Đặc biệt, trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Xây dựng văn hóa học đường - Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, do Viện Nghiên cứu sư phạm - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUY NHƠN
Trang 2Tôi xin cam đoan công trình này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nghiên cứu nào.
Học viên
ĐẶNG TẤN ĐÔNG
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn quý Thầy/cô giáo Bộ môn Tâm lý - Giáo dục, Khoa Khoa học Xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Quy Nhơn đã giảng dạy và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Trần Quốc Tuấn Người đã luôn động viên và tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn.
-Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo Phòng GD&ĐT, Cán bộ quản lí, giáo viên, nhân viên và học sinh các trường THCS huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn.
Mặc dù có nhiều cố gắng, nhưng chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được những góp ý quý báu của quý Thầy/cô giáo và các bạn đồng nghiệp!
Học viên
ĐẶNG TẤN ĐÔNG
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nhân loại đã bước vào thế kỷ thứ XXI với xu thế hội nhập quốc tếsâu rộng trên mọi lĩnh vực, sự bùng nổ của khoa học - công nghệ phát triểnnhanh chóng làm thay đổi mọi thứ Điều đó mở ra nhiều triển vọng phát triểncủa giáo dục và đào tạo (GD&ĐT) ở các quốc gia; đồng thời cũng đặt ranhững thách thức to lớn đối với giữ gìn, phát triển văn hóa nói chung, văn hóanhà trường (VHNT) nói riêng
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 8 (khóa XI) của Đảng
Công sản Việt Nam ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW về Đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo [1], xác định cần đổi mới những vấn đề cốt lõi,
cấp thiết từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phươngpháp, cơ chế, chính sách, điều kiện đảm bảo thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạocủa Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sởGD&ĐT cùng với sự tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân
người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học Trong đó, đổi mới: Xây
dựng văn hóa trường học cũng được quan tâm.
1.2 Văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng chỉ rõ,một trongnhững hạn chế của việc xây dựng, phát triển văn hóa, con người ở nước ta thờigian qua là chưa đạt yêu cầu, còn nhiều biểu hiện xuống cấp về đạo đức, lối sốnggây bức xúc trong xã hội Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, yếukém, trong đó có nguyên nhân là do các cấp ủy, chính quyền nhận thức chưađúng tầm quan trọng và chưa quan tâm đầy đủ lĩnh vực này; lãnh đạo, chỉ đạochưa thật quyết liệt Đồng thời,Văn kiện Đại hội cũng đưa ra phương hướng,nhiệm vụ về phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam trong những nămtới là: “Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện và môi
Trang 5trường văn hóa lành mạnh, văn minh trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xãhội, khắc phục các biểu hiện xuống cấp về đạo đức xã hội Nâng cao hiệu quảhoạt động của các thiết chế văn hóa Xây dựng, nhân rộng các mô hình giađình văn hóa tiêu biểu, tăng cường sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và
xã hội” [2]
1.3 Các nhà giáo dục cho rằng, để một trường học phát triển bền vữngthì nhà trường cần có một môi trường văn hóa khuyến khích tất cả mọi ngườilàm việc, học tập, cống hiến sức lực và trí tuệ của bản thân cho nhà trường.Khi đã xây dựng, định hình được văn hóa như vậy thì nhà trường sẽ rất dễdàng đạt được tầm nhìn, giá trị, sứ mạng và các mục tiêu đã đặt ra
Ở Việt Nam, trong những năm qua, VHNT chịu những tác động rất lớn
từ môi trường văn hóa - xã hội theo xu thế phát triển của kinh tế thị trường vàtoàn cầu hóa Một vài minh chứng như vụ tiêu cực nâng điểm thi trong kỳ thitốt nghiệp trung học phổ thông tại các tỉnh Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình,…liên tiếp những vụ bảo mẫu bạo hành trẻ em ở các cơ sở giáo dục mầm non Tất cả đã gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng giáo dụccũng như uy tín của các nhà trường và ngành giáo dục Thực tế đó làm chonhững nhà quản lí giáo dục (QLGD) và những nhà giáo chân chính cảm thấy
bị xúc phạm về nhân phẩm và đạo đức nghề nghiệp
Trong bối cảnh đó, việc xây dựng VHNT cần được định hướng để thực
sự phát huy ảnh hưởng tích cực của nó đến mọi thành viên trong tổ chức nhàtrường, đặc biệt là thế hệ trẻ đang trưởng thành.Bởi lẽ, nhà trường là một tổchức cho nên VHNT trước hết là văn hóa của một tổ chức hành chính - sưphạm Và hơn bất cứ tổ chức nào hết trong xã hội, nhà trường phải là tổ chức
có “hàm lượng” văn hóa cao nhất; là nơi hội tụ, kết tinh văn hóa để đào tạo ranhững chuẩn mực văn hóa cho xã hội
Trong mỗi nhà trường,văn hóa tồn tại bền vững và ảnh hưởng sâu rộng
Trang 6lên mọi hoạt động; do vậy, nhà trường nào cũng có văn hóa của riêng mình.
Để tạo lập và phát triển bản sắc văn hóa riêng ấy, mỗi nhà trường cần nhậnthức rõ bản chất văn hóa của trường mình; đồng thời, quá trình xây dựng vàphát triển văn hóa ở một nhà trường phải là việc àm lâu dài, có chủ đích rõràng và tiếp nối của các chủ thể quản lý nhà trường cùng với sự thống nhất,đồng thuận của tập thể sư phạm
1.4 Phù Mỹ là huyện phía bắc tỉnh Bình Định, có 18 trường trung học
cơ sở (THCS) với 287 lớp, 34 cán bộ quản lí, 699 giáo viên, nhân viên và10.290 học sinh Nhìn chung vấn đề nhận diện VHNT và tìm kiếm các biệnpháp quản lý phát triển VHNT hiện nay vẫn chưa được chưa được xem xétmột cách hệ thống, bài bản Những giá trị cốt lõi, tầm nhìn, sứ mệnh… chưaxác định rõ ràng và mọi người cũng chưa quan tâm đúng mức Với tư cách làmột cán bộ quản lý (CBQL) cơ sở giáo dục, nhận thức tầm quan trọng của vấn
đề quản lý công tác xây dựng VHNT trong bối cảnh hiện nay và sự cần thiếtphải xây dựng và phát triển một môi trường VHNT lành mạnh, tích cực, nângcao uy tín, thương hiệu nhà trường, tạo động lực cho sự phát triển bền vững
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Quản lý công tác xây
dựng văn hóa nhà trường ở các trường trung học cơ sở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định” làm luận văn thạc sĩ thuộc chuyên ngành QLGD.
