MỤC LỤCNHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH DỆT MAY SAU KHI VIỆT NAM HỘI NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI Trang VÀ HIỆP ĐỊNH ĐA SỢI MFA 1.1 Tính tất yếu của sự ra đời Tổ chức Thương
Trang 2MỤC LỤC
NHỮNG CƠ HỘI VÀ THÁCH THỨC ĐỐI VỚI NGÀNH DỆT
MAY SAU KHI VIỆT NAM HỘI NHẬP TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI
THẾ GIỚI
Trang
VÀ HIỆP ĐỊNH ĐA SỢI (MFA)
1.1 Tính tất yếu của sự ra đời Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) 3
1.1.1 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại (GATT) - 3
Tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới
1.1.1.2 Các chức năng và nguyên tắc cơ bản của GATT 41.1.2 Sự ra đời tất yếu của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) 51.2 Giới thiệu chung về Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) 7
1.2.1 Các chức năng nguyên tắc chủ đạo trong hoạt động của
Tổ chức thương mại Thế giới (WTO) 71.2.2 Bộ máy tổ chức và cơ chế hoạt động của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) 71.2.3 Những thành tựu chính trong quá trình hoạt động của Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO) 91.3 Hiệp định đa sợi (MFA) và tình hình thực hiện 12
1.3.2 Tình hình thực hiện Hiệp định đa sợi (MFA) 151.4 Hiệp định về hàng dệt – may tại vòng đàm phán URUGUAY 17
Trang 31.4.2 Tình hình thực hiện Hiệp định ATC trong thời gian qua 22
1.4.2.2 Về các Hiệp định song phương trong khuôn khổ MFA 25
1.4.2.3 Về việc các biện pháp hành chính trong thực hiện
2.1 Giới thiệu về ngành dệt – may Việt Nam 29
2.1.1 Nét chung của ngành dệt – may xuất khẩu Việt Nam 292.1.2 Đánh giá tổng quát khả năng sản xuất trong nước 302.1.3 Tóm lược tình hình công nghệ của ngành dệt may Việt Nam 322.1.4 Cơ cấu sản phẩm của ngành dệt – may Việt Nam 332.1.5 Khái quát thị trường tiêu thụ trong nước 362.2 Phân tích thực trạng xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam
2.2.1 Kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may Việt Nam 37
2.2.1.1 Tổng quát về kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may
của Việt Nam những năm qua 37
2.2.1.2 Phân tích cụ thể tình hình xuất khẩu hàng dệt may
2.2.2 Cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu của Việt Nam 39
2.2.2.1 Những chủng loại xuất khẩu chủ yếu trong thời
2.2.2.2 Thực hiện cơ cấu về hàng dệt may xuất khẩu
Trang 42.2.3 Cơ cấu thị trường xuất khẩu và kênh phân phối 41
2.2.3.1 Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam 41
2.2.3.2 Đặc điểm về hệ thống phân phối của thị trường
mục tiêu xuất khẩu 442.2.4 Phương thức xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam 48
2.3 Vấn đề năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu 51
2.3.1 Đặc điểm chủ yếu về cạnh tranh của hàng dệt may
Việt Nam xuất khẩu (XK) 51
2.3.2 Năng lực canh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu 55
2.3.2.1 Chất lượng hàng dệt may XK của Việt Nam 55
2.3.2.2 Chí phí XK và mức giá XK của hàng dệt may Việt Nam 58 2.3.2.3 Năng lực cạnh tranh trong hệ thống phân phối 61
hàng dệt may của Việt Nam
2.3.2.4 Các đối thủ cạnh tranh chủ yếu trong xuất khẩu
hàng dệt may của Việt Nam 612.3.3 Đánh giá chung về kết quả và tồn tại trong xuất khẩu
3.1.1 Những quan điểm cơ bản trong định hướng xuất khẩu
và nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam 64
Trang 53.1.1.1 Quan điểm thứ nhất 65
3.1.2 Những định hướng chủ yếu cho xuất khẩu và nâng cao
năng lực cạnh tranh XK hàng dệt may của Việt Nam 68
3.1.2.1 Đánh giá ảnh hưởng của các yếu tố cơ bản đối với
XK và nâng cao năng lực cạnh tranh XK hàng
3.1.2.2 Mục tiêu định hướng cho chiến lược đẩy mạnh XK
3.2 Hệ thống các nhóm giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao
năng lực cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam 73
3.2.1 Nhóm giải pháp Marketing nghiên cứu thị trường và
hoạch định chiến lược thị trường 73
3.2.1.1 Đẩy mạnh hoạt động Marketing nghiên cứu thị trường 73 3.2.1.2 Xây dựng chiến lược thị trường XK dệt may của
3.2.2 Nhóm giải pháp về chiến lược sản phẩm và nâng cao năng lực
cạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu 78
3.2.2.1 Giải pháp nâng cao chất lượng sản phẩm và
3.2.2.2 Giải pháp tập trung hóa kết hợp đa dạng hóa
sản phẩm với nhiều mẫu mã “mốt” thời trang 813.2.3 Nhóm giải pháp về chiến lược đầu tư công nghệ và
nâng cao năng lực cạnh tranh 82
3.2.3.1 Giải pháp về chiến lược công nghệ và nâng cao
năng lực cạnh tranh 82
Trang 63.2.3.2 Giải pháp về vốn đầu tư cho chiến lược công nghệ
87
3.2.4 Nhóm giải pháp về chiến lược chi xuất khẩu thấp và
tăng nhanh phương thức tự doanh trong xuất khẩu 88
3.2.4.1 Giải pháp về chiến lược chi phí xuất khẩu thấp,
3.2.4.2 Giải pháp mở rộng phương thức xuất khẩu trực tiếp
3.2.5 Các giải pháp còn lại 93
3.2.5.2 Chú trọng hoạt động hội chợ triển lãm thương mại
quốc tế và các công cụ yểm trợ xuất khẩu khác 93
3.5.2.3 Giải pháp qui hoạch và đào tạo nguồn nhân lực 94
Trang 7LỜI MỞ ĐẦU
Trong hoạt động kinh tế sôi động ngày nay, mỗi quốc gia, mỗi khu vựcđều nỗ lực tham gia vào quá trình phân công lao động quốc tế nhằm khai tháctiềm năng để phát triển kinh tế, tìm cho mình một vị trí vững chắc trong bứctranh kinh tế toàn cầu trong giai đoạn phát triển mới của thế giới ở Thế kỷ XXI
Nhận thức rõ vấn đề này, những năm qua, chúng ta đã kiên trì tiến hànhcông cuộc "đổi mới" với phương châm "Việt Nam muốn làm bạn với tất cả cácnước" và thu được những thành tựu đáng khích lệ và việc Việt Nam tham gia đầy
đủ vào ASEAN và APEC là một bằng chứng tiêu biểu Trên đà phát triển phùhợp với quy luật chung và vì sự phát triển lâu dài của đất nước, sau ASEAN mụctiêu của chúng ta sẽ là hội nhập vào WTO Diễn đàn thương mại lớn nhất hiệnnay, nơi chúng ta có điều kiện gia nhập thực sự vào đời sống kinh tế thế giới và
đã tiến hành những thủ tục ban đầu để gia nhập
Để có thể thực hiện những mục tiêu trên, cùng với nhiều ngành kinh tế mũinhọn khác, ngành Dệt - May thực sự là chiếc cầu nối Việt Nam với thế giới Nhờphát huy những thế mạnh sẵn có trong nước và tận dụng những thuận lợi bênngoài ngành Dệt - May không chỉ có vị trí then chốt trong giai đoạn hiện nay màngay cả khi chúng ta tham gia vào WTO, hội nhập thế giới sâu sắc hơn Hơn thếnữa, sản phẩm của ngành thuộc loại nhạy cảm trong thương mại quốc tế, có rấtnhiều các vấn đề phức tạp phát sinh cần giải quyết khi kinh doanh mặt hàng này.Trong khuôn khổ hạn hẹp của khóa luận này tôi cố gắng tìm hiểu "Những tháchthức và cơ hội đối với ngành Dệt - May khi Việt Nam tham gia Tổ chức ThươngMại Thế giới
Nội dung của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Tổ chức thương mại Thế giới và Hiệp định đa sợi
Chương 2: Thực trạng hoạt động của ngành dệt-may Việt nam trong những nămqua
Trang 8Chương 3: Định hướng đẩy mạnh xuất khẩu và năng lực cạnh tranh của hàng dệt– may việt nam
Mặc dù đã có 3 năm trang bị kiến thức tại trường Đại học Ngoại thương và
có một số kinh nghiệm nhất định trong thực tế kinh doanh xuất nhập khẩu Songkhóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong các thầy cô và những aiquan tâm đóng góp ý kiến
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô trường Đại học Ngoại thương, Công tyXNK tổng hợp Vạn xuân - BQP, Bộ Thương mại, Bộ Kế hoạch và Đầu tư,Vinatex, các doanh nghiệp XNK hàng dệt-may Và đặc biệt là thầy giáo hướngdẫn Tiến sĩ Nguyễn Hữu Khải đã giúp đỡ tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Trang 9CHƯƠNG I
TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO)
VÀ HIỆP ĐỊNH ĐA SỢI
1.1 TÍNH TẤT YẾU CỦA SỰ RA ĐỜI TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
