếp nhận và ít nhiều được vận dụng trong sáng tác, song gần

như không phát triển; 2/ giai đoạn thứ hai từ thế kỉ XVIII đến hết thế kỉ XIX là giai

đoạn thể loại từ xuất hiện trở lại sau một thời gian dài vắng bóng, được sáng tác một

cách thường xuyên hơn, dần dần đạt đến đỉnh cao nhất vào nửa sau thế kỉ XIX Ở giai đoạn thứ hai này có thể phân chia thành hai giai đoạn nhỏ hơn: 1/ Giai đoạn thứ

nhất tương ứng với thế kỉ XVIII, là giai đoạn xuất hiện trở lại của thể loại từ, và từ

đây, thể loại văn học này được sáng tác một cách khá thường xuyên, tạo đà cho giai

đoạn sau; 2/ Giai đoạn thứ hai tương ứng với thế kỉ XIX, là giai đoạn thể loại từ tiếp

tục được duy trì và phát triển đến đỉnh cao

TIỂU KẾT:

Từ là thể loại văn học quan trọng trong lịch sử văn học Trung Quốc Từ khi

xuất hiện đến thời quân chủ, thể loại này trải nhiều giai đoạn khác nhau, có toàn thịnh, suy thoái đồng thời về quan niệm thẩm mĩ cũng không hoàn toàn nhất quán Cùng với ảnh hưởng của chữ Hán, văn hóa Hán, giống như nhiều thể loại văn học có nguồn gốc Trung Quốc khác, thể loại này sớm được các nước Đông Á tiếp thu và vận dụng trong sáng tác, dần trở thành một thể loại văn học có tính chất khu vực

Từ sử Việt Nam khởi đầu bằng sáng tác của Khuông Việt đại sư Ngô Chân

Lưu, năm 987, chỉ tính đến hết thế kỉ XIX trải dài hơn 9 thế kỉ So với các nước

Đông Á, Nhật Bản là nước tiếp nhận, sáng tác từ sớm nhất, kế đó là Việt Nam rồi tới Triều Tiên, nhưng nếu xét về thành tựu sáng tác từ thể hiện ở số lượng tác giả, tác phẩm thì có thể nói Triều Tiên là nước khả quan nhất Tuy thành tựu sáng tác từ ở các nước Đông Á nhiều ít khác nhau song về đại quan, thể loại từ Trung Quốc khi

truyền sang các nước Đông Á đều không phát triển mạnh như nhiều thể loại văn học khác có chung một nguồn gốc mà tiêu biểu là thơ cận thể Thực trạng sáng tác cùng

tiến trình vận động và phát triển của thể loại từ Việt Nam khá giống với Nhật Bản

Đáng chú ý là giai đoạn thời Tống, giai đoạn phát triển đạt đến đỉnh cao của thể loại

Ngày đăng: 24/11/2021, 12:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w