2 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của đề tài là trên cơ sở tìm hiểu thực trạng, đềxuất các biện pháp quản lý công tác xây dựng VHNT phù hợp với thực tế ởcác trường THCS huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định, góp phần nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện nhân cách người học trong điều kiện hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, đề tài tập trung giải quyết các
Trang 7nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận liên quan đến vấn đề quản lý công tácxây
dựngVHNT nói chung, VHNT ở các trườngTHCS nói riêng
- Khảo sát và đánh giá thực trạng VHNT và thực trạng quản lý công tácxây dựng VHNT ở các trường THCS huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định
- Đề xuất các biện pháp quản lý công tác xây dựng VHNT ở các trường
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là biện pháp quản lý công tác xây dựng VHNT ở các trường THCS huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định
4 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn:
- Nội dung: tập trung khảo sát thực trạng và đề xuất các biện pháp liên quan đến quản lý công tác xây dựng VHNT
- Không gian: giới hạn khảo sát tại 8trường THCS huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định
- Thời gian từ năm 2019 đến năm 2020
5 Giả thuyết khoa học
Công tác xây dựng văn hóa nhà trường ở các trường trung học cơ sởhuyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định đã có nhiều thành tích, tuy nhiên cũng cònkhông ít hạn chế, cần có sự khảo sát đánh giá một cách khoa học Nếu xác lập
Trang 8được các biện pháp quản lý công tác xây dựng văn hóa nhà trường ở các
Trang 9trường trung học cơ sở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định có tính cần thiết vàkhả thi, phù hợp với điều kiện tình hình của địa phương, đáp ứng yêu cầunâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa các tàiliệu về lý luận có liên quan đến quản lý công tác xây dựng VHNT để xâydựng cơ sở lý luận cho đề tài
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp quan sát: Trực tiếp quan sát các hoạt động của
sử dụng để thu thập thêm thông tin mà không cần sử dụng phiếu hỏi
- Sử dụng các phương pháp điều tra, phương pháp lấy ý kiến chuyêngia, phương pháp tổng kết kinh nghiệm trong QLGD nhằm khảo sát, đánh giáthực trạng quản lý công tác xây dựng VHNT trong các trường THCS huyệnPhù Mỹ, tỉnh Bình Định và xây dựng cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các biệnpháp
6.3 Nhóm phương pháp hỗ trợ
Vận dụng toán học thống kê và phần mềm Exel để xử lý, phân tích số liệu thu được về mặt định tính và định lượng các kết quả khảo sát
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày theo 3 chương:
Trang 10Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý công tác xây dựng văn hóa nhà
trường ở trường trung học cơ sở
Chương 2: Thực trạng quản lý công tác xây dựng văn hóa nhà trường
ở các trường trung học cơ sở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định
Chương 3: Biện pháp quản lý công tác xây dựng văn hóa nhà trường ở
các trường trung học cơ sở huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định
Trang 11Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÂY DỰNG VĂN HÓA NHÀ
TRƯỜNG Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
Liên quan với vấn đề VHNT và quản lý công tác xây dựng VHNT từtrước đến nay có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đề cập
1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài
Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánhcách nhìn nhận, đánh giá khác nhau Đầu tiên, thuật ngữ này xuất hiện vàocuối thế kỷ XVIII, nó mang ý nghĩa là sự tiến triển trong sự tu dưỡng, hướngtới sự khai sáng Từ đó, khái niệm này được đề cập trong rất nhiều lĩnh vực
nghiên cứu như: dân tộc học, nhân loại học, dân gian học, địa văn hóa học,
văn hóa học, xã hội học,… Năm 1952, hai nhà nhân loại học người Mỹ đã
thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về khái niệm văn hóa
Khi nói đến văn hóa bao giờ cũng gắn với con người, với một bộ phận
cư dân hay một cộng đồng nhất định nào đó Như vậy, văn hóa bao giờ cũngliên quan đến tổ chức - văn hóa tổ chức (VHTC) Thuật ngữ “văn hóa tổchức” xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí Mỹ vào khoảng thập niên 1960 Từ
đó đến nay có nhiều nghiên cứu về VHTC được công bố
Theo Eldrige và Crombie (1974),nói đến văn hóa của một tổ chức lànói đến một hình thể duy nhất với các tiêu chuẩn, giá trị, tín ngưỡng, cách đốixử… được thể hiện qua việc các thành viên liên kết với nhau để làm việc.Còn Louis (1980) thì cho rằng, VHTC là một tập hợp những quan niệm chungcủa một nhóm người Những quan niệm này phần lớn được các thành viênhiểu ngầm với nhau và chỉ thích hợp cho tổ chức của riêng họ Các quan niệmnày sẽ được truyền cho các thành viên mới
Trang 12Trong công trình: Culture in Organizations của Joanne Martin [36] thì
chú trọng vào những viễn cảnh khác nhau của VHTC: “Khi một cá nhân liên
hệ với một tổ chức, họ liên hệ với những chuẩn mực, những câu chuyện màmọi nguời kể về những điều đang diễn ra, những thủ tục và nguyên tắc chínhthức của tổ chức, những dạng hành vi chính thức của tổ chức, những nghi lễ,nhiệm vụ, hệ thống trả công lao động, những biệt ngữ… mà chỉ những nguờibên trong mới hiểu Những yếu tố này là một phần những cái gắn liền vớiVHTC” Còn Edgar Schein - nhà nghiên cứu nổi tiếng nhất về VHTC với
công trình: Organizational Culture and Leadership [37] nhấn mạnh VHTC là
một dạng của những giả định cơ bản - đuợc sáng tạo, đuợc khám phá hoặcđuợc phát triển bởi các nhóm khi họ học về cách thức giải quyết với nhữngvấn đề của việc thích ứng với môi truờng bên ngoài và hội nhập bên trong
1.1.2 Các nghiên cứu trong nước
Ở nước ta, từ năm 2007 đến năm 2020, Trung ương Đảng, Chính phủ
và Bộ GD&ĐT đã ban hành một số nghị quyết, nghị định, quyết định liênquan đến vấn đề này như:Quyết định số 129/2007/QĐ-TTg ngày 2 tháng 8
năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế văn hóa công sở tại các
cơ quan hành chính nhà nước [27]; Quyết định số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16
tháng 4 năm 2008 của Bộ GD&ĐT ban hành Quy định về đạo đức nhà giáo [28]; Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9 tháng 6 năm 2014 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu
cầu phát triển bền vững đất nước [22]; Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 24 tháng 3
năm 2015 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về Tăng cường sự lãnh đạo của
Đảng đối với công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thế hệ trẻ giai đoạn 2015 - 2030 [6]; Quyết định số 1299/QĐ-TTg ngày 3
tháng 10 năm 2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án xây dựng Văn
hóa ứng xử trong các trường học giai đoạn
Trang 132018 - 2025 [29].
Các văn bản trên đều liên quan đến cơ quan tổ chức, đoàn thể, làm rõvăn hóa công sở là một loạt hành vi và quy ước mà con người dựa vào đó đểđiều khiển các mối quan hệ tương tác của mình với những người khác trongcông sở Văn hóa công sở còn là một hệ thống được hình thành trong quátrình hoạt động của công sở, tạo nên niềm tin, giá trị về thái độ của cán bộ,công chức, viên chức làm việc trong công sở, ảnh hưởng đến cách làm việctrong công sở và hiệu quả hoạt động của nó
VHTC nói chung, văn hóa doanh nghiệp, công sở nói riêng đượcnghiên cứu rộng rãi; song chưa có nhiều công trình nghiên cứu về VHTC nhàtrường Chúng tôi điểm qua một số công trình nghiên cứu liên quan có đề cập
đến VHNTnhư:Sách Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa thế kỷ XXI (1991) của Phạm Minh Hạc [13]; Bài báo Môi trường học tập trong lớp của Vũ Thị
Sơn đăng trên Tạp chí Giáo dục số 102/2004 [31]; Tài liệu bồi dưỡng cán bộ
quản lý trường phổ thông, Chuyên đề 14: Xây dựng và phát triển văn hóa nhà
trường, Trường Cán bộ quản lý giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh (2013)
[35]; Sách Môi trường giáo dục (2006) của Phạm Hồng Quang [26].
Đặc biệt, trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Xây dựng văn hóa học
đường - Giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường, do Viện
Nghiên cứu sư phạm - Trường Đại học Sư phạm Hà Nội phát hành vào năm
2007, có đề cập đến các báo cáo liên quan như: Văn hóa tổ chức - hình thái
cốt lõi của văn hóa nhà trường, của Phạm Quang Huân [18]; Những cơ sở của việc xây dựng văn hóa học đường trong bối cảnh đất nước hội nhập, đổi mới hiện nay, của Lê Quang Hưng [19]… Và trong Kỷ yếu Hội thảo khoa
học: Văn hoá học đường - lí luận và thực tiễn, do Hội khoa học Tâm lý - Giáo
dục Việt Nam phát hành năm 2009, có công bố nhiều báo cáo liên quan như:
Giáo dục giá trị xây dựng văn hoá học đường, của Phạm Minh Hạc [15]; Văn
Trang 14hoá học đường: Quan niệm, vai trò, bản chất và một số yếu tố cơ bản, của
Phạm Thị Minh Hạnh [16]; Bàn về văn hoá học đường Việt Nam hiện đại, của Nguyễn Minh [21]; Những biểu hiện tiêu cực của văn hoá của văn hóa học
đường ngày nay - Nguyên nhân, hệ quả và khả năng khắc phục; của Nguyễn
Hữu Nguyên [23], Văn hoá học đường dưới góc nhìn giáo dục, của Nguyễn Minh Phụng [25]; Vài suy nghĩ về môi trường văn hoá học đường ở Mỹ và
Việt Nam, của Nguyễn Thơ Sinh [30]; Tìm hiểu tư tưởng văn hoá học đường của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Thái Duy Tuyên [32]….
Bên cạnh đó, còn có một số luận án tiến sĩ QLGD nghiên cứu liên quan
như: Luận án tiến sĩ Xây dựng môi trường giáo dục ở trường trung học phổ
thông Chuyên theo tiếp cận văn hoá tổ chức, của Lê Thị Oanh [24]; Luận án
tiến sĩ: Quản lý nhà trường tiểu học Việt Nam theo tiếp cận văn hóa tổ chức,
của Lê Thị Ngọc Thúy [33]…
Các công trình của các nhà khoa học nêu trên chủ yếu tập trung vàonghiên cứu lý luận về xây dựng VHNT nói chung hoặc nghiên cứu về thựctiễn xây dựng VHNT ở các địa phương khác chứ chưa có công trình nào đisâu nghiên cứu cụ thể về quản lý công tác xây dựng VHNT tại các trườngTHCS trên địa bàn huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định Tuy nhiên, đây là nhữngtài liệu quý giá để chúng tôi kế thừa, sử dụng trong đề tài luận văn
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường và quản lý công tác xây dựng văn hóa nhà trường
1, Quản lý
Quản lý là một hoạt động cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sốngcon người và là một nhân tố cho sự phát triển xã hội Theo nghĩa gốc, “quản”
là trông nom, “lý” là sắp đặt, lo liệu công việc Quản lý vừa là khoa học, vừa
là nghệ thuật và là vấn đề thu hút sự quan tâm của các nhà quản lý và các nhà
Trang 15nghiên cứu lý luận quản lý.