1.1.1 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại - tiền thân của Tổ chức Thương mại Thế giới
1.1.1.1 Bối cảnh ra đời của GATT
Sau hơn 7 năm chính thức hoạt động, Tổ chức Thương mại Thế giới đã cónhững đóng góp bước đầu vào sự phát triển của nền thương mại thế giới và từngbước tỏ rõ sự thích ứng với vai trò của một cơ quan điều tiết mậu dịch quốc tế.Đạt được như vậy một phần cũng vì Tổ chức Thương mại Thế giới đã kế thừa vàphát huy các thành quả mà các tổ chức tiền thân của nó là Hiệp định chung vềthuế quan và thương mại đã tạo được Do đó, để hiểu sâu hơn về Tổ chứcThương mại Thế giới không thể không nghiên cứu về GATT
Nhìn lại lịch sử ta nhận thấy phải đến cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV thịtrường thế giới mới bắt đầu được hình thành rõ nét Thời gian sau đó cho đếnchiến tranh thế giới lần thứ II mặc dù thị trường thế giới liên tục phát triển songchưa có Hiệp định thương mại đa biên nào điều chỉnh Thời gian này, các cườngquốc kinh tế đồng thời cũng là các cường quốc quân sự thường chủ động sử dụngchiến tranh để phân chia lại thị trường
Kể từ sau năm 1945, với cục diện thế giới mới và thắng lợi của phe Đồngminh trong Chiến tranh thế giới lần thứ II, nước Mỹ có ý đồ thiết lập lại các thểchế chính trị, kinh tế có lợi cho mình Đồng thời, nhiều nước khác cũng có nhucầu xây dựng các cơ chế mới để điều chỉnh mối quan hệ quốc tế, duy trì hoàbình, ổn định, tạo điều kiện cho sự phát triển lâu dài Trong bối cảnh đó, hàngloạt tổ chức lớn của thế giới được ra đời: Liên hợp quốc (UN) được thành lập; vềtiền tệ có Quỹ tiền tệ Quốc tế ra đời; về tài chính có Ngân hàng thế giới (WB); vềthương mại là Hiệp định chung về thuế quan và thương mại
Trang 10Cụ thể, từ năm 1945, song song với việc chuẩn bị thành lập Tổ chứcthương mại quốc tế (ITO), 23 nước đã tiến hành 123 cuộc thương lượng kéo dàivới các nỗ lực nhằm đơn giản hoá các thủ tục, không ngừng nhằm giảm bớt hàngrào thuế quan, tạo môi trường thương mại quốc tế tự do Kết quả ngày30/10/1947 Hiệp định chung về thuế quan và thương mại được ký kết, có hiệulực từ 1/1/1948 Buổi đầu thành lập GATT chỉ có 23 nước thành viên nhưng đếncuối năm 1994, tổ chức này đã quy tụ được 129 nước thành viên và nhiều tổ chứcliên chính phủ, chiếm trên 90% kim ngạch thương mại của thế giới
1.1.1.2 Các chức năng và nguyên tắc cơ bản của GATT
Hiệp định chung về thuế quan và thương mại được thành lập nhằm tạo ramột cơ sở đảm bảo về pháp lý, góp phần phát triển kinh tế, thương mại thế giớivới 3 chức năng cơ bản sau:
+ Là một luật lệ kinh tế chung được các bên nhất trí để điều tiết mọi hoạtđộng thương mại của các nước tham gia ký kết
+ Là một diễn đàn thương lượng để thực hiện tự do hoá môi trường kinhdoanh quốc tế, không ngừng tăng cường và hoàn chỉnh các luật lệ mà Hiệp định
1 Không phân biệt đối xử trong thương mại bằng cách dành cho nhau quychế đãi ngộ "Tối huệ quốc"
2 Thiết lập một cơ sở ổn định cho thương mại thế giới thông qua việcthương lượng và thực hịên nghiêm túc các thoả thuận về thuế
3 Quyền "Khước từ" và khả năng có hành động cấp thiết, không thực hiệnmột số nghĩa vụ trong thời hạn nhất định khi có lý do chính đáng về kinh tế vàthương mại
Trang 114 Bảo hộ mậu dịch bằng công cụ thuế quan là chính Không tăng cườngbảo hộ, có cơ chế thương lượng hiệu quả để gỡ bỏ dần mọi rào cản thương mại.
5 Khuyến khích việc cạnh tranh công bằng, cho phép đánh thuế đối kháng,thuế chống bán phá giá, hoặc chống trợ cấp nếu bị thiệt hại do sản phẩm củanước khác bán phá giá hay trợ cấp gây ra
6 Quan hệ "có đi có lại" bằng cách yêu cầu lẫn nhau những nhượng bộtương tự nhằm khuyến khích mở cửa thị trường
7 Ưu tiên đặc biệt cho các nước đang phát triển, ví dụ như Hệ thống ưuđãi phổ cập GSP, các ưu đãi trong việc tiếp cận thị trường, không phải "có đi cólại " với các nước phát triển
8 Công nhận các dàn xếp thương mại khu vực và sự hoà nhập chặt chẽhơn các nền kinh tế quốc gia thông qua các liên kết khu vực này Tuy nhiên, thuếhay các quy định điều chỉnh thương mại của các thành viên trong nhóm đối vớicác nước không phải là thành viên không được hạn chế hơn những gì đã áp dụngtrước khi nhóm được thành lập
1.1.2 SỰ RA ĐỜI TẤT YẾU CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
Bên cạnh những thành công, GATT cũng gặp không ít trở ngại và cònnhiều lĩnh vực hoạt động chưa có hiệu quả Thắng lợi của GATT trong việc cắtgiảm thuế quan, cùng một loạt nhân nhượng kinh tế trong những năm 70, 80 đãkhiến các chính phủ đưa ra các hình thức bảo hộ khác như tự nguyện hạn chếxuất khẩu, trợ cấp sản xuất, trợ cấp xuất khẩu, tăng cường các biện pháp kiểmdịch, nâng cao tiêu chuẩn hàng hoá nhập khẩu
Xu hướng quốc tế hoá đầu tư quốc tế và trao đổi dịch vụ ngày càng tăngđang là mối quan tâm lớn của nhiều nước và đồng thời liên quan chặt chẽ đến sựgia tăng liên tục của thương mại hàng hoá thế giới thì lại không được GATT điềuchỉnh
Thậm chí ở một số lĩnh vực tuy đã được đưa ra xem xét nhưng còn nhiều
lỗ hổng đặc biệt là nông nghiệp và dệt may Thể chế của GATT và hệ thống giảiquyết tranh chấp cũng bị một số nước thành viên chỉ trích
Trang 12GATT đứng trước thách thức mới khi thương mại thế giới trở nên phức tạphơn nhiều so với những năm 1940 Chưa bao giờ tính chất quốc tế của nền kinh
tế thế giới được thể hiện rõ nét như ngày nay Quá trình phân công lao động quốc
tế được nâng cao và có ảnh hưởng rộng khắp, dẫn đến sự bùng nổ của hoạt độngthương mại quốc tế, dưới nhiều sắc thái đa dạng Cùng với thương mại là vận tải,thanh toán, đầu tư, du lịch, viễn thông quốc tế tăng trưởng với tốc độ chóngmặt
Thực tế nêu trên đã dẫn đến một đòi hỏi tất yếu là phải cải cách GATT để
có một cơ chế mạnh hơn điều tiết thương mại thế giới, tăng cường và mở rộng
hệ thống đa biên này Đáp ứng yêu cầu của tình hình mới, vòng đàm phánUrugoay mở ra với một trong những kết quả quan trọng là Tuyên bố MaraKesh
do 104 nước ký ngày 15/4/1994 tại MaraKesh (Marốc), có hiệu lực từ ngày1/1/1995, quy định thành lập Tổ chức Thương mại Thế giớí để thay thế GATT
Có thể nói Tổ chức Thương mại Thế giới là hiện thân cho kết quả củavòng đàm phán Urugoay và là sự kế thừa của GATT nhưng chặt chẽ hơn về tổchức, ràng buộc hơn về phạm vi, mức độ và khối lượng thương mại được điềuchỉnh
Với thể chế tương đối lỏng lẻo của GATT, các nước thành viên có thể lựachọn một số hiệp định trong một vòng thương lượng, thực hiện nghĩa vụ đượchưởng quyền lợi do hiệp định đó đem lại Nhưng đối với Tổ chức Thương mạiThế giới tất cả các nước thành viên phải chấp nhận và thực hiện tất cả các hiệpđịnh đã được thoả thuận trong vòng đàm phán Urugoay trừ hệ thống các hiệpđịnh thương mại đa phương Về phương diện pháp lý, Tổ chức Thương mại Thếgiới là một tổ chức quốc tế, như các tổ chức quốc tế khác, quyết định của nó cótính chất ràng buộc đối với các nước thành viên Còn GATT là một hiệp định nêunhững nguyên tắc chung đã được thoả thuận cụ thể Nói cách khác, GATT dựatrên cơ sở Ad- hoc gồm các vòng thương lượng hơn là một cơ chế thường trực
Do vậy, WTO có thể thúc đẩy các nước thực hiện nghĩa vụ hiệu quả hơn
GATT chủ yếu chỉ điều chỉnh thương mại hữu hình còn WTO đảm nhậntrách nhiệm lớn hơn, bắt đầu quá trình điều chỉnh tự do hoá thương mại, dịch vụ
Trang 13quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại và các biện pháp đầu tư liên quanđến thương mại Đây là đòi hỏi cấp bách vì thực tế những lĩnh vực này ngày càngtrở nên quan trọng hơn trong cơ cấu thương mại quốc tế, đặc biệt đối với cácnước phát triển tỷ trọng này thường chiếm khoảng 65 - 70% thu nhập quốc dân
Thông qua cơ chế xem xét định kỳ chính sách thương mại của các nướcthành viên WTO sẽ đưa hệ thống chính sách kinh tế, thương mại của các nướcthành viên vào một thể hài hoà, thống nhất nâng cao tính trong sáng, rõ ràng và
sự hiểu biết lẫn nhau trong môi trường mậu dịch toàn cầu
Điểm mới nữa là WTO sẽ phối hợp nhiều hơn, chặt chẽ hơn với Liên hợpquốc, Ngân hàng thế giới và Quỹ tiền tệ quốc tế gắn kết các vấn đề thương mạivới tài chính, tiền tệ quốc tế, tạo điều kiện cho việc phát triển toàn diện quan hệkinh tế quốc tế
Sau hơn 14 năm kể từ ngày thành lập, GATT mới có trên 23 nước thànhviên Sau gần 46 năm hoạt động, Tổ chức này mới có 129 nước tham gia, chiếmtrên 90% thương mại quốc tế Nhưng Tổ chức Thương mại Thế giới thì chỉ 6tháng sau khi thành lập đã có hơn 132 nước gia nhập Theo dự tính trong vòng 3năm tới số thành viên sẽ lên tới 145 nước chiếm gần 100% giá trị mậu dịch thếgiới.1
Trước đây trong cơ chế của GATT, các nước "lớn" thường ngăn cản haytrì hoãn việc thi hành các quyết định của Ủy ban giải quyết tranh chấp thươngmại quốc tế khi chúng không có lợi cho họ Nhưng đối với WTO, các quy định
về giải quyết tranh chấp thương mại chặt chẽ, mạnh mẽ hơn nên các nước có tiềmlực mạnh cũng có ít khả năng trì hoãn việc khám xét và thi hành quyết định liênquan đến tranh chấp thương mại
1.2.1 CÁC CHỨC NĂNG NGUYÊN TẮC CHỦ ĐẠO TRONG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
Có cùng mục tiêu chung với GATT trước đây là thiết lập và củng cố môitrường thương mại tự do, lành mạnh trên toàn thế giới nên Tổ chức Thương mại
Trang 14Thế giới cũng có các nguyên tắc cơ bản giống với Hiệp định chung về thuế quan
và thương mại trước kia , đó là:
+ Không phân biệt đốỉ xử
+ Bảo hộ bằng công cụ thuế
+ Khuyến khích cạnh tranh công bằng
+ Tạo lập cơ sở ổn định cho thương mại thế giới
+ Quyền" khước từ" và khả năng có hành động cấp thiết
+ Quan hệ "Có đi, có lại" + Ưu tiên cho các nước phát triển
Với tư cách là tổ chức thương mại lớn nhất từ trước đến nay, kế thừa vàđược tăng cường khả năng hơn GATT, WTO đảm nhận các chức năng chính sauđây:
+ Quản lý và giám sát việc thực thi các hiệp định thương mại đa biên + Giải quyết các tranh chấp thương mại
+ Hợp tác cùng các tổ chức quốc tế khác tham gia vào việc hoạch địnhchính sách kinh tế toàn cầu
1.2.2 BỘ MÁY TỔ CHỨC VÀ CƠ CHẾ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
Để thực thi đầy đủ, kịp thời cảc trọng trách nêu trên, WTO có một hệthống pháp lý bao trùm lên Hiệp định GATT 1947, đồng thời với 12 Hiệp địnhkèm theo về thương mại hàng hoá các lĩnh vực riêng, Tổ chức thương mại thếgiới mặc nhiên công nhận giá trị pháp lý của khoảng 2000 hiệp định và thoảthuận đã được thông qua trong thời kỳ GATT tồn tại
Trong cơ cấu của WTO cơ quan cao nhất là Hội nghị cấp Bộ trưởng, baogồm đại diện của cả các nước thành viên, được triệu tập ít nhất 2 năm 1 lần Hộinghị này quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến mọi hiệp định thương mại đabiên
Tuy nhiên công việc hàng ngày của WTO sẽ do một số cơ quan chức nănggiải quyết; chủ yếu là Đại hội đồng bao gồm tất cả các thành viên của WTO, có
Trang 15nhiệm vụ làm báo cáo cho Hội nghị cấp Bộ trưởng giải quyết các công việcthường nhật, Đại hội đồng nhóm thành 2 Ủy ban: Ủy ban đánh giá chính sáchthương mại để đánh giá thường xuyên các chính sách thương mại của từng nướcthành viên và Ủy ban giải quyết các tranh chấp để giám sát các thủ tục giải quyếttranh chấp
Đại hội đồng cũng chia sẻ trách nhiệm thành 3 Hội đồng:
- Hội đồng về thương mại hàng hoá
- Hội đồng về thương mại dịch vụ
- Hội đồng về sở hữu trí tuệ có liên quan đến thương mại Trực thuộc mỗi Hội đồng trên có các cơ quan chuyên môn
Ba ủy ban khác được Hội nghị Bộ trưởng thành lập và có nhiệm vụ báocáo lên Đại hội đồng, đó là:
- Ủy ban về thương mại và phát triển
- Ủy ban về cán cân thanh toán
- Ủy ban về ngân sách
Mỗi hiệp định trong 4 hiệp định đa phương của WTO có các cơ quan quản
lý riêng của mình với nhiệm vụ báo cáo lên Đại hội đồng
Giúp việc cho bộ máy nêu trên là Ban thư ký Ban này có trụ sở tạiGeneva, Thụy Sỹ, nơi đặt trụ sở chính của WTO Ban thư ký có khoảng 450 nhânviên, đứng đầu là Tổng giám đốc được chọn theo nguyên tắc nhất trí Dưới Tổnggiám đốc có Phó Tổng giám đốc (4 người ), Giám đốc các Ban chuyên trách doTổng giám đốc đề nghị và được Đại hội đồng thông qua
Ngân sách của WTO vào khoảng 150 triệu USD (năm 2001) do các nướcthành viên đóng góp theo tỷ lệ nhất định trong tổng giá trị hoạt động thương mạicủa chính mình Một phần ngân sách của WTO được dùng để duy trì hoạt độngcủa trung tâm thương mại Quốc tế
1.2.3 NHỮNG THÀNH TỰU CHÍNH TRONG QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI
Trang 16Tổ chức Thương mại Thế giới đã chính thức đi vào hoạt động được hơn
10 năm, trên cơ sở kế thừa và mở rộng về nhiều mặt Hiệp định chung về thuếquan và thương mại trước kia trong 10 năm hoạt động với tư cách của một tổchức thương mại đa biên lớn nhất thế giới, WTO đã làm được nhiều việc khôngnhỏ, tỏ rõ sự thích ứng của mình trong vị trí mới Thậm chí nhiều người đã coi
Tổ chức này như một liên hợp quốc về kinh tế
Sau một năm chuyển đổi cùng tồn tại với GATT và một thời gian hoạtđộng độc lập, đến nay WTO đã đứng vững và bắt đầu đi vào những năm tiếp theomột cách vững chắc mà không để xẩy ra một biến động lớn Đây là kết quả quantrọng nhất bởi lẽ 129 nước thành viên, chiếm tới hơn 90% giá trị thương mại củamột thế giới hiện đại hết sức sôi động thì việc duy trì việc hoạt động kinh doanhquốc tế không phải là dễ Không những thế, hai năm đầu tiên của WTO còn đượcghi nhận từng mức tăng giá trị mậu dịch thế giới tới 100 tỷ USD Danh sách 21chính phủ ( trong đó có Việt Nam) đang ở những giai đoạn khác nhau của quátrình gia nhập WTO cũng cho thấy phần nào kết quả hoạt động của tổ chức này
Về các nội dung hoạt động cụ thể, WTO đã kế thừa xứng đáng GATTthậm chí còn hiệu quả hơn trong một số lĩnh vực Trước hết phải kể đến việc giảiquyết các tranh chấp thương mại Ngay từ khi thành lập các bên ký kết đã đạtnhiều hy vọng vào chức năng giải quyết tranh chấp của WTO sau khi được bổsung nhiều quyền hạn cũng như thay đổi về cơ chế so với thời kỳ kém hiệu quảcủa GATT trước kia Nếu như trước thời GATT các cường quốc kinh tế thườnggây áp lực đối với việc giải quyết tranh chấp hay cố tình trì hoãn việc thi hànhphán quyết thì với các quy định mới tình trạng đó sẽ khó tái diễn Thực tế là chỉtrong 3 năm WTO đã thụ lý hơn 60 hồ sơ tranh chấp Một đặc điểm về các bêntham gia tranh chấp là bên cạnh những"gương mặt" quen thuộc như Mỹ, EU,Nhật, Canada, các nước đang phát triển bắt đầu xuất hiện nhiều hơn, tiêu biểunhư Brasil, Ấn Độ, Mehico, Singpore, Thái Lan Điều này cho thấy vị trí ngàycàng quan trọng của các nền kinh tế đang phát triển nói chung trong kinh tế thếgiới Và phải chăng cơ chế giải quyết hiệu quả của WTO đã tạo cơ hội để những
"kẻ yếu" này lên tiếng bảo vệ quyền lợi cho mình ? Thành công còn thể hiện ở sự
Trang 17đa dạng của các vấn đề tranh chấp, từ việc áp dụng biện pháp kiểm dịch độngthực vật đến các thủ tục cấp giấy phép hay hàng rào kỹ thuật đối với sản phẩmnhập khẩu hoặc bán phá giá hàng hoá, trợ cấp hàng nông sản, vi phạm quyền sởhữu trí tuệ
Nếu giải quyết tranh chấp là nội dung nóng hổi thì việc điều tiết thươngmại hàng hoá lại là nội dung chính, truyền thống từ GATT, nay vẫn chiếm vị tríquan trọng trong hoạt động của WTO Hai năm qua các Ủy ban của WTO đãgiám sát việc thực hiện các Hiệp định của vòng đàm phán Urugoay, soạn thảo và