Từ trước đến nay, có nhiều định nghĩa khác nhau của các nhà nghiêncứu về khái niệm quản lý Tuy nhiên, họ đều thống nhất nhau ở một số điểm,quản lý là hoạt động cần thiết, có định hướng; là quá trình tiến hành nhữnghoạt động khai thác, lựa chọn, tổ chức và thực hiện các nguồn lực, các tácđộng của chủ thể quản lý theo kế hoạch chủ động, phù hợp với quy luật kháchquan để gây ảnh hưởng đến đối tượng quản lý nhằm tạo ra sự thay đổi haytạo ra hiệu quả cần thiết vì sự tồn tại (duy trì), sự ổn định và phát triển của tổchức trong một môi trường luôn biến động
Từ nhận thức trên, có thể hiểu một cách tổng quát: Quản lý là một hoạt
động đa diện phức tạp, là quá trình tác động gây ảnh hưởng có tổ chức, có hướng đích, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý đề ra.
2, Quản lý giáo dục
QLGD là một bộ phận của quản lý nói chung, nhưng nó là một khoahọc tương đối độc lập vì tính chất đặc thù của nền giáo dục quốc dân Theocác nhà nghiên cứu nước ngoài thì: QLGD là tập hợp những biện pháp tổchức, cán bộ, kế hoạch hóa, tài chính, nhằm đảm bảo vận hành bình thườngcủa các cơ quan trong hệ thống giáo dục, để tiếp tục phát triển và mở rộng hệthống cả về số lượng lẫn chất lượng Ở Việt Nam, tác giả Trần Kiểm chorằng: “QLGD được hiểu là những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có
kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tất cả các mắtxích của hệ thống từ mức độ cao nhất đến các cơ sở giáo dục nhằm thực hiện
có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục đào tạo mà xã hội đặt
ra cho ngành giáo dục” [26; tr.36].Còn Phạm Minh Hạc thì nhấn mạnh,QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật củachủ thể quản lý (hệ giáo dục) nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và
Trang 16nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xãhội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học - giáo dục thế
hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trong trạng thái mới
về chất [14] Ở nghĩa h p hơn,QLGD là sự tác động có ý thức, có mục đích, có kếhoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể CBQL, GV,nhân viên (NV), HS, phụ huynh và các lực lượng xã hội trong và ngoài trườngnhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường
Từ nhận thức trên, chúng ta có thể hiểu, QLGD là hệ thống những tác
động có có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích, các bộ phận của hệ thống giáo dục nhằm đảm bảo cho các cơ quan trong hệ thống giáo dục vận hành tối ưu, đảm bảo
sự phát triển toàn diện cả về chất lượng lẫn số lượng.
3, Quản lý nhà trường
Quản lý nhà trường là một nội dung trong những nội dung quan trọngcủa hệ thống QLGD Theo Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xãhội trong đó diễn ra quá trình đào tạo - giáo dục với sự hoạt động tương táccủa hai nhân tố thầy và trò… Trường học là một bộ phận của cộng đồng vàtrong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở” [3; tr.63-65].Quản lí nhà trường baogồm:
- Tác động của chủ thể quản lý bên trong nhà trường, do chủ thể quản
lý tác động đến khách thể quản lý như GV, HS, cơ sở vật chất, thiết bị, tàichính kể cả các mối quan hệ giữa nhà trường và cộng đồng
- Tác động của các chủ thể quản lý bên trên và bên ngoài nhà trường,những tác động của cơ quan QLGD cấp trên nhằm hướng dẫn và tạo điềukiện cho hoạt động giảng dạy, học tập của nhà trường
Ngoài ra, nó còn có những chỉ dẫn của thực thể bên ngoài nhưng liênquan trực tiếp đến nhà trường như cộng đồng được thực hiện dưới hình thức
Trang 17Hội đồng giáo dục nhằm định hướng sự phát triển của nhà trường và hỗ trợ,tạo điều kiện cho việc thực hiện phương hướng phát triển đó.
4, Quản lý công tác xây dựng văn hóa nhà trường
Qua tìm hiểu, đa số các nhà nghiên cứu VHNT đều thống nhất ý kiến
về quản lý công tác xây dựng VHNT là sự tác động có định hướng, có mụcđích, có hệ thống thông tin của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm tạo
ra hoặc gìn giữ, phát triển các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần của nhàtrường để thực hiện mục tiêu giáo dục và truyền lại cho các thế hệ sau
Từ nhận thức trên, chúng tôi cho rằng: quản lý công tác xây dựng
VHNT là việc xây dựng mới các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần của nhà trường khi nhà trường chưa có hoặc còn thiếu những giá trị này Đồng thời, quản lý công tác xây dựng VHNT cũng là việc bảo lưu, phát triển các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần của nhà trường đã có và phù hợp để phục vụ mục tiêu giáo dục đã xác định.
Các giá trị của VHNT sẽ định hướng và điều chỉnh hành vi của cácthành viên trong trường
1.2.2 Văn hóa, văn hóa tổ chức, văn hóa nhà trường và công tác xây dựng văn hóa nhà trường
1, Văn hóa
Có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm văn hóa Theo UNESCO(2002): Văn hóa là tổ hợp các đặc điểm tinh thần, vật chất, trí tuệ, tình cảmnổi bật của xã hội hay nhóm xã hội, bao hàm cả nghệ thuật, văn học, lối sống,cùng với đường đời, hệ giá trị, truyền thống và niềm tin Văn hóa là toàn bộnhững giá trị vật chất và tinh thần [38]
Tác giả Thái Duy Tuyên cho rằng, văn hóa là những giá trị vật chất vàtinh thần của nhân loại, là kinh nghiệm của lịch sử xã hội loài người đã được
hệ thống hóa, tích lũy lại qua nhiều thế kỷ và có thể truyền lại cho các thế hệ
Trang 18sau [32] Còn Trần Ngọc Thêm thì nhấn mạnh, văn hoá là một bộ phận khôngthể tách rời cuộc sống và nhận thức của cá nhân và cộng đồng Văn hóa làtổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và hiện tại Qua cácthế kỉ, các hoạt động ấy đã hình thành nên một hệ giá trị, các truyền thống vàcác thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc [34].
Từ các quan niệm trên, trong luận văn này chúng tôi xác định: Văn hóa
là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần đã được hệ thống hóa, tích lũy lại qua thời gian và có thể truyền lại cho các thế hệ sau.
Như vậy, văn hóa gồm hai thành tố cơ bản: các giá trị vật chất (văn hóavật chất - văn hóa vật thể) và các giá trị tinh thần (văn hóa tinh thần - văn hóaphi vật thể) Đối với mỗi nền văn hóa khác nhau, mỗi dân tộc và quốc giakhác nhau có các giá trị văn hóa khác nhau Các giá trị này phụ thuộc vàođiều kiện tự nhiên, môi trường, vào sự phát triển kinh tế - xã hội của các dântộc, các quốc gia, vào lịch sử phát triển của dân tộc và các quốc gia đó
Các giá trị văn hóa được hình thành trong khoảng thời gian nhất định,được bổ sung, được chọn lọc và phát triển để nó phù hợp với điều kiện vàmôi trường sống Trong quá trình hội nhập văn hóa, đặc biệt trong bối cảnhtoàn cầu hóa hiện nay, sự hòa nhập giữa các nền văn hóa ngày càng lớn Mộtnền văn hóa vừa tiếp nhận các giá trị của các nền văn hóa khác, vừa bảo lưucác giá trị truyền thống tốt đ p để làm phong phú thêm hệ giá trị của mình
Các giá trị văn hóa được bảo lưu nhờ sự truyền đạt từ thế hệ này sangthế hệ khác Chúng là một trong các tiêu chí để giáo dục con người, xây dựng
Trang 19- VHTC là một tập hợp những quan niệm chung của một nhóm người.Những quan niệm này phần lớn được các thành viên hiểu ngầm với nhau vàchỉ thích hợp cho tổ chức của riêng họ Các quan niệm này sẽ được truyềncho các thành viên mới.