đệ trình hàng loạt văn bản mới liên quan để củng cố môi trường pháp lý chothương mại hữu hình trên thế giới, đặc biệt là các văn bản liên quan đến các hạnchế số lượng, và các biện pháp phi thuế quan Kể từ mười năm lại đây WTOcũng bắt đầu đưa dần 2 lĩnh vực "nhạy cảm" vẫn từng nằm ngoài khuôn khổ cácnguyên tắc chung của GATT trước đây và hệ thống chung đó là hàng dệt may vànông nghiệp Tuy là những vấn đề phức tạp có tác động lớn đến quyền lợi sốngcòn của nhiều nước lại được điều chỉnh bằng các hiệp định song phương trongthời gian dài (từ vòng đàm phán Tokyo, 1974) nhưng việc hợp nhất các lĩnh vựcnày dưới sự điều chỉnh của WTO đã được các nước hưởng ứng
Về các thành công của WTO không thể không nói đến lĩnh vực lần đầutiên được điều chỉnh một cánh chính thức là dịch vụ, với hai thị trường nổi cộm
là tài chính và viễn thông Thắng lợi rõ nét nhất là thoả thuận đạt được về thịtrường thông tin viễn thông quốc tế ký hồi 2/1997 và việc Nhật Bản mở cửa thịtrường bảo hiểm trị giá tới gần 400 tỷ USD, chấm dứt tình trạng phân biệt đốỉ vớinguyên tắc cơ bản của GATT cũng như WTO lâu nay Các thị trường hàng hải,dịch vụ chuyên ngành cũng được xúc tiến ở các cấp độ khác nhau
Ngoài các lĩnh vực quan trọng nêu trên WTO còn triển khai đồng thờinhiều nội dung khác liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ các biện pháp tự vệ, cáchoạt động đầu tư liên quan đến thương mại, bốn hiệp định đa phương, công tácđào tạo, trợ giúp kỹ thuật cho các nước thành viên WTO cũng đã tạo được mốiquan hệ mới với các tổ chức quốc tế lớn như Liên hợp quốc, Quỹ tiền tệ thế giới,Ngân hàng thế giới, tạo ra cơ chế hành động thống nhất trong điều hành kinh tế
Trang 18thế giới, đồng thời khẳng định tính tổ chức lâu dài của WTO so với tính tạm thờicủa GATT trước kia
Triển khai được nhiều công tác và thu được kết quả bước đầu song WTOcòn nhiều vấn đề cần được tiếp tục giải quyết Ngay như công tác giải quyết tranhchấp thương mại quốc tế, dù đã cải tiến nhiều nhưng một số trường hợp phức tạpthì Ủy ban giải quyết tranh chấp vẫn tỏ ra chậm chạp, như tranh chấp giữa Mỹ vàNhật trong thị trường phim ảnh, hay giữa Tây Ban Nha và Canada về đánh bắt
cá hoặc về luật Helms-Berton của Mỹ chống Cuba Trong điều kiện mới, Ủy bangiải quyết tranh chấp bắt đầu có tình trạng quá tải, ảnh hưởng không nhỏ tới kếtquả hoạt động
Lĩnh vực quyền sở hữu trí tuệ thì chưa tiến được bao nhiêu, trong khi khắpnơi người ta phàn nàn về nạn xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ tưởng chừng có thểdẫn tới các cuộc chiến tranh thương mại quy mô thế giới như trường hợp củaTrung Quốc và Mỹ, hay Mỹ và Nhật
Tuy đã đầu tư khá nhiều công sức nhưng có lẽ hồ sơ ít khả quan nhất củaWTO là quan hệ thương mại - phát triển và thương mại môi trường, có thể thấymột số nước thành viên của WTO là các nước đang phát triển nhưng vị trí của họvẫn chưa cải thiện là bao, trừ một số nước đang phát triển lớn như Trung Quốc,
Ấn Độ, Mehico, Brasil Phần lớn còn lại, nhất là các nước Châu Phi tham gia rấthạn chế vào đời sống kinh tế thế giới so với tiềm năng của họ, hay có tham giathì phải chịu nhiều thiệt thòi Tương tự, vấn đề môi trường được đề cập nhiềutrong các vấn đề hội nghị toàn cầu cũng như khu vực, nhưng vẫn còn thiếu nhiềubiện pháp thực tế hữu hiệu trong khi hàng hoá càng được sản xuất dồi dào baonhiêu thì lượng chất thải công nghiệp, chất thải tiêu dùng càng lớn, tài nguyênthiên nhiên bị khai thác càng nhiều bấy nhiêu
Thời gian tới WTO sẽ còn giải quyết không ít nhiệm vụ khó khăn Cơ bảnnhất là tiếp tục thực thi các Hiệp định của vòng đàm phán Urugoay, các tuyên bốcủa Hội nghị Bộ trưởng tại Singapore, các quyết định và giải thích kèm theo.Bàn bạc và thống nhất về tương lai các nội dung còn chưa triệt để như thươngmại và đầu tư, chính sách cạnh tranh, nông nghiệp dệt may Vấn đề thương mại
Trang 19và môi trường còn tiếp tục phải thảo luận, vì trong khi chưa có một hệ thống tiêuchuẩn chung về môi trường có liên quan về thương mại thì các nước vẫn còndùng vấn đề này như một biện pháp phi thuế quan để bảo hộ hay phân biệt đối xửtrong buôn bán
1.3.1 Nội dung chính
Khi GATT được thành lập năm 1947, chưa có hiệp định nào liên quan đếnhàng dệt may Nhưng chỉ đến cuối thập niên 50, sản phẩm nhạy cảm này đã pháttriển không ngừng Trên thị trường thế giới tình hình trở nên sôi động và cácnước đã chủ động tìm đến hàng loạt hiệp định ngắn hạn rồi dài hạn để thu xếpthị trường hàng dệt may Đặc biệt là đối với một số nước phát triển, đứng trướcsức ép ngày càng tăng của các sản phẩm rẻ hơn từ các nước đang phát triển làmcho hoạt động buôn bán hàng dệt bị lệch khỏi các quy tắc cơ bản của GATT, làmsai lệch cạnh tranh và thương mại thông thường Trước thực tế đó, đầu thập niên
60, lĩnh vực dệt may đã được bàn đến trong khuôn khổ GATT nhưng như mộttrường hợp ngoại lệ, theo các quy tắc đàm phán riêng Trên cơ sở các thoả ướcsong phương giữa các nước và đặc điểm tình hình, dưới sự giám sát của GATT,Hiệp định về mậu dịch quốc tế hàng dệt còn gọi là Hiệp định đa sợi đã được kýnăm 1973 và có hiệu lực từ 01/01/1974
Về cơ bản Hiệp định này cho phép các nước phát triển thông qua các hiệpđịnh song phương hay các hành động đơn phương áp đặt hạn ngạch đối với hàngdệt may nhập khẩu từ các nước đang phát triển MFA có giá trị hiệu lực đối vớicác nước tham gia ký kết chứ không phải là hiệp định bắt buộc với tất cả cácnước thành viên GATT /WTO
Mục tiêu tổng quát của MFA là :
+ Mở rộng và tự do hoá thương mại quốc tế
+ Chống lại tình trạng rối loạn thị trường
+ Tạo thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, xã hội của các nước đang pháttriển
Trang 20Hàng dệt may theo quy định của MFA chỉ giới hạn ở "vải, sợi và các sảnphẩm từ bông, len, sợi nhân tạo" Lần gia hạn trước đây Hiệp định đa sợi có quyđịnh thêm lanh, tơ lụa pha sợi gai.
Nội dung chính của Hiệp định đa sợi có thể tóm tắt qua các điều khoản chủyếu nhất như sau :
+ Điều 1 : Các biện pháp hạn chế đặc biệt trong thương mại quốc tế về
hàng dệt may có thể được áp dụng trong một số thời gian hạn chế
+ Điều 2 : Cho phép nước nhập khẩu đơn phương hạn chế nhập khẩu
trong thời gian một năm nếu việc nhập khẩu đó gây ra tình trạng rối loạn thịtrường, trừ khi nước xuất khẩu chấp nhận một giải pháp hợp lý khác
+ Điều 3: cũng quy định rằng các biện pháp này chỉ được áp dụng đối với
những mặt hàng cụ thể và với nước xuất khẩu những mặt hàng gây ra rối loạn thịtrường đó
* MFA còn cho phép nước nhập khẩu áp dụng điều 3 chỉ khi họ đáp ứngđược các yêu cầu nghiêm ngặt của việc "Chứng minh tình trạng rối loạn thịtrường" Phụ lục A của Hiệp định đa sợi quy định rõ ràng "Việc xác định tìnhhình rối loạn thị trường phải dựa trên những thiệt hại nghiêm trọng đối với nhàsản xuất nội địa hoặc nguy cơ rõ ràng của các thiệt hại" MFA cũng quy định cácthiệt hại phải được xác định trên cơ sở xem xét tình hình kinh tế của một ngànhkinh tế nội địa cụ thể và "Việc tăng nhanh, khối lượng lớn hàng nhập khẩu mộtcách rõ ràng (có thể xác định được) chứ không phải dựa theo phỏng đoán, lậpluận hay khả năng ít xảy ra."
* Điều 3 cũng quy định về cơ chế "Tham vấn" khuyến khích các nướcthành viên tổ chức các cuộc họp song phương thảo luận về thương mại hàng dệtmay
* Theo điều 3 nếu một nước nhận thấy trên thực tế hàng dệt may nhậpkhẩu đang gây rối loạn thị trường nước mình thì đầu tiên phải yêu cầu có cuộctham vấn với các nước xuất khẩu có liên quan
* Khi cuộc thảo luận đi đến thoả thuận thì các bên phải xây dựng thoảthuận này theo quy định ở phụ lục B Theo đó "mức hạn chế số lượng ban đầu sẽ
Trang 21không thấp hơn mức nhập khẩu hay xuất khẩu thực tế của sản phẩm đó trong thờigian 12 tháng, kết thúc vào 2 tháng trước khi đưa ra yêu cầu tham vấn" Phụ lục Bcũng quy định rằng mức nới lỏng các hạn chế nhập khẩu bình quân hàng nămkhông được thấp hơn 6% Một nước nhập khẩu có thể áp dụng mức thấp hơnnhưng trong trường hợp đặc biệt.