- VHTC không chỉ là một mắt xích của chuỗi những phức tạp mà nóchính là tất cả chuỗi rắc rối đó Văn hóa không phải là một vấn đề của một tổchức mà chính là hệ thống tổ chức đó
Từ những quan niệm trên, cho thấy VHTC được xem là một nhận thức
chỉ tồn tại trong một tổ chức chứ không phải trong một cá nhân Các cá nhân
có những nền tảng văn hóa, lối sống, nhận thức khác nhau, ở những vị trí làmviệc khác nhau trong một tổ chức, có khuynh hướng hiển thị VHTC đó theocùng một cách hoặc ít nhất có một mẫu số chung Nó có liên quan đến cáchnhận thức và lối hành xử của các thành viên đối với bên trong và bên ngoài tổ
chức đó Đồng thời, VHTC chính là sự hiện diện sinh động và cụ thể nhất của
tổ chức đó mà mọi người có thể dễ dàng nhận ra Hình ảnh đó có thể do nhiều
yếu tố cấu thành Chỉ cần một yếu tố có sự thay đổi, thì về lý thuyết, hình ảnh
về tổ chức đó sẽ bị khác đi Do đó, trên phương diện lý thuyết, sẽ không có tổchức này có văn hóa giống tổ chức kia, dù họ có thể giống nhau nhiều điểm
3, Văn hóa nhà trường
Nhà trường là một tổ chức có chức năng giáo dục thế hệ trẻ Bản thân
Trang 20chức năng ấy cùng với cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động của nhà trường đều
bị chi phối bởi văn hóa - nếu viết đầy đủ hơn là VHTC của nhà trường - gọitắt là VHNT
Xét về bản chất, mỗi nhà trường là một tổ chức hành chính - sư phạm
Đó là một thế giới thu nhỏ với cơ cấu, chuẩn mực, quy tắc hoạt động, nhữnggiá trị, điểm mạnh và điểm yếu riêng cho những con người cụ thể thuộc mọithế hệ tạo lập Với tư cách là một tổ chức, mỗi nhà trường đều tồn tại dù íthay nhiều một nền văn hóa nhất định VHTC của một nhà trường cũng giốngnhư tính cách của một con người Nó có cội nguồn trong văn hóa của môitrường xã hội mà nhà trường ấy đang hoạt động, cũng như trong lịch sử củanhà trường Nó có tương tác với môi trường, bị chi phối bởi đặc điểm vănhóa của từng cá nhân và nó rất chậm thay đổi
Theo K.D Peterson và T.E Deal,thìVHNT mà“một dòng chảy ngầm củanhững chuẩn mực, giá trị, niềm tin, truyền thống và nghi lễ được hình thành theothời gian do con người làm việc cùng nhau, giải quyết các vấn đề và đối mặt vớicác thách thức,… định hình suy nghĩ, cảm xúc và hành động của con ngườitrong nhà trường,… tạo cho nhà trường sự khác biệt” [Dẫn theo 38].Tác giả VũDũng thì cho rằng, VHNT là hành vi ứng xử của các chủ thể tham gia hoạt độngđào tạo trong nhà trường, là lối sống văn minh trong trường học VHNT thể hiện
ở một số khía cạnh như: Ứng xử của người thầy với người học (Biết quan tâmđến người học, hết lòng yêu thương người học; Biết tôn trọng người học, biếtphát hiện ra những ưu điểm và nhược của người học; gương mẫu trước họcsinh); Ứng xử của người học đối với người thầy (Kính trọng, yêu quý thầy cô;nhận thức và thực hiện những điều chỉ bảo dạy dỗ của thầy cô); Ứng xử giữangười lãnh đạo nhà trường và giáo viên (chú ý đến năng lực của các cá nhântrong tập thể, vị tha độ lượng, công bằng, khách quan…); Ứng xử giữa các đồngnghiệp (tôn trọng, thân thiện, hợp tác…) [9]
Trang 21Các tác giả Nguyễn Vũ Bích Hiền, Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Nguyễn XuânThanh [17] thì nhấn mạnh: VHNT là một tập hợp các chuẩn mực, các giá trị,niềm tin và hành vi ứng xử,… VHNT là những nét đặc trưng riêng biệt tạonên sự khác biệt của nhà trường với các tổ chức khác và sự khác biệt giữatrường này với trường khác VHNT liên quan tới toàn bộ đời sống vật chất vàtinh thần của một nhà trường VHNT là những giá trị tốt đ p được hình thànhbởi một tập thể và được mỗi cá nhân trong nhà trường chấp nhận VHNT tốthướng tới chuẩn chất lượng cao.
Như vậy, VHNT được nhìn nhận từ nhiều góc độ khác nhau Chúng tôiđồng tình với quan điểm của Edgar H Schein là: VHNT gồm hai thành tố cơbản là các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần VHNT là tổng hòa của nhiềuthành tố hữu hình và vô hình, nhưng chung quy lại đều thuộc hai yếu tố đó là:các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần của nhà trường [37]
Từ đó, chúng tôi xác định khái niệm VHNT là các giá trị vật chất và
các giá trị tinh thần của nhà trường được các thế hệ xây dựng, tích lũy lại qua thời gian và có thể truyền lại cho các thế hệ sau.
4, Công tác xây dựng văn hóa nhà trường
Nhà trường là một tổ chức, do đó trước khi đề cập đến công tác xâydựng VHNT cần nhận thức về công tác xây dựng VHTC Nhà nghiên cứuEdgar H.Schein khẳng định, VHTC được xây dựng thông qua các quá trìnhhọc hỏi tương tác Có nghĩa là một tổ chức muốn xây dựng một nền văn hóachung, mạnh thì các thành viên của tổ chức phải có cơ hội học tập kinhnghiệm chung [37]
Bàn về khái niệm xây dựng VHTC, các tác giả Nguyễn Vũ Bích Hiền,Nguyễn Thị Minh Nguyệt, Nguyễn Xuân Thanh cho rằng, xây dựng VHTC làhướng đến sự thống nhất về nhận thức ý thức giữa các thành viên và pháttriển năng lực hành động/hành vi thống nhất cho họ khi hành động Do đó,
Trang 22xây dựng VHTC thực chất là xây dựng và đạt được sự đồng thuận về một hệthống các giá trị triết lí hành động và phương pháp ra quyết định đặc trưngcho phong cách của tổ chức và cần được tuân thủ nghiêm túc [17].
Từ nhận thức về khái niệm xây dựng VHTC, chúng tôi cho rằng, công
tác xây dựng VHNT là quá trình xây dựng và đạt được sự đồng thuận về một
hệ thống các giá trị (vật chất và tinh thần) mang đặc trưng của nhà trường theo một phương hướng nhất định Quá trình này gồm việc hình thành các giá trị mới và bảo lưu, phát huy các giá trị đã có phù hợp.
Như vậy, công tác xây dựng VHNT thực chất là việc hình thành các giátrị văn hóa của nhà trường Đó là các giá trị vật chất và các giá trị tinh thầncủa nhà trường Tùy theo mục tiêu phát triển và điều kiện của từng trường mà
có thể xác định các giá trị vật chất và tinh thần cần xây dựng khác nhau
1.3 Lý luận về công tác xây dựng văn hóa nhà trường ở trường trung học cơ sở
1.3.1 Vai trò của văn hóa nhà trường và sự cần thiết của việc xây dựng văn hóa nhà trường ở trường trung học cơ sở
Văn hóa nói chung, VHNT nói riêng có vai trò quan trọng đối với chấtlượng cuộc sống và hiệu quả hoạt động của nhà trường Thể hiện:
Thứ nhất, văn hóa là một thứ tài sản lớn của nhà trường VHNT mạnh
sẽ là tài sản lớn của nhà trường, một nhân tố có lợi cho sự cạnh tranh lành mạnh Bởi vì, một nền văn hóa mạnh, tích cực sẽ thúc đẩy sự nhất quán, phốihợp và kiểm soát, giảm bớt sự bất thường và tăng cường động cơ thúc đẩy
Do đó, VHNT khuyến khích tính hiệu quả của tổ chức và làm tăng cơ hội thành công của nhà trường và các thành viên của nhà trường
Thứ hai, văn hóa nhà trường giúp xác định và xây dựng cam kết của nhà trường đối với các giá trị cốt lõi VHNT là một loại động cơ thúc đẩy
quan trọng đối với người lao động, giúp xác định và xây dựng cam kết của
Trang 23nhà trường đối với các giá trị cốt lõi và vì vậy có ảnh hưởng đáng kể tới tínhhiệu quả và hiệu năng của nhà trường Cán bộ, viên chức nhà trường sẽ xácđịnh và xây dựng cam kết đối với các giá trị cốt lõi khi họ thấy công việc có ýnghĩa và hứng thú, khi họ xác định được mục tiêu của mình trong mục tiêuchung của tổ chức và khi họ thấy mình có giá trị và an toàn.