* Hiệp định đa sợi còn quy định về tính linh hoạt trong sử dụng hạn ngạch.Nước xuất khẩu có thể cho phép mở rộng hạn ngạch đã được phân bổ đối vớinhóm sản phẩm cụ thể trong thời gian nhất định theo một trong các cách sau :
- Chuyển hạn ngạch không dùng hết của một nhóm sản phẩm sang nhómsản phẩm khác đã dùng hết hạn ngạch; tỷ lệ cho phép là 7%
- Sử dụng trước hạn ngạch của năm tiếp theo; tỷ lệ cho phép là 5%
- Sử dụng trước hạn ngạch của năm trước; tỷ lệ cho phép là 10% Các nướcnhập khẩu có thể áp dụng tỷ lệ thấp hơn trong trường hợp đặc biệt, nhưng tỷ lệSwing không được thấp hơn 5%
+ Điều 4: Cho phép các nước thành viên điều tiết thương mại hàng dệt
may của mình thông qua các hiệp định song phương mà không có nghĩa vụ phảidành các quy định tương tự cho các đối tác thương mại khác
Việc quản lý thực hiện MFA do Ủy ban dệt tiến hành Ủy ban này gồm đạidiện của các bên ký kết Hiệp định đa sợi và do Tổng giám đốc GATT làm chủtịch Ủy ban này sẽ thành lập cơ quan giám sát hàng dệt để theo dõi trực tiếp tìnhhình thực thi MFA
1.3.2 Tình hình thực hiện hiệp định đa sợi
Trong thực tế thi hành Hiệp định đa sợi MFA các nước thường đạt đượccác Hiệp định song phương khác nhau đối với các nước khác nhau Tuy nhiên,hạn ngạch quy định trong các Hiệp định song phương thường được phân theo 3cấp Mức tổng cộng hay là mức hạn chế xuất khẩu của một nước hàng năm.Trong hạn ngạch tổng cộng này có hạn ngạch theo nhóm hàng và theo từng sảnphẩm cụ thể
Trang 22Các sản phẩm không thuộc 3 cấp hạn ngạch trên thì được điều tiết bởi mứctham vấn tính trong Hiệp định song phương, nếu cần có thể được cấp hạn ngạch
bổ sung
Trong nhiều trường hợp các Hiệp định song phương cho phép áp dụng nộidung linh hoạt trong sử dụng hạn ngạch, chuyển hạn ngạch không dùng hết giữacác nhóm sản phẩm, carryforward hay carryover hạn ngạch không dùng hết giữacác năm dương lịch
Qua thực tế điều tiết thương mại hàng dệt may từ năm 1974 đến năm 1994.Hiệp định đa sợi đã được gia hạn 4 lần vào các năm 1981, 1986, 1993 và cho đếnnay đã có hơn 40 nước tham gia vào ký kết và thực hiện Hiệp định đa sợi, giá trịxuất khẩu năm 1994 của các nước tham gia MFA đạt 136 tỷ USD, chiếm 80%thương mại dệt may thế giới (gồm cả thương mại nội bộ EU) Phạm vi điều chỉnhcủa MFA không ngừng được mở rộng cả về nhóm hàng và nước tham gia Vớiquy định ban đầu là các hạn chế số lượng MFA đã được các nước áp dụngchuyển thành biện pháp tự nguyện hạn chế xuất khẩu một cách có hệ thống thôngqua gần 100 Hiệp định song phương
Trang 23(Nguồn : Current Situation of World Textile Industry, Japan Ministry of
Trade and Industry)
Có thể nói MFA đã tạo cho các nước phát triển một cơ chế quốc tế hiệuquả hơn để đối phó với tình trạng phá vỡ thị trường hàng dệt, bảo hộ sản xuất.Mặt khác nó cho phép các nước đang phát triển thâm nhập phần nào vào thịtrường ngày càng tăng của các nước phát triển và tạo ra sự mở rộng của thịtrường dệt may
Dù điều 3 quy định rằng các biện pháp hạn chế chỉ được áp dụng đối vớinhững mặt hàng cụ thể và với nước xuất khẩu những mặt hàng gây ra rối loạn thịtrường đó Nhưng trên thực tế chúng đã mở rộng và đang điều tiết toàn bộ thươngmại hàng dệt may thế giới
Điều quan trọng nhất là các quy định của MFA đã vi phạm nghiêm trọngnguyên tắc cơ bản không phân biệt đối xử của GATT bằng việc cho phép cácnước đặt ra các hạn chế thương mại thông qua các Hiệp định song phương haycác hành động đơn phương Hơn thế nữa, rất khó quản lý việc áp dụng MFAtrong các Hiệp định song phương mang nặng tính chất phân biệt đối xử vì chúngcòn phụ thuộc nhiều vào các lý do chính trị Do vậy, có thể nói nhiều năm quaMFA đã tồn tại như vừng sáng mờ, một ngoại lệ của GATT
Trên thực tế, MFA cũng đã không giúp cải thiện đáng kể nền công nghiệpđang giảm dần sức cạnh tranh do chi phí cao ở các nước phát triển dù có bảo hộchúng Vì nhìn tổng thể, khi thống nhất áp dụng hạn ngạch cả nước xuất khẩu vànước nhập khẩu đã liên kết với nhau để kìm hãm sự tự do hoá thị trường, là điềutối kỵ đối với mọi ngành công nghiệp Yêu cầu đặt ra hiện nay là phải nhất thểhoá thương mại hàng dệt may theo các nguyên tắc chung của GATT/WTO hayđặt lĩnh vực này dưới sự điều chỉnh của hệ thống thương mại thế giới Như vậykhông những tăng cường sức mạnh cho WTO mà còn tạo ra cơ hội tự do hoáhoàn toàn một trong những thị trường sôi động nhất của mậu dịch hàng hoá thếgiới Nhiều nước phát triển vì lợi ích của mình đã không nhất trí với mục tiêu màmong muốn duy trì hạn chế số lượng theo quy định của MFA Điển hình là Mỹ
Trang 24và Châu Âu đều khuyến khích một cơ chế "tăng dần" (Growing-up) nghĩa là ápdụng MFA cho tất cả các sản phẩm dệt may và gia hạn Hiệp định đa sợi cho đếnkhi việc áp dụng hạn ngạch giảm bớt tính bảo hộ Tuy nhiên, do sự đấu tranhquyết liệt của phần lớn các nước thành viên GATT/WTO đã đạt được Hiệp định
về hàng dệt may quyết định chính thức đưa hàng dệt may vào khuôn khổ của Tổchức thương mại thế giới
1.4.1 Tóm tắt Hiệp định
Như đã trình bày ở trên, từ những năm 70, do tính nhạy cảm mà mặt hàngdệt may được điều chỉnh riêng theo Hiệp định đa sợi như một ngoại lệ củaGATT Nhưng từ vòng đàm phán Urugoay với sự lớn mạnh về nhiều mặt củaGATT và sự ra đời của Tổ chức Thương mại Thế giới các nước thành viên đãnhất trí đưa hàng dệt may vào khuôn khổ điều tiết chung theo các nguyên tắcchung của GATT/WTO như các mặt hàng khác Quyết định này đã được cụ thểhoá bằng Hiệp định về hàng dệt may (Agreement on Textile và Clothing - sauđây gọi tắt là ATC) có hiệu lực từ ngày 1/1/1995 tức là đồng thời với sự ra đời
Tổ chức Thương mại Thế giới và chấm dứt khi toàn bộ các sản phẩm dệt mayđược đưa vào tự do hoá hết (Cụ thể là đến 1/1/2005)
Bắt đầu từ đây các hoạt động trao đổi trên thị trường dệt may thế giới sẽchịu sự điều chỉnh của qui phạm pháp luật mới này Kể cả khi không còn hiệu lựcthì Hiệp định ATC cũng vẫn để lại những ảnh hưởng nhất định đối với hình tháicủa thị trường dệt may thế giới sau này Do vậy phần tiếp theo của khóa luận giớithiệu tóm tắt nội dung của Hiệp định ATC cũng là những yêu cầu mà Việt Nam
sẽ phải tuân thủ khi tham gia WTO
Hiệp định ATC gồm có 9 điều và một danh mục các mặt hàng dệt maythuộc điều chỉnh đã được phân theo hệ mã HS 6 số (Hệ thống mã hoá và phânloại hàng hoá hài hoà của Ủy ban hợp tác hải quan quốc tế thông qua ngày14/6/1983 có hiệu lực từ 1/1/1997
Trang 25Để giám sát và điều chỉnh quá trình thực hiện Hiệp định ATC, Ban giámsát sản phẩm dệt may sẽ được thành lập (gọi tắt là TMB), TMB là cơ quan đặctrách giải quyết mọi vấn đề phát sinh trong khi thực hiện Hiệp định ATC, TMBbao gồm chủ tịch và 10 đại diện luân phiên của các nước thành viên TMB sẽ báocáo cho hội đồng thương mại hàng hoá của WTO, cơ quan chịu trách nhiệm đánhgiá hoạt động của Hiệp định ATC trước khi kết thúc từng giai đoạn của quá trìnhhoà nhập.
Nội dung quan trọng nhất của Hiệp định là điều khoản về các hạn chế sốlượng và chương trình chuyển tiếp sản phẩm dệt may vào khuôn khổ WTO
Trong vòng 60 ngày kể từ ngày Hiệp định ATC có hiệu lực các nước thànhviên phải thông báo tất cả các hạn chế về số lượng của mình theo các Hiệp địnhsong phương đã ký cho Ban giám sát hàng dệt may Các hạn chế về số lượng baogồm toàn bộ các hạn chế mà nước thành viên áp dụng trước ngày Hiệp định ATC
+ Ngày 1/1/1995 các nước thành viên phải tự do hoá thêm ít nhất 16%tổng khối lượng sản phẩm dệt may nhập khẩu năm 1990 của mình
+ Ngày 1/1/1998 các nước thành viên phải tự do hoá thêm ít nhất 17%tổng khối lượng sản phẩm dệt may nhập khẩu năm 1990 của mình
+ Ngày 1/1/2002 các nước thành viên phải tự do hoá tiếp ít nhất 18% tổngkhối lượng sản phẩm dệt may nhập khẩu năm 1990 của mình
+ Ngày 1/1/2005, toàn bộ sản phẩm còn lại phải được tự do hoá
Trang 26Các sản phẩm đưa ra để hoà nhập phải được lựa chọn từ danh mục hànghoá đã được chia theo 4 nhóm chính là : sợi, vải, phụ liệu dệt và hàng may sẵnkèm Hiệp định ATC.