Thứ ba, văn hóa nhà trường tạo động lực, hiệu quả làm việc.VHNT có
ảnh hưởng đáng kể tới động lực, hiệu quả làm việc Hầu hết các nhà trườngđều nỗ lực để động viên cán bộ, viên chức bằng cách thưởng, thăng chức vàphạt như thuyên chuyển, giáng chức hay hạ lương Tuy nhiên, các giải phápnày chỉ có một số hiệu lực nhất định Như vậy, ở đây VHNT có tiềm năngquan trọng Một nền văn hoá phù hợp và liên kết chặt chẽ có thể làm cho viênchức trung thành hơn, củng cố các niềm tin và giá trị, khuyến khích họ lànhững người làm việc có ích và tạo ra các câu chuyện, nghi lễ, nghi thức đemlại cảm giác thuộc về tổ chức và nhà trường của mình
Thứ tư, văn hóa nhà trường hỗ trợ điều phối và kiểm soát.Văn hoá có
chức năng thúc đẩy tính nhất quán về quan điểm, nên nó cũng thúc đẩy quátrình phối hợp và kiểm soát của tổ chức VHNT không chỉ có chức năng phốihợp mà dưới các hình thức giá trị, thái độ, và đặc biệt là những thừa nhận cơbản, văn hoá cũng là một phương tiện kiểm soát đầy hữu hiệu trong tổ chức
Thứ năm, văn hóa nhà trường hạn chế tiêu cực và xung đột Khi bàn về
hạn chế tiêu cực và xung đột nhiều nhà lý thuyết văn hóa nhấn mạnh vai trò quantrọng của văn hóa trong việc khuyến khích liên kết xã hội Văn hóa được miêu tảnhư là chất keo gắn kết một tổ chức lại với nhau Một văn hóa chung sẽ thúc đẩytính nhất quán của nhận thức, xác định, đánh giá các vấn đề, lựa chọn và hànhđộng ưu tiên Ở những tổ chức có xu hướng mâu thuẫn và đối kháng cao thì vănhóa là một động lực hữu hiệu để hoà nhập và nhất trí
VHNT có vai trò quan trọng như vậy, do đó việc xây dựng, vun trồng,
Trang 24phát triển VHNT nói chung, VHNT nhà trường THCS nói riêng lành mạnh, tích cực ở nước ta là cần thiết, xuất phát từ các lý do sau:
- Sự phát triển của HS chịu ảnh hưởng rất lớn của môi trường văn hóa
xã hội, nơi các em lớn lên;
- VHNT lành mạnh giúp giảm bớt sự không hài lòng của GV và giúp
giảm thiểu hành vi, cử chỉ không lịch sự của HS;
- Tạo ra môi trường thuận lợi cho việc dạy và học, khuyến khích GV và
HS nỗ lực rèn luyện, học tập đạt thành tích mong đợi
Như vậy, có thể nói VHNT luôn chi phối trực tiếp đến sự phát triển tiến
bộ toàn diện của nhà trường
1.3.2 Các thành tố cấu thành văn hóa nhà trường và biểu hiện của các thành tố này ở trường trung học cơ sở
Nhà nghiên cứu hàng đầu về VHTC, E.H Schein [37] đã đưa ra mô hình cấu trúc VHTC bao gồm 3 tầng bậc:
- Tầng thứ nhất: Những yếu tố hữu hình - có thể quan sát được
- Tầng thứ hai: Những giá trị được thể hiện, bao gồm niềm tin, thái độ, cách ứng xử…
- Tầng thứ ba: Những giả thiết cơ bản - bao gồm những yếu tố liênquan đến môi trường xung quanh, thực tế của tổ chức, đến hoạt động và mốiquan hệ giữa con người trong tổ chức
Theo ông, tầng thứ ba sẽ quyết định đến cách giải quyết, xem xét mọivấn đề của tổ chức, nó chi phối việc lựa chọn phương án nào, giá trị nào.Ngược lại, nếu giả định là tất cả các thành viên đều năng động và có tráchnhiệm, tổ chức sẽ khuyến khích mọi người làm việc theo cách riêng và theotốc độ riêng của mỗi người Tầng giả thuyết cơ bản này có mối quan hệ chặtchẽ, chi phối đến hai tầng còn lại
Cũng như VHTC nói chung, VHNT được ví như một mô hình tảng
Trang 25băng có phần nổi và phần chìm:
- Phần nổi của VHNT là những thành tố dễ nhìn thấy, có thể quan sát
được, bao gồm: Cảnh quan trường học, môi trường sư phạm, cách bài trí lớp
học, logo, phù hiệu, biểu trưng, trang phục của thầy và trò, tập quán, thói quen, nghi lễ, truyền thống, giai thoại, nhân vật anh hùng, thần tượng của nhà trường; Sứ mệnh, tầm nhìn, hoạt động của GV, HS và những giao tiếp không chính thức giữa các nhóm người trong nhà trường…
- Phần chìm của VHNT là những yếu tố không trực tiếp quan sát được
mà phải trực tiếp trải nghiệm ở trong nhà trường, bao gồm: Mong muốn, nhu
cầu, cảm xúc của các thành viên nhà trường; Thương hiệu, quyền lực và cách thức ảnh hưởng trong nhà trường; đặc biệt là các giá trị của nhà trường.
Giá trị làm chuẩn mực và nền tảng đạo đức chi phối hành vi của cácthành viên trong nhà trường Có nhà trường đề cao giá trị nhân văn, tình yêuthương của những con người trong tập thể; có nhà trường đề cao tính cộngđồng trách nhiệm và sự sáng tạo trong công việc; lại có nhà trường đề cao cácgiá trị trung thực, ý thức cầu thị, thái độ khiêm tốn, say mê công việc, tinhthần đồng đội, hợp tác, cởi mở, tôn trọng, tin tưởng, ý thức tổ chức kỷ luật…của các thành viên trong nhà trường
Giá trị trong tổ chức nhà trường được phân chia thành hai loại Loạithứ nhất là các giá trị mà nhà trường đã hình thành và vun đắp trong cả quátrình xây dựng và trưởng thành Loại thứ hai là những giá trị mới mà CBQL
và GV, HS mong muốn nhà trường mình có và tạo lập từng bước nhằm đemđến sự phát triển mới phù hợp với yêu cầu của xã hội
Lớp sâu nhất trong VHNT là những giả định ngầm Các ngầm định nềntảng bao gồm niềm tin, niềm tự hào, những suy nghĩ và trạng thái xúc cảm đã
ăn sâu vào tiềm thức mỗi cá nhân và tạo thành nét chung trong tập thể nhàtrường VHNT còn là biểu hiện ở phong cách ứng xử, phong cách làm việc,
Trang 26phương pháp ra quyết định, phương pháp truyền thống… của nhà trường.
VHNT theo quan điểm của nền giáo dục Singapore gồm các thành tố:
Sứ mệnh (Sứ mệnh nền giáo dục là phục vụ người học, cung cấp cho ngườihọc một nền giáo dục toàn diện, cân đối, phát triển hết các tiềm năng, giáodục thế hệ trẻ thành công dân tốt, có ý thức với gia đình, xã hội và đất nước);Tầm nhìn (Xây dựng quốc gia học tập, góp phần xây đựng đất nước lớnmạnh, thịnh vượng) và Hệ giá trị: (1) Chính trực - có tinh thần dũng cảm, đạođức, thẳng thắn, nói và làm đúng đắn; (2) Con người - lấy con người làm tâmđiểm, phát huy cái tốt của con người; (3) Học tập - đam mê học tập, lấy họctập làm đường đời; và (4) Chất lượng - theo đuổi chất lượng [38]
Theo Thái Duy Tuyên, các thành tố cấu thành VHNT gồm: Hệ thốnggiá trị, niềm tin, hoài bão, lý tưởng mà thầy trò ấp ủ và thực hiện [32] Tác giả
Lê Hiển Dương thì cho rằng, VHNT gồm các thành tố căn bản sau: Yếu tốvăn hóa mang giá trị hữu hình; Yếu tố văn hóa mang giá trị định hướng tráchnhiệm; Yếu tố văn hóa giá trị hạt nhân cốt lõi Yếu tố hữu hình là vị trí địa lý,kiến trúc, cơ sở hạ tầng, công nghệ, phòng thí nghiệm, ký túc xá sinh viên, tácphẩm nghệ thuật, biểu tượng, trang phục Yếu tố giá trị định hướng gồm:chiến lược, mục tiêu, triết lý đào tạo được hình thành trong quá trình pháttriển của nhà trường [11]
Tác giả E.H Schein [37], cho rằng VHNT gồm hai thành tố cơ bản:Thành tố vật chất và thành tố tinh thần
1, Các giá trị vật chất của nhà trường
- Logo, biểu tượng của nhà trường;
- Khẩu hiệu, phương châm làm việc của nhà trường;
- Kiến trúc của nhà trường;
- Không gian, cảnh quan của nhà trường;
- Trang phục của HS, GV, cán bộ phục vụ trong nhà trường;
Trang 272, Các giá trị tinh thần của nhà trường
- Tầm nhìn, mục tiêu của nhà trường;
- Hệ giá trị của nhà trường;
- Phong cách lãnh đạo và phong cách làm việc của nhà trường;+ Phong cách lãnh đạo, thể hiện ở hai hình thức cơ bản: Phong cách quyết đoán và phong cách dân chủ
+ Phong cách làm việc của GV, cán bộ phục vụ được thể hiện qua thái
độ làm việc, qua mức độ hoàn thành công việc, qua cách thức giải quyết vấnđề… bao gồm: Thái độ đối với việc thực thi nhiệm vụ; Thái độ đối với cáimới, đối với sự thay đổi; Mức độ chuyên nghiệp trong thực thi công việc; Quytrình, thủ tục giải quyết vấn đề
+ Hành vi ứng xử của nhà trường, bao gồm: Hành vi ứng xử trong nội
bộ nhà trường và Hành vi ứng xử với bên ngoài
- Phương pháp truyền thông của nhà trường, bao gồm việc chia sẻ
thông tin và hình thức truyền thông trong nhà trường
Như vậy, VHNT là tập hợp tất cả những yếu tố làm nên đặc trưng riêngbiệt của nhà trường này so với nhà trường khác và so với các tổ chức khác chonên biểu hiện của các thành tố VHNT đặc biệt phong phú Tuy nhiên, khi tìmhiểu về VHNT ở nước ta hiện nay nói chung, VHNT THCS nói riêng, các biểuhiện cụ thể của thành tố này thường được đề cập đến đó là:
- Sứ mạng, tầm nhìn của nhà trường;
- Các chuẩn mực, giá trị, niềm tin trong nhà trường;
- Các truyền thống, nghi thức, nghi lễ của nhà trường;
- Lịch sử và những câu chuyện được lưu truyền của nhà trường;
- Con người và các mối quan hệ trong nhà trường;
- Kiến trúc, hiện vật và các biểu tượng của nhà trường [11].Như vậy,VHNT nói chung, VHNT THCS nói riêng bao gồm nhiều yếu
Trang 28tố cấu thành và biểu hiện ở những cấp độ khác nhau Việc xây dựng và thayđổi VHNT là vấn đề vô cùng khó khăn, phức tạp Trong công tác quản lý cần
có phương pháp và tính toán những khó khăn có thể nảy sinh trong công tácxây dựng và thay đổi VHNT
1.3.3 Nội dung công tác xây dựng văn hóa nhà trường ở trường trung học cơ sở
Từ việc nhận thức về các yếu tố cấu thành VHNT, chúng tôi xác địnhnội dung công tác xây dựng VHNT ở các trường THCS nước ta, bao gồm:
1, Xây dựng và thống nhất hệ thống giá trị cốt lõi của nhà trường.
2, Xây dựng các nội dung phát triển VHNT.
- Xây dựng các giá trị mới trong VHNT
- Kế thừa và phát huy các giá trị trong VHNT
3, Huy động các nguồn lực trong công tác xây dựng VHNT.
4, Phối hợp các lực lượng trong công tác xây dựng VHNT.
5, Các điều kiện hỗ trợ cho công tác xây dựng VHNT.
1.3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác xây dựng văn hóa nhà trường ở trường trung học cơ sở
VHNT có tác động đến mọi khía cạnh sư phạm của nhà trường Côngtác xây dựng và phát triển VHNT có ý nghĩa đối với HS, GV, NV và cả lãnhđạo nhà trường Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến công tác xây dựng VHNT,chúng tôi nêu lên các yếu tố cơ bản sau đây:
1, Các giá trị văn hóa đang tồn tại trong nhà trường, bao gồm những giá trị tích cực và những giá trị tiêu cực.
2, Năng lực, thái độ của người CBQL trong công tác xây dựng, phát triển VHNT.
3, Thái độ của GV, HS và nhân viên trong việc tham gia công tác xây dựng và phát triển VHNT.
Trang 294, Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học,… của nhà trường.
5, Môi trường bên ngoài tác động đến nhà trường.
1.4 Nội dung quản lý công tác xây dựng văn hóa nhà trường ở trường trung học cơ sở
Quản lý công tác xây dựng VHNT ở trường THCS được được đánhgiá qua hai mặt cơ bản: (1) Quản lý nhằm phát huy những giá trị, những nộidung văn hóa phù hợp của nhà trường; (2) Quản lý công tác xây dựng nhữnggiá trị và nội dung mới của VHNT
Nghiên cứu nội dung quản lý công tác xây dựng VHNT ở trườngTHCS của luận văn này chúng tôi dựa trên cách tiếp cận chức năng quản lýkết hợp với VHTC Dựa theo cách tiếp cận này, quản lý công tác xây dựngVHNT ở trường THCS bao gồm các nội dung sau:
1.4.1 Lập kế hoạch công tác xây dựng văn hóa nhà trường ở
trường trung học cơ sở
Hiệu trưởng (HT) nhà trường cùng với ban giám hiệu và các bộ phậnchức năng phải lập được kế hoạch công tác xây dựng VHNT Lập kế hoạchcông tác xây dựng VHNT ở trường THCS thể hiện ở các khía cạnh sau:
1, Lập kế hoạch phát huy những nội dung phù hợp của VHNT
Đây là việc phát huy các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần mà nhàtrường đã có Những giá trị này vẫn còn phù hợp với công tác xây dựng vănhóa trong thời điểm hiện tại của nhà trường, phù hợp với yêu cầu giáo dụccủa đất nước, phù hợp với văn hóa dân tộc
Việc lập kế hoạch xây dựng VHNT phải đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Kế hoạch xây dựng VHNT qua việc phát huy những nội dung phù hợp được tích hợp vào kế hoạch chung của nhà trường
- Kế hoạch bao quát hết các nội dung phù hợp cần phát huy trong công tác xây dựng VHNT
Trang 30- Kế hoạch chỉ rõ các mốc thời gian, các nội dung chính cần phát huy
- Xây dựng kế hoạch phối hợp với cha m HS trong việc phát huy
những nội dung phù hợp của công tác xây dựng VHNT
- Xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra về việc phát huy những nội dung phù hợp của công tác xây dựng VHNT
2, Lập kế hoạch xây dựng những nội dung mới của VHNT
HT nhà trường cần lập kế hoạch xây dựng những nội dung mới củaVHNT để thực hiện mục tiêu của hoạt động đào tạo, mục tiêu công tác xâydựng VHNT Quản lý kế hoạch công tác xây dựng những nội dung mới củaVHNT cần đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau:
- Kế hoạch công tác xây dựng những nội dung mới của VHNT phải được tích hợp vào kế hoạch chung của nhà trường
- Kế hoạch bao quát hết những nội dung mới của công tác xây dựngVHNT Kế hoạch chỉ rõ các mốc thời gian, các nội dung chính để công tácxây dựng những nội dung mới của VHNT
- HT chỉ đạo xây dựng kế hoạch tuyên truyền về những nội dung mới
về công tác xây dựng VHNT
- Xây dựng kế hoạch tập huấn cho GV và NV nhà trường về những nộidung mới của công tác xây dựng VHNT
Trang 31- Xây dựng kế hoạch tập huấn kĩ năng lôi cuốn các lực lượng khác ởđịa phương tham gia vào công tác xây dựng những nội dung mới của VHNT(UBND xã/thị trấn; huyện; Phòng GD&ĐT; các tổ chức chính trị xã hội tại địaphương như xã/thị trấn; huyện, ).
- Xây dựng kế hoạch phối hợp với cha m HS trong công tác xây dựng những nội dung mới của VHNT
- Xây dựng kế hoạch kiểm tra, thanh tra về công tác xây dựng những nội dung mới của VHNT
1.4.2 Tổ chức thực hiện công tác xây dựng văn hóa nhà trường ở trường trung học cơ sở
Sau khi kế hoạch đã được thực hiện xong, HT cần tổ chức bộ máy đểthực hiện nhiệm vụ công tác xây dựng VHNT Đây là khâu quan trọng củaquản lý công tác xây dựng VHNT Bởi vì, bất cứ một hoạt động nào khi tiếnhành thực hiện cũng cần phải có con người cụ thể, các bộ phận cụ thể để thựchiện các nhiệm vụ công tác xây dựng VHNT Bên cạnh công việc tổ chức bộmáy thực hiện nhiệm vụ công tác xây dựng VHNT thì chủ thể quản lý nhiệm
vụ này cần phải tổ chức các hoạt động cụ thể để công tác xây dựng VHNT.Các nội dung này bao gồm:
1, Tổ chức thực hiện việc phát huy những nội dung phù hợp của VHNT,
thể hiện ở các hoạt động cụ thể sau:
- HT thành lập các bộ phận của nhà trường chịu trách nhiệm chính trong việc phát huy những nội dung phù hợp của VHNT
- HT huy động tất cả GV, NV nhà trường tham gia vào việc phát huy những nội dung phù hợp của VHNT
- HT huy động tối đa nỗ lực của các GVCN, GV tổng phụ trách Đội trong việc phát huy những nội dung phù hợp của VHNT
- HT chỉ đạo để nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội nhà
Trang 32trường trong việc phát huy những nội dung phù hợp của VHNT.