Cùng lúc với việc thực hiện chương trình chuyển tiếp, các hạn chế đang ápdụng theo các Hiệp định song phương (trong khuôn khổ MFA) có hiệu lực từtrước ngày 1/1/1995 Hàng năm phải được nới lỏng theo các tỷ lệ tương ứng nhưsau :
+ Giai đoạn 1 (1995-1998): tỷ lệ nới lỏng hạn chế thấp nhất 16%/năm.+ Giai đoạn 2 (1998-2002): tỷ lệ nới lỏng hạn chế thấp nhất 25%/năm.+ Giai đoạn 3 (2002-2005): tỷ lệ nới lỏng hạn chế thấp nhất 27%/năm.Sau thời hạn 10 năm nêu trên, các quy định hạn chế nhập khẩu theo MFAtrước kia hay không theo quy định của GATT sẽ bị loại bỏ hoàn toàn
Nếu một nước thành viên không thông báo bảo lưu quyền áp dụng các biệnpháp tự vệ khẩn cấp thì các sản phẩm dệt may coi như đã hoàn toàn được đưa vàoGATT 1994 Vì vậy, nước thành viên này không phải thực hiện các nghĩa vụ lậpchương trình 3 giai đoạn đưa 16,17,18% khối lượng sản phẩm dệt may năm
1990 vào GATT 1994
Hiệp định ATC cũng quy định về các biện pháp tự vệ khẩn cấp cho cácnước thành viên Điểm quan trọng là các điều khoản này chỉ áp dụng đối với cácsản phẩm chưa đưa vào GATT
Theo đó, các biện pháp tự vệ khẩn cấp cũng được áp dụng giống nguyêntắc của GATT là theo từng sản phẩm chứ không theo mã HS
Điều 6: Quy định các biện pháp tự vệ khẩn cấp của Hiệp định ATC này
Trang 27- Các sản phẩm từng buôn bán với số lượng lớn như : túi sách, thảm trảichân, thảm đay, cói
Các biện pháp tự vệ khẩn cấp chỉ được áp dụng trên cơ sở:
+ Một sản phẩm đang được nhập khẩu với số lượng tăng lên, gây ra hay đedọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho sản xuất trong nước hoặc các sản phẩmtrong nước cạnh tranh trực tiếp
+Việc gây ra hay đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng phải được chứngminh rằng đó là hậu quả của việc tăng số lượng nhập khẩu chứ không phải bởicác yếu tố khác như thay đổi công nghệ hay do sự thay đổi thị hiếu khách hàng
Khi xác định thiệt hại của một sản phẩm, nước thành viên chỉ ra mức độảnh hưởng của các sản phẩm nhập khẩu đó đối với một ngành công nghiệp cụthể, và phải được phản ánh qua các chỉ số kinh tế như sản lượng, công suất sửdụng thiết bị, mức tồn kho, thị phần, lương công nhân Không được xác định mộtyếu tố hoặc tổng hợp các yếu tố trên để ra quyết định
Hiệp định ATC cho phép không áp dụng biện pháp tự vệ khẩn cấp đối vớisản phẩm xuất khẩu của các nước thành viên mà sản phẩm xuất khẩu của họ đãchịu hạn chế theo Hiệp định này
Khi áp dụng các biện pháp tự vệ, các biện pháp cụ thể sẽ được cân nhắc đểbảo vệ quyền lợi của các nước xuất khẩu
+ Các nước kém phát triển sẽ được đối xử đặc biệt ưu đãi hơn so vớinhững đối xử dành cho nhóm các nước phát triển thành viên
+ Các nước xuất khẩu với số lượng nhỏ so với nhóm các nước thành viênkhác hay các nước xuất khẩu có tổng số chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng nhậpkhẩu vào một nước thành viên sẽ được đối xử hoàn toàn khác biệt ưu đãi hơn sovới các nước khác
Việc áp dụng các biện pháp tự vệ khẩn cấp phải bảo đảm nguyên tắc khôngphân biệt đối xử, không gây cản trở đối với thương mại quốc tế
Các nước tiến hành các biện pháp tự vệ khẩn cấp phải tham vấn các nướcthành viên bị ảnh hưởng của các biện pháp đó theo một trình tự do Hiệp địnhATC quy định
Trang 28Thời hạn áp dụng các biện pháp tự vệ khẩn cấp cũng được quy định rõ.+ Tối đa là 3 năm và không được gia hạn thêm.
+ Hoặc cho tới khi các sản phẩm bị hạn chế được đưa vào GATT (tuỳ theothời hạn nào đến trước)
Nếu các biện pháp tự vệ khẩn cấp phải kéo dài hơn 1 năm thì mỗi nămphải nới lỏng với tỷ lệ nhỏ nhất là 6%
Ngoài ra, Hiệp định ATC còn yêu cầu các nước thành viên thực hiện cácnguyên tắc chung như mở cửa thị trường, không phân biệt đối xử trong thươngmại của GATT /WTO Cụ thể như :
- Mở cửa thị trường dệt may thông qua các biện pháp giảm thuế, loại bỏcác hàng rào phi thuế quan, thuận lợi hoá các thủ tục hải quan, thủ tục hànhchính
Theo Hiệp định ATC về mở cửa thị trường thì mức thuế đối với hàng dệtmay sẽ giảm 12% so với mức trung bình hiện nay trong vòng 10 năm
- Áp dụng các biện pháp, chính sách tạo điều kiện cho một nền thương mạicông bằng
- Không phân biệt đối xử đối với hàng dệt may
Các hoạt động của các nước thành viên liên quan tới các quy tắc nói trênphải thông báo cho TMB, trong trường hợp cần thiết phải thông báo cho các cơquan của WTO và các nước thành viên
Trong trường hợp một nước thành viên phát hiện một nước thành viênkhác không tuân thủ các nguyên tắc chung trên cũng như quyền và nghĩa vụ theoHiệp định ATC này thì có quyền đưa vấn đề ra các cơ quan hữu quan của WTO
và thông báo cho TMB
1.4.2 Tình hình thực hiện Hiệp định ATC trong thời gian qua
Tính đến nay Hiệp định về hàng dệt may của vòng đàm phán Uruguay(ATC) đã có hiệu lực được hơn 7 năm Trong thời gian này, nhiều nước thànhviên WTO đã tích cực thực hiện những yêu cầu của giai đoạn 1 quá trình hoà
Trang 29nhập trở lại mậu dịch hàng dệt may theo các nguyên tắc chung của GATT /WTOhay nói cách khác là tự do hoá thương mại hàng dệt may thế giới.
1.4.2.1 Về danh mục đưa vào tự do hoá.
Theo quy định tại các khoản 6 và 7, điều 2 giai đoạn 1 của quá trình hoànhập các nước thành viên phải chọn trong danh mục hàng hoá kèm theo 90 Hiệpđịnh những chủng loại sản phẩm chiếm ít nhất 16% khối lượng nhập khẩu hàngdệt may năm 1990 nước mình để thực hiện tự do hoá Trong thời gian thực hiệnvừa qua ta thấy nổi lên các nước và khu vực : Canada, EU, Na Uy, Mỹ đã thôngbáo danh mục của mình sớm nhất vào ngay ngày 1/11/1994 (chỉ sau ngày kýTuyên bố Marakesh thành lập WTO có 6 tháng 15 ngày) Và cho đến hết tháng11/1996 thì đã có 143 nước và khu vực đưa ra danh mục sản phẩm dệt may củamình sẽ tự do hoá trong giai đoạn I
Bảng 2: Tỷ lệ sản phẩm được tự do hoá của các nước tính đến hết 11/2000.
(Tên nước tính theo thứ tự bảng chữ cái tiếng Anh)
TT Tên nước Tỷ lệ sản phẩm được tự do hoá so với khối lượng
Trang 3024 Marốc 16,89 ( Nhập khẩu Dệt-May)
25 Nicaragua 16,64 ( Nhập khẩu Dệt-May)
34 CH Slovak 16,11 ( Nhập khẩu năm 1993)
35 Slovenia 16,06 ( Nhập khẩu năm 1992)
(Nguồn : Báo cáo của Đại hội Đồng tại Hội nghị Bộ trưởng 2000 của WTO)
Ngoài các nước nêu trên, Ban giám sát sản phẩm dệt may còn đang tiếp tụcxác nhận các báo cáo của Israel, Myanmar, Saint Kitts và Nevils đưa tổng số cácnước và khu vực đã thông báo lên 47 TMB cũng đã chích thức xác nhận cácdanh mục hàng hoá của các nước đạt yêu cầu về số lượng, chủng loại đã nêutrong Hiệp định Tuy nhiên có một số lấy một thời gian mốc để tính giá trị sảnphẩm khác 1990 như CH Czech ( từ 1993), Hungary (92)
Trang 31Qua tổng kết, không có nước thành viên nào áp dụng khoản 10, điều 2 để
tự do hoá sản phẩm dệt may của mình trước khi thông báo theo thời hạn quyđịnh
Nhìn chung, các danh mục sản phẩm đều được các nước đặc biệt là cácnước phát triển “lựa chọn” cẩn thận nên dù nhiều nhưng phần lớn sản phẩm lạikhông phải đối tượng áp dụng các hạn chế trước kia Trên thực tế, mới chỉ có mặthàng găng tay lao động do Canađa đưa ra là loại đã từng bị hạn chế nhập khẩu
Hơn thế nữa các sản phẩm đưa vào tự do hoá ở giai đoạn này chủ yếu làloại bỏ giá trị gia tăng (Value - added) thấp thuộc nhóm vải sợi trong khi nhómhàng may sẵn có tỷ trọng thấp hơn nhiều Do vậy, có thể thấy rằng giai đoạn Icủa quá trình hoà nhập sẽ không có nhiều ý nghĩa về thương mại Nhiều nước đãkiến nghị danh mục sản phẩm được tự do hoá phải kết hợp cả sản phẩm có vàkhông áp dụng hạn chế trước kia, Các sản phẩm nhạy cảm và không nhạy cảm,đặc biệt là sản phẩm may mặc
Từ thực tế nêu trên thì triển vọng mở cửa thị trường tạm thời nhờ vào việcnới lỏng 16% hạn chế số lượng hàng năm trong giai đoạn I, theo quy định tạikhoản 13 và 18 của điều 2 của Hiệp định
1.4.2.2 Về các Hiệp định song phương trong khuôn khổ MFA
Khoản 1 điều 2 của hiệp định ATC quy định tất cả các hạn chế số lượng ởcác Hiệp định song phương có hiệu lực từ trước ngày 1/1/1995 trong khuôn khổHiệp định đa sợi (MFA) trước kia phải được thông báo chi tiết cho TMB (về khốilượng, tỷ lệ tăng hàng năm, điều khoản mềm dẻo của hạn ngạch ) Đến nay, đã có
EU, Canada, Mỹ, Nauy thông báo về các hạn chế này Đồng thời TMB cũng đãnhận và xử lý các ý kiến có liên quan đến các thông báo nêu trên từ Colombia,Hongkong và Macao, (về thông báo của Mỹ): Hàn Quốc (về thông báo củaCanada, EU, và Mỹ)
1.4.2.3 Về việc các biện pháp hành chính trong thực hiện các hạn chế
Khoản 17 điều 2 quy định các thoả thuận song phương và phù hợp với yêucầu của Hiệp định về các biện pháp hành chính trong khi thực thi Hiệp định giữacác nước liên quan phải được thông báo đầy đủ cho TMB Các biện pháp hànhchính liên quan đến hệ thống kiểm soát xuất khẩu có thể là thủ tục cấp giấy phépxuất khẩu, quản lý hoạt động xuất khẩu, các điều khoản mềm dẻo của hạn ngạch
Trang 32cho đến nay đã có thỏa thuận của Marituis với Mỹ và giữa Canada vớiBangladesh được xác nhận Một số thông báo tương tự khác đang được xemxét.