- HT huy động tối đa sự tham gia của các tổ chức xã hội tại địa phươngtrong việc phát huy những nội dung phù hợp của VHNT…
2, Tổ chức thực hiện công tác xây dựng những nội dung mới của
VHNT, thể hiện ở các hoạt động cụ thể sau:
- HT thành lập các bộ phận của nhà trường chịu trách nhiệm chính trong công tác xây dựng những nội dung mới của VHNT
- HT huy động tất cả GV, NV nhà trường tham gia vào công tác xây dựng những nội dung mới của VHNT
- HT huy động tối đa nỗ lực của các GVCN, GV tổng phụ trách Đội trong công tác xây dựng những nội dung mới của VHNT
- HT chỉ đạo nâng cao vai trò của các tổ chức chính trị - xã hội nhà trường trong công tác xây dựng những nội dung mới của VHNT
- HT chỉ đạo huy động tối đa sự tham gia của các tổ chức xã hội tại địa phương trong công tác xây dựng những nội dung mới của VHNT…
1.4.3 Chỉ đạo, điều phối thực hiện công tác xây dựng văn hóa nhà trường ở trường trung học cơ sở
Chỉ đạo, điều phối thực hiện công tác xây dựng VHNT được thể hiện ởhình thức phát huy những nội dung phù hợp và xây dựng những nội dung mớicủa VHNT Bao gồm:
1, Chỉ đạo, điều phối phát huy những nội dung phù hợp của VHNT.
- HT ra quyết định triển khai các hoạt động công tác xây dựng những nội dung phù hợp của VHNT
- HT hướng dẫn GV, HS và NV nhà trường, các lực lượng liên quanlựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức công tác xây dựng những nộidung phù hợp của VHNT
- HT chỉ đạo đổi mới về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức
Trang 33công tác xây dựng những nội dung phù hợp của VHNT.
- HT hướng dẫn GV, HS và NV nhà trường, các lực lượng liên quan lựa chọn tài liệu về công tác xây dựng những nội dung phù hợp của VHNT
- HT chỉ đạo các bộ phận bố trí thời gian hợp lí cho công tác xây dựng những nội dung phù hợp của VHNT
- HT chỉ đạo chuẩn bị và sử dụng các thiết bị, phương tiện vật chất phục vụ công tác xây dựng những nội dung phù hợp của VHNT,…
2, Chỉ đạo, điều phối công tác xây dựng những nội dung mới của
VHNT.
- HT ra quyết định triển khai các hoạt động của công tác xây dựng những nội dung mới của VHNT
- HT hướng dẫn GV, HS và NV nhà trường, các lực lượng liên quanlựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức công tác xây dựng những nộidung mới của VHNT
- HT chỉ đạo đổi mới về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức công tác xây dựng những nội dung mới của VHNT
1.4.4 Kiểm tra, đánh giá công tác xây dựng văn hóa nhà trường ở trường trung học cơ sở
Kiểm tra, đánh giá là hoạt động không thể thiếu trong quản lý xây dựngVHNT, góp phần quan trọng đối với hiệu quả của công tác này Hoạt độngkiểm tra, đánh giá công tác xây dựng VHNT được thể hiện qua 2 hình thức
1, Kiểm tra, đánh giá việc phát huy những nội dung phù hợp trong công tác xây dựng VHNT, thể hiện ở các khía cạnh cụ thể sau:
- HT tổ chức kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch phát huy những nội dung phù hợp trong công tác xây dựng VHNT
- HT tổ chức kiểm tra việc phối hợp các lực lượng trong phát huy những nội dung phù hợp trong công tác xây dựng VHNT
Trang 34- HT tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả về phát huy những nội dung phù hợp trong công tác xây dựng VHNT.
- HT tổ chức kiểm tra việc sử dụng các nguồn lực nhằm phát huy những nội dung phù hợp trong công tác xây dựng VHNT
- HT tổ chức báo cáo kết quả kiểm tra, rút kinh nghiệm về phát huy những nội dung phù hợp trong công tác xây dựng VHNT,
2, Kiểm tra, đánh giá nhằm xây dựng những nội dung mới của VHNT,
bao gồm những công việc sau:
- HT tổ chức kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch công tác xây dựng những nội dung mới của VHNT;
- HT tổ chức kiểm tra việc phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường nhằm xây dựng những nội dung mới của VHNT;
- HT tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả về công tác xây dựng những nội dung mới của VHNT;
- HT tổ chức kiểm tra việc sử dụng các nguồn lực trong công tác xây dựng những nội dung mới của VHNT;
- HT tổ chức báo cáo kết quả kiểm tra, rút kinh nghiệm về công tác xâydựng những nội dung mới của VHNT
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác xây dựng văn hóa nhà trường ở trường trung học cơ sở
1.5.1 Các yếu tố thuộc về sự lãnh đạo của hiệu trưởng nhà trường
Lãnh đạo nhà trường, trước hết là HT có vai trò quyết định đối với việcquản lý công tác xây dựng VHNT HT và ban giám hiệu là người đưa ra ýtưởng, quan điểm để công tác xây dựng VHNT, tổ chức triển khai các chỉ thị,nghị quyết của cấp trên về công tác xây dựng VHNT, triển khai các kế hoạchcủa nhà trường về công tác xây dựng VHNT Vai trò cụ thể của lãnh đạo nóichung và HT nói riêng thể hiện ở các khía cạnh sau:
Trang 35- Đề xuất và tổ chức thực hiện kế hoạch công tác xây dựng VHNT HT
là người đưa ra ý tưởng về kế hoạch công tác xây dựng VHNT hoặc quyếtđịnh lựa chọn kế hoạch công tác xây dựng VHNT do các bộ phận đề xuất
- Khi đã có kế hoạch được thống nhất trong chi bộ và lãnh đạo nhàtrường, hiệu trưởng chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện kế hoạch công tác xâydựng VHNT, triển khai kế hoạch đến các bộ phận và đến các GV, HS
- Một yếu tố quan trọng của quản lý công tác xây dựng VHNT là HTphải vận động, thuyết phục và tập hợp được cán bộ, GV, HS trong công tácxây dựng VHNT Đây là một trong những điều kiện quyết định của thànhcông trong công tác xây dựng VHNT Bởi lẽ, khi có kế hoạch, chủ trươngđúng, nhưng không được GV, HS nhà trường ủng hộ và thực hiện thì mọichủ trương, kế hoạch đều nằm trên giấy tờ, không đi vào thực tiễn
- Để quản lý tốt công tác xây dựng VHNT, HT phải hình thành đượccác chuẩn mực cụ thể, phù hợp của nhà trường trong công tác xây dựngVHNT, hình thành ở GV, HS và NV của nhà trường các giá trị cốt lõi, niềmtin đối với công tác xây dựng VHNT
- HT cũng là người triển khai thực hiện các chính sách, chế độ đãi ngộ
GV, NV của Đảng và Nhà nước, đồng thời HT cũng là người quyết định cácvấn đề về đãi ngộ của nhà trường đối với GV, NV
1.5.2 Các yếu tố khách quan
1.5.2.1 Giáo viên chủ nhiệm và giáo viên bộ môn
Trong quản lý công tác xây dựng VHNT, GVCN có vai trò không thểthiếu được Ở cấp THCS, GVCN có ảnh hưởng lớn và trực tiếp đến HS.GVCN là người quản lý và dạy trực tiếp HS Do vậy, GVCN đóng vai tròquan trọng trong việc hình thành nhận thức, thái độ và hành vi của HS tronghọc tập nói riêng và trong xây dựng VHNT nói chung
GVCN cũng là người phổ biến và yêu cầu HS thực hiện các chuẩn mực
Trang 36của nhà trường nói riêng và thực hiện các quy định của pháp luật nói chung.
HS là lực lượng chính trong công tác xây dựng VHNT, vì HS chiếm số lượngchủ yếu của nhà trường Thái độ và hành vi hàng ngày của HS ảnh hưởngtrực tiếp đến VHNT, phản ánh nhiều nhất VHNT
Cùng với GVCN, GV bộ môn cũng có ảnh hưởng lớn đến HS Thôngqua môn học của mình, GV bộ môn vừa truyền đạt đến HS tri thức của mônhọc và vừa giáo dục HS các chuẩn mực đạo đức, những hành vi ứng xử mangtính văn hóa
Sự ảnh hưởng của tập thể HS đến công tác xây dựng VHNT thể hiện rõqua việc hình thành hành vi văn hóa của HS Thông qua các cơ chế tâm lýnhư bắt chước, đồng nhất, a dua, HS có thể hình thành thái độ và hành vi cóhoặc không có văn hóa của mình HS bắt chước, làm theo, bị ảnh hưởng trựctiếp hay gián tiếp thái độ và hành vi của những HS khác, nhất là những HSđóng vai trò thủ lĩnh nhóm không chính thức
1.5.2.3 Chi đoàn nhà trường
Chi đoàn, tổ chức đoàn thanh niên của nhà trường có ảnh hưởng lớnđến quản lý công tác xây dựng VHNT Tổ chức này là người tập hợp, giáodục HS về quan điểm, lối sống, hình thành ở HS những hành vi có văn hóa.Chi đoàn cũng là người giúp HT, chi bộ triển khai kế hoạch công tác xâydựng VHNT, đánh giá các hành vi của HS trong thực hiện các chuẩn mực của
Trang 37nhà trường, cũng như các chuẩn mực pháp luật nói chung.
1.5.2.4 Các quy định của Nhà nước, của Bộ Giáo dục & Đào tạo
Trong những năm qua Đảng và Nhà nước ban hành nhiều chủ trương,chính sách về GD&ĐT Các chủ trương, chính sách này trực tiếp hoặc giántiếp liên quan đến xây dựng và quản lý công tác xây dựng VHNT
Thứ nhất, Luật Giáo dục sửa đổi (2009, 2020) có nhiều điều quy định tạo
điều kiện để xây dựng con người văn hóa trong nhà trường Trong Điều 27 chỉrõ: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức,trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tínhnăng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủnghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho HS tiếp tục họclên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Thứ hai, một văn bản quan trọng khác về công tác xây dựng VHNT là xây
dựng nhân cách của nhà giáo - những người có vai trò quyết định đối vớicôngtác xây dựng VHNT Đó là Quy định về đạo đức nhà giáo tại Quyết định số16/2008/QĐ-BGDĐT, ngày 16/4/2008 của Bộ GD&ĐT Việc quy định nhữngtiêu chuẩn về đạo đức nhà giáo nhằm hình thành những cách ứng xử mô phạmcủa người thầy trong không gian của nhà trường, cũng như ngoài nhà trường.Đây là yếu tố quan trọng trong quản lý công tác xây dựng VHNT Vì người thầy
có ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi ứng xử của HS [28]
Thứ ba, Công văn số 282/BGDĐT-CTHSSV về việc đẩy mạnh công tác
xây dựng VHNT ban hành ngày 25/01/2017, chỉ rõ những hạn chế của côngtác xây dựng VHNT; chỉ ra những nhiệm vụ, giải pháp về quản lý công tácxây dựng VHNT, trong đó nhấn mạnh đến “Bộ quy tắc ứng xử văn hóa” trongtrường học; chỉ ra yêu cầu và cách thức xây dựng khẩu hiệu trong trườnghọc Đây là một cơ sở pháp lý để HT các nhà trường THCS triển khai côngtác xây dựng VHNT tại trường của mình
Trang 381.5.2.5 Sự quan tâm của Sở Giáo dục và Đào tạo và Phòng Giáo dục và Đào tạo
Sự chỉ đạo của Sở GD&ĐT và Phòng GD&ĐT ảnh hưởng trực tiếp đếnquản lý công tác xây dựng VHNT của HT trường THCS, đặc biệt là PhòngGD&ĐT Đây là cơ quan quản lý nhà nước chỉ đạo trực tiếp các trườngTHCS trong công tác xây dựng VHNT Trong quá trình quản lý công tác xâydựng VHNT, HT phải báo cáo trực tiếp cho Phòng GD&ĐT về kế hoạch, kếtquả thực hiện, những khó khăn và thuận lợi của công tác xây dựng VHNT SởGD&ĐT và Phòng GD&ĐT cũng là cơ quan cung cấp tài chính, các điều kiệnvật chất để xây dựng VHNT
1.5.2.6 Cơ sở vật chất của nhà trường
Công tác xây dựng VHNT, nhất là các giá trị vật chất phụ thuộc rấtnhiều vào điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường như kinh phí, phòng học,phòng làm việc, không gian học tập và sinh hoạt của HS, cơ sở hạ tầng củanhà trường, các trang thiết bị, đồ dùng học tập,… Nếu không có những điềukiện cơ sở vật chất này thì cũng không thể xây dựng được VHNT
Khi nhà trường có cơ sở vật chất quy củ, khang trang thì công tác xâydựng các giá trị tinh thần của VHNT cũng thuận lợi vì mọi người từ GV đến
HS phải có ý thức học tập, hành vi ứng xử tích cực Trái lại, khi cơ sở vật chấtcủa nhà trường nghèo nàn, khó khăn thì công tác xây dựng những giá trịVHNT gặp nhiều hạn chế, đặc biệt là xây dựng các giá trị vật chất như kiếntrúc, phòng làm việc, phòng học, điều kiện dạy học của GV và HS
1.5.2.7 Truyền thống văn hóa của nhà trường
Truyền thống văn hóa có ảnh hưởng lớn đến quản lý công tác xây dựngVHNT của HT Bởi vì, truyền thống văn hóa là những giá trị tinh thần đượccác thế hệ thầy và trò trước đó xây dựng, giữ gìn Các thế hệ thầy trò hiện tại
kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đ p này
Trang 39HT nhà trường khi xây dựng VHNT cần kế thừa, phát huy các truyềnthống, coi đó là cơ sở để xây dựng các giá trị VHNT trong thời điểm hiện tại.Trong quá trình quản lý công tác xây dựng VHNT, HT cần dựa vào truyềnthống văn hóa của nhà trường để quản lý công tác xây dựng VHNT.
1.5.2.8 Gia đình học sinh (Ông bà, cha mẹ)
Gia đình có ảnh hưởng lớn đến hình thành hành vi ứng xử - một khíacạnh văn hóa cơ bản tại nhà trường Thông qua giáo dục, thông qua truyềnthống văn hóa của gia đình, thông qua việc kiểm soát HS, gia đình mà trướchết là cha m , ông bà hình thành hành vi ứng xử văn hóa cho trẻ em Đó làcách ứng xử lễ phép, sự trung thực, trách nhiệm của HS trong quan hệ vớithầy cô giáo, với bạn bè và trong học tập hàng ngày
Ngày nay trong bối cảnh của cơ chế thị trường, nhiều cha m không cónhiều thời gian quan tâm chăm sóc và giáo dục con cái, ít có thời gian kiểmsoát hành vi của con cái nên những hành vi lệch chuẩn của HS gia tăng Điềunày ảnh hưởng đến hành vi ứng xử của HS tại nhà trường, gây nhiều khókhăn cho quản lý công tác xây dựng VHNT của HT
1.5.2.9 Sự phối hợp của các lực lượng xã hội
Công tác xây dựng VHNT đòi hỏi phải sử dụng tổng hợp các giải pháp
từ các lực lượng trong nhà trường (GV, HS, NV) đến các lực lượng xã hội ởđịa phương Chính vì vậy, trong quản lý công tác xây dựng VHNT, HT cầnbiết kết hợp được một số lực lượng xã hội, trước hết là các doanh nghiệp,Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cha m HS; Hội Phụ nữ, HộiCựu chiến binh, Hội Người cao tuổi, Hội Khuyến học ở địa phương…
Các lượng lượng xã hội này có thể đóng góp ý tưởng, nhân lực, kinhphí để nhà trường xây dựng cơ sở vật chất, tổ chức các hoạt động giáo dục
HS Ở đâu, HT nhà trường biết phối hợp và sử dụng các lực lượng xã hội nàythì nhà trường sẽ có nhiều thuận lợi trong công tác xây dựng VHNT
Trang 401.5.2.10 Địa bàn dân cư nơi nhà trường làm việc
Địa bàn dân cư nơi nhà trường làm việc có ảnh hưởng lớn đến quản lýcông tác xây dựng VHNT Chính quyền địa phương tạo điều kiện cho nhàtrường về đất đai, không gian hoạt động, về cơ sở hạ tầng, bảo đảm trật tựgiao thông cho HS đi học, cho phụ huynh đưa đón HS
Ở các địa bàn dân cư nơi có trường THCS là ở đó dẫn tới tắc nghẽngiao thông, các hoạt động kinh doanh, thậm chí các tệ nạn xã hội Điều nàyảnh hưởng tiêu cực đến HS, đến quản lý công tác xây dựng VHNT
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
VHNT là các giá trị vật chất và các giá trị tinh thần của nhà trườngđược các thế hệ xây dựng, tích lũy lại qua thời gian và có thể truyền lại chocác thế hệ sau Công tác xây dựng VHNT là hình thành các giá trị vật chất vàcác giá trị tinh thần của nhà trường theo một phương hướng nhất định Vănhóa nói chung và VHNT nói riêng là những giá trị bền vững, nhưng khôngphải là những giá trị bất biến Hệ giá trị văn hóa của một trường có thể thayđổi để phù hợp với yêu cầu của thực tiễn Công tác xây dựng VHNT có thể
theo những con đường khác nhau: kế thừa, phát huy những giá trị phù hợp đã
có và bổ sung các giá trị mới để nhà trường đáp ứng được yêu cầu giáo dục của địa phương, của đất nước.
Quản lý công tác xây dựng VHNT ở trường THCS là sự tác động cóđịnh hướng, có hệ thống của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm tạo
ra hoặc gìn giữ, phát triển các giá trị vật chất, giá trị tinh thần của nhà trường
để thực hiện mục tiêu giáo dục và truyền lại cho các thế hệ sau Vậy, thựctrạng của công tác quản lý xây dựng VHNT ở các THCS huyện Phù Mỹ, tỉnhBình Định như thế nào? Đó là những nội dung được trình bày ở chương 2