1.4.2.4 Về việc áp dụng các biện pháp tự vệ:
Theo điều 6 của Hiệp định, các nước có quyền áp dụng các biện pháp tự
vệ hạn chế nhập khẩu đối với những sản phẩm do Hiệp định điều chỉnh và chưađược tự do hoá trong trường hợp có thiệt hại hay nguy cơ thiệt hại Nếu như vậynước nhập khẩu phải tham vấn các nước thành viên liên quan và thông báo choTMB trước khi áp dụng đơn phương các biện pháp tự vệ (Theo khoản 10, điều6) hoặc đi đến một thoả thuận về biện pháp tự vệ cần thiết (theo khoản 9 điều 6).Hiện nay đã có 7 nước quyết định không sử dụng quyền áp dụng các biện pháp tự
vệ, 51 nước thành viên khác bảo lưu quyền này Trong thời gian thi hành Hiệpđịnh vừa qua các biện pháp tự vệ đã được áp dụng như sau:
+ Các biện pháp tự vệ được các nước đơn phương áp dụng: 23 lần
+ Các biện pháp tự vệ thoả thuận áp dụng theo khoản 8, điều 6: 8 lần
Cùng với các trường hợp nêu trên, phía Mỹ còn một lần tham vấn Brasil về
áo ngoài làm bằng len cho nam và (Category 434) vào ngày 26/4/95 nhưngkhông đưa ra biện pháp tự vệ
Như vậy chỉ có 2 nước đã áp dụng biện pháp tự vệ là Mỹ (áp dụng với 14nước thành viên trong 25 trường hợp) và Brasil với hai nước thành viên trong 7trường hợp Thời gian cụ thể như sau:
Bảng 3: Thời gian và số lần các nước yêu cầu được áp dụng biện phảp tự vệ
Trang 33III Mỹ 0
(Nguồn: Báo cáo của đại hội đồng năm 2000)
Ngoài ra TMB còn được Hồngkông thông báo về yêu cầu tham vấn ThổNhĩ Kỳ theo khoản 4, điều 4 Quy tắc giải quyết tranh chấp và khoản 1 điều 22của GATT 1994 liên quan đến việc Thổ Nhĩ Kỳ đơn phương áp đặt hạn chế sốlượng đối với hàng loạt sản phẩm dệt may nhập khẩu từ Hồng Kông từ 1/1/996
Tóm lại, Hiệp định ATC đã được các nước thành viên hưởng ứng tích cực
và dù có xuất hiện một số trở ngại trong quá trình thực hiện thì Hiệp định nàycũng vẫn đang đi dần vào thực tiễn với những tác động cụ thể
1.4.3 Tác động của hiệp định ATC đối với môi trường kinh doanh dệt - may quốc tế
Một điều dễ nhận thấy là hiệp định ATC đã bắt đầu làm thay đổi căn bảnmôi trường kinh doanh hàng dệt may thế giới, một môi trường mà từ hàng chụcnăm nay luôn tồn tại các rào cản thương mại một cách công khai dưới sự bảo trợcủa hiệp định đa sợi Những dấu hiệu mới này tất nhiên sẽ theo hướng tự do hoáthị trường, đặc biệt kích thích xuất khẩu của các nước đang phát triển vào cácnước phát triển sau khi các vật cản đã được dỡ bỏ hoàn toàn
Nhìn sâu hơn thì các nước đang phát triển Châu Á sẽ được lợi từ Hiệp địnhmới ký nhiều hơn so với các nước châu Mỹ Latinh hay Châu Phi Bởi lẽ các khuvực này phải chịu các hạn chế của MFA nhiều hơn, Châu Á ít bị ràng buộc bởicác hạn ngạch ngặt nghèo của các Hiệp định ATC theo những cách khác nhau.Nhìn chung các nước mới phát triển mạnh gần đây như Indonesia, Malaysia,Philippines sẽ "hào hứng " hơn các nước đi trước như Hàn Quốc, Đài Loan,Hongkong
Viện kinh tế Công nghiệp và Thương mại Hàn Quốc đã đưa ra những dựđoán về tác động của Hiệp định ATC đối với sản xuất và trao đổi hàng dệt maythế giới như sau:
Trang 34Tóm lại, Hiệp định ATC đã được các nước thành viên hưởng ứng tích cực
và dù có xuất hiện một số trở ngại trong quá trình thực hiện thì Hiệp định nàycũng vẫn đang đi dần vào thực tiễn với những tác động cụ thể
Bảng 4: Dự đoán các tác động của hiệp định ATC đối với sản xuất và
thương mại hàng - dệt may thế giới
(Nguồn: Trích dự đoán thị trường dệt may thế giới – Viện Kinh tế Công nghiệp
và Thương mại Hàn Quốc )
Từ một vài năm trở lại đây đã thấy rõ sự chuyển dịch sản xuất từ các nước
"đàn anh" sang các nước mới ở Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam thông quađầu tư nước ngoài hay gia công xuất khẩu Và tại nơi mới, ngành Dệt - Maynhanh chóng trở thành một ngành công nghiệp mũi nhọn, đóng vai trò quan trọngtrong chiến lược phát triển của các nước này Như vậy,bằng các quy định tiến tớixoá bỏ các rào cản bấy lâu nay, Hiệp định về hàng dệt may (ATC) đã mở ra mộtthời kỳ mới cho sự phát triển của ngành, không chỉ tại các nước đang phát triển
mà cả trên quy mô toàn cầu
Trang 35Muốn tận dụng được cơ hội này, cách duy nhất mang tính chiến lược lànghiên cứu kỹ năng lực sản xuất thực tế của ngành Dệt - May Việt Nam mà đề
ra các định hướng phù hợp
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÀNH DỆT - MAY
VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM QUA.
2.1 GIỚI THIỆU VỀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM.
2.1.1 Nét chung của ngành dệt may xuất khẩu Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu của chương này là thực trạng xuất khẩu và năng lựccạnh tranh của hàng dệt may Việt Nam xuất khẩu trong những năm qua Tuynhiên để có thể phân tích được đầy đủ tình hình xuất khẩu và cạnh tranh đó, đềtài không thể không trình bày tóm lược tình hình sản xuất, bởi lẽ sản xuất là cơ sởhình thành xuất khẩu và năng lực cạnh tranh trong xuất khẩu theo nguyên tắc :sản xuất - tiêu thụ trong nước - xuất khẩu và cạnh tranh trong xuất khẩu
So với nhiều ngành khác, ngành dệt may ở Việt Nam là ngành công nghiệptruyền thống có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển Từ khi đổi mới, ngành dệtmay không ngừng phát triển cả về qui mô, năng lực sản xuất, trình độ công nghệtrang thiết bị, ngày một tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng sản phẩm Chođến nay, sản phẩm dệt may Việt nam đã đáp ứng được phần lớn nhu cầu trongnước và có khả năng xuất khẩu lớn sang các thị trường khó tính như EU, NhậtBản, Bắc Mỹ Việc xuất khẩu hàng dệt may đã đem lại một khoản ngoại tệ rấtđáng kể để đổi mới và nâng cấp toàn bộ trang thiết bị công nghệ của ngành dệtmay Chỉ tính riêng trong bốn năm gần đây (1999 - 2002), xuất khẩu của ngànhdệt may đã mang về cho đất nước trên 8,3 tỉ USD, chỉ thấp hơn mức kim ngạchdầu thô nhưng đứng đầu tất cả các ngành xuất khẩu chế biến trong cả nưóc.Ngành dệt may không chỉ đem lại nguồn tích luỹ cho đất nước mà còn góp phầnquan trọng giải quyết việc làm, mang lại thu thập cho người lao động, tạo sự ổnđịnh kinh tế, chính trị, xã hội Nước ta có dân số đông, nguồn lao động dồi dào,người Việt Nam lại có truyền thống cần cù và rất sáng tạo Mặt khác, giá cả sinh
Trang 36hoạt thấp, chi phí lao động hạ, tạo điều kiện thuận lợi cho hàng dệt may có ưu thếcạnh tranh Đặc điểm của ngành dệt may không đòi hỏi vốn đầu tư lớn, quayvòng vốn nhanh, đội ngũ công nhân lành nghề có thể sản xuất được những sảnphẩm chất lượng cao nếu được đào tạo tốt Hơn nữa, Việt nam còn có vị trí địa lý
và cảng khẩu rất thuận lợi cho việc chuyên chở hàng hoá bằng đường biển nêngiảm được chi phí vận tải Hệ thống cảng biển Việt Nam nói chung đều gần kềđường hàng hải quốc tế nên có thể hành trình theo tất cả các tuyến đi Bắc Á,Đông Á và Nam Á - Thái Bình Dương, đi Trung Cận Đông, châu Âu, châu Phi,châu Mỹ Từ cảng Sài Gòn đến đường hàng hải quốc tế thường chỉ mất ba giờhành trình với 40 hải lý Việt Nam cũng nằm trong khu vực các nước xuất khẩulớn hàng dệt may như Trung Quốc nên ngành công nghiệp Việt Nam đang là mộtthị trường hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài
Có thể nói, phát triển ngành dệt may Việt Nam là phát huy tối đa những lợithế hiện nay để phát triển kinh tế, thực hiện thành công mục tiêu công nghiệp hoá
- hiện đại hoá đất nước
2.1.2 Đánh giá tổng quát khả năng sản xuất trong nước.
Xét trên tổng thể, hiện nay, giá trị sản phẩm của ngành dệt may đangchiếm gần 9% tổng giá trị của toàn ngành công nghiệp Việt Nam, trong đó ngànhdệt chiếm 4,7%, ngành may chiếm 4,3% Điều đó khẳng định rõ vị trí của ngànhdệt may trong cơ cấu các ngành công nghiệp
Tổng 12.941,4 17.675,2 20.996,9 20.549,6 24.719,0
Trang 37Nguồn : Niên giám thống kê 2001 - Năm Thống kê
Bảng thống kê trên cho thấy, dệt và may đạt giá trị sản xuất gần tươngđương nhau Tuy nhiên, trong xu hướng phát triển hiện nay, ngành may đangtăng trưởng nhanh hơn, đặc biệt là may công nghiệp xuất khẩu Trên thực tế,ngành dệt trong nước mặc dù đã rất cố gắng nhưng vẫn chưa đủ khả năng đápứng nhu cầu của ngành may cho nên chúng ta vẫn phải nhập ngoại khá nhiều.Theo số liệu của Tổng Công ty Dệt may Việt Nam, tình hình sản xuất của ngànhdệt may Việt Nam được đánh giá qua sản lượng sợi, sản lượng dệt, và sản lượngmay của các doanh nghiệp dệt may như sau :
Bảng 6: Năng lực sản xuất của ngành dệt may
Các loại
d.nghiệp Sản lượng dệt Sản lượng may
Sản lượng sợi (tấn)
Vải dệt (1000m2)
Đan kim (100kg)
Nguồn : Báo cáo năng lực sản xuất Tổng Công ty Dệt may Việt Nam (Vinatex)
Qua số liệu trên, có thể nói, tình hình sản xuất của ngành dệt may nước ta
đã có những bước trưởng thành rõ rệt Thực vậy, sản lượng sợi dệt năm 1991 mớichỉ đạt 40.000 tấn, đến năm 1997 đã là 69.000 tấn và đến năm 2002 đã lên tớicon số trên 100.000 nghìn tấn Điều đó cho thấy, khả năng sản xuất sợi, nguyênliệu cung cấp cho các công ty may đã tăng đáng kể Tuy nhiên, ngành dệt vẫn
Trang 38phải nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của mình, không chỉ bằng lòng vớiviệc cung cấp cho các doanh nghiệp may trong nước như hiện nay Trong ngànhdệt may, các cơ sở sản xuất tuy đã được phân bổ trong cả nước nhưng tình hìnhphân bố đó vẫn chưa thực sự hợp lý.
Hiện nay, Tổng Công ty Dệt may Việt Nam có hơn 40 doanh nghiệp thànhviên hạch toán độc lập (tham gia sản xuất từ kéo sợi, dệt vải đến các khâu maymặc), một công ty tài chính, 4 xí nghiệp cơ khí, 2 công ty liên doanh, 2 việnnghiên cứu ứng dụng và 3 trường đào tạo kinh tế kỹ thuật, 2 công ty dịch vụthương mại ở Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, các chi nhánh ở Đà Nẵng vàHải Phòng Xét trên cả nước, ngành dệt may Việt Nam hiện có gần 250 cơ sở sảnxuất dệt và 500 cơ sở sản xuất may, có cả doanh nghiệp quốc doanh và ngoàiquốc doanh, phân bố chủ yếu ở các thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh,
Hà Nội, Đà Nẵng
Khu vực ngoài quốc doanh, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân, hộ cá thểnhững năm gần đây vẫn đang tăng nhanh về số cơ sở và giá trị sản phẩm Điều đótạo thế phát triển cho ngành dệt may Việt Nam Điều đáng chú ý là số lượng nhâncông thu hút vào ngành may hiện nay lên tới khoảng nửa triệu người, chiếm 20%lực lượng lao động trong ngành công nghiệp chế biến của Việt Nam (trong đó80% là nữ) Về trình độ văn hoá và chuyên môn kỹ thuật của ngành, trình độ laođộng phổ thông còn chiếm đa số với 66%, trong khi công nhân lành nghề chỉchiếm 28,6% Bên cạnh đó, lực lượng lao động có trình độ trung cấp và đại học,lực lượng chủ chốt để phát triển ngành dệt may cả về kỹ thuật sản xuất và kỹthuật nghiệp vụ thương mại quốc tế còn rất thấp, hiện chỉ chiếm có 5,5% Trongkhi ở các nước khác, con số này là 15 - 20% Như vậy, toàn ngành dệt may nước
ta đang còn thiếu 30.000 lao động có tay nghề cao, trong đó cần 400 kỹ sư côngnghệ giỏi
2.1.3 Tóm lược tình hình công nghệ của ngành dệt may Việt Nam
Những năm gần đây, trang thiết bị ngành dệt may đã tăng nhanh cả về sốlượng và chất lượng, từ máy đạp chân C22 của Liên Xô (cũ), máy 8322 của Đức
Trang 39đến máy Juki của Nhật và FFAP của CHLB Đức Sự cố gắng lớn nhất của TổngCông ty Dệt May Việt Nam vừa qua là việc đầu tư cải tạo, nâng cấp và thay thếhàng loạt thiết bị, điển hình là trang bị tự động Auto-leveller máy ghép, máy ống
và hệ thống chải bông để tận dụng gần 500.000 cọc sợi chưa có điều kiện thaythế ở các nhà máy kéo sợi
Vừa qua, Tổng công ty cũng thay thế trên 4.000 máy dệt khổ hẹp, thiếu hệ
tự động và không đảm bảo chất lượng sản phẩm, đồng thời đổi mới toàn bộ thiết
bị hồ mắc đánh ống nhằm đáp ứng cho máy dệt hiện đại tốc độ cao, khổ rộng.Thiết bị dệt kim cũng được đổi mới 55% để sản xuất đồng bộ các mặt hàng caocấp Số 45% còn lại cũng được nâng cấp, bổ sung để hoàn thiện dây chuyền sảnxuất
Để đáp ứng yêu cầu chất lượng sản phẩm cao, công nghệ may cũng nhanhchóng được nâng cấp, các dây chuyền may được bố trí theo qui mô vừa phải (25máy), sử dụng 34 - 37 lao động gọn nhẹ và có nhân viên kiểm tra thường xuyên,
có khả năng chấn chỉnh sai sót ngay và thay đổi mẫu mã sản phẩm Khâu hoàn tấtđược lắp đặt các thiết bị đóng túi, súng bắn nhãn, máy dò kim Công nghệ tinhọc cũng được ưu tiên đưa vào những khâu sản xuất chính ở một số doanhnghiệp
Cùng với những cố gắng trên, mặt hạn chế điển hình nhất của ngành dệtmay Việt Nam hiện nay là năng suất lao động còn thấp, giá thành sản phẩm cao,mẫu mã cải tiến còn chậm Nguyên nhân chính của tình trạng này là do trình độcông nghệ chưa cao và chưa đồng bộ, tổ chức sản xuất chưa hợp lý, chưa khaithác tốt công suất của dây chuyền công nghệ Bên cạnh đó, năng lực thiết kế mẫu
"mốt" và kỹ thuật may công nghiệp còn yếu, khâu cắt chưa được hiện đại hoá,còn dùng phương pháp thủ công So với công nghệ của các nước Trung Quốc,Thái Lan, trình độ công nghệ của Việt Nam còn lạc hậu khoảng 5 - 7 năm, phầnmềm điều khiển lạc hậu từ 15 - 20 năm Thời gian qua ngành may mới chỉ khaithác được khoảng 50 - 60% năng lực sản xuất Nhìn chung, trong ngành dệt mayViệt Nam hiện nay, trang bị đã được nâng cao so với chính chúng ta trước đây,
Trang 40song vẫn còn thua kém nhiều nước đang phát triển trong khu vực như TrungQuốc, Thái Lan, Malaysia
2.1.4 Cơ cấu sản phẩm của ngành dệt may Việt Nam.
Ngành dệt may Việt Nam, cũng như các nước khác, được chia ra làm 2tiểu ngành cơ bản là dệt và may Trước hết, sản phẩm dệt Việt Nam thường baogồm những sản phẩm chính như dệt thường, dệt kim, dệt len, dệt lụa, dệt gấm,dệt thổ cẩm Trên thực tế các sản phẩm dệt độc đáo, riêng có của Việt Namthường là dệt thủ công từ các chất liệu tự nhiên đặc sắc như dệt lụa tơ tằm, dệtthổ cẩm đã tạo nên những loại vải nổi tiếng như lụa Vạn Phúc (Hà Đông), vải thổcẩm Mai Châu (Hoà Bình) Tuy nhiên, những sản phẩm thủ công này chủ yếu
để giới thiệu nghề truyền thống Việt Nam, vì chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trongtoàn ngành dệt Phần lớn hàng dệt xuất khẩu của Việt Nam vẫn là các sản phẩmdệt công nghiệp của Công ty dệt Hà Nội, Công ty dệt 8-3, Công ty dệt kim đôngxuân, Công ty dệt Nam Định Các loại sản phẩm dệt chủ yếu từ sợi OE (dành chođan kim, sợi cọc thường), vải dệt thường và vải đan kim Bảng số liệu sau đâycho biết sản lượng sợi của sản phẩm dệt :
Bảng 7: Cơ cấu sản phẩm dệt của Tổng Công ty Dệt May Việt Nam (đến 2/8/2002)
2 Vải
* Vải dệt (1000m2)
* Đan kim (kg)
159.77413.000
Nguồn : Tổng Công ty Dệt may Việt Nam (Vinatex)
Bảng số liệu trên cho thấy, sản phẩm vải dệt chiếm tỷ trọng lớn hơn sảnphẩm vải đan kim, sợi OE chiếm tỷ trọng nhỏ hơn Nhu cầu thị trường hiện